VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Giải Trí > Truyện / Stories

Reply
 
Thread Tools Display Modes
GodBlessedMe
Platinum Member
Join Date: Mar 2003
Số Điểm: 5187
Old 01-28-2012 , 12:03 PM     GodBlessedMe est dconnect  search   Quote  
Trang C.



Ðiều khó khăn cho tôi trong dự tính bước đi một bước nữa là sợ bị lợi dụng. Tôi sợ đàn ông đến với tôi không vì tình mà vì quyền lợi của họ. Góa chồng vào tuổi 45 quả là một điều bất hạnh. Tôi không còn trẻ để nhờ cậy vào nhan sắc. Nhan sắc không phải tôi không có nhưng tôi sợ cái có đó không bền. Hình như càng lớn tuổi thời gian đi càng nhanh. Châu, đứa con gái duy nhất của tôi đã lập gia đình và ra ở riêng. Tương lai của hai vợ chồng chúng nó được bảo đảm với nghề dược sĩ của Châu và nghề kỷ sư của chồng nó. Yên tâm về phần con cái, tôi chỉ còn lo cho tôi. Chồng tôi thình lình qua đời sau một cơn đau tim mặc dù anh mới 53 tuổi. Có lẽ anh quá lao lực và bị căng thẳng trong nghề nghiệp của anh. Chồng tôi là một y sĩ gây mê. Anh trực gác liên miên ở nhà thương. Có lần anh than thở với tôi rằng nghề của anh phải đi sớm về muộn, phải vào bệnh viện sớm để sửa soạn cho bệnh nhân ngủ và chỉ về sau khi bệnh nhân tỉnh dậy mà không bị biến chứng. Tôi là một người vợ chỉ biết sống cho chồng, cho con. Có một chút thì giờ rảnh rỗi, tôi làm đại lý cho một hảng du lịch, bán vé máy bay ăn huê hồng. Một cách cho qua thì giờ, thêm có chút tiền túi. Chồng chết, con ra ở riêng, còn lại một mình tôi trong căn nhà 5 phòng ngủ, tọa trong một khu sang trọng của thành phố. Sau một năm gậm nhấm nỗi cô đơn, khi sự phiền muộn theo thời gian có phần nào vơi đi, tôi lấy lại được bình tỉnh, phân tích hiện tại và suy nghĩ về một hướng đi cho tương lai mình. Tôi không còn ở cái tuổi nôn nả tình yêu hay rạo rực thể xác. Nó chưa mất nhưng nó cần được khơi dậy. Người đàn ông tôi cần vẫn là một người đàn ông có chiều sâu như chồng tôi. Trước tiên, tôi cần sự cảm thông, sau đó thì cho nhau chút gì còn lại của tuổi trẻ. Ðến với tôi phải là một người đàn ông hoàn toàn tự do, tuy giàu nghèo đối với tôi không phải là một vấn đề. Phân tích xong nhu cầu của mình, tôi thấy tình hình không khó mà cũng không dễ. Không khó vì điều kiện của tôi không quá đáng ; không dễ vì đàn ông hợp với lứa tuổi của tôi mà còn tự do e đếm được trên đầu ngón tay trong cái thành phố không quá ba chục ngàn người Việt cư ngụ nầy. Mà khi có, chắc gì họ là người đang chờ đợi ở tôi giống những gì tôi đang chờ đợi ở họ ? Tìm kiếm thì tôi vẫn tìm kiếm nhưng gặp được hay không tôi tin ở số trời.
Khi chồng tôi còn sống, chúng tôi hay tham dự những buổi tiệc có văn nghệ khiêu vũ tại tư gia của bạn hữu. Chúng tôi thích nhảy, dù không nhảy giỏi và thường chúng tôi nhảy với nhau. Thỉnh thoảng bạn bè cũng lôi chồng tôi ra sàn nhảy với những điệu disco hay twist, anh cũng lúc lắc cặp giò, ngoáy mông, trước tiếng vỗ tay cổ võ của bạn hữu vì chồng tôi là người nổi tiếng nghiêm nghị, nhưng là một vẻ nghiệm nghị được quí mến vì anh rất nhã nhặn. Trong hai vợ chồng, tôi là người xã giao bặt thiệp hơn anh. Sau khi chồng tôi mất được sáu tháng, nể vài cặp bạn thân, tôi tham dự mấy buổi họp mặt. Nhưng sau đó tôi quyết định né tránh. Tôi phải né tránh vì dường như mọi sự có vẻ thay đổi. Trong những buổi họp mặt có đôi có cặp, người đàn bà một mình như tôi, trở nên lạc lỏng. Những người vợ, bây giờ có vẻ như không muốn chồng họ mời tôi nhảy và một số ông chồng trở nên ngập ngừng trong cách cư xử với tôi. Tôi tự nhiên trở nên một thành phần bị để ý. Mặc dù từ trước tôi vẫn được xem là một người đàn bà bặt thiệp nhưng đứng đắn. Góa chồng, sự đứng đắn của tôi bị thử thách, sự bặt thiệp của tôi trở nên một đe dọa. Cả môn thể thao mà tôi thích là golf, bây giờ tôi cũng thôi chơi. Thôi là vì đám bạn đàn ông của tôi ngày trước trở nên săn đón hơn, đó là điều tôi vừa sợ vừa không muốn vì ông nào cũng có vợ. Tôi có cảm tưởng đàn ông có vợ hay không có vợ, trước một người đàn bà có nhan sắc và một mình, đều không phải là những người mù. Họ đều có mắt để nhìn và cái nhìn nào cũng muốn chiếm cảm tình dù cảm tình đó không biết sẽ đi đến đâu, có thể càng xa càng tốt. Cái nhẩn cưới nơi tay họ, khi cần tiến tới họ sẽ tháo gở hoặc coi như một cái bùa hộ mệnh khi cần rút lui. Bởi thế, bước đi một bước nữa, tìm được một người đàn ông ở vào lứa tuổi 45 như tôi, dù có nhan sắc, dù giàu có, không phải là một việc đơn giản mà phải nói là một chuyện rủi may.
Tôi không phải loại đàn bà cần đàn ông đến độ phải la cà các hộp đêm để tìm kiếm những gặp gỡ mang lại thú vui chốc lát. Tôi chọn những nơi chốn thanh lịch hơn. Ði nghe hòa nhạc hay những buổi trình diễn của ca sĩ ngoại quốc danh tiếng. Xuất hiện những nơi chốn đó, tôi đưa cái tôi sang cả nhất của tôi ra. Trang phục đắt tiền hợp thời trang, xe Mercèdes. Ở đó tôi gặp Hiến, một luật sư. Anh nói anh vừa ly dị vợ. Hiến xấp xỉ tuổi tôi. Tôi nhận xét gì về Hiến sau hai lần đi ăn tối với anh ? Anh có vẻ chú ý nhiều về những gì tôi đang có hơn là những gì tôi đang cần. Anh mau mắn đề nghị tiến tới sống chung. Tôi thấy Hiến là một người đàn ông lanh lợi, cái lanh lợi hình như dành hết chỗ cho sự thành thực. Tôi thấy rõ anh không đến với tôi vì tình yêu. Phần tôi, cũng may tôi không bị hoa mắt trước cái vẻ hào hoa của Hiến.
