VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 06-19-2012 , 05:24 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tịnh độ vấn đáp


Tỳ Kheo Thích Giác Nhàn Sưu tập



Pháp môn Tịnh độ không phải chỉ để cho bậc trung hạ căn, mà còn thâu nhiếp cả bậc thượng thượng căn. Bậc trung, hạ căn niệm Phật sẽ dứt được phiền não nghiệp chướng, phát sinh phước đức trí huệ, lần lần đi đến định cảnh, tùy công phu thấp cao mà vãng sinh về chín phẩm sen nơi Cực Lạc.

LỜI GIỚI THIỆU

Một học sinh khi còn ở cấp trung học cần phải học tổng hợp các môn, nhưng khi lên Đại học thì phải học chuyên môn, do đó cần phải chọn cho mình một ngành nghề phù hợp sở thích của mình. Có như vậy việc học mới tiến bộ và kết quả đạt được sẽ tốt đẹp hơn. Một người tu Phật, lúc đầu cần phải chọn cho mình một pháp môn thích hợp để tu tập. Con đường đến quả vị Phật có nhiều lối, tùy theo căn cơ của mỗi người mà chọn lựa con đường nào thích hợp nhất để đi. Như lời người xưa đã nói “thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay; Pháp không cao thấp, hợp là pháp diệu”

Nhằm giúp những vị tu theo pháp môn Tịnh độ vững niềm tin và tinh tấn hành trì, thầy Thích Giác Nhàn trong thời gian nhập thất chuyên tu, đã bỏ ra một ít thời giờ sưu tập những lời Vấn đáp của chư Tổ sư tiền bối kết tập thành cuốn sách “Tịnh Độ Vấn Đáp” này. Nội dung cuốn sách rất bổ ích cho những người tu theo pháp môn Tịnh độ tham khảo.Tôi xin tán thán và tùy hỷ việc làm này của Thầy Thích Giác Nhàn và xin giới thiệu đến quý Phật tử gần xa.

Đại Đức Thích Chân Tính.

LỜI TỰA

Chư Phật ra đời là vì một đại sự nhân duyên là “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Nghĩa là Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nhưng vì vô thỉ do một niệm vô minh bất giác khởi lên che mờ thể tánh thanh tịnh, nên chúng sinh trôi lăn trong ba cõi sáu đường, ra vào nơi sông mê biển nghiệp, mà không tự trở về với nguồn tâm chân như của chính mình. Vì vậy, Đức Phật tùy theo căn cơ sai biệt của mỗi chúng sinh mà Ngài nói ra nhiều pháp môn phương tiện khác nhau.Về sau chư Tổ y cứ trên lời Phật dạy lập ra nhiều tông chỉ như: Thiền tông, Duy thức tông, Mật tông, Luật tông, Tịnh độ tông…Các tông chỉ này đều thiết lập trên nền tảng của giới, định, huệ và cứu cánh cũng gặp nhau tại nơi suối nguồn chân như.

Hơn nữa, chư Tổ dạy: Muốn tiến vào địa hạt của các tông chỉ không phải đi bằng con đường kiến, văn, giác tri, thiết lập trên phạm trù tư duy hữu ngã mà phải bước vào bằng con đường niềm tin đi trên tiến trình tín, tấn, niệm, định và huệ để khai minh tâm địa để thành tựu trí huệ vô ngã. Không những các hành giả đi vào tông chỉ bằng niềm tin, mà các vị A La Hán và các vị Bồ Tát cũng đi qua cửa ngõ của niềm tin. Cũng như muốn bước vào dòng Thánh Tư đà hoàn phải dứt trừ nghi, giới cấm thủ, tà kiến. Và chư vị Bồ tát muốn bước lên ngôi đẳng giác cũng phải đi qua lộ trình Thập tín…

Sở dĩ người con Phật không tin lời Phật dạy là do lòng nghi, chính nghi là một thứ phiền não ngăn cản các hành giả đi vào con đường đạo, vì một đàng nghi, một đàng tin thì thử hỏi làm sao thực hành để thành tựu tâm pháp được.Vì lẽ đó chúng tôi góp nhặt các nghi vấn về Tịnh độ tông để cống hiến cho các vị liên hữu làm tư lương trên bước đường tu niệm.Lẽ dĩ nhiên, những nghi vấn này không thể nào giải quyết hết những mối nghi ngờ của các vị. Tuy nhiên, có cũng là một yếu tố giúp cho hành giả có được niềm tin vững chắc để đi vào tâm pháp Phật.

Muốn chuyển hóa hết các nghi vấn, điều cần yếu là tự mỗi người phải thực nghiệm pháp tu. Duy chỉ có thực hành mới có thể đánh tan các mối nghi. Khi nghi không còn, thì tin hay không tin không đặt thành vấn đề nữa, vi vạn pháp đều là “Như Thị”.

Chúng tôi chỉ làm công việc biên soạn thuật lại những lời vấn đáp của chư Tổ liên tông Tịnh đọ. Tuyệt nhiên, chúng tôi không dám xen một ý nghĩ riêng tư vào, vì lời dạy của chư Tổ quá là đầy đủ. Chắc rằng, việc làm của chúng tôi không sao tránh khỏi những lỗi vụng về. Ngưỡng mong các bậc cao minh từ bi chỉ giáo cho.

Phật lịch 2544

DL 1-1-2001

Tỳ kheo Thích Giác Nhàn

Tự LIÊN PHƯƠNG SA môn

ĐỨC PHẬT HUYỀN KÝ:

Thời mạt pháp ức ức người tu hành khó có người được giải thoát.

Chỉ có nương nơi pháp niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi, mau chứng thành Phật quả.

(Kinh Đại Tập)


Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...ap.html <br />
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 06-20-2012 , 02:57 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
NR đưa lên

Thân mến

NR
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20580
Old 06-20-2012 , 03:02 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  






===================



http://www.SupremeMasterTV.com


Những ngôn từ của chính Đức Jesus minh bạch và xác định, được Origen dẫn chứng khi nói đến giáo lý bí ẩn được Giáo Hội gìn giữ. “Khi Ngài ở một mình thì những kẻ chung quanh cùng 12 môn đồ hỏi Ngài về thí dụ ấy. Ngài phán rằng thí dụ được đưa ra cho các ngươi để biết được sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời, còn đối với người ngoài thì mọi sự ấy đều là các thí dụ”. Và về sau: “Ngài dùng nhiều thí dụ dường ấy mà giảng đạo cho họ, tùy sức họ nghe. Ngoài thí dụ Ngài chẳng phán gì cùng họ, nhưng khi ở riêng thì Ngài giảng nghĩa hết cho môn đồ (S.Mark 4:10,11,33,34). Xin lưu ý các chữ ẩn nghĩa: “khi họ ở riêng” “những người ngoài”. Lời tường thuật của S.Mathew cũng thế: “Ngài giải tán đám đông đi khỏi và bước vào nhà, các môn đồ đến với Ngài”. Những giáo lý được giảng “trong nhà”, những ý nghĩa thâm sâu nhất của những lời giáo huấn của Ngài được người ta tin chắc là lưu động đi khỏi và bước vào nhà, các môn đồ đến với Ngài”. Những giáo lý được giảng “trong nhà”, những ý nghĩa thâm sâu nhất của những lời giáo huấn của Ngài được người ta tin chắc là lưu truyền từ vị thầy này sang vị thầy khác. Nên lưu ý rằng Kinh Thánh đưa ra những lời giải thích thần bí bóng gió bằng biểu tượng, ngụ ngôn mà chúng ta gọi là Tiểu Bí Pháp, nhưng còn ý nghĩa thâm sâu hơn chỉ được dạy cho những người đã được Điểm Đạo.

Ngay chính các tông đồ, Ngài còn nói: “Ta còn có nhiều điều nói với các ngươi nữa, nhưng bây giờ các ngươi không thể đương nổi” (S. John 16:12). Sau khi chết, Ngài còn dạy cho họ vài điều ấy nữa. Ngài hiện ra trước các môn đồ và “phán bảo những điều về nước Đức Chúa Trời”.(Công vụ 1:3). Không có điều nào trong các điều này được ghi lại công khai, nhưng ai dám bảo rằng chúng bị lãng quên và không được truyền lại như một bảo vật? Truyền thuyết cho rằng: Sau khi chết Đức Jesus vẫn gặp gỡ các vị tông đồ một thời gian rất lâu để dạy bảo họ. Có một câu mà nhiều người sẵn lòng giải thích một cách nhẹ nhàng khác đi: “Đừng bỏ vật thánh cho chó, cũng đừng quăng ngọc châu mình cho heo”(S.Matt 7:6).
Quả thật đó là một lời răn chung, nhưng Giáo Hội đầu tiên muốn nói đến những giáo lý bí truyền. Nên nhớ rằng ngày xưa những tiếng đó không gây chướng tai như ngày nay bởi vì tiếng “chó”- giống như tiếng “kẻ phàm phu”, “kẻ phạm thượng” là do những người bên trong một giới nào đó nói đến giới bên ngoài- một hội, một quốc gia chẳng hạn. Đôi khi tiếng ấy cũng được dùng để chỉ những người ngoài vòng Điểm Đạo, Giáo Hội đầu tiên cũng dùng với nghĩa ấy. Ai chưa được nhận vào Huyền Môn được xem như ở bên ngoài “nước của Đức Chúa Trời” hoặc “nước Do Thái tinh thần”. Ngoài tiếng “Huyền Môn” còn nhiều tên khác được dùng để chỉ nhóm những người được Điểm Đạo hoặc liên quan đến sự Điểm Đạo: Vương Quốc, Vương quốc của Đức Chúa Trời, Con Đường Hẹp, Cái cổng Hẹp, Người Toàn Thiện, Người được Giải Thoát, Sự Sống Vĩnh Cửu, Sự Sống, Sinh lần thứ Hai, Hài nhi.(The Kingdom, The Kingdom of God, the Kingdom of Heaven, the Narrow Path, the Straight Gate, the Perfect, the Saved, Life Eternal, Life, the Second Birth, Alittle One, Alittle Child).

