VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-06-2006 , 10:01 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Duy Ngã độc tôn

HỎI:

Tìm hiểu về "tuyên ngôn” Phật đản sanh, chúng tôi thấy đồng nhất nơi hai câu đầu: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Tuy nhiên, còn hai câu sau của bài kệ này thì mỗi người dẫn một khác, đơn cử như: "Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” hay "Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ”. Xin cho biết câu nào thực sự chính xác nhất.

ĐÁP:

Nói về bài kệ Đản sanh, tức “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” có khá nhiều chi tiết cần phải bàn, vì các tư liệu ghi chép lại không đồng nhất. Ngày nay, tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, mặc nhiên được xem là Phật ngôn phổ biến, thông dụng nhất. Thực tế cho thấy, khi nói về “tuyên ngôn” Phật đản sanh hay trên các lễ đài Phật đản đều dùng “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.

Thế nhưng, tra cứu Kinh tạng, chúng tôi thấy hầu hết trong các kinh điển Hán tạng rất ít (hoặc không) dùng “duy ngã độc tôn” mà chủ yếu là “duy ngã vi tôn”. Đơn cử như: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” ( Đại Chính, Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả” (Đại Chính, Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi) v.v…

Cũng trong Đại Chính, “Duy ngã độc tôn” lại được tìm thấy trong sử truyện như Phật Tổ Thống Kỷ (q34), Đại Đường Tây Vực Ký (q6) và Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (q22)… Ngay cả Phật Quang đại từ điển, mục “Duy ngã độc tôn” cho rằng được dẫn trong kinh Trường A Hàm, nhưng thực tế kinh này chủ yếu nói “duy ngã vi tôn”. Đành rằng “duy ngã độc tôn” và “duy ngã vi tôn” về ý nghĩa không mấy khác nhau, song cụm từ “duy ngã độc tôn” mà chúng ta dùng phổ biến hiện nay có thể ảnh hưởng từ tinh thần của sử truyện như đã dẫn.

Hai câu kệ đầu đã có đôi chút khác biệt, hai câu kệ kế tiếp lại càng dị biệt hơn khi đối chiếu giữa các kinh văn. Theo Đại Chính, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, hà giả hà lạc” (Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, ngô đương an chi” (Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn, đoạn sanh tử khổ, tam giới vô thượng…” (Kinh Phổ Diệu); “Ngã ư nhất thiết nhân thiên chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, q1); “Thế gian chi trung, ngã vi tối thượng, ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” (Kinh Phật Bản Hạnh Tập, q8) v.v và v.v…

Như vậy, hai câu cuối của bài kệ Đản sanh có vô vàn sự khác biệt về văn tự, nội dung và ý nghĩa. Sự phong phú này (như đã dẫn) nhằm tôn vinh, ca ngợi sự hy hữu, thù thắng của sự kiện Phật đản sanh. Do đó, khi trích dẫn bài kệ Đản sanh, theo chúng tôi, tùy theo mỗi kinh văn mà chúng ta có một bài kệ khác nhau, bài kệ nào cũng đúng cả (nếu trích dẫn chính xác). Ngoài ra không có một bài kệ nào thuộc loại “chính xác nhất” như các bạn đã nêu.

www.Chuyenphapluan.com

Last edited by NonregisterC; 01-23-2012 at 02:10 PM.. Reason: Phật Phát Vấn đáp...
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-06-2006 , 09:27 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI: Xin cho con biết xuất xứ của giáo lý Tứ y (y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh), ý nghĩa và phương thức ứng dụng của giáo lý này trong tu tập.
ĐÁP:

Giáo lý Tứ y, gọi đầy đủ là Tứ y và tứ bất y, tức bốn điều nên và không nên y cứ, nương tựa. Đây là pháp phương tiện thù thắng theo quan điểm Phật giáo Bắc truyền, với mục đích giúp người tu quyết trạch rõ biết pháp nào nên hoặc không nên nương tựa, nhằm thành tựu giải thoát, giác ngộ.

Tứ y bao gồm: Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh. Các kinh luận Hán tạng đề cập đến Tứ y gồm: Đại Bát Niết Bàn kinh, q.6; Đại Phương Đẳng Đại Tập kinh, q.29; Đại Phương Tiện Phật Báo Ân kinh, q.7; Đại Trí Độ luận, q.9 v.v… (Thích Minh Cảnh, Từ điển Phật học Huệ Quang, tr.4904). Về bản Việt dịch, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, tập 1, Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, phẩm VIII, Tứ y, NXB Tôn Giáo ấn hành, 2003, trang 186; giáo lý Tứ y được trình bày chi tiết và cụ thể.

Y pháp bất y nhân, nghĩa đen là y theo giáo pháp, chẳng y theo theo người. Theo cách giải thích thông thường, Phật pháp là chân lý, quý giá và khó gặp, vì thế không nên đối chiếu, tỵ hiềm nơi tư cách người nói pháp để rồi bỏ lỡ cơ hội nghe pháp, tự thân mất sự lợi lạc. Cứ y theo giáo pháp của Phật mà tu hành, người nói ra giáo pháp ấy tốt hay xấu không quan trọng. Tuy nhiên, kinh Đại Bát Niết Bàn (Sđd, tr.209) nói cụ thể hơn về vấn đề này, y pháp bất y nhân có nghĩa là y chỉ vào Pháp tánh tức Phật tánh, Như Lai vì pháp tánh thường trụ, không y chỉ vào người (nhân) vì là hữu vi tức vô thường, sanh diệt.

Y nghĩa bất y ngữ, tạm dịch là y theo nghĩa lý, không y theo ngôn ngữ văn tự. Phật thuyết pháp với ý nghĩa sâu xa nhằm biểu đạt và thể nhập chân lý. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ diễn đạt Trung đạo đệ nhất nghĩa, giúp người tu nhận ra chân lý để hành trì và thân chứng, bởi thế không nên bám víu và quá cố chấp vào văn tự, vì “ngôn dĩ tải đạo” mà thôi.

Y trí bất y thức, nghĩa là y theo trí tuệ, không y theo vọng thức phân biệt. Chỉ có trí tuệ mới nhận chân được chân lý, thực tại còn vọng thức là thấy biết theo nghiệp, có tính tương đối và đa phần sai lầm. Chỉ có trí tuệ mới đầy đủ công năng quét sạch phiền não, thanh tịnh ba nghiệp. Còn thức dẫu thông minh, nhạy bén và lanh lợi đến đâu đi nữa cũng là sanh diệt, hư vọng và không đủ sức giác quán để chuyển hóa, diệt trừ phiền não. Vì vậy, “duy tuệ thị nghiệp” chính là phương châm tu học của hàng đệ tử Phật.

Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh, có nghĩa là y theo các kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo các kinh điển không liễu nghĩa. Theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, kinh điển được Phật tuyên thuyết tùy căn cơ chúng sanh nên có cao thấp, khác biệt. Dù mục tiêu cứu cánh vẫn là giải thoát sanh tử, song trên tinh thần phương tiện thì những kinh điển thuyết minh về con đường thể nhập Nhân thừa, Thiên thừa v.v… được gọi là kinh bất liễu nghĩa (chưa nói hết ý nghĩa thâm diệu, toàn triệt của giáo pháp). Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị giải thoát viên mãn (Phật quả) là kinh liễu nghĩa. Người tu hướng về Vô thượng Bồ đề, tất nhiên phải y cứ vào kinh liễu nghĩa để hành trì nhằm thành tựu giác ngộ rốt ráo, thành Phật.

Việc ứng dụng giáo lý Tứ y vào trong thực tiễn tu tập cực kỳ quan trọng. Chính giáo lý Tứ y đã vạch ra những yếu tố quan trọng cần phải nương tựa, y theo và những vấn đề không nên y cứ, nhằm vượt qua hết thảy chướng ngại để thành tựu Phật quả. Mặt khác, giáo lý Tứ y là một phương tiện thù thắng giúp cho người tu vận dụng giáo pháp một cách thông minh, linh động và nhuần nhuyễn đồng thời khai thác hết những tinh túy, đặc sắc của giáo lý để ứng dụng tu tập. Giáo lý Tứ y cũng chỉ là một phương tiện trong vô vàn phương tiện khác của giáo pháp, vì thế khi ứng dụng giáo lý Tứ y cũng cần sự linh hoạt, nhất là cần phải hiểu một cách chính xác (y nghĩa bất y ngữ) vì “y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan”.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-07-2006 , 07:20 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
NỮ TÔN GIẢ KIỀU ĐÀM DI

HỎI: Xin cho biết lược sử của nữ Tôn giả Kiều Đàm Di? Chúng tôi có nghe chuyện năm trăm Thích nữ theo Kiều Đàm Di xuất gia cùng viên tịch một lần, điều đó có đúng không, làm thế nào để thực hiện điều ấy?

ĐÁP : Nữ Tôn giả Kiều Đàm Di là vị Tỳ kheo ni đầu tiên, bậc thượng thủ, lãnh đạo Ni đoàn thời Phật tại thế. Kiều Đàm Di hay Cù Đàm Di là tên tộc phiên âm của Gotami, tên đầy đủ theo Pàli ngữ Mahàpajàpati - Gotami, Hán ngữ phiên âm Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Hán dịch Đại Ai Đạo, Đại Sinh Chủ hoặc Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di là di mẫu của thái tử Tất Đạt Đa.

Nữ Tôn giả Kiều Đàm Di sinh trưởng tại Devadaha, nước Câu Ly (Koly), một nước nhỏ đối diện với Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), con của vua Thiện Giác (Suppa Buddha), em gái của hoàng hậu Ma Da (Mahà Mayà), cả hai chị em đều là vợ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana). Sau khi hạ sanh thái tử Tất Đạt Đa được bảy ngày, hoàng hậu Ma Da từ trần, Kiều Đàm Di trở thành di mẫu, trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng thái tử khôn lớn.

Đến tuổi trưởng thành, thái tử xuất gia, thành Phật và trong thời gian ấy Kiều Đàm Di vẫn ở hoàng cung Ca Tỳ La Vệ với vua Tịnh Phạn. Sau khi thành đạo khoảng ba năm, lần đầu tiên Thế Tôn quyết định trở về hoằng hóa tại cố hương đồng thời thăm viếng phụ thân và hoàng tộc. Trong lần này, Kiều Đàm Di được Thế Tôn giáo hóa, sau khi nghe thuyết pháp, chứng đắc Sơ quả Tu đà hoàn (Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, NXB Tôn Giáo, 2000, tr 288).

Lần thứ hai, năm năm sau ngày thành đạo, Thế Tôn trở về Ca Tỳ La Vệ để độ cho vua cha đang hấp hối. An táng vua cha xong, Thế Tôn ở lại quê nhà một thời gian ngắn rồi tiếp bước du phương hóa độ. Chính trong thời điểm này, tại vườn Nigrodha, Kiếu Đàm Đi đã xin phép Phật cho Người được thế phát xuất gia làm nữ Sa môn. Qua ba lần thưa thỉnh nhưng Thế Tôn không chấp nhận. Sau đó, Thế Tôn cùng Tăng chúng rời Kapilavatthu tiếp tục bộ hành đến Vesàli. Liền đó, Kiều Đàm Di cùng với năm trăm Thích nữ tự xuống tóc, đắp cà sa, đi chân trần cũng theo chân Phật bộ hành đến Vesàli. Tại Đại Lâm, ở những ngôi nhà có nóc nhọn, nơi Thế Tôn đang trú ngụ, Kiều Đàm Di và các Thích nữ đi đến, chân bị sưng, mình mẩy lấm lem bụi bặm, nước mắt đầy mặt, sầu muộn khóc than, đứng ngoài cửa chính. Nhờ Tôn giả Ananda can thiệp, Phật bằng lòng cho họ được xuất gia với điều kiện bắt buộc phải thọ trì Bát kỉnh pháp đến suốt đời. (Tăng Chi Bộ III, phẩm Gotami; Trung A Hàm II, kinh Cù Đàm Di).

Thế là từ đây, giáo đoàn Tỳ kheo ni được thành lập, do Kiều Đàm Di đứng đầu, tuân theo sự lãnh đạo của Thế Tôn cùng với sự trợ duyên của chư Tăng. Sau khi được xuất gia, Kiều Đàm Di đến yết kiến Phật, nghe Phật thuyết pháp rồi tinh cần tinh tấn tu tập chứng đắc quả vị A la hán với trí tuệ trực giác và phân tích. Năm trăm Tỳ kheo ni sau khi nghe Tôn giả Nandaka giáo giới, chứng được sáu thắng trí, hoàn toàn tự tại giải thoát. Nhờ tài tổ chức, huấn luyện khéo léo của Kiếu Đàm Di, Ni đoàn phát triển nhanh chóng và thực sự lớn mạnh. Nhiều Tỳ kheo ni chứng đắc quả vị A la hán, có uy tín trong quần chúng, được cư sĩ và dân chúng ca ngợi, ngưỡng mộ. Lúc Bậc Đạo sư ở tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), Thế Tôn xác nhận Kiều Đàm Di là nữ Tôn giả kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc giải thoát, Niết bàn (Tiểu Bộ kinh III, Trưởng Lão Ni Kệ).

Đến khi Thế Tôn ở Tỳ Xá Ly (Vesàli) tuyên bố không quá ba tháng sau sẽ nhập Niết bàn tại Ta La song thọ, xứ Câu Thi Na (Kusinara), Kiều Đàm Di nghĩ rằng: "Ta không kham nhẫn nhìn thấy Như Lai diệt độ, ta nên diệt độ trước". Nữ Tôn giả đã đến xin phép Phật nhập diệt trước và được chấp nhận. Sau khi Kiều Đàm Di công bố với Ni đoàn về quyết định nhập diệt của mình thì năm trăm vị Tỳ kheo ni cũng phát nguyện nhập diệt theo. Đích thân Thế Tôn một tay đưa nhục thân Kiều Đàm Di đến chỗ hỏa thiêu, lấy gỗ chiên đàn chất lên trên thân di mẫu, chủ trì lễ trà tỳ. Đồng thời sai người đem xá lợi của Kiều Đàm Di cùng năm trăm vị Tỳ kheo ni xây tháp phụng thờ (Tăng Nhất A Hàm III, phẩm Đại Ái Đạo nhập Niết bàn).

Đối với các vị Thánh A la hán thì chuyện sống hay chết đối với họ hoàn toàn tự chủ và tự tại. Vì thế, việc năm trăm vị nữ Thánh A la hán cùng phát nguyện nhập diệt một lần là chuyện bình thường.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-08-2006 , 08:58 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
DU NHẬP VÀ VIỆT DỊCH KINH PHÁP CÚ



HỎI: Xin cho biết quá trình du nhập và phiên dịch kinh Pháp Cú tại Việt Nam?

ĐÁP: Có thể nói Phật giáo Việt Nam (PGVN) được thừa hưởng, tu học theo cả hai truyền bản Pháp Cú Nam tông và Pháp Cú Bắc tông nhưng hiện nay truyền bản Pháp Cú Nam tông được dùng rộng rãi, phổ biến và rất thông dụng. Kinh Pháp Cú Nam tông (Dhammapada) thuộc Tiểu Bộ kinh (Khuddakanikàya), đứng thứ tự thứ 2 trong 15 tập của Tiểu Bộ, gồm 423 bài kệ. Kinh Pháp Cú Bắc tông bao gồm Pháp Cú kinh (Đại Chính, tập 4, 2 quyển), Pháp Cú Thí Dụ kinh (Đại Chính, tập 4, 4 quyển), Pháp Tập Yếu Tụng kinh (Đại Chính, tập 4, 4 quyển), Xuất Diệu kinh (Đại Chính, tập 4, 30 quyển).

Về quá trình du nhập kinh Pháp Cú vào Việt Nam và các công trình biên khảo kinh Pháp Cú, theo sử liệu hiện có và đặc biệt là công trình nghiên cứu của Lê Mạnh Thát trong Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, quyển 1, NXB TP.HCM, năm 2001 (từ tr.14 đến tr.24), liệt kê các tác phẩm đã được trước tác, dịch thuật, biên soạn… bao gồm chữ Hán và chữ Nôm của chư vị cổ đức tiền bối PGVN từ thế kỷ thứ II (Mâu Tử) cho đến đầu thế kỷ XX (Chân Đạo - Chính Thống) thì tuyệt nhiên không thấy kinh sách nào có tên Pháp Cú cả. Tuy nhiên, chắc chắn các bản kinh Pháp Cú Bắc tông được truyền vào Việt Nam chậm nhất vào thời Lý (1010-1225). Bởi đến năm 1036, "tại kinh sư hồi ấy đã có tới năm bản Đại tạng kinh cho các Tăng sĩ và các nhà học Phật nghiên cứu" (Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Văn Học, 1992, tr.235).

Do đặc điểm của PGVN trong gần 20 thế kỷ tụng đọc, nghiên cứu các kinh văn Hán tạng nguyên bản (như tiếng mẹ đẻ) nên không có việc chuyển ngữ. Trừ một số ít các công trình được viết bằng chữ Nôm ra, còn lại hầu hết kinh điển được tụng đọc bằng nguyên bản Hán ngữ với âm Hán Việt thậm chí vẫn còn phổ biến cho đến tận ngày nay. Dù chưa tìm thấy các sử liệu cụ thể về du nhập, nghiên cứu kinh Pháp Cú nhưng với nội dung phong phú, thiết thực, dễ hiểu, dễ tu và nhất là những tích truyện trong Pháp Cú rất sinh động, hấp dẫn, có tác dụng giáo dục cao nên chắc chắn trong quá khứ, chư Phật tử tiền bối của PGVN đã tụng đọc, nghiên cứu, ứng dụng tu học kinh Pháp Cú bằng Hán ngữ trong Đại tạng.

Cho đến hậu bán của thế kỷ XX, vào năm 1959, bản Việt dịch kinh Pháp Cú đầu tiên ra đời, do HT.Thích Thiện Siêu dịch từ Hán văn. Có điều, bản Hán văn được dùng để chuyển ra Việt ngữ lại là bản dịch từ Pali sang Hán của Pháp sư Liễu Tham, do đó nội dung không khác với bản Dhammapada của Tiểu Bộ kinh. Sau đó, HT. Thích Minh Châu dịch kinh Pháp Cú từ nguyên bản Pàli của Dhammapada. Gần đây, có khá nhiều công trình dịch thuật, biên tập về Pháp Cú như kinh Pháp Cú của Narada, do Phạm Kim Khánh dịch; Đọc Pháp Cú Nam tông, HT. Trí Quang biên tập v.v… Còn các kinh Pháp Cú Bắc tông có lẽ chúng ta sẽ được đọc, tụng bằng Việt ngữ khi công trình dịch thuật Đại tạng kinh Việt Nam hoàn tất.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-09-2006 , 09:24 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Đi chùa tăng phước

HỎI:

Con quy y Tam bảo và đi chùa đã gần 10 năm nay. Mấy năm trước, con đi chùa lễ Phật sám hối vào các ngày 14 và 30. Hai năm trở lại đây, tối nào con cũng đi tụng kinh. Anh bạn con cứ đổ thừa là do con đi chùa nên “khó làm ăn”, la rầy và cấm con không được đi chùa nữa. Mấy người bạn của con cũng nghe người ta nói như vậy nên hoang mang. Vậy con xin hỏi là đi chùa có liên quan đến công việc làm ăn không? Mong quý Thầy hoan hỷ giải thích để con và các bạn được yên tâm.

ĐÁP:

Là người Phật tử, ngoài công việc xã hội, gia đình thì tu học để trưởng dưỡng đạo tâm, tăng phần phước đức, trau dồi nhân cách và phát triển đạo đức là trách nhiệm quan trọng, cần phải thực thi trong đời sống hàng ngày. Trong một tháng, ít nhất người Phật tử phải đến chùa tu học vào hai ngày quan trọng giữa và cuối tháng (14, 30 âm lịch) để lễ Phật, sám hối tội lỗi, nghe pháp, bố thí, cúng dường v.v… Những Phật tử có điều kiện hơn, thì việc đến chùa tu học mỗi ngày là điều đáng quý, bởi không phải người con Phật nào cũng hội đủ phước duyên để làm được việc này.

Đối với vấn đề đi chùa tu học và công việc làm ăn, theo chúng con có liên quan mật thiết và vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh suy thoái đạo đức nghiêm trọng của một bộ phận xã hội, biểu hiện cụ thể như tham nhũng, tiêu cực, thực dụng, mại dâm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lừa đảo, gian tham v.v… mà các báo đài kịch liệt phê phán mỗi ngày thì việc tu dưỡng đạo đức cho cá nhân và xã hội là điều tối cần. Một người biết đến chùa tu học, tin nhân quả, sợ tội phước, biết bố thí sẻ chia… trong chừng mục nào đó là người có đạo đức và xã hội lúc nào cũng cần những con người có đạo đức như thế cả.

Vậy thì, vấn đề một người có đạo đức (nhờ tu học) khó làm ăn như quan niệm thiển cận của một số người cần phải xem xét, phê phán. Vì thấy cái lợi trước mắt mà quên đi cái tai hại về sau; vì quyền lợi của cá nhân mà bất chấp thiệt hại của xã hội v.v… chắc chắn không phải là cách nghĩ, cách làm của những người làm ăn chân chính, hiện đại. Theo Phật giáo, vạn sự vạn vật đều liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, lợi ích trước mắt phải gắn liền với lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân đồng thời phải gắn liền lợi ích của xã hội mới thực sự gọi là lợi ích và bền vững.

Mặt khác, quan niệm một người có đạo đức (Phật giáo) sẽ bị thui chột khả năng cạnh tranh, một yếu tố cực kỳ quan trọng trong làm ăn (do từ bi, bao dung, không tham…) lại càng sai lầm. Phật giáo chủ trương không đấu tranh, bạo động nhưng luôn khuyến khích đấu tranh nội tâm để diệt trừ xấu ác. Trong lãnh vực làm ăn, người Phật tử không đấu tranh, giành giật một cách khốc liệt, tạo ra sự nghiệt ngã kiểu “thương trường là chiến trường” nhưng sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh. Bởi cạnh tranh lành mạnh là đạo đức kinh doanh, phù hợp với quy luật thị trường. Cạnh tranh lành mạnh chính là động lực để phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ đời sống tốt hơn, đem lại lợi ích nhiều hơn cho cá nhân và xã hội. Vì thế, cạnh tranh lành mạnh là điều mà Phật tử được làm và nên làm.

Ngoài vấn đề đạo đức, tâm linh, tăng trưởng phước báo (một nhân duyên quan trọng trong làm ăn) thì đến chùa tu tập còn có tác dụng thư giãn, cân bằng, thoải mái tâm hồn, giải tỏa stress, sáng suốt và tỉnh táo giúp giải quyết và xử lý công việc làm ăn tốt hơn.

Như vậy, “đi chùa khó làm ăn” là một sự quy kết thiếu cơ sở đồng thời quan niệm cổ hủ, thiển cận, thực dụng này cần được khắc phục, thay thế bằng những quan niệm khác đạo đức, nhân bản, hiện đại và văn minh hơn. Tuy nhiên, có một vấn đề khác liên quan đến đi chùa và làm ăn, đó là thời gian. Nếu việc đi chùa mỗi ngày ảnh hưởng đến thời gian dành cho công việc làm ăn thì bạn nên xem xét và điều chỉnh sao cho phù hợp. Có nhiều pháp tu dành cho người bận rộn, một người đã biết tu thì thời gian không phải là vấn đề.

Ngoài ra, vấn đề “đi chùa khó làm ăn” theo chúng con được biết hiện là một luận điệu xuyên tạc nhằm làm lung lạc ý chí của những người mới phát tâm theo Phật. Vì vậy, các bạn phải cảnh giác trước những “tin vịt” vu vơ, không có cơ sở và cần nghiên cứu, học tập giáo lý để giữ vững niềm tin của mình.

Đi chùa tăng phước

HỎI:

Con quy y Tam bảo và đi chùa đã gần 10 năm nay. Mấy năm trước, con đi chùa lễ Phật sám hối vào các ngày 14 và 30. Hai năm trở lại đây, tối nào con cũng đi tụng kinh. Anh bạn con cứ đổ thừa là do con đi chùa nên “khó làm ăn”, la rầy và cấm con không được đi chùa nữa. Mấy người bạn của con cũng nghe người ta nói như vậy nên hoang mang. Vậy con xin hỏi là đi chùa có liên quan đến công việc làm ăn không? Mong quý Thầy hoan hỷ giải thích để con và các bạn được yên tâm.

ĐÁP:

Là người Phật tử, ngoài công việc xã hội, gia đình thì tu học để trưởng dưỡng đạo tâm, tăng phần phước đức, trau dồi nhân cách và phát triển đạo đức là trách nhiệm quan trọng, cần phải thực thi trong đời sống hàng ngày. Trong một tháng, ít nhất người Phật tử phải đến chùa tu học vào hai ngày quan trọng giữa và cuối tháng (14, 30 âm lịch) để lễ Phật, sám hối tội lỗi, nghe pháp, bố thí, cúng dường v.v… Những Phật tử có điều kiện hơn, thì việc đến chùa tu học mỗi ngày là điều đáng quý, bởi không phải người con Phật nào cũng hội đủ phước duyên để làm được việc này.

Đối với vấn đề đi chùa tu học và công việc làm ăn, theo chúng con có liên quan mật thiết và vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh suy thoái đạo đức nghiêm trọng của một bộ phận xã hội, biểu hiện cụ thể như tham nhũng, tiêu cực, thực dụng, mại dâm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lừa đảo, gian tham v.v… mà các báo đài kịch liệt phê phán mỗi ngày thì việc tu dưỡng đạo đức cho cá nhân và xã hội là điều tối cần. Một người biết đến chùa tu học, tin nhân quả, sợ tội phước, biết bố thí sẻ chia… trong chừng mục nào đó là người có đạo đức và xã hội lúc nào cũng cần những con người có đạo đức như thế cả.

Vậy thì, vấn đề một người có đạo đức (nhờ tu học) khó làm ăn như quan niệm thiển cận của một số người cần phải xem xét, phê phán. Vì thấy cái lợi trước mắt mà quên đi cái tai hại về sau; vì quyền lợi của cá nhân mà bất chấp thiệt hại của xã hội v.v… chắc chắn không phải là cách nghĩ, cách làm của những người làm ăn chân chính, hiện đại. Theo Phật giáo, vạn sự vạn vật đều liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, lợi ích trước mắt phải gắn liền với lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân đồng thời phải gắn liền lợi ích của xã hội mới thực sự gọi là lợi ích và bền vững.

Mặt khác, quan niệm một người có đạo đức (Phật giáo) sẽ bị thui chột khả năng cạnh tranh, một yếu tố cực kỳ quan trọng trong làm ăn (do từ bi, bao dung, không tham…) lại càng sai lầm. Phật giáo chủ trương không đấu tranh, bạo động nhưng luôn khuyến khích đấu tranh nội tâm để diệt trừ xấu ác. Trong lãnh vực làm ăn, người Phật tử không đấu tranh, giành giật một cách khốc liệt, tạo ra sự nghiệt ngã kiểu “thương trường là chiến trường” nhưng sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh. Bởi cạnh tranh lành mạnh là đạo đức kinh doanh, phù hợp với quy luật thị trường. Cạnh tranh lành mạnh chính là động lực để phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ đời sống tốt hơn, đem lại lợi ích nhiều hơn cho cá nhân và xã hội. Vì thế, cạnh tranh lành mạnh là điều mà Phật tử được làm và nên làm.

Ngoài vấn đề đạo đức, tâm linh, tăng trưởng phước báo (một nhân duyên quan trọng trong làm ăn) thì đến chùa tu tập còn có tác dụng thư giãn, cân bằng, thoải mái tâm hồn, giải tỏa stress, sáng suốt và tỉnh táo giúp giải quyết và xử lý công việc làm ăn tốt hơn.

Như vậy, “đi chùa khó làm ăn” là một sự quy kết thiếu cơ sở đồng thời quan niệm cổ hủ, thiển cận, thực dụng này cần được khắc phục, thay thế bằng những quan niệm khác đạo đức, nhân bản, hiện đại và văn minh hơn. Tuy nhiên, có một vấn đề khác liên quan đến đi chùa và làm ăn, đó là thời gian. Nếu việc đi chùa mỗi ngày ảnh hưởng đến thời gian dành cho công việc làm ăn thì bạn nên xem xét và điều chỉnh sao cho phù hợp. Có nhiều pháp tu dành cho người bận rộn, một người đã biết tu thì thời gian không phải là vấn đề.

Ngoài ra, vấn đề “đi chùa khó làm ăn” theo chúng con được biết hiện là một luận điệu xuyên tạc nhằm làm lung lạc ý chí của những người mới phát tâm theo Phật. Vì vậy, các bạn phải cảnh giác trước những “tin vịt” vu vơ, không có cơ sở và cần nghiên cứu, học tập giáo lý để giữ vững niềm tin của mình.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-12-2006 , 10:07 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI: Gần đây, xuất hiện một số kinh như Điạ Mẫu Chơn kinh, Táo Quân Chơn kinh… và được một số Phật tử tụng đọc. Kính hỏi những kinh này có phải Chánh pháp ở trong Tam tạng không? Làm sao để ngăn chặn việc lợi dụng hình Phật in trên các sách bói toán và các sản phẩm giải trí, tiêu dùng như hiện nay?



ĐÁP: Sau khi tìm hiểu nội dung đồng thời kết hợp tra cứu Phật giáo Đại Tạng Kinh Tuờng Tế Mục Lục (Đại Chính tân tu), chúng tôi có thể khẳng định những kinh như Địa Mẫu Chơn kinh, Táo Quân Chơn kinh không có trong Thánh điển Phật giáo. Đặc biệt là nội dung, các kinh này tuy có đề cập đến một vài khía cạnh đạo đức song chỉ dừng ở cấp độ tín ngưỡng vu vơ, siêu hình, hoàn toàn không mang "ba dấu ấn" của Chánh pháp.

Người Phật tử quy y Pháp rồi thì không quy y ngoại đạo, tà giáo. Do vậy, những kinh sách thuộc ngụy kinh, tà pháp như trên thì dứt khoát không nên đọc tụng. Chỉ trừ những người đã thâm hiểu Phật pháp hoặc những vị có trách nhiệm phải nghiên cứu, còn hàng Phật tử sơ cơ thì không nên lãng phí thời gian và nhất là không nên tụng đọc.

Hiện tại, Giáo hội PGVN kể cả các cơ quan hữu quan Nhà nước vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn việc lợi dụng hình Phật in trên các sách bói toán và các sản phẩm giải trí, tiêu dùng vì đa phần những sản phẩm ấy được sản xuất "chui", lợi dụng lòng tin Phật để trục lợi. Vì thế trước mắt, Phật tử chúng ta chỉ sử dụng những kinh sách và các sản phẩm hợp pháp, có giấy phép xuất bản, kinh doanh; có nhà xuất bản, cơ sở sản xuất rõ ràng, được Nhà nước và Giáo hội công nhận, cho phép.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-13-2006 , 09:17 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi & Đáp
Lý Việt Dũng

Hỏi:

Xin cho biết, trong Thiền tông, “Tổ sư Tây lai ý" là gì? Xin trưng tập một số câu hỏi đáp về Tổ sư Tây lai ý và gợi ý sơ lược.

Đáp:

“Tổ sư Tây lai ý” là một vấn đề rất thường thấy được thưa hỏi trong Thiền tịch. Vì Tổ sư Tây lai ý, tức diệu chỉ Thiền tông, là một vấn đề bất khả tư nghì, nghĩa là chúng ta không thể dùng phàm tình nắm bắt thánh ý, dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt chỉ ý chư Tổ, cho nên khi sưu tập một số câu hỏi đáp về Tổ sư Tây lai ý trong Thiền sử là để mong thấy được chỗ mật tàng của Thiền tông. Hỏi & Đáp

Các Thiền sư khi được hỏi về Tổ sư Tây lai ý không bao giờ trả lời thẳng mà mỗi người ví von một cách khác nhau. Khi trưng tập các câu vấn đáp này, chúng tôi cũng không có lời giải thích gì cả mà chỉ tạm gợi ý đôi điều trong việc nắm bắt thiền lý.

1- Tăng hỏi: “Thế nào là ý chỉ Tổ sư từ Tây lại? (Tổ sư Tây lai ý). Thai Thiền sư đáp: “Đêm qua trong chuồng mất một con trâu” (Gợi ý: Đêm qua trong chuồng mất trâu hay mất cái gì cũng được).

2- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Hòa thượng Triệu Châu Tùng Thẩm đáp: “Cây bá trước sân” (Cây bá hay cái gì cũng được, miễn là hiện tiền).

3- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Khánh Chư đáp: “Một phiến đá trên khoảng không”. (Hỏi Tây lai ý là lâm chuyện vô lý như nói hòn đá treo từng không).

Tăng nhân lạy kính, sư hỏi: “Lãnh hội chưa?”.

Tăng nhân đáp: “Chưa lãnh hội được”.

Sư nói: “May cho ngươi là chưa lãnh hội. Nếu lãnh hội, đá sẽ đập vỡ đầu ngươi” (Nếu vọng tưởng lãnh hội sẽ bị phiến đá trên không rơi xuống vỡ đầu!).

4- Lịnh Tôn tìm đến pháp đường của Thiền sư Thúy Vy hỏi: “Thế nào là ý nghĩa đích thực của Tổ sư Tây lai?”. Thúy Vi hồi đáp: “Đợi lúc không có người sẽ nói cho ngươi nghe”. Một lúc sau Lịnh Tôn lại nói: “Không có ai rồi, xin thiền sư nói đi”. Thúy Vy bước xuống thiền sàng dẫn Lịnh Tôn xem vườn hoa. Lịnh Tôn lại nói: “Không có ai cả, xin Hòa thượng nói đi chớ!”. Thúy Vy chỉ lùm trúc nói: “Cây trúc này sao lại dài thế, cây trúc kia sao lại ngắn thế”. Lịnh Tôn qua đó lãnh hội! (Chỉ lòng vòng, nói bâng quơ mãi ý khải thị là không thể nói được).

5- Ngày kia Thiền sư Trí Nhàn hỏi chúng Tăng rằng: “Có một người tại chốn non cao ngàn thước, miệng chỉ cắn được nhánh cây, chân không có gì để giẫm đạp, tay không có gì để bấu, thì bỗng có người hỏi chỉ ý của Tổ sư Tây lai là gì. Nếu mở miệng trả lời thí tán thân mất mạng, mà không trả lời thì phụ ý người hỏi. Lúc đó các ngươi tính thế nào?”. Khi ấy có vị Chiêu thủ tòa bước ra nói: “Lúc leo cây thì không hỏi làm chi, còn lúc chưa leo thì chỉ ý Tổ sư Tây lai là gì?”. Thiền sư cười bỏ qua.

6- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiên sư Động Sơn đáp: “Chờ khi nào nước khe trong động chảy ngược lên dốc sẽ nói cho ngươi nghe” (Tức không bao giờ nói).

7- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Cư Tuần đáp: “Chờ khi nào con rùa đá biết nói, ta sẽ nói cho ngươi nghe”. Tăng nói: “Rùa đá nói rồi đó!”. Thiền sư hỏi vặn: “Nó nói với ngươi chuyện gì vậy?” (Bướng bỉnh bị hỏi vặn đớ lưỡi).

8- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thuận Chi đưa cây xơ quất lên. Tăng lại hỏi: “Chỉ ý là vật đó à?”. Thiền sư hạ cây xơ quất xuống đất. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như giơ lên, hạ xuống).

9- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Diễn Giáo đáp: “Hôm nay, ngày mai”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như giờ là hôm nay, sau hôm nay là ngày mai).

10- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đáp: “Bình bát lớn đầy cơm, bình bát nhỏ đầy thức ăn”. Tăng nói: “Học nhân chưa hiểu”. Thiền sư nói: “Đói ăn, no nghỉ”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như đói thì ăn, no thì nằm nghỉ).

11- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Kim Sa đáp: “Hãy nghe đây!”. Tăng nói: “Đại chúng xin lắng tai chờ nghe”. Thiền sư nói: “Rời khỏi Tây lai ý 108 ngàn dặm rồi. (Lắng nghe là đã rời xa thiền lý ngàn vạn dặm rồi).

12- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Qui Bổn chồm lên chụp ông Tăng. Tăng mặt mày biến sắc. Thiền sư nói: “Ta nơi đây không có thứ đó”. (Ta nơi đây không mê chấp chỉ ý Tổ sư từ Tây lại).

13- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Quang Tuệ đáp: “Không lễ bái ngay, còn đợi chừng nào”. (Hỏi là đã lầm chấp, thiền sư nín lặng là đã khai thị vậy mà còn chưa lễ bái tạ ơn).

14- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tùng Chí đáp: “Bên cạnh vách tường có lỗ tai chuột”. (Hỏi vu vơ trả lời bá láp).

15- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thiện Tịnh đáp: “Trên vách vẽ cây tòng khô, loài ong bay đến không thấy nhụy hoa”. (Đừng vọng tưởng ý chỉ Tổ sư Tây lai như con ong tìm nhụy trên hoa về).

16- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Bảo Ứng đáp: “5 nam, 2 nữ”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường tự nhiên như năm ba nam, hai ba nữ).

17- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đạo Hy hỏi lảng: “Người từ đâu đến vậy?”. (Hỏi ý Tổ sư bị hỏi lại tắc nghẽn).

18- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đạo Uông đáp: “Con muỗi đậu trên lưng trâu sắt”. (Muỗi đậu lưng trâu sắt hút máu thế nào được, như Tổ sư Tây lai ý thì nói thế nào đây!).

19- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hưu Phục đáp: “Người nói xem, đất nước này có hay không?”. (Cần chi ý Tổ sư từ Tây lại. Diệu chỉ Thiền tông bàng bạc khắp mọi nơi).

20- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Cầu Thiền sư đáp: “Một tấc lông rùa nặng bảy cân”.

21- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Quang Tộ đáp: “Mắt không thể nhìn thấy mũi được”. (Mắt không thể nhìn thấy mũi như miệng không thể nói chỉ ý Tổ sư Tây lai được).

22- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Giới đáp: “Gánh không nổi”. Tăng lại hỏi: “Vì sao gánh không nổi?”. Sư đáp: “Tổ sư Tây lai ý”. (Hễ chấp thì chỉ ý Tổ sư nặng ngàn cân đâu gánh được).

23- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Minh đáp: “Thật sự lặn lội 18 ngàn dặm mà từ Tây Vực vẫn chưa qua đến Đông Độ”. (Nếu chấp ý Tổ sư thì có đi bao nhiêu ngàn dặm vẫn chưa từng đến Đông Độ).

24- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Văn Ích đáp: “Không Đông mà cũng không Tây”. (Ý Tổ sư Tây lai nào có Đông hay Tây).

25- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Viên đáp: “Đất nước Trung thổ này cũng chẳng thiếu chi!”. (Ở đâu cũng là ý Tổ sư từ Tây lại mà).

26- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tự Nguyên đáp: “Mua bán tiền mặt đây, không từng thiếu chịu đâu!”. (Ý Tổ sư từ Tây lại là thứ thiệt đấy).

27- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Chẩn đáp: “Nếm giấm biết vị chua, nếm muối biết vị mặn”. (Ý Tổ sư Tây lai tự nhiên giản dị như giấm thì chua, còn muối thì mặn).

28- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Huyền Tố đáp: “Tuy không lãnh hội, nhưng cũng không nghi hoặc”. Rồi sư lại nói tiếp: “Không muốn lãnh hội thì chẳng hoài nghi. Không chịu hoài nghi thì không lãnh hội”. (Có nghi mới lãnh hội).

29- Hai Thiền sư Thản Nhiên và Hoài Nhượng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ An đáp: “Sao không tự hỏi chỉ ý của chính mình”. (Tại sao không tin ở chính mình mà lo đi hỏi chỉ ý của kẻ khác).

30- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đáp: “Bánh vẽ”. (Tổ sư Tây lai ý như cái bánh vẽ không thể lót lòng).

31- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hy Thiên đáp: “Hãy hỏi cây lộ trụ trước chùa”. Tăng nói: “Học nhân đây không hiểu”. Sư nói: “Ta cũng không hiểu”. (Cứ hỏi cây lộ trụ, chứ ta không hiểu ý Tổ sư Tây lai).

32- Chấn Lãng hỏi Thiền sư Thạch Đầu: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thạch Đầu đáp: “Hãy hỏi cây lộ trụ”. Chấn Lãng đáp: “Học nhân không hiểu”. Thạch Đầu nói: “Ta cũng không hiểu đâu”. (Cũng như ý câu trên).

33- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đại Mai đáp: “Tây lai không có ý chỉ”. Thiền sư Diêm Quan nghe chuyện đó chê: “Mọi thây chết, khi liệm vào quan tài đều như nhau” (tức cá mè một lứa). (Người hỏi chấp có, Đại Mai chấp không).

34- Thiền sư Pháp Hội hỏi Mã Tổ Đạo Nhất: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Tổ đáp: “Hỏi nhỏ một chút. Hãy bước lại gần đây ta nói cho nghe”. Sư bèn bước lại gần, bị Tổ vả một bạt tai nói: “Nơi đây đông người không thể nói được, ngươi hãy tạm lui, mai trở lại đây”. Qua ngày hôm sau sư một mình vào pháp đường nói: “Xin Hòa thượng giảng giùm”. Tổ nói: “Hãy tạm lui đợi ta thượng đường thuyết pháp rồi đến hỏi, ta sẽ chứng minh cho”. Sư bỗng tỉnh ngộ nói: “Cám ơn đại sư đã chứng minh”. (Hẹn lần hẹn lữa ngầm ý khải thị không thể nói được).

35- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Hòa thượng Lợi Sơn đáp: “Không thấy như thế nào”. Tăng lại hỏi: “Tại sao lại như thế?”. Sư đáp: “Chỉ vì thế đó”. (Chỉ vì ý chỉ Tổ sư là như thế thôi).

36- Thiền sư Nhũ Nguyên thượng đường nói: “Ý nghĩa đích thật của Tổ sư Tây lai thật sự không khó nói. Trong đám học trò há không có ai nói được sao. Hãy bước ra nói thử coi”. Lúc bấy giờ có một học tăng bước ra lễ bái định nói, sư liền đánh mắng: “Là lúc nào đây mà lại ló đầu ra”. Nói xong quay về phương trượng. (Ló đầu ra là chấp vào ý Tổ sư Tây lai nên bị đánh mắng).

37- Sư Thủy Lạo đến tham yết Mã Tổ hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Tổ nói: “Hãy lễ bái cái đã”. Sư vừa cúi lạy, Mã Tổ nhắm ngay ngực sư cho một đạp té nhào. Sư liền đại ngộ, nhổm dậy xoa tay cười ha hả nói: “Thật lạ kỳ, thật lạ kỳ, trăm ngàn tam muội, biết bao diệu chỉ của Thiền tông chỉ nhờ nơi đầu mảy lông nhỏ xíu mà nhận thức được bổn lai nguyên”. (Ngộ rồi thì chỉ ý Tổ sư từ Tây lại biến khắp hà sa).

38- Ngưỡng Sơn hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Linh Hựu chỉ chiếc đèn lồng bảo: “Là chiếc đèn lồng”. Ngưỡng Sơn nói: “Có phải cái lồng đèn này là nó không?”. Linh Hựu hỏi: “Cái này là cái gì?”. Ngưỡng Sơn nói: “Chính là một cái đèn lồng”. Thiền sư Linh Hựu nói: “Quả nhiên là không thấy rồi”. (Hễ chấp là chưa thấy được ý chỉ Tổ sư).

39- Tăng hỏi: Nếu nói “Tự tâm tức Phật” thì Tổ sư Tây lai còn gì mà truyền thụ? Thiền sư Hy Vận đáp: “Tổ sư Tây lai duy truyền tâm Phật, trực chỉ tâm Phật, trực chỉ tâm các ngươi bổn lai vốn là Phật. Vì thấy được tâm, Phật và chúng sinh không khu biệt nên gọi là Tổ. Như trực triệt, liễu ngộ được tâm ấy thì tức khắc vượt khỏi tất cả mọi phẩm vị của tam thừa giáo pháp, bổn lai là Phật, mà không cần phải trải qua các giai đoạn tu hành mới đạt được”. (Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh là thành Phật cần chi để ý đến ý chỉ Tổ sư từ Tây lại).

40- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận liền quơ gậy đánh. Kiểu khai thị như thế này, sư đều dành tiếp dẫn học nhân có căn cơ thượng đẳng. Còn hạng trung và hạ đẳng thì không có cách nào nhìn thấu rõ cốt cách nó được. (Đánh là để đừng chấp vào ý Tổ sư).

41- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tịnh Không đáp: “Chừng nào có người té xuống giếng sâu ngàn thước mà không cần một tấc dây nào cũng đem y lên được thì lúc đó ta sẽ trả lời cho ngươi nghe về Tây lai ý”... (Không bao giờ nói được vậy). Góp nhặt và biên dịch từ “Trung Quốc Thiền tông Ngữ lục đại quan” của Viên Tân

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-20-2006 , 03:28 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi:

Nhờ giải thích nguyên nghĩa của các cách Tôn xưng "Hòa thượng", "Thượng tọa" và "Đại đức".

Đáp:

- Hòa thượng: có gốc từ Phạn ngữ: upadhyaya, Pàli: upajjhaya, tiếng Nhật là: osho; dịch âm Hán Việt là Ưu ba đà la; nguyên là cách gọi đối với các bậc tôn sư thân cận dìu dắt các Sa di hoặc Tỳ kheo, vì vậy cũng được gọi là Thân giáo sư hoặc Lực sinh. Trong thời gian đầu của Phật giáo tại Ấn Độ, người ta phân biệt hai vị thầy của một người mới nhập Tăng già, đó là Hòa thượng và A xà lê (hoặc Giáo thọ, Phạn ngữ: acarya). Hòa thượng là người dạy các đệ tử biết trì giới, thực hành nghi lễ, và vị Giáo thọ là người giảng Pháp, ý nghĩa của kinh sách. Vì thế mà danh từ Hòa thượng cũng đồng nghĩa với từ Luật sư hoặc Giới sư trong thời này.

Tại Đông và Nam Á, danh hiệu Hòa thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A xà lê. Muốn mang danh hiệu này, một vị Tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ)... và danh hiệu này được tấn phong trong một buổi lễ long trọng của Tăng già. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị Tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.

Danh hiệu "Đại Hòa thượng" cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến vị Lão sư (roshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được thêm danh hiệu (Đại Hòa thượng) phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm.

Tại Việt Nam ngày nay, "Hòa thượng" được xem là phẩm vị giáo phẩm cao nhất trong tổ chức Tăng già của GHPGVN, điều kiện tấn phong được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (đang ở giáo phẩm Thượng tọa, trên 60 tuổi đời và 40 tuổi đạo, có đạo hạnh, có công đức với đạo pháp và dân tộc...).

-Thượng tọa: có nguồn gốc Phạn ngữ: sthavira, Pàli: thera; là cách tôn xưng một vị Tăng cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Đức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lý căn bản của đạo Phật; 3. Nắm vững các phương pháp thiền định; 4. Người đã diệt ô nhiễm, phiền não và đạt giải thoát.

Danh hiệu Thượng tọa được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỷ kheo có danh tiếng, cao tuổi hạ.

Tại nước ta, phẩm vị "Thượng tọa" được xem là giáo phẩm sau "Hòa thượng", điều kiện để GHPGVN tấn phong cũng được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (Tăng sĩ từ 45 tuổi đời và 25 tuổi đạo trở lên, có công đức với đạo pháp và dân tộc...).

- Đại đức: là tôn hiệu chỉ cho những vị Tăng có đạo hạnh và trí tuệ. Ở nước ta ngày nay, Đại đức chỉ cho những vị Tăng đã thọ giới Tỳ kheo.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-22-2006 , 03:26 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Kinh Thiên Địa Bát Dương không thuộc hệ thống Kinh Tạng

HỎI:

Tôi đọc kinh Thiên Địa Bát Dương nhận thấy nội dung kinh có rất nhiều vấn đề sai lạc so với quan điểm Phật giáo. Tuy nhiên, kinh này được ghi nhận là do Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập, đời Dao Tần dịch và hiện lưu hành rộng rãi bằng kinh sách và băng đĩa, thậm chí một trang web kinh điển Phật giáo cũng đăng tải kinh này. Tôi kính nhờ quý Báo xác định kinh này có phải là kinh điển Phật giáo không? Nếu không thì phân tích những chỗ sai lạc với quan điểm Chánh pháp để những người mới học Phật không bị nhầm lẫn.

ĐÁP:

Sau khi tra cứu mục lục Đại tạng kinh Hán tạng (Phật giáo Đại tạng kinh tường tế mục lục), chúng tôi không tìm thấy kinh Thiên Địa Bát Dương (TĐBD). Mặt khác, kinh này được ghi nhận là do Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập, đời Dao Tần dịch, nếu đúng thì cố nhiên kinh này có nguồn gốc Phạn bản và nội dung phải mang dấu ấn văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là phải đầy đủ ba dấu ấn Chánh pháp (vô thường-khổ-vô ngã) mới đích xác là kinh điển Phật giáo. Tuy nhiên, nội dung kinh TĐBD lại mang đậm nét tư tưởng và văn hóa Trung Hoa, nhất là quan niệm lý số, phong thủy, âm dương ngũ hành… dù có xen lẫn đôi chút tư tưởng Phật giáo.

Ngay trong phẩm thứ nhì, Khai bày chánh kiến, kinh TĐBD đã dùng phương pháp chiết tự để luận giải chữ Nhân: “Nhân là Chân, là làm con người phải có Chân tâm, không tưởng quấy, thân này thi hành mỗi việc đều chánh trực. Cho nên, chiết tự chữ Nhân đó coi, thì chữ Phúc bên trái gọi là Chân, còn chữ Vệ bên phải kêu là Chánh, mình thường làm việc Chánh-Chân nên gọi là chữ Nhân”. Với cách giải thích về chữ Nhân bằng chiết tự như thế, chỉ có chữ Hán mới làm được và điều này không thể có trong các văn bản chữ Phạn. Rõ ràng, gán ghép điều này với ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh TĐBD từ Phạn bản là điều hết sức khiên cưỡng.

Cũng trong phẩm thứ nhì này, kinh TĐBD nói: “Phàm người thiện nam, tín nữ nào muốn dựng nhà cửa… hoặc rủi nhằm phương Nhật du, Nguyệt sát, tướng quân Thái tuế, cùng sao Huỳnh phan, sao Bát dĩ, Ngũ thổ địa kỳ, Thanh long bạch hổ hoặc phương Chu tước Huyền võ, Lục giáp cấm kỵ mười hai chi, mười can…” hoặc “ông Nhân Vương Bồ tát, tâm từ quảng đại… làm ra lịch số… có trực bình, trực mãn, trực thâu, trực khai, trực trừ…” (phẩm thứ ba, Vấn đề chánh đạo, sanh tử, tẩn táng) hay là: “Người đời muốn kết nghĩa hôn nhơn… phải coi trong bộ sách Lộc mạng… lấy đó kết làm quyến thuộc” (Phẩm thứ tư, Thế đề cưới gả), đây hoàn toàn là dịch lý, phong thủy và số mạng của Trung Hoa. Những điều này chẳng những không đúng với kinh điển Phật giáo mà còn xa lạ với văn hóa Ấn Độ, do vậy dễ dàng nhận ra kinh này là sản phẩm văn hóa của Trung Hoa.

Điều đáng lưu tâm là “tư tưởng Phật học” của kinh này. Phẩm thứ năm, Nói về tên kinh Bát Dương, giải thích tên kinh như sau: “Chữ Bát nghĩa là phân biệt rành vậy, chữ Dương nghĩa là giải tỏ cái lý Đại thừa làm Phật và rõ đặng phân rành nhơn duyên tám thức kia… Phật nói tám cái thức đó nghĩa là bề ngang, chữ Dương nghĩa là bề dọc, ngang dọc phù hiệp nhau thành ra bộ kinh giáo, nên gọi là Bát Dương”. Nhất là giải thích về đặc tính của thức A lại da: “Cái thức hàm tàng thiệt là thức thiên, chứa hết thảy các pháp, hay diễn nói ra kinh A Hàm và bộ Đại Bát Nhã Niết Bàn kinh. Còn cái thức A lại da cũng to lớn bao trùm cho nên diễn nói ra bộ Đại Trí Độ luận kinh và bộ Lăng Già luận kinh vậy”. Nhận thức về Tâm học Phật giáo như thế, rõ ràng tác giả của kinh TĐBD không mấy am tường về Phật học, nhất là Duy thức học.

Ngoài ra, tư tưởng “tự nhiên” trong phẩm thứ sáu, Lời phú chúc cũng hoàn toàn xa lạ với Chánh pháp: “Thân này có ra cũng tự nhiên; năm vóc kia tự nhiên có đủ; trưởng đại đó tự nhiên trưởng đại; lão thành kia tự nhiên lão thành; sanh ra đó tự nhiên sanh ra; ngày chết kia tự nhiên phải chết”. Phật giáo không hề chủ trương tự nhiên mà vạn pháp do duyên sinh, lìa duyên sinh tức không phải Chánh pháp.

Tuy kinh TĐBD có đóng góp vào việc bài trừ mê tín, chủ trương làm lành, tích phước, đề cao tụng niệm song ngôn ngữ, tư tưởng của kinh mang đậm sắc thái văn hóa truyền thống Trung Hoa, không phải là kinh điển Phật giáo. Những yếu tố Phật giáo có mặt trong kinh không chuyển tải được nội dung Chánh pháp mà chỉ là sự pha trộn khập khiễng giữa tư tưởng Phật giáo và các quan niệm về dịch lý, phong thủy, âm dương ngũ hành cùng với sự dọa dẫm, thiếu sắc thái trí tuệ và từ bi. Do vậy, hàng Phật tử không nên đọc tụng và thọ trì kinh này.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-25-2006 , 03:18 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
THẬP NHỊ BỘ KINH LÀ GÌ?

HỎI: Tôi đọc kinh sách Phật thường nghe nói tới “Thập Nhị Bộ Kinh “ tức “mười hai bộ kinh”. Vậy xin hỏi mười hai bộ kinh là gì? Có phải là các bộ kinh Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ không … ?


ĐÁP: Thập Nhị Bộ Kinh là 12 chủng loại của tất cả các kinh điển mà đức Phật đã thuyết. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn cũng như Luận Trí Độ, Mười Hai Bộ Kinh là: Tu Đa La, Kỳ Dạ, Thọ Ký, Dà Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, A Ba Đà Na, Y Đế Mục Đà Na, Xà Đà Dà, Tỳ Phật Lượt, A Phù Đà Đạt Ma và Ưu Bà Đề Xá.

Tu Đa La Kinh là khế kinh trường hàng thường bắt đầu câu: ““ như thị ngã văn nhẫn đến câu hoan hỷ phụng hành”.
Kỳ Dạ Kinh là kinh Phật giảng nói bằng thể kệ tụng gọi là trùng tụng.

Thọ Ký Kinh là loại kinh Đức Như Lai thọ ký cho các hàng trời người sẽ làm Phật.

Dà Đà Kinh là kệ câu khởi
Ưu Đà Na Kinh là kinh tự thuyết
Ni Đà Na Kinh là kinh nhân duyên
A Ba Đà Na Kinh là những thí dụ trong luật nói.
Y Đế Mục Đa Dà Kinh là loại kinh bổn sự
Xà Đà Dà Kinh là loại kinh bổn sanh
Tỳ Phật Lược Kinh là loại kinh phương quảng nghĩa lý rộng lớn, thuộc về Đại Thừa Phương Đẳng.
A Phù Đà Đạt Ma Kinh (A Tì Đạt Ma) hay còn gọi là Vị Tằng Hữu kinh (chưa từng có), ghi về Phật Bồ Tát thị hiện vô số thần lực bất khả tư nghị.
Ưu Bà Đề Xá là loại kinh luận nghị

Trong 12 bộ này ba bộ Tu Đa La, Kỳ Dạ và Dà Đà là thể tài trong kinh văn, còn chín bộ khác được đặt tên theo từng loại sự việc được ghi trong kinh.

(Tâm Diệu)


Nguyên văn kinh Đại Bát Niết Bàn Phẩm Phạm Hạnh Thứ 20 nói về 12 bộ kinh như sau:

Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát như thế nào gọi là biết pháp. Nầy Thiện nam tử ! Bồ Tát nầy biết mười hai bộ kinh tức là Tu Đa La, Kỳ Dạ, Thọ Ký, Dà Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, A Ba Đà Na, Y Đế Mục Đà Na, Xà Đà Dà, Tỳ Phật Lược, A Phù Đà Đạt Ma, Ưu Bà Đề Xá.

Đây là khế kinh Tu Đa La : Từ “ như thị ngã văn nhẫn đến câu hoan hỷ phụng hành” tất cả như vậy gọi là Tu Đa La kinh ( trường hàng). Đây là Kỳ-dạ : Phật bảo các Tỳ kheo ngày xưa ta cùng các ông ngu si không trí huệ, chẳng thể thấy bốn chơn đế đúng như thật, nên lưu chuyển mãi trong biển khổ sanh tử. Bốn chơn đế là : Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, và Đạo Đế.

Ngày xưa đức Phật vì các Tỳ Kheo nói khế kinh xong lại có hàng chúng sanh căn trí sáng tỏ, vì muốn nghe pháp nên đến chỗ Phật hỏi mọi người rằng, đức Như Lai vừa rồi nói những việc gì ? Lúc đó Phật vì hàng chúng sanh ấy đem kinh vừa giảng nói thành kệ tụng :

Ta xưa cùng các ông, Chẳng thấy bốn chơn đế, Nên phải lưu chuyển mãi, Trong biển khổ sanh tử, Nếu thấy được bốn đế, Thời dứt đặng sanh tử. Sanh tử đã hết rồi, Chẳng còn thọ thân nữa.

Kệ tụng trên đây gọi là Kỳ-Dạ kinh ( trùng tụng).

Những gì gọi là thọ ký ? Như có lúc đức Như Lai nói kinh hay luật, vì các hàng trời hay người mà thọ ký sẽ làm Phật. Như nói : “ Đời sau có vua hiệu là Nhương Khư, ông A Dật Đa sẽ ở cõi nầy thành bực chánh giác hiệu là Di Lặc Phật. Đây gọi là thọ ký kinh.

Những gì gọi là Dà Đà ? Trừ trường hàng và các giới luật, ngòai ra những bài kệ bốn câu như :

Các điều ác chớ làm, Phụng hành những điều lành, Lóng sạch tâm ý mình, Là lời dạy của Phật.

Trên đây gọi là Dà Đà kinh ( kệ cô khởi).

Những gì gọi là Ưu Đà Na ? Như đức Phật lúc xế chiều nhập thiền định, vì chư thiên giảng rộng các pháp yếu. Lúc đó các Tỳ- kheo đều nghĩ rằng : Giờ đây đức Như Lai đang làm việc gì ?

Sáng ngày sau, đức Như Lai xuất định, không ai hỏi, dùng tha tâm trí mà tự nói rằng : Nầy các Tỳ-kheo : Tất cả chư thiên thọ mạng rất dài. Lành thay ! Các Tỳ-kheo biết vì người, chẳng cầu tư lợi, biết thiểu dục, biết tri túc, được tịch tịnh.

Những kinh như trên đây không ai hỏi đức Phật tự giảng nói đó gọi là Ưu Đà Na kinh (tự thuyết).

Những gì là Ni Đà Na ? Như trong các kinh do nhơn duyên Phật vì người khác diễn nói. Lệ như : Trong nước Xá Vệ có một chàng trai giăng lưới bắt chim, bắt đặng chim nhốt trong lồng, cho ăn lúa uống nước rồi lại thả đi. Đức Thế Tôn biết nhơn duyên đó mà nói kệ rằng:

Chớ khinh tội nhỏ, Cho là không họa, Giọt nước dầu nhỏ, Lần đầy lu lớn.

Như trên đây gọi là Ni Đà Na kinh ( nhơn duyên).

Những gì là A Ba Đà Na ? Như những thí dụ trong luật nói.

Những gì là Y Đế Mục Đa Dà ! Lệ như đức Phật nói : Nầy các Tỳ-kheo ! Lúc ta xuất thế những điều ta dạy bảo gọi là giới kinh. Lúc đức Câu Lưu Tôn Phật xuất thế lời Phật dạy gọi là trống Cam-lồ . Lúc đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni xuất thế lời Phật dạy gọi là Pháp cảnh.

Lúc đức Phật Ca Diếp xuất thế lời Phật dạy gọi là Phân biệt không.

Như trên đây gọi là Y Đế Mục Đa Dà kinh ( bổn sự).

Những gì là Xà Đà Dà ? Lệ như đức Phật xưa kia làm vị Bồ Tát tu khổ hạnh. Như Phật nói : Nầy các Tỳ kheo ! Thuở quá khứ ta từng làm nai, làm gấu, làm cheo, làm thỏ, làm quốc vương, làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm rồng, làm kim súy điểu v.v… Như trên đây gọi là Xa Đà Dà kinh (bổn sanh).

Những gì là Tỳ Phật Lược ? Tức là những kinh điển thuộc về Đại thừa Phương đẳng nghĩa lý rộng lớn dường như hư không (phương quảng).

Những gì là vị tằng hữu ? Lệ như lúc đức Bồ Tát mới sanh không ai đỡ dắt mà tự đi bảy bước, phóng quang minh lớn ngó khắp mười phương. Lệ như con vượn tay bưng bát mật dâng cúng đức Như Lai,. Lệ như chó cổ trắng đến bên Phật nghe pháp. Lệ như ma vương Ba Tuần biến làm trâu xanh đi trong bát sành, làm cho các bát sành đụng chạm lẫn nhau mà không nứt bể. Lệ như Phật lúc mới sanh lúc vào thiên miếulàm cho thiên tượng đứng dậy bước xuống đảnh lễ.

Những đoạn kinh như trên đây gọi là Vị Tằng Hữu kinh.

Những gì là Ưu Ba Đề Xá ? Lệ như đức Phật lúc nói kinh hoặc luận nghĩa cùng phân biệt giảng rộng biện luận các tướng mạo, đây gọi là Ưu Ba Đề Xá kinh (luận nghị).

Bồ Tát nếu có thể rõ biết mười hai bộ kinh như vậy thời gọi là biết pháp.

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-26-2006 , 01:08 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Vô Tình Chúng Sanh

Hỏi:

Có một vị thầy giảng rằng cây cỏ cũng có "cảm giác" và "dường như có tâm hồn". Cũng có một vị lão hòa thượng Trung Hoa nói rằng người chết cũng có thể tái sinh làm cây cỏ. Cho nên nhổ đốn cây cỏ nhiều cũng tạo nhiều nghiệp chẳng lành.

Kính xin quý vị chỉ giáo, bởi vì có một số Phật tử ăn chay mà cứ băn khoăn về những lời dạy trên của quý thầy. Có người ăn chay trường mà cứ lo sợ kiếp sau đầu thai làm cây cỏ.

Ðáp:

1- Chúng tôi đã tham vấn với một số quý thầy ở Úc Châu, Âu Châu và ở Việt Nam qua vi tính thư và thấy rằng đa số quý thầy có đồng quan điểm với hay tương tự như quan điểm (8/10) của thầy Thích Tâm Thiện như vầy: "Ðạo lý cơ bản của người Phật tử là 5 giới cấm, trong đó có dạy là không sát sinh. Còn đối với cỏ cây hoa lá, cũng là chúng sinh , nhưng là vô tình chúng sinh, khác với con người , động vật ( hữu tình chúng sinh) . Chúng ta tu , cái chính là không sát hại các loài hữu tình, còn nếu cao cả hơn thì không sát hại cả các loài vô tình. Tuy nhiên, mục đích chính của không sát sinh là để tăng trưởng tâm từ bi"

"Còn chuyện các loài cỏ cây có linh hồn hay không , tôi nghĩ người trần như chúng ta không thể biết được. Và nếu có, thì có lẽ Ðức Phật đã không chia thành hai loại hữu tình và vô tình (sentient being & non sentient being ) chúng sinh. Tình ở đây là tình thức, là tâm hồn, là linh hồn " (Thích Tâm Thiện).

2- Chúng tôi cũng tìm đọc kinh để lấy lời Phật làm dấu ấn và lời của Phật trong kinh Lăng Nghiêm đã giải đáp thật rõ ràng. Chúng tôi xin chép lại đây lời Ngài để quý độc giả được rõ : "Người tu thiền định, khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đã diệt, chơn tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thấy thức ấm biến khắp tất cả, rồi sanh tâm chấp: "Mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây". Vì mê mờ tánh Bồ Ðề, mất chánh kiến, nên sẽ làm bè bạn với hai chúng ngoại đạo Bà Tra và Tán Ni, chấp tất cả vạn vật đều có tri giác (biết)." (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ 6-7, Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Hòa Thương Thiện Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế tái xuất bản năm 1987, Bài thứ 16: Mười Món Ma Về Thức Ấm, phân đoạn 4, chấp cỏ cây cũng đều biết, trang 252).

Bản dịch Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Thích duy Lực dịch như sau:

"4- Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên thông, nếu ở nơi sở tri, kiến lập tri giải, cho các loài cây cỏ mười phương đều gọi là hữu tình, với người chẳng khác ; cây cỏ làm người, người chết rồi lại thành cây cỏ, cho đến loài vô tình đều có sự giác tri, hữu tình vô tình chẳng có phân biệt, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào cái chấp "Tri vô tri", làm bạn với hai thứ ngoại đạo Bà Tra và Tiện Ni, chấp tất cả đều có sự giác tri, mê lầm tánh Bồ Ðề, lạc mất tri kiến Phật. Ấy gọi là lập cái tâm viên tri, thành cái quả hư vọng, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống Ðiên Ðảo Tri thứ tư." (Kinh Lăng Nghiêm, Từ ân Thiền đường xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 253).

Ngoài ra, bản dịch của cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám cũng tương tự.

3- Như thế, trên đây đã trả lời rõ ràng về cây cỏ, cũng đồng thời trả lời luôn về một câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được một vị thầy lập lại và đồng ý bia đá cũng biết đau: "làm sao em biết bia đá không đau?" Vâng thưa! biết chứ, Phật dạy rồi. Bia đá không biết đau, chúng là vô tình chúng sinh, là vô tri giác. Thưa thầy!

Tâm Diệu

www.*******hoasen.org
LacLongTran1
Banned
Join Date: May 2006
Số Điểm: 188
Old 06-26-2006 , 05:21 PM     LacLongTran1 est dconnect  search   Quote  
NonregisterC đúng là phật tử chân chính

Ai như Long với mấy cha nội Godnone Betrue nguoi_o_dao Kiểu này chắc 4 tên sau khi chết bị đầu thai vô chủng viện trả nghiệp wá
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-30-2006 , 09:25 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
SÁM HỐI TỘI BẤT HIẾU

HỎI:

Tôi hiện là Phật tử, có tìm hiểu giáo lý nhưng không am tường lắm. Trước đây, tôi phạm phải một sai lầm rất lớn là đã chửi mắng cha mẹ. Vì thời ấy, theo cách nghĩ “duy lý” của tôi thì làm như thế là đúng. Bây giờ, nghiệm lại biết mình đã sai. Tôi không biết với những tội lỗi ấy, tôi sẽ chịu những quả báo gì? Cách sám hối như thế nào? Xin Tổ Tư vấn cho tôi biết để gửi trọn niềm tin.

ĐÁP:

Hiếu thảo với cha mẹ là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và của tất cả những người con Phật. Ngoài việc phụng dưỡng thì kính trọng cha mẹ là một trong những biểu hiện cơ bản của sự hiếu thảo. Mặc dù không ai cố ý bất hiếu với cha mẹ cả nhưng do nhiều nhân duyên tác động như nhận thức, quan niệm, hoàn cảnh… của cuộc sống xô đẩy chúng ta đến những hành động sai lầm, gây thương tổn cho cha mẹ và cả chính bản thân mình.

Đối với những đấng sanh thành, trong chừng mực nào đó, có thể xem như trời đất vốn bất khả xâm phạm. Dẫu rằng không phải lúc nào các bậc cha mẹ cũng hoàn toàn đúng song trong hoàn cảnh đó phải xử sự như thế nào, chuyển hóa cách sao để giải quyết được vấn đề mà không ảnh hưởng đến đạo làm con là điều cần cân nhắc, suy gẫm? Với bài toán khó này, không chỉ riêng bạn mà khá nhiều các bạn khác hiện đang lúng túng, vẫn chưa tìm ra đáp án trọn vẹn.

Truyền thống người Việt vốn trọng tình, xử lý công việc bình thường cũng đòi hỏi phải có lý có tình, huống gì cha mẹ của mình mà chỉ theo lý! Dù muộn nhưng vẫn còn may mắn cho bạn là giờ đây bạn đã nhận ra những sai lầm “duy lý” của bản thân. Chính những trải nghiệm của đời sống đã cho bạn tuệ giác để nhìn lại chính mình. Nhận ra sự bất hiếu là mấu chốt quan trọng để giúp bạn tháo gỡ những mâu thuẫn với cha mẹ đồng thời tìm cách khắc phục, sám hối tội lỗi.

Bạn đặc biệt quan tâm đến quả báo của tội bất hiếu, điều ấy rất cần. Kinh Báo ân cha mẹ dạy rằng: “Công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ vô lượng vô biên thì tội lỗi bất hiếu cũng vô biên vô lượng”. Tuy nhiên, trừ tội ngũ nghịch (giết cha mẹ) phải đọa Vô gián địa ngục, còn các tội bất hiếu khác đều có thể sám hối. Vấn đề là bạn cần phải sám hối với cha mẹ ngay vì cơ hội ấy sẽ không còn nhiều.

Trước hết, bạn phải trở về bên cha mẹ, bộc bạch, tỏ bày hết tất cả những tâm sự của lòng mình bằng một niềm ăn năn chân thành. Những lời xin lỗi, cầu mong cha mẹ tha thứ cho những lỗi lầm đã qua của bạn dù muộn nhưng có tác dụng vô cùng to lớn cho việc tháo gỡ, trị liệu và chữa lành những niềm đau. Năm tháng trôi qua là khoảng lặng cần thiết cho mỗi người tự chiêm nghiệm. Cùng với sự thành khẩn, tha thiết của bạn, chúng tôi tin rằng cha mẹ của bạn sẽ gạt nước mắt và nở nụ cười vì vốn dĩ “đánh người chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại” và “mẹ già hơn trăm tuổi còn thương con tám mươi”; vì thương con là thuộc tính, bản chất của cha mẹ.

Kế đến bạn phải thực tập niệm ân, quán chiếu thật sâu sắc để thấy rõ thâm ân sanh dưỡng của cha mẹ to lớn không thể sánh với bất cứ điều gì khác ở trên đời. Nhờ niệm ân mà tình cảm của bạn đối với cha mẹ ngoài thương kính còn được thăng hoa trở thành thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Khi bạn đã xác quyết được điều ấy rồi thì chí hiếu là phẩm chất đạo đức vốn dĩ của bạn. Từ đây, bạn không còn lo lắng gì về những nông nổi có thể dẫn đến sự thất lễ đối với các đấng sanh thành nữa.

Quan trọng nhất là thể hiện sự hiếu thảo với cha mẹ bằng những việc làm thiết thực mà bạn có thể làm. Từ việc thăm hỏi, phụng dưỡng, kính trọng, vâng lời cha mẹ cho đến tự hoàn thiện bản thân đều là những việc làm hiếu thảo. Làm được những điều ấy với tâm thành là cách ăn năn, sám hối thiết thực nhất. Ngoài ra, bạn cũng nên phát nguyện lễ sám, thọ trì các bộ sám văn như Thủy sám, Lương hoàng sám v.v… với tâm nguyện hối lỗi và phát nguyện sống hiếu thảo để phần nào giảm thiểu nghiệp lực, khiến cho phước đức tăng trưởng đồng thời làm nền tảng cho sự hiếu thảo của bạn ngày càng vững chắc và thăng hoa.

Ai cũng có ít nhiều sai lầm trong cuộc đời, điều quan trọng là biết quay đầu. Quay đầu là bờ, tâm chuyển thì cảnh chuyển và bạn đã quay đầu, tâm đã chuyển thì không còn gì phải bận tâm. Hãy sống đúng đạo làm con với cha mẹ, tương lai hiện đang ở trong tay của bạn, ngay bây giờ và ở đây.

www.chuyenphapluan.com.

Chào bạn LLT,

Phật thường dạy: "Phàm còn xuống lên ba cõi, *lặn lội trong sáu đường, thì không một loài nào được hoàn toàn trong sạch, không một giống nào dứt hết tội lỗi".

Đọc nhiều pháp Phật, ngồi thiền sẽ giúp cho bạn tâm luôn an lành (smile).

Chúc bạn thân tâm luôn an lạc.

Thân mến,

NR.

Last edited by NonregisterC; 06-30-2006 at 09:31 AM..
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-01-2006 , 10:55 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
ĐẦU SÀO TRĂM TRƯỢNG

HỎI:

Các thiền sư thường nói phải bước qua Đầu sào trăm trượng mới đạt đến cứu cánh giải thoát. Vậy Đầu sào trăm trượng và các bước phải bước qua ấy là gì?

ĐÁP:

Đầu sào trăm trượng là một thuật ngữ quen thuộc của Thiền tông, dùng để chỉ quả vị Vô sanh (A la hán), dứt sạch trần lao phiền não, ra khỏi sanh tử. Vì ở quả vị này vẫn chưa thành Phật, chỉ ở Hoá thành, chưa đạt đến Bảo sở (kinh Pháp Hoa), Thiền tông gọi đó là đất Vô sanh, là Thủy tử hay Đầu sào trăm trượng cần phải vượt qua.

Theo quan điểm của Thập mục ngưu đồ, thì Đầu sào trăm trượng chỉ là mục thứ tám, người chăn và trâu đều mất. Tuy trâu và người chăn không còn, tức không còn kẹt vào đối đãi, năng sở nhưng chưa phải rồi việc. Vấn đề “gánh nặng sanh tử đã đặt xuống” song chưa thể nhập Pháp thân do đó phải bước qua mục thứ chín là lá rụng về cội, nước chảy về nguồn để nhập Phật giới. Bước cuối cùng là thõng tay vào chợ, hoà quang đồng trần, làm lợi ích cho tất cả chúng san mới viên thành Phật quả.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-04-2006 , 09:05 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI:

Hoa Vô ưu có phải là hoa Ưu đàm không? Nếu không phải thì tại sao Thái tử Tất Đạt Đa hạ sinh dưới cội Vô ưu nhưng khi nói về Đản sanh của Phật thì lấy biểu tượng hoa Ưu đàm?

ĐÁP:

Vô ưu, Phạn ngữ Asoka, Hán ngữ phiên âm A du ca, A thúc ca, A thuật ca… dịch nghĩa là Vô ưu hoa (hoa không ưu tư phiền muộn). Vô ưu là loại hoa thân mộc, trổ hoa vào mùa Xuân, mọc rất phổ biến ở xứ Thiên Trúc. Khi hoa nở, đóa lớn, sắc đẹp, hương thơm, ong bướm hút mật không biết chán. Phụ nữ Ấn Độ rất ái mộ và tôn kính cây hoa này. Theo thần thoại Ramayana, nàng Sita khi bị ác thần Ravana nhiễu hại đã trốn dưới cây Vô ưu và kháng cự thành công. Vì thế, hoa Vô ưu rất được phụ nữ Ấn tôn trọng và là loại hoa quý để dâng cúng thần Siva. Tương truyền, loài cây này cũng cảm nhận được tình cảm của con người nên được phụ nữ chăm sóc thì hoa mau trổ và rất nhiều.

Tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni, hoa Vô ưu được trồng rất nhiều. Hoàng hậu Ma Da cùng đoàn tùy tùng xa giá rời Ca Tỳ La Vệ trở về quê ngoại để sanh con đầu lòng, theo tập tục Ấn Độ thời bấy giờ. Khi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni, Hoàng hậu ra lệnh dừng lại để Người vào lâm viên nghỉ ngơi, đi dạo và ngoạn cảnh. Khi đi đến dưới cây Vô ưu, thấy hoa nở rộ, ngào ngạt hương thơm bèn đưa tay vin cành hoa Vô ưu, liền khi đó hạ sanh Thái tử.

Ưu đàm cũng là một loại cây có hoa nhưng là loại cây thiêng (linh thọ). Theo Phật giáo, hoa Ưu đàm nở là một điềm lành. Ưu đàm, Phạn ngữ Udumbara, Hán ngữ phiên âm thành Ưu đàm ba la, Ưu đàm bà la, Ô đàm bạt la, Ô đàm bát la, Uất đàm v.v… Hoa Ưu đàm có tên Ưu đàm bát hoa hay Ưu bát hoa gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là Linh thụy hoa, Thuỵ ứng hoa, Không khởi hoa. Theo Từ điển Phật học Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, thì: "Cây Ưu đàm không thuộc loại hoa quả, mọc ở các nơi như núi Himalaya, cao nguyên Đê-can và nước Xây-lan v.v… Thân cây cao hơn một trượng, lá có hai thứ: một thứ phẳng trơn, một thứ thô nhám, cả hai thứ đều dài khoảng 4,5 tấc nhọn đầu. Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu trong đài hoa, nên thường nhầm là loại cây không hoa. Hoa xếp như nắm tay hoặc như ngón tay cái, thành chùm hơn chục đóa, ăn được nhưng vị không ngon". Sách Huyền Lâm Ứng Nghĩa, quyển 21 mô tả về Ưu đàm "Lá cây hoa này tựa như lá cây lê, quả to bằng nắm tay, vị ngọt, có hoa nhưng ít xuất hiện, khó trồng". Đặc biệt, hoa Ưu Đàm có mùi thơm xông khắp vô lượng thế giới (Vô Lượng Thọ kinh). Cứ vào các đặc điểm được mô tả về thân, lá, hoa và quả của Ưu đàm và Vô ưu thì chắc chắn Ưu đàm và Vô ưu là hai loại cây hoa hoàn toàn khác biệt nhau.

Đúng là Thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra dưới cội Vô ưu. Tuy nhiên, khi nói về Phật đản sanh lại lấy hoa Ưu đàm làm biểu tượng là do một nguyên nhân khác. Hoa Ưu đàm, theo quan niệm của Phật giáo là một loài hoa linh thiêng, cực kỳ quý hiếm "ba ngàn năm mới nở một lần" nên mang ý nghĩa hy hữu, hiếm có, khó gặp. Mặt khác, hoa Ưu đàm nở là điềm lành báo hiệu Đức Phật ra đời hay có bậc Luân Vương xuất thế, vì lẽ ấy mà hoa Ưu đàm được gọi là hoa Linh thụy. Theo Pháp Hoa văn cú: "Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời". Do các đặc điểm này, hoa Ưu đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế hy hữu của Đức Thế Tôn trong văn học và kinh điển Phật giáo.

Như vậy, Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh dưới cội Vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni là một sự thật lịch sử. Còn việc dùng hoa Ưu đàm làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của một bậc Giác ngộ là một chuyện khác. Vì thế, khi bàn đến Đản sanh của Phật Thích Ca thì hoa Vô ưu được xem như một chứng tích, gắn liền với một sự kiện lịch sử cụ thể còn hoa Ưu đàm là ảnh dụ của sự kiện lịch sử vĩ đại và hy hữu ấy. Dẫu chắc chắn rằng Ưu đàm đã khai hoa vào dịp ấy nhưng không phải nơi vuờn Lâm Tỳ Ni. Do vậy, hoa Vô ưu nở vào mùa Xuân mỗi năm là chuyện bình thường nhưng nói đến hoa Ưu đàm nở, tự khắc ta liên tưởng đến đại sự nhân duyên, một vị Phật đản sanh, Bậc Giác ngộ xuất thế.

Chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-06-2006 , 09:00 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tâm & Thức

HỎI:

Tôi đã đọc khá nhiều kinh sách Phật giáo có nói đến rất nhiều loại tâm nhưng thật sự vẫn chưa hiểu được tâm là gì? Tâm khác với thức ở những điểm nào?


ĐÁP:

Tâm là một thuật ngữ rất quan trọng của giáo điển Phật giáo. Vốn hàm chứa nhiều ý nghĩa khác nhau, nhất là có sự sai biệt trong quan niệm về tâm giữa hai truyền thống A tì đạt ma (Phật giáo Nam tông) và Duy thức học (Phật giáo Bắc tông), nên khi nghiên cứu về Tâm học Phật giáo nếu không nắm vững những điều cốt yếu này thì sẽ rất lúng túng.

Ngoài ra, tùy thuộc vào từng chủ đề riêng biệt của giáo điển (như giáo lý Năm uẩn, Mười hai nhân duyên v.v…) mà tâm, ý và thức được sử dụng với ý nghĩa đồng nhất hoặc dị biệt nhau. Đơn cử, theo giáo lý Năm uẩn, chúng sanh gồm tập hợp của sắc, thọ, tưởng hành và thức. Trong đó, sắc thuộc về vật chất, sắc pháp còn phần tinh thần thọ, tưởng, hành và thức thuộc về tâm hay tâm pháp. Giáo lý Mười hai nhân duyên cũng vậy, khi phân tích chúng sanh thành hai phần Danh-Sắc (tinh thần và vật chất) thì phần Danh thuộc về tâm hay tâm pháp.

Theo Kinh tạng Pàli và Abhidhamma, tâm (Pàli[P].citta), nghĩa gốc là suy nghĩ, là “cái gì hay biết về một đối tượng” hoặc “sự nhận thức, hiểu biết về một đối tượng”. Cứ theo định nghĩa này thì khái quát tâm tương đồng với thức (P.vinnana). Với Abhidhamma, ngoại trừ những tâm siêu thế (P.lokuttara) và những tâm sở phụ thuộc thì thực tại hay tại thế (P.lokiya) gồm tâm vương, tâm sở và sắc. Theo Nàrada (Vi diệu pháp toát yếu, Phạm Kim Khánh dịch), thì tâm (P.citta), ý (P.mana) và thức (P.vinnana) được xem là đồng nghĩa trong Abhidhamma. Vì thế, theo quan điểm A tì đạt ma, không có sự khác biệt giữa tâm và thức. Chúng ta có thể thấy quan điểm này thể hiện rất rõ trong Pháp Cú (Dhammapada [Dh]), nói về “ý dẫn đầu các pháp” (Dh.1) thì dùng từ mana (P), “tâm hoảng hốt, dao động, vùng vẫy, khó thấy, khó nắm giữ, khó điều phục” (Dh.33,34,35) thì dùng citta (P) và rõ ràng tâm và ý được đề cập trong Pháp Cú gần như có ý nghĩa tương đồng.

Trong Kinh tạng Sanskrit và Hán tạng, nhất là Duy Thức tông thì phân biệt cặn kẽ có đến 8 tâm vương (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại da thức) và 51 tâm sở. Trước hết, tâm (Sanskrit [S].citta) có nhiều nghĩa: a. Chỉ chung cho toàn bộ tâm vương và tâm sở, nói chung là tâm pháp, đối nghĩa với sắc pháp. b. Chỉ riêng cho tâm vương, nhấn mạnh đến vai trò chủ đạo của tâm (như thức uẩn trong ngũ uẩn, ý thức và a lại da thức). c. Chỉ riêng cho thức thứ 8, thức a lại da (S.alaya), căn nguyên của mọi hiện tượng tâm lý. Mặt khác, tâm (S.hrdaya) có ba nghĩa: 1. Nhục đoàn tâm tức trái tim. 2. Tinh yếu tâm tức tâm tích tụ hết thảy mọi yếu nghĩa trong các kinh. 3. Kiên thật tâm tức là tâm kiên cố, chân thật, không sinh diệt; là Chân như. Đặc biệt, tâm (citta) còn có ba nghĩa: 1. Duyên lự tâm (thức) tức là thức thứ 6, ý thức (S.manovijnana) và năm thức giác quan, có vai trò nhận thức đối tượng. 2. Tư lượng tâm (ý) tức là thức thứ 7, mạt na thức (S.manas), giữ vai trò tư duy, chấp ngã. 3. Tập khởi tâm (tâm) tức thức thứ 8, a lại da thức (S.alayavijnana), có công năng chứa nhóm chủng tử, là toàn bộ tâm thức, cơ sở của mọi hoạt động tâm lý. Như vậy, theo Duy thức học thì tâm (tập khởi tâm), ý (tư lượng tâm) và thức (duyên lự tâm) có công năng và ý nghĩa khác nhau.

Thức (S.vijnana) là sự phân biệt, nhận biết, nhận thức. Chức năng của thức là phân tích, phân loại và nhận biết đối tượng. Theo Duy Thức tông, có tám thức gồm năm thức giác quan (tiền ngũ thức), ý thức, mạt na thức và a lại da thức. Như vậy, thức đơn thuần chỉ là nhận thức, phân biệt, nhận biết. Tùy theo căn (giác quan) nào nhận thức mà thức ấy được xác định cụ thể như con mắt (nhãn căn) phân biệt và nhận biết đối tượng sắc trần (màu sắc, hình ảnh) thì gọi là nhãn thức v.v… Xét theo định nghĩa về tâm như đã trình bày thì thức khác với tâm (kể cả trong ý nghĩa là 8 thức). Tuy nhiên, trong kinh luận, một vài trường hợp sử dụng “thức” để chỉ “ý thức” (S.manovijnana) hoặc “thức” để chỉ cho “tâm” nói chung, điều này có thể gây khó hiểu thậm chí ngộ nhận cho người sơ học.

Tóm lại, muốn am tường về ý nghĩa của tâm và thức cần phải học tập, nghiên cứu nghiêm túc theo trình tự, thứ lớp về Tâm học Phật giáo đồng thời phải nắm vững lập trường của mỗi truyền thống để tôn trọng quan điểm, tránh thiên kiến (kiểu người mù sờ voi). Bạn có thể tìm đọc Thắng pháp tập yếu luận, Câu xá luận, Thanh tịnh đạo luận, Đại thừa bách pháp minh môn luận, Duy thức tam thập tụng luận v.v... nhất là các sách chú giải liên quan đến những bộ luận này của các tác giả như HT.Thích Thiện Hoa, HT.Thích Thiện Siêu, Thiền sư Nhất Hạnh… dần dần bạn sẽ nhận ra những vấn đề tinh yếu của Tâm học Phật giáo.


ChuyenPhapLuan.com
hatcat
Banned
Join Date: May 2006
Số Điểm: 367
Old 07-07-2006 , 04:55 PM     hatcat est dconnect  search   Quote  
Nam Mo A Di Da` Pha^.t
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-11-2006 , 03:18 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI ĐÁP

HỎI: Con là Phật tử, năm nay 34 tuổi, làm công nhân. Vợ của con làm nghề "cho mượn tiền". Nay con đã nghỉ làm, ở nhà và chở vợ đi thâu tiền. Được con phụ giúp thì vợ con phát triển việc làm ăn càng lớn thêm nhưng thật lòng thì con không thích nghề ấy. Hiện tại gia đình con rất đầy đủ nhưng gặp nhiều trở ngại, có nguy cơ tan vỡ. Chúng con thường cãi nhau vì công việc, vì không có thì giờ chăm sóc con cái và nhất là những khi con thâu tiền không được. Có điều, tuy làm nghề ấy nhưng tâm tính của vợ con cũng rất tốt, ưa làm phước. Nhiều lần con khuyên cô ấy nên rút vốn lại rồi tính chuyện khác để làm ăn nhưng ngoài nghề này ra vợ con không biết làm gì khác. Sự việc kéo dài đã ba năm nay, vì khuyên vợ không được nên nhiều lúc con rất buồn, muốn bỏ nhà ra đi. Nay con trình bày hoàn cảnh gia đình con cho quý Báo, mong được chỉ bày để gia đình con được hạnh phúc lâu dài.

ĐÁP:Chúng tôi thật sự đồng cảm với những nỗi niềm hiện tại của bạn. Bạn là một Phật tử nên thao thức về một nghề nghiệp chân chính và một đời sống lương thiện là điều rất đáng khích lệ. Nghề "cho mượn tiền" là tên gọi khác của nghề cho vay lấy lãi. Nói chung, theo quan điểm của Phật giáo thì nghề này không phải là Chánh mạng, tức không phải một sinh kế lương thiện, chân chính.

Theo như bạn tâm sự thì vợ của bạn là người có tâm tính rất tốt, ưa làm phước. Điều này cho thấy động cơ ban đầu để cô ấy chọn nghề "cho mượn tiền" làm sinh kế vì hoàn cảnh bản thân và cuộc sống hơn là vì ác tâm "cắt cổ" những người cần tiền để xoay xở công việc của người cho vay nặng lãi. Đây chính là mấu chốt của vấn đề đồng thời mở ra cơ hội cho niềm mong ước và hy vọng của bạn sẽ trở thành hiện thực.

Nghề nào cũng có những "nghiệp" riêng của nó nhưng đối với nghề "cho mượn tiền" thì nghiệt ngã hơn. Nếu công việc trôi chảy, lợi nhuận càng nhiều thì tâm tham lam càng lớn. Ngược lại, nếu như người mượn tiền mà làm ăn không được suôn sẻ thì rất khó thâu tiền lời (hoặc vốn) đúng như đôi bên đã thỏa thuận. Do vậy, ngoài cách thâu tiền bình thường nhẹ nhàng và vui vẻ, những người làm nghề này đa phần phải trang bị thêm một chút "máu mặt" mới tác nghiệp thành công. Ít thì trợn mắt, cau mày; vừa thì cãi vã, tiếng to, lời lớn; nặng thì xô xát, ẩu đả và nghiêm trọng là "xiết" đồ đạc của người mượn để phục hồi vốn, thậm chí có thể gây ra án mạng v.v…

Đúng là ban đầu bước chân vào nghề này không phải ai cũng là người dữ dằn, tham lam, lạnh lùng và chỉ biết đến tiền. Nhưng vì bản chất của công việc này dễ dàng đưa người ta đến chỗ tham lam, tha hóa, biến chất. Càng thành công, thâm niên và bản lĩnh với nghề bao nhiêu thì con tim phải càng nhiều "máu lạnh" bấy nhiêu. Miễn là thâu được tiền, có lời và mặc nhiên với tất cả. Đây chính là quá trình tạo nghiệp theo chiều hướng xấu ác, chắc chắn rằng với những ác nghiệp mình đã tạo ra thì hậu quả tự thân và gia đình sẽ gánh chịu.

Bạn đã nhận ra sự nguy hiểm của vấn đề nhưng vợ của bạn thì chưa, vì tiền lời kiếm được khá dễ dàng đã làm cô ấy mờ mắt. Hiện tại gia đình bạn đang sung túc là do phước báo đời trước còn dư lại. Nếu phước báo ấy không được tích lũy, bồi bổ và phát triển thêm mà ngược lại vợ của bạn đang làm cho phước báo của gia đình ngày càng giảm đi bằng nghề cho vay nặng lãi. Sự lục đục trong gia đình, nguy cơ tan vỡ hạnh phúc mà bạn định bỏ nhà ra đi là minh chứng cụ thể của việc suy giảm phước báo.

Để cứu vãn và cải thiện hạnh phúc gia đình đồng thời tránh hậu quả xấu ác do nghề tà mạng đem lại, bằng mọi cách bạn phải thuyết phục vợ của bạn chấm dứt, đoạn tuyệt với nghề cho vay. Tiền lời kiếm được rất cao và dễ dàng từ nghề "cho mượn tiền", theo Phật giáo, thì chính các bạn đang "vay nóng" của người khác. Đã vay thì phải trả, nhân nào quả nấy nên bạn và gia đình không thể trốn thoát được cái nợ này. Phải nhanh chóng chuyển sang một nghề khác như buôn bán nhỏ chẳng hạn, dẫu cho lợi nhuận ít, vất vả hơn nhưng chính đáng, lương thiện, bằng mồ hôi và công sức của chính mình, thì mới chắc thật là của mình. Phải can đảm để nhìn ra sự thật, đừng vì cái lợi trước mắt mà chịu cái hại lâu dài, kiếp này và nhiều kiếp sau.

May mắn là vợ bạn vẫn còn chút thiện tâm ưa làm phước, nhưng chút phước ít ỏi ấy không thể lấp đầy cái tội vô cùng to lớn, như nắm muối quẳng xuống dòng sông, nếu cứ duy trì thì chắc chắn nghiệp quả xấu ác sẽ xảy đến trong nay mai mà thôi. Kiếm tiền để sống thì rất cần nhưng cần hơn vẫn là sự lương thiện. Sống sung sướng trên sự đau khổ của kẻ khác thì chắc chắn không lâu bền. Mong rằng vợ của bạn sớm tỉnh thức, bớt tham lam, trở về sống với một nghề lao động chân chính và cùng bạn xây dựng hạnh phúc gia đình. Chúc các bạn sớm thức tỉnh.


Nguồn: Báo Giác Ngộ 262

ChuyenPhapLuan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-07-2006 , 10:46 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tùy Duyên Giáo Hóa

HỎI:

Tôi là người xuất gia đang hành đạo ở vùng sâu vùng xa. Có nhân duyên là các cháu học sinh hàng ngày đi học về thường ghé chùa và tôi thường khuyên dạy các cháu về hiếu nghĩa, đạo đức và nhất là vâng lời cha mẹ, thầy cô, chăm ngoan học hành. Tôi nghĩ mình đang góp phần làm điều lợi ích cho xã hội bởi trao truyền đạo đức cho các cháu là cần thiết. Thế nhưng một vài bậc phụ huynh không hài lòng, đã ngăn cấm không cho các cháu vào chùa. Tôi mong muốn các bậc phụ huynh nhận thức rằng việc các cháu được gần gũi môi trường đạo đức là điều cần thiết nhưng chưa biết làm sao!

ĐÁP:

Thiện tâm của cô muốn khuyên dạy các cháu về đạo đức, hiếu nghĩa, chăm ngoan là điều tốt song không phải bất cứ điều tốt đẹp nào cũng được cảm thông, chia sẻ và ủng hộ. Sở dĩ các bậc phụ huynh ở địa phương không hài lòng trước việc làm của cô, xét kỹ không phải không có nguyên nhân.

Trước hết, do họ không nhận thức đúng về chùa chiền là môi trường giáo dục, đạo đức, văn hóa và tâm linh mà chỉ biết đại khái là nơi thờ tự thánh thần nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cầu cúng, van vái. Mặt khác, người tu, theo họ dù hiền lành nhưng chỉ là những kẻ yếm thế, bi quan, sống nhờ lòng thương của bá tánh hoặc chuyên hành nghề cúng bái, xem quẻ, giải xăm. Đặc biệt là quan niệm thiển cận khi cho rằng, tuổi trẻ nếu “nhiễm” từ bi hỷ xả sẽ có khả năng thui chột ý thức phấn đấu, cạnh tranh, khó thành công trong cuộc sống và chẳng may các cháu “mê” chùa xin đi tu là điều tai họa. Nếu nhận thức về chùa chiền và tu hành phiến diện như vậy thì việc họ cấm đoán con cái không nên vào chùa chơi cũng là điều dễ hiểu.

Đó là quan niệm của những người không biết gì nhiều về Phật giáo. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều người dù tin Phật, có đi lễ chùa hoặc đã quy y nhưng chưa hiểu đạo nghĩ rằng, đến chùa khi về già mới thích hợp còn tuổi trẻ thì không nên hoặc giả các cháu còn nhỏ, ham vui nếu đến nơi tôn nghiêm lỡ có bề gì thất kính với thánh thần sẽ bị trách phạt… Do vậy, họ không an tâm khi các cháu đến chùa một mình.

Trên đây là những nguyên nhân cơ bản, khá phổ biến dẫn đến việc những bậc phụ huynh cấm cản các em nhỏ đến chùa tham quan, vui chơi, học tập. Để khắc phục tình trạng này, trước hết cô cần kiện toàn nhân cách và chùa chiền bằng cách tu học, hành đạo đúng Chánh pháp. Điều này sẽ giúp mọi người dần hiểu và nhận thức đúng đắn hơn về Phật giáo. Điều quan trọng là cô cần phát huy thuyết giảng, thường xuyên có những pháp thoại ngắn hoặc đọc một bản kinh hay một bài viết giáo lý trong sách báo Phật giáo trong những buổi lễ để hàng Phật tử và mọi người ngày càng hiểu biết giáo lý đúng đắn, sâu sắc hơn, nhất là nhận ra những giá trị đạo đức Phật giáo mà mọi người, mọi lứa tuổi cần phải tuân thủ, ứng dụng nhằm xây dựng bản thân, gia đình và xã hội tốt đẹp hơn.

Kế đến, cô cần thể hiện tâm nguyện “tất cả vì đàn em thân yêu” của mình qua những việc làm lợi ích thiết thực như kết hợp với Ban từ thiện chùa, chính quyền địa phương nỗ lực hơn nữa trong các hoạt động xã hội vì trẻ em. Cụ thể như: lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; hỗ trợ học phí, dụng cụ học tập cho học sinh nghèo; ủy lạo, thăm viếng các học sinh gặp khó khăn, hoạn nạn v.v… Bởi khi các bậc phụ huynh chưa hiểu được tâm nguyện giáo dục, lòng yêu trẻ, mong muốn thế hệ kế thừa không lãng quên cội nguồn của cô (qua các việc làm cụ thể) thì họ không thể cho các cháu gần gũi với người lạ được. Tâm hồn các cháu trong trắng, do vậy thận trọng với các môi trường giáo dục lạ có thể ảnh hưởng đến nhận thức con cái là điều cần làm đối với các bậc phụ huynh. Vì thế, khi chưa thiết lập được sự hiểu biết, cảm thông, động viên, hỗ trợ và tán thành của các bậc phụ huynh cũng như mọi người thì cô cũng không nên tùy tiện “lên lớp, giảng bài” cho các cháu, vì điều ấy không chừng lợi bất cập hại, có thể dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc.

Để giáo hóa chúng sanh thành công, cần phải nghiên cứu, tu tập, ứng dụng theo tinh thần Tứ nhiếp pháp. Bốn việc làm bố thí, ái ngữ, đồng sự và lợi hành cần được kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn mới có thể nhiếp hóa mọi người. Do vậy, nếu cô thực thi trọn vẹn những điều trên thì trong chừng mực nào đó cô sẽ được mọi người, nhất là những người chưa biết đạo tin hiểu, tín nhiệm và nể phục. Và nếu như “vì sự nghiệp giáo dục trẻ em” là hoài bão phụng sự chúng sanh của cô thì cứ theo phương thức này, trong tương lai cô sẽ được chính quyền địa phương cùng các ban ngành và mọi người hỗ trợ để cô được tham gia, dấn thân, phụng sự và thực thi tâm nguyện của mình.


Chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-14-2006 , 07:03 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Cúng Dường Thanh Tịnh

HỎI:

Con theo thầy tu học đã lâu, từ trước đến nay, mỗi khi con phát tâm cúng dường thì thầy cũng đều hoan hỷ thọ nhận. Chẳng biết vì sao thời gian gần đây, thầy từ chối không nhận bất cứ vật gì của con dâng cúng. Con rất buồn về điều ấy nhưng không biết làm sao, xin Tổ Tư vấn giúp con biết phải làm gì để được thầy thọ nhận cho con tạo phước?

ĐÁP:

Cúng dường Tam bảo là một trong những pháp tu quan trọng của hàng Phật tử tại gia. Chính nhờ tu tập bố thí và cúng dường mà phước báo của tự thân cùng gia đình sẽ được vun bồi, tăng trưởng. Vì thế, cúng dường và bố thí là những việc làm luôn được chư Tăng khuyến khích, tán thán. Chư Tăng là người đại diện cho Tam bảo, do vậy mọi việc cúng dường để phụng sự Tam bảo đều do quý Tăng Ni thọ nhận.

Đối với vấn đề cúng dường, có hai phương diện mà cả người cúng lẫn người nhận cần phải nhận thức rõ ràng để hành xử đúng Chánh pháp. Trước hết là cúng dường Tam bảo, tức tịnh tài và tịnh vật dâng cúng được sử dụng với mục đích duy nhất phụng sự Tam bảo. Nghĩa là mọi tài vật do thí chủ cúng dường chỉ chi dụng vào các Phật sự như: xây chùa, dựng tháp, tạo tượng, đúc chuông, ấn tống kinh sách, tiếp Tăng độ chúng v.v… Khi thí chủ hỷ cúng cho việc kiến tạo một hạng mục riêng biệt nào đó của Tam bảo thì chư Tăng cần trợ duyên cho thí chủ như nguyện. Trong một vài trường hợp chư Tăng có thể tùy duyên phương tiện “cân đối” cho phù hợp với tình hình thực tiễn của tự viện nhưng vẫn không ngoài việc phụng sự Tam bảo. Đối với việc Phật tử phát tâm cúng dường Tam bảo để tu tạo phước điền thì chư Tăng phải thay mặt Tam bảo thọ nhận, không có quyền khước từ.

Thứ đến là cúng dường cho cá nhân một vị Tăng, tức tài vật dâng cúng này vị Tăng được tùy nghi sử dụng trong đời sống hàng ngày để phục vụ tu tập, học hành, đi lại v.v… Trong trường hợp này, những vị Tăng sống thiểu dục, tri túc thì chỉ nhận vừa đủ và có quyền từ chối không nhận thêm. Thời Phật tại thế cho đến ngày nay, một Tỳ kheo đi khất thực nếu cảm thấy thực phẩm đã đủ cho bữa ăn thì có quyền đậy nắp bình bát, không nhận thêm nữa. Dù vậy, để cho hàng Phật tử được phước, chư Tăng cần thọ nhận tâm cúng dường (tấm lòng) đồng thời hướng dẫn thí chủ đến cúng dường chư vị khác hoặc cúng vào Tam bảo.

Tuy nhiên, có một vấn đề cực kỳ quan trọng mà hàng Phật tử khi phát tâm cúng dường cần lưu tâm, đó là phải cúng dường như pháp tức thanh tịnh cúng dường và cần tránh “tình cảm” cúng dường. Thanh tịnh cúng dường là tài vật và tâm cúng dường hoàn toàn trong sáng nhằm phụng sự Tam bảo để trang nghiêm phước báo, không hề móng khởi những tà niệm như cầu danh tiếng, để được ca ngợi hay bất cứ những ý niệm nào liên hệ đến vấn đề vun đắp tự ngã. Ngược lại với thanh tịnh cúng dường là “tình cảm” cúng dường, tức chỉ cúng dường cho thầy của tôi bởi tôi nể phục, tôi kính mến, tôi tôn thờ v.v… nói chung là liên hệ đến “tôi”. Đây chính là mấu chốt của vấn đề vui buồn và bất an thường xảy ra cho những ai không nhận thức đúng đắn và thực hành thanh tịnh cúng dường.

Vì thế, khi bạn cúng dường thầy mà không được thọ nhận thì bạn cần bình tâm quán sát để thấy điều đó là điều bình thường. Có thể thầy của bạn đang hành trì hạnh biết đủ nhưng không tiện nói. Nếu đúng như vậy thì bạn không nên buồn đồng thời phát tâm cúng dường lên Tam bảo số tịnh tài hay tịnh vật ấy và chắc chắn thầy sẽ thay mặt Tam bảo chứng minh, thọ nhận và hồi hướng phước đức cho bạn.

Ngược lại, nếu ngoài nguyên nhân trên thì bạn cần xem lại tâm niệm của mình trước, trong và sau khi cúng dường đã thật sự thanh tịnh như pháp hay chưa? Bởi thực chất của hạnh cúng dường là gieo trồng phước báo cho người cúng, làm cho bạn chứ không phải là để “giúp đỡ” thầy. Có thể bạn không cố ý nhưng nếu có chút biểu hiện của tự ngã trong cúng dường thì sự khước từ của thầy là một bài học nhằm thức tỉnh bạn đó. Vì thế, bạn cần quán sát sự việc một cách thấu đáo, xem mình nằm trong trường hợp nào để có cách hành xử thích hợp.

Đỉnh cao của bố thí và cúng dường là đạt đến “trình độ” ba la mật. Cho mà không thấy có người cho, của đem cho và người nhận (không chấp thủ, cái tôi vắng mặt) thì sự bố thí và cúng dường ấy đạt được vô lượng phước đức. Vì thế, chỉ cần tâm cúng dường của bạn thanh tịnh thì cúng dường thầy hay cúng dường Tam bảo, bạn cũng đều gặt hái được thật nhiều phước báo, hạnh phúc và an vui.

Chuyenphapluan.com
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 09:05 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.