Châu, con gái tôi bắt đầu lo lắng cho cuộc sống đơn chiếc của tôi. Mấy hôm trước sinh nhật của tôi, nó gọi điện thoại mời tôi đi ăn tối với nó. Nó nói :
- Chỉ có hai mẹ con mình thôi.
Tôi vui vẻ nhận lời. Mỗi khi Châu mời tôi và nói ‘‘chỉ có hai mẹ con mình thôi ’’ là tôi biết nó có ý muốn hỏi ý kiến hay tâm sự gì với tôi. Trong tiệm ăn, ngồi đối diện với Châu, nhìn ánh mắt yêu đời của nó, tôi biết con tôi đang hạnh phúc. Tôi mừng thầm cho con tôi. Trong khi uống cà phê Châu hỏi tôi giọng buồn buồn :
- Mẹ tính ở vậy hoài sao ? Mẹ có biết là mẹ còn trẻ không ?
Tôi âu yếm đặt tay mình lên tay con :
- Mẹ cũng đang tìm kiếm đây. Ngặt một điều mẹ chưa thấy ai bằng ba con cả.
- Con sợ mẹ sẽ cô đơn hoài nếu mẹ chờ đợi một người đàn ông như ba.
Ðến phiên tôi buồn bã:
- Mẹ đâu đòi hỏi phải bằng ba con. Nhưng ít nhất tim mẹ phải có chút rung động. Chắc con cũng biết, tìm cho ra một người đàn ông mà tim mình rung động vì họ, và tim họ cũng rung động vì mình, ở vào lứa tuổi của mẹ, không phải dễ.
- Mẹ có đòi hỏi người đàn ông phải là một người có nghề nghiệp tương đương với nghề của ba không ?
- Không nhất thiết, nhưng cần có kiến thức.
- Mẹ có đòi hỏi người đàn ông phải giàu có không ?
- Không nhất thiết, nhưng không thể là một người đàn ông ăn không ngồi rồi.
Tôi có cảm tưởng con tôi là nhân viên của một văn phòng xe duyên đang thăm dò ý kiến của tôi. Tôi nhìn nó hiền từ hỏi :
- Chắc con có ý định giới thiệu mẹ cho một ông nào ?
Châu cười úp mở :
- Có mà không.
- Sao lạ vậy con ?
- Có là vì con thấy một người mà con nghĩ có thể hợp với mẹ, không là vì con không quen ông ấy.
Tôi cười :
- Con không quen ông ấy thì làm sao con giới thiệu cho mẹ ?
- Con thấy để mẹ tìm hiểu. Nếu mẹ đi cái siêu thị gần condo của tụi con ở vào trưa thứ bảy khoảng 12 giờ, mẹ sẽ thấy ông ấy ngồi trong chiếc xe Toyota Tercel màu xanh nhạt, đậu ở parking. Ông ấy vừa ăn trưa vừa đọc sách.
Tôi ngạc nhiên nhìn Châu :
- Con nghĩ gì mà có ý định khuyên mẹ tìm cách làm quen một người đàn ông khá kỳ cục? Hết chỗ ăn trưa lại ngồi trong xe mà ăn trưa?
- Con cũng không hiểu nữa. Mấy tuần nay con có cảm tưởng mỗi trưa thứ bảy ông đến đó như để chờ gặp ai. Lạ lắm. Nhưng điều khiến con chú ý là cuốn sách ông cầm trong tay. Lúc nào cũng chỉ có một cuốn sách ấy. Cuốn Nhà Tiên Tri của Khalil Gibran, cuốn sách con biết mẹ rất thích vì có lần mẹ nói với con mẹ đọc đi đọc lại cuốn sách đó bao nhiêu lần mà vẫn không thấy chán. Cho nên khi thấy ông ấy ngồi trong xe với cuốn sách đó, tự nhiên con nghĩ đến mẹ. Con đoán ông ấy cũng cỡ tuổi ba, khuôn mặt xương xương, người cũng mảnh khảnh như ba nữa.
Trên đường lái xe về nhà, nghĩ đến chuyện Châu đề nghị tôi tìm hiểu người đàn ông ăn trưa trong xe, tôi vừa cảm động vừa buồn cười. Cảm động vì sự lo lắng của con gái tôi dành cho tôi, buồn cười vì ý muốn ng nghỉnh của nó. Nó quên mất người đàn ông kia có thể đã có gia đình. Duy có cuốn sách làm tôi phân vân. Người thích nội dung cuốn Nhà Tiên Tri ắt phải có tâm hồn giống tôi. Và sự tò mò đã lấn lướt.
Tôi nhận ra dễ dàng chiếc Toyota Tercel màu xanh nhạt còn mới ngay giữa bãi đậu của siêu thị. Hai bên chiếc Tercel chỗ đậu còn trống. Tôi lái chiếc Pontiac màu ve chai cũ kĩ của tôi, đậu phía bên trái chiếc Tercel. Trời tháng sáu nắng đẹp và nóng. Tôi ăn mặc bình thường như một người đi chợ. Một chiếc quần tây màu đen, một chiếc sơ mi mỏng tay dài màu vàng nhạt. Tôi cố ý để cuốn Nhà Tiên Tri của tôi nằm phía trên hộp đựng găng tay. Nếu chú ý, người ngồi ở phía tay lái ở xe bên kia có thể thấy được cuốn sách. Tôi mở cửa xe, đeo cái xắc tay lên vai, đóng cửa xe, rồi mặt nhìn thẳng phía trước làm như không để ý đến người chung quanh, bước thong thả vào siêu thị.
Châu cho tôi biết đối tượng tôi đang tìm hiểu vừa ăn trưa vừa đọc sách chừng một tiếng là đi. Tôi sẽ ở trong siêu thị, đi loanh quanh, mua lặt vặt sao cho hết một tiếng đồng hồ mới trở ra xe. Tôi suy luận, nếu đối tượng của tôi nhìn thấy cuốn Nhà Tiên Tri của tôi, tôi cũng sẽ trở nên đối tượng tìm hiểu của ông ta và chắc chắn ông ta sẽ chờ tôi. Tôi tự dặn lòng lúc trở ra sẽ quan sát kỹ người đàn ông và nếu thấy đúng là mẩu người tôi có thể có cảm tình tôi sẽ sẵn sàng tạo điều kiện cho một sự làm quen.
Rời siêu thị, bước chân tôi bỗng dưng chậm lại, tim tôi đập mạnh vì chiếc Tercel màu xanh vẫn còn nằm ở bãi đậu và hơn thế nữa, người đàn ông đứng tựa cửa xe mình, tay cầm một cuốn sách có vẻ như đang chờ ai. Tôi có thể nghĩ mà không sợ lầm ông ta đứng chờ tôi. Tôi hết sức làm ra vẻ tự nhiên, tiếp tục bước. Tôi thấy người đàn ông rời chỗ đứng đi vòng phía sau xe tôi tiến về phía tôi. Tôi nhìn ông nghiêm trang nhưng tươi tỉnh. Ðúng như Châu đã tả, người ông dong dỏng cao, khuôn mặt chữ điền xương xương, mang kính cận. Mái tóc rậm lấm tấm muối tiêu với một mảng xỏa xuống trán. Ông có dáng dấp của một nghệ sĩ hay của một ông giáo sư dạy văn chương hay triết. Tự nhiên tôi mỉm cười với ông ta. Người đàn ông tiến lại gần tôi cúi đầu chào :
- Xin lỗi bà, bà có phải là bà Mai Hương ?