Nhờ các văn tự Cơ Đốc đầu tiên, người ta hiểu rõ được nghĩa các chữ này. Trong vài trường hợp ngoài C.Đ.G cũng sử dụng các từ trên. Trong cộng đồng người Essences có ba cấp bậc: Tân Tín Đồ, người Huynh Đệ và Vị Toàn Thiện (Neophytes, Brethen perfect). Hài nhi là tên thông thường chỉ một thí sinh vừa mới được Điểm Đạo, nghĩa là vừa mới được “sinh lần thứ hai”.





Quote :
Originally Posted by NonregisterC
Tịnh độ vấn đáp


Tỳ Kheo Thích Giác Nhàn Sưu tập



Pháp môn Tịnh độ không phải chỉ để cho bậc trung hạ căn, mà còn thâu nhiếp cả bậc thượng thượng căn. Bậc trung, hạ căn niệm Phật sẽ dứt được phiền não nghiệp chướng, phát sinh phước đức trí huệ, lần lần đi đến định cảnh, tùy công phu thấp cao mà vãng sinh về chín phẩm sen nơi Cực Lạc.

LỜI GIỚI THIỆU

Một học sinh khi còn ở cấp trung học cần phải học tổng hợp các môn, nhưng khi lên Đại học thì phải học chuyên môn, do đó cần phải chọn cho mình một ngành nghề phù hợp sở thích của mình. Có như vậy việc học mới tiến bộ và kết quả đạt được sẽ tốt đẹp hơn. Một người tu Phật, lúc đầu cần phải chọn cho mình một pháp môn thích hợp để tu tập. Con đường đến quả vị Phật có nhiều lối, tùy theo căn cơ của mỗi người mà chọn lựa con đường nào thích hợp nhất để đi. Như lời người xưa đã nói “thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay; Pháp không cao thấp, hợp là pháp diệu”

Nhằm giúp những vị tu theo pháp môn Tịnh độ vững niềm tin và tinh tấn hành trì, thầy Thích Giác Nhàn trong thời gian nhập thất chuyên tu, đã bỏ ra một ít thời giờ sưu tập những lời Vấn đáp của chư Tổ sư tiền bối kết tập thành cuốn sách “Tịnh Độ Vấn Đáp” này. Nội dung cuốn sách rất bổ ích cho những người tu theo pháp môn Tịnh độ tham khảo.Tôi xin tán thán và tùy hỷ việc làm này của Thầy Thích Giác Nhàn và xin giới thiệu đến quý Phật tử gần xa.

Đại Đức Thích Chân Tính.

LỜI TỰA

Chư Phật ra đời là vì một đại sự nhân duyên là “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Nghĩa là Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nhưng vì vô thỉ do một niệm vô minh bất giác khởi lên che mờ thể tánh thanh tịnh, nên chúng sinh trôi lăn trong ba cõi sáu đường, ra vào nơi sông mê biển nghiệp, mà không tự trở về với nguồn tâm chân như của chính mình. Vì vậy, Đức Phật tùy theo căn cơ sai biệt của mỗi chúng sinh mà Ngài nói ra nhiều pháp môn phương tiện khác nhau.Về sau chư Tổ y cứ trên lời Phật dạy lập ra nhiều tông chỉ như: Thiền tông, Duy thức tông, Mật tông, Luật tông, Tịnh độ tông…Các tông chỉ này đều thiết lập trên nền tảng của giới, định, huệ và cứu cánh cũng gặp nhau tại nơi suối nguồn chân như.

Hơn nữa, chư Tổ dạy: Muốn tiến vào địa hạt của các tông chỉ không phải đi bằng con đường kiến, văn, giác tri, thiết lập trên phạm trù tư duy hữu ngã mà phải bước vào bằng con đường niềm tin đi trên tiến trình tín, tấn, niệm, định và huệ để khai minh tâm địa để thành tựu trí huệ vô ngã. Không những các hành giả đi vào tông chỉ bằng niềm tin, mà các vị A La Hán và các vị Bồ Tát cũng đi qua cửa ngõ của niềm tin. Cũng như muốn bước vào dòng Thánh Tư đà hoàn phải dứt trừ nghi, giới cấm thủ, tà kiến. Và chư vị Bồ tát muốn bước lên ngôi đẳng giác cũng phải đi qua lộ trình Thập tín…

Sở dĩ người con Phật không tin lời Phật dạy là do lòng nghi, chính nghi là một thứ phiền não ngăn cản các hành giả đi vào con đường đạo, vì một đàng nghi, một đàng tin thì thử hỏi làm sao thực hành để thành tựu tâm pháp được.Vì lẽ đó chúng tôi góp nhặt các nghi vấn về Tịnh độ tông để cống hiến cho các vị liên hữu làm tư lương trên bước đường tu niệm.Lẽ dĩ nhiên, những nghi vấn này không thể nào giải quyết hết những mối nghi ngờ của các vị. Tuy nhiên, có cũng là một yếu tố giúp cho hành giả có được niềm tin vững chắc để đi vào tâm pháp Phật.

Muốn chuyển hóa hết các nghi vấn, điều cần yếu là tự mỗi người phải thực nghiệm pháp tu. Duy chỉ có thực hành mới có thể đánh tan các mối nghi. Khi nghi không còn, thì tin hay không tin không đặt thành vấn đề nữa, vi vạn pháp đều là “Như Thị”.

Chúng tôi chỉ làm công việc biên soạn thuật lại những lời vấn đáp của chư Tổ liên tông Tịnh đọ. Tuyệt nhiên, chúng tôi không dám xen một ý nghĩ riêng tư vào, vì lời dạy của chư Tổ quá là đầy đủ. Chắc rằng, việc làm của chúng tôi không sao tránh khỏi những lỗi vụng về. Ngưỡng mong các bậc cao minh từ bi chỉ giáo cho.

Phật lịch 2544

DL 1-1-2001

Tỳ kheo Thích Giác Nhàn

Tự LIÊN PHƯƠNG SA môn

ĐỨC PHẬT HUYỀN KÝ:

Thời mạt pháp ức ức người tu hành khó có người được giải thoát.

Chỉ có nương nơi pháp niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi, mau chứng thành Phật quả.

(Kinh Đại Tập)


Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...ap.html <br />


================================
================================


[....The lessons taught by experience are carried over from one life to the next and help or oblige the seeker, little by little, to discover the real purpose of his life here on earth. Karma is simply the law of Cause and Effect. As St. Paul expressed it: "Be not deceived; God is not mocked; for what-soever a man soweth that shall he also reap." According to the age-old Teaching of the Saints, the sowing may be done in one life, and the reaping may be done in the same life or during subsequent lives. The Law of Karma operates with minute and precise exactness. According to it, hate and you will be hated. Steal, and you will be robbed in turn. Do good, and good will be done unto you. The consequence of every deed returns to us in a corresponding manner and in exact proportion. We receive precisely what we deserve from our past thoughts and deeds, neither more nor less. Under the Law of Karma, we are meted out even justice.The True Masters have always taught that the Lord of Karma is the ruler of The Second Great Spiritual Region. He is the Jehova God of the Christian Bible, the Brahm of the Hindu religion. By the Saints, this ruler is called the negative power, as contrasted with his overlord, the Positive Power, the Lord of the Fifth Spiritual Region. Acting under the direction of the Lord of the Fifth Region, the, True or Imperishable World, this lower ruler administers the affairs of this world with exact and absolute justice. This includes his administration of the karmas, or actions of the people in this world.] XIX




================








NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 06-26-2012 , 03:25 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tịnh độ vấn đáp


Tỳ Kheo Thích Giác Nhàn Sưu tập


NGÀI VĂN THÙ SƯ LỢI DẠY:

Nếu thiện nam tín nữ nào nguyện mau thành Phật không gì qua môn tu “Niệm Phật”

Niệm Phật thời có thể mau chứng qua vô thượng Bồ đề.

(Tống Cao Tăng Truyện)

ẤN QUANG ĐẠI SƯ NÓI:

Cửu giới chúng sinh rời pháp môn này thời chẳng thể viên thành Phật quả.

Thập phương chư Phật bỏ pháp môn này quyết không thể độ khắp chúng sinh.

(Ấn Quang Văn Sao)

TỊNH ĐỘ TÔNG LỜI VẤN ĐÁP VỀ PHÁP TU TỊNH ĐỘ

1/ Hỏi:Môn Tịnh độ là pháp cơ sở, chỉ để cho kẻ ngu dốt, căn trí thấp kém hành trì. Những người căn tính cao phải tu thiền hay duy thức mới hợp lý.Và lại bậc trượng phu phải có chí hùng cường tự lập, nên văn cứ nơi mình mà giải thoát; nếu muốn cầu mong tha lực, chẳng tỏ ra hèn yếu lắm ư?

Đáp: Với lời hỏi này, trước tiên xin nói về căn cơ, sau sẽ trả lời đến yếu tố tự lực tha lực.

