VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-14-2019 , 11:48 PM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by tinhlang
Chào anh LTP...

Cảm ơn anh LTP đã vào thread "Ước Gì.." để chung vui với Lan nha. Anh nè, hồi sáng này vì bất đắc dĩ nên Lan mới nói là mong anh đừng nói chuyện gì với chị HH trong thread đó của Lan thôi, chứ Lan không hề có ý trách hay buồn gì anh hết...Nếu như Lan có làm cho anh khó chịu thì mong anh thông cảm và bỏ qua giùm cho Lan nha.

Sẵn dịp anh cho Lan ké một bài thơ con cóc trong đây để mần chiêu bài dán vô cái thread này của anh cho vui với ngheng!

>>>>>>>>>

Lỡ Làng...

Biết nói gì đây, biết nói gì...
Một lời đã thoát tựa tên bay
Muốn chùng dây cung, níu tên lại
Nhưng đã trễ rồi tiếc lắm thay!

Lòng tôi không vững nên hay dỗi!
Xin người hãy hiểu chớ trách lời...
Giờ đây tôi đang thầm mong đợi
Lòng không buồn giận của người thôi!

Hãy nhận nơi đây lời xin lỗi,
Đừng để nặng lòng, hứa giùm tôi...
Đừng vương vấn nữa, đừng trăn trở
Ta hãy cùng nhau nở môi cười!

NhỏLan.

Chúc anh LTP có một buổi chiều thật vui và thật bình an.
Thi sĩ Lan cô nương làm thơ hay quá. LTP nhận thấy tâm hồn Lan thật dịu dàng, thật chân tình.

Chị Thanh Nhàn nói đúng. LTP không thấy bài của Lan. LTP xin lỗi Lan, đã làm Lan buồn .

Thời gian qua mau thật là mau. Cuối tuần này Lan có chương trình gì vui không? Có nấu món gì đặc biệt không?

Mến,
LTP.
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-14-2019 , 11:52 PM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Lan có bài thơ nào muốn đăng trong thread này cứ tự nhiên nhé. Được Lan post bài trong này là một hân hạnh lớn của LTP.

Thân chúc Lan ngủ nhiều mộng đẹp.

Mến,
LTP.
tinhlang
Gold Member
Join Date: Sep 2017
Số Điểm: 2352
Old 06-15-2019 , 12:57 PM     tinhlang est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by thanh_ nhan
Chắc LTP không thấy chứ Phong rất quý mến em không ngó lơ đâu. Bỏ thơ em vào đây đi nhé. Đừng giận LTP nha.
Cảm ơn chị TN, chị và anh LTP là những người mà em rất quý mến nên có buồn hay giận gì cũng chẳng có lâu đâu nên chị đừng lo nha.... ...

Quote :
Originally Posted by LeThanhPhong
Thi sĩ Lan cô nương làm thơ hay quá. LTP nhận thấy tâm hồn Lan thật dịu dàng, thật chân tình.

Chị Thanh Nhàn nói đúng. LTP không thấy bài của Lan. LTP xin lỗi Lan, đã làm Lan buồn .

Thời gian qua mau thật là mau. Cuối tuần này Lan có chương trình gì vui không? Có nấu món gì đặc biệt không?

Mến,
LTP.
Cảm ơn anh LTP đã không buồn Lan nha....Tối qua đi làm về cảm thấy mệt quá nên tắm rửa và uống vội ly sữa nóng xong là leo lên giường ngủ một giấc thẳng cẳng tới sáng luôn...Mà giờ vô đây đọc thấy mấy lời này của anh nữa nên cảm thấy tâm hồn của mình thoải mái vô cùng luôn đó

Lan mời anh ly cà phê ảo nè, chúc anh có 2 ngày cuối tuần sẽ hưởng được thật nhiều niềm vui và hạnh phúc bên người thân....

Hôm nay mấy nhóc rủ đi mall để chúng tìm mua quà tặng cho Ba của chúng trong ngày lễ Father's day vào ngày mai đó anh...Với lại Lan cũng cần đi chợ để mua đồ làm BBQ cho ngày mai luôn...Còn bữa nay thì chưa biết sẽ làm gì ăn nữa nè....

Quote :
Originally Posted by LeThanhPhong
Lan có bài thơ nào muốn đăng trong thread này cứ tự nhiên nhé. Được Lan post bài trong này là một hân hạnh lớn của LTP.

Thân chúc Lan ngủ nhiều mộng đẹp.

Mến,
LTP.
Ok, anh đã nói vậy thì Lan post thêm bài thơ này để anh LTP và chị Thanh Nhàn đọc cho vui nha...



Vui hay buồn? Or buồn hay vui đây...

Hôm qua tôi thấy rất buồn
Hôm nay lại thấy cõi lòng thoáng vui
Cuộc đời có đủ ngọt bùi
Đắng cay, chua chát khiến người xót xa...

Thôi thì hãy cố vượt qua
Khỏi bao phiền muộn, cho ta nhẹ lòng
Chuyện gì cũng hãy thong dong
Mến thương bồi đắp làm thân với người...

Thế thì chuyện sẽ êm xuôi
Không còn bức xúc sẽ nguôi lòng dần
Kết bạn trong chốn "loạn quân"
Để lòng ta được lâng lâng nhẹ nhàng!

NhỏLan.
tinhlang
Gold Member
Join Date: Sep 2017
Số Điểm: 2352
Old 06-15-2019 , 01:58 PM     tinhlang est dconnect  search   Quote  
Cảm xúc mưa buồn trong ta....

Mưa xuân buồn từng giọt nhỏ mông lung
Làm lòng ta....ôi, buồn không lời tả
Gió lộng trời Chi-ca-go u ám
Thêm nét sầu ảm đạm giữa mùa Xuân!

Nhìn hạt mưa lộng trời theo cơn gió
Bỗng chạnh lòng nghĩ đến có một ngày
Ta không còn quyến luyến đời nhân thế
Thì không biết làm sao về nguồn cội!

Ta nữa đời xa quê Cha đất Nội
Đôi lúc buồn lòng dịu vợi nhớ thương
Nghe nặng sầu khắc khoải vọng hoài hương!
Ta mơ ngày trở về nơi thôn cũ

Khi ta chết ai người rủ ta về
Chốn cội nguồn mân mê lòng đất mẹ
Ai là người đưa ta về quê cũ
Để linh hồn được ấp ủ tình thương!!!

Ai sẽ đốt cho ta nén hương thơm
Để tưởng nhớ đến một linh hồn buồn
Ai đem đến một chút lòng ấm áp
Dưới lòng đất vùi sâu ba thước lạnh!

NhỏLan.

Last edited by tinhlang; 06-16-2019 at 07:50 AM..
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-17-2019 , 05:25 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Nhỏ Lan đã vui lại rồi ha...

Hôm nay để thơ của nữ thi sĩ nổi tiếng.

NHỮNG BÀI THƠ HAY CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN

Bà huyện Thanh Quan (1805 – 1848) là nữ thi sĩ tài danh của Việt Nam trong thời kỳ phức tạp rối ren đầu thế kỷ XIX. Sinh ra trong môi trường văn hóa nho sĩ Bắc Hà, lại trải đủ những biến động chốn quan trường ô trọc phù phiếm, bà viết thơ như trút bầu tâm sự trên những dặm đường phiêu bạt. Thơ của bà thường vịnh những cảnh rộng dài hoang vắng tịch liêu, hay trực tiếp nói lên tâm tình của người lữ hành cô đơn lưu lạc, lúc nào cũng đau đáu một niềm hoài cổ, một sự luyến tiếc về thời vàng son mơ hồ trong dĩ vãng.

Trải nhiều dâu bể, thơ bà đến nay chỉ lưu lại được ít bài, nhưng đều là những bài hàm súc, tinh tế, mang nét đẹp cổ điển phương Đông. Dưới đây là một số thi phẩm của Bà huyện Thanh Quan.

BUỔI CHIỀU LỮ THỨ

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

CẢNH HƯƠNG SƠN

Đệ nhất nam thiên ấy cảnh này,
Thuyền nan đón khách máy chèo lay.
Hai bên quả núi lồng hương suối,
Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng cây.
Cửa Phật lơ thơ tầng đá dãy,
Chùa tiên bát ngát khói hương bay.
“Nam vô” tiếng dậy thưa trần tục,
Non nước Bồng Lai mới thấy đây!

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

Vàng toả non tây, bóng ác tà,
Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa.
Ngàn mai lác đác, chim về tổ,
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà.
Còi mục thét trăng miền khoáng dã,
Chài ngư tung gió bãi bình sa.
Lòng quê một bước nhường ngao ngán,
Mấy kẻ tình chung có thấu là?
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-17-2019 , 05:27 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
CHÙA TRẤN BẮC.

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Khách đi qua đó chạnh niềm đau
Mấy toà sen rót mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa, cảnh cũ, nào đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu!

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

THĂNG LONG HOÀI CỔ

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

TỨC CẢNH CHIỀU THU

Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá trường giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ.
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-17-2019 , 05:35 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Tìm hiểu các địa danh trong bài hát “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật”.
Share

Nếu có cuộc bình chọn danh sách những bài nhạc vàng viết về đời lính hay nhất, tin chắc rằng bài hát “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” phải là một trong số đó.

Những bài nhạc vàng viết về người lính, lẽ dĩ nhiên là vẫn đang bị cấm lưu hành ở trong nước. Tuy nhiên không vì vậy mà làm giảm đi niềm yêu thích của công chúng đối với loại nhạc này. Hơn nữa, với bất kỳ người lính nào, dù ở chiến tuyến nào cũng sẽ thấy một phần của mình trong những bài lính nhạc vàng, những bài hát có sự cảm thông sâu sắc và nói lên những niềm tâm sự của người ở trên chiến trận. Đó là lý do mà có nhiều người đi lính bộ đội vẫn có thể yêu tha thiết những bài nhạc vàng lính.

Trở lại với bài hát Trên Bốn Vùng Chiến Thuật của nhạc sĩ Trúc Phương – một bài hát được sáng tác trong thập niên 1960. Không thể tìm hiểu được hoàn cảnh sáng tác chính thức của bài hát này, nhưng theo suy luận từ tựa đề “4 vùng chiến thuật” thì bài hát chắc chắn được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1964 tới năm 1970. Vùng chiến thuật được thành lập năm 1961 với 3 vùng, đến năm 1964 lập thêm vùng thứ 4. Sang năm 1970 thì chính quyền đổi tên thành Quân Khu.

Bài hát này nhắc tới những địa danh và trận đánh nổi tiếng nhất ở cả 4 vùng chiến thuật:

Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá: Vùng 1 chiến thuật, bộ chỉ huy đặt ở Đà Nẵng, gồm các tỉnh miền Trung, từ Quảng Trị (Gio Linh) đến Quảng Ngãi.

Pleime gió mưa mùa: Vùng 2 chiến thuật, gồm các tỉnh vùng tây nguyên và Nam Trung Bộ ngày nay.

Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa thì loang ma’u tươi: Vùng 3 chiến thuật, gồm 1 số tỉnh Nam Bộ: Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Vũng Tàu.

Đồng Tháp vắng bóng hồng, tôi yêu ai? Vùng Đồng Tháp Mười, các tỉnh miền Tây ngày nay.

Bài hát này, ngay câu đầu, tác giả dùng danh xưng là “tôi”, đóng vai là một người lính đi chinh chiến khắp các vùng chiến thuật, trải dài khắp miền Nam. Có thể “tôi” này là đại diện cho rất nhiều người lính khác nhau, nhưng cũng có thể là người lính này đã tham gia trên cả 4 vùng chiến thuật. Người nghe nhạc sẽ đặt câu hỏi liệu có đơn vị nào tham gia được hết cả miền Nam như vậy? Sẽ là rất hiếm, nhưng cũng có thể có đối với trường hợp lực lượng Trừ Bị Lưu Động với sự di chuyển rộng khắp cả miền Nam.

Dĩ nhiên, nhạc sĩ Trúc Phương có quyền hư cấu khi viết bài hát này, nhưng chúng ta giả sử có một anh lính như vậy thật, thì có thể anh ta thuộc binh chủng nhảy dù, với chi tiết trong bài hát: Gặp gỡ trong cơn lốc. Họ gặp nhau trong lúc trực thăng đang quạt mạnh và mù mịt như một cơn lốc. Chỉ có anh lính nhảy dù mới nhìn thấy được vẻ tuyệt đẹp của khung cảnh “mây mù trên núi cao, rừng sương che lối vào”. Ngoài ra, chỉ có binh chủng nhảy dù mới tham gia đầy đủ ở những nơi chiến trường khốc liệt nhất là Pleime, vùng Đồng Tháp Mười, Tây Ninh, đặc biệt là Gio Linh.

“gặp gỡ trong cơn lốc”

Trong các binh chủng, chỉ có Nhảy Dù, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến là các đơn vị có thể lưu động trên khắp các vùng. Riêng trận Gio Linh như trong bài hát, trước năm 1970 chỉ có binh chủng nhảy dù là tham gia trận đánh lớn ở Gio Linh, vào năm 1967 trong cuộc hành quân Lam Sơn 54. Vì vậy có thể chắc chắn, nếu anh lính trong bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật là có thật, thì đó là 1 anh lính dù mũ đỏ.

Những người lính ngày xưa chân chất, từ cách xưng hô thân mật mày tao, đến những hoàn cảnh mà bất kỳ người lính nào cũng nếm trải: bùn đen in dấu giày, đêm đêm nằm đường… Đời lính gian khổ, nhưng ai cũng phải “vì đời mà đi”, vì phía sau họ còn có “vạn người thân lưu luyến”, là những đồng bào lúc nào cũng bị bất an dưới khói lửa chiến chinh.

Như hầu hết các ca khúc của miền Nam trước 1975, ca khúc “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” không có lời lẽ hận thù, đơn thuần đây chỉ là hình ảnh người lính xa nhà lúc nào cũng khó nhọc, cô đơn, nhưng vì thương quê hương mà cất bước lên đường.

Tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày, lửa thù no đôi mắt
Chân nghe lạ từng khu chiến thuật,
áo đường xa không ấm gió phương xa,
nghìn đêm vắng nhà.

Mây mù trên núi cao, rừng sương che lối vào
Đồng ruộng mông mênh nước
Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù
Áo nhà binh thương lính lính thương quê
Vì đời mà đi

Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá
Pleime gió mưa mùa
Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa thì loang ma’u tươi
Đồng Tháp vắng bóng hồng, tôi yêu ai?

Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận.
Gặp gỡ trong cơn lốc
Xưng tao gọi mày thương quá gần.
Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng,
của vạn người thân.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-18-2019 , 03:38 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Thơ của Lưu Trọng Lư.

Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế.

Xét về khía cạnh con người, trong thơ Lưu Trọng Lư còn nhiều duyên nợ với các nhà Đường thi như Lý Bạch, Đào Tiềm, Tô Đông Pha,… và có một phần giống với Tản Đà. Chính vì lẽ đó mà thơ Lưu Trọng Lư như một thế giới xa vắng, mộng ảo, rất gần với cổ thi.

Tiếng Thu.
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?


Nắng Mới.
Tặng hương hồn Thầy Me

Mỗi lần nắng mới hắt bên song.
Xao xác gà trưa gáy não nùng;
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.

Tôi nhớ Me tôi thuở thiếu thời,
Lúc Người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi.

Hình dáng Me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.


Một Mùa Đông.

I
Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói,
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng.

Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói,
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng.

Trời hết một mùa đông
Gió bên thềm thổi mãi,
Qua rồi mùa ân ái:
Đàn sếu đã sang sông.

Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa,
Một ngày một cách xa.

Đây là dải Ngân Hà,
Anh là chim Ô Thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua.

Để mặc anh đau khổ,
Ái ân giờ tận số,
Khép chặt đôi cánh song!
Khép cả một tấm lòng!

II
Tặng D.C.

Em là gái trong khung cửa,
Anh là mây bốn phương trời;
Anh theo cánh gió chơi vơi,
Em vẫn nằm trong nhung lụa.

Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ tràn đêm xuân?
Cho tình tràn trước ngõ?
Cho mộng tràn gối chăn?

III

Ngày một ngày hai cách biệt nhau
Chẳng được cùng em kê gối sầu,
Khóc chuyện thế gian cười ngặt nghẽo,
Cùng cười những chuyện thế gian đau.

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.

Môi em đượm sặc mùi nho tươi,
Đôi má em hồng chúm nụ cười,
Đôi mắt em say màu sáng lạn,
Trán em để lỏng làn tóc rơi.

Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng nói nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay.

IV
Hãy xếp lại muôn vàn ân ái
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau,
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng.