Tôi ngạc nhiên đến nghẹn thở :
- Vâng, phải. Nhưng thưa … làm sao ông biết tên tôi ?
- Dạ Hạnh nói với tôi. Hạnh nói với tôi: ‘‘anh hãy đến siêu thị nầy vào mỗi trưa thứ bảy, thế nào anh cũng gặp một người đàn bà có cuốn Nhà Tiên Tri như anh. Bà ấy tên Mai Hương’’. Tôi đến đây đã ba lần, lần thứ tư nầy thì gặp được người mang cuốn Nhà Tiên Tri. Hạnh đã tiên đoán đúng.
Thoáng nghĩ đầu tiên của tôi là con gái tôi đã dàn dựng nên cảnh gặp gỡ nầy. Tôi nghĩ nó đã cho người đàn ông nầy biết trước tên tôi, biết tên cuốn sách tôi thích đọc và có thể nó đã dấu tên thật của nó mà lấy tên Hạnh. Tôi hỏi chận đầu người đàn ông :
- Có phải cô Minh Châu đã cho ông biết tên tôi ?
Ðến lượt người đàn ông ngơ ngác :
- Thưa bà cô Minh Châu nào ? Tôi không được biết, tôi chỉ biết Hạnh cho tôi biết tên bà.
- Hạnh nào thưa ông ? Tôi không quen biết một ai tên Hạnh cả.
Chừng như đoán được vẻ ngại ngùng trong câu hỏi của tôi, giọng người đàn ông trở nên trấn an :
- Vâng, bà không thể biết Hạnh. Hạnh đã mất cách đây 25 năm. Nhưng cách đây gần hai tháng Hạnh đã báo mộng cho tôi trước cuộc gặp gỡ với bà.
oOo
Chúng tôi ngồi trong một quán nước mặt hướng ra bờ sông. Nắng bên ngoài gay gắt, nhưng gió từ mặt sông thổi lên làm dịu mát da mặt. Tóc tôi phất phơ bay, tóc của người đàn ông cũng lòa xòa trên trán. Ông không buồn đưa tay vuốt, mắt xa xăm nhìn ra mặt nước lao xao những gợn sóng. Tôi có cảm tưởng ông đang tập trung tư tưởng, sắp xếp lại dĩ vãng để trình bày với tôi câu chuyện báo mộng của người đàn bà tên Hạnh, một câu chuyện kỳ bí khiến tôi tò mò đến bạo dạn nhận lời mời của ông đến ngồi uống nước ở quán nầy để nghe tiếp câu chuyện, dĩ nhiên sau khi tôi đã cân nhắc, đánh giá sự chân thật của ông.
- Thưa bà, tôi tên Chung. Người đàn bà tên Hạnh, cách đây 25 năm là người yêu của tôi. Chúng tôi là mối tình đầu của nhau. Chúng tôi là cặp tình nhân thuộc loại cấp tiến thời đó. Chúng tôi quan niệm rất rộng rãi về quan hệ luyến ái. Nói trắng ra là chúng tôi đã gần gũi nhau trước khi nghĩ đến hôn nhân. Cả Hạnh và tôi đều say mê cuốn Nhà Tiên Tri của Khalil Gibran. Hôm báo mộng Hạnh nói với tôi : ‘‘Gặp bà Mai Hương anh hãy đọc cho bà nghe đoạn văn mà chúng mình thích. Em biết bà Mai Hương cũng thích đoạn văn đó’’. Tôi xin tạm ngừng kể để đọc cho bà nghe đoạn văn mà chúng tôi thích, xem có đúng với đoạn văn mà bà cũng thích không. Ðó là đoạn nhà tiên tri nói về hôn nhân : ‘‘Các ngươi hãy yêu thương nhau nhưng đừng biến tình yêu thành một chướng ngại cho nhau. Hãy để tình yêu như một vùng biển động giữa đôi bờ tâm hồn các ngươi. Kẻ nầy hãy rót đầy ly kẻ kia nhưng chớ bao giờ uống chung một cốc. Hãy chia nhau phần ăn nhưng chớ bao giờ ăn chung một mẩu bánh. Hãy cho nhau trái tim mình nhưng đừng trở nên kẻ canh giữ tim nhau.’’
Tôi xanh mặt. Ðúng là đoạn văn tôi thường mang ra đọc cho chồng tôi nghe. Chúng tôi rất hợp ý về triết lý hạnh phúc lứa đôi mà Khalil Gibran nêu lên. Không những chỉ hợp ý mà chúng tôi đã sống theo lời Khalil Gibran khuyên. Chúng tôi chia xẻ cho nhau tròn đầy nhưng mỗi chúng tôi vẫn là một cá thể riêng biệt. Chúng tôi cho nhau trái tim mình nhưng không bao giờ canh giữ trái tim nhau. Chúng tôi tin tưởng nhau tuyệt đối. Chúng tôi đã đạt được hạnh phúc tròn vẹn trong chia xẻ và niềm tin. Bởi thế sự ra đi đột ngột của chồng tôi làm tôi mất thăng bằng tâm thể đến tột độ. Khi tôi nói với con tôi, tôi chưa gặp được ai như cha nó, không hoàn toàn có nghĩa là tôi chưa gặp được người đàn ông nào khác có địa vị như chồng tôi mà còn bao hàm ý nghĩa chưa gặp được người chia xẻ cái quan niệm hạnh phúc lứa đôi như chúng tôi từng chia xẻ với nhau. Cho nên tôi bàng hoàng trước đoạn văn trích dẫn của người đàn ông tên Chung.
- Tình yêu của Hạnh và tôi gặp trở ngại lớn. Nhà tôi nghèo, nhà Hạnh giàu. Khi biết Hạnh yêu tôi, gia đình nàng cấm cản kịch liệt, nhất là cha nàng, một viên chức lớn trong chính quyền thời bây giờ, nghiêm khắc và độc đoán. Bị ngăn cấm liên lạc với tôi, Hạnh đi tìm cái chết, không một lời báo trước, bằng một liều thuốc ngủ cực mạnh. Hạnh được chôn cất vội vã và bí mật, không một lời cáo phó trên báo. Cha Hạnh coi nàng là một vết nhơ của gia đình. Nhưng Hạnh đã trở thành một viên ngọc quí trong tâm hồn tôi. Từ đó đến nay tôi sống một mình nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, chưa bao giờ tôi cảm thấy cần một người đàn bà cho đời sống mình vì lúc nào tôi cũng cảm thấy có Hạnh bên cạnh.
- Tôi muốn đi về.
Ông Chung đứng lên theo.
- Nếu bà không ngại, tôi xin đưa bà đi xem mặt Hạnh.