Pháp môn Tịnh độ không phải chỉ để cho bậc trung hạ căn, mà còn thâu nhiếp cả bậc thượng thượng căn. Bậc trung, hạ căn niệm Phật sẽ dứt được phiền não nghiệp chướng, phát sinh phước đức trí huệ, lần lần đi đến định cảnh, tùy công phu thấp cao mà vãng sinh về chín phẩm sen nơi Cực Lạc. Bậc thượng căn vừa khởi câu niệm Phật, liền thâm nhập vào cảnh giới định huệ, đi đứng nằm ngồi đều trong niệm Phật tam muội, khi lâm chung sinh về thượng thượng phẩm liên bang. Trong hàng tiên đức đã có vị vào cảnh giới này, và trình thuật với câu:

Nắm lấy chuỗi tràng trần niệm dứt,

Nghiễm nhiên thành Phật đã từ lâu.

Cho nên, câu niệm Phật thâu nhiếp hết ba căn, với người cao nó thành cao, với người thấp nó thành thấp.

Trong kinh lại nói: “Chí thành xưng danh hiệu Phật A Di Đà, sẽ được tiêu tội trong tám mươi ức kiếp sinh tử”. Người niệm Phật hằng giữ định tâm, tất sẽ phát huệ đồng như lối tu của các pháp môn khác. Hơn nữa, trên định tâm mà xưng danh hiệu Phật A Di Đà, thì tự tiêu nghiệp chướng, sinh phước huệ càng cao thắng chóng mau. Vì thế, Liên Trì Đại Sư đã khen pháp niệm Phật là: Đại thiền định, đại trí huệ, đại phước đức, đại thành hiền. Theo Quán kinh: Người tạo tội ngũ nghịch thập ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện, nếu chí thành xưng danh hiệu Phật A Di Đà cho đến mười niệm, thì ngài liền hiện thân tiếp dẫn sinh về Cực Lạc. Từ một kẻ cực ác, chỉ dùng mười niệm mà được vãng sinh, lên ngay ngôi bất thoái chuyển thật là điều rất hy hữu. Ấn Quang Đại sư đã khen: “Pháp niệm Phật bậc cao niệm đến một lòng không loạn, chứng vào tam muội, kẻ cực thấp chỉ đúng mười niệm thành công, là điểm đặc sắc mà chưa pháp môn nào có”.

Về vấn đề tự tha lực, nếu như hiểu môn Tịnh độ chỉ hoàn toàn nương nơi tha lực là lầm lớn. Người niệm Phật phải đem hết sức tự lực dứt trừ phiền não, trì niệm cho đến cảnh giới tâm mình và tâm Phật tương ưng. Từ cảnh giới đó hiện đời hành giả được Phật phóng quang tiếp dẫn vãng sinh. Sự tiếp dẫn mới là yếu tố chính của tha lực, vì thế giới Cực Lạc cách xa cõi Ta bà này đến mười muôn ức Phật độ, không phải sức thần thông đạo lực tầm thường có thể đến được, huống nữa là phàm phu! Vì thế cần phải nhờ tha lực tức thần lực của Phật hoặc chư thánh tiếp dẫn. Ví như một học sinh, tự mình biết gắng hết sức chuyên học, dĩ nhiên là điều đáng quý.Nếu trên sự học ấy, lại được vị giáo sư giỏi kèm theo chỉ dạy, tất mức học vấn càng cao thâm, kết quả thi đỗ sẽ là phần đảm bảo. Trên tự lực của hành giả, thêm tha lực của Phật gia trì tiếp dẫn cũng lại như thế.Vậy sự kiện chính mình đã gắng hết sức để tu, lại cầu thêm tha lực cho kết quả mau chóng có phải là một điều hèn yếu lỗi lầm chăng? Sự cao diệu của môn Tịnh độ chính các bậc đại Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, các vị Tổ sư như Vĩnh Minh, Trí Giả, Triệt Ngộ, Liên Trì, cho đến nhiều đấng tôn túc ở các tông, đều khuyến nguyện vãng sinh. Chê niệm Phật là thấp kém chỉ để cho bậc hạ căn tu hành tức là chê chư Bồ Tát, Tổ sư và các vị cao đức đã nói trên. Bảo niệm Phật là hèn yếu, chỉ nương nơi tha lực, tức là chưa hiểu biết về môn Tịnh độ.

2/ Hỏi: Tu Tịnh độ cần phải chứng Niệm Phật Tam Muội, hoặc ít nữa đi đến cảnh giới nhất tâm bất loạn mới được vãng sinh. Như thế thì người hạ căn chưa chắc đã thực hành nổi. Vậy thì kẻ thấp kém ngu tối làm sao được vãng sinh về Cực Lạc? Nếu kẻ hạ căn ngu tối không vãng sinh được, sao gọi là pháp môn niệm Phật thâu nhiếp cả ba căn?

Đáp: Thật ra với căn cơ thời nay, cảnh giới nhất tâm bất loạn trong lúc hiện tiền còn không có mấy người đi đến, huống chi niệm Phật tam muội! Nhưng theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, kẻ tạo ngũ nghịch thập ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện, chí tâm xứng danh hiệu Phật A Di Đà từ một cho đến mười niệm, liền được Phật hiện đến tiếp dẫn vãng sinh. Thế thì sự nhất tâm được vãng sinh, là chỉ khi lâm chung chứ không phải lúc hiện tiền. Nếu lúc bình thời niệm Phật được nhất tâm. Sau đó lại chuyển hướng tu theo pháp môn khác không cầu vãng sinh, thì làm sao về được Cực Lạc? Mà muốn được nhất tâm khi lâm chung, thì lúc bình thời phải tập câu niệm Phật cho thuần thục. Do bình thời thường niệm Phật, dù chưa được nhất tâm, nhưng chủng tử niệm Phật dồn chứa đã nhiều, lúc sắp chết hành giả khởi niệm Phật nó liền phát hiện mạnh mẽ nên được nhất tâm. Kẻ hạ căn niệm Phật được vãng sinh, thường ở trong tình trạng ấy.

3/ Hỏi: Niệm Phật cốt để ngăn trừ vọng tưởng, chặn đứng phiền não đi đến chỗ vô niệm. Đã như thế thì cứ để tâm thanh tịnh lần lần sẽ tiến vào cảnh giới vô niệm, cần gì phải niệm Phật cho nhọc sức hao hơi?

Đáp: Điểm cứu cánh của pháp môn niệm Phật là niệm Phật Tam Muội, chứng toàn thể của bản tính Di Đà tức cảnh giới Thường tịch quang Tịnh độ. Nhưng mục đích chính yếu và cấp thiết của tông Tịnh độ là cầu vãng sinh để bảo đảm không còn luân hồi mê đọa, cho mau tiến lên Phật quả. Vì lẽ ấy nên hành giả của Tịnh độ tông cần phải niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Chủ tịch của môn Tịnh độ là như thế, không cấp thiết cầu cảnh giới vô niệm, mau chứng tánh bản lai như Thiền tông.

Tuy nhiên, khi thực hành hủ đích này, hành giả phải niệm Phật cho được nhất tâm, nên dù không cầu vô niệm mà cảnh vô niệm cũng hiển bày. Hơn nữa, nhờ công đức niệm Phật giúp sức mau tiêu nghiệp, nên cảnh giới ấy cũng chóng hiển lộ. Ở đây chúng ta thấy mở thêm một tia sáng. Muốn mau được vô niệm, sớm ngộ tính bản lai, lại cần phải niệm Phật.

4/Hỏi:Kinh Kim Cang nói: “Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn, bóng bọt” v.v…thế thì cảnh Ta bà đã huyễn, mà cõi Cực Lạc cũng là huyễn.Sao không đi ngay vào bản tâm chân thật, còn cầu về cảnh huyễn làm chi?

Đáp:Thực ra các cõi uế độ và tịnh độ trong mười phương đều dường như mộng huyễn, nhưng khi nào chứng được như huyễn tam muội, mới thấy đó là hư giả. Bằng chưa được như thế, vẫn thấy nó là thật. Vẫn bị nó chi phối, vẫn còn biết khổ vui, vào mùa nắng vẫn khó chịu về sự nóng bức, cho đến việc rất nhỏ như con kiến, con muỗi cắn đốt cũng vẫn còn bị đớn đau. Như vậy sao được gọi như là huyễn? Nên biết môn Tịnh độ là phương tiện nhiệm mầu của Phật, mượn cảnh như huyễn an vui, để đưa chúng sinh thoát khỏi cảnh như huyễn thống khổ đầy dẫy chướng duyên và hiểm nạn. Rồi từ cảnh an vui như huyễn đó tiến tu dễ dàng, để mau chứng vào cõi chân tâm thường tịch.

Lấy ví dụ như cõi Ta bà này, cảnh gia đình hay nơi thị tứ ồn náo là huyễn, cảnh chùa am hoặc chốn núi non vắng vẻ cũng là huyễn. Nhưng tại sao người tu giải thoát, lại bỏ cảnh gia đình thị tứ tìm nơi chùa am thanh vắng ở núi non? Có phải tại chốn gia đình nhiều bận buộc, cảnh huyên náo khó nhiếp tâm, mà nơi chùa am hay chỗ thanh vắng dễ tu chăng? Cho nên cảnh phàm tình cùng cảnh thánh chứng khác nhau, phàm tình mà đặt mình vào cảnh thánh chứng là điều xa vời trái với thực tế. Ta còn phàm phu hãy cứ theo phận phàm phu mà tuần tự tiến tu, đừng vội đem con mắt thánh nhìn quá cao xa, thành ra vọng ngữ có hại.

5/Hỏi: Trong kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục tổ bảo: “Người Phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sinh Tây Phương, Người Tây Phương tạo tội, niệm Phật cầu sinh về cõi nào?Như thế thì chỉ cốt làm sao diệt được tội, cần gì niệm Phật cầu vãng sinh?

