VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 11-12-2006 , 05:10 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
CẢNH GIỚI CỰC LẠC


HỎI: Chúng tôi chuyên tu tập pháp môn niệm Phật, trì niệm Thánh hiệu A Di Dà Phật, cầu vãng sanh Tây phương. Sau một thời gian dài tu tập, thiết lập được lòng tin, phát nguyện vững chắc và hành trì niệm Phật tinh chuyên, chúng tôi đã có khá nhiều an lạc. Tuy nhiên gần đây, một vài người thân (cũng trải qua thời gian dài tu học) lại cho rằng: Cõi Cực lạc chỉ là biểu tượng để khuyến khích sự tu tập chứ không có thật. Vì vậy, chúng tôi thiết tha mong quý Báo giải thích để có được niềm tin sâu sắc và vững chắc hơn về pháp môn Tịnh độ.

ĐÁP: Cõi Cực lạc được Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết rõ ràng, cụ thể trong các kinh điển như kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Thập Lục Quán. Ngoài ra, trong các kinh khác như kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bảo Tích…, Đức Thế Tôn cũng đề cập đến Cực lạc và khuyến khích chúng sanh phát nguyện sanh về Tịnh độ.

Trong những kinh văn này, cõi Cực lạc được Phật Thích Ca mô tả chi tiết, đầy đủ về chánh báo và y báo. Chánh báo tức chư vị Thánh giả ở Cực lạc, thuộc hàng Bất thối, Vô sanh đang tu tập hướng về quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác với những phẩm chất thù thắng như: An lạc không bệnh; thọ mạng lâu dài; thân tướng đẹp đẽ; không có khác biệt về giàu nghèo, sang hèn; tâm tánh đức độ, nhu hòa, cao thượng; đạo tâm kiên cố; đều do hóa sanh; không có sai khác về lớn nhỏ, già trẻ, mạnh yếu; không có dơ bẩn, ô uế; tâm trí phóng khoáng, thông đạt; dứt hẳn luân hồi trong lục đạo; đầy đủ sáu thần thông; đầy đủ tuệ nhãn, chánh kiến. Y báo tức cảnh giới Cực lạc vô cùng đẹp đẽ, thù thắng và trang nghiêm như: Địa hình bằng phẳng, tràn đầy bảy báu (vàng, bạc, lưu ly…); không có các thảm họa thiên nhiên; bầu trời quang đãng, luôn tràn ngập ánh sáng; vật dụng đẹp đẽ; phong cảnh mỹ lệ; khí trời mát mẻ; âm nhạc du dương, mầu nhiệm tùy ý thưởng thức; không có loài vật (trừ sự biến hóa của Phật); nước trong ngọt ngào; đầy đủ bảy báu; không có phiền não; không có nạn nhân mãn; mọi người sống trong thái bình. Vì chánh báo và y báo trang nghiêm như thế nên Cực lạc được gọi là Tịnh độ, ngược lại với Ta bà là uế độ.

Theo vũ trụ quan Phật giáo, thế giới hay cảnh giới có nhiều đến hằng hà sa số. Ta bà và Cực lạc chỉ là những cảnh giới tiêu biểu trong vô lượng vô biên cõi ấy mà thôi. Mặt khác, mỗi cảnh giới mà chúng sanh thọ dụng phải đầy đủ ba yếu tố là vị trí, thân tướng, tâm thức. Đơn cử như cảnh giới Cực lạc nằm ở hướng Tây của Ta bà, những bậc Thánh nơi Cực lạc có thân tướng phước báo trang nghiêm và tâm thức luôn an trú trong pháp lạc thiền định hay cảnh giới địa ngục nằm ở phía ngoài núi Thiết vi, chúng sanh trong địa ngục có hình dáng xấu xa kỳ dị, tâm thức luôn đau khổ vì bị hành hạ, đói khát và sợ hãi. Ngoài ra, còn nhiều thế giới khác tương ứng với phước báo hay tội báo của thập loại chúng sanh, trong khi một số người quan niệm rằng tùy theo trạng thái tâm của mình thanh tịnh hay khổ đau mà mình đang ở Tịnh độ hay địa ngục chứ không có cảnh giới thực của Tịnh độ và địa ngục. Quan niệm này phản ánh tinh thần “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” nhưng không đúng trong quan điểm về cảnh giới thọ dụng của chúng sanh. Không nói gì xa xôi về tam thiên đại thiên thế giới, chỉ trong các cảnh giới của lục đạo (trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục) mà chúng sanh luân hồi sanh tử, nếu chúng chỉ tồn tại theo “duy tâm” (tức chỉ trong tư tưởng) thì không đúng Chánh pháp, đồng thời quan niệm này sẽ gây ra nhiều ngộ nhận lệch lạc và tác hại khôn lường như bất tín nhân quả, phủ nhận tội phước, v.v...

Quan niệm “Cực lạc không thật có” chỉ đúng trong trường hợp quán chiếu vạn pháp qua lăng kính Duyên sanh, như huyễn. Qua tuệ giác tánh Không thì không chỉ Cực lạc ở xa đến “10 muôn ức cõi” mà ngay cả Ta bà và thân năm uẩn này cũng không thật, hư vọng. Bởi lẽ, cảnh giới Cực lạc cũng là phương tiện để chư Thánh giả thành tựu niệm Phật tam muội, thể nhập tự tánh Di Đà, Thường tịch quang Tịnh độ. Khi chưa thể nhập tự tánh Di Đà, thì Cực lạc là nơi hội đủ thắng duyên cho chúng sanh nương tựa để tiến tu mà không thối đọa. Vì thế, đối với Bậc Giác ngộ thể nhập bản thể Chân như thì vạn pháp (kể cả Cực lạc) đều Không, còn hàng phàm phu thì cần cầu sanh Cực lạc.

Những lời dạy về Cực lạc xuất phát từ kim khẩu của Đức Thế Tôn qua trí tuệ giác ngộ của Ngài. Có thể nói, Phật Thích Ca là vị có thẩm quyền cao nhất nói về Cực lạc và Ngài đã tuyên thuyết điều đó trong các kinh điển như đã đề cập với nghĩa lý rõ ràng. Do vậy, dù thông qua hình tướng để biểu thị thể tánh (một đặc điểm của kinh điển Đại thừa) nhưng không thể chỉ thuần lý khi nói đến Cực lạc, mà người học Phật cần phải nhận thức về Cực lạc với sự lý viên dung.


www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 11-22-2006 , 10:43 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tôi là một Phật tử thường đến Chùa có nghe các vị giảng sư giảng nhưng chưa hiểu rõ về lạy 3 lạy, có hỏi một số huynh đệ thì có người nói thế nâỳ có vị nói thế khác . Xin giải thích ý nghĩa của 3 lạy của đạo Phật như thế nào? Ngoài ra, gần đây tôi có nghe nói đến 5 lạy, vậy ý nghĩa của 5 lạy như thế nào?

TRẢ LỜI: Trước hết chúng tôi trình bày về ý nghĩa ba lạy và cách thức lễ lạy của Phật giáo mà từ xưa đến nay Phật tử thường hay đảnh lễ Tam Bảo mỗi khi đến chùa hay trong các buổi lễ Phật giáo. Thứ đến chúng tôi cũng ghi lại đây hai sáng tác của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh về ba lạy và năm lạy. Ý nghĩa và cách thức lạy này được tìm thấy trong nội dung - trong đó lạy thứ nhất là lạy Tổ Tiên, xin tổ tiên phù hộ độ trì, lạy thứ hai là lạy Phật và chư Tổ Sư.......

Ý nghĩa ba lạy của Phật Giáo
Ba Lạy, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Năm Lạy, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh


Ý NGHĨA BA CÁI LẠY CỦA PHẬT GIÁO

Lạy hay còn gọi là Lễ Lạy, Lễ Bái, là nghi thức rất phổ thông trong dân gian, mang ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn và niềm tôn kính đến với các đấng thần linh, các bậc tiên hiền có công khai phá giang sơn, bảo vệ sơn hà xã tắc, và tổ tiên dòng họ tiếp nối.

Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hoá Trung Hoa, nên việc lễ lạy, từ hình thức đến nội dung, từ lễ tổ tiên ông bà ở nhà cho đến lễ lạy Trời, Phật, Thánh, Thần ở đình, chùa, lăng, miếu cũng đều bị ảnh hưởng theo.

Hầu hết các tôn giáo đều có lễ lạy nhưng với nghi thức và ý nghĩa khác nhau. Với Phật Giáo, ý nghĩa và cách thức lễ lạy khác với các đạo giáo khác.

Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ. Tại xứ này ngày xưa, dân chúng thường bày tỏ lòng tôn kính chân thành đến một người nào đó họ ngưỡng mộ kính mến bằng cách quỳ xuống sát đất, đặt trán mình lên chân của vị ấy. Đức Phật là vị Đạo Sư, là bậc giác ngộ được tôn kính đặc biệt tại xã hội Ấn Độ thời bấy giờ.

Lúc đức Phật còn tại thế, mỗi lần nghe pháp hay thưa thỉnh việc gì, chư tăng thường chắp tay lạy ba lạy rồi thưa hỏi hay ngồi nghe pháp. Đức Phật mặc nhiên chấp nhận cung cách này như là một tục lệ có từ lâu đời của xã hội Ấn Độ. Tuy vậy Ngài cũng không đặt thành nghi thức lễ lạy mà để tùy tâm các đệ tử.

Sau khi Phật Niết Bàn, hình thức lễ nghi và sự tôn kính ấy vẫn được duy trì trong các hàng đệ tử của Ngài. Sự duy trì hình thức ấy với mục đích là luôn luôn xem đức Phật như còn tại thế. Chư tăng mỗi khi tụng kinh ôn lại lời Ngài dạy, phải mặc áo cà sa tức áo mầu hoại sắc trang nghiêm, lạy Phật ba lạy. Hàng đệ tử tại gia cũng theo gương quý chư tăng lạy Phật như thế.

Tại sao lại lạy ba lạy mà không lạy hai lạy, bốn lạy hay năm lạy? Ba lạy chính là lễ lạy ba ngôi quý báu tức Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

Người đời thường xem vàng, bạc, kim cương, hột xoàn, dollars, và danh lợi thế gian là quý báu. Nhưng thực tế cho biết những thứ này không đem lại hạnh phúc chân thực, không cứu được con người thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Nhưng với ba ngôi quý báu Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng có năng lực dẫn dắt con người thoát khỏi mọi phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi.

Phật là Giác, là thức tỉnh ra khỏi giấc ngủ mê. Đức Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngài là một bậc đạo sư, một người chỉ lối dẫn đường cho mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy đầu tiên là để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ và nhớ ơn Phật, cùng là thề nguyện sẽ theo gương Ngài mà tu hành để về bến giác.

Pháp là những lời Phật dạy các đệ tử, sau đó được ghi bằng chữ, gọi là Kinh và Luật. Còn Luận là những lời bàn luận của các vị Bồ tát, đệ tử của Phật để làm sáng tỏ thêm những lời Phật dạy. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy thứ hai là lạy Pháp bảo nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến những lời dạy của Phật, những lời dạy mà, nếu chúng ta thực hành sẽ có công năng đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bến bờ giải thoát.

Tăng là một đoàn thể sống chung với nhau ít nhất là bốn người, bỏ nhà xuất gia đi tu, giữ đầy đủ giới luật của Phật đặt ra, với mục đích tu hành giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sinh. Vì thế cái lạy thứ ba là lạy Tăng Bảo, từ các vị Thánh Tăng xuất thế đến các vị Tỳ Kheo trụ thế tu hành chân chính, đạo đức trong sạch, và giới luật trang nghiêm, để tỏ lòng thành kính và biết ơn những vị này đã sống đời sống lý tưởng, đã hy sinh gia đình tiền của và danh vọng, đã xem tiền bạc châu báu như rắn độc, danh lợi như đôi dép rách, sắc đẹp như cạm bẫy, ăn ngon mặc đẹp như xiềng xích trói buộc, để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sinh trên đường đạo.

Ngoài ý nghĩa lễ lạy Phật, Pháp và Tăng nêu trên, ba cái lạy cũng còn mang ý nghĩa lễ lạy ba ngôi qúy báu bên trong chúng ta và trong mỗi chúng sinh, vì chúng sinh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt (Phật tánh), đồng một pháp tánh từ bi và bình đẳng (Pháp tánh), và đồng một đức tánh thanh tịnh, hòa hợp (Thanh tịnh tánh).