Thật tình tôi cảm thấy ngài ngại nhưng không hiểu sao tôi không thốt ra được lời từ chối. Hai bàn chân tôi như có một ma lực nào đó nhấc từng bước bắt tôi bước theo chân người đàn ông. Khi xe ông Chung rời bãi đậu, tôi liếc nhìn ông thì lạ lùng sao tôi bắt gặp ánh mắt và nụ cười rất hiền y hệt như của chồng tôi.
Ông Chung cư ngụ trong một khu condo đắt tiền. Cổng vào có người gác, một thang máy dành riêng cho hai condo, có đường hầm nối liền các condo đến một tiểu siêu thị. Tôi thắc mắc ông Chung làm nghề gì mà có khả năng tài chánh để có thể mua cái condo sang trọng nầy. Condo của ông Chung ở tầng thứ mười. Tôi biết ở xứ lạnh, condo ở tầng càng cao giá càng đắt vì có được cái nhìn bao quát và hưởng được nhiều ánh mặt trời. Ông Chung mời tôi ngồi ở phòng khách. Bộ xa lông bằng da màu nâu sẫm còn thơm mùi da mới. Ông pha mời tôi một ly nước suối rồi ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện. Ông nói như để giải bày:
- Chắc bà ngạc nhiên về đời sống vật chất của tôi. Những gì tôi có hiện nay đều là của Hạnh. Khi Hạnh chết, cha mẹ nàng đã bí mật dấu trong quan tài nàng một hộp vàng và kim cương coi như là một nơi dấu của kín đáo. Cha mẹ nàng bị thảm sát trong Tết Mậu Thân 68. Mộ nàng sau đó bị để hoang phế. Hạnh báo mộng cho tôi biết về kho tàng dấu trong quan tài và bảo tôi gấp gấp đi bốc mộ nàng. Tôi đã rời miền Nam bằng phi cơ quân sự Hoa Kỳ, một tuần trước khi miền Nam mất năm 75. Bà muốn biết hiện tôi làm nghề gì ? Một nghề bình thường thôi. Giáo sư dạy toán cho một trường trung học. Một ông giáo dạy trung học thì đi xe Toyota Tercel là phải rồi. Ðó là tất cả cuộc đời tôi cho đến giờ phút này. Bà là người đàn bà đầu tiên tôi mời lên chỗ ở của tôi. Vì Hạnh muốn như thế. Về phía bà tôi có thể được biết gì không ?
- Tôi góa chồng được hơn một năm nay. Minh Châu, con gái tôi, là người đã gián tiếp giới thiệu ông cho tôi. Con tôi biết cuốn sách gối đầu giường của tôi là cuốn Nhà Tiên Tri. Nhà nó ở gần cái siêu thị nên khi thấy ông đến đó đậu xe ăn trưa với cuốn Nhà Tiên Tri bên cạnh, nó lấy làm lạ nên nói cho tôi hay. Thú thật tôi cũng tò mò muốn biết ông là ai mà cũng thích đọc cuốn Nhà Tiên Tri như tôi. Về nghề nghiệp, tôi làm đại lý cho một hảng du lịch bán vé máy bay ăn huê hồng, một nghề tay trái làm cho vui. Nghề chính của tôi là nội trợ lo cho chồng cho con. Nay chồng mất, con đã có gia đình, nên tôi coi như đang thất nghiệp.
Ông Chung nhìn tôi với ánh mắt trìu mến :
- Tôi nghĩ tất cả đều do Hạnh sắp đặt. Tôi nghĩ Hạnh có cảm tình với bà.
Tôi nghe lành lạnh ở sống lưng, khi nghĩ hồn người chết tên Hạnh có thể nhập vào tôi. Không biết sau đó tôi có còn là tôi nữa hay không ? Tôi sẽ yêu người đàn ông tên Chung kia bằng thể xác và tâm hồn tôi hay người đàn bà tên Hạnh sẽ mượn thể xác tôi để yêu người tình cũ của mình ?
- Bây giờ xin mời bà xem hình của Hạnh.
Tôi cảm thấy rờn rợn muốn thối lui. Nhưng khi bắt gặp cái nhìn bao bọc của ông Chung tôi thấy an tâm. Tôi đứng lên theo ông đi vào một phòng ngủ nhỏ. Trong phòng chỉ vỏn vẹn một chiếc giường đơn, phủ ra mền màu xanh nhạt. Trên đầu giường, hình một thiếu nữ chụp bán thân được lồng kính trong một khung gỗ cũng sơn màu xanh nhạt. Tôi hơi giật mình vì người trong hình tuy rất trẻ nhưng có nét hao hao giống tôi, nhất là nụ cười. Tôi nói khẻ với ông Chung :
- Chị ấy có nụ cười rất tươi.
Ông Chung cũng chăm chú nhìn bức hình rồi thì thầm :
- Hạnh không cười khi chụp bức hình nầy.
Tôi lạ lùng nhìn kỹ bức hình một lần nữa, rõ ràng người trong hình đang nhìn tôi cười. Tôi nghe tay chân mình lạnh toát.
- Xin mời bà ra ngoài hiên ngồi uống nước ngắm trăng. Hôm nay trăng trung tuần rất tròn.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây nhìn vừng trăng tròn chưa lên cao còn thấp thoáng trong rặng thông. Bầu trời trong vắt đầy tinh tú lấp lánh. Ông Chung bưng ra một cái khay trên có hai ly nước cam và một đĩa bánh bông lan. Ông đặt khay trên cái bàn con ngăn đôi hai cái ghế, rồi ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh. Tôi không ăn bánh chỉ uống từng ngụm nước cam. Ông Chung lên tiếng trước, giọng trầm trầm :
- Bà thấy Hạnh cười với bà, tôi nghĩ Hạnh đã chọn bà.
- Nghĩa là chị ấy sẽ nhập vào tôi ?
- Có thể.
- Lúc ấy tôi sẽ ra sao ?
- Tôi nghĩ một trong hai trường hợp nầy có thể xảy ra : Hoặc hồn Hạnh nhập vào bà, bà sẽ là Hạnh, bà sẽ đối xử với tôi như Hạnh đã đối xử với tôi ngày trước. Hoặc Hạnh xem như đã kiếm được cho tôi một người xứng đáng thế chỗ của Hạnh và Hạnh sẽ rời bỏ thế gian này để đi vào cõi vĩnh hằng. Chúng ta hãy chờ xem. Bà có đói không ? Tôi sẽ đi làm bánh mì thịt nguội. Ðó là món ăn thường xuyên của Hạnh và tôi, thời chúng tôi kín đáo gặp nhau, nằm bên nhau nhai bánh mì trên căn gác trọ của tôi.
Tôi không đói lắm nhưng cũng không từ chối đề nghị của ông Chung. Tôi đang chìm trong bầu không khí huyền bí bao quanh. Tôi vừa bị lôi cuốn, vừa sợ. Nhưng vẻ trầm tỉnh của ông Chung khiến tôi phần nào an dạ. Tôi có cảm tưởng ông cố ý giữ một khoảng cách giữa ông và tôi, tôi có cảm tưởng như ông đang chờ đợi một sự việc gì sắp xảy ra.