Đáp:Đức Lục Tổ và các vị cao đức bên Thiền tông đứng trên cương vị truyền bá tông chỉ duy tâm, nên mỗi lời nói phải căn cứ theo chỗ lập pháp của mình, đều chỉ ngay vào bản tính, và đều lấy tâm làm chủ. Ý Ngài muốn bảo: Nếu tâm được thanh tịnh, thì tuy ở Ta bà cũng được tự tại giải thoát, tâm không thanh tịnh dù ở Tây Phương vẫn bị khổ não luân hồi. Thật ra người tu Tịnh độ hiểu đạo lý, lời nói của Tổ chỉ có tác dụng khuyến tấn, bảo phải niệm Phật đến chỗ tịnh tâm không còn chấp chướng, chớ không phải bác niệm Phật cầu vãng sinh. Đức Thế Tôn, chư Phật khắp mười phương, chư đại Bồ tát và chư Tổ sư đều khuyên niệm Phật vãng sinh Tây Phương. Hai vị Tổ bên Thiền tông ở Thiên Trúc là Mã Minh, Long Thọ đã chứng sơ hoan hỷ địa, vãng sinh về Cực Lạc. Nếu đức Lục Tổ có ý bài bác sự niệm Phật, thì chẳng hóa ra bài bác Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Chư Bồ tát, các vị Tổ sư và cả hai vị tiền bối trong tâm của mình là Mã Minh, Long Thọ hay sao?Cho nên nếu hiểu lầm rồi đem lời này chê bai niệm Phật chính là bài xích và gieo mối oan cho đức Lục Tổ vậy.

Lại hành môn nào cũng có lý và sự. Lời của đức Lục Tổ là nói về lý, ngoài ra còn có sự tướng của đường tu, cần phải nghĩ đến. Ta thử đặt câu hỏi “Người ở ngoài đời tạo tội, vào chùa am xuống tóc ăn chay giữ giới, tìm nơi thanh vắng tu hành. Người ở chùa am mà tạo tội tìm nơi nào để tu?” Nếu chỉ y theo lý mà bác sự như vậy, thì việc xuất gia đến chùa am, phải ăn chay giữ giới cho đến tụng kinh, niệm Phật, trì chú, tham thiền đều là lỗi lầm hết sao? Pháp tu Tịnh độ cũng thế, thật ra chẳng phải người ở Đông Phương do tạo tội mới niệm Phật cầu sinh Tây Phương, mà niệm Phật cầu về Tây Phương chính là muốn mượn cảnh thắng duyên tu hành, để mau chứng lên quả vô sinh giải thoát. Dù người đã tạo nhiều tội, biết hồi tâm sám hối niệm Phật cầu vãng sinh, cũng là vì muốn sớm thoát sinh tử, vẫn không ngoài mục đích này.Còn người ở Tây Phương Cực Lạc cũng không tạo tội, bởi khi đã về cõi ấy, trên có Phật Bồ tát, dưới có các bậc thượng thiện nhân, xung quanh mình tiếng chim nói pháp, tiếng nhạc giỏi kinh, không còn nhọc lòng lo đến vấn đề ăn mặc ở và các sự đau bệnh tai nạn oán thù, đường đạo chỉ thêm tiến lên, đâu còn có duyên gì để tạo tội.

Kết lại, câu nói của đức Lục Tổ nên hiểu chỉ lời khai thị về lý tính thanh tịnh để khuyến tấn mà thôi không nên nghĩ lầm đem nó để bác sự tướng. Người niệm Phật nghe lời này, càng nên cố gắng niệm cho đến trình độ tâm Không mới hợp với ý của Tổ.

6/Hỏi: Ngài Vĩnh Minh Thọ thiền sư là một người Tự tổ trong nhà Thiền, tài trí cơ biện như sấm như gió;trong lòng tâm ai ai cũng tôn Ngài là bậc long tượng cả. Thê mà vì sao ngoài pháp Thiền, Ngài còn chuyên tu về Tịnh độ, lại làm bài kệ “Tứ liệu giảng”, có câu rằng: “Có Thiền không Tịnh, mười người chín kẻ sai; có Tịnh không Thiền, tu mấy thì được mấy”.

Xét những lời nói đó, tợ hồ quá khen bên môn Tịnh độ, mà quá ép bên Thiền sao?

Đáp: Ngài Vĩnh Minh nói như vậy, thiệt là rất có công trong tông giáo, chớ phải quá khen đâu! Nhưng tiếc cho Ngài chưa được cạn cùng chỗ phát minh, nên còn để cái nghi án cho những Thiền giả như vậy.

Tôi chưa am hiểu pháp môn Tịnh độ cho lắm, song cũng có coi các sách Tịnh độ biết được ít nhiều, vẫn thiệt một môn dễ tu và chắc đặng, cũng là một pháp khó nói và khó tin.

Nên Đức Thích Ca trong thời kỳ hiện tại nói kinh Di Đà cho đệ tử nghe, Ngài vẫn đã biết những chúng sinh ở đời mạt pháp này, ít người có đủ đức tin mà đem lòng khuynh hướng về Tịnh độ được. Vì vậy Ngài mới dẫn lời khen ngợi chư Phật trong mười phương, để làm cái bằng cớ chắc thật, để phá cái màn nghi hoặc, gieo giống tín tâm cho người đó.

Huống chi khi nói kinh gần rồi, Ngài lại nói rằng: “Các ngươi phải biết rằng: Ta ở đời ngũ trược ác thế này, vì cả thảy mọi loài trong thế gian mà nói ra pháp Tịnh độ khó tin này, thật là gian nan”.

Xem như vậy, đủ hiểu rằng Phật sợ cho đời sau người không tin thấu, nên Ngài hết sức cạn lời khuyên bảo.

Chúng ta nghĩ đó mà coi: Phật đã đem lòng đại bi cứu đời giảm kiếp, nên một câu nào của Ngài nói ra, thì ai ai cũng tín ngưỡng và vâng làm theo cả; chỉ có cái thuyết Tịnh độ lại còn có kẻ hoài nghi là sao?

Nhưng cái nghi về ấy tưởng không có ý kiến gì lạ, chỉ vì pháp môn Tịnh độ có hai cách đặc biệt như dưới này:

1-Vì pháp ấy là một cửa tu rất rộng lớn; nên cả thảy căn cơ bậc nào cũng thâu nhốt được hết, trên từ các vị Bồ tát bổ xứ cũng sinh về Tịnh độ, còn dưới đến kẻ chồng khờ vợ dại, đảng dữ phe hung, ác thọ chung, chỉ biết ăn năn sự tội lỗi, niệm danh hiệu Phật A Di Đà và một long khuynh hướng về Tịnh độ thì cũng đều được vãng sinh cả. Đó có phải là cửa rộng lớn hay không?

2-Vì trong các pháp tu, chỉ có pháp Tịnh độ dễ dàng hơn hết. Từ lúc phát tâm tu hành cho đến khi thành Phật, thỉ chung không có cái hạnh gì làm cho gian nan lao khổ, cũng không có cái duyên gì làm cho gian nan lao khổ, cũng không có cái duyên gì làm cho sai lạc mê lầm, chỉ giữ bốn chữ “A Di Đà Phật” cho vững vàng, cho chắc chắn, thì được thoát khỏi cõi Ta bà, về được nơi Tịnh độ. Do có phải là pháp dễ dàng hay không?

Cũng vì lẽ rộng lớn như vậy, lạ dễ dàng như thế nên dầu bậc thông minh tài trí cũng chưa tất là khỏi nghi, huống chi là người thường. Vậy biết lời khen ngợi của Ngài Vĩnh Minh là đã nghiên cứu rốt ráo, chớ phải rằng quá đâu!

7/Hỏi:Phật tổ vì độ chúng sinh mà ứng hiện ra đời, thì những người học Phật cũng phải thể theo ý mà lo làm sao cho tỏ đạo để ra tuyên truyền giáo pháp và hóa thân các cõi để cứu độ chúng sinh mới phải; chớ như mấy người đã tỏ được đạo rồi, còn cầu sinh về Tịnh độ, đó là cái chí nguyện chán khổ ham vui một mình, không biết gì đến ai. Có phải từ bi như vậy hay sao?

Đáp:Mới thấy cái trứng gà mà đã muốn chi nó gáy, và mới thấy viên đạn mà đã cầu cho có thịt ăn. Cái hy vọng ấy tưởng còn xa lắm!

Bởi vì sau lúc tỏ đạo rồi, chẳng lẽ cái tập khí hữu lậu của ta trừ hết liền mà không thoái chuyển được. Chẳng lẽ không học thêm các sự tu hành chứng quả trong Phật pháp cho đủ mà được, lại cũng chẳng lẽ sánh bằng các Phật, lộn vào trong cảnh giới sinh tử, không bị các duyên ngăn ngại được?

Nên cổ giáo có nói rằng: Bậc Thanh văn khi xuất thai còn phải ám muội, và bậc Bồ tát lúc cách ấm còn không hiểu biết; huống chi người đời nay giới được chút ít, tỏ được chút định; tự cứu không rồi, mong cứu ai được hay sao?

Giả như thiệt có người tỏ đạo được sâu xa, kiến thức siêu việt và hạnh giải hoàn toàn, chí nguyện hay nóng nảy, về sự độ nhân thì cũng rất tốt. Nhưng e chưa lên được đại vị bất thoái, lực lượng chưa sung, lại ở nhằm đời ác trược, độ những kẻ cang cường, không khác nào đem chiếc thuyền đóng chưa rồi, trét chưa kỹ, mà chở số đông người qua biển đương lúc gió hung sóng dữ, thì chắc không khỏi chìm bỏ mạng với nhau một chỗ.

Cho nên trong Vãng sinh luận có nói rằng: Muốn chơi giỡn ở nơi đường địa ngục, tất phải sinh được về cõi kia, chừng chứng bậc “Vô sinh nhẫn” rồi, mới trở lại trong cảnh sinh tử, cứu khổ cho chúng sinh được.