Về cung cách lạy cũng có nhiều thứ. Người Ấn Độ cũng như Trung Hoa có nhiều cách lễ lạy khác nhau. Riêng Phật giáo Việt Nam thường lạy theo phương cách "Ngũ thể đầu địa", tức là làm thế nào cho hai tay, hai chân và cái đầu đụng mặt đất. Đây làmột phương cách lạy tôn kính nhất trong tất cả các cung cách lễ lạy. Khi lễ lạy, người Phật tử đứng ngay thẳng, hai chân khép sát vào nhau, hai bàn tay chắp sát lại nhau cho khít theo thế hiệp chưởng (không phải thế hình búp sen) tiêu biểu cho sự nhất tâm. Khi lạy Phật có người để hai tay trước ngực lạy xuống. Cũng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống theo phương cách ngũ thể đầu địa, tức là khi lạy phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống đặt trán mình lên trên hai lòng bàn tay. Đối với phụ nữ, thường là quì thẳng lưng rồi lạy, chứ không đứng, vì hình thể đặc biệt của phụ nữ, khác với nam giới nên thế đứng thẳng trông hơi lộ liễu.

Trong đạo Phật bao giờ sự và lý cũng phải viên dung. Về sự lẫn lý thì như trên chúng tôi đã trình bầy. Chúng ta lạy Tam Bảo với tất cả thân tâm thành kính nhớ ơn, thành kính nhớ ơn Phật, thành kính nhớ ơn Pháp, và thành kính nhớ ơn Tăng. Thế còn cái tâm của chúng ta trong khi lạy phải như thế nào? Nghĩ ngợi gì? Tưởng nhớ đến ai, đến cảnh gì, vật gì? Hay là để tâm không nghĩ ngợi, không cầu mong điều gì? Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta hãy nhớ lại bài kệ "Quán Tưởng" mà chúng ta thường tụng trước khi đảnh lễ:

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Đế Châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.
Đã được dịch ra là:
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thề nguyện quy y.
Như thế thì bản chất Phật và chúng sinh vốn là "không tịch" lặng lẽ, tạm gọi là chân tâm. Chỉ từ khi bắt đầu khởi niệm, là bắt đầu bị cuốn vào dòng vô minh, rồi thức mới hoạt động, mới suy nghĩ, mới phân biệt ra cái "ta" (năng) và cái "không phải ta" (sở), mới nảy sinh ra tình cảm yêu ghét, tạo nghiệp, trả quả, xoay chuyển trong vòng sinh tử không thấy đường ra.
Phật thương xót chúng sinh mê muội "... trong trí bồ đề mà không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc... " (Lời sám hối), mới dậy cho chúng sinh tu hành để chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó bằng cách trì giới, tham thiền, niệm Phật, trì chú, mục tiêu đều để giảm bớt sự hoành hành của con vượn tâm, con ngựa ý, giảm bớt những thói quen chấp trước, phân biệt, yêu ghét, từ từ đi tới định tâm.

Khi tâm đã "định" thì trí huệ bát nhã mới có dịp hiển lộ, mới được hưởng mùi vị cam lồ của Phật Pháp. Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Nếu chỉ dạy con người ăn hiền ở lành thì nhiều tôn giáo khác đã làm, đức Phật thị hiện ra đời là dư, không có gì đặc biệt đáng được tôn là Đấng Đại Giác. Chính là vì Ngài đã "nhận" được cái tánh "không tịch" và tự mình dẫn đường cho chúng sinh trong suốt 49 năm, còn để lại kinh sách làm bản đồ cho đời sau nương theo tu tập mà trở lại được cái tánh "không tịch" ấy.

Kẻ nội thù dìm ta trong dòng vô minh chính là cái tâm sinh diệt suy nghĩ liên miên này. Cho nên nếu muốn báo đền ơn Phật, vâng lời Phật thì ít nhất là trong khi lễ lạy phải tuân theo lời Phật dạy, không suy nghĩ gì cả, chỉ theo dõi hành động mà thôi, lễ xuống thì chỉ biết là lễ xuống, đứng lên thì chỉ biết là đứng lên, chắp tay thì chỉ biết là chắp tay, v..v... không có nghĩ đến bất cứ ai, không tưởng nhớ đến bất cứ cái gì. Hễ một niệm tưởng dấy lên là ô nhiễm rồi, là hết "không tịch" rồi, là từ "nhất niệm vô minh" trôi lăn vào dòng vô minh miên viễn rồi.

Nói tóm lại, "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch", nghĩa là người lạy và đấng mình lạy, thể tánh đều vắng lặng bình đẳng. Thật tướng vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng, không phân biệt, không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nếu khi lạy mà tâm còn vướng mắc một chút xíu mong cầu, dù là cầu cho tha nhân, hay một chút tơ tưởng đến bất cứ điều gì, như nghĩ đến công ơn đức Phật, nhớ đến dòng họ tổ tiên, dù chỉ mỏng như một sợi tơ cũng không đúng phép. Tâm phải ở trạng thái thanh tịnh vắng lặng. Phật giáo Việt Nam đã thực hiện phép lý lạy này từ ngàn xưa, thiết tưởng không có phép nào đầy đủ ý nghĩa và hợp với lý Bát Nhã hơn.

Ban Biên Tập TVH

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 11-26-2006 , 06:58 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Trong Kinh Lăng Già Đức Phật có nói về ba thứ lượng và năm phần luận. Vậy xin quý ban biên tập vui lòng giảng giải cho chúng tôi biết thế nào là ba thứ lượng và năm phần luận.

TRẢ LỜI:

Trong phần lược giải Kinh Lăng Già, Hoà Thượng Thích Duy Lực giải thích như sau:

(1) BA THỨ LỰƠNG : Hiện Lượng, Tỷ Lượng và Thánh Ngôn Lượng. Nghĩa chữ Lượng là sự hiểu biểt đúng với mức độ của nghĩa lý, gọi là lượng.

a. Hiện Lượng : Là sự vật hiện hữu trước mắt đang thấy, được hiểu biết, gọi là hiện lượng, cũng như thấy đang mưa biết là mưa.

b. Tỷ Lượng : Là do thí dụ so sánh mà biết, cũng như sáng mới thức dậy, thấy ngoài sân sau vườn, mặt đất ướt đều hết, biết là đêm qua có mưa, gọi là tỷ lượng.

c. Thánh Ngôn Lượng : Nghĩa là không thấy mưa, không thấy mặt đất ướt,chỉ nghe chỉ nghe bậc Thánh nói đêm qua có mưa, vì tin lời nói của bậc Thánh không có nói dối, gọi là Thánh ngôn lượng.

(2) Năm Phần Luận : Là ba chi Tông, Nhơn, Dụ, và Hợp với Kết, tức là năm phần luận, cũng gọi là Nhân Minh Luận, người Tây phương gọi là Logic, dùng để chứng minh sự vật có đúng lý hay không.


www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 12-02-2006 , 07:24 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Xin cho biết "Thiền Duyệt" là gì?

TRẢ LỜI: Thiền duyệt có nghĩa là sự an vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải có một sự cố gắng vất vả ghê gớm lắm. Tôi còn nhớ trong khóa tu thiền đầu tiên, tâm tôi cứ suy nghĩ lung tung và chu du đi khắp mọi nơi. Ðến một lúc bực mình quá, tôi tự nhủ là nếu nó xảy ra lần nữa thì tôi sẽ đập đầu vào tường cho biết! Nhưng thật may cho tôi, lúc ấy tiếng chuông báo hiệu giờ ăn trưa cũng vừa được thỉnh lên. Trong khi sắp hàng chờ lấy đồ ăn, tôi nghe trộm hai người đứng phía sau nói chuyện với nhau. Một người hỏi thăm người kia về thời ngồi thiền vào buổi sáng này. Anh ta trả lời với một giọng thật vui tươi, “Sáng này tôi ngồi chẳng được yên gì mấy, nhưng chiều nay chắc chắn là sẽ tốt hơn”.

Tôi quay lại nhìn anh ta với một ánh mắt kinh dị và khó tin. “Tại sao anh lại không hề bị bực mình như tôi?”. Tôi tự hỏi. “Anh ta có coi chuyện hành thiền là quan trọng hay không chứ?”. Và đó cũng là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, anh ta là Joseph Goldstein. Năm năm rưỡi sau, hai chúng tôi cùng với Jack Kornfield và một số bạn có tâm đạo, đã cùng nhau đứng ra thành lập Trung tâm thiền tập Insight Meditation Society. Ðến lúc ấy thì tôi cũng đã hiểu được ý của Joseph khi anh nói lên câu đầy hy vọng ấy.

Khi sự tu tập tiến triển hơn, tôi mới hiểu những điều kiện cần thiết cho sự phát triển định lực không phải là cái thái độ tranh đấu, gian khổ mà tôi đã có. Theo tâm lý học Phật giáo thì bất cứ một tâm hành thiện nào cũng đều có một nhân duyên gần của nó. Ðó là một điều kiện cơ bản làm phát khởi lên đức tánh ấy. Ví dụ, nhân duyên gần của tâm từ, metta, là thấy được sự tốt lành trong người khác. Vì vậy, tâm metta dễ phát khởi nhất khi ta nhìn thấy những cái hay, cái đẹp của người chung quanh mình. Tôi thì cứ tưởng nguyên nhân để làm phát sinh tâm định phải là một sự căng thẳng, tranh đấu mãnh liệt. Nhưng hoàn toàn ngược lại, tôi vô cùng ngạc nhiên vì nhân duyên gần để làm phát khởi định lực chính lại là sự an lạc.

Sau này tôi mới hiểu, cố gắng trói buộc tâm mình vào trong một đối tượng sẽ không tạo điều kiện cho định lực phát sinh. Và trái lại, khi tâm ta buông thả, tĩnh lặng và hạnh phúc, ta sẽ có thể định tâm rất dễ dàng và tự nhiên. Hạnh phúc tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là một cảm giác vui thú thoáng qua, mà tự nó chứa đựng một sự lo âu vì ta sợ sẽ mất đi. Hạnh phúc làm điều kiện cho định lực mà tôi muốn nói là một trạng thái tĩnh lặng, khi tâm ta yên ổn, cởi mở và tự tin. Ðây là một khu vườn phì nhiêu cho cây Ðịnh đâm hoa, kết trái. Nhưng làm sao ta có thể có được trạng thái an lạc ấy đây?

Theo tôi nghĩ, muốn có một sự an lạc, trước hết ta cần phải có một cái nhìn cho đúng. Một cái nhìn mà Joseph đã biểu lộ trong giờ ăn hôm ấy nhiều năm trước đây. Trong hành trình tu tập, bao giờ ta cũng sẽ có những kinh nghiệm mà ta cho là sự thăng trầm. Thiền tập là một tiến trình tuần hoàn, một vòng tròn, nó thách thức hết mọi sự phân tách nhưng đòi hỏi một sự chấp nhận. Và càng tu tập, tôi lại càng khám phá rằng khả năng chấp nhận và cho phép những kinh nghiệm thay đổi, nó có liên hệ đến mức độ tự trọng của mình.

Khi đức tự trọng của tôi vững mạnh, tôi có thể trải qua những giai đoạn khó khăn mà không hề nản lòng. Vấn đề khó khăn không phản ảnh sự yếu kém của tôi. Và khi gặp những lúc an vui, dễ chịu, tôi cũng không bị lệ thuộc vào chúng, vì sợ chúng sẽ đổi thay hoặc mất đi. Ðối với tôi, đức tự trọng là một yếu tố chủ yếu trong việc duy trì sự an lạc và từ đó dẫn đến định lực. Tôi cũng hiểu, mức độ tự trọng của tôi còn được cắm rễ trong những việc làm hằng ngày của tôi nữa, chứ không phải chỉ giới hạn trong lúc ngồi yên trên tọa cụ sự thực tập và nó cũng đã được ghi chép trong kinh điển.

Kinh điển Phật có trình bày cho ta thấy một trạng thái tâm thức sẽ giúp tạo nên điều kiện cho sự phát sinh của tâm thức kế tiếp như thế nào, theo một thứ tự ngẫu nhiên. Trong quyển Thanh tịnh đạo, Visuddhi-magga, một tác phẩm nổi tiếng trong bộ Luận tạng của Phật giáo Nam tông, thì sự an lạc là một phần tự nhiên của tiến trình đi từ giới luật cho đến sự giải thoát tối thượng.

Mở đầu, bộ luận ấy nói rằng giới luật là nền tảng của sự phát triển định lực. Trong đạo Phật, giới luật không phải được xem như là những điều lệ bắt buộc, cố định. Giới luật có nghĩa là sống với chủ ý phản ảnh tình thương và tâm từ của ta ra đối với chính mình và người chung quanh. Như triết gia George Santayana nói, “Giới luật là ước muốn làm vơi bớt khổ đau cho cuộc đời”. Khi chúng ta sống hòa hợp với chân lý muôn đời mà mọi vật trên thế giới này đều có liên hệ với nhau, ta sẽ không bao giờ muốn làm hại bất cứ một cái gì. Và, giới luật sẽ làm phát khởi lên điều kiện tâm thức kế tiếp là sự câu thúc.