Hãy như chiếc sao băng băng mãi
Để lòng buồn, buồn mãi không thôi.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-19-2019 , 03:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
TRÊN ĐỈNH MÙA ĐÔNG (TRẦN THIỆN THANH)

Trên Đỉnh Mùa Đông là một ca khúc hợp soạn giữa Trần Thiện Thanh cùng người em ruột của ông, Thiếu Úy Trần Thiện Thanh Toàn, một sĩ quan trong QLVNCH, mà tựa đề đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh xử dụng trong vở nhạc kịch cùng tên. Tác phẩm nầy đã làm tuôn chảy bao nước mắt cảm xúc từ khối đông khán giả mà vai nữ chính trong vở nhạc truyện Trên Đỉnh Mùa Đông luôn được giao cho nữ ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Thanh Lan được đánh giá là nghệ sĩ diễn xuất sống động thích đáng nhất bên cạnh Nhật Trường – Do từ mối đồng cảm thâm sâu giữa nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ sáng tác – Giải thích hiện tượng nầy không khó đối với trường hợp của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, bởi như chúng ta hằng nhận ra: Chỉ do từ Phẩm Chất Nghệ Sĩ – Những Nghệ Sĩ Thật Sự tài năng luôn tạo nên mối đồng cảm chân tình giữa họ và khối đông gồm: Những người trình diễn – Những khán thính giả.

Từ một ngày xa trước anh đưa em về bóng ngã đam mê
Em dấu son gót mềm, nhủ lòng lãng quên mà nhớ đêm đen
Chuyện một lần yêu ai như chuyện một đời con gái
Cho anh một lần, anh được gì không, em còn gì không?

Ôi, những câu chuyện lòng
Làm thơm ngát thêm tuổi hồng
Em ơi, yêu đi yêu đi
Trên đỉnh yêu đương gió toả thêm hương.

Ôi, những câu chuyện lòng
Từ lâu vẫn như mùa đông
Em ơi, yêu đi yêu đi
Nếm thử thương đau
Khi hạnh phúc qua mau.

Kể từ sau đêm đó sân vui đại học
Mất tiếng chim ca
Cho... dẫu không xoá nhoà
Thì rồi cũng qua, tình cũng bay xa.

* Ngàn ngày trôi xa vắng, chưa cạn một lần cay đắng
Xa nhau một đời
Em còn gì đâu
Anh còn gì đâu.

Anh... anh còn gì đâu
Và em... em còn gì đâu
Xin cho em thêm một ngày nữa thôi
Xin cho em thêm một đời thương nhớ.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-19-2019 , 03:14 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Qua - Bậu.

"Qua" và "Bậu" đều là đại từ nhân xưng đặc trưng của miền Trung và miền Nam ngày xưa. Nhưng nó được dùng nhiều nhất là ở vùng đất phương Nam.

"Qua" là ngôi thứ nhất, nếu dùng riêng lẻ là từ xưng hô của người lớn tuổi với người nhỏ tuổi, nghĩa là tôi (là cô, chú, bác, anh, chị), nhưng khi dùng chung với "Bậu" thì nghĩa là anh, là cách xưng hô của chồng với vợ hoặc của người con trai với người yêu hoặc với người mà họ có ngỏ ý thương mến.

"Bậu" là ngôi thứ hai, là từ thân thương mà người con trai dùng để gọi vợ hay người yêu hay người con gái mà họ đem lòng thương mến.

"Bướm xa hoa, bướm dật, bướm dờ
Qua đây xa Bậu đêm ngày chờ trông."

Theo GS Lê Ngọc Trụ (1909-1979) gốc của từ "Qua" do chữ wá, hay đọc đúng hơn là u_á đọc theo giọng Triều Châu của chữ "ngã" tức là "tôi". Cũng có giả thiết khác rằng sự liên hệ từ "Qua" với tiếng Mường và tiếng Nhật nhưng có lẽ lối giải thích của GS Lê Ngọc Trụ dễ chấp nhận hơn bởi sự giản dị.

“Hôm qua Qua nói Qua qua mà Qua hổng qua
Hôm nay Qua nói Qua hổng qua mà Qua qua.”

Từ "Qua" được dùng rất nhiều trong các tác phẩm của Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884-1958) như: Thầy Chung trúng số, Tơ hồng vương vấn, Sống thác với tình, Ai làm được... và nhiều tác phẩm khác nữa.

Nếu "Qua" đã là từ Triều Châu thì "Bậu" cũng rất có thể do âm Triều Châu mà ra. Nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987) có đưa ra gốc từ tiếng Mạ nhưng sau khi bàn luận với người Triều Châu, thì trong tiếng Triều Châu "pa_u" hay "pấu" (giọng đọc khác nhau tùy vùng) là vợ, một danh từ bình thường và khi ghép vào một chữ nữa mới phân rõ ngôi thứ như "cha pấu", "cha pa_u" (vợ tôi) "deo pa_u" (vợ yêu) như ta dùng Hán Việt "tệ phu, tệ nội, hiền phụ, hiền thê...” Người Việt chung sống với người Triều Châu đọc trại là "bậu" và "Bậu" trở thành đại từ ngôi thứ hai.

"Bậu có chồng chưa, Bậu thưa cho thiệt
Kẻo Qua lầm tội nghiệp cho Qua."

Dù với cách lý giải nào thì từ "Qua" và "Bậu" cũng đều là từ ngoại lai. Tuy nhiên, khi được Việt hóa, "Qua" và "Bậu" trở thành những từ ngữ độc đáo của tình cảm thương yêu đôi lứa thật súc tích.

"Bậu qua phà Rạch Miễu, Qua lẽo đẽo theo sau.”

Qua- Bậu tiêu biểu cho ngôn từ Việt hóa của miền đất phương Nam, trong đó bên cạnh tiếng Hoa còn phải kể tiếng Pháp, tiếng Miên... Từ ngữ Việt hóa gốc Hoa phần nhiều được sử dụng giới hạn ở miền đất phương Nam là vì điều kiện chung sống, hội nhập nơi đây. Mặc dù, số từ ngữ Việt hóa rất nhiều nhưng đi vào ca dao, văn chương phương Nam mạnh mẽ nhất có lẽ là hai từ "Qua" và "Bậu" (chiếm hơn phân nửa).

"Trách mẹ với cha chớ Qua không trách Bậu
Cha mẹ ham giàu gả Bậu đi xa.”

"Bậu có chồng như cá vô lờ,
Tương tư nhớ Bậu, dật dờ năm canh."

"Bậu về kẻo mẹ Bậu trông,
Kẻo con Bậu khóc, kẻo chồng Bậu ghen."

"Ví dầu tình Bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rời Bậu ra
Bậu ra Bậu lấy ông câu
Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.”

Nhà thơ Phạm Hải Đăng cũng sáng tác rất nhiều bài thơ có "Qua" và "Bậu" như:

BẼ BÀNG TÌNH QUA

Nói hoài Bậu hổng thèm nghe
Để Qua ấm ức đầy ghe đem dìa!
Vô tình trong buổi chiều kia
Bậu theo người khác, tình chia cách tình

Mình ên Qua đứng lặng thinh
Nhìn theo con nước lục bình trôi theo
Trách ên Qua kiếp bọt bèo
Sóng xô sóng đập, sóng leo mạn thuyền

Mé sông bến đợi mình ên
Bông Bần bông Mắm rơi lền trắng sông
Đường tình bạc bẽo long đong
Tình duyên dang dở đắng lòng Qua đau

Bậu ơi! còn có thương nhau
Cửa Vàm Qua đợi, trái sầu Qua mang
Sông năm bảy ngã đò ngang
Bậu không dìa nữa bẽ bàng tình Qua.

BẬU THÔI ĐƯA ĐÒ

Mưa chiều, Qua dõi mắt theo
Bến xưa tình cũ ai gieo câu thề
Bậu còn nhớ đến tình quê
Để Qua trông ngóng, khi về cô đơn

Bậu đi mưa gió dỗi hờn
Lòng Qua trĩu nặng như con đò chiều
Ngày nào tíu tít lời yêu
Tay Qua Bậu nắm nói điều mộng mơ

Sông Cửa Vàm thuở tình thơ
Qua thương Bậu nói: “mình chờ nhé Qua!"
Nào dè đâu, Bậu đã xa
Trầu cau chưa thắm, người ta lấy chồng

Đứng nhìn chim sáo sang sông
Để Qua lẻ bạn đau lòng Bậu ơi
Giờ đây, cách biệt phương trời
Quê nghèo miệt thứ, Bậu thôi đưa đò.

Ngày nay, "Qua" và "Bậu" đã trở thành dĩ vãng nhưng đối với những người con vùng đất phương Nam xưa, hai từ Qua - Bậu bình dị, chân quê này luôn gợi nhớ về một thời sơ khai với những tình cảm êm đềm, mộc mạc nhưng thấm đượm chân tình của những năm tháng cũ thân thương.

Tam Nguyen
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-20-2019 , 03:02 AM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Trong thread Người Tự Trọng của bạn YeuAnhDaiKho, anh Thích Cãi Cọ đã viết cho Lan:

"Em tiếp tục trở lại làm thơ đi. Trong đây chỉ có thơ của Tình Ơi, Khúc Lung Linh, và em là anh thấy được thôi à."

Anh bạn Thích Cãi Cọ giỏi.

Tinhoi giỏi. Lan giỏi.
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-20-2019 , 03:16 AM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Giấc Xuân
tinhoi2


(Đời người thực ra chỉ như một giấc mơ Xuân thôi ... tinhoi2)

Nắng xuân lướt nhẹ qua thềm
Bước chân rón rén .... giọt mềm trên mi
Má thêm thắm ... mộng xuận thì
Hương xuân nhẹ phủ cánh mi ngọc ngà

Gió xuân quyện áo đôi tà
Mềm lòng thi sĩ ... lụa là ... gió bay
Đón anh vào mộng trăng đầy
Xua tan đêm tối tình ngây ngất tình

Trăng treo đầu núi lặng thinh
Xuyên qua cửa mộng dệt thành giấc mơ
Mi cong e ấp đợi chờ
Giấc xuân như khói sương mờ chóng tan

Tỉnh rồi một giấc mơ xuân ....


Tinhoi vừa viết xong bài thơ này đó hả? Giỏi quá giỏi.

LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-22-2019 , 02:48 AM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Thu Ca
Phạm Mạnh Cương


https://hopamchuan.com/song/2770/thu-ca/

Capo 4
Lạnh lùng sương rơi heo [Am]may
Buồn ngơ ngác bóng chim [F]bay
Mây tím giăng sầu đó [C]đây
Ngày đi chiều mang sầu [Am]tới
Làn sương chiều thu lả [B7]lơi
Tiếng mưa rơi đều trên [E7]lối
Chiều về gieo thương với [Am]nhớ
Lòng người lữ thứ bơ [F]vơ
Nghe á hoa rụng xác [C]xơ
Chiều thu về đây lạnh [Am]lẽo
Mà sương chiều rơi hắt [E7]hiu
Gió xa đưa nhẹ tiếng [Am]tiêu

Nhớ ai chiều [Am]thu nhìn bao lá úa rơi đầy [E7]lối
Nhẹ rung tà [F]áo [A]làn môi cười thắm như cánh hoa [Dm]đào
Cách xa vì [E7]đâu dù bao lần lá hoa phai [Am]màu
Rung chi cành hoa [E7]lá khi tà dương đã khuất non [Am]xa

Mầu chiều thu reo lá [Am]úa
Buồn se sắt nhớ thu [F]xưa
Tôi biết em chiều gió [C]mưa
Người đi về đâu ngàn [Am]lối
Màu hoa chiều thu úa [B7]phai
Xót xa cho lòng tê [E7]tái
Ngập ngừng sương rơi non [Am]xa
Chiều thu giăng lối cô [F]đơn
Nghe tiếng mưa sầu chứa [C]chan
Mà bóng chiều phai vàng [Am]úa
Mưa xoá tình quen biết [E7]nhau
Trách chi cho lòng đớn [Am]đau


thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-25-2019 , 05:06 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Bài thơ Mùa Thu Paris – Cung Trầm Tưởng

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù

Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu...



Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát Mùa Thu Paris:

Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề

Mùa Thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công viên lá đổ
Công viên lá đổ
Chờ mong em gắng khổ từng giờ

Mùa Thu âm thầm
Bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá
Ngồi quen ghế đá
Không em ôi buốt giá từ tâm

Mùa Thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu

Mùa Thu Paris
Tràn lấp đôi mi
Người em gác trọ
Người em gác trọ
Phòng anh đôi gót nhỏ thầm thì

Mùa Thu im hơi
Son nhạt đôi môi
Ngày em trở lại
Ngày em trở lại
Hờn quên em hối cải cuộc đời

Mùa Thu ơi Thu
Trời mây âm u
Yêu người độ lượng
Yêu người độ lượng
Và trong em tâm tưởng giam tù

Mùa Thu Paris
Mùa Thu Paris
Với tình Thu…
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-25-2019 , 05:09 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế – Cung Trầm Tưởng:

Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly

Tiễn em về xứ mẹ
anh nói bằng tiếng hôn
không còn gì lâu hơn
một trăm ngày xa cách

Ga Lyon đèn vàng
tuyết rơi buồn mênh mang
cầm tay em muốn khóc
nói chi cũng muộn màng

Hôn nhau phút này rồi
chia tay nhau tức khắc
khóc đi em, khóc đi em

hỡi người yêu xóm học
để sương thấm bờ đêm
đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…

Ôi đêm nay
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly

Tàu em đi tuyết phủ
toa anh lạnh gió đầy
làm sao anh không rét
cho ấm mộng đêm nay
và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy!

Trời em mơ có sao
mình anh đêm ở lại
trời mùa đông Paris
không bao giờ có sao

trời mùa đông Paris
chưa bao giờ buồn thế!



Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát Tiễn Em

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Hôn nhau phút này
Chia tay tức thì
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em

Sao rơi rớt rụng
Vai em ướt mềm
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em.

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Hỡi em người xóm học
Sương thấm hè phố đêm
Trên con đường anh đi
Lệ em buồn vương vấn.

Tuyết rơi phủ con tầu
Trong toa em lạnh đầy
Làm sao em không rét
Cho ấm mộng đêm nay?

Nơi em có trăng soi
Anh một mình ở lại
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời thèm trăng soi

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3588
Old 06-28-2019 , 09:46 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Thơ của Đinh Hùng:
1- Tự Tình Dưới Hoa

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng.
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng.

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này ?
Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say.

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi - Em nói đi !

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao.
Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý ,
Còn lối bâng khuâng: Ngõ trúc đào .

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ.
Nắng trong hoa, với gió bên hồ,
Dành riêng em đấy. Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa.

Rồi buổi ưu sầu em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời.
Vai kề một mái thơ phong nguyệt,
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười.


2- Một Tiếng Em.

Từ giã hoàng hôn trong mắt em,
Tôi đi tìm những phố không đèn.
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút hương thầm khi mới quen.

Cùng bóng hàng cây gập giữa đường,
Ân cần tôi ngỏ tấm tình thương.
Bao nhiêu hoài bão, bao hy vọng,
Nói hết cho lòng nhẹ mối vương.

Rồi đây, trên những lối đi này,
Ta sẽ cùng ai, tay nắm tay ...
Nhịp bước năm cung đàn ảo tưởng
Buông chìm tâm sự nửa đêm nay.

Từng bước trôi cùng trăng viễn khơi,
Thâu đêm, chưa hiểu miệng ai cười.
Nụ cười gửi tự thiên thu lại
Tiền kiếp nào xưa, em hé môi?

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.

Kỷ niệm thơm từ năm ngón tay,
Trăng lên từng nét gợn đôi mày.
Bóng hoa huyền ảo nghiêng vầng trán,
Chưa ngát hương tình, hương đã bay.

Sông biển nào nghe thấu nỗi niềm?
Sóng đâu còn khoé mắt thâm nghiêm?
Lòng ơi! hoài vọng bao giờ nói
Thăm thẳm trùng dương một tiếng "em"?

Nhẹ bước chiêm bao tưởng lạc đường,
Rưng rưng mùi phấn, bỗng ngùi thương,
Sương đầm vạt áo mong manh lệ,
Sao rụng bay vào tóc dạ hương.

Tôi lánh trần ai đi rất xa,
Bâng khuâng sao lạnh ánh trăng tà,
Ngày mai hứa hẹn bừng hương cỏ,
Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa.


3- Nụ Cười Thương Nhớ

Thu về, em đã gặp thu chưa?
Giải nước trường giang lạnh mấy bờ?
Thoảng bóng hoa buồn in lối cũ,
Dặm đường mơ tưởng bước em xưa.

Tôi mải tìm thu mấy bữa nay,
Mới nên sầu mộng, nhớ nhung này.
Tưởng trong thao thức, lòng giăng gió
Đều nói cùng em: Yêu lắm thay!