Vì nhân duyên ấy nên phải cầu sinh về Tịnh độ.

Chúng ta phải biết rằng: Nếu người học đạo mà chưa hiểu thấu rõ cái nguồn cội của tự tâm và vạn pháp thì không thể nào rời Phật ra được. Thí như con còn nhỏ tuổi phải nương theo mẹ, chim còn yếu cánh phải chuyền theo nhành. Đó là lý tất nhiên như vậy.

Nay chúng ta ở về khoảng thời gian này, đức Thích Ca thì nhập diệt đã lâu rồi, còn đức Di Lặc thì chưa tới kỳ xuất thế, như con không cha biết lấy ai mà nương dựa, như trò không thầy biết lấy ai mà hỏi han, vắng trước quạnh sau, đã thành ra cái hiện trạng cô lập.

Gia dĩ trong đường khổ thú bị gây nhân quả buộc ràng, nào cảnh tà ma lắm chuyện thị phi rối loạn, nào tiếng hay sắc đẹp mê hoặc trăm phần, nào đảng dữ phe hoang phỉnh phờ đủ cách, làm cho những người mới vừa tỏ đạo, đều nhân đó mà phải thối lui, phải hư hỏng, không biết là bao nhiêu rồi.

Vì vậy nên Đức Phật Thích Ca mới ân cần chỉ nẻo Tây phương Cực Lạc làm chỗ quy hướng cho chúng ta được về đó hưởng cảnh giới thanh tịnh, khỏi sự nhiễm ô, nghe tiếng pháp nhiệm mầu, mau phần tỉnh ngộ;rồi nhờ Đức Phật Di Đà hiện tiền thọ ký cho nhiên hậu mới đe thân tự tại ứng hiện muôn loài, tùy theo phương tiện mà hóa độ tất cả chúng sinh.

Đến lúc ấy, dẫu cho gặp cảnh nghịch hay là cảnh thuận, cũng không thể nào đánh đổ được cái nhân lực của ta nữa cả. Sự lợi ích đã hiển hiện ra như vậy, có lẽ nói ta tỏ đạo rồi mà không chịu cầu sinh về Tịnh độ được hay sao?

Trong kinh Quán Phật Tam Muội có nói: Ngài Văn Thù thuật chuyện tu nhân đời trước, rằng Ngài chứng được pháp niệm Phật tam muội, thường sinh về cõi Tịnh độ.

Trong kinh Hoa Nghiêm nói: Trong mười điều nguyện lớn nhất của Ngài Phổ Hiền, có câu rằng: Ta nguyện trong lúc lâm chung, trừ hết mọi điều chướng ngại, thấy rõ đức Phật Di Đà, liền sinh về Tịnh độ.

Còn trong Khởi tín luận nói: Ngài Mã Minh có cái nguyện cầu sinh, và trong Vô Lượng Thọ luận lại nói: Ngài Thiền Thân có cái tâm nguyện vãng sinh. Cho đến trong kinh Bảo Tích nói: Phật ấn hứa cho phụ vương là vua Tịnh Phạn và bẩy vạn người trong tộc thuộc của Ngài đồng sinh về cõi An dưỡng. Trong Kinh Thập lục quán nói: Phật chỉ cho nàng Vi Đề Hi và năm trăm người thị nữ đồng thấy Phật A Di Đà v.v…


Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...ap.html <br />
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 07-12-2012 , 04:52 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tịnh độ vấn đáp


Tỳ Kheo Thích Giác Nhàn Sưu tập


Từ đó về sau, như bên nước Trung Hoa, Ngài Huệ Viễn Thiền Sư lập hội Liên Xã chuyên tu Tịnh độ, Ngài Viên Chiếu Thiền Sư cùng không biết bao nhiêu Ngài khác nữa, đều xiển dương thuyết ấy, nào những kẻ tăng người tục, trước sau nối nhau, cầu sinh về cõi Cực Lạc, không kể xiết được.

Ta hãy lấy công tâm mà xét, kìa như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền là bậc đại Tổ sư, mà còn cầu sinh về Tịnh độ, nguyện thấy Phật Di Đà thay, huống chi người tỏ đạo ngày nay là đứng về địa vị nào, mà không chịu cầu sinh về Tịnh độ. Nói như vậy, chẳng là chỗ chứng ngộ của mấy người ấy hơn được các Ngài đã kể trên hay sao?

Còn vua Tịnh Phạn, bà Vi Đề Hi và các người trong tộc thuộc của Phật, đã chứng đặng bậc “Vô Sinh Pháp nhẫn” trong lúc hiện tiền rồi, Phật còn bảo cầu sinh về Tịnh độ thay, huống chi người đời nay đã thành tựu được cái “nhẫn” ấy chưa, lại đảm đương trách nhiệm nhập tục độ sinh?

Ôi! Những người tỏ đạo chưa thấu nơi thấu chốn và cái chí nguyện thái cao và chỗ hy vọng quá đáng ấy tưởng đã không hóa độ gì được ai, phần mình lại thêm hư hỏng cái căn lành, rồi xa chìm trong biển khổ nữa,thiệt đau đớn thay! Đáng thương xót thay!

8/Hỏi: Tâm là Tịnh độ, tánh là Di Đà, lý thuyết ấy mới hiệp theo cái bổn thể chân thật của ta, không trong không ngoài, không riêng không khác như vậy là đúng.

Thế mà trong kinh luận lại nói: “Tịnh độ là nước Cực Lạc ở ngoài mười vạn ức cõi Phật: còn Di Đà là ngôi Giáo chủ ở trong nước Cực Lạc. Vậy chẳng là ngoài tâm còn có cửa riêng, ngoài tánh còn có Phật khác hay sao?

Đáp: Nếu nói như vậy, thực là chưa rõ cái thể lượng rộng lớn của tâm, Kinh Lăng Nghiêm nói: “Từ sắc thân cho đến núi sông, đất liền, và cõi hư không, đều là vật ở trong chân tâm mầu nhiệm sáng suốt của ta”. Kinh ấy lại nói: “Mười phương hư không sinh trong tâm, cũng như đám mây dính ở giữa hư không”.

Vậy thì Tịnh độ ở ngoài mười vạn ức cõi Phật ấy có phải là cõi nào riêng; còn đức Di Đà ở trong nước Cực Lạc kia có phải là Phật nào khác, ngoài được cái tâm của ta đâu!

Còn tâm tức là Tịnh độ, ngoài độ không tâm, cũng như các hột bụi nương theo cõi đất liền, có hột bụi nào mà chẳng gọi là đất được.

Cho nên vi trần quốc độ trong mười phương cũng y như nơi tâm ta mà thành lập, và hằng sa chư Phật trong tâm thể cũng do nơi tánh ta mà phát sinh.

Vậy thì nước Cực Lạc ở ngoài vạn ức cõi Phật, chi không phải là Tịnh độ của duy tâm; ngôi giáo chủ ở trong nước Cực Lạc, chi không phải là Phật Di Đà của tự tánh.

Xét như một cái tâm hàm đủ mười cõi hiện cả muôn pháp như vậy, thì tâm với độ vẫn không ngăn ngại, Phật với chúng sinh nào có riêng khác.

Chúng sinh ở trong tâm của chư Phật, còn chư Phật ở trong tâm của chúng sinh, đâu đâu cũng là Tịnh độ, niệm niệm đều là Di Đà. Sở dĩ Phật hằng kiếp chúng sinh trong thập phương luôn luôn, mà không dời gót khỏi Liên tọa; còn chúng sinh hằng sinh về nước Cực Lạc mãi mãi, mà không đem thân ra khỏi hồng trần.Cái lý “Tâm độ dung thông, sinh Phật bình đẳng”, rõ ràng như vậy, còn có cái gì nghi hoặc cho ta nữa đâu!

Ôi! Cái tâm Tịnh độ và cái tánh Di Đà ấy, đã biết rằng ai ai cũng sẵn có đủ; nhưung chưa tới địa vị đó, thì không thể nói được.

Chúng ta thử xem như cõi Ta bà này có những đất vàng, ao báu, sen ngọc, cây huỳnh hay không?Hay là cõi núi, rừng, đất, đá, hầm, hố, chông gai đó?

Trong cõi này lại có sáu thú, bốn loài, ba đường, tám nạn, có phải là cảnh vui của chư Phật hay không?Hay là chỗ chúng sinh thọ khổ đó?

Còn thử xem Phật Di Đà, thì từ quốc độ của Ngài cho đến sự sống lâu, sáng suốt, từ bi, thệ nguyện, trí huệ, thần thông, và phân thân tiếp chúng thuyết pháp độ sinh, thảy đều là trang nghiêm cụ túc tất cả.Vì vậy thì chúng ta hãy xét lại coi phận mình có được sẵn đủ như vậy hay không?

Nếu đủ, thì tha hồ muốn nói tánh, nói dọc nói ngang gì cũng được, thí như người học nghề cầm gươm hay cầm gươm múa giữa hư không, thì muốn chém trái chém mặt, chém ngược chém xuôi gì cũng không đụng chạm đâu cả.

Còn như chưa sẵn đủ như Ngài, mà tự xưng là Di Đà, ví chẳng khác một tên dân ngu hèn mà có mộng đế vương, chắc có lẽ bị phạm tội tru diệt, chớ không phải sự tầm thường.

Vậy chúng ta không nên theo lý mà mê sự, nói tánh mà quên tướng, và nhất là chấp mê mà chiêu cái tội báng pháp, dầu ngày sau muôn Phật ra đời, cũng không thể nào cứu được.

9/Hỏi: Chư Phật ở trong mười phương, thì chúng sinh ta thân cận với Ngài nào cũng được, cớ sao lại cứ tôn vinh một mình đức A Di Đà mà bảo phải niệm và phải cầu Ngài là lý gì?