Câu thúc tức là ngăn ngừa, kềm chế, là nền tảng của sự phát triển một tâm không hối hận. Khi ta biết dừng lại một sự thúc đẩy nhất thời, xúi giục ta hành động gây hại, ta có thể thấy được cái tính chất vô thường và vô ngã của ý muốn vừa khởi lên ấy. Tránh được những hành động gây hại, ta sẽ tránh được mặc cảm tội lỗi, sợ bị người khác biết, và nỗi bối rối, hối hận khi ta khám phá rằng bất cứ hành động nào cũng đều đem lại hậu quả.

Một điều kiện tích cực phát sinh từ sự câu thúc là trạng thái hỷ, tức vui mừng. Vì không hối hận chính là nền tảng của sự phát triển tâm hỷ. Hỷ là một trạng thái nhẹ nhàng và dễ chịu mà ta có trong cuộc sống, khi ta bắt đầu biết lo cho chính mình và người chung quanh nhiều hơn. Khi chúng ta thật sự cảm thấy một sự liên hệ với người chung quanh, ta sẽ buông bỏ những hành động nào có tính cách gây hại, và bớt làm những việc gì khiến ta cách biệt với người khác. Từ đó, cái cảm giác cô đơn, xa cách của ta cũng sẽ tan biến mất. Tâm hỷ lại là nền tảng cho sự phát triển an lạc.

Và ta có được sự an lạc qua phương cách đó - một sự an lạc của vững chãi và thảnh thơi. Sự an lạc ấy sẽ không bao giờ bị lay chuyển, cho dù vật đổi sao dời, con người có làm cho ta thất vọng, hoặc ta không đạt được những gì mình muốn. Hạnh phúc ấy dựa trên ý thức rằng mọi sự sống đều có liên hệ với nhau, và hành động của ta bắt nguồn từ một trạng thái nguyên lành và trọn vẹn nhất. Nó bắt nguồn từ một tâm thư thái. Ta gọi đó là đức tự trọng.

Tiếp theo đó, như trong Thanh tịnh đạo ghi chép, an lạc lại là nền tảng cho sự phát triển một tâm tĩnh lặng. Thay vì là những sôi động, xôn xao mà ta thường kinh nghiệm khi mình lo nghĩ và hối hận, tâm ta trở nên yên lặng hơn. Vì không phải lo đối phó và tháo gỡ những rối rắm trong tâm hồn, ta có thể an trú trong phút giây hiện tại này hơn. Tĩnh lặng, phát khởi từ sự an lạc, là nền tảng của sự phát triển định lực. Sự tĩnh lặng này chính là cái mà tôi đã thiếu trong khóa tu ngày xưa, nhiều năm trước đây.

Ðịnh là sự vững vàng của tâm, một cảm giác mà ta có khi sự chú tâm của ta nhất điểm và mãnh liệt. Khi ta có định lực, cánh cửa của tuệ giác sẽ mở rộng. Chừng ấy, ta có thể nhìn thấy được sự việc như chúng thật sự là, và không để bị méo mó qua những lăng kính của sự ưa thích và ghét bỏ của ta. Chính nhờ bỏ đi những lăng kính này mà ta bắt đầu biết tin tưởng vào khả năng cảm nhận sự thật của mình. Một cái nhìn và hiểu biết đúng đắn, khi đã thật sự trở thành một phần trong đời sống của ta, sẽ là nền tảng cho sự phát triển một tâm bình thản.

Tâm bình thản không phải là một thái độ lãnh đạm và dửng dưng, mà là một tâm thức bao la, trong đó ta cảm thấy trọn vẹn và đầy đủ, cho dù hoàn cảnh cuộc đời có thăng trầm đến đâu. Nó là một sự trầm tĩnh trước những biến động của cuộc đời mà ta phải liên tục đối diện. Cho dù ta có đạt được những gì mình muốn hay không, chúng ta vẫn thấy được vấn đề trong đúng phối cảnh của nó. Ta vẫn có thể làm những gì cần làm, để làm vơi bớt khổ đau của mình và của kẻ khác, nhưng hành động ấy sẽ phát xuất từ một hạnh phúc nội tại. Ðó chính là Joseph trong giờ ăn trưa hôm ấy, mặc dù lúc đó tôi cho rằng anh ta quá tầm thường, vì anh đã không tự hành hạ mình giống như tôi.

Sự bình thản là nền tảng cho sự phát triển một tâm bớt tham lam và giận dữ. Một khi chúng ta đối diện với cuộc đời bằng một tâm quân bình và hạnh phúc, ta sẽ không còn bị phản ứng máy móc theo thói quen và tập quán của mình nữa, như là lúc nào cũng chạy theo lạc thú và trốn tránh đớn đau. Những tập quán lâu đời ấy sẽ thôi không còn cắm rễ vào tâm ta như xưa. Và nếu chúng có khởi lên cũng sẽ rất là mềm yếu, ta không cần phải sợ hãi vì biết mình có một sự chọn lựa và không để chúng sai sử như trước.

Sự phai mờ của tâm tham lam và sân hận là nền tảng của giải thoát. Giải thoát chính là một sự hiểu biết chân lý mãnh liệt đến nỗi ta không còn có thể quay trở lại được nữa. Khi ta tiếp xúc với những kinh nghiệm của mình không bằng thành kiến, không cố gắng dùng chúng để khỏa lấp một sự trống vắng nào trong ta, ta sẽ thấy được rõ ràng những gì đang có mặt. Chúng ta có thể cởi mở ra với sự sống và học hỏi nó, vì chân lý của cuộc đời bao giờ cũng có mặt trong mỗi kinh nghiệm của mình. Khi ta có chánh niệm, ý thức rõ ràng và không phê phán, ta sẽ khám phá được nguyên nhân của khổ đau cũng như sự chấm dứt của khổ đau.

Sự tiếp nối này, như đã được diễn tả trong Thanh tịnh đạo - giới luật, ngăn giữ, hỷ, lạc, tĩnh lặng, định, bình thản, sự phai mờ của tham lam và sân hận, và giải thoát - chúng tiếp theo nhau thật tự nhiên như sự chuyển động của một làn gió. Và an lạc, khi được nhìn dưới ánh sáng của tiến trình này, sẽ trở thành một phần của con đường tu tập. Ta sống với tình thương, lòng từ bi, tâm bất hại, và chúng sẽ dẫn ta đến một khung trời giải thoát.

Mặc dù an lạc tự nó là mục đích, là quả trái của thiền tập, nhưng nó cũng là một phương tiện, một trạng thái tâm thức mà ta có thể có ngay bây giờ và ở đây, chỉ cần ta biết tự trọng và sống với tình thương. Và niềm an lạc ấy là một nguyên tố chủ yếu giúp ta giải thoát khỏi mọi khổ đau trong cuộc đời này.

Sharon Salzberg - Nguyễn Duy Nhiên chuyển dịch
Trung tâm thiền tập Insight Meditation Society

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 12-05-2006 , 07:43 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Quan điểm về Nghiệp của Phật giáo có sự khác biệt như thế nào so với quan điểm Số mạng của Nho giáo?

Đáp : Mỗi cá nhân có một cấu trúc tâm sinh lý, hoàn cảnh và điều kiện sống hoàn toàn khác nhau. Cùng là con người, nhưng giữa họ có sự bất đồng rõ rệt giữa giàu nghèo, xấu đẹp, khỏe mạnh và đau yếu, trường thọ và chết yểu, thành công và thất bại, hạnh phúc và khổ đau... Đây là những nghi vấn ngàn đời mà từ lâu các hệ tư tưởng triết học, tôn giáo đã cố công đi tìm lời giải đáp. Ở đây, Phật giáo giải thích căn nguyên của sự dị biệt đó bằng thuyết Nghiệp hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo.

Theo quan điểm của Nho giáo, khái niệm Số mạng được dẫn xuất từ lý thuyết Thiên mệnh, tức là mệnh trời. Căn cứ vào lý thuyết Thiên mệnh, thì Trời được xem như một quan tòa công minh, cầm cân nảy mực phán xét mọi việc. Trời quyết định mọi sự thành công hay thất bại trong đời sống của con người. Điều này, trong tác phẩm Luận ngữ, thiên Nhan Uyên, Khổng Tử cho rằng: “Sống chết có số mạng, giàu sang tại Trời” (Tử sanh hữu mạng, phú quí tại Thiên) Con người không thể cãi lại mệnh Trời, "Trời kêu ai người nấy dạ”. Mọi cố gắng của con người không ngoài ý Trời. Chính ngay bản thân mình, Khổng Tử cũng thừa nhận: "Năm ta mười lăm tuổi chỉ để tâm vào việc học, năm ba mươi tuổi đã đủ lực mà lập thân, năm bốn mươi tuổi tâm trí đã đủ sáng suốt, năm năm mươi tuổi, ta hiểu được mệnh trời...” (Ngô thập hữu ngũ, nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri Thiên mệnh"... Luận ngữ, thiên Vi Chính). Có thể nói, theo quan niệm của Nho giáo thì con người cần phải đặt hết mọi niềm tin vào ý chí của Trời. Cũng theo Khổng Tử thì việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện để trở thành con người hoàn thiện: “Không hiểu mệnh trời, không xứng đáng là người quân tử” (Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dã - Luận ngữ, thiên Nghiêu Viết).

Như vậy, quan điểm về Thiên mệnh xét đến cùng thì luôn mang tính chất tiêu cực, thụ động, cứng nhắc; triệt tiêu mọi nỗ lực chuyển hóa, hướng thiện của con người. Con người khi mới sinh ra thì đã có một số mệnh an bài và được định đoạt bởi ý chí của một đấng siêu nhiên. Một khi đã đặt trọn niềm tin của mình vào đấng siêu nhiên, vào số phận, số mạng thì con người đành phải chấp nhận xuôi tay, giao phó toàn bộ đời mình cho một đấng quyền năng quyết định.

Trái với những quan điểm đó, Phật giáo không chủ trương và không chấp nhận số mệnh. Con người hiện hữu trong dòng sống sinh động với các đặc tính khác nhau là kết quả của Nghiệp được tạo tác bởi chính họ trong hiện tại và quá khứ. "Con người là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự Nghiệp...” (Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt - Trung Bộ III ).

Nghiệp là hành động có tác ý, hay hành động phát sinh từ tâm được thể hiện qua hành động (Thân nghiệp), ngôn ngữ (Khẩu nghiệp) và tư duy (Ý nghiệp). Nghiệp lực là sức mạnh của Nghiệp, là động lực thúc đẩy, dẫn dắt để hình thành một thân phận chúng sanh. Nghiệp do mình tạo ra rồi trở lại chi phối chính mình. Nghiệp có nhiều loại, mỗi loại có một tính chất và công năng khác nhau. Hai loại Nghiệp chính thường được đề cập là Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp. Dẫn nghiệp là Nghiệp do con người tạo ra trong đời sống hiện tại hay quá khứ thông qua thân, khẩu và ý hoặc thiện hoặc ác, để rồi chính Nghiệp này dẫn dắt con người ấy sanh vào một trong sáu nẻo của Lục đạo (Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục ). Tuy nhiên, cùng là người nhưng có người khỏe mạnh, người lại ốm đau; người đẹp, kẻ xấu; người này sang trọng, người kia lại nghèo hèn và tất cả những sai biệt ấy là quả báo của Mãn nghiệp.

Con người tạo ra Nghiệp và sẽ không thể và không bao giờ trốn thoát được những Nghiệp do mình gây tạo ra. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, quan điểm về Nghiệp của Phật giáo không giống như Định mệnh hay Số mệnh. Điểm khác nhau cơ bản giữa Nghiệp và Số mệnh ở chỗ, Nghiệp do chính con người tạo tác, có tính chất duyên sinh, bất định tính và vô ngã nên Nghiệp có thể chuyển hoá được. Do đó, con người có thể thay đổi, chuyển hóa Nghiệp báo của chính mình từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện hoặc ngược lại.

Năng lực chuyển hóa Mãn nghiệp trở thành tốt hơn hoặc xấu đi được gọi là Năng tiêu nghiệp. Tác dụng của Năng tiêu nghiệp trong đời sống hiện tại rất lớn. Một người có tư chất thông minh và cơ thể khỏe mạnh là kết quả của Mãn nghiệp. Thế nhưng, người ấy không lo học tập, rèn luyện thân thể lại còn sống buông thả, đắm say tửu sắc, ma túy... Kết quả từ chỗ khỏe mạnh anh ta trở nên ốm yếu, tiều tụy; từ chỗ thông minh thành ra ngu đần, thác loạn. Năng tiêu nghiệp đã làm tiêu hủy Nghiệp tốt của người này. Ngược lại, một người với quả báo Mãn nghiệp có cơ thể ốm yếu, tật bệnh nhưng nhờ biết giữ gìn sức khỏe, luyện tập dưỡng sinh, ăn uống điều độ, làm việc giờ giấc, thì không những khỏe mạnh, chiến thắng bệnh tật, thậm chí còn trường thọ. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ có một phần ba lá phổi mà vẫn làm việc bình thường; Stephen William Hawking - nhà vật lý vĩ đại người Anh của thế kỷ này - tuy bị liệt toàn thân chỉ còn ba ngón tay nhưng vẫn liên tục đưa ra nhiều phát minh quan trọng.... là những thí dụ điển hình của Năng tiêu nghiệp theo hướng tích cực.