Từ trái đồi xanh, xanh mãi đâu
Trở về đồng nội ngát ưu sầu,
Hương thơm ngây ngất, hồn hoa cỏ
Hằng viễn hoài em xa cách lâu.

Mảng nhớ mong em, rừng đã vàng,
Dáng chiều giục giã cửa đài trang.
Cảm thương nhan sắc, mờ thu thủy,
Phơ phất trùng dương khói ải quan.

Nước buồn cũng bởi mắt em xanh,
Hồ biển rưng rưng biếc mấy thành?
Em tự phương trời, thu gởi lại
Nụ cười thương nhớ, nét đan thanh.


4- Chớp Bể Mưa Nguồn

Có kẻ nghe mưa, trạnh mối sầu,
Vắt tay chờ mộng suốt đêm thâu.
Gió từ sông lại, mưa từ biển,
Không biết người yêu nay ở đâu?

Tôi ngủ bâng khuâng một gối buồn,
Giường lênh đênh nổi giữa băng sơn.
Xoay mình, giận mảnh chăn hờ hững,
Tuyết phủ, sương dâng một nửa hồn.

Người ta xa lánh cả tôi rồi!
Trở gối, nghe hồn động biển khơi,
Xa bạn, xa lòng, xa mắt đẹp,
Gió mưa dòng tóc đắng vành môi

Dĩ vãng dầm mưa lén bước về,
Áo trùng, mây tỏa, mặt sầu che
Run tay ấp nửa bàn chân lạnh,
Thương những con đường mưa cuốn đi

Gió táp ba canh mộng thở dài,
Lùa mây bên gối, suối bên vai
Cô đơn, tay níu trời khung cửa,
Đèn phố nhòa trong nước mắt ai ?

Lác đác trong mê rụng tiếng đàn,
Hồn ai khóc rợn bốn giây oan?
Gót chân thủa ấy vào mưa gió,
Còn thoảng hơi sương đậu cánh màn.

Có lẽ Tình đi lạc mất nhà,
Lặng nằm tưởng đến một tên hoa
Ngẩn ngơ thương mãi vầng trăng lặn,
Hoài vọng nghe rung một tiếng gà.

Ai đến đây buồn chơi với ta?
Ngọn đèn tâm sự thắp trong nhà.
Trời gần mái ngói hay xa nhỉ?
Truyện nở ân tình, đêm nở hoa
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-29-2019 , 12:09 AM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Chị Thanh Nhàn đăng thơ Đinh Hùng, khiến LTP nhớ đến bài thơ liêu trai "Kỳ Nữ" của thi nhân.

Kỳ Nữ
Tác giả: Đinh Hùng


Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em – ôi biển sắc, rừng hương!
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường

Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước
Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi
Cả chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ

Ta run sợ, cho yêu là mệnh số
Mặc tay em định hộ kiếp ngày sau
Vì người em có bao phép nhiệm mầu
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc
Ta đặt em lên ngai thờ Nữ Sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về, xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết
Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết
Gợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân
Ta gần em, mê từ ngón bàn chân
Mắt nhắm lại, để lòng nguôi gió bão
Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận
Em đài các, lòng cũng thoa son phấn
Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ
Ôi vô lương! Trong một phút không ngờ
Ta đã muốn trở nên người vô đạo
Tất cả em đều bắt ta khổ não
Và oán hờn căm giận tới đau thương
Và yêu say, mê mệt tới hung cuồng
Và khát vọng đến vô tình, vô giác
Hỡi Kỳ Nữ! Em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma!
Lúc cuồng si, nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết!
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

Ta hái trong em lấy đoá hoa hồn


Nguồn: Đinh Hùng, Mê hồn ca, Văn Uyển ấn hành, 1968


LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-29-2019 , 09:17 AM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90inh_H%C3%B9ng

Wikipedia viết về Đinh Hùng.
LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-29-2019 , 04:28 PM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
Tập thơ Mê Hồn Ca của thi sĩ Đinh Hùng:

https://www.thivien.net/%C4%90inh-H%...S_XiL6yCU5tejQ

==================

Thi sĩ Đinh Hùng - người làm thơ tình kiệt xuất
Tác giả: Huyền Viêm


https://www.thivien.net/%C4%90inh-H%...S_XiL6yCU5tejQ

Như đáp lại lòng mong mỏi của khách yêu thơ, trong quý II năm 1995, Nhà xuất bản Hội nhà văn đã cho tái bản tập thơ Mê hồn ca của thi sĩ Đinh Hùng. Việc làm ấy, lại một lần nữa, xác nhận thi tài của nhà thơ này. Thi phẩm Mê hồn ca được Nhà xuất bản Tiếng Phương Đông - Hà Nội in lần đầu năm 1954, nhà sách Khai Trí - Sài Gòn tái bản năm 1970 và lần này là lần in thứ ba. Tập thơ đầu tay này của Đinh Hùng đă từng gây xôn xao một thời trong thi giới không chỉ vì tài hoa của tác giả mà còn vì những nét lạ lùng kỳ bí trong thơ.

Tháng 7 năm 1995, Nhà xuất bản Văn học lại cho tái bản tập thơ Đường vào tình sử của Đinh Hùng. Hai nhà xuất bản vào loại lớn nhất nước đã tái bản thơ Đinh Hùng cho thấy thơ anh giá trị nhường nào.

Ngát một vườn thơm nhạc cảm hoài
Lâng lâng hồn tưởng thoát trần ai
Chia đôi thân xác tiên liền tục
Nghe lắng tiền thân trở gót hài

Trên đây là bốn câu thơ tuyệt mệnh mà Đinh Hùng đă viết tại Trà hoa trang Gia Định cuối mùa hạ năm 1967, không lâu trước ngày anh đi vào cõi vĩnh hằng.

Đinh Hùng là con trai của cụ Hàn Phụng, một gia đình trung lưu ở làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), nhưng từ lâu đã ra lập nghiệp tại Hà Nội. Đinh Hùng được hoài thai năm 1919 tại Philippines nhưng lại ra đời ở Việt Nam ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại trại Trung Phụng gần toà Khâm Thiên Giám cũ ở Hà Nội. Đinh Hùng là con út của một gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh chỉ lớn hơn Đinh Hùng một tuổi, kết duyên cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Mới hơn mười tuổi, Đinh Hùng phải chịu liên tiếp ba cái tang: năm 1931 người chị thứ ba là Tuyết Hồng, một nữ lưu tân tiến, hoa khôi của Hà Nội, mới mười tám tuổi xuân đă tự vẫn tại hồ Trúc Bạch vì hờn giận tình duyên. Mấy tháng sau, thân phụ anh đau nặng rồi thất lộc, tuổi chưa đến 50. Ba năm sau nữa đến lượt người chị lớn nhất, tên Loan, cũng qua đời, tuy đă lập gia đình nhưng hãy còn trẻ lắm. Những cái tang buổi thiếu thời ấy đã ảnh hưởng rất nhiều đến tâm tính của Đinh Hùng nên thơ anh thường đượm vẻ ảm đạm bi thương đến tê tái cả tâm hồn.

Thuở bé Đinh Hùng học trường Tiểu học Sinh Từ, rồi trường Trung học Bảo hộ tức trường Bưởi, đậu bằng Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ nên được cấp học bổng để theo học ban chuyên khoa. Nhưng một ngày đẹp trời kia ái tình bỗng nhiên chợt đến:

Có chàng mang lòng thương
Đi dạo muôn con đường
Một hôm dừng trước mộng
Yêu nàng tên Tần Hương
("Tần Hương" - Đường vào tình sử)

Người đẹp ấy tên là Kiều Hương, nhưng Đinh Hùng sợ gây rắc rối cho nàng khi đi lấy chồng nên sửa lại là Tần Hương. Mối tình ấy của Đinh Hùng tuy là mối tình đầu nhưng không sâu sắc lắm và chỉ là tình đơn phương nên khi nàng đi lấy chồng, Đinh Hùng cũng không buồn lắm:

Ngày em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu
("Bài hát mùa thu" - ĐVTS)

Nhưng dù sao thì đó cũng là kỷ niệm buổi đầu đời nên không dễ gì dứt được mối tơ vương:

Tần Hương ôi Tần Hương
Tên nàng như hoa đẹp
Chàng là bướm tơ vương
Nên chàng là Hoài Điệp
("Tần Hương" - ĐVTS)

Do đó về sau, khi viết tiểu thuyết, Đinh Hùng ký bút hiệu Hoài Điệp, Thứ Lang.

Mối tình thứ hai mới thực sự mãnh liệt và ghi dấu ấn suốt đời trong tâm khảm nhà thơ. Nàng là một cô bé họ xa, tên Bích Liên, thỉnh thoảng đến chơi trại Trung Phụng của ông bà Hàn nên Đinh Hùng có dịp quen thân. Thuở ấy nàng còn bé nhưng xinh đẹp tuyệt vời:

Độ em còn trèo cây khế
Vin hái quả xanh bên tường
Có phải chúng mình còn bé
Cho nên đời rất thơm hương?
("Tiếc bướm" hay "Linh hồn Hoài Điệp" - ĐVTS)

Vì tên nàng là Liên nên Đinh Hùng viết:

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ
Lén bước trang đài tới gặp ta
("Liên tưởng" - ĐVTS)

Hai người mỗi ngày một lớn, tình yêu cũng cùng với tháng năm mà lớn dần theo, cô bé càng ngày càng đẹp, trên môi luôn nở đóa hồng và cả một trời thu hiện lên trong mắt:

Nắng vàng năm xưa đã tắt
Cô bé ngày xưa lớn rồi
Hoa hồng vừa nở trên môi
Và một trời thu trong mắt
("Tiếc bướm" - ĐVTS)

Hai người yêu nhau tha thiết nhưng mối tình hoàn toàn trong trắng. Không may nàng Liên bị bệnh phổi nặng, sắc đẹp ngày càng kỳ ảo và huyền hoặc khiến Đinh Hùng say sưa ngây ngất, trong khi đó thì sức khỏe của nàng hao mòn nhanh chóng rồi từ trần khoảng năm 1940. Đó là cái chết thứ tư của người thân yêu mà Đinh Hùng chứng kiến trong khoảng thời gian chưa tới mười năm. Mất Liên, Đinh Hùng đau đớn như điên như dại:

Qua xứ ma sầu, ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! trời ơi! làn tử khí
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên
("Cầu hồn" - Mê hồn ca)

Từ đó Đinh Hùng viết những bài thơ "Chiêu niệm", tên Liên được thay thế bằng những tên khác, nào Diệu Hương, Diệu Thư, nào Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Liên, nào Em Buồn, Em Đau Thương, Sầu Hoài Thương Nữ, nào Thần Nữ, Kỳ Nữ v.v... nhưng thực ra cũng chỉ có một nàng Bích Liên mà thôi. Trong bài thơ "Kỳ nữ" có những câu tuyệt hay:

Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi
Cả chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ
("Kỳ nữ" - MHC)

Nàng Liên chết, Đinh Hùng bỏ trường mà đi, sống lang bạt kỳ hồ, khi thì dạy học ở Hà Đông, lúc thì gia nhập một ban nhạc tài tử của sinh viên lên trình diễn tại hồ Ba Bể miền Bắc Cạn. Đi đâu Hùng cũng mang theo tấm ảnh của nàng Liên. Trong một lá thư gửi Huyền Kiêu, Đinh Hùng viết: "Đó là di vật cuối cùng của Liên, sự được nhìn thấy duy nhất còn lại của người nằm dưới mộ. Liên mất rồi nhưng tôi không chịu tin như vậy. Không. Nghìn lần không. Cái chết của hoa và ánh sáng, ngày và mặt trời, nơi tôi là vĩnh viễn hoài nghi và phủ nhận. Bởi tôi vẫn ghen tuông ghê gớm như khi nàng còn sống. Tấm hình đặt trên mặt bàn dạy học, tôi úp sấp tấm hình xuống cho ngoài tôi, không một kẻ thứ hai nào được nhìn thấy mặt trời..."

Bích Liên mất, nhưng hình ảnh của Liên, giọng nói của Liên mãi mãi còn âm vang trong tâm hồn nhà thơ, không phút giây nào quên lãng:

Chao ôi! mỗi cánh sương run rẩy
Nghe cũng âm vang giọng nói người

Và xác thân anh tuy còn đó nhưng kể như đă chết rồi:

Và xác thân anh giữa cuộc đời
Tiêu ma vào thạch động làn môi
Vì trong cấm địa hàm răng ấy
Huyệt lạnh kề bên mỗi nụ cười
("Trái tim hồng ngọc" - Nguyệt san Vạn Hạnh số 13 năm 1966)

Cũng như các bạn trẻ khác, Đinh Hùng đă có một thời niên thiếu thật đẹp "làm học trò mắt sáng với môi tươi", nhưng cậu học trò họ Đinh ấy đi học mà "hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lớp", rồi cũng "đã từng phen trèo cổng bỏ trường về" để đi đến những nơi chốn đầy kỷ niệm mà sau này khó lòng quên được:

Riêng ta nhớ những trưa hè sắc đỏ
Đường hoàng lan nắng động: lối đi quen
Nghìn bóng cây chen bóng mộng hư huyền
Ta đến đó lần đầu nghe rạo rực
("Khi mới nhớn" - ĐVTS)

Rồi chiến cuộc xảy ra, mọi người bị cuốn hút vào đó, cả nhà thơ họ Đinh cũng vậy. Cuối năm 1946, Đinh Hùng lại rời Hà Nội, rồi khi Cống Thần, khi Chợ Đại, Hà Nam, lúc viết cho tờ báo này, lúc vẽ cho tờ báo khác. Trong thời gian này, Đinh Hùng làm bài thơ "Người nữ du kích Hải Kiến" trong đó có mấy câu khá hay:

Lòng gái rung theo bước lữ đoàn
Lâu rồi chinh chiến lạnh dung nhan
Chiêu dương bừng lửa trên g̣ò má
Gợn sắc hồng pha mây hợp tan

Ai đã gặp Đinh Hùng một lần thì khó lòng quên được. Thân hình mảnh mai, nước da xanh như tàu lá, đôi chân ngắn, bàn tay đẹp như bàn tay con gái với những đường gân như suốt đời mệt mỏi. Ngón tay dài, mềm mại và thon thon, rất đẹp khi "vân vê" điếu thuốc lào hay khi lướt nhẹ trên chiếc vĩ cầm. Đôi mắt mơ hồ và huyền hoặc dường như luôn luôn in bóng một trời thơ diệu kỳ và mộng ảo. Giọng nói Đinh Hùng rất đặc biệt, nó "vang vang mà nhừa nhựa, nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói" (Hoàng Hương Trang). Ngay lúc nằm trên giường bệnh, giọng nói ấy cũng vẫn còn nồng nàn nỗi yêu đời và niềm lưu luyến tình người.

Bên ngoài, Đinh Hùng bao giờ cũng chải chuốt và trang trọng: tứ thời bát tiết lúc nào cũng complet - cravate cho dù nóng chảy mỡ, đầu chải láng, miệng ngậm pipe, đôi vai nghiêng bởi chiếc cặp dày và nặng trĩu. Gặp bạn thơ thì mừng rỡ, chèo kéo bắt uống cho bằng được một vài ly để rồi say sưa nói về Aragon, Eluard, Baudelaire, Rimbaud, Edgar Poe hoặc về chuyện văn thơ không dứt.

Mặc Đỗ cho rằng "Đinh Hùng là con người tài hoa. Từ vóc dáng, nét bút tới giọng nói, từ tuổi nhỏ cho đến ngày lìa đời, Đinh Hùng không ngớt biểu lộ tư chất tài hoa". Thật vậy, Đinh Hùng không chỉ làm thơ, viết tiểu thuyết, viết kịch, làm báo mà còn soạn nhạc, chơi đàn và vẽ nữa. Anh chơi đàn mandoline và kéo violon rất điệu nghệ, đã từng tham gia trong các ban nhạc và đàn cho các phòng trà. Về họa, anh đã tự tay vẽ tranh bìa cho hai tập thơ của mình (Mê hồn ca, Đường vào tình sử) và vẽ tranh làm nền cho các trang thơ Mê hồn ca.

Tạ Tỵ gợi lại một vài kỷ niệm: "Có những đêm đông Hà Nội tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm, vì thế Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời". Và cũng vì thế mà bạn bè không ai cảm thấy bất ngờ khi hay tin Hùng bị ung thư gan ở tuổi 48.

Đinh Hùng làm thơ rất sớm, từ ngày còn đi học và có một hồn thơ kỳ ảo. Năm 34 tuổi đã in Mê hồn ca (Nxb Tiếng Phương Đông - Hà Nội 1954) và bảy năm sau đó (1961) in Đường vào tình sử (Nam Chi Tùng Thư - Sài Gòn xuất bản).