Ông Chung bưng ra một đĩa đựng hai ổ bánh mì thịt, mỗi ổ được cắt đôi. Nghe ông mời tôi tự nhiên thấy đói. Tôi cầm nửa ổ bánh mì đưa lên miệng cắn một miếng. Ổ bánh mì tỏa ra một mùi thơm thoang thoảng như mùi hương dạ lý làm tâm trí tôi lâng lâng. Giọng ông Chung lại trầm trầm bên tai tôi :
- Mỗi đêm khi có trăng tròn tôi hay ra ngồi đây một mình. Cứ mỗi lần trăng lên cao tỏa ánh sáng vào cửa sổ của phòng Hạnh, người tôi lúc đó như mê đi và tôi thấy Hạnh hiện ra trò chuyện với tôi. Nàng tiên đoán những gì sắp xảy ra cho tôi và hướng dẫn tôi cách ứng xử. Hôm nay tôi tin sẽ xảy ra một sự việc khác thường, không những liên quan đến tôi mà liên quan đến cả bà, nhưng tôi linh cảm là một biến đổi tốt.
Tôi ăn hết nửa ổ bánh mì thì vừng trăng tròn lên cao tỏa ánh sáng mờ dịu vào cửa sổ phòng của Hạnh. Tôi thấy ông Chung ngả đầu vào thành ghế, mắt nhắm nghiền như một người đang bị thôi miên. Bỗng một vệt sáng dài thoát ra từ cửa sổ phòng Hạnh, xẹt qua đầu tôi, rồi như một ánh sao băng vun vút bay lên. Tôi mở lớn mắt theo dõi cho đến khi không còn phân biệt được đâu là vệt sáng đâu là ánh sao trên bầu trời. Tôi quay mặt nhìn sang ông Chung. Ông tỉnh lại không biết từ lúc nào, ngồi im ngắm tôi với nụ cười hiền hậu. Tôi nhìn ông, bỗng thấy đối diện với mình là một khuôn mặt thân thương quen thuộc như từ lâu đời. Tôi đưa tay qua nắm tay ông :
- Ði vào đi anh, em lạnh.
Bước ngang qua phòng Hạnh, chúng tôi ghé mắt nhìn vào. Bức hình treo trên đầu giường biến mất. Ông Chung, mắt ngấn lệ, tay nắm chặt tay tôi, miệng thì thầm: ‘‘Cám ơn Hạnh!’’
cuoizzz
Junior Member
Join Date: Apr 2012
Số Điểm: 1
Old 04-10-2012 , 11:20 PM     cuoizzz est dconnect  search   Quote  
Có phần D không nhỉ bạn
GodBlessedMe
Platinum Member
Join Date: Mar 2003
Số Điểm: 5187
Old 04-21-2012 , 09:04 PM     GodBlessedMe est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by cuoizzz
Có phần D không nhỉ bạn
Xin loi ban minh cung khong biet o dau ma tim them.
GodBlessedMe
Platinum Member
Join Date: Mar 2003
Số Điểm: 5187
Old 06-29-2012 , 06:58 AM     GodBlessedMe est dconnect  search   Quote  
LIÊU TRAI CHÍ DỊ – CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG TRONG CÕI MỘNG




Nguyễn Cẩm Xuyên






Truyện truyền kì trong dân gian xưa nay không hiếm; truyện mặc dù không thực nhưng sức hấp dẫn lại lớn nên vẫn hay được người đời sưu tập. Văn học cổ điển nước ta có nhiều tác phẩm như thế: Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ… Riêng ở Trung Quốc: truyện truyền kì ma quái cũng nhiều, trong đó một tác phẩm vừa hấp dẫn người xem bởi nhiều tình tiết, vừa kì dị lại vừa phản ánh cuộc sống thực của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ là Liêu Trai chí dị. Tác phẩm lúc mới hoàn thành gồm 8 quyển, có cả thảy 491 truyện, ước hơn 40 vạn chữ, sáng tác vào đầu đời nhà Thanh, được đánh giá là đỉnh cao của tiểu thuyết văn ngôn thời cổ đại. Truyện tập hợp các câu chuyện dân gian, phảng phất giống các truyện quái dị đời Lục triều, các truyện truyền kỳ đời Đường nhưng vẫn có một tính cách riêng khá độc đáo. Tác giả Liêu Trai chí dị là Bồ Tùng Linh (1640-1715), người tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, tự là Lưu Tiên (留仙) lại có tự là Kiếm Thần ( 剑臣), biệt hiệu : Liễu Tuyền cư sĩ (柳泉居士), tự xưng là Di Sử thị (异史氏), người đời vẫn gọi là Liêu Trai tiên sinh (聊斋先生). Bồ Tùng Linh là thầy giáo nghèo ở làng quê, học giỏi, 18 tuổi đã đỗ đầu huyện, phủ, tỉnh trong khoa thi Đồng tử, được bổ Bác sĩ đệ tử viên (1) nhưng sau đó thi mãi không đỗ đạt gì, đến năm 71 tuổi mới đỗ Cống sinh và chỉ 4 năm sau thì mất.
Sau khi Bồ Tùng Linh mất, vì nhà nghèo, Liêu Trai chí dị vẫn không thể ấn hành; mãi hơn 50 năm sau (năm Càn Long thứ 31; 1766) mới được khắc in và chỉ sau một thời gian, các bản dịch Liêu Trai chí dị đã xuất hiện ở hơn 20 nước. Đến nay tác phẩm được chuyển thể sang các loại nghệ thuật khác như: hí kịch, điện ảnh, phim truyền hình…Riêng ở ta, từ năm 1901 trên báo Nông Cổ Mín Đàm, Liêu Trai chí dị đã được dịch và đăng nhiều kì, sau đó các dịch giả như Đào Trinh Nhất, Tản Đà, Nguyễn Huệ Chi, Cao Xuân Huy, Nguyễn Văn Huyền, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Vọng Chi Nguyễn Chí Viễn, Phạm Tú Châu, Đỗ Ngọc Toại, Nguyễn Đức Lân, Trần Thị Băng Thanh … dịch lại, in thành sách.
Ngoài Liêu trai chí dị, Bồ Tùng Linh còn là tác giả của nhiều thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn. Về tiểu thuyết, có Liêu Trai văn tập gồm 12 quyển. Về thơ có Liêu Trai thi tập gồm 6 quyển với hơn 1000 bài thơ, 170 bài từ, 14 vở ca khúc dân gian và 3 vở tạp kịch.
Xã hội phong kiến thời Mãn Thanh cũng như bao đời vua chúa đầy rẫy những tệ nạn, những thói tục vô lí, đầy rẫy những tên dốt nát, gian ác nhưng lại đỗ đạt và được cất nhắc làm quan khiến Bồ Tùng Linh chán nản. Thực tế cuộc sống ấy được tác giả cách điệu thành những câu chuyện ma quái, đưa vào Liêu Trai chí dị.
Đọc truyện, một người bạn đồng hương là Vương Sĩ Trinh (2) đã cảm khái viết đề thi:
Phiên âm:
Cô vọng ngôn chi, cô thính chi,
Đậu bằng qua giá, vũ như ti.
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,
Ái thính thu phần quỷ xướng thi. (3)
Bài thơ đề rất hay khiến hơn trăm năm nay ở ta đã có cả chục bản dịch quốc ngữ của nhiều dịch giả khác nhau, trong đó có lẽ bản dịch của Tản Đà là hay nhất:
Nói láo mà chơi, nghe láo chơi; (4)
Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi.
Chuyện đời hẳn chán không buồn nhắc,
Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời.

Bồ Tùng Linh họa lại:
“Chí dị” thư thành, cộng tiếu chi,
Bố bào tiêu sác, mấn như ty.
Thập niên phá đắc Hoàng-châu ý, (5)
Lãnh vũ, hàn đăng, dạ thoại thi

Dịch thơ:
“Chí dị” làm xong, cất tiếng cười,
Tóc mai trắng nõn, áo bào tơi.
Mười năm mới hiểu lời Tô tử.
Mưa lạnh, đèn tàn, kể láo chơi !


Cả hai bài thơ khái quát một thái độ, một hướng sáng tác. Dù rằng ” nói láo mà chơi, nghe láo chơi” nhưng cả tập, mấy trăm truyện Liêu Trai chí dị lại không phải là như thế, mà lại mang một dụng ý nghiêm túc: phản ánh cuộc sống thực để răn đời. Nhân vật chính diện trong truyện có nhân cách đáng trọng; họ là những con người luôn nêu cao gương nhân nghĩa, trinh tiết…. có khi họ là kẻ hiền lương bị chà đạp, đày ải, có khi lại là người đã trải qua những cuộc đấu tranh cam go với thế tục, bọn tham quan ô lại, bọn du thủ du thực, những tên bạc ác bất nhân…: Nhân vật Thành Danh trong truyện Dế chọi (Xúc chức), Phùng Tương Như trong truyện Hồng Ngọc, Tịch Phương Bình trong truyện Tịch Phương Bình, Hình Vân Phi trong truyện Thạch Thanh Hư… khốn đốn với cả một xã hội từ triều đình trung ương đến quan lại địa phương vì thú vui riêng, vì tư lợi, cấu kết với nhau bức hại người dân. Xã hội không còn công lí, không còn chính nghĩa. Lời của Nhị Lang thần buộc tội Diêm vương : “Ánh sáng đồng tiền bao trùm mặt đất…, hơi đồng tanh tưởi ngất trời làm cho trong thành không ngày nào không có những vụ chết oan…” là của Bồ Tùng Linh tả cảnh dưới âm ti nhưng kì thực là để tả thảm trạng trần gian.
Bên cạnh mặt trái của xã hội, Liêu Trai chí dị miêu tả sống động một nước Trung Hoa xưa với những nét truyền thống quý báu qua mấy ngàn năm văn hóa đậm dấu ấn của Tam giáo. Trước hết Liêu Trai chí dị thể hiện ý thức truyền thống lâu đời nhất của người Trung Hoa: Nho giáo, đặc biệt nêu cao những hình mẫu đáng trọng với đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Thực hiện đúng tôn chỉ của người viết văn theo quan niệm truyền thống Văn dĩ tải đạo nên tình cảm giữa người với người: tình cha con, tình vợ chồng son sắt, tình bằng hữu, tình tri âm, tri kỉ… được Bồ Tùng Linh nêu rất cao trong hầu hết các truyện và ngược lại, nhằm răn những kẻ bạc ác, truyện của Bồ Tùng Linh cũng dựng nên những nhân vật phản diện hung ác bất nhân, bất tín, bất nghĩa phải chịu kết cục rất thảm khốc.
Tư tưởng Phật giáo cùng với tư tưởng Lão Trang cũng thể hiện khá rõ trong Liêu Trai chí dị với những chi tiết chứng thực cho thuyết luân hồi, nhân quả…, những nhân vật là sư tăng, đạo sĩ hành tung kì dị, phong thái phiêu diêu thoát tục được trộn vào trong cõi đời thường, chung đụng với những phàm nhân đầy dục vọng, sân si (Giang Thành, Bức họa trên tường, Lục Phán quan, Họa bì, Đạo sĩ núi Lao…). Riêng truyện Đạo sĩ núi Lao đã dựng nên một hình mẫu tuyệt vời sống động của con người thế tục trong cõi thần tiên hư ảo:
“ Trong huyện có chàng họ Vương, vào hàng thứ bảy, là con nhà cố gia, tuổi trẻ mộ đạo.
Nghe nói núi Lao Sơn có nhiều tiên ở, liền quẩy tráp đi thăm. Trèo lên một ngọn núi thấy có đạo quán thật u nhã. Một vị đạo sĩ ngồi trên tấm bồ đoàn tóc trắng rủ xuống tận cổ, nhưng dáng vẻ thư thái, tinh thần trông thật sắc sảo.
Vương liền khấu đầu, bắt chuyện, thấy đạo lý rất huyền diệu, bèn xin thờ làm thấy.
Ðạo sĩ nói:
- Chỉ sợ quen nhàn rỗi, không chịu nổi khó nhọc thôi.
Vương hứa là: “Ðược”
Học trò Ðạo sĩ đông lắm, gần tối mới kéo hết về. Vương cùng họ cúi đầu làm lễ, rồi lưu lại trong quán. Sáng tinh sương, Ðạo sĩ gọi Vương, đưa cho cái búa, bảo theo đám học trò đi hái củi. Vương kính cẩn vâng lời. Ðược hơn một tháng, tay chân phồng rộp thành chai, cực khổ không chịu nổi, Vương đã ngầm có bụng muốn về.
Một buổi chiều, trở về, thấy hai người khách đang cùng thầy uống rượu. Trời đã tối mà chưa thấy đèn lửa gì cả. Thầy bèn cắt một miếng giấy như hình cái gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc soi sáng khắp nhà, trông rõ từng sợi tơ, cái tóc. Ðám học trò chạy quanh hầu hạ. Một người khách nói:
- Ðêm này đẹp trời có thể vui chơi, nên cho ai nấy cùng vui; bèn lấy hồ rượu lên bàn, chia cho các học trò, lại dặn nên uống thật say. Vương nghĩ bụng: Bảy tám người một hồ rượu, làm sao cho đủ khắp được? Mỗi người đều đi tìm chén, bát , tranh nhau rồi uống trước, chỉ sợ rượu trong hồ hết mất. Thế mà rót hết lần này lượt khác, vẫn chẳng vơi đi chút nào. Bụng thầm lấy làm lạ. Giây lát, một vị khách nói:
- Ðã làm ơn ban cho ánh sáng trăng, mà lại chỉ tịch mịch uống suông. Sao không gọi Hằng Nga xuống chơi? Ðạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào trong trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong vùng ánh sáng bước ra: mới đầu chưa đầy một thước, xuống đến đất thì cao lớn như người thường, lưng thon nhỏ, cổ trắng muốt, phấp phới múa khúc Nghê Thường. Rồi ca rằng:

“Tiên tiên nào!

Về đây nao!

Giữ ta mãi chốn Quảng Hàn sao!”
Âm thanh trong trẻo, cao vút, nghe hay như tiếng tiêu, tiếng sáo. Ca xong, uốn lượn mà đứng lên, rồi nhảy lên mặt bàn, ngoảnh đi ngoảnh lại, đã biến trở lại thành chiếc đũa. Ba người cùng cười lớn. Lại một vị khách nói:
- Ðêm nay vui quá, nhưng uống vẫn chưa đã. Có thể đãi rượu tiếp chúng tôi trên cung Nguyệt được chăng?
Ba người bèn rời chiếu tiệc bước vào dần trong trăng. Mọi người nhìn thấy rõ cả ba đang ngồi trong trăng uống rượu: râu, lông mày, đều trông thấy hết, như bóng hiện trong gương. Một chốc, ánh trăng mờ dần; đám học trò châm đèn mang đến thì một mình đạo sĩ còn ngồi đấy mà khách đã biến đâu mất. Trên bàn thức nhắm hãy còn. Mà mặt trăng trên vách chỉ còn là miếng giấy tròn như tấm gương mà thôi.
Ðạo sĩ hỏi:
- Mọi người đã uống đủ cả chưa?
Các học trò cùng thưa:
- Ðủ cả.
- Ðủ rồi thì nên đi ngủ sớm, đừng làm lỡ việc kiếm củi ngày mai.
Chúng học trò đều “vâng” mà lui ra.
Vương lòng thầm thích thú, hâm mộ, bụng muốn về lại tiêu tan.
Lại một tháng nữa, khổ không thể nào kham nổi, mà đạo sĩ tuyệt không truyền dạy cho một phép nào.
Sốt ruột không chờ được nữa, Vương bèn lên cáo từ rằng:
- Ðệ tử này vượt mấy trăm dặm đường đến đây thụ nghiệp với thầy; dẫu chẳng học được cái thuật trường sinh bất tử, thì cũng mong thầy cho chút gì gọi là tấm lòng cầu học. Thế mà qua hai ba tháng, chỉ những sáng đi kiếm củi, tối lại trở về. Hồi còn ở nhà, đệ tử chưa bao giờ phải chịu khổ như thế.
Ðạo sĩ cười bảo:
- Ta vẫn nói là anh không kham nổi khó nhọc, nay đã quả nhiên. Sáng mai, sẽ cho anh về:
Vương nói:
- Ðệ tử làm lụng đã bao ngày, xin thầy dạy qua cho một thuật mọn, khỏi phụ công lao đệ tử lặn lội tới đây.
Ðạo sĩ hỏi:
- Muốn học thuật gì?
Vương đáp:
- Thường thấy thầy đi đâu, tường vách không ngăn được. Chỉ xin một phép cũng đủ.
Ðạo sĩ cười nhận lời. Bèn đem một bí quyết truyền cho, bảo miệng đọc mấy câu thần chú xong rồi hô: “Vào đi!”. Vương đối diện với một bức tường mà không dám vào.
Ðạo sĩ lại nói:
- Cứ vào thử đi!
Vương theo lời, thong thả tiến lại, đến tường thì bị vấp. Ðạo Sĩ bảo:
- Cúi đầu, vào cho nhanh, đừng lần chần!
Vương quả quyết, đứng cách tường mấy bước, lao nhanh tới. Gặp tường, cảm thấy trống không có vật gì cả. Quay lại thì đã thấy mình ở bên kia tường rồi.Vương mừng quá, vào lạy tạ.
Ðạo sĩ bảo:
- Về nhà nên giữ mình đứng đắn, không thế thì phép không nghiệm nữa đâu.
Nói rồi cấp lộ phí cho mà về.
Ðến nhà, chàng khoe đã gặp tiên, tường vách dày đến đâu cũng không ngăn được mình.
Vợ không tin. Vương làm đúng như lời đạo sĩ đã dạy, đứng cách tường mấy bước, chạy ù vào. Ðầu đụng phải tường cứng, bỗng ngã lăn đùng. Vợ Vương đỡ dậy, nhìn xem, thấy trán đã sưng lên như một quả trứng lớn. Vợ Vương đưa ngón tay lêu lêu, diễu cho.
Vương vừa thẹn vừa ức, chỉ biết chửi lão đạo sĩ bất lương mà thôi.”
Vương sinh chẳng qua chỉ là một con người nhiều dục vọng của đời thường. Việc Vương mộ đạo chẳng qua chỉ là lòng ham muốn có thuật lạ; ham muốn này cũng như các ảo vọng rất thường thấy, rất phổ biến của nhiều người trong thế tục. Vương không phải là người trì chí nên chẳng chịu nổi gian khổ, lại thiếu cẩn trọng, thích khoe mẽ, mới được thầy truyền cho chút phép thuật đã vội về khoe ngay với vợ…
Việc Vương mộ đạo cũng như những người hay mơ ước đạt được chân lí. “Đạo” được Bồ Tùng Linh nói ở đây là con đường, là “Đạo” trong Đạo đức kinh của Lão tử, là chân lí vĩnh hằng của vạn vật, là “Đạo khả đạo phi thường đạo” (6) . Cái đã gọi là chân lí thì không thể truyền đạt được mà chỉ có thể “ngộ” … và kẻ phàm như Vương Sinh thì làm sao mà “ngộ” được.
Trong cõi đời có vô số những kẻ tầm thường vẫn mơ tưởng đạt đến chân lí và cuối cùng chỉ làm trò cười mà thôi. Việc Vương húc đầu vào tường, “trán sưng lên như một quả trứng lớn” lại bị vợ “lêu lêu cho” là một chi tiết biếm họa cho toàn cảnh.
Truyện của Liêu trai đều là bịa đặt nhưng tình tiết phong phú, linh hoạt, muôn màu, muôn vẻ chứng tỏ tác giả là người rất từng trải. Mỗi nhân vật trong từng truyện đều có tính cách riêng rất độc đáo và nhất quán. Nhân vật có khi là cây cỏ, thú vật, chim chóc hóa thân thành người và khi đã thành người lại có tính cách rất riêng. Tính cách này thường phục vụ cho một chủ đề nào đó của truyện; ví dụ ở truyện “Chuyện lạ chim câu”(Cáp dị): để ca ngợi tình tri âm, Bồ Tùng Linh đã cho chim câu biến hình thành thiếu niên:
Công tử Trương Công Lượng đất Châu Bình rất thích chim câu, cứ theo sách Kinh mà tìm. Cầu có được đủ các chủng loại. Có con nào, Trương chăm chút y như trẻ thơ: bị bệnh lạnh thì chữa bằng cỏ phấn, bệnh nóng thì cho ăn muối hạt. Chim câu thích ngủ, nhưng ngủ quá nhiều thì mắc bệnh bại liệt. Hồi ở Quảng Lăng, Trương mua một con “Dạ du” mười đồng vàng, mình rất nhỏ, chạy rất nhanh, thả trên mặt đất nó cứ chạy loanh quanh không biết đến bao giờ, kỳ đến mệt lăn ra chết mới thôi, cho nên phải có người bắt giữ. Ban đêm Trương bỏ”Dạ du” vào trong đàn chim, nó chạy lung tung làm cho chim câu giật mình không ngủ được, để tránh cho chúng bệnh bại liệt. Kể thế, những nhà nuôi chim đất Tề, đất Lỗ cũng kém tài. Mà công tử cũng lấy việc nuôi chim câu để tự khoe một chút.