Đáp: Cứ theo lý tánh mà bàn, thì đức Phật Di Đà và cả thảy các Phật cũng đồng một thân một trí, và chỗ ứng dụng vậy, chớ không phải khác, nên phần thân cận của chúng sinh đối với Ngài nào lại không được.

Nhưng nói về phận đức dụng, thì Phật Di Đà có ba cái nguyên nhân như dưới này, làm cho thập phương chư Phật cũng đồng khen ngợi và đồng tôn vinh, sự quan niệm của chúng ta đối với Ngài lại càng mật thiết hơn nữa.

Sao lại gọi là ba nguyên nhân?

1/ Vì chỗ nhân địa về đời quá khứ của Ngài có phát lời thề nguyện rất lớn. Xin được kể dưới đây:

“Nếu khi ta thành Phật, có chúng sinh nào muốn sinh về nước ta, hoặc nghe cái danh ta, tu các sự lành hay là xưng hiệu ta từ một cho đến mười niệm mà không được vãng sinh, thì ta thề chẳng chứng bậc chánh giác.Bằng như chúng sinh nào đã về nước ta rồi, mà còn sự thối chuyển, không quyết định thành Phật được, thì ta cũng thề chẳng chứng bậc chánh giác”. Vậy nên gọi là nguyện lớn.

2/Vì Ngài có nhân duyên với chúng sinh ở cõi này.

Coi như hồi Phật Thích Ca tại thế, thì những chúng sinh nghe lời giáo hóa của Phật mà quy hướng về đức Di Đà, cũng đã nhiều đến vô biên vô lượng.

Còn khi Phật nhập diệt rồi, thì những chúng sinh ở đời mạt pháp, nào là kẻ tăng người tục, kẻ sang người hèn, nào là đàn ông đàn bà, con trai con gái, hễ có nghe được Phật giáo chút ít, chẳng có ai là người không tin tưởng về cái thuyết “Cầu sinh Tịnh độ” cả.

Dẫu cho những hạng người ngoan ngu bạo ác không tin gì cả, mà khi thấy cái cảnh nguy hiểm khốn nàn, hay là phát ra lời khen ngợi ta oán gì, hễ mở miệng thì tự nhiên đã kêu “A Di Đà Phật”.

Đó là không ai khuyên mà nói ra, chẳng ai dạy mà làm được, chẳng phải là có nhân duyên với chúng ta hay sao?

Vả lại Phật nói trong kinh Vô Lượng Thọ rằng: “Ta nói kinh này khiến cho thấy được thân tướng và quốc độ của Phật Vô Lượng Thọ, hễ việc nên làm thì phải cầu mà làm, chớ không được lấy cớ ta diệt độ rồi mà sinh lòng nghi hoặc. Qua đến đời sau, thì các kinh diệt hết, nhưng ta vì lòng từ bi thương xót chúng sinh, nên chỉ lưu lại kinh này trụ thế một trăm năm. Nếu ai được gặp, thì túy chỗ ý nguyện của mình, đều nhờ thần độ thoát tất cả”.

Phật lại nói nữa rằng: “Sau khi kinh này diệt rồi, thì Phật pháp toàn không có nữa, chỉ lưu lại có bốn chữ “A Di Đà Phật” mà cứu độ chúng sinh đó thôi. Nếu ai không tin mà chê bai, thì phải đọa vào địa ngục mà chịu những sự thống khổ”.

Cho nên Ngài Thiên Thai nói: “Phải biết đức Phật kia rất có duyên với đời ác thế này”. Vậy nên gọi là có duyên.

3/ Vì sự giáo hóa của đức Di Đà có phần tương quan với Phật Thích Ca.

Trong kiếp quá khứ, thì đức Di Đà làm ngôi chuyển luân vương, tên là Vô Tránh Niệm: còn đức Thích Ca thì làm quan đại thần tên là Bảo Hải. Hai vua tôi đồng ở nơi thời kỳ Đức Phật Bảo Tạng mà phát bồ đề tâm.

Khi ấy, đức Thích Ca thì nguyện ở cõi Ta bà, đem những sự uế trược, sự cực khổ, sự thọ ích và sự tà ma não loạn mà giáo hóa chúng sinh, khiến cho nhàm chán xa lìa, mong thoát khỏi vòng sinh tử.

Còn đức A Di Đà thì nguyện ở cõi Cực Lạc, lấy sự thanh tịnh, sự an vui, sự sống lâu, và sự không thối chuyển mà bày tỏ cho chúng sinh, khiến đều khởi lòng ham mộ, rồi đem về cảnh giới vô vi.

Xem như vậy, thì biết sự hóa đạo của hai Ngài, thực là có phần liên quan đến nhau.

Vả lại, đương thời kỳ đức Thích Ca hiện thế, nói kinh Tam thừa giáo hóa chúng sinh, thì những số mà Ngài chưa độ được, đức A Di Đà độ cả.Cho nên trong các kinh Đại thừa, Phật hằng ân cần khen ngợi, khuyên bảo về sự vãng sinh là vì thế. Vậy nên gọi là tương quan.

Chúng ta phải biết rằng: Cũng bởi có ba nguyên nhân đã nói trên đó, nên chư Phật trong tam thế cũng chỉ tôn vinh đức A Di Đà, mà chúng sinh cả mười phương đều nguyện sinh về cõi Tịnh độ.

Vậy chúng ta cũng nên sớm phát tâm tri niệm, gắng chí cầu sinh, đến một ngày kia hầu dựa kề bên bóng quang minh, mà nương gởi cái thân thanh tịnh, tỏ long chân giác va chứng quả vô sinh. Khi ấy mươi phương chư Phật cũng đồng thọ ký cho ta, chớ đợi gì ta phải thân cận. Như vậy chẳng là chính đáng hay sao?

10/Hỏi:Nếu người tu hành chán bỏ chỗ khổ, ham tới chỗ vui, thì tâm còn nhiễm trước sự thương sự ghét, phân biệt cảnh tịnh cảnh uế như vậy, e chưa phải là chính đáng chăng?

Đáp: Ôi! Sự nhiễm trược ấy không phải như các món nhiễm trược ở thế giới; còn sự phân biệt ấy không phải như các thứ phân biệt về vọng tưởng. Chính là một phương pháp “Chuyển phàm thành thánh” rất quý báu của chư Phật trong mười phương đã từng làm và đã từng dùng, dạy bảo chúng sinh làm theo cách chứng nghiệm vậy.

Chúng ta phải biết rằng: Nếu không chán bỏ cái khổ và cái uế ấy, làm sao chuyển được thân phàm?còn nếu không ham muốn cái vui và cái sạch kia, làm sao thành được bậc thánh?

Cho nên từ phàm phu mà dự được thánh vị, rồi do thánh vị lần đến bậc Đẳng Giác, trải mấy phen từ thấp lên cao, cũng không khỏi cái tâm nham bỏ và ưa muốn ấy. Nếu lúc nào chứng ngôi Diệu Giác là cực quả rồi, thì khi ấy mới dứt hết điều thủ xả mà thế lý vô vi đặng.

Nên tiên đức nói rằng: “Nếu trong cải thủ xả ấy cùng cực rồi thì đối với cái không thủ xả kia cũng chẳng khác là vậy đó”.

Pháp môn Tịnh độ là một cái cơ ứng hóa của đức Thích Ca và đức A Di Đà đồng tạo lập ra.Phật này chỉ bảo cho chúng sinh chán bỏ chỗ khổ, còn Phật kia thì dắt dẫn chúng sinh về tới chỗ vui.

Nếu ta do cái tâm phân biệt lựa chọn ấy mà lìa được cõi này, về được cõi kia, rồi nhờ lấy thắng duyên đó mà thẳng tới lúc thành Phật, thì sự thủ xả có phụ phàng gì với ta đâu.

Thí dụ một chuyện này thì đủ hiểu.Giả như ta ở nhằm chỗ bùn lầy dơ bẩn, đi đâu thì thấy tay lấm chân bùn, thân hình lem luốc, không có cái gì là quang cảnh vẻ vang. Nếu có người chỉ cho ta một chỗ cao ráo sạch sẽ, có khe nước trong trẻo hằng năm chảy hoài, rồi bảo ta tới đó mà ở, trước là tắm gội cho hết sự ô nhiễm trong thân hình, sau là an hưởng phần sinh hoạt cho được cách tiêu sái,v..v..Vậy ta có nghe lời theo hay không?

Nếu ta nói: Bỏ chỗ dơ, đi tới chỗ sạch, thì tâm ta còn lựa chọn, chưa phải là tự nhiên, mà ta cứ đành chịu dơ vậy hoài, thì cái tâm ấy tức là tâm cố chấp.

Còn như ta nghe người nói, mà trong lòng vui mừng hớn hở, nong nã đi tới cảnh khe trong nước tốt kia, đặng làm chỗ thê thác và rửa sạch cái thân dơ bẩn luôn thể, thì trong lúc ta sạch rồi đó, nghĩ coi còn có tâm gì lựa chọn nữa hay không?

Vậy thì biết rằng: Nếu còn có sạch, có dơ, có khổ, có sướng, đối đãi với nhau, thì tâm còn có chán, có ưu phân biệt, lựa chọn. Chớ như thiệt hết dơ rồi, và không tự biết cái gì là sạch nữa, thì tâm thủ xả đâu còn mà chúng ta cần phải cố chấp như vậy.

11/Hỏi:Nếu niệm Phật mà sinh về Tịnh độ, thì chẳng là trái hẳn với cái lý vô sinh chăng? Huống chi người đời nay, ai ai cũng nghi nước Cực Lạc xa cách đến mười vạn ức cõi Phật e lúc lâm chung khó nỗi đi đến đó được, thì lấy cái thuyết gì mà nói cho họ hiểu được?

Đáp: Ngài Thiên Thai nói rằng: “Người trí hăng hái cầu sinh về Tịnh độ nhưng thông suốt cái sinh thể vẫn không có, tức là sinh mà thiệt không sinh. Còn kẻ ngu thà bị cái sinh ấy ràng buộc, hễ nghe nói sinh thì chắc rằng sinh thật; chớ có biết sinh tức là không sinh, mà không sinh tức là sinh đâu!

Ngài Trường Lô nói rằng: “ Lấy sinh làm sinh thật, tức là lỗi về phần thường kiến, lấy không sinh làm không sinh thật, tức là lầm về đoạn kiến. Còn như sinh mà không sinh và không sinh mà sinh, ấy mới thật là nghĩa đế thứ nhất”.

Ngài Thiên Y lại nói rằng: “Sinh thì quyết định sinh, mà đi tới thì thật không đi tới đâu cả”.

Cứ như lời nói của ba Ngài dẫn chứng trên đó, thiệt ý nghĩa rất minh bạch.Vậy nay xin lấy hai chữ “Tánh tương” mà giải rõ cái lý “sinh và không sinh” ra dưới đây:

Cái diệu tánh chân như của ta vẫn là thanh tịnh như gương trong, như nước đứng, không động không lay, không đi không tới, đó là nghĩa “Không sinh”. Nhưng vì nhân duyên hòa hiệp mà hiện có cái tướng “sinh”, cũng như tượng ở trong gương, bóng ở trong nước, đó nghĩa là “sinh”.

Bởi tánh hay hiện tướng, cho nên không sinh mà tức là sinh; còn tướng do nơi tánh mà hiện ra, chớ tự thể không có, cho nên sinh mà tức không sinh. Như vậy thì biết sự sinh về Tịnh độ có trái gì với cái lý vô sinh đâu!

Chí như sự nghi cõi Cực Lạc là xa, thì trước đã nói: Ngoài tâm không độ, ngoài độ không tâm, là hết lý rồi; còn có chuyện gì mà nói nữa.

Chúng ta chỉ nhận lầm cái tâm ở trong xác thịt mà chẳng biết tâm lượng của ta vẫn là to lớn; thập phương hư không tuy rộng, mà cái tâm ta bao trùm hết thảy,hằng sa chư Phật tuy nhiều, mà tâm ta quán khắp tất cả.

Vậy thì mười vạn ức cõi Phật cũng ở trong tâm ta, chớ ta phải đi đâu mà gọi rằng xa. Còn đến khi mạng chung vãng sinh thì cũng sinh trong tâm ta, chớ ta phải về đâu mà gọi rằng khó.

Trong Quán Kinh nói rằng: “Quốc độ của Phật Di Đà cách đây không xa”.

Còn trong Tự tín lục lại nói rằng: “Tuy cách mười vạn ức cõi trong giây lát đi đến”.

Huống chi sự sinh về Tịnh độ cũng như người ngủ chiêm bao thân tuy nằm tại giường tâm ý thức đi khắp phương nọ phương kia, cái đi ấy có phải là xa đâu.

Nay cứ lấy cái tâm ở trong xác thịt của người mà thí dụ như vậy, đủ hiểu:

Giả như ở nước ta sang nước Pháp, đi đường biển gần một tháng mới tới, thiệt xa biết bao nhiêu! Nếu có người nào lâu nay tuy chưa đi tới mà đã từng xem sách, hay là nghe kẻ khác thuật chuyện cảnh trí và nhân vật ở bên nước Pháp lại ghi nhớ vào tâm, rồi ngày sau, bất luận trong lúc đi đứng nằm ngồi hễ chợt nhớ đến chuyện bên nước Pháp, thì tự nhiên tâm nghĩ tới liền.

Nếu chúng ta biết lấy đó mà so sánh, thì cái lý “sinh về Tịnh độ” cũng dễ và cũng mau như vậy chớ không khác gì.

12/Hỏi:Trong Quán Kinh nói rằng: “Hoặc có kẻ chúng sinh nào làm những sự ngũ nghịch thập ác, đủ điều bất thiện, đáng lẽ bị đọa vào địa ngục mà thọ khổ, nhưng đến lúc lâm chung gặp người tri thức khuyên bảo niệm “Nam mô A Di Đà Phật” mười lần rồi cũng vãng sinh về Tịnh độ, thì có lý gì mà lại được dễ như thế?

Đáp:Cứ như trong Quán Kinh nói đó, là vì niệm Phật được tiêu tội lỗi và lại nhờ có nguyện lực rộng lớn của Phật Di Đà, nên được vãng sinh.

Nay giải thích thêm ba nghĩa như dưới đây:

1/ Những người đến lúc lâm chung, là sự bỏ thân rất gấp. Vì gấp nên sợ, vì sợ nên niệm, tuy có ít mà tâm quyết đoán, sức dõng mãnh gấp hơn ngày thường đến thiên vạn ức phần, cảm đến Phật, tiếp dẫn cho vãng sinh.

2/ Những người tuy là tạo ác, mà lúc hiện thế đã thường tu pháp tam muội nên khi lâm chung, gặp người khuyên bảo niệm Phật, thì định tâm để được thành tựu, hay là lúc hiện thế không tu, mà nhờ có thiện nghiệp kiếp trước nên khiến người trí thức khuyên bảo được thập niệm thành công như vậy.

3/ Nếu những người ấy không phải thiện nghiệp kiếp trước và không phải hiện tu kiếp này thì trong lúc niệm Phật, chắc có lòng hối tội rất thiết nên niệm Phật được nhất tâm, vãng sinh về Tịnh độ được.


Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...ap.html <br />
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20580
Old 07-12-2012 , 04:55 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



Sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ - Phật Giáo Hòa Hảo, Nguồn Phật đạo Nguyên Thuỷ của


ĐẤT NƯỚC VIỆT- NAM -BỘ ANH HÙNG !!











============================

===========================================





Vấn đề ẩm thực trong đạo Phật Tỳ kheo Thiện Minh dịch Việt






Nguyên tác: Sanjivaputta. "Are you herbivore or carnivore?". England, 1992




11. Bửa cơm cuối cùng của Ðức Phật Tổ Gotama: Nấm hay thịt lợn?



Trong quyển kinh chú giải Trường bộ (Sumaígalavilasini) của trưởng lão Buddhaghosa [27] viết rằng những gì được gọi là sukara-maddava là "thịt lợn loại cao cấp, trong lứa vừa phải - không quá già mà cũng không quá non - mềm và được phục vụ ngoài thị thành cho mọi người tiêu dùng (pavattamamsa)". Trưởng lão Dhammapala, tác giả quyển chú giải Paramatthadipani thuộc Tiểu bộ kinh, có cùng quan niệm như vậy [28]. Ngoài ra trưởng lão Buddhadatta viết quyển Mathuratthavilasini - chú giải bộ Buddhavamsa (Phật sử) thuộc Tiểu bộ - cũng tuyên bố rằng một trong ba mươi điểm tương đồng của chư vị Chánh Ðẳng Chánh Giác (sammasambuddhasa) là: bữa ăn cuối cùng của ngài trước khi Níp-bàn là "thịt thú vật" (parinibbànadivasemaư sarasa-bhojanaư). Trong Tam tạng Thái Lan và Miến Ðiện (đã dịch sang tiếng Anh) thì danh từ sukara-maddava được dịch là "thịt heo mềm" [29].
.



=========================
----------------------------------------------------------




Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên với tuệ giác của đạo Bụt - 3




Đường dây MÊ TÍN Tôn giáo trong KHẨU HIỆU Thiền






======================




http://www.buddhanet.net/budsas/uni/...mthuc02.htm#11



Jeremiah 19: 9: Ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt các con trai, con gái của mình …


===========================



-- Be Vegan - Make Peace --


May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...



SAIGON4LUV
















NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 08-24-2012 , 02:42 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tịnh độ vấn đáp


Tỳ Kheo Thích Giác Nhàn Sưu tập


13/Hỏi: Những người ở đời ngũ trược ác thế này, nếu không phạm tội lớn, thì cũng phạm tội nhỏ, chớ ai lại khỏi được: hằng không sám hối cho tiêu diệt mà chỉ niệm Phật trong lúc lâm chung, chắc có thể vãng sinh được không?

Đáp: Nếu trong lúc lâm chung mà giữ được chánh niệm, thì toàn nhờ cái nguyện lực rộng lớn của đức Phật Di Đà, chắc được phần vãng sinh.

Trong kinh Na Tiên nói rằng: “Nếu chất trăm cục đá lớn để lên trên thuyền, nhờ sức thuyền chở khỏi chìm; nếu không có thuyền, thì dẫu một viên đá nhỏ cũng phải bị chìm.

Đó là thí dụ về những người ở thế, nếu một đời làm ác mà lúc lâm chung biết hồi tâm niệm Phật, chẳng đọa vào địa ngục. Còn như người không chịu niệm Phật, tuy làm điều tiểu ác, cũng phải đọa vào địa ngục, huống chi là đại ác”

Vậy thì biết rằng Phật lực dụ như chiếc thuyền, còn ác nghiệp thì như cục đá. Lý cũng rõ ràng như vậy:tưởng không sự gì nghi nữa.

Coi như thủa xưa, người ở Châu Phần lấy nghề giết trâu mà làm phương sinh nhai, đến lúc lâm chung thấy một bầy trâu theo húc báng trong thân thể, đau đớn vô cùng.

Còn Trương Chung Quỳ lấy nghề làm thịt gà độ nhật, đến khi gần chết, thấy một vị thần nhân lùa bầy gà vô mổ hai con mắt, máu chảy đầy giường, hai người ấy ác nghiệp rất nặng như vậy, biết hồi tâm niệm Phật, rồi cũng đều được vãng sinh về Tây Phương cả. Vậy chẳng phải là nhờ có nguyện lực của đức Di Đà hay sao?

Cho nên trong sách Tây tư sao nói rằng: “Sự được sinh về Tịnh độ là nhờ có Phật lực: Đức Di Đà thì nghiệp tiếp dẫn, đức Thích Ca thì khuyên khen, còn các đức Phật khác thì hộ niệm, cũng như người đi qua biển lớn, đã được chiếc thuyền to, lại có người dẫn đường và gặp được gió thuận nữa, chắc mau tới bên bờ kia được”.

Nay chúng ta muốn qua khỏi biển sinh tử, đặng tới cõi Niết Bàn, vậy có chịu lên thuyền đại nguyện mà đi, hay là đành một bề chấp mê ở trong dòng ngũ trược này thọ khổ?

14/Hỏi:Những người một đời tạo ác để đến lúc lâm chung mới niệm Phật, rồi cũng nhớ cái nguyện lực của đức Di Đà tiếp dẫn cho vãng sinh, không thối chuyển nữa, vậy thì chúng ta cứ lo làm việc thế gian, để đợi lúc lâm chung rồi sẽ niệm Phật được không?

Đáp: Câu hỏi ấy chẳng những lầm nội phần mình mà thôi, lại làm cho kẻ tăng người tục, không biết bao nhiêu người lầm nữa.

Trong khoản trước đã nói rằng: Những kẻ nghịch ác phàm phu, lúc lâm chung niệm Phật được vãng sinh, là nhờ có thiện căn phước đức ở nơi kiếp trước, nên mới khiến gặp được người tri thức dạy bảo cho mà biết đường niệm Phật. Những bon ấy là bọn gặp may, trong muôn người không được một hai, chớ phải là ai ai cũng được như vậy đâu!

Trong sách Quần nghi luận có nói rằng: “Trong đời, những người đến khi chết không niệm Phật được có mười hạng kể ra dưới đây:

1/ Hoặc chẳng gặp người tri thức nên không ai khuyên niệm Phật;

2/ Hoặc nghiệp khổ buộc trong thân thể nên không rảnh mà niệm Phật;

3/ Hoặc trúng gió tắt tiếng, nên không xưng niệm hiệu Phật được;

4/ Hoặc cuồng loạn trong tâm trí nên niệm Phật không được;

5/ Hoặc bị chết chìm chết thiêu nên không kịp niệm Phật;

6/ Hoặc gặp nạn hùm gấu lại không ai nhắc bảo mà niệm Phật;

7/ Hoặc gặp kẻ ác hữu khuyên những sự tà rồi tin theo mà không niệm Phật;

8/ Hoặc ăn no quá độ rồi bị hôn mê mà chết nên không niệm Phật được;

9/ Hoặc bị chết trong trận giặc mà không kịp niệm Phật;

10/ Hoặc té xuống núi cao mà chết, nên không niệm Phật được.

Những sự chết hại người đã nói trên đó, lâu nay ai ai cũng từng tai nghe mắt thấy, chẳng luận là kẻ tăng người tục, kẻ già người trẻ. Nếu bị nghiệp đời trước xảy tới, hay là nghiệp đời nay xảy ra, thì ai gặp phải chịu lấy, chớ không thế gì trốn tránh cho khỏi.

Chúng ta không phải là người đã được “túc mạng thông”, làm sao biết chắc rằng lúc lâm chung có nghiệp hay là không nghiệp?Lại cũng không được “tha tâm thông” và “Thiên nhãn thông”, làm sao biết chắc rằng lúc lâm chung chết tốt hay là chết xấu, đặng ngăn ngừa trước.

Nếu có xảy ra một cách chết như mười hạng người đã kể trên đó, thì dẫu cho các bạn tri thức đứng vây bốn phía mấy trăm mấy ngàn người đi nữa, thì cũng không thể gì cứu kịp rồi phải đi theo nghiệp duyên mà thọ những điều tội khổ. Đến lúc ấy, cần nghe danh hiệu của Phật cũng không được, huống chi là niệm.

Giả như chúng ta chỉ đau bình thường, chớ không có ác duyên gì lạ, thì cũng không khỏi con dao gió cắt đứt trong thân thể, làm cho tứ đại chia lìa, như rùa bị lột vỏ, như cua bị nước sôi. Trong lúc đau đớn và sợ hãi ấy, chúng ta cũng không thể gì niệm Phật được.

Giả như không đau mà chết, vì bị việc đời chưa rảnh, dục niệm còn vương, rồi tham sống sợ chết, rồi loạn tâm thần, gia dĩ của cải chưa chia, việc sau chưa tính, vợ than con khóc, trăm mối ưu sầu thì cũng không thể niệm Phật được.

Giả như trong lúc chưa chết, có vương vấy chút bệnh gì, chịu khổ không được, bực tức rên la, kiếm thuốc tìm thầy, trăm phương cầu khẩn, tưởng xăng nghĩ chạ, tạp niệm luôn luôn, thì không thể gì niệm Phật được.

Giả như trong lúc chưa đau, bị tuổi cao tác lớn, thân thể gầy mòn, chân yếu gối dùn, mắt lòa tai điếc, buồn rầu than thở, khốn đốn trăm phần, rồi ngày kia tháng nọ, chỉ lo sắp đặt những công chuyện ở trên cái thân suy lão ấy không rồi, có đâu mà niệm Phật được.

Giả như trong lúc chưa già, chính là thời kỳ đang trẻ mạnh, bị tình trần chưa hết, việc tục còn đeo, nay tính sự này, mai toan sự nọ, nghĩ quẩn lo quanh, theo đường nghiệp thức, cũng không rảnh rang mà niệm Phật được.

Giả như không vướng việc đời theo phần học đạo, thanh nhàn tự tại, quyết chí tu hành, lại bị những sự hiện tượng trên thế gian có chút gì xét không thấu, buông không rời, nắm không vững, dứt không đứt, thì cũng không thể gì định tâm mà niệm Phật được.

Nên chúng ta hãy xét coi như trong lúc già, lúc bệnh, lúc trẻ mạnh, và lúc thanh nhàn đã nói trên đó, mà có một sự gì vương vấn trong lòng, còn niệm Phật không được thay, huống chi đợi lúc lâm chung và để lo cho hết thế gian rồi sẽ niệm Phật có phải là tính lầm hay không?

Ôi! Sự nghiệp trong thế gian như chiêm bao, như đồ mỵ, không có cái gì là thiệt hiện và cũng không có cái gì là thế được sự sinh tử; dẫu chúng ta có làm chùa to lớn, chứa của cho nhiều, chưa rõ biết được sự sinh tử, đi lại cũng kết thành một cái gốc khổ. Đến lúc nhắm con mắt rồi, chịu nỗi đắng cay, chúng ta mới biết lại chỗ hành vi trong khi bình nhật đều là dưới vạc dầu sôi mà thêm than thêm củi, trên rừng gươm bén thêm mác thêm dao, hễ mất thân người, thì muôn kiếp khó hườn lại được.

Vậy nên Phật Tổ tìm hết cách phương tiện mà dẫn, cạn hết lời trung khúc mà tỏ bày, đều khuyên bảo chúng ta phải sấn tới trong lúc chưa già và chưa bệnh, ném quăng thế sự, chui mài thân tâm, hễ được quang cảnh một ngày, niệm Phật hiệu trong một ngày, hễ được công phu một buổi, tu tịnh nghiệp trong một buổi, chớ có ai bảo đợi hết công việc để đến lâm chung rồi sẽ niệm Phật như thế đâu?

Ngài Tử Tâm Thiền sư có nói rằng: “Trong thế gian có nhiều kẻ của tiền như núi, thê thiếp đầy nhà, ngày xem hoa, đêm thưởng nguyệt, cuộc cờ trường hạ, chén rượu du xuân, cùng cực nỗi phong lưu hào hứng, họ cũng muốn sống lâu hưởng thọ những điều khoái lạc ấy”.

Nhưng cái “số mạng hữu hạn” cứ thôi thúc những sự già và sự yếu mà mình không hay, một mai con quỷ vô thường tới nơi, thì quyết định phải đi chớ không thể gì hẹn hò và chậm trễ trong giây lát được.

Tưởng những sự ấy, ai ai mắt cũng từng thấy, tai cũng từng nghe nào kẻ tuổi xanh nào người sức mạnh, đã chết không biết là bao nhiêu.

Nên cổ nhân nói rằng: “Chớ đợi đến già rồi niệm Phật, mồ hoang biết bao kẻ tuổi còn xanh”.

Vậy thì chúng ta có thể hẹn đến lúc lâm chung rồi sẽ niệm Phật được không.

Nếu chúng ta biết nghĩ rằng: Người ở đời dẫu cho trăm năm cõi thọ, thấm thoát cũng chẳng mấy giây, như lửa trong đá, như chớp giữa trời, thấy đó rồi mất đó chớ không ích gì cả.

Vậy ta phải sấn tới trong lúc chưa già và chưa bệnh mà xa lần thế sự và lo sửa thân tâm. Hễ được quanh cảnh một ngày, ta niệm Phật hiệu một ngày, hễ được công phu một buổi, ta tu tịnh nghiệp một buổi, tha hồ đến lúc lâm chung, chết tốt hay là chết xấu, sự sắp đặt của ta vững vàng, đường quy hướng của ta cũng đã nhất định. Như vậy chẳng phải là an tường tự tại hay sao?


Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...ap.html <br />
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 12:19 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.