Thi phẩm Mê hồn ca gồm bốn phần, không kể phần Ngoại tập và một bài tựa của nhà xuất bản, nhưng sau này Đinh Hùng chua thêm: Hồ Dzếnh. Thì ra chính Hồ Dzếnh viết bài tựa này. Bốn phần ấy là: Nguyên Thủy, Thần Tượng, Chiêu Niệm và Mê Hồn. Phần Ngoại tập gồm bài thơ trường thiên "Thần tụng" và hai bài khác: "Truyện lòng" và "Bài hát mùa thu", ghi là trong tập thơ "Tuổi mộng". Hai bài này về sau in lại trong tập Đường vào tình sử.

Đường vào tình sử hoàn toàn là một tập thơ tình gồm 60 bài và lá thư văn nghệ của Đoàn Thêm thay cho lời đề từ. Đây là tập thơ tình tuyệt hay mà lời lời ý ý là những hàng châu ngọc:

Ôi cặp mắt sáng trăng xưa hò hẹn
Có nghìn năm quá khứ tiễn nhau đi
("Đường vào tình sử")

Ở vùng đồng chiêm ngoài Bắc, vào mùa nước lớn ngập cả cánh đồng, mọi người phải đi lại bằng thuyền, ban đêm đèn trên thuyền bập bềnh trôi trên sóng nước khiến Đinh Hùng nhớ đến đôi mắt người yêu. Tưởng tượng thật phong phú và ý thơ bay bướm vô cùng:

Giấc mộng đêm nào cũng gió mưa
Gối chăn như hải đảo vô bờ
Sóng dâng bốn vách sầu nghiêng bóng
Thoáng ngọn đèn trôi ánh mắt xưa
("Sóng nước đồng chiêm" - ĐVTS)

Nghĩ đến một ngày kia người yêu sẽ đi lấy chồng, Đinh Hùng viết:

Nghe động bàn chân nắng tỏa hương
Mong manh từng gợn phấn còn vương
Em đi, nửa gối hoa tàn mộng
Thương nhớ bay cùng mây viễn phương
("Bao giờ em lấy chồng?" - ĐVTS)

Các bạn thơ đã từng tranh cãi về giá trị của hai tập thơ này. Trong khi Trần Tuấn Kiệt chọn Đường vào tình sử thì Trần Phong Giao lại chọn Mê hồn ca. Trần Tuấn Kiệt nói: "Mê hồn ca tuy đặc biệt nhưng thua xa tiếng thơ của tập Đường vào tình sử". Còn Trần Phong Giao thì nói: "Ai cũng bảo Mê hồn ca là tuyệt tác, chỉ có mình cậu là khác". Rồi Trần Phong Giao khẳng định: "Trong tất cả những tác phẩm đã và sẽ in của Đinh Hùng, gặp trường hợp chỉ được quyền cất giữ một cuốn thì tôi sẽ không ngần ngại gì trong việc chọn lựa Mê hồn ca. Vì đó là tất cả vũ trụ thơ anh. Vì đó là tất cả anh".

Nhận định về thi phẩm Mê hồn ca, nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền cho rằng "thi phẩm này thuộc loại thơ nói ít hiểu nhiều, cái hay cốt ở chỗ sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mác, điều mà Đinh Hùng chắc đã chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng Pháp: Baudelaire, Rimbaud. Thế giới Mê hồn ca là thế giới của đắm đuối say mê, của hoang sơ man dại, của chết chóc lạnh lùng, của nhiệm mầu huyền bí. Tình yêu trong Mê hồn ca thiết tha, mănh liệt và kinh khủng. Có nhà thơ nào đã xây dựng được cả một khu nghĩa trang huyền ảo như những bài: Tìm bóng tử thần, Màu sương linh giác, Cầu hồn, Thoát duyên trần cấu, Gửi người dưới mộ... như Đinh Hùng?" (Tôi đọc thơ).

Còn Cao Thế Dung thì "giá trị lớn của thơ Đinh Hùng trước sau vẫn một Mê hồn ca. Thi phẩm ấy vốn như loài dị thảo và như mười ngón tay của một nhan sắc từ dưới vực sâu chơi vơi giơ lên cao mà với tìm cái tuyệt vời của tình ái. Mê hồn ca còn tiêu biểu cho một thứ mỹ cảm bén nhạy và bềnh bồng giữa những yêu ma và huyền hoặc". (Văn học hiện đại)

Bàng Bá Lân cũng thích Mê hồn ca hơn Đường vào tình sử và trong Mê hồn ca anh thích nhất "Bài ca man rợ" vì bài thơ này rất giàu vần điệu, chữ dùng táo bạo và gợi hình, nhạc thơ toàn bài hùng mạnh một cách man rợ hợp với nhan đề bài thơ. Chữ dùng táo bạo và gợi hình thì:

Và ta thấy hiện nguyên lòng sơn dã
Cảnh sắc này bỗng nhuộm máu tà dương
Ta xót thương, ta căm giận, hung cuồng
Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự

Và lời thơ hùng mạnh:

Rồi dày xéo lên sông núi đô kỳ
Bên thành quách ta ra tay tàn phá
Giữa hoang loạn của lâu đài, đình tạ
Ta thản nhiên, đi trở lại núi rừng
Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng

Còn các bạn khác của Đinh Hùng thì sao? Trưa ngày 23/8/1967 - một hôm trước ngày Đinh Hùng mất - các bạn thơ họp mặt trong một quán nhỏ, Thanh Nam đọc bốn câu thơ mà anh rất thích:

Khi tôi ngồi xuống ở bên em
Giở tập thư xưa đọc trước đèn
Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh
Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm

Nhà thơ Kiên Giang khen thơ đẹp và hay quá, nhưng khi hỏi xuất xứ thì Thanh Nam không nhớ rõ, chỉ biết đó là thơ Đinh Hùng trong cuốn Đường vào tình sử. Về đến nhà đã hơn hai giờ chiều mà Kiên Giang chưa vội ăn cơm, tìm cuốn Đường vào tình sử để đọc bài thơ có bốn câu ấy. Đó là bài "Gặp nhau lần cuối" và Kiên Giang rất thích 8 câu này ở khổ 5-6 của bài thơ:

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng
Chợt xanh màu áo nhớ thương xưa
Bóng em, khoảnh khắc thành hư ảo
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa
Từng nhớ, từng thương, từng chụm đầu
Từng chung dòng lệ thấm vai nhau
Mà trong mắt liếc ngờ non ải
Nhịp thở ân tình cũng biển dâu

Còn Trần Tuấn Kiệt thì nhắc lại: "Đối với tôi, tập Đường vào tình sử vẫn là tập thơ cao viễn hơn tập Mê hồn ca nhiều... nhiều lắm vậy!".

Vậy đó, khó mà nói được rằng Mê hồn ca hay Đường vào tình sử, tập thơ nào hay hơn mà chỉ có thể nói thích tập nào hơn tùy theo sự cảm thụ nghệ thuật của mỗi người.

Ngày 24/8/1967 tức 19 tháng 7 năm Đinh Mùi, lúc 5 giờ sáng, Đinh Hùng đă rời bỏ bạn bè và người thân để đi vào cơn trường mộng lúc mới 48 tuổi. Dường như anh linh cảm mình không thọ nên lúc còn trẻ đã tưởng tượng một ngày kia, khi mình nhắm mắt xuôi tay, các em sẽ về bên mộ mà tiếc thương khóc lóc:

Khi anh chết, các em về đây nhé!
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ
Tay cầm hoa, xõa tóc đứng bên mồ
... Anh tưởng niệm các em về một buổi
Ở bên mồ, cỏ úa sắc chiều rơi
Ngược sông Mê, bàng bạc nẻo luân hồi
Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt
("Cung đàn tưởng niệm" - ĐVTS)

Tháng 7 năm 1967 bệnh tình của Đinh Hùng trở nặng, trên nét mặt của người thơ đã phảng phất bóng dáng của tử thần. Bác sĩ Phạm Biểu Tâm, vì lòng liên tài, đã đánh xe đến tận nhà Đinh Hùng, tình nguyện đưa anh vào bệnh viện Bình Dân để tự tay cứu chữa, nhưng bệnh ung thư thì có thầy tiên thuốc thánh nào cứu nổi. Khi nhà thơ Tô Kiều Ngân vào thăm thì "trước mắt tôi không phải là chàng thơ phong vận từng bơi qua Hồ Tây, từng đánh đàn mandoline trong các phòng trà, nói chuyện có duyên, làm thơ tình ái rất hay. Người nằm đó chỉ là một bệnh nhân, mắt rất buồn, hơi thở mệt nhọc, đang chờ mổ mà tin tưởng thì rất mong manh... Người thơ của chúng ta trầm mình trong nỗi cô đơn giữa bốn bức tường bệnh viện lạnh lùng, đôi vai gầy, gầy thêm, khuôn mặt nhỏ, nhỏ thêm. Cuộc sống ở đây hoàn toàn bị lùi xa, bị tách rời". Có những người "vô danh" tình nguyện cho anh máu để đủ sức chịu đựng giải phẫu, nhưng đến nơi thì anh đã đuối quá mà đi rồi.

"Trước giờ liệm Hùng, tôi giở tấm vải trắng nhìn anh lần chót. Mớ tóc xõa ra, đôi mắt nhắm nghiền, da mặt trắng xanh. Buồn quá, không ngờ Hùng chết nhanh như vậy. 48 năm, thôi thế cũng được, 48 năm miệt mài với thơ, với nhạc, với Bộ lạc, Hải tần, Kỳ nữ, với "mây trắng bay đầy gối", với "hiu hắt tiếng dương cầm", đời anh toàn gắn liền với thơ, với rượu, kể ra đã thừa chất đẹp" (Tô Kiều Ngân).

Hôm đưa tang Đinh Hùng - chủ nhật 27/8/1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi - là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm. Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh. Bên chiếc huyệt đào sẵn, Vũ Hoàng Chương gọi lớn "Đinh Hùng! Đinh Hùng!" nhưng người thơ phong vận không bao giờ lên tiếng nữa. Bậc đàn anh Vi Huyền Đắc ngậm ngùi bên bờ huyệt, Vũ Khắc Khoan lặng lẽ ném một hòn đất xuống quan tài. Thanh Nam bỏ ra ngoài lặng lẽ đưa khăn lau mắt, Hoàng Anh Tuấn khóc lăn bên nấm mộ... Khi ra về, đi bên cạnh Tuấn, tôi mới hỏi "Toa hôm nay xúc động quá nhỉ!" Tuấn nói "Đâu mình có khóc Đinh Hùng, khóc cho mình đấy chứ!" (Ký giả Lô-Răng).

Đinh Hùng mất, một ngôi sao sáng của thi đàn đã tắt, một thiên tài đã vĩnh viễn ra đi, nhưng hồn thơ kỳ ảo của anh vẫn long lanh trong hai viên ngọc Mê hồn ca và Đường vào tình sử. Đinh Hùng mất là một sự thiệt thòi lớn cho thơ, không gì bù đắp được, biết tìm đâu một khuôn mặt thơ như của Đinh Hùng, "một hồn thơ đã lấy tình yêu làm động lực, đă mượn sự chết làm đòn bẩy để vượt lên tuyệt đối, vươn tới vô cùng". Người yêu thơ luôn nghĩ rằng trong tuyển tập thi ca nổi tiếng là cuốn "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân mà không có tên Đinh Hùng là một thiếu sót lớn, thật đáng tiếc vô cùng. Thời gian gần đây thơ Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương đă lần lượt được tái bản, rồi cuối cùng cũng đến lượt Đinh Hùng. Vậy đó, những người yêu thơ cũng như những nhà xuất bản nặng lòng với sự nghiệp văn chương có thể nào bỏ qua những tập thơ như Mê hồn ca và Đường vào tình sử. Gần đây nhất, bài thơ "Đường khuya trở bước" của Đinh Hùng được chọn in vào cuốn "100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ 20".

Xin mượn lời Cao Thế Dung để kết thúc bài này:
"Ai cũng phải công nhận rằng Đinh Hùng là một thi nhân độc đáo. Không một nhà thơ nào có giọng Liêu Trai như ông, không một nhà thơ nào có cái giọng phong tỏa lên hồn thơ mình những khói hương nghi ngút như ông. Thơ Đinh Hùng như thể một hoang đường và ảo mộng. Thơ Đinh Hùng còn là bản trường ca tình ái. Thơ Đinh Hùng quả là những ngôn ngữ nhiệm mầu của tình yêu.
Thơ Đinh Hùng chất chứa một bản sắc thơ rất bén nhạy (Kỳ nữ) và kết đọng cả ba yếu tố: Ái tình, Thiên nhiên và Mộng ảo. Ba yếu tố ấy sinh thành trong cái không khí hồ ly và nỗi chết không rời.
Đinh Hùng như một bông hoa kỳ lạ, một thứ kim cương kết tụ từ huyệt sâu, từ non bồng của mộng ảo. Đinh Hùng là một thiên tài, Mê hồn ca đã thể nhận điều đó. Đinh Hùng với Mê hồn ca như bức họa có màu sắc âm ty và Liêu Trai, lại vừa như cung đàn bạc mệnh chứa thứ âm thanh mê dại và kỳ ảo.
Đinh Hùng chết để sự nghiệp thơ ông trở thành bất tử".
(Văn học hiện đại).

Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ rặt mầu nhà quê
☆☆☆☆☆ Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện
Đinh Hùng với cơn mê trường dạ
Đăng bởi karizebato vào 19/12/2009 23:22

Tác giả: Tạ Tỵ


Ta suốt đời ngư phủ
Thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh
(Đinh Hùng)

Đinh Hùng, con người có may mắn được mọi người biết đến từ khi tác phẩm hãy còn là bản thảo. Đinh Hùng, con người kỳ lạ xuất hiện trên thi đàn Việt Nam với vóc dáng quái dị của ngôn ngữ làm mê hoặc người yêu thơ. Đinh Hùng, tượng hình cô độc trên vòm trời thi ca Việt Nam vào năm 1940 đến 1945. Rồi từ đây, Đinh Hùng mới tìm thấy bạn đường như Trần Dần, Phùng Quán v.v... Chất thơ của Đinh Hùng không giống và không mang một ý nghĩa thông thường của thi ca với những hình ảnh quen thuộc của thi nhân đang nổi tiếng hồi đó như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính v.v...

Đinh Hùng đi vào thi ca với những ước mơ kỳ lạ và suy nghĩ về cõi vô thức giữa một thời đại lười suy nghĩ nhất. Tiếng thơ của Đinh Hùng không thuộc về thứ tình cảm chung chung, mà toát ra tự ngôn ngữ làn ánh sáng diễm ảo, ở trong đó, từng nỗi băn khoăn, từng niềm ước vọng chạy xôn xao như tiếng thời gian đuổi nhau trên rừng cây trút lá. Đinh Hùng tự mình tạo nên sắc thái đặc biệt, rất đặc biệt, để ngụp lặn trong dòng mê cảm đó với khổ đau cũng như kiêu hãnh. Từng hình ảnh mông lung, từng nỗi buồn vò xé, từng uất hận nghẹn ngào, tất cả, biến Đinh Hùng thành một nạn nhân, nạn nhân của mặc cảm. Đinh Hùng đã bị mặc cảm giày vò tái tê từ thể xác tới linh hồn. Mặc cảm đó là nỗi bơ vơ lạc loài của kiếp người trói buộc vào áo cơm trách nhiệm với ngần ấy vốn liếng riêng tư giữa cuộc sống xô bồ giả tạo. Đinh Hùng làm thơ chẳng phải để tỏ bày tâm sự mà để xác định thái độ, một thái độ bi phẫn khi nhận thấy kích thước trần gian không phải nơi mình mơ ước.

Cõi nhân gian mà Đinh Hùng vọng tưởng đã khuất lìa. Nó là tiếng nói hoang sơ của thời tiền sử. Nó là thiêng liêng cao cả của một khung trời nguyên thuỷ. Nó rộng rinh và chói lói hào quang ân sủng của thi nhân đóng vai Thượng Đế. Nó là cái nước Vô Danh với sự hiện diện của con người Mộng Ảo đi suốt một hành lang cô liêu muôn đời không gặp thực tại.

Dòng thơ của Đinh Hùng đi từ sự mê hoặc của tâm linh vượt đến cõi ý thức của thân phận qua thi phẩm Mê hồn ca rồi ném mình theo Đường vào tình sử. Khúc hát nào lênh đênh trôi nổi trên đầu non, và tâm hồn nào còn giữ nguyên màu trinh tuyết trong xác thịt chứa đầy tội lỗi bi thương? Trong cái bóng tối mênh mông dày đặc của tương lai, trong nỗi khao khát hung cuồng đắm đuối cắn chặt ở môi ngậm cứng trái sầu đau, Đinh Hùng nhắm mắt lại, mở hồn thoát du vào ảo giác.

Đinh Hùng vào đời như đi trong ác mộng. Những hình dáng con người di động giữa kích thước thành phố đã làm người thơ phẫn nộ:

Miệng quát hỏi: có phải ngươi là bạn?
Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản
Mất tinh thần từ những thuở xa xôi
Ta về đây lạ hết các ngươi rồi
Lạ tình cảm, lạ đời chung cách sống
("Bài ca man rợ" - Mê hồn ca)

Đi từ cõi huyền ảo của tiềm thức, Đinh Hùng dùng tâm tư mong biến cuộc đời thành trường mộng. Hình ảnh một sinh vật đơn côi trong một thiên nhiên mới hình thành, tia sáng thứ nhất của tâm linh chiếu rọi vào sự vật như một chứng tích ghi nhận có đời sống trần gian với những huyền bí còn nguyên màu huyễn hoặc. Cái Thiên Nhiên mà người thơ vùng vẫy thả bỏ mọi níu kéo làm Đinh Hùng mơ ước trở về, sự trở về trong những lối hoang sơ - ở đấy - bước chân đi làm rung chuyển núi rừng, đồi suối. Đau đớn thay, sự hiện diện này làm kinh ngạc cả nhan sắc, làm cho tình thương cũng mất chìm trong cô độc.

Từ cái nhìn cô độc, Đinh Hùng không tin cõi đời hiện hữu là có thực và người con gái bằng xương bằng thịt kia với những mùi hương quyến rũ, vụt chốc trở thành xa lạ đến nghi hoặc khởi đi từ tri giác:

Ôm nhan sắc với hai bàn tay sắt
Ta nhìn ai, ôi khóe mắt ta nhìn
Em có là ma, là quỷ, là tiên?
Em có mấy linh hồn bao nhiêu mộng?
Em còn trái tim nào đang xúc động?
Em có gì trong xác thịt như hoa?
Lạc thiên nhiên đến cả bọn đàn bà
Với những vẻ dung nhan kiều diễm nhất
("Bài ca man rợ" - MHC)

Cái vũ trụ mà Đinh Hùng vọng tưởng đó đã mất. Trong bóng tối mênh mông dày đặc của hiện tại, người thơ không trông mong tìm thấy những gì mình chờ đợi. Đinh Hùng nhắm mắt lại để du hồn vào quá khứ, đi về những hướng sao rơi và theo lối chân cầm thú. Trong trời thơ Nguyên Thuỷ, Đinh Hùng bơ vơ, lạc loài giữa thế giới tâm linh, với tất cả tiếc thương, hờn giận. Đinh Hùng ẩn hồn trong toà lâu đài kiến tạo bằng vân thạch, gọi hồn cổ sơ về ngồi chung tâm sự. Người thơ muốn được "ăn hoa man dại" rồi "ngủ như muông thú". Nhưng cái sống của "Gái-muôn-đời" có "bộ ngực tròn nuôi cuộc sống đương xuân" không còn nữa. Nó đã chết theo tiếng cười man rợ và mối "Tình-thái-cổ" đã "thơ thẩn với trăng suông" tự ngày trái đất có con hươu vàng diệp, cất cao đầu nhìn hoàng hôn chìm vào đêm Thơ hiền hậu.

Do đấy, cái khung trời mà Đinh Hùng dùng để viết thơ của mình lên, là một khung trời chứa chấp toàn huyền ảo giữa người và sự vật, giữa suy tưởng và thiên nhiên, giữa mơ mộng và thực tế. Vì nhìn rõ vị trí của mình trong cuộc sống có đấy, Đinh Hùng chẳng cần tra vấn hiện tại, phó mặc thời gian vận chuyển, hằng đêm, bên ánh toạ đăng, lắng nghe tiếng thơ nức nở âm vang theo từng sợi khói mong manh:

Đi vào mộng những Sơn Thần yên ngủ
Đôi hồn người tưởng gặp bóng cô đơn
Rượu Trường Sinh: ta uống mắt em buồn
Sầu mấy kiếp, giấc ngủ say bừng đỏ?
Quên đi em, hãy sống đời cây cỏ
Từng linh hồn dan díu với hương hoa
Ta nhớ xưa: đêm thu rụng tiếng gà
Trăng vĩnh viễn khóc thời gian tình tự...
("Trời ảo diệu" - MHC)

Cái thời gian tình tự đó, có lẽ, chỉ hiện diện trong cơn say men khói vì "bầy xứ tình" đã khuất chìm theo lối mộng mà người thơ đã từng đi về "ân ái cũ”". Từng nhịp thở của đôi hồn người cô đơn cứ khắc khoải, chập chờn trong trí não Đinh Hùng làm cho chết ngợp cả một vùng ảo diệu.

Tiếng thơ Đinh Hùng không phải tiếng thơ buông lơi, dễ dãi hoặc chọn lời lựa chữ cho suôn sẻ thanh âm. Nói cho đúng, nó là chuỗi kim cương sáng ngời, như những vì sao lạ treo chênh vênh giữa vòm trời thi ca hiện đại.

Trong giai đoạn nguyên thuỷ, Đinh Hùng mang tâm trạng kẻ lạc loài giữa đồng loại không chấp nhận sự hiện hữu này là thực thể, nên luôn luôn người thơ đi tìm kiếm cho riêng mình một giá trị trong những giá trị có đó. Đinh Hùng mang tâm tư của loài rong biển trôi dạt theo lớp sóng ngầm giữa lòng đại dương bát ngát, phó mặc cho dòng nước luân lưu đưa đẩy, miễn tìm thấy hồn thời gian qua vọng tưởng.

Đi từ thơ Nguyên Thuỷ qua Thần Tượng, Đinh Hùng đã xê dịch từ rung cảm thuần tuý sang bình diện con người. Nghĩa là người thơ đã nhìn rõ giá trị của đời sống qua vóc dáng kỳ nữ - làm người thơ choáng váng.

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em - ôi biển sắc, rừng hương
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự Thiên Đường
Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước
Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi
Cả chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vụ trụ bỗng vô cùng thương nhớ...
("Kỳ nữ" - MHC)

Có lẽ, vóc dáng người kỳ nữ một sớm nào đó đã gõ nhẹ vào cửa lòng thi nhân làm cho tỉnh giấc. Bóng dáng động vân thạch bị lu mờ trước giai nhân và thời man rợ bị đẩy lui vào tưởng niệm. Cặp mắt lưu ly nào đó đã chiếu rọi vào tâm hồn thi nhân bằng tia sáng quang tuyến, có khả năng xuyên qua sự vật để nhận rõ bản thể đích thực của sự vật. Hơn thế nữa, nó còn cho người thơ tìm về thân phận với ước mơ còn đấy, với bóng vầng đông thuở trước và con đường sao mọc khi xưa. Thơ Đinh Hùng quả thực có ma lực, nó có đó mà vô cùng xa xôi, vô cùng cao trọng. Thực và Mộng luôn luôn xáo trộn tạo nên ấn tượng hoang vu, man rợ. Nó là tiếng kêu vò xé. Nó là lời thảng thốt giữa cơn mê loạn. Nó là nỗi đam mê bấn loạn. Nó là tiếng thở dài ai oán trút tự cõi lòng cô độc. Nó là thịt da, xương máu của thi nhân. Nó là sự giao hưởng nhiệm mầu giữa thơ và tơ trời kết lại:

Ôi cám dỗ! cả mình em băng tuyết
Rợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân
Ta gần em, mê từ ngón bàn chân
Mắt nhắm lại, để lòng nguôi gió bão
Khi sùng bái ta quỳ nâng nếp áo
Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận...
("Kỳ nữ" - MHC)

Cái nhan sắc ấy làm Đinh Hùng hoảng hốt và mê đắm với lòng "sùng bái" như một tín đồ sùng bái đức "Giáo chủ". Trong thơ Thần tượng, Đinh Hùng đã đóng vai gã si tình để tỏ bày ngưỡng mộ. Đối với thế gian, Đinh Hùng tỏ ra mình là thi nhân kiêu sa, còn đối với tình yêu Đinh Hùng muốn làm Bạo chúa.

Ta quên hết! Ta sẽ làm Bạo chúa
Sống nghìn năm, ngự trị một lòng em
Cuộc ân tình ghê rợn suốt muôn đêm
Nào ai tiếc thương gì thân mỹ nữ!...
("Ác mộng" - MHC)

Nhưng tình yêu với đôi cánh bay lượn chập chờn trong cõi nhớ mong và "người em gái" đã cùng thi nhân gặp gỡ trong "mộng linh hồn" đã vội trở thành một "yêu quái" biết cười vui và nói giọng êm đềm. Đinh Hùng phó mặc cho tình cảm lướt trôi cùng nhan sắc và nụ hôn đầu đã làm tê dại cả tâm can, người thơ gục khóc tưởng tình xưa ngồi cạnh. Rồi gác "ca-lâu" cũng rèm buông, lửa đỏ và xiêm áo như hoa thấp thoáng đi về giữa trời ảo ảnh.

Tình yêu đối với Đinh Hùng thoáng đến, thoáng đi và khắc sâu vào tâm khảm người thơ những lằn roi rướm máu.
Nhan sắc, nhan sắc thật mong manh và vô cùng diễm tuyệt. Đinh Hùng chưa kịp hưởng say men tình ái mà giông gió cuộc đời đã cuốn vội từng lớp tang thương. Từ hy vọng mê cuồng bước sang trời Chiêu Niệm. Người thơ đi tìm mình, đi tìm chân lý tuyệt đối của tình yêu trong đất lạnh, trong vóc dáng thương yêu gói tròn hoài vọng:

Trời cuối thu rồi. Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu...
("Gửi người dưới mộ" - MHC)

Mùa thu với từng cánh lá vàng đẹp như cánh thơ rơi tự trời cao. Mùa thu làm se ngọn cỏ hanh vàng trên nấm mộ. Mùa thu với đám mây lãng đãng trở về sau cuộc phiêu hành khắp vòm vũ trụ. Mùa thu có hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt, có cây Từ Bi chợt nở đóa Ác hoa mà thiện căn không tìm đâu thấy.

Những vần thơ Chiêu Niệm chảy dài như dòng lệ không bao giờ khô trên gương mặt thi nhân. Nó kéo lê thê như một ám ảnh trong mỗi câu, mỗi chữ với nhịp điệu tiếc nuối, than van với bóng tử thần chập chờn, đe doạ.

Nhưng rồi, tháng năm với những u buồn còn đấy, Đinh Hùng ném hồn mình vào cõi Mê Hồn, ở đó, cái đau và cái nhớ chợt tan biến để thi nhân nhìn hé thiên cơ với ánh lửa tinh cầu "dựng lên địa chấn, loạn màu huyền không". Đinh Hùng van xin Trăng đừng bỏ kinh thành, đừng bỏ nhân gian để thi nhân nằm chờ Siêu Thoát, mơ đến những thanh âm tạo dựng một kiến trúc với chiêm bao thần bí:

Lời nói im ta nằm chờ siêu thoát
Mơ hoàng thành dựng lại bản thanh âm
Mười ngón tay run
Mở cửa để cầm
Ôi kiến trúc một chiêm bao thần bí
Ta lạc hồn giữa lâu đài kỳ dị
Suốt muôn đời không hiểu dãy hành lang...
(Mê hồn ca)

Làm sao mà Đinh Hùng có thể hiểu được vì thực tế và mơ mộng không nằm chung ước lệ. Cái chất thơ cứ vươn lên, vươn lên mãi trong khi thân phận nằm đây, soi lệch ánh toạ đăng mỗi đêm với muôn vạn nhọc nhằn:

Máu ta say không chảy thoát hình hài
Hằng kinh động chốn ăn nằm vĩnh viễn...
(Mê hồn ca)

Trước viễn ảnh chói loà của thi ca, Đinh Hùng dùng nghệ thuật để đồng hóa thể xác mình với thời gian vĩnh cửu.

Buổi chiều đến, sầu lên Kim tự tháp
Bóng ta đi hoài cảm góc trời mây...

Đó, tất cả cái sáng láng, cái tinh hoa của Đinh Hùng trình bày với người đọc những nỗi niềm mà người thơ thổ lộ qua vần, qua điệu. Đinh Hùng muốn vượt thoát hình hài, vượt thoát hoàn cảnh để tự do múa lượn trong cõi trường mộng, vì cuộc đời có khác gì mộng ảo?

Thơ Đinh Hùng chính thực không hoàn toàn mang tính chất quái dị, đúng ra, nó hình dung những siêu thoát, những nhiệm mầu mà con người trong khi thất vọng thường bám víu lấy để cầu mong an ủi. Người thơ đi tìm bản thân trong chiều sâu tâm giác, trong ngôn ngữ xuất thần với suy tư dấy loạn nội tâm. Do đấy, lời thơ Đinh Hùng bao giờ cũng vượt qua được bức trường thành nhân thế để chiếu từng tia sáng mong manh nhưng sắc bén giữa những tâm hồn đồng điệu:

Khi mùa xuân buông dài trước cửa
Khi nắng chiêm bao khẽ chớp hàng mi
Khi những con thuyền chở mộng ra đi
Giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu
Kỷ niệm trở về nắm tay nhau hiền dịu
Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình
Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh
Mặc trái đất sẽ tan vào mộng ảo...
("Đường vào tình sử")

Tình yêu vẫn có uy lực dẫn dắt thi nhân đi vào muôn ngàn lối ân tình. Dù trái đất có tan vào mộng ảo, dù buổi chiều nào tận thế, dù mùa thu phôi pha, mùa đông tàn phế, ta vẫn vì em mà sống đời ngư phủ, thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh và sau cùng để chiêm ngưỡng Em như chiêm ngưỡng một hành tinh xa lạ.

Phải nhận rằng, trong tập Đường vào tình sử (Nam Chi Tùng Thư xuất bản, 1961), hơi thở của Đinh Hùng đã phần nào là buông cung điệu và nỗi hoài mong của thi nhân chỉ gói tròn vào tình cảm thông thường nơi tình yêu đôi lứa, dù cho tình yêu có được thắp sáng bởi trí tuệ người thơ. Những nét độc đáo với dòng suy cảm quái đản được gọi về từ thiên cổ không thấy xuất hiện. Lời và ý thơ trong Đường vào tình sử thật dung dị và đẹp:

Tôi nghe em nói bằng im lặng
Bằng dáng nghiêng nghiêng động nét mày
Bằng cả mênh mang chiều lắng đọng
Nụ cười em gửi gió thu bay
Tóc quyện mây choàng vai mộng nhỏ
Chìm chìm hơi nắng bước thu đi
Hôn như khói toả say tà lụa
Chợt tỉnh, còn như truyện ngủ mê...
("Đường vào tình sử")

Toàn tập hầu như thế cả, nguyên lý không gây được ấn tượng sâu đậm nào ở trong tâm thức người đọc như Mê hồn ca. Sở dĩ như vậy vì tập Đường vào tình sử là sự góp nhặt nhiều bài thơ ở nhiều thời kỳ đã đăng tải rải rác trong các tạp chí văn học. Nhưng dù sao, vẫn có trong đó cái "chất" Đinh Hùng, cái "chất" đã đưa Đinh Hùng vào ngôi vị xứng đáng của nền thi ca Việt Nam.

Đinh Hùng chịu ảnh hưởng rất nhiều ở dòng thơ Tượng trưng Pháp với các thi hào Baudelaire và Mallarmé của thế kỷ XIX. Nhất là Baudelaire nhà phù thuỷ ngôn ngữ trong thi ca Pháp, người đã dịch truyện của văn hào Mỹ Edgar Poe và có tập Fleurs du Mal (Ác hoa) đã gây sôi nổi dư luận quần chúng Pháp vì những tư tưởng táo bạo trong thơ.

Khởi hành từ trạng thái đớn đau trong tình yêu với sự dằn vặt đoạ đày ở mỗi không-gian-cuộc-sống, Đinh Hùng nhìn chòng chọc vào nó như thách đố và coi nhẹ hệ luỵ đến đỗi tưởng rằng chỉ có thế giới linh hồn là thực, kỳ dư đều mộng ảo.

Có những đêm đông Hà Nội, tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa Ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Bước chân dò từng phiến gạch gồ ghề trơn trợt dưới lớp bùn quánh đặc. Đi qua chiếc sân đất rộng đầy cây cảnh hiện sừng sững với hình thể đục, nặng vì thiếu ánh sáng. Hương nha phiến thoáng ngát. Tôi bước lên thềm cao, căn nhà trống trải âm u dưới ngọn đèn dầu cháy leo lét ở một góc, chỉ vừa đủ soi sáng một khoảng nhỏ. Tiếng kêu vo vo của nhựa thuốc thiêu trên ngọn lửa làm tôi thấy nôn nao. Đã nhiều đêm tôi ngồi bên để nhìn các bạn vui, nhưng sao mỗi lần gặp tôi, tôi vẫn mang cảm giác rờn rợn như gặp yêu nữ.