Đối với Dẫn nghiệp, một loại Nghiệp có cường độ mạnh trong việc quyết định hướng tái sanh nhưng vẫn chuyển hóa được. Trong sách Đồng Mông Chỉ Quán, ngài Trí Giả đại sư có kể chuyện một Sa di yểu mạng nhưng nhờ cứu sống một đàn kiến nên được chuyển Nghiệp. Đáng lẽ, vị Sa di này phải chết trong vòng một tuần lễ lại được sống an ổn, trường thọ. Năng lực chi phối Dẫn nghiệp là Năng hủy nghiệp. Một người thọ mạng vẫn còn, nghiệp lực của Dẫn nghiệp (Tái sanh nghiệp) vẫn còn nhưng vì người này trong đời trước hoặc ngay trong đời này đã tạo ra những Nghiệp cực mạnh, có khả năng tiêu hủy đời sống của họ, khiến họ có thể mất mạng như thường. Đó là những trường hợp đột tử, bất đắc kỳ tử, tai nạn... Đây không phải là số mệnh,định mệnh hay tới số, tận số. Phật giáo gọi là Nghiệp, tác động của Năng hủy nghiệp đã tiêu hủy một Dẫn nghiệp được tạo ra trước đó, chấm dứt một đời sống. Năng hủy nghiệp trong trường hợp này giống như cơn gió thổi tắt đèn trong khi đèn vẫn còn dầu và tim đèn.

Tựu trung, Nghiệp theo Phật giáo là một cơ chế vận hành của đời sống được khám phá bởi tuệ giác của Đức Phật chứ không phải một tín ngưỡng vu vơ, siêu hình và hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo. Nghiệp tuy có năng lực mạnh mẽ, chi phối và quyết định đời sống của chúng sanh trong hiện tại và tương lai nhưng Nghiệp có thể chuyển hóa và thay đổi được thông qua nỗ lực tu tập của cá nhân, chứ không cứng nhắc, tiêu cực như Số mệnh. Thuyết Nghiệp rất tích cực, khoa học và công bằng. Nó tôn vinh trách nhiệm và giá trị con người, thúc đẩy con người hướng thiện, sống đạo đức, theo lẽ phải. Thuyết Nghiệp khích lệ con người hành động và tiến bộ, hoàn toàn vắng mặt bóng dáng tiêu cực, yếm thế. (Ban Tư Vấn TC. Giác Ngộ)

www.*******hoasen.org.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 12-13-2006 , 08:41 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tùy Duyên Giáo Hóa

HỎI:

Tôi là người xuất gia đang hành đạo ở vùng sâu vùng xa. Có nhân duyên là các cháu học sinh hàng ngày đi học về thường ghé chùa và tôi thường khuyên dạy các cháu về hiếu nghĩa, đạo đức và nhất là vâng lời cha mẹ, thầy cô, chăm ngoan học hành. Tôi nghĩ mình đang góp phần làm điều lợi ích cho xã hội bởi trao truyền đạo đức cho các cháu là cần thiết. Thế nhưng một vài bậc phụ huynh không hài lòng, đã ngăn cấm không cho các cháu vào chùa. Tôi mong muốn các bậc phụ huynh nhận thức rằng việc các cháu được gần gũi môi trường đạo đức là điều cần thiết nhưng chưa biết làm sao!

ĐÁP:

Thiện tâm của cô muốn khuyên dạy các cháu về đạo đức, hiếu nghĩa, chăm ngoan là điều tốt song không phải bất cứ điều tốt đẹp nào cũng được cảm thông, chia sẻ và ủng hộ. Sở dĩ các bậc phụ huynh ở địa phương không hài lòng trước việc làm của cô, xét kỹ không phải không có nguyên nhân.

Trước hết, do họ không nhận thức đúng về chùa chiền là môi trường giáo dục, đạo đức, văn hóa và tâm linh mà chỉ biết đại khái là nơi thờ tự thánh thần nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cầu cúng, van vái. Mặt khác, người tu, theo họ dù hiền lành nhưng chỉ là những kẻ yếm thế, bi quan, sống nhờ lòng thương của bá tánh hoặc chuyên hành nghề cúng bái, xem quẻ, giải xăm. Đặc biệt là quan niệm thiển cận khi cho rằng, tuổi trẻ nếu “nhiễm” từ bi hỷ xả sẽ có khả năng thui chột ý thức phấn đấu, cạnh tranh, khó thành công trong cuộc sống và chẳng may các cháu “mê” chùa xin đi tu là điều tai họa. Nếu nhận thức về chùa chiền và tu hành phiến diện như vậy thì việc họ cấm đoán con cái không nên vào chùa chơi cũng là điều dễ hiểu.

Đó là quan niệm của những người không biết gì nhiều về Phật giáo. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều người dù tin Phật, có đi lễ chùa hoặc đã quy y nhưng chưa hiểu đạo nghĩ rằng, đến chùa khi về già mới thích hợp còn tuổi trẻ thì không nên hoặc giả các cháu còn nhỏ, ham vui nếu đến nơi tôn nghiêm lỡ có bề gì thất kính với thánh thần sẽ bị trách phạt… Do vậy, họ không an tâm khi các cháu đến chùa một mình.

Trên đây là những nguyên nhân cơ bản, khá phổ biến dẫn đến việc những bậc phụ huynh cấm cản các em nhỏ đến chùa tham quan, vui chơi, học tập. Để khắc phục tình trạng này, trước hết cô cần kiện toàn nhân cách và chùa chiền bằng cách tu học, hành đạo đúng Chánh pháp. Điều này sẽ giúp mọi người dần hiểu và nhận thức đúng đắn hơn về Phật giáo. Điều quan trọng là cô cần phát huy thuyết giảng, thường xuyên có những pháp thoại ngắn hoặc đọc một bản kinh hay một bài viết giáo lý trong sách báo Phật giáo trong những buổi lễ để hàng Phật tử và mọi người ngày càng hiểu biết giáo lý đúng đắn, sâu sắc hơn, nhất là nhận ra những giá trị đạo đức Phật giáo mà mọi người, mọi lứa tuổi cần phải tuân thủ, ứng dụng nhằm xây dựng bản thân, gia đình và xã hội tốt đẹp hơn.

Kế đến, cô cần thể hiện tâm nguyện “tất cả vì đàn em thân yêu” của mình qua những việc làm lợi ích thiết thực như kết hợp với Ban từ thiện chùa, chính quyền địa phương nỗ lực hơn nữa trong các hoạt động xã hội vì trẻ em. Cụ thể như: lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; hỗ trợ học phí, dụng cụ học tập cho học sinh nghèo; ủy lạo, thăm viếng các học sinh gặp khó khăn, hoạn nạn v.v… Bởi khi các bậc phụ huynh chưa hiểu được tâm nguyện giáo dục, lòng yêu trẻ, mong muốn thế hệ kế thừa không lãng quên cội nguồn của cô (qua các việc làm cụ thể) thì họ không thể cho các cháu gần gũi với người lạ được. Tâm hồn các cháu trong trắng, do vậy thận trọng với các môi trường giáo dục lạ có thể ảnh hưởng đến nhận thức con cái là điều cần làm đối với các bậc phụ huynh. Vì thế, khi chưa thiết lập được sự hiểu biết, cảm thông, động viên, hỗ trợ và tán thành của các bậc phụ huynh cũng như mọi người thì cô cũng không nên tùy tiện “lên lớp, giảng bài” cho các cháu, vì điều ấy không chừng lợi bất cập hại, có thể dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc.

Để giáo hóa chúng sanh thành công, cần phải nghiên cứu, tu tập, ứng dụng theo tinh thần Tứ nhiếp pháp. Bốn việc làm bố thí, ái ngữ, đồng sự và lợi hành cần được kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn mới có thể nhiếp hóa mọi người. Do vậy, nếu cô thực thi trọn vẹn những điều trên thì trong chừng mực nào đó cô sẽ được mọi người, nhất là những người chưa biết đạo tin hiểu, tín nhiệm và nể phục. Và nếu như “vì sự nghiệp giáo dục trẻ em” là hoài bão phụng sự chúng sanh của cô thì cứ theo phương thức này, trong tương lai cô sẽ được chính quyền địa phương cùng các ban ngành và mọi người hỗ trợ để cô được tham gia, dấn thân, phụng sự và thực thi tâm nguyện của mình.

www.chuyenphapluan.com
ilovefish
Banned
Join Date: May 2003
Số Điểm: 5480
Old 12-13-2006 , 08:43 AM     ilovefish est dconnect  search   Quote  
Đúng vậy, duy ngã độc tôn "Đời là bể khổ"
bebo
Super Member
Join Date: Jul 2003
Số Điểm: 14723
Old 12-13-2006 , 09:05 AM     bebo est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by ilovefish
Đúng vậy, duy ngã độc tôn "Đời là bể khổ"

Đúng vậy , vì ai cũng muốn cái ngã của mình được độc tôn nên đời là bể khổ .
badbond00
Banned
Join Date: Dec 2006
Số Điểm: 600
Old 12-13-2006 , 09:52 AM     badbond00 est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by ilovefish
Đúng vậy, duy ngã độc tôn "Đời là bể khổ"

Đời là bể khổ
Là một rổ trí tuệ
là mồ chôn những tâm hồn tức tưởi
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 12-16-2006 , 11:55 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
BẢN KINH ĐẦU TIÊN

HỎI: Xin cho biết sau khi thành đạo, bản kinh đầu tiên được Phật Thích Ca tuyên thuyết là kinh Hoa Nghiêm hay kinh Chuyển Pháp Luân? Giáo lý đầu tiên được giảng dạy trong kinh Chuyển Pháp Luân có phải là Tứ diệu đế không? Trong ba ngôi Tam bảo Phật-Pháp-Tăng, ngôi nào hình thành trước?

ĐÁP:Theo quan điểm của Phật giáo (PG) Bắc truyền (Mahayana), bản kinh được Thế Tôn tuyên thuyết sau khi thành đạo là kinh Hoa Nghiêm (Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh), với hội chúng gồm các vị Đại Bồ tát và vô số chư Thiên, nơi cội bồ đề. Phán giáo của Thiên Thai Trí Giả đại sư (đời Tùy, Trung Hoa), khai tổ Thiên Thai tông với thuyết Ngũ thời giáo là: “Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật (21 ngày đầu); A Hàm thập nhị (12 năm kế), Phương Đẳng bát (8 năm kế); Nhị thập nhị niên (22 năm kế) Bát Nhã đàm; Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên (8 năm sau cùng)”. Nhưng theo PG Nam truyền (Theravada), kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana sutta) là bản kinh đầu tiên được Phật thuyết cho nhóm năm anh em Kiều Trần Như cùng với chư Thiên và Phạm thiên tại Lộc Uyển, Isipatana, gần Benares, sau khi thành đạo.

Như vậy, có thể nói trong PG hiện có hai quan điểm khác biệt về bản kinh đầu tiên. Đây là một trong nhiều vấn đề dị biệt giữa hai truyền thống lớn của PG. Nghiên cứu nội dung kinh, luật, luận, sử của PG Bắc truyền và Nam truyền, dễ dàng nhận ra điều này. Tuy nhiên, những bất đồng này được xem như không đáng kể và những người học Phật nói chung, thường tuân thủ truyền thống của mình đồng thời tôn trọng những quan điểm của truyền thống khác.

Về giáo lý đầu tiên, nội dung kinh Chuyển Pháp Luân cho thấy, trước hết Thế Tôn giảng về giáo lý Trung đạo, tránh xa hai cực đoan dục lạc và khổ hạnh, con đường Trung đạo ấy chính là Bát Thánh đạo. Sau khi khai thị về Trung đạo, Đức Phật mới thuyết giảng về giáo lý Tứ diệu đế. Do đó, có thể xem Tứ diệu đế là nội dung cốt tủy của kinh Chuyển Pháp Luân nhưng Trung đạo mới thật sự là giáo lý đầu tiên.

Sau khi nghe xong bài kinh Chuyển Pháp Luân, Kiều Trần Như đắc Sơ quả Tu đà hoàn. Ngay đây, Tam bảo hình thành với đầy đủ ba ngôi. Phật bảo (Phật Thích Ca) hình thành đầu tiên, Pháp bảo (kinh Chuyển Pháp Luân) kế tiếp, Tăng bảo (năm Tỷ kheo nhóm Kiều Trần Như) sau cùng. Đến pháp thoại thứ hai, cũng tại Lộc Uyển, Phật thuyết kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana sutta) thì nhóm năm Tỳ kheo đầu tiên đều đắc quả A la hán.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 12-20-2006 , 02:37 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tôi được biết hiện nay có ít nhất là hai đoàn thể cư sĩ Phật giáo tại Hoa Kỳ người Việt và người bản xứ, tự xưng là Tăng đoàn Phật giáo mặc dầu không có một vị Tăng hay Ni nào trong tổ chức. Họ tự gọi là “Tăng thân” gì đó (không liên hệ gì đến giáo hội Làng Mai), hoạt động độc lập, tự tổ chức các khoá tu học, giảng đạo lý, hành thiền. Họ không thuộc bất kỳ một tổ chức giáo hội hay tự viện nào. Vậy xin hỏi quý ban biên tập tăng đoàn là gì và một tập hợp cư sĩ có thể là một tăng đoàn không?
TRẢ LỜI:

Tăng đoàn (Sangha) là những người từ bỏ mái gia đình, sống đời sống độc thân, phát nguyện sống trong tinh thần hoà hợp và thanh tịnh, để hỗ trợ cho nhau thực hiện đời sống giải thoát và lý tưởng giác ngộ. Một tăng đoàn tối thiểu phải gồm bốn vị tỳ kheo, dưới bốn vị không thể gọi là tăng đoàn hoặc ba vị tỳ kheo và một vị sa di cũng không thể gọi là tăng đoàn được. Tăng đoàn hay còn gọi là Tăng già là một trong Tam Bảo tức ba ngôi báu biểu hiện sự có mặt của Phật giáo và là những người trực tiếp thay đức Phật truyền giới pháp cho cả tăng lẫn cư sĩ Phật tử tại gia. Năm vị tôn giả, dược biết đến là năm anh em Kiều Trần Như là tăng đoàn đầu tiên của Phật giáo.

Ngày nay đạo Phật ở Hoa Kỳ, tuy cũng có những người xuất gia, thọ giới Tỳ kheo, lập thành tăng đoàn nhưng số này không nhiều so với thành phần Phật tử tại gia. Do khuynh hướng thế tục hóa tâm linh và ý tưởng đem đạo Phật vào đời, đạo Phật ở Hoa Kỳ cho đến nay chủ yếu là của những người cư sĩ tại gia. Phần lớn họ chọn lựa cuộc sống có vợ chồng con cái, sinh hoạt trong môi trường gia đình và ngoài xã hội. Họ thường không gia nhập hay phụ thuộc vào một ngôi chùa hay một tổ chức giáo hội do một hay nhiều vị Sư lãnh đạo vì lý do nào đó, mà chỉ gắn kết với nhau, cùng nhau tu tập qua một tổ chức, nhóm tu học hay hiệp hội không vụ lợi do chính họ (các cư sĩ) tổ chức lấy. Họ quan niệm tất cả những đệ tử của Đức Phật đều có Phật tánh và bình đẳng như nhau trên phương diện tâm linh. Một số cư sĩ còn đi xa hơn nữa là không quy y Tam bảo mà chỉ quy y Nhị Bảo. Do vậy nên mới có hiện tượng “Tăng đoàn” cư sĩ hay “Tăng thân” cư sĩ như hiện nay tại Hoa Kỳ.

Tưởng cũng cần nói thêm ở đây, từ “tăng thân” là một thuật ngữ Phật học mới do Thiền sư Làng Mai sáng tạo cũng đồng nghĩa với danh từ “tăng đoàn”. Thiền sư Làng Mai chủ trương phải có một cộng đồng xuất gia (tức tăng thân hay tăng đoàn) vững mạnh và cho rằng “để cho giới cư sĩ Phật Tử lớn mạnh thì cần phải có một truyền thống người xuất gia vững mạnh đi song song”.

Để trả lời câu hỏi thứ hai của độc giả là một tập hợp cư sĩ có thể là một tăng đoàn được không, chúng tôi xin nhường phần trả lời này cho một vị giáo sư đại học tại San Francisco State University: Cư sĩ Ron Epstein, như bài viết dưới đây:

Điều Gọi Là Tăng Đoàn Cư Sĩ tại Hoa Kỳ
Ron Epstein

Nhiều Phật tử mới tại Hoa Kỳ đang phổ biến tư tưởng cho rằng họ là một tăng đoàn và phong trào tăng đoàn cư sĩ là sự thích ứng đúng đắn của Phật Giáo vào hoàn cảnh Hoa Kỳ. Tư tưởng kỳ lạ và nguy hiểm này từ đâu đến?

Theo truyền thống, Tăng đoàn được xem là ngôi báu thứ ba trong Tam bảo – Phật, Pháp và Tăng – là nền tảng của Phật Giáo. Tăng đoàn nói lên cộng đồng những tu sĩ tăng ni thọ cụ túc giới (toàn giới) cống hiến cuộc đời, dành toàn thời gian, cho con đường Phật Đạo. Trong cả hai truyền thống Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) và Nam tông (Nguyên thủy), những giới luật liên hệ điều hành đời sống của công đồng Tăng đoàn hầu như đều giống nhau. Những giới luật nầy bảo đảm cuộc sống trong sạch, tuyệt dục, và xa rời những dục vọng thế gian. Trong Phật giáo Nam tông và Bắc tông, những vị Thầy vĩ đại và những Đại sư giác ngộ hầu như đều chỉ từ Tăng đoàn mà ra. Đã từng có một ít nam nữ cư sĩ Phật giáo giác ngộ trong quá khứ, nhưng họ không người nào là không hết lòng hộ trì Tăng đoàn như là nền tảng của một công đồng Phật giáo rộng lớn hơn.

Làm thế nào những cư sĩ lại có thể tạo thành Tăng đoàn? Đây là trường hợp vì chỉ có một ít hiểu biết nên là điều nguy hiểm. Họ nghe rằng trong Phạn ngữ Sanksrit chữ tăng đoàn (sangha) có nghĩa là cộng đồng và tự bảo nhau là chúng ta là cộng đồng, do đó chúng ta nên gọi chúng ta là Tăng đoàn.
Tại sao họ lại bỏ qua ý nghĩa truyền thống của Tăng đoàn trong Phật giáo? Tại sao họ tìm cách giành lấy vai trò của tăng ni mà không cần gánh vác những quyết tâm, thệ nguyện và trách nhiệm? Đây là trường hợp của một cái thấy ban đầu đúng lại đưa đến kết luận sai vì thiếu những thông tin chính xác.

Hầu hết những người trong phong trào tăng đoàn cư sĩ được giới thiệu về Phật giáo qua các Trung tâm Thiền Hoa kỳ (Zen Centers) tự xem là truyền thống Thiền tông Nhật bản, thuộc Phật giáo Đại thừa Bắc tông. Họ thấy rằng những người thầy trong tông này, cả người Nhật và người Hoa kỳ, đều kết hôn và trong nhiều trường hợp có lối sống cách xa sự mộc mạc và thanh tịnh.

Điều đó đánh thức họ rằng không có lý do gì để họ ủng hộ những người được gọi là tu sĩ hay tăng sĩ mà lối sống của những người này không thật sự cao thượng hơn hay đáng tán dương hơn lối sống của họ. Điều này thật hợp lý.

Nhưng như vậy, thay vì ủng hộ một Tăng đoàn đích thật, họ lại tự dựng họ lên thành tăng đoàn. Họ không nhận thức được rằng truyền thống Thiền Nhật bản (Japanese Zen) của họ là xuất xứ từ Thiền Trung hoa (Chinese Chan) (Zen - Thiền - là lối phát âm của Nhật bản) và các dòng Thiền Trung hoa có thể truy ra gốc rễ từ Ấn độ và cuối cùng đến đức Phật.

Họ không biết rằng tất cả các Đại Thiền sư Nhật bản đều ủng hộ mạnh mẽ truyền thống tu viện từng hiện hữu tại Ấn độ và Trung hoa như là điều tuyệt đối thiết yếu cho sự sống còn của truyền thống Thiền Nhật bản. Họ không nhận thức được rằng chỉ đến năm 1868, chỉ cách nay hơn một trăm năm, chính phủ Nhật bản đã đóng cửa tất cả các Tu viện Phật giáo và đẩy các tăng ni hoàn tục. Lý do xóa bỏ Tăng đoàn đích thật tại Nhật bản là lý do chính trị, và không người nào tại Nhật cố gắng lý giải trên cơ sở tôn giáo. Tăng đoàn chỉ đơn giản không bao giờ được tái lập tại đó.

Hầu hết mọi người trong phong trào tăng đoàn đều có ý định tốt, nghĩ rằng họ đang xây dựng Phật giáo Hoa kỳ thật sự. Không may là họ không biết rằng, trong suốt quá trình lịch sử, bất cứ nơi nào có tăng đoàn vững mạnh và thanh tịnh thì Phật giáo thịnh hành, và bất cứ nơi nào tăng đoàn yếu kém và băng hoại, thì Phật giáo suy đồi. Bằng cách tự dựng mình lên thành tăng đoàn, thay vì khuyến khích, giúp đỡ, và ủng hộ Tăng đoàn đích thật, họ không những đã không giúp xây dựng Phật giáo Hoa kỳ, mà còn trực tiếp đối nghịch và phá hoại nó nữa. Những người có thiện ý này cần tìm hiểu thêm về các truyền thống của mình, để họ có thể hiểu về những nguy hại họ đang gây ra, để thay đổi lại, và đi vào con đường Chánh đạo.

The So-Called Lay "Sangha" in America
by Ronald Epstein (Upasaka I Guorong)
Originally published in Vajra Bodhi Sea, v. 16, ser. 38, no. 188, Jan. 1986, p. 18.
(Chinese translation published in Wan-fo Ch'eng, Sept. 1985, p. 18.)

Many of America's new Buddhists are spreading the idea that they are a "sangha" and that their lay "sangha" movement is the correct adaptation of Buddhism to the American scene. Where does this peculiar and dangerous idea come from?
Traditionally the Sangha is considered the third of the Three Jewels---Buddha, Dharma, and Sangha--which are the foundation of Buddhism. Sangha refers to the community of fully ordained monks (Bhikshus) and nuns (Bhikshunis) who de-vote their lives, full-time, to the Buddhist Path. In both Northern (Mahayana) and Southern (Theravada) Buddhism, the moral relations governing the life of the Sangha community are practically identical. They insure a lifestyle that is pure, celibate, and free from worldly desires. In both Northern and Southern Buddhism, the great teachers and enlight-ened masters have come almost exclusively from the Sangha. There have been a few enlightened Buddhist laymen and laywomen in the past, but not one of them failed to wholeheartedly support the Sangha as the foundation of the larger Buddhist community.

How can laypeople constitute a "sangha"? This is a case of a little knowledge being a dangerous thing. They hear that the Sanskrit word sangha means community and say to themselves: we are a community, so we should call ourselves "sangha."
Why do they ignore the traditional meaning of Sangha within Buddhism? Why do they try to usurp the roles of the monks and nuns without taking on their commitment, vows, and responsibilities? This is a case of an initially valid insight leading to wrong conclusions because of lack of correct information.

Most of those in the lay "sangha" movement were introduced to Buddhism through American Zen Centers that see themselves in the tradition of the Japanese Zen schools, which belong to Northern, Mahayana, Buddhism. They see that the teachers in those schools, both Japanese and American, are married and in many cases lead lives that are far from being austere and pure. It strikes them that there is no reason for them to support these so-called "priests" or "monks" whose way of life is not really superior or more laudable than their own. That makes sense. But then, instead of supporting a real Sangha, they set them-selves up as "sangha."

They don't realize that their own Japanese Zen tradition was derived from Chinese Ch'an (Zen being the Japanese pronunciation) and that the lineages of Chinese Ch'an are traced back to India and ultimately to the Buddha. They don't know that all the great Japanese Zen masters strongly supported the monastic traditions as they existed in India and China as being absolutely essential to the survival of the Japanese Zen tradition. They don't realize that it was only in 1868, a little over a hundred years ago, that the Japanese government closed all Buddhist monasteries and sent all the monks and nuns back to lay life. The reason for abolishing the real Sangha in Japan was political, and no one in Japan has ever tried to justify it on religious grounds. The Sangha was simply never reestablished there.

Most of the people in the lay "sangha" movement are well-meaning, thinking that they are building a truly American Buddhism. Unfortunately, they are unaware that, throughout history, wherever the Sangha has been strong and pure, Buddhism has flourished, and wherever the Sangha is weakened and corrupt, Buddhism decays. By setting themselves up as "sangha," instead of encouraging, aiding, and supporting the real Sangha, they are not only failing to help build American Buddhism, but are directly opposing and undermining it. These well-meaning people should educate themselves about their own traditions, so that they can understand the harm they are doing, change their ways, and enter the right Path.

http://www.dharmasite.net/TheSoCalled'Lay_Sangha'.htm

www.*******hoasen.org
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 12-27-2006 , 07:33 AM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
****HỎI: Tôi đọc kinh sách Phật thường nghe nói tới “Thập Nhị Bộ Kinh “ tức “mười hai bộ kinh”. Vậy xin hỏi mười hai bộ kinh là gì? Có phải là các bộ kinh Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ không … ?


*****ĐÁP: Thập Nhị Bộ Kinh là 12 chủng loại của tất cả các kinh điển mà đức Phật đã thuyết. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn cũng như Luận Trí Độ, Mười Hai Bộ Kinh là: Tu Đa La, Kỳ Dạ, Thọ Ký, Dà Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, A Ba Đà Na, Y Đế Mục Đà Na, Xà Đà Dà, Tỳ Phật Lượt, A Phù Đà Đạt Ma và Ưu Bà Đề Xá.
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 12-29-2006 , 10:19 AM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
"Cho nên, Anan, bây giờ ông nên biết rằng :
Khi thấy sáng, cái thấy chẳng phải là sáng.
Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là tốị
Khi thấy không, cái Thấy chẳng phải là không.
Khi thấy ngăn bít, cái thấy chẳng phải là ngăn bít.

Bốn nghĩa đó đã thành rồi, ông lại nên biết: khi Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tánh Thấỵ

Cái Thấy mà do lìa tướng Thấy, đó là Tánh Thấy Siêu Việt (Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập).

"Vậy thì làm sao lại nói các tướng Nhân Duyên, Tự Nhiên hay Hòa Hợp ?"

Tông Thông rằng :

"Chỗ này Đức Thế Tôn hiển bày Đệ Nhất Nghĩa Đế, cái gọi là Con Đường Bồ Đề Nhiệm Mầụ Kiến và Kiến Duyên đủ năm thứ nghĩa : Sáng, Tối, Hư Không, Ngăn Bít là bốn thứ; Kiến Duyên và Kiến Tinh (cái Thấy) là một thứ Vọng Kiến.

Thế Tôn ở chỗ này mà lựa ra cái Kiến Tinh chẳng phải là bốn thứ Sáng, Tối, Không, Bít. Lấy bốn nghĩa này suy ra để rõ được cái Thấy lìa duyên trần mà vẫn tự có.

Ngay ở đây lại lựa ra cái Chơn Kiến (Tánh Thấy) soi rõ Kiến Tinh, là cái mà cái Thấy không thể bì kịp. Đây chính là mặt trăng thứ nhất, cho nên cái Thấy vẫn còn là vọng.

A ha ! Cái Chơn Kiến còn lìa cả mọi tướng thấy thì chỗ nào có hơi thở, bóng dáng gì để theo đó mà mô phỏng ra nó ? Nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên, nói Hòa Hiệp, há chẳng là hư vọng ư ?

Tổ Bá Trượng hỏi vị tăng :
--"Thấy không ?"

Đáp :
-- "Dạ, thấy".

Tổ Trượng rằng :
-- "Sau khi thấy thì như thế nàỏ"

Đáp :
-- "Thấy chẳng có hai".

Tổ Trượng nói :
-- " Đã nói là thấy thì không hai, tức là không lấy cái Thấy mà thấy nơi Cái Vốn Thấỵ Nếu Cái Vốn Thấy mà trở lại thấy, thì cái Thấy trước là đúng hay cái Thấy sau là đúng ? Như nói, "Khi Thấy mà còn có tướng Thấy, đó chẳng phải là Chơn Kiến. Thấy mà do lìa tất cả tướng Thấy, cái Thấy ấy là Siêu Việt [ Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập). ]". Bởi thế, chẳng hành cái Pháp Thấy, chẳng hành cái Pháp Nghe, chẳng hành cái Pháp Giác Ngộ, thì Chư Phật liền thọ ký".
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 12-30-2006 , 06:18 PM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
Post by ban: dragonfly_hl " ...Trong Kinh Bổn Sanh (Jakata), Đức Phật có đưa ra 10 nguyên tắc của một chính quyền tốt, gọi là "Thập Vương Pháp" (Dasa Raja Dhamma). Mười nguyên tắc nầy vẫn có thể áp dụng trong thời đại ngày nay cho bất cứ một chính quyền nào, để quản trị xứ sở một cách hài hòa. Đó là:

1. Phải cởi mở và không ích kỉ;

2. Duy trì đạo đức cao;

3. Sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân để phục vụ cho an sinh của dân chúng;

4. Phải thành thật và ngay thẳng;

5. Phải dịu dàng và giàu lòng nhân ái;

6. Phải sống giản dị để làm gương cho dân chúng;

7. Phải vượt lên trên mọi hận thù;

8. Biết áp dụng tinh thần bất bạo động;

9. Biết nhẫn nại;

10. Tôn trọng ý kiến dân chúng, và biết phát triển sự hòa bình và hòa hợp. ..."
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 01-04-2007 , 06:10 AM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
Huyền thoại DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ
Kinh:

BẤY GIỜ, trong thành Tỳ-da-ly có vị trưởng giả tên Duy-ma-cật, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật và trồng sâu gốc rễ thiện, chứng đắc vô sinh pháp nhẫn, có tài biện thuyết vô ngại, hiện du hí thần thông, nắm vững các tổng trì, đạt được vô sở úy; khuất phục mọi thù nghịch và quấy nhiễu của Ma, đã đi vào cửa Pháp sâu thẳm, thiện xảo trong trí độ, thông suốt các phương tiện, hoàn thành đại nguyện. Ông biết rõ xu hướng của tâm của chúng sinh, có thể phân biệt căn tính bén nhạy hay chậm lụt. Đã từ lâu tâm của ông đã thành thục trong Phật đạo, đã quyết định nơi Đại thừa. Mọi hành động của ông đều dựa trên tư duy chân chính. An trú trong oai nghi của Phật, tâm trải rộng như đại dương. Được chư Phật ca ngợi; Đế Thích, Phạm thiên, Thế chủ đều kính phục.

(contiep) Tap San Nghien Cuu Phat Hoc 19
have fun
Junior Member
Join Date: Sep 2006
Số Điểm: 87
Old 01-04-2007 , 08:04 AM     have fun est dconnect  search   Quote  
Nam mô A Di Đà Phật
Niêm Phật cho đến khi nào thấy Phật có hình tướng hiện ra thì chứng Thánh.
Ai tu cũng chứng,ăn chay cho ngon miệng mập mạp,mặc áo cho đẹp,tu như dzậy người ta mới khoái,đi theo cúng duờng cho nhiều!hic hic hic
Niệm Phật không ham cầu, không phải như thiền không chạy theo vọng, hông tham cầu,
Chỉ mong cầu có thần thông biết ngày giờ dzìa cõi cực lạc có nhiều của báu,để tu tập tiếp.
Phật tử ăn chay niệm Phật ,để mọi người coi trọng....khi ra đường đụng chuyện thì...

Đầu năm con heo,chúc cho mọi người ăn chay gĩa mặn,kiếm nhiều món ngon vật lạ giống ăn mặn ....như óc khỉ,tim heo....
bebo
Super Member
Join Date: Jul 2003
Số Điểm: 14723
Old 01-04-2007 , 08:27 AM     bebo est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by have fun
Nam mô A Di Đà Phật
Niêm Phật cho đến khi nào thấy Phật có hình tướng hiện ra thì chứng Thánh.
Ai tu cũng chứng,ăn chay cho ngon miệng mập mạp,mặc áo cho đẹp,tu như dzậy người ta mới khoái,đi theo cúng duờng cho nhiều!hic hic hic
Niệm Phật không ham cầu, không phải như thiền không chạy theo vọng, hông tham cầu,
Chỉ mong cầu có thần thông biết ngày giờ dzìa cõi cực lạc có nhiều của báu,để tu tập tiếp.
Phật tử ăn chay niệm Phật ,để mọi người coi trọng....khi ra đường đụng chuyện thì...

Đầu năm con heo,chúc cho mọi người ăn chay gĩa mặn,kiếm nhiều món ngon vật lạ giống ăn mặn ....như óc khỉ,tim heo....
bất cứ tổ chức nào cũng có những người ko hiểu rõ hoặc lơi. dụng những khe hở của luật lệ và đường lối của TỔ CHỨC DÓ .
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 01-08-2007 , 05:33 PM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
CCF nghĩ rằng: chúng ta muốn tìm hiểu : Duy Ma Cật thì chúng ta phải hiểu căn bản của dạo Phật trước, vậy CCF xin mời các bạn cùng với CCF hoc them về Phật nha.

Dức Phật đã thuyết Bài Pháp Dầu Tiên. Bài Pháp Dầu Tiên được gọi tên là: “Chuyển Bánh Xe Pháp” và “Pháp” (Dharma) là chân lý mà Ngài đã chứng ngộ. Ngài bắt đầu thuyết giảng: “Này các sa môn, quý vị nên biết rằng có bốn Chân Lý Vi Diệu. Một là Chân Lý về Sự Khổ. Cuộc sống là ngập tràn những khổ đau như già, bệnh chết và bất hạnh. Mọi người luôn chạy đuổi theo các dục lạc, nhưng cuối cùng chỉ thấy khổ đau. Ngay khi đạt được thú vui thì họ cũng nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi vì điều lạc thú ấy. Không có nơi nào con người tìm thấy sự thỏa mãn thực sự hay an lạc hoàn toàn.

“Hai là Chân Lý Cao Siêu về Nguyên Nhân của Sự Khổ. Khi tâm chúng ta chứa đầy lòng tham và dục vọng chúng ta sẽ gặp mọi điều đau khổ. Chẳng hạn một người giàu bo bo giữ của, tánh keo kiết ấy sẽ mang lại cho y sự khổ đau mà thôi.

“Thứ ba là Chân Lý Cao Siêu về Sự Chấm Dứt Sự Khổ. Khi tâm chúng ta đoạn diệt hết lòng tham và dục vọng, sự khổ sẽ chấm dứt. Chúng ta sẽ cảm thấy an lạc và hạnh phúc không lời nào diễn tả được.

“Sau cùng, bốn là Chân Lý Cao Siêu về Ðạo Diệt Khổ. Ðây là con đường dẫn đến sự chấm dứt hết mọi khổ đau. Nếu chúng ta giữ gìn không sát hại tất cả những chúng sanh, nếu chúng ta biết điều phục tu sửa tâm tánh, và nếu chúng ta đạt được trí tuệ, mỗi chúng ta có thể đạt tới sự an lạc hoàn toàn, chấm dứt mọi khổ đau”.
chitchatfun
Platinum Member
Join Date: Aug 2006
Số Điểm: 3980
Old 01-11-2007 , 11:54 AM     chitchatfun est dconnect  search   Quote  
Chữ Tu Trong Đạo Phật

Tác Giả: Thích Thiện Siêu
Phật Học Cơ Bản: Chữ Tu Trong Đạo Phật do Hòa Thượng Thích Thiện Siêu giảng:
"Chắc ai cũng hiểu rằng, từ khi mới lọt lòng ra cho đến khi hơi thở cuối cùng, trong đời thường hưởng được mấy lần vui. Cơn vui vừa thoáng qua, cơn buồn lại kéo đến. Đã đành sanh, già, đau, chết là bốn đại hoạn, không ai tránh khỏi, mà những nổi đói nghèo áp bức, oán thù gặp gỡ, ân ái xa lìa, hoàn cảnh lôi kéo cũng đủ làm cho chúng sanh đau khổ vô cùng. Nước mắt ngập tràn cả đại thiên thế giới, mà vẫn còn dâng lên mãi nếu lòng tham lam dục vọng nơi mỗi cá nhân cũng như đoàn thể-không được vùi dập vào phần nào; hành vi xấu xa độc ác, ích kỷ hại người không được sang bằng và tiêu diệt do lòng từ bi rộng lớn biết nghĩ đến mình, đến người theo công lý và chính đạo. Chúng ta chỉ ngó ngay vào cảnh tượng ngày nay cùng thấy rõ đó là biển nước mắt đau thương bởi cơn cuồng vọng của loài người gây tạo. Thế nên chúng ta tin chắc rằng tất cả đau khổ chỉ có một con đường ra là mọi người biết nhìn nhau bằng cặp mắt từ bi, hay nói một cách khác là người biết tu theo đạo chính đáng giác ngộ.

Xưa nay các bậc thánh nhân, các vị đã giác ngộ như chư Phật, Bồ tát, không vị nào mà không trãi qua con đường ấy; cho đến khi dạy người, dạy đời cũng chú trọng ở điều đó. Vậy bất luận người nào ở trong xã hội cũng cần lấy tu làm gốc, nếu không tự mình đã hư hỏng, mình đã làm tổn hại cho mình, thì mong giúp ích cho ai nửa?

Đời còn như thế, huống chi đạo Phật, một đạo chú trọng mục đích tự giác giác tha, tự lợi lợi tha hơn cả mà lại không quan tâm đền sự tu sao được. Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm rằng:" Như tuy lịch kiếp, ức trì Như Lai bí mật diệu nghiêm, bất như nhứt nhựt tu vô lậu nghiệp". Đại ý nói tuy nhiều kiếp học rộng nghe nhiều nhớ hết tất cả pháp môn của hằng sa chư Phật chỉ dạy, chẳng bằng một ngay chuyên tu nghiệp vô lậu xuất thế. Ấy là lời Phật khuyến cáo Tôn giả A Nan mà cũng là khuyến cáo cái tai hại không tu của chúng ta vậy. Nếu chỉ học mà không tu thì khác nào như người thuộc lòng tấm bản đồ rồi ngồi lỳ một chỗ, chẳng đến đâu được cả.

Thế thì biết tu là một điều cần yếu. Nhưng hiện nay, nhiều người trong hàng Phật tử chúng ta, cũng như một số đông ở ngoài vẫn còn ôm mối nghi ngờ sai lạc. Có người nghĩ rằng tu là một việc làm quá khó, phải xa gia đình, xã hội để ép mình trong một khuôn khổ hẹp hòi, bít mắt bưng tai trước mọi hoàn cảnh, vứt bỏ bao nhiêu ước mong khoái lạc mà tu hành ủy mị, hàng ngày nghĩ tưởng đến việc gì xa xăm huyền ảo, ỷ lại thần quyền để cầu mong tương lai trường sanh, bất tử hay hưởng quả phúc đời đời. Tu như vậy phỏng có ích lợi gì cho ai? Giả sử tu như vậy mà thành thánh, thành thần, hưởng quả phúc thì lối tu chỉ thích hợp với hạng người thiếu nghị lực, hạng ông lão bà già! Hạng người thứ hai thì trái lại, họ nghĩ rằng tu là một việc rất hay, là nền tảng cho nhân tâm thuần hậu, cho hòa bình an lạc, vững bền; song khi nào hòa bình đã lan khắp, sinh hoạt được mới có thì giờ nghĩ đến việc tu dưỡng; chứ nhằm lúc đao binh loạn lạc, đói khác tung hoành, chính là lúc phải ra sức dẹp loạn an dân, nổ lực làm lụng để vãn hồi sự no ấm, đợi bao giờ tâm thần ổn định mới lo đến chuyện tu. Những điều nghi hoặc đối với sự tu vẫn còn nhiều nữa, song tóm lại cũng không ngoài hai điều vừa kể trên. Cũng vì nghĩ như vậy, mà bây giờ hễ nghe nói chữ tu thì người ta tưởng tượng ngay một hình dáng yếu hèn, một việc làm quái dị lạc hậu, không phải thời.

Xét kỷ hai lối tưởng đó nhiều phần không đúng, song không sai mấy đối với hạng người mệnh danh là tu, mà kỳ thật áp dụng lắm điều không chính đáng! Nếu bây giờ muốn bổ cứu những khuyết điểm trên đây để làm nhiều lợi ích thiết thực cho khỏi phụ lòng tin Phật của chúng ta, thì tưởng cũng nên cùng nhau tìm hiểu rõ chữ" Tu" trong đạo Phật, trước để khỏi cái nạn xưng càn một khi mình không tu chi cả, sau để khỏi bị e ngại bởi những lời mỉa mai nông cạn có thể làm trở ngại bước đường tu tập chính đáng của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là ở đây chúng ta chỉ hiểu chữ " Tu" trong đạo Phật, chứ ngoài lối tu của đạo Phật ra, trên xã hội này còn bao nhiêu lối tu khác; mà tiếc vì phạm vi bài này không cho phép chúng tôi đem ra bàn cãi, chỉ có thể nói đại khái rằng các lối tu ấy đều chưa diệt tận nguồn gốc thống khổ, nên chưa phải là phương pháp đưa người đến chỗ giải thoát an vui chơn thật.

Thế nào là nghĩa chữ " Tu" trong đạo Phật? Định nghĩa một cách tóm tắt thì tu nghĩa là sửa. Xấu xa sửa lại cho tốt đẹp, tà vạy sửa lại cho chính đáng, độc ác sửa lại cho hiền lành, mê mờ sửa lại cho sáng suốt??.. Như người ta thường nói ngọc có dũa mài mới thành đồ hữu dụng, người có học tập mới trở nên người hay, ấy đều là cắt nghĩa chữ " Tu"vậy. Có nhiều người hay nói: " Phật tức tâm, tâm tức Phật, tôi chỉ tu cái tâm cũng đủ". Mới nghe qua tưởng như hợp lý, song xét kỷ thì đó chỉ là câu nói bướng bỉnh để từ chối việc tu hành mà thôi. Nếu thử hỏi lại tâm vì sao phải tu và tu bằng cách nào, thì ít ai trả lời được. Thậm chí có người khi đã biết đạo cũng như khi chưa biết đạo, cứ giữ nguyên tánh xấu xa cố cựu, không chút gì đổi mới hay lo.

Đã đành rằng " Tâm tức Phật", nhưng hiện nào còn làm chúng sinh thì quyết chắc tâm của ta còn mê lầm, vọng tưởng ích kỷ, biếng lười, chưa được như tâm Phật: sáng suốt, chân thật, rộng rãi, từ bi. Đứng về phương diện sự tướng sai biệt thì ta và Phật hai đàng mê ngộ, khổ vui khác nhau như trời và vực, không thể nói suông mà mong được giải thoát. Trái lại cần phải thành thật cố gắng kiểm điểm lại mình, nghiệm xét nơi mình để thấy rõ cái gì xấu xa, cái gì tà vạy, cái gì độc ác, cái gì mê lầm mà lần lần sửa đổi tu hành cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Trong lúc tu hành ấy, hễ sửa được bao nhiêu điều hư quấy, tức là diệt được bấy nhiêu nguyên nhân thống khổ, sự khổ sẽ tách dần ra mà sự an vui lần hồi phát hiện, bao giờ hoàn toàn thanh tịnh ấy là chứng đủ bốn đức Thường, lạc, ngã, tịnh; không bị điều chi làm hệ lụy. Cho nên kinh có câu:" Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như Lai". Như Lai hay Phật là vị đã chuyển được mọi vật, bên trong không bị tánh tình ô nhiễm làm mờ tối, và bên ngoài không bị hoàn cảnh sắc, thanh, danh lợi quyến rủ chi phối. Tự mình làm chủ mình, làm chủ hoàn cảnh.

Nếu bây chúng ta muốn được an vui, thì phải tự chủ; mà muốn được tự chủ thì cần nương theo Phật pháp để sửa đổi hành vi, tánh tình, quan niệm hẹp hòi sai lạc đã lâu đời lâu kiếp bám chắc nơi chúng ta. Sửa đổi hành vi tức là sửa đổi những điều độc ác của hành động và lời nói. Thân thường hay sát hại, trộm cắp, dâm ô: miệng thường hay nói dối, dèm pha, nịnh hót v... v ấy là hành vi có hại mà ít ai tránh khỏi. Nếu chúng nó được bồi đắp, lan rộng ra hoài thì nhân loại chúng sanh càng bị xô mau đến chỗ tiêu diệt. Hãy xem như một nghiệp sát, mấy năm lại đây không nơi nào là không do nghiệp sát gieo họa gớm ghê, làm cho sự sống, một điều mật thiết quan trọng hơn cả của mọi vật, không còn chút gì bảo đảm. Đã bao giờ như ngày nay, toàn nhân loại chỉ sống trong hồi hộp lo âu, nơm nớp sợ hãi khi thấy mạng mình nhẹ hơn cát bụi bên vệ đường, không phút nào yên tâm với bàn tay tàn nhẫn của nghiệp sát đang hung hăng chực chờ dọa nạt. Vậy là chưa kể đến tai nạn các hành vi trộm cướp, nói dối v.. v cũng gieo họa ghê gớm không kém.

Nếu ai nấy cũng nhận chân sâu sắc các hành vi ác độc kể trên là nguyên nhân trực tiếp gây ra đau khổ giữa người và mình- vì gieo nhân sát hại thì hoặc cách này hay cách khác cũng phải gặt lấy kết quả bị sát hại; để sửa đổi, tu hành diệt trừ dần đi mới có ngày sống an toàn trong hòa vui thân mật được. Đã sửa đổi hành vi cũng phải sửa đổi tánh tình, vì tánh tình xấu xa mới thật nguy hại nhiều hơn. Tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ là những tâm tánh xấu xa cố cựu của chúng sinh.

Vẫn biết đã có thân thì ai lại không tham muốn sống còn, nhưng lắm người vì chất chứa lòng tham vô đáy, điều gì hay ho đều muốn thu góp về phần mình, chỉ muốn đời sống của mình được vinh quang sung sướng, đầy đủ, quý trọng hơn hết thảy mọi người, nên dù việc gì đê hèn hay độc ác mà hễ đưa lại lợi lộc về mình thì không bao giờ từ chối, mặc ai thiếu thốn, khổ não, kêu la, cũng không hề đoái nghĩ! Thậm chí xem tiền tài, danh vọng hơn trăm, ngàn, ức triệu tánh mạng sanh linh đồng loại chỉ vì tham chút lợi danh mà làm cho đời sống nhân loại bị điêu đứng, niệm tham lam vô hình mà tai hại không phải ít, ở trong gia đình có một kẻ tham- tham ăn chẳng hạn- thì sự sống của gia đình mất sự hòa thuận; đến giữa xã hội hễ lòng tham nảy nở mạnh mẽ ở đâu thì ở đấy không sao tránh khỏi cảnh tình xô xát thảm mục thương tâm; vì đã tham tất nhiên có sân, đã sân thì tất nhiên tranh giành xâu xé..

Than ôi! Một tánh tham đã làm cho ai nấy cháy ruột nung gan, huống còn thêm bao nhiêu tánh xấu xa khác nữa. Song, muốn sửa đổi tâm tánh xấu xa một cách dễ dàng đến tận gốc thì đồng thời phải sửa đổi quan niệm hẹp hòi ích kỷ.

Tất cả mọi vật đều sanh sanh, hóa hóa trên một bản thể chung cùng hòa hợp, không có sự vật nào được tồn tại ra ngoài bản thể chung cùng ấy. Chính chúng ta cũng phải nhờ sự liên quan hỗ trợ tất cả mà có ra. Vậy mà chúng sanh mê mờ, tự phân biệt, tưởng tượng chấp riêng một cái Ta, xây ranh giới mà chắn ngang giữa mình và mọi người, mọi vật; luôn luôn đặt cái Ta ra trước, lên trên, lấy cái ta làm định chuẩn cho mọi hành động, nói năng, suy nghĩ. Bởi vậy nên thường bị hẹp hòi, sai lầm, khổ sở. Suy rộng ra nào vinh nào nhục, nào thị nào phi, không có gì là tuyệt đối. Cái vinh của người này là cái nhục của người kia, cái vinh của người kia tức là cái nhục của người này. Ở đời cũng lắm chuyện để cho ta thấy rõ trường đời là nơi đấu tranh nhỏ hẹp ở trong sự phê phán xây nắn của cái Ta hẹp hòi giả dối. Vậy cần phải mở mang trí tuệ thật rộng rãi, phá lần quan niệm sai lầm chấp có bản ngã mới thấy đời rất rộng rãi để khoan hòa đối với mọi loài, mọi vật.

Như vừa nói ở trên, đó là sửa đổi hành vi hung ác, sửa đổi tánh tình xấu xa, sửa đổi quan niệm chấp có cái Ta hẹp hòi, ấy là nói về ngăn ngừa cái xấu, diệt trừ cái xấu, đừng để cho nó đâm chồi mọc nhánh ra hoài. Tu như vầy có thể cho là lối tu tiêu cực hơn là phát huy cái tốt, khuếch trương cái tốt, làm cho cái tốt càng ngày càng rộng rãi lớn lao. Hiện tiền nơi chúng ta không những có rất nhiều điều tà vạy ô nhiễm, mà cũng có rất nhiều điều hay, cần nên bồi đắp, tu dưỡng; như bố thí, nhẫn nại, khoan hòa, sáng suốt, bình đẳng, xét ra chẳng ai không có, nếu biết cố gắng vun bồi thì không việc lợi ích gì mà chúng ta không làm được.

Tóm lại hai phương diện tu hành trên, một đàng lo diệt trừ cái tánh hại người hại mình, một đàng lo cái tánh lợi mình, lợi người. Đã nhận thấy lòng tham lam có hại mà lo diệt bớt lòng tham là tu, diệt trừ lòng giận là tu, diệt trừ lòng kiêu mạn, ích kỷ là tu. Trái lại nhận thấy bố thí là hay, chăm làm bố thí là tu, từ bi cứu vật là tu, khoan hòa rộng rãi là tu. Cho đến bất luận gì hành động tốt đẹp, có nhiều lợi ích cho người mà cố gắng quên mình để thực hành theo cũng đều gọi là tu cả. Tu như vậy đâu có phải là hẹp hòi hay nhu nhược, tu như vậy đâu phải là việc riêng của một nhóm người nào hay của một thời đại nào, chỉ vì có nhiều người chưa hiểu chữ " Tu" có một phạm vi rộng rãi đó, nên tưởng rằng tu là việc chuyên môn của người tu sĩ, của kẻ chán đời, ẩn dật, hay của hạng môn đồ đạo này hoặc đạo khác mà thôi, ngoài ra không liên quan với đại đa số người còn đang lăn lộn, chống chọi, hoạt động sống với đời sống không xa thực tế hơn. Ôi, đâu biết rằng cái quan niệm sai lầm ấykhông khác nào cái quan niệm của mấy người tưởng phép vệ sinh là phạm vi chuyên môn của mấy ông thầy thuốc, hay của mấy người đã mắc bệnh truyền nhiễm.

Đành rằng phương diện điều trị thân xác có nhiều điều ngóc ngách khó khăn mà thầy thuốc phải gia công tầm cứu, phải cần cho mình một hoàn cảnh sạch sẽ hợp vệ sinh hơn, nhưng trong hạng người không phải thầy thuốc mà không cần biết vệ sinh, tự do ăn nhớp ở nhúa thì không chỉ tai hại cho mình, còn lây sang mọi người xung quanh, khiến họ phải sống chung trong một cảnh ngộ nguy hiểm. Phương diện trị thân xác đã vậy,thì phương diện cải tạo tinh thần không kém chi. Muốn diệt hết bao nhiêu tâm niệm xấu xa còn lại, và phát huy tất cả tâm niệm tốt đẹp rộng rãi thêm lên lại càng rất khó, nếu không phải là người có quyết tâm với much đích ấy, nếu không có một hoàn cảnh thuận tiện cho sự tu hành thì khó mong kết quả hoàn toàn. Bởi vậy trong đạo Phật các vị tăng già, các hàng tu sĩ phải xuất gia để bớt ngoại duyên phiền nhiễu, phải ở nơi nhàn tịch mới thấy rõ nguồn gốc sâu xa của tội lỗi mà gội rửa tiêu trừ. Nhưng nếu hiểu thêm rằng không phải là chỉ mấy vị ấy mới tu được, mấy vị ấy mới cần tu, mà tất cả các hạng người ở vào địa vị nào trong thời loạn cũng như thời bình, đều có thể tu, đều cần nên tu cả; nếu không tu tức là tự do để cho thói tham lam, bóc lột, ích kỷ hại người đứng lên làm chủ, gây tai ương không bờ không bến.

Vậy ta có nên xem chuyện tu là việc ngoài phận sự của mình không? Ta có thể không nhận rõ nghĩa chữ "Tu" được không? Hãy nên nhận chân cho rõ, xem đó là một phương châm của đời sống ngay thật thà mà không trao đưa cho ai cả, chỉ tự mình gắng thực hành lấy và khuyên lơn người khác biết mà thực hành, để cùng nhau xây dựng nên một cảnh sống yên vui bền vững tạo cảnh Cực Lạc giữa Ta bà này. Nếu được như vậy tức là đã hiểu đã thực hành đúng nghĩa chữ " Tu" trong đạo Phật.

____________________________________________

Chuyển Pháp Luân ( Nguồn Báo Giác Ngộ )

Sưu Tầm: VanPhatDanh.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 01-13-2007 , 06:14 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Thế Nào Là Bồ Tát Giới

Hỏi: Tôi là một Phật tử tại gia đã thọ tam quy và ngũ giới. Nay muốn tu cao hơn nữa trong phạm vi của người tại gia như muốn làm Bồ Tát chẳng hạn. Vậy xin cho tôi biết chi tiết về hai chữ Bồ Tát, điều kiện, và cách thực hành để thành Bồ Tát. Xin đa tạ.

Ðáp: Tu hạnh Bồ Tát là đẳng cao cấp nhất của người Phật tử tại gia. Sở dĩ được coi là cao nhất vì Bồ Tát đạo có nghĩa là đường giác ngộ, là con đường đưa hành giả tới được vị trí "Trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh." Do hạnh nguyện cao thượng đó mà sự hành trì và giới luật cũng được thực hiện rất nghiêm túc. Xin đạo hữu hãy tuần tự đọc từng điểm dưới đây:

1. Bồ Tát, tiếng Sancrit là Bodhisattva. Bodhi nghĩa là giác ngộ, là chánh giác, sattva là chúng sinh; do đó Bồ Tát có nghĩa là người đã giác ngộ giải thoát, song còn làm chúng sinh để đi mọi nơi cứu độ chúng sinh. Từ xưa đến ngày nay và hiện thời có vô số Bồ Tát trong các cõi. Theo Tự điển Phật Học Việt Nam, Hòa thượng Minh Châu cho biết "Bồ tát là nhân vật tiêu biểu của Phật Giáo Ðại Thừa. Phật tử tu hạnh Bồ tát, trên thì cầu đạo giác ngộ vô thượng tức là quả Phật, dưới thì phát nguyện độ thoát cho tất cả chúng sinh cùng thành Phật đạo như mình. Ðặc trưng của vị Bồ tát là tình thương yêu chúng sinh rộng lớn, nghĩa là thực hành hạnh vị tha, đặt căn bản trên phương pháp tu các hạnh Ba La Mật. Trong Phật giáo Nam Tông cũng có từ Bồ Tát, nhưng chỉ được dùng để chỉ Phật Thích Ca, khi người chưa thành Phật. Người tu hạnh Bồ Tát giữ 58 giới (10 giới trọng và 48 giới Kinh). Các tăng sĩ đã thọ giới Tỳ Kheo lại phát nguyện tu hạnh Bồ tát, giữ thêm 58 giới thì gọi là Bồ tát Tỳ Kheo. Những người tại gia cũng có thể phát nguyện tu hạnh Bồ Tát, giữ 58 giới và được gọi là Bồ Tát tại gia."

2. Bồ Tát giới, theo Phật Học Tự Ðiển, Ðoàn Trung Còn cho biết, là "giới luật chung của hàng tứ chúng Phật tử, muốn tu trì đại hạnh để thành bậc Bồ Tát và thành Phật, gồm 10 giới Trọng và 48 giới Khinh.

Riêng hàng Phật tử tại gia, ngoài tam quy ngũ giới, lại còn thọ 6 giới Trọng và 28 giới Khinh. Trọng là nặng, nếu phạm tội, thì có lỗi nặng. Khinh là nhẹ, nếu phạm, thì mắc lỗi nhẹ.

Sáu giới Trọng là: (1) Không sát sinh, (2) Không trộm cắp, (3) Không vọng ngữ, (4) Không tà dâm, (5) Không nói lỗi của tứ chúng, và (6) Không bán rượu.

Hai mươi tám giới Khinh là: (1) Phải phụng dưỡng cha mẹ và cúng dường sư trưởng, (2) Không uống rượu, (3) Phải chăm sóc bệnh nhân, đừng sợ nhớp, (4) Tùy nghi bố thí, (5) Phải kính chào bậc tôn túc thiện tri thức, (6) Chẳng nên kiêu mạn khi thấy tứ chúng phá giới, (7) Mỗi tháng phải thọ trì giới bát quan trai sáu lần và cúng dường Tam Bảo, (8) Cách 40 dặm có chỗ thuyết pháp, phải đến nghe, (9) Không nên thọ lãnh vật dụng của nhà chùa, (10) Phải lọc nước trước khi uống, (11) Không đi một mình trong chỗ hiểm nạn, (12) Không được ngủ trong chùa sư nữ một mình, (13) Chớ đánh mắng đầy tớ hoặc người ngoài vì của cải hay vì thân mạng, (14) Không lấy đồ ăn thừa mà bố thí cho tứ chúng, (15) Không được nuôi mèo, nuôi chồn, (16) Không nuôi súc vật như voi, ngưa, trâu, dê, lạc đà và tất cả các loài gia súc, (17) Nên dự trữ y, bát, tích trượng để cúng dường cho các bậc xuất gia, (18) Lựa chỗ nước tốt, ruộng tốt mà làm ruộng, (19) Có buôn bán thì nói chắc giá và không được cân đo thiếu, (20) Cấm dâm dục những ngày chay và tại chùa, (21) Không buôn bán đồ lậu thuế, đồ ăn trộm, không được trốn thuế, (22) Không được phạm luật nước, (23) Không ăn trước khi cúng Tam Bảo, (24) Muốn thuyết pháp, phải có chư Tăng tán thán cho, (25) Không được đi trước Tỳ kheo và Sa di, (26) Cúng dường Tăng không phân biệt, (27) Không được nuôi tằm, và (28) Ði đường gặp người bệnh thì phải chăm nom, gửi gấm."

3. Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới có nói rằng, người tu học cầu quả Bồ Ðề nên làm các việc sau: (1) Tin mình và tất cả chúng sinh đều có Phật tánh và có thể thành Phật, (2) Giữ tâm kiên cố và tu hành tinh tấn không ngừng nghỉ, (3) Thương xót và cứu khổ vô lượng chúng sinh không chán nản và không mệt mỏi, (4) Làm những việc khó làm và tự mình chịu khổ, chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sinh, nhận xấu nhường tốt cho mọi người, không chán nản và hối hận, (5) Gần gũi bạn hiền, (6) Thường tán thán công đức nhiệm mầu của Tam Bảo, (7) Thường ưa khen tặng công đức của người khác, và (8) Nghiêm trì giới luật.

4. Bồ Ðề, như trên đã nói, có nghĩa là chánh giác, là bậc giác ngộ hoàn toàn, hiểu biết tất cả, là vô thượng trí tuệ, là vô thượng Bồ đề. Tâm Bồ Ðề là tâm cầu Vô Thượng Bồ Ðề, cầu chánh giác. Còn phát Bồ Ðề tâm, giai đoạn đầu tiên của người thọ Bồ Tát giới, là lập chí nguyện mong cầu Vô Thượng Bồ Ðề, tức là mong cầu thành Phật và hóa độ chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh). Cho nên, người thọ Bồ tát giới có nghĩa là nguyện bước lên đường cầu giác ngộ, có nghĩa là phát tâm Bồ Ðề. Theo ngài Thật Hiền, trong bài văn Khuyến Phát Bồ đề Tâm thì cửa chính yếu để nhập đạo là sự phát tâmđứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Ngài khuyên chúng ta nên phát tâm nguyện hai điều như sau:

Thứ Nhất: Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát sinh tử, vì chứng Bồ đề. Ngước lên mà mong cầu Phật đạo, nhìn xuống mà hóa độ chúng sinh, nghe Phật đạo lâu xa cũng không thoái chí khiếp sợ, xét chúng sinh khó độ mà không chán nản mệt mỏi.

Thứ Hai: Chúng sinh giới hết, nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành, nguyện ta mới thành. Biết tự tánh là chúng sinh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện thành tựu, không thấy một pháp nào ngoài tâm mà có, đem cái tâm vô tướng, phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy có, thấy được.

Việc phát tâm nguyện chưa đủ, người thọ Bồ Tát giới còn phải nỗ lực thực hành hạnh Bồ Tát, nghĩa là mỗi lời nói, mỗi hành động và mỗi ý niệm đều phải hướng về chúng sinh, vì lợi ích và an nguy của chúng sinh. Sự khác biệt giữa phát tâm Bồ Ðề và hành hạnh Bồ Tát, có thể ví như một người muốn đi và một người đang đi. Người thực hành hạnh Bồ Tát là người thực hành sáu hạnh Ba La Mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định , và trí huệ.

Nói tóm lại, bước đầu tiên và quan trọng nhất của người thọ Bồ Tát giới là phải luôn nhớ rằng ta đã bước vào con đường cao thượng, con đường trở thành Phật để cứu độ chúng sinh. Cho nên mọi sinh hoạt hằng ngày phải hướng vào cái điều tối cao đó, để mà giữ giới (không làm điều ác), tích cực cứu giúp chúng sinh (chuyên làm điều lành) và thanh lọc tâm ý, để từng bước tiến dần đến quả Phật. Ðạo Phật quan niệm rằng sát sinh, tức là giết hại chúng sinh hữu tình, là ác nhất. Cho nên giới cấm đầu tiên của đạo Phật là "Cấm Sát Sanh", dù trực tiếp hay gián tiếp. Là Bồ Tát, đã phát nguyện cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ, đem đến cho họ niềm an lạc hạnh phúc, như một con vi khuẩn trong nước uống chúng ta cũng không nỡ giết (giới Khinh thứ 10), lẽ nào chúng ta cắt, xẻ, xay, nướng, luộc, và quay chúng sinh trong lửa nóng, nước sôi.

Ban Biên Tập

(1) HT. Thích Minh Châu, Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội-1991, trang 98
(2) Ðoàn Trung Còn, Phật Học Tự Ðiển, Chùa Khánh Anh, Paris xuất bản, tập 1, trang 291-293

www.*******hoasen.org.
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 06:04 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.