Một đêm công tử đang ngồi ở thư phòng, bỗng một trang thiếu niên mặc áo trắng gõ cửa bước vào. Hai người không quen biết nhau, công tử hỏi, chàng ta đáp:
- Con người phiêu bạt, tên họ có gì đáng nói. Ở xa nghe tin đồn công tử nuôi bồ câu được lắm. Bình sinh tôi cũng ưa thích thứ ấy, xin được cho xem.
Trương liền đem hết ra, đủ cả năm sắc, rực rỡ như gấm mây. Chàng thiếu niên cười mà rằng:
- Lời đồn quả không ngoa, có thể nói công tử biết hết mọi sự trong nghề nuôi chim câu. Tôi cũng có mang theo một hai con, công tử có muốn xem không?
Trương mừng quá, theo người thiếu niên đi. Đêm ấy, ánh trăng mờ ảo, đồng không mông quạnh, đi thì đi nhưng trong lòng Trương đã thầm ngờ ngợ. Thiếu niên vừa chỉ vừa nói:
- Xin gắng đi chút nữa, nơi tôi ngụ không còn xa nữa.
Đi thêm mấy bước đã tới một ngôi nhà hai gian. Thiếu niên dắt tay đi vào. Trong nhà không có ánh đèn lửa. Thiếu niên đứng giữa sân, bắt chước tiếng chim câu gù. Bỗng có một đôi chim tầm cỡ như chim thường lông trắng tuyền bay ra ngang tầm mái hiên, vừa gù vừa chọi. Thiếu niên xua tay hai con nối cánh bay vào chuồng.
Thiếu niên lại chúm miệng gù cách khác. Lại có hai con khác bay ra – con lớn như con le, con bé bằng nắm tay – đậu xoè cánh như hai cánh bình phong, vừa gù vừa nhảy rất uyển chuyển, dường như để khơi dẫn. Con nhỏ vừa gù vừa bay lên xuống rồi đậu trên đầu con lớn đang vẫn giương cổ không động cựa cánh chấp chới như tiếng chim yến lạc vào đám lác. Tiếng kêu con nhỏ như tiếng trống bỏi, tiếng con lớn lại y như tiếng khánh, đan hoà nhau như một dàn nhạc. Rồi chim nhỏ bay lên, con lớn cứ lắc lư như chào gọi vậy.
Công tử nhìn quang cảnh ấy, cứ khen ngợi mãi không thôi. Tự chỉ thấy mình chỉ là ếch ngồi đáy giếng, đáng xấu hổ bèn vái chàng thiếu niên, xin cho chia sẻ niềm yêu thích. Thiếu niên không nghe, lại cố gắng xin, lúc ấy thiếu niên mới gù gọi đôi chim trắng ra, bắt lấy đưa cho Trương, nói:
- Nếu công tử không ghét bỏ, tôi xin biếu đôi này.
Trương nhận lấy, ngắm nghía: đôi mắt chim câu tròn như hạt hồ tiêu, phản chiếu ánh trăng lóng lánh màu hổ phách như trong suốt, mở đôi cánh ra da thịt nó mỏng tanh trong vắt như có thể nhìn rõ tim ruột. Trương rất lấy làm lạ, mà ý chưa cho là đủ, còn nài nỉ xin nữa. Thiếu niên miễn cưỡng bảo:
- Hãy còn hai đôi chim chưa đưa ra trình, nay không dám mời xem nữa.
Còn đang chuyện trò đàm đạo thì người nhà Trương đốt đuốc đi tìm chủ nhân. Trương vừa quay đi, chàng thiếu niên đã hoá thành chim câu trắng, to như con gà, bay vút lên trời, đi đâu không rõ. Nhà cửa vừa trước mắt biến đâu mất mà chỉ còn một ngôi mộ có hai cây bách trồng bên. Trương vội cùng gia nhân ôm đôi chim về. Về đến nhà, thử cho bay, chim vẫn thuần và lạ như trước. Tuy chưa phải là cực hay, song trên đời này cũng hiếm. Do vậy, Trương càng yêu quý… (7)
Đại khái truyện của Bồ Tùng Linh hư ảo như thế, đọc hết gần năm trăm truyện kì dị, mỗi truyện mỗi màu mỗi vẻ, đầy cả hỉ nộ ái ố của thế tục, vô vàn nhân vật, vô vàn những chi tiết diễm tình hư hư, thực thực, lắm ngoa ngôn và cũng lắm ngụ ngôn; Liêu Trai chí dị đúng là ý tại ngôn ngoại, là tảng băng trôi trên biển đời, bảy phần chìm ba phần nổi. Những gì Bồ Tùng Linh hư cấu chẳng qua chỉ là phương tiện để chuyển tải hảo ý răn đời, giáo huấn, cải tạo tư tưởng, tinh thần người Trung Quốc. Cũng như Kim Dung ở thế kỉ hai mươi về sau, Bồ Tùng Linh không ngại dùng ngoa ngôn làm phương tiện, lấy những chi tiết vẽ vời siêu thực đưa người đọc vào chốn thần tiên, yêu ma, quỉ mị để hấp dẫn họ, khiến họ noi đức tốt, làm lành, tránh dữ.
———————————————
CHÚ THÍCH:
(1) Chức danh ban cho người học giỏi, được vào học ở Thái học.
(2) Vương Sĩ Trinh tức Ngư Dương Lão Nhân, tự là Di Thượng, hiệu Nguyễn Đình, đậu tiến sĩ, làm quan đến thượng thư, là nhà thơ và bình thơ rất nổi tiếng của Trung Quốc, là bạn đồng hương của Bồ Tùng Linh.
(3) Trong Duy cơ bách khoa toàn thư của Trung quốc: ở câu cuối, chữ 诗 được chú thêm : 时(thì). Nguyễn Huệ Chi cũng cho là đây là chữ “thì” (時) nhưng xem ra câu “Ái thính thu phần quỷ xướng thi “ vẫn có hàm nghĩa hay hơn.
(4)&(5) Tương truyền Tô Đông Pha lúc ở Hoàng châu, mỗi sáng thường mời khách đến hoặc đi chơi cùng khách; tùy từng người mà bảo họ kể chuyện khôi hài, phóng đãng, không cần giữ lễ; người nào không có chuyện khôi hài thì ông yêu cầu kể chuyện ma quỷ. Có người nói là không có ma quỷ, thì ông bảo “Cứ nói láo đi”. Trong bài đề thi của Vương Sĩ Trinh và bài họa lại của Bồ Tùng Linh đã dùng tích này. Chữ Hoàng châu ý trong bài thơ họa của Bồ Tùng Linh cũng chính là nhắc lại tích trên.
(6) “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh” …: Câu đầu tiên, Chương I của Lão tử Đạo Đức kinh; nghĩa là : Đạo mà có thể truyền đạt được thì không phải là Đạo thường hằng; Danh mà có thể gọi tên được thì không phải là Danh thường hằng”…
(7) Liêu trai chí dị, Nguyễn Văn Huyền dịch; NXB Văn Học-2000.
Nguyễn Cẩm Xuyên
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 07:53 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.