Tôi đứng yên ở dưới mái hiên nhìn vào. Trước mắt tôi, dưới làn khói mỏng như tơ, Đinh Hùng nằm nhỏ nhoi tựa đứa bé. Mái tóc nặng nề lẩn vào bóng tối. Đôi mắt tinh anh, mở nửa vời dài dại. Tôi biết Đinh Hùng đang nhập mộng. Chừng một phút sau, Đinh Hùng nhỏm dậy, cầm ấm trà màu gạch cua rót vào chiếc chén hạt mít trắng muốt đưa lên môi. Tôi nhẹ nhàng đi về phía giường. Mùi ẩm mốc quyện vào dầu lạc làm khó thở. Biết tính, Đinh Hùng không bảo tôi nằm xuống như bao nhiêu bạn khác mà chỉ mời ngồi, rồi lại thản nhiên nằm nghiêng đối diện với ngọn đèn đỏ khè ngọn bấc.

Ở khoảng thời gian đó, Đinh Hùng đang đi vào Chiêu Niệm với sự nuối tiếc một hình ảnh hoang sơ man dại từ khi trái đất mới hình thành mà tất cả vạn vật đều trở thành thần tượng với vóc dáng thiên nhiên in hằn trong tâm tưởng. Vật chất đôi khi làm cho thi sĩ đớn đau nhớ tiếc khôn cùng. Tiếng khóc thê lương đòi về đáy mộ. Tấm hình hài nào đó với đường nét thanh tao, với nụ cười tắt nửa chừng, với đôi mắt lưu ly soi thấu vô cùng vũ trụ, và âm dương đòi tái hợp cuồng mê tâm tưởng! Ôi! Niềm giao ước hung tàn giữa kẻ chết, người sống, giữa cõi nhân gian và đáy mộ vực đen, giữa tiếc thương và hy vọng não nề. Đinh Hùng đi tìm tử thần bên cửa huyệt, hay "Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ". Đinh Hùng phóng hồn mình vào cõi bi thương với lời van xin ứ nghẹn. Hùng cầu nguyện với tấm lòng trinh bạch như kẻ ngoan đạo nguyện cầu dưới chân đức Thích Ca hay đức Jésus xin dâng hiến máu, tim mình cho nguồn sống thiêng liêng cao cả mà chẳng đòi nhận về ân tưởng. Trong cõi Mê cung, Hùng lạc vào với từng bước đắm say giữa "Nghìn yêu ma chung bước cõi luân hồi" với khúc hát Vong tình bay chót vót trên núi non mở hội oan hồn.

Trong không gian ấm mốc, giữa vùng mê hoặc của hương nha phiến, Đinh Hùng cất tiếng ngâm bài "Tìm bóng tử thần". Giọng của Đinh Hùng sang sảng. Ánh đèn le lói với hoa bấc rung rinh. Tiếng thơ đã làm tôi rúng động và tôi đâu ngờ, 10 năm sau, tiếng ngâm thơ đó còn vang trên làn sóng điện, tạo niềm cảm thông sâu xa giữa Thơ và cuộc sống qua hội Tao Đàn.

Tôi thường đến thăm Đinh Hùng như thế, đôi khi với nhiều bạn khác. Hùng đã tạo cho mình một vị trí, vị trí đó, Hùng làm chủ suý với các người làm thơ tiến bộ tụ họp, trong số ấy có Trần Dần, Phùng Quán, Lê Văn Thanh, Bích Câu v.v...

Vì dấn thân quá sớm, nhất là dấn thân vào một địa hạt phức tạp đầy dẫy ưu phiền, Đinh Hùng đốt cháy thân phận chẳng những trên đầu ngọn bấc mà còn ở men rượu và sênh phách. Đinh Hùng huỷ hoại hoa niên trong những đêm dài Dạ Lạc qua các cửa Ô, cũng như đắm chìm vào đáy ly nồng đắng. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Đinh Hùng có thể uống hai lít đế, không cần đồ nhắm. Vì thế, Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hằng nửa ngày trời.

Trong tháng ngày kháng chiến lênh đênh, chúng tôi gặp nhau ở chợ Đại thuộc Khu 3. Tôi và Hùng ngồi trong một quán nước. Hôm đó, không nhằm phiên chợ nên thật vắng vẻ. Những con đường bùn lầy, hố "tăng xê" ngập nước ở hai lối đi. Những mái lá cũ kỹ nằm trên hàng cột tre già láng bóng. Hùng cao giọng đọc thơ, những vần thơ mà kháng chiến không chấp nhận. Tôi gọi hai cút rượu uống cho ấm lòng. Chúng tôi vừa uống vừa thảo luận về thơ và nhắc đến Hà Nội mến thương cách trở. Chúng tôi gọi tên từng người bạn với u hoài kỷ niệm. Hùng kêu rượu nữa, rồi cho tay vào túi áo lấy một gói nhỏ. Hùng nhẹ nhàng mở ra, dốc dúm bột màu nâu sẫm vào lòng chén. Tôi nhìn Hùng mỉm cười. Hùng lạnh lùng rót rượu, lấy ngón tay trỏ khuấy nhẹ rồi ngửa mặt nuốt ực một hơi.

Sau chén rượu bất ngờ đó, tôi và Hùng chia tay. Nhưng bài thơ "Sông núi giao thần" của Hùng vẫn còn âm vang trong tôi như lời cầu nguyện:

Trăng ơi đừng bỏ Kinh thành
Hồn Cố đô vẫn thanh bình như xưa
Nhỡn tiên chợt sáng Thiên cơ
Biết chăng ảo phố, mê đồ là đâu?...

Sau thời gian lang thang khắp núi rừng Việt Bắc, bệnh sốt rét đã làm tôi phải trở về Khu 3 để tiếp nối những ngày vô định. Những con người văn nghệ thuở kháng chiến như những cánh chim trời bay lạc loài khắp nẻo. Gặp nhau đấy rồi xa nhau ngay, nên mỗi lần gặp, mỗi lần thương nhớ chẳng rời.

Nhân có cuộc họp văn nghệ, tôi và Hùng gặp lại nhau và cùng đi Đống Năm thuộc tỉnh Thái Bình. Lần này đi thêm hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, người hoạ có dáng điệu khù khờ với bộ râu đỏ hoe mọc lởm chởm trên màu da trắng muốt.
Tôi nhớ buổi chiều hôm đó trời mưa bụi, chúng tôi lại ngồi uống rượu chờ tối để xuống đò. Mặt Hùng xanh mướt, một phần tại lạnh, một phần vì cơ cực. Chiếc trấn thủ màu cỏ già lem luốc, rộng thênh thang không làm ấm mảnh thân gầy phủ lên bộ quần áo nâu dính bùn bạc phếch. Ba chúng tôi khề khà cho đến lúc không gian mờ đục khuất chìm vào bóng đêm. Từng đốm lửa vàng hoe cháy hiu hắt đó đây. Hùng nhìn ánh đèn với nét mặt đăm chiêu.

Qua một đêm trắng nằm đò, chúng tôi lên bến Gián Khuất, đi Đống Năm, lướt qua bao nhiêu làng mạc, bao nhiêu cánh đồng và từng con đê dài thăm thẳm. Trong suốt cuộc hành trình Hùng nói rất nhiều về đủ mọi loại chuyện vui buồn. Hùng đọc thơ Baudelaire và rất thích cuộc sống của thi nhân này. Bài thơ mừng cô vợ da đen chết, Baudelaire lại được tự do, có thể lang thang uống rượu khắp nơi và ngủ ngon lành ở lề đường như con chó, làm Hùng cười sảng khoái.

Sau ba ngày đêm chung vui, chúng tôi lại nắm tay nhau giã từ. Hùng ở lại Đống Năm với Vũ Hoàng Chương để dạy học.
Vào năm 1949, áp lực chiến tranh mỗi ngày mỗi đè nặng vào vùng đất Liên khu 3. Những con chim trời bay tản mác khắp ngả để tìm nơi an lành trú ẩn. Thời gian trôi đi theo tiếng bom đạn cày nát quê hương đau khổ!

Đến cuối năm 50, Hùng trở về Hà Nội. Cuộc sống của Hùng có thay đổi, Hùng đã lập gia đình như lập trường thi ca vẫn y nguyên. Gánh nặng áo cơm và nguồn đam mê đến chết-không-rời quấn chặt lấy thân phận nhỏ nhoi đó mà hành hạ. Thiếu thốn thường xuyên nhưng Hùng vẫn giữ nguyên phong độ của kẻ sĩ. Hùng được một số bạn thương giúp đỡ nhưng sự giúp đỡ này chỉ như những gáo nước nhỏ tưới vào một vùng hạn hán trường kỳ. Cứ như thế, như thế, Hùng sống cho đến ngày di cư vào Nam với thi phẩm Mê hồn ca làm vốn liếng và hành lý.

Kể từ đó cuộc đời đối với Hùng đã phần nào đỡ khe khắt. Hùng cố gắng bằng đủ mọi cách như viết truyện dã sử dưới bút hiệu Hoài Điệp Thứ Lang, làm thơ trào phúng ký Thần Đăng, phụ trách mục Tao Đàn v.v... Cuối cùng Hùng đã ngã xuống với tiếc thương đòi đoạn và vĩnh viễn đi vào Cơn-mê-trường-dạ.

Đường vào tình sử còn dài lắm, Hùng đành bỏ dở, và có mái tóc nào buồn lênh đênh cho thuyền hồn thi nhân thả mộng?...

Khi anh chết các em về đây nhé
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ
Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ...
("Cung đàn tưởng niệm" - ĐVTS)

Nói đến Đinh Hùng là nói đến cô đơn, là nói đến khát vọng. Nỗi cô đơn và niềm khát vọng đó in hằn trong kích thước thi ca mà Hùng đã dấn thân như người lính cảm tử. Hùng đã sống trọn vẹn và chung thuỷ đến lúc lìa đời với hướng đi tự nguyện. Bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu mật đắng do cuộc đời trao tặng, Hùng đem thiêu trên đầu ngọn lửa và nuốt trọn vào tim phổi mình với nguồn vui ảo giác. Hùng rất mực đa tình nhưng mối tình đầu oan trái với người em họ đã thui chột nụ hoa tình ái và biến Hùng thành cuồng bạo trong mỗi suy nghĩ về tình yêu.

Nói đến Đinh Hùng, không phải nói đến cái gì mới lạ, vì thi ca Việt Nam bây giờ đã vượt thoát khỏi trạng thái ước lệ, nó đi vào cõi mông mênh của Vô Thức. Từ Vô Thức nó trình bày Ý Thức Mới không hẳn là cố định nhưng, nó là thời đại chúng ta đang góp mặt. Nói về Đinh Hùng là nhắc đến một không gian cũ, là nói tới khoảng cách - ở đó - từ hiện tại trở lui về quá khứ, chúng ta vẫn nhìn rõ ánh sáng của ngọn Thần Đăng chói loà hào quang kỳ ảo.

Trích từ "Tạ Tỵ - Mười khuôn mặt văn nghệ", Nam Chi Tùng Thư xuất bản, 1970
Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ rặt mầu nhà quê


LeThanhPhong
Loyal Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 1521
Old 06-29-2019 , 05:28 PM     LeThanhPhong est actuellement connect  search   Quote  
“MÊ HỒN CA” CỦA ĐINH HÙNG: CÕI CHIÊM BAO CỦA THỨC TỈNH TINH THẦN

Hà Thủy Nguyên


http://bookhunterclub.com/hon-ca-cua...huc-tinh-tinh/

Lần đầu tiên đọc thơ Đinh Hùng, khi ấy tôi vẫn còn ngồi trên ghế trường trung học, đó là bài thơ “Khi mới nhớn”. Bài thơ nằm trong một tuyển tập ở thư viện Hà Nội. Tôi đọc bài thơ với sự khoái chí khi tưởng tượng đến cậu học trò trốn học bởi nhận thức được những sự ngớ ngẩn của trường lớp và muốn giữ mãi sự mơ mộng nguyên thủy của bản thân. Thời ấy, tôi tâm đắc mấy câu này:

“Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi

Xa vở bài, mở rộng sách ham mê

Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về

Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

Tôi thích mê Đinh Hùng đi được và quyết định là sẽ tìm bằng được thơ của ông. Nhưng thời ấy, các cô giáo dậy văn của tôi không ai biết Đinh Hùng, thư viện không có sách của ông, và ngay cả cuốn sách điểm mặt gần như toàn bộ các nhà thơ xuất sắc thời 30 – 45 là “Thi nhân Việt Nam” cũng không nhắc đến ông. Chỉ đến khi vào đại học, tôi mới được đọc thêm một bài khác của Đinh Hùng là “Bài ca man rợ”, và lúc ấy, tôi mới nhận diện được phần nào con người thơ của Đinh Hùng, rồi được nghe nói đến tập thơ “Mê hồn ca” của ông như một huyền thoại. Cũng xin nói thêm, một sinh viên ngành nhân văn ở Việt Nam trước 2010 mà muốn tìm tư liệu để đọc không phải việc dễ nếu không có mối quan hệ đủ tốt với các thày và các nhà nghiên cứu. Sẽ không có chuyện lên Thi Viện “search” tên Đinh Hùng là có gần như đầy đủ các tác phẩm của ông. Tôi đã đi tìm tập thơ ấy trong nhiều năm, và chỉ đến khi vào Sài Gòn làm việc (năm 2008), tôi mới thực sự được đọc toàn bộ tập thơ “Mê hồn ca” nhờ những hàng sách cũ ở thành phố này. Nhiều năm sau khi đọc “Mê hồn ca”, tôi không đọc được thơ của người khác. Tôi đã bị ám ảnh bởi thực tại kỳ vĩ trong thơ Đinh Hùng, một thế giới thơ hiếm hoi trong nền văn chương Việt Nam vốn chỉ thích những thứ be bé, xinh xinh…

Đinh Hùng sinh năm 1920, thuộc thế hệ nhà thơ trẻ bắt đầu trưởng thành vào cuối Phong trào Thơ Mới. Ông sáng tác nhiều bài thơ thời ấy, dù còn non tay. Sau này, những bài thơ thời non trẻ ấy được đưa vào tập “Đường vào tình sử” (1961). Kể ra thì, ngay cả các bài thơ non tay của Đinh Hùng cũng ăn đứt không ít các nhà thơ được tuyển vào “Thi nhân Việt Nam” (1942). Sau này, các học giả đều phê phán Hoài Thanh về việc không đưa Đinh Hùng vào “Thi nhân Việt Nam” với lời buộc tội rằng Hoài Thanh không chịu nổi các bài thơ siêu thực, tượng trưng mà chỉ thích các bài êm tai. Đinh Hùng không được nhắc đến trong “Thi nhân Việt Nam”, tôi cho rằng đó là điều hợp lý. Bởi thơ ông vượt ra khỏi phạm vi “Việt Nam”, và nếu có đưa ông vào tập sách ấy, quả thực cũng không biết xếp ông ở ghế nào trong bảng xếp hạng thời thượng đó. Hơn nữa, việc hiểu thơ Đinh Hùng không phải việc dễ, nó đòi hỏi người đọc phải tách biệt khỏi thế giới thực để bước vào một cõi giới khác. “Muốn đi vào thi giới của Mê Hồn ca và Đường Vào Tình Sử, trước hết, phải tách rời nó ra khỏi thực tại. Tách rời hẳn ra. Vì thi giới đó, không phải là một phản ánh thơ mộng của thực tại như ta lầm tưởng. Thi giới đó là một hư cấu, hoàn toàn độc lập với thực tại, nếu có tương quan thì tương quan đó chỉ là tác giả và người đọc, những nhân sự khởi đi từ trần lụy để tìm đến một vũ trụ khác.” (Đặng Tiến) (1)

Đinh Hùng là bạn thân của Vũ Hoàng Chương và Thạch Lam, nhưng người “tri ngộ” ông lại chính là Thế Lữ – vị chủ soái của phong trào Thơ Mới. Thế Lữ khi viết “Trại Bồ Tùng Linh” đã lấy bài thơ “Kỳ nữ” của Đinh Hùng để sử dụng trong truyện. Bài thơ hẳn đã là một sự chấn động với vị chủ soái, nếu không ông đã tự sáng tác một bài thơ thay vì mượn thơ của một nhà thơ trẻ tuổi chưa có nhiều danh tiếng. Sau khi đọc bài thơ này, Thế Lữ đã không làm thơ nữa. “Kỳ nữ” là những mảng siêu thực về hình ảnh của người con gái phi thường. Người con gái này là một nữ thần để Đinh Hùng phải quỳ gối:

“Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo

Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm

Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm

Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

Nếu nhà phê bình nào cố gắng đi tìm “Kỳ nữ” này ngoài đời thật thì đó là một nhiệm vụ không tưởng. Người “kỳ nữ” của Đinh Hùng không có một chút nào là “thật”. “Thật” ở đây có nghĩa là hiện hữu. Đi tìm một dạng tồn tại không hiện hữu thì không thể sử dụng con mắt của các nhà nghiên cứu hay phê bình được. Nếu chỉ bằng con mắt soi xét những thứ hiện hữu, ta chỉ thấy những hấp dẫn câu chữ mà chúng ta thường quen gọi là “thủ pháp” và “tư tưởng”. Người ta đọc thơ không phải đi tìm những thứ ấy. Người ta đọc thơ bởi vì thơ đưa tinh thần của ta vào không gian tinh thần của thi sĩ và thông qua đó gợi mở cho ta điều mới mẻ. Trong trường hợp bài “Kỳ nữ”, Đinh Hùng đã đưa ta vào một không gian thần thoại mà ở đó tự nhiên và người con gái đồng nhất với nhau. Trong thần thoại, các nữ thần cổ xưa thường được mô tả với vẻ kì vĩ của trăng sao, của núi rừng. Nữ thần không mang hình hài con người mà mang hình hài của tự nhiên với “biển sắc rừng hương”, “ngàn hoa sớm”, “vầng đông”, “sao mọc”, “băng tuyết”… Trong khoảnh khắc đầu tiên mà thần nữ xuất hiện, không phải là “làn thu thủy nét xuân sơn” (2) mà là “trời ta mơ ước”. “Kỳ nữ” với Đinh Hùng cũng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, là đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến. Nhưng “Kỳ nữ” chỉ là một mã để ta nhận diện thế giới Đinh Hùng mong muốn chạm đến. Trong thế giới ấy, tự nhiên đóng vai trò tuyệt bích dù cho có “dị kỳ”, có “yêu ma”. “Kỳ nữ” nằm trong phần II của “Mê hồn ca”, có tên là “Thần tượng” cùng với hai bài thơ khác là “Ác mộng” và “Hương trinh bạch”. Người con gái trong hai bài thơ này cũng giống như “Kỳ nữ”, đều là đại diện cho lý tưởng của nhà thơ, cho sự ngưỡng vọng và khao khát đối với tự nhiên, với cảm giác hung bạo của bản năng.

Trong bài viết “Thơ Đinh Hùng: Hai thế giới” của nhà phê bình văn học Nhị Linh (Cao Việt Dũng) (3), yếu tố “man rợ” của tự nhiên trong thơ Đinh Hùng bị gạt bỏ và người đọc được thuyết phục rằng mấu chốt của thơ Đinh Hùng chính là yếu tố “mị”. Nhị Linh đã liệt kê một loạt các bằng chứng để thuyết phục người đọc rằng thơ Đinh Hùng có màu sắc ma mị, trong đó có bằng chứng về lời nhận định của những người bạn thân với Đinh Hùng. Đây là một cách nhìn hết sức sai lầm. Sai lầm này đến từ việc nhà phê bình không hiểu về tự nhiên, cũng không hiểu về ma mị. Tự nhiên trong tâm thức thần thoại luôn được gắn với các linh hồn lớn mà chúng ta vẫn gọi là “thần”. Con người thời cổ không thể lý giải được tự nhiên nên họ kính sợ, gán cho các hiện tượng ấy những thần tính. Các thần tính này dựa trên một sự chắt lọc về nhân cách hoàn hảo mà một bộ tộc tôn sùng. Như vậy, một vị thần tự nhiên được kết hợp bởi sức mạnh bí hiểm của tự nhiên và nhân cách hoàn hảo đại diện cho bộ tộc, để rồi toàn bộ tộc chịu sự chi phối của vị thần. Con người trong nhiều nghìn năm lịch sử, vừa kính sợ lại vừa ghét bỏ và đồng thời cũng ước ao đạt tới thế giới của các vị thần. Nhưng nực cười ở chỗ, con người có thể kính sợ hoặc ghét bỏ ngoại trừ việc đạt đến. Và thế là họ chuyển sang kế hoạch hạ bệ các vị thần hết lần này đến lần khác, bằng nhiều cách khác nhau. Các vị thần lùi vào bóng đêm, trở thành những bóng ma lẩn khuất và vẫn gắn liền với tự nhiên nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Trong văn hóa dân gian Á Đông, hồ ly tinh là một hình mẫu như vậy. Hồ ly tinh vốn là một vị thần cổ và dần dần bị biến thành yêu ma, quỷ quái trong các truyện truyền kỳ dưới con mắt của Nho giáo – một hệ tư tưởng bài trừ các vị thần. Người ta thích đọc các câu truyện Liêu Trai với các mối tình giữa người thường với hồ ly, hồn ma, tinh hoa, tinh bướm…v…v… bởi người ta bị kích thích do sự say đắm hoan lạc khi cảm giác sự chạm đến tự nhiên bí ẩn, kể cả trong tưởng tượng. Đời sống của cộng đồng người với thứ “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” (4) không đáp ứng được lòng ham muốn không đáy của con người, bởi thứ con người thực sự đói khát là được trở về với xuất xứ của mình, với bản tính tự nhiên. Con người tôn sùng các vị thần tự nhiên hay mơ mộng được làm tình với hồ ly tinh thì cũng đều là một sự đói khát tự nhiên – phẩm chất đã mất đi trong dòng lịch sử. Đó là nỗi ám ảnh của Đinh Hùng, là cảm hứng chi phối chủ đạo trong “Mê hồn ca”. Gán thơ Đinh Hùng với yếu tố mị, Nhị Linh đã hạ thấp tầm cỡ của Đinh Hùng xuống một thứ tầm thường như những truyện ma thịnh hành từ quãng những năm 30s, 40s đến 60s của thế kỷ 20. Không nhà thơ nào sống một đời đắm đuối với thơ ca lại đi viết những bài thơ để biểu hiện sự ma mị chẳng khác nào “Liêu Trai chí dị”. Có lẽ, Nhị Linh đã quá thích thú với các tư liệu ngoài lề mà mình tìm được mà quên mất rằng điều quan trọng nhất để hiểu con người thơ của một nhà thơ là qua văn bản chứ không phải qua các mẩu chuyện đời. Những mẩu chuyện đời chỉ là một sự bổ trợ để lý giải các mã ngôn từ trong văn bản mang tính chất đời sống cá nhân của tác giả.

Cũng trong bài viết của mình, Nhị Linh phản đối việc sử dụng “Bài ca man rợ” như một chìa khóa quan trọng để giải mã tập thơ kỳ dị “Mê hồn ca”. “Bài ca man rợ” quả thực không phải là chìa khóa quan trọng, nhưng “Bài ca man rợ” đóng vai trò như một tuyên ngôn của Đinh Hùng. Bài thơ nằm trong phần “Nguyên thủy”, mở đầu tập “Mê hồn ca”. Sự sắp xếp này của Đinh Hùng chẳng phải rất rõ ràng sao? “Nguyên thủy” là một thời kỳ mà con người sống trong tâm thức thần thoại, khi vẫn còn rất gần với tự nhiên. Phần “Nguyên thủy” có 5 bài là “Bài ca man rợ”, “Những hướng sao rơi”, “Người gái thiên nhiên”, “Hoa sử”, “Trời ảo diệu”. Cả 5 bài thơ này dù được viết với các phong cách khác nhau nhưng tràn ngập các biểu tượng liên quan đến tự nhiên:

“Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ

Và chân bước nghe chuyển rung đồi suối

Lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối

Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng

Rồi ta đi, khí núi bốc trên lưng

Mắt hung ác và hình dung cổ quái”

(“Bài ca man rợ”)

Khi miếu đường kia phá bỏ rồi

ta đi tìm những hướng sao rơi

lạc loài theo dấu chân cầm thú

từng vệt dương sa mọc khắc người

(“Những hướng sao rơi”)

chúng tôi gặp nhau bên dòng suối ngọt

làm đôi người cô độc thuở sơ khai:

nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài

ta từng buổi bơ vơ tìm bộ lạc

nàng là Gái-Muôn-Đời không đổi khác:

bộ ngực tròn nuôi cuộc sống đương xuân

ta đến đây làm chủ hội phong trần

lấy hoa lá kết nên Tình Thái Cổ

rừng buổi đó vang tiếng cười man rợ

quả tơ duyên đỏ thắm sắc trên cành

chúng ta đi, lặng ngắm núi đồi xanh

bước trên cỏ để ngàn sau in dấu

(“Người gái thiên nhiên”)

xưa mạch đất dấu nghìn xuân vũ trụ

ta lãng du, chợt gặp cỏ hoa tình

mừng phong cảnh bốn mùa về hội ngộ

em gọi tên hồn non nước sơ sinh

(“Hoa sử”)

“Hỡi non thẳm! trước thời gian xao động

Đá bâng khuâng, màu thạch nhũ phai mờ

Mấy xuân thu ngươi đứng nhìn sao rụng?

Ta tìm trên tuyết dấu Người Xưa”

(“Trời ảo diệu”)

Người hoang dã, mong muốn trở về với cầm thú, sự xao động trước tự nhiên, nỗi nhớ “người xưa” hay người cùng bộ lạc từ thuở xa xôi… tất cả đều là một sự tiếc nhớ bản chất tự nhiên. Những điều ấy được phát biểu rõ nét trong “Bài ca man rợ”. “Bài ca man rợ” nói về một người “thiên nhiên” về với đô thị. Người thiên nhiên này mang dáng vẻ của rừng núi hoang sơ khiến “cả cõi đời kinh hãi”. Người rừng đứng trước đô thành với ánh mắt ngơ ngác:

“Ta ngẩn ngơ nhìn theo bóng ngựa xe

Nhìn theo mãi đến khi đời lánh cả

Và ta thấy hiện nguyên lòng sơn dã:

Cảnh sắc này bỗng nhuộm máu tà dương

Ta xót thương, ta căm giận, hung cuồng

Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự”

Đó là sự “xót thương”, “căm giận”, “hung cuồng” khi chứng kiến đời sống đô thị giả dối, yếu đuối và nhàm chán với những “xiêm áo”, với “trán phẳng”. Trong cơn giận dữ ấy, người rừng – thi sĩ đã hét lên vừa như muốn kêu gọi đồng loại, vừa như muốn chối bỏ đồng loại:

“Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản

Mất tinh thần từ những thuở xa xôi!

Ta về đây lạ hết các ngươi rồi

Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống”

Và:

“Lạc thiên nhiên đến cả bọn đàn bà”

Sự tuyệt vọng đã khiến người rừng – thi sĩ ra tay tàn phá toàn bộ đô thành, để rồi quay trở lại với núi rừng dưới ánh hoàng hôn đỏ máu. Sự tàn phá này không phải sự phá hoại, đây là một sự tàn phá bằng tinh thần để chống lại các quy ước giả dối của con người. Đây là không khí thơ ta thấy được ở các nhà thơ thời kỳ Lãng mạn như Tennyson, Thoreau hay Wiliam Wordsworth. Những nhà thơ lãng mạn này chứng kiến cuộc Cách mạng Công nghiệp diễn ra ở Châu Âu với sự tàn phá cảnh quan và bản tính con người, cũng đã không ít lần giận dữ và họ chọn quay về với tự nhiên theo những cách rất khác nhau. Mặc dù các nhà phê bình thường so sánh thơ Đinh Hùng với thơ tượng trưng Pháp nhưng tôi lại thấy Đinh Hùng gần với các nhà thơ lãng mạn Anh – Mỹ hơn. Các nhà thơ lãng mạn Anh – Mỹ không đắm đuối theo ái tình mà có thiên hướng gần gũi với tự nhiên, với những điều huyền bí, bởi thế trong thơ lãng mạn Anh – Mỹ có rất nhiều yếu tố tượng trưng và siêu thực. Tôi không rõ Đinh Hùng có chịu ảnh hưởng của các tác giả ấy hay không, sự so sánh này đơn thuần là chỉ ra sự tương đồng. Bởi thế, giữa một nền thi ca mang màu sắc của lãng mạn Pháp, Đinh Hùng là một sự lạc điệu với không khí lãng mạn của Anh. Hoài Thanh không cảm được, nhiều người sau này không cảm được ông âu cũng là dễ hiểu. Cho đến nay, văn chương Anh – Mỹ vẫn là một thế giới xa vời với đại đa số người đọc Việt Nam, hay nói một cách khác, thơ Việt Nam vẫn chưa thoát được cái bóng của thơ Pháp, và bất cứ ai có một giọng điệu khác với loại thơ mẫu quốc ấy thì khó có thể được nhiều người yêu thích.

Bóng ma chiếm một phần trong tập thơ với hai phần “Chiêu niệm” và “Mê hồn” cùng với bài trường thi “Thần tụng”. Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma”… (5) Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương. Cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

“Cười lên em!

Khóc lên em!

Đâu trăng tình sử

Nép áo trần duyên?

Gót sen tố nữ

Xôn xao đêm huyền

Ta đi, lạc xứ thần tiên

Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh



Ta gởi bài thơ anh linh

Hỏi người trong mộ có rùng mình?

Nắm xương khô lạnh còn ân ái?

Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

(“Gửi người dưới mộ”)

Các nhà phê bình đều cho rằng cái chết của Liên, người yêu Đinh Hùng đã gây ra nỗi ám ảnh này với ông. Nhưng cái chết của người yêu chỉ là cái cớ bên ngoài, lựa chọn thói quen “đem phòng làm cổ mộ” hay “đọc thơ gọi hồn” lại đến từ sâu kín tinh thần của Đinh Hùng. Đâu phải người nào chứng kiến cái chết của người yêu cũng sẽ có những ám ảnh như ông. Thế nên, lấy cái chết của một cô gái hiện hữu để lý giải cho nỗi khao khát “kỳ nữ” hay “người gái thiên nhiên” của Đinh Hùng là sự khiên cưỡng, thậm chí để lý giải cho bóng ma trong thơ ông cũng là cái nhìn trần tục.

Chúng ta hãy quay trở lại với nỗi khao khát tự nhiên của ông. Con người khao khát tự nhiên bởi trong tự nhiên, phần tinh thần của con người được hiển diện. Đô thị, một thứ cộng đồng người tách xa tự nhiên, khiến phần tinh thần này bị suy thoái. Thoreau đã viết thế này trong những ngày một mình sống trong rừng: “Tôi đã tìm thấy trong bản thân tôi, và vẫn còn tìm, cái thiên hướng về một đời sống cao cả hơn, hay như cái tên của nó, đời sống tâm linh, như phần lớn người ta, và mặt khác, hướng về cái đời sống nguyên thủy và dã man, và tôi tôn kính cả hai. Tôi yêu cái hoang dã nguyên sơ không kém cái thiện”. (6) Trong bài thơ “Khi mới nhớn”, Đinh Hùng đã cho ta biết về một cậu bé từ bỏ sách vở để trò chuyện với cỏ cây. Đinh Hùng cũng giống như Thoreau, đã sớm tìm về với tự nhiên. “Trò chuyện” chỉ là một cách nói khác của sự giao hòa về mặt tinh thần. Khi lớn lên, ông trò chuyện với “bóng ma”. Người thường không nhìn thấy thậm chí không cảm thấy sự hiện diện của “bóng ma”. Nhưng một người có thể nói chuyện với cây cỏ trong suốt những giờ trốn học đương nhiên có thể thực hiện một cuộc ái ân với “bóng ma”, có thể gửi tới địa ngục những “bài thơ anh linh” để gọi hồn ma quay lại. Những bài thơ trong phần “Chiêu niệm” khiến cho ta hoang mang không rõ Đinh Hùng đã đưa bóng ma từ cõi ảo đến với cõi thực hay từ cõi thực xông vào cõi ảo để được gặp mặt bóng ma. Ranh giới rất khó để phân định và cũng không thể vội vã kết luận ngay rằng Đinh Hùng viết về bóng ma ở trạng thái nửa thực nửa ảo, bởi vì đôi lúc Đinh Hùng như thể đã từ bỏ cõi thực để đi vào cõi ảo:

“từ đây châu thổ không người

ta muốn xa chơi

những đường viễn xứ

ta khóc, ta cười

cho nguyệt cầu rơi

ta gọi hồn trời

trong hang cầm thú

than ôi, than ôi!

lòng ta man rợ

không còn xót thương

chết đi ta phá Thiên đường

kinh động trái tim Thần nữ”

(“Màu sương linh giác”)

“nghìn năm chưa thoát cơn mê hoảng

ta thác sinh vào ngọn hải đăng

hỏi bao hòn đảo vừa ly tán

trần tục là đâu? hỡi đất bằng!”

(“Thoát duyên trần cấu”)

Vậy là thói quen tinh thần khi đắm chìm với tự nhiên đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma. Trong đời sống tôn giáo tâm linh, trải nghiệm cận tử là quan trọng nhất của các bậc thầy và đời sống sau khi chết chính là đời sống thực của linh hồn. Trải nghiệm cận tử đưa linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và một vài trường hợp cận tử được ghi lại bởi báo chí phương Tây. Trong trạng thái cận tử, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn. Thỉnh thoảng, trong trạng thái mơ màng, con người bị rơi vào trải nghiệm cận tử và thấy những linh hồn lạ hoặc những linh hồn người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác.(7) Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ luôn tìm đến trải nghiệm cận tử trong thời trai trẻ của mình, không phải bằng thiền hay các biện pháp tâm linh, mà là ma túy. Bởi thế, trong thơ ông cũng như thơ của người bạn thân Vũ Hoàng Chương của ông, mỗi khi có trải nghiệm cận tử lại thoảng màu sương khói, mây mù:

“Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu

Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

(“Gửi người dưới mộ”)

này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt

cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

(“Tìm bóng tử thần”)

ta hằng nghe rõ

tiếng buồn trong sương

hằng thấy trên tường

hình ma bóng nhớ

chỗ em ngồi cũ

lên màu khói hương

(“Màu sương linh giác”)

qua xứ ma sầu, ta mất trí

thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền

trời ơi! trời ơi! làn tử khí

lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

(“Cầu hồn”)

Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

“đôi ta vào hội oan hồn

âm dương tái hợp –

ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ

nguyệt hoa mặc áo huyền vi

màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình

tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh

đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!

đừng cho thể chất phục hồi

đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

(“Cầu hồn”)

Người tình đã khuất của Đinh Hùng chỉ đóng vai trò như một bóng ma hiện về trong trải nghiệm cận tử của ông. Nếu ta cho rằng cái chết của người con gái ấy đã ám ảnh toàn bộ “Mê hồn ca” thì ta sẽ giải thích như thế nào về những biểu tượng thơ không vướng chút màu sắc ái tình hiện hữu trong thơ Đinh Hùng? Một sự tưởng tượng biến thể từ nỗi nhớ nhung ư? Nếu chỉ đơn giản vậy, Đinh Hùng đâu cần phải làm một chuyến hành trình vào cõi chết để tìm người yêu như chàng Orpheus? Orpheus vào được cõi chết và thuyết phục được thần Hades bởi vì anh ta có một nửa dòng máu thần thánh, tức là một nửa thuộc về cõi âm, thuộc về thế giới kỳ vĩ của tự nhiên. Chi tiết Orpheus xuống âm phủ chỉ là một yếu tố bẩm sinh mà vị bán thần này sở hữu.

Đến phần “Mê hồn”, những bóng ma không còn phảng phất hình bóng của người con gái đã khuất ấy nữa. Những bóng ma ấy đến từ quá khứ nghìn xưa, từ một dĩ vãng xa xôi nào đó. Giống như nhiều nghệ sĩ phương Đông khác, Đinh Hùng có vẻ tin vào thuyết luân hồi. Giống với Huy Cận trong “Lửa thiêng”, ông cảm nhận sâu sắc được cái gọi là “thiên cổ sầu” (8). Nhưng “Thiên cổ sầu” trong thơ Đinh Hùng lại có một màu sắc mãnh liệt hơn với sự dấn thân trải nghiệm táo bạo. Phản ánh trải nghiệm ấy thoang thoảng trong bài thơ “Sông núi giao thần” với tư cách của một người ngoài cuộc chứng kiến:

“hưng vong Vạn Lý thành sầu

trăng ơi! đừng bỏ mái lầu nhân gian

ta chờ thiên địa giao hoan

nhập thần cây cỏ muôn vàn kiếp sau”

rồi dấn sâu hơn trong “Lạc hồn ca” nhưng vẫn chưa dứt duyên nợ với cõi trần:

“hãy thoát thân đi, đuổi bắt hình

hồn ơi, đừng lạc xứ U Minh

ai tìm ta đó trong đêm loạn

có gặp thơ về, nhạc hiển linh?

ta gọi thiên tai, cười mệnh số

đây lời hoan lạc viết nên kinh

đời anh hoa trước nghe thần mộng

còn giữ nguyên trang sách diễm tình”

và cuối cùng hoàn toàn đắm đuối trong bài thơ “Mê hồn ca”. “Mê hồn ca” là bài thơ được lấy tên để đặt cho cả tập thơ. Bởi vậy, có thể xem như “Mê hồn ca” là đích đến của một giai đoạn thơ, của một cuộc thử nghiệm cảm giác cận tử ở Đinh Hùng. Càng đi sâu vào cõi ảo, cõi huyền diệu hay cõi giới tinh thần, thi sĩ càng gặp những bóng ma cổ xưa với những khung cảnh cổ xưa:

“ta lạc hồn giữa lâu đài kỳ dị

suốt muôn đời không hiểu dẫy hành lang

dưới hiên tây từng thế kỷ điêu tàn

gạch ngói cũ nghe hoa thềm rụng cánh

ngày tê tái đợi luân hồi về cạnh

giữa ân tình đứng lặng tượng giai nhân

dáng thiên thu khêu gợi một đêm Tần

lạc âm cung ngẩn ngơ hồn lệ quỷ

ta nằm trong di tích cuộc tang thương

khóc thâu đêm cho thấy lại thiên đường

thuở hưng phục – ôi! cõi lòng hoang phế!

hồn hỡi hồn! xưa chết chìm dưới bể

hãy vùng lên, cười một tiếng bi ai

máu ta say không chảy thoát hình hài

hằng kinh động chốn ăn nằm vĩnh viễn”

Những bóng ma hay những ảo ảnh cổ xưa ấy chính là quá khứ xa xôi từ tiền kiếp. Tiền kiếp hiện lên sống động, tràn ngập cảm xúc bi tráng:

“chiều mù sương lẫn trong tiền kiếp lạ

mỗi năm tàn ước vọng một bông hoa

Diệu Hương em!

trăng xuân rụng, nguyệt thu già

đây thể chất lạc loài đi nức nở

ôi hư vô! đừng gọi lòng ta nữa

ta phá tan hư ảnh, lại điên cuồng

mộng hoàng vương đâu? hỡi mộng hoàng vương!

đêm phản trắc đầy chiêm bao lưu huyết

ta đang nghe Thành Lạc Hồn kiến thiết”

Nhưng Đinh Hùng không chấp nhận là một kẻ chứng kiến tiền kiếp. Ông lao vào tiền kiếp bằng chính phần tinh thần trong kiếp sống của ông, để một lần nữa được sống lại quãng đời huy hoàng ấy, để gợi nhắc lại phần hồn rực rỡ đã mất đi bởi cõi đời chật hẹp của những năm đầu thế kỷ 20. Và lần này ông lại “chiêu hồn”, nhưng không phải chiêu hồn người con gái đã khuất mà là đánh thức con người kỳ vĩ trong bản thân ông và có lẽ cả những “phế vương” tình cờ đọc thơ ông:

“buổi chiều đến, sầu lên Kim Tự Tháp

bóng ta đi hoài cảm góc trời này

từ cố đô, hồn lạc xứ về đây

bao hài cốt nổi trôi bờ biển khác

thủy triều xuống, hiện lên toà Vân Các

chúng ta cùng sống lại – Phế Vương ôi!”

Lời “chiêu hồn” hay sự đánh thức những linh hồn kỳ vĩ này được nhắc lại trong bài thơ “Thần tụng”. Những người không hiểu, đọc bài “Thần tụng” hẳn sẽ thấy vừa rợn rợn vừa điên rồ. Nhưng nếu nhận thức được trải nghiệm tiền kiếp của Đinh Hùng, người đọc sẽ không còn thấy sợ nữa mà chỉ thấy bi thương cho một “phế vương” đơn độc giữa thời đại của những con người “vong bản”:

“hồn nhốt trí phù sinh vào hũ

hồn khép tay thế sự trong vò

gào to một tiếng: ô hô!

của ai này những cơ đồ không tên!

hồn hỡi hồn!

có hồn đây đảo điên vũ trụ

có hồn đây nghiêng ngửa giang san

vắng hồn lạnh lẽo nhân gian

say đâu nước biển, suối ngàn mà say”

Đương nhiên, lời đánh thức các linh hồn kỳ vĩ này khó lọt tai người thường, nhất là ở những năm đầu của thế kỷ 20 tại Việt Nam. Từ sau Cách mạng tư sản Pháp 1789, thế giới chứng kiến sự đi xuống của giới quý tộc hoàng gia cả ở phương Đông và phương Tây, thay vào đó là các cuộc Cách mạng công nghiệp, Cách mạng nhân quyền, Cách mạng của người vô sản. Trong một xã hội bình đẳng kiểu cào bằng với sự phổ cập hóa của mọi giá trị, những linh hồn kỳ vĩ với sự xuất chúng mà Đinh Hùng gọi là “Phế vương” (trong “Mê hồn ca”), hay “tài hoa”, “mấy lòng vương giả bơ vơ”, “tinh anh”, “đãng tử”… (trong “Thần tụng”) trở thành những linh hồn tội lỗi, những kẻ thất thế, thành người rừng “man rợ”… Và nhà thơ trở thành một kẻ hoang tưởng, cần phải bị lãng quên, bị phê phán, bị vứt bỏ. Nhưng những linh hồn kỳ vĩ ấy lại chính là trọn vẹn của linh hồn, một ẩn dụ tượng trưng cho những nét đẹp ban sơ nhất của tinh thần, cho sự nguyên vẹn tròn đầy của siêu thức. Như đã nói ở trên, Đinh Hùng viết thơ với tâm thức thần thoại, nên ông cho rằng sự toàn thiện của linh hồn gắn với hình ảnh vị vua. Ở thời bộ lạc, vị vua hay tộc trưởng đóng vai trò như người liên lạc với thế giới các vị thần. Trong thần thoại Hy Lạp, vua của một thành bang thường có dòng máu thần thánh, họ là những vị bán thần vượt trội hơn người trần đoản mệnh. Quan điểm của Nho giáo cũng cho rằng vua là “thiên tử, gánh vác sứ mệnh của các vị thần để cai trị con dân. Ở Ấn Độ có bộ môn Raja Yoga chuyên luyện tập tâm thức, trong đó “Raja” có nghĩa là “hoàng gia”, với ngụ ý rằng: người sống bằng ý thức linh hồn chính là vị vua của chính mình. Bởi thế, biểu tượng vị vua xuất hiện nhiều lần trong thơ Đinh Hùng chính là thể hiện cho phần tinh thần mà những con người “vong bản” đã vứt bỏ trong cuộc sinh tồn.

Tập thơ “Mê hồn ca” ra đời vào năm 1954, trước hiệp định Geneva. Lúc này, chẳng mấy ai còn quan tâm đến thơ ca nữa và cũng chẳng mấy ai có nhu cầu trải nghiệm tinh thần nữa. Thế giới lúc này vẫn đang trong cơn tao loạn triền miên và tiếp tục chuỗi tan vỡ kéo dài từ cuối thế kỷ 18. Những cảm nhận về thời đại dù không được nói rõ nhưng luôn hiện diện trong tập thơ của ông:

“ngủ một giấc đời nhuộm màu kim cổ

ta mỉm cười nên thế sự suy vong

mau vùng lên giữ lại Thái Dương hồng

trời lâm nạn, thôi! hành tinh tan vỡ!

hồn lệ sầu rơi!

đâu những vùng trời

không làm thương nhớ?

ta dẫn lối về đây đoàn ca vũ

tự bốn mùa địa ngục vắng âm thanh

chúng ta khóc như một bầy thú dữ

lòng dã man nghe trái đất tan tành”

(“Mê hồn ca”)

chiều Thăng Long sầu xuống bâng khuâng, cửa Đế Thánh bỏ ngỏ, hằng gợi khí đời lạnh sương bay

hồn Do Thái gió lên bát ngát, niềm tâm ý đi xa, luống ngại lúc trời thanh sao mọc

nhân thế bỏ hoài nhân thế; ồ! bao phen dâu bể ngậm ngùi giấc mộng Châu Dương, ai đến đó xin bày riêng Ngự Uyển, còn khi liễu ủ đào phai

hồng nhan để mặc hồng nhan; ôi! những trận cuồng phong tan tác cành hoa Thục Nữ, ta về đây thử đốt hết A Phòng, này lúc thành say lửa bốc

(“Thần tụng”)

“ta say ánh lửa tinh cầu

dựng lên địa chấn, loạn mầu huyền không

trận cười tan hợp núi sông

cơn mê kỳ thú lạ lùng cỏ hoa

hý trường đổi lớp phong ba

mượn tay nguỵ tạo xoá nhoà biển dâu”

(Sông núi giao thần”)

Qua những câu thơ ấy, không phải Đinh Hùng không hiểu về thời thế, không phải không biết về các biến chuyển của thời đại. Nhưng ông không xuôi theo thời đại ấy, ông không viết các bài thơ Cách mạng, không lao vào các cuộc thử nghiệm thủ pháp thơ ca, ông dường như coi thơ là một sứ mệnh, một phương thức để giao tiếp với thế giới bên kia, một phép màu để đánh thức những con người “vong bản” quay trở về với trạng thái toàn thiện ban sơ của mình, một “thị phạm ma thuật” để đánh thức những giá trị tinh thần kỳ vĩ hồi sinh trong thế giới con người.

Tôi không đọc Đinh Hùng bằng con mắt của nhà phê bình hay nghiên cứu văn chương, e rằng ông không kỳ vọng điều ấy ở độc giả. Tôi đọc Đinh Hùng qua những trải nghiệm tinh thần của mình và tôi nhận thấy những sự tương đồng trong các ám ảnh của tôi và con người thơ của ông trong “Mê hồn ca”. Bởi thế, tôi không có nhu cầu mổ xẻ các thủ pháp nghệ thuật trong thơ ông, bởi điều ấy là không cần thiết nếu ta thực sự vứt bỏ cõi thực để bước vào thế giới thơ hư ảo của ông. Vì vậy, nếu tôi viết về thơ Đinh Hùng bằng những nguyên tắc của phê bình hay nghiên cứu thì tôi đã phản bội lại chính mình, tôi đẩy bản thân mình vào tình trạng “vong bản”. Một khi bạn đã chấp nhận “vong bản” một lần, bạn sẽ trượt dài trong chuỗi “vong bản” của đời mình. Thế nên, tôi đã quyết định viết về Đinh Hùng theo cái nhìn của cá nhân tôi, dù rằng nó có thể khiến người khác nhìn về tôi như một kẻ hoang tưởng. Nhưng, một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình.

“Mê hồn ca” trên hệ thống tuyển chọn sách Hang Cáo: http://www.hangcao.info/san-pham/me-hon-ca/

Chú thích:

(1) Đặng Tiến viết “Thi giới Đinh Hùng” sau khi Đinh Hùng qua đời. Ông không chỉ viết về “Mê hồn ca” mà viết về rất nhiều bài thơ khác của Đinh Hùng. Nhị Linh cho rằng Đặng Tiến là “người được chọn” để viết về Đinh Hùng bởi vì ông không gói gọn thi giới của Đinh Hùng trong “Mê hồn ca”. Nhưng “Mê hồn ca” lại là những bài thơ tinh túy nhất của Đinh Hùng, nên theo tôi, nếu không thể giải mã kỹ lưỡng “Mê hồn ca” thì cũng không thể hiểu được những bài thơ khác của ông. http://bookhunterclub.com/thi-gioi-dinh-hung/

(2) Trích “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du.

(3) Bài viết “Thơ Đinh Hùng: hai thế giới” của Nhị Linh khẳng định rằng thơ Đinh Hùng “quyến rũ theo lối mị” và bàn nhiều về nỗi sợ của người khác đối với thơ Đinh Hùng. Bài viết có rất nhiều tư liệu hay nhưng việc sử dụng chúng để giải mã thơ Đinh Hùng không giúp chúng ta cảm và hiểu thơ ông tốt hơn. http://nhilinhblog.blogspot.com/2015...-the-gioi.html

(4) Trích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ.

(5) Bài viết “Đinh Hùng người kiến trúc chiêm bao” của Đỗ Lai Thúy trong tập tiểu luận “Mắt thơ – Phê bình phong cách Thơ Mới” tập trung vào giải mã các biểu tượng thơ của Đinh Hùng mà lý giải thơ ông như những nhà thơ khác thuộc trường phái tượng trưng.

(6) Trích “Walden – Một mình sống trong rừng” của Henry David Thoreau. Bản dịch của Tiết Hùng Thái.

(7) “Krishnamurti tinh yếu” do Nguyễn Ước biên soạn.

(8) Cụm từ “thiên cổ sầu” được sử dụng trong bài “Ê chề” của Huy Cận: “Một chiếc linh hồn ngọc/Mang mang thiên cổ sầu”.


Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 12:02 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.