VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
nonregister
Gold Member
Join Date: Mar 2003
Số Điểm: 3947
Old 04-23-2007 , 01:27 PM     nonregister est dconnect  search   Quote  
Xin cho biết rõ tâm, ý, thức, trí và niệm khác nhau như thế nào?

(Trả lời câu hỏi của đạo hữu Từ Hỷ)

Tâm Là Gì

Trong đạo Phật, khái niệm Tâm được diễn đạt bằng nhiều danh từ khác nhau:

1. Trong thuyết Ngũ Uẩn thì sắc uẩn bao gồm tất cả sắc pháp, còn thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn bao gồm tất cả tâm pháp.

2. Trong thuyết 12 nhân duyên, ở chi Danh Sắc, danh đại biểu cho tâm pháp, sắc đại biểu cho sắc pháp. Vì sao gọi tâm pháp là danh? Bởi lẽ các tâm pháp không có hình tướng như sắc pháp, cho nên chỉ có thể dùng tên để gọi chúng mà thôi.

3. Trong Duy Thức Học, những hoạt động tâm lý được phân tích cặn kẽ hơn và được bao gồm trong hai nhóm hoạt động chính, nhóm Tâm Vương và nhóm Tâm Sở...Hoạt động của Tâm Vương là hoạt động chủ đạo. Hoạt động Tâm Sở là hoạt động phụ thuộc của Tâm Vương. Vương nghĩa là vua, còn sở là sở hữu. Tâm Sở có nghĩa là những pháp sở hữu của Tâm Vương. Duy Thức Tông phân biệt có 8 Tâm Vương và 51 Tâm Sở. Ðạo Phật không quan niệm tâm lý là một cái gì thuần nhất, đơn giản theo kiểu như khái niệm linh hồn... thứ hai, đạo Phật xem tâm pháp thuộc pháp hữu vi, nghĩa là những pháp sinh diệt, có tạo tác chứ không phải như khái niệm một linh hồn thiêng liêng bất tử theo như một số tôn giáo khác quan niệm.

Nếu định nghĩa Tâm một cách khái quát nhất thì trong các kinh điển Phật giáo, chữ Tâm thường được dùng theo sáu nghĩa:

1. Nhục Ðoàn Tâm: quả tim vật chất, làm chức năng bôm máu đi khắp cơ thể.

2. Tập Khởi Tâm: tức là thức thứ tám, A Lai Da Thức, Hán dịch là Tàng Thức, là toàn bộ tâm thức, cơ sở của mọi hoạt động tâm lý.

3. Tư Lương Tâm: Tư lương là đắn đo suy nghĩ. Tâm thức Tư Lương là thức thứ bẩy, tức là Mạt Na Thức. Tác dụng của nó là liên tục, không phút nào ngừng nghỉ chấp thức thứ tám là Ta. Tâm Lý học Tây phương không biết Thức thứ bẩy này. Vì tác dụng của nó là chấp ngã, cho nên nó là cơ sở của những phiền não cơ bản xoay chung quanh cái Ta, như Ngã Si (si mê về cái ta), Ngã Kiến (thấy sai lầm có cái Ta riên biệt), Ngã Ái (đam mê yêu thương cái Ta), và Ngã Mạn (đặt cái Ta cao hơn tất cả). Một từ khác dùng để chỉ tâm thức thứ bẩy này là Ý, chỉ chỉ tướng trạng của thức này là sinh diệt, nốI tiếp nhau không bao giờ bị gián đoạn. Ðồng thờI, thức thứ bẩy này là nơi nương tựa, nơi y chỉ của thức thứ sáu (ý thức) cho nên sách Phật gọi là Ý Căn (căn năng của ý thức).

4. Liễu Biệt Tâm: Ý thức và năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) có tác dụng duyên với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng.

5. Kiên Thực Tâm: Chân Tâm, là cái tâm chân thật, không hư vọng, đó là Phật tính, cái mầm mống giác ngộ vốn có sẵn trong mỗi chúng ta.

6. Tinh Yếu Tâm: như nói Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh. Tâm ở đây là tinh yếu, cái cốt l i. Bộ kinh Bát Nhã rất dài có đến 600 cuốn, nhưng một cuốn kinh nhỏ là Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh đã thâu tóm được toàn bộ tinh hoa của bộ Bát Nhã trong hai ba trang sách, cho nên gọi là Tâm Kinh.

Trong kinh điển Phật Giáo, chữ Tâm cũng có nhiều nghĩa khác nhau:

Trong những kinh điển Pali: Chữ Tâm là citta, xuất phát từ chữ "cit", có nghĩa là tơ tưởng. Các chữ khác như "mano" và "vinnana" đồng nghĩa với chữ citta. Cả ba chữ có nghĩa là tơ tưởng, tư tưởng, xúc động tình cảm, cả hai mặt tình cảm và lý trí.

Trong Kinh Bát Nhã cũng như Kinh Lăng Già, chữ Tâm chính là Vô Tâm hay Vô Niệm, là thanh tịnh, trong sáng, rực rỡ và tinh khiết, tức là, Tâm là thiện và sạch các ô nhiễm. Tâm không tách rời tập khí , Tâm cũng không kết hợp cùng tập khí dù nó bị ngập đầy tập khí. Tập khí theo với mạt na thức mà bị ô nhiễm, và tâm giống như một cái áo trắng tuyền không bị dơ vì tập khí.

Thế Nào Là Ý (S. Manas hay Mana)

Hán dịch nghĩa là tư lương, suy nghĩ, so đo, tính toán. Theo duy thức học, Ý là Thức Thứ Bẩy trong số tám thức, và được gọi là Mạt na Thức.Ý với nghĩa Thức Thứ bẩy là Ý theo nghĩa hẹp của môn Duy Thức Học. Còn Ý theo nghĩa rộng, là chỉ tâm thức nói chung.

Thế Nào Là Ý Thức

Ý Thức là thức thứ sáu. Sách Pháp thường dịch là conscience. Trong các loại tâm thức, thức thứ sáu này là loại năng nổ, hoạt động nhất, lanh lợi nhất. Nó có tác dụng giúp năm thức trước phân biệt r ngoại cảnh. Ví dụ mắt nhìn quả cam. Ðó là tác dụng của nhãn thức. Nhưng thật ra, con mắt chỉ thấy được cái hình tròn, cái mầu vàng, còn muốn biết được đấy là quả cam, ăn được thì ý thức phải đồng thời khởi tác dụng. Ý thức không những duyên được với các cảnh của năm thức trước, mà có thể duyên với bóng dáng của những cảnh đó. Ví dụ ta nhắm mắt lại, mắt không nhìn thấy quả cam nữa, nhưng ý thức vẫn tượng được bóng dáng, hình dạng của quả cam.

Ý thức của người luôn luôn hoạt động, chỉ trừ lúc ngủ say và chết giấc. Người tu định thành tựu được cảnh giới Vô Tưởng Ðịnh, hay Diệt Tân Ðịnh, thì ý thức cũng không còn hoạt động được nữa. Khi thành tựu được cảnh giới gọi là Vô Niệm, thì ý thức ngừng không hoạt động nữa, nhưng tâm người nhập định vẫn sáng suốt tỉnh táo.

Niệm là Gì

Niệm là nghĩ nhớ, nhớ r . Niệm, cũng cùng một nghĩa với chữ Thức. Cho nên Vô Niệm tức là Vô Thức là cái trạng thái không còn ý niệm phân hai, là vượt khỏi những lối nhận thức và suy luận nhị nguyên. Theo vua Trần Thái Tông, "đời sống là một chuỗi niệm tưởng không dứt phát sinh từ tâm thức... Cắt đứt chuỗi niệm tưởng không dứt này tức là cắt dứt dòng tái sinh. [Khóa Hư Lục, Chương Niệm Phật và Vô Niệm] Ngài Vĩnh Gia cũng nói: "Ai không có niệm, người ấy thoát khỏi tái sinh" ("thùy vô niệm thùy vô sinh")

Thế Nào Là Vô Sư Trí và Hữu Sư Trí

Vô sư trí là trí tuệ vốn sẵn có trong mọi chúng sinh, không do thầy dạy nào trao cho ai cả. Chỉ vì bị phiền não vô minh che lấp cho nên trí tuệ sẵn có đó chưa hiển hiện ra được. Tất cả công phu tu hành chỉ là nhằm đoạn trừ vô minh phiền não, thì tự nhiên trí tuệ đó sẽ bộc lộ và phát huy tác dụng. Cũng gọi là Căn Bản Trí hay Tự Nhiên Trí. Còn Hữu Sư Trí là cái trí tuệ được học hỏi từ kinh điển, thiện hữu tri thức, sách vở, giáo dục, kinh nghiệm tập quán hằng ngày. Ðó là cái trí tuệ sinh diệt.

Trên đây chỉ là tóm lược qua về các chữ Tâm, Ý, Thức, Niệm, Vô Niệm và Trí tuệ vô sư, hữu sư. Quý độc giả muốn tìm hiểu thêm xin đọc: Vấn Ðề Nhận Thức Trong Duy Thức Học của Hòa Thượng Nhất Hạnh, Duy Thức Nhập Môn của Hòa Thượng Thiện Hoa, Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Dr. D. T. Suzuki, bản dịch của thầy Thích Chơn Thiện, Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông, Tâm Lý Học Phật Giáo của thầy Thích Tâm Thiện, Kinh Bát Nhã, Kinh Thắng Man, Kinh Ðại Bát Niết Bàn.

Tâm Diệu

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-01-2007 , 09:21 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Cứu Mèo sẽ gặp Xui xẽo

HỎI: Tôi là một Phật tử. Một hôm, tôi cùng nhóm bạn vào công viên, tình cờ thấy một chú mèo con lạc mẹ, khát sữa, bơ vơ rất tội nghiệp. Tôi định mang về chăm sóc, nuôi nấng nhưng những người bạn nói rằng đem mèo về nhà sẽ xui xẻo, thậm chí có thể mất mạng. Sau một lúc phân vân, tôi quyết định cứu giúp nó vì tin rằng tôi đang làm một việc tốt, từ bi. Xin quý Báo chia sẻ và soi sáng thêm cho tôi về vấn đề này.

ĐÁP: Trong dân gian, hiện tồn tại khá nhiều quan niệm tà kiến, dị đoan như đem mèo hoang về nhà là gặp xui, cứu người chết đuối thì sẽ đền mạng v.v… Chính những niềm tin sai lạc ấy đã chặn đứng lòng tốt của con người, đánh mất cơ hội thi ân, làm phước và dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
Chúng tôi hoan nghênh việc làm của bạn, dù cứu một con mèo chưa phải là việc to tát nhưng điều đó đã thể hiện được trí tuệ và từ bi của người con Phật. Thực hành từ bi, cứu chúng sanh thoát khổ, giúp họ được an vui là những điều cần làm ngay trong cuộc sống hàng ngày.

Mèo là vật nuôi đáng thương và có ích. Cứu sống, chăm sóc và nuôi nấng nó sẽ không hề bị xui xẻo hay chết chóc như những người tà kiến, dị đoan đã tin tưởng mà còn được phước báo vô lượng. Kinh Phật có thuật chuyện một vị Sa di nhờ cứu đàn kiến khỏi bị nước cuốn trôi mà tăng trưởng phước báo, chuyển hóa nghiệp chết yểu, được khỏe mạnh, sống lâu. Chỉ cứu giúp một đàn kiến bé nhỏ mà được phước to lớn như thế, huống chi là cứu vật, cứu người!

Do vậy, người con Phật luôn nêu cao Chánh kiến, thực hành trí tuệ, từ bi đồng thời sáng suốt dẹp trừ mọi tà kiến, mê tín, dị đoan để làm lợi mình, lợi người, xây dựng cuộc đời thêm hạnh phúc, an vui.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-04-2007 , 06:58 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Niệm Phật & Trì Chú

HỎI:Từ lâu, tôi tu tập theo pháp môn Tịnh độ, chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Thời gian gần đây tôi có tham gia đạo tràng tụng kinh và tu Bát quan trai. Tuy nhiên, tôi được biết “tu Bát quan trai là để chuẩn bị cho kiếp sau xuất gia”. Vậy tôi có nên tham dự tu tập Bát quan trai nữa hay không? Mặt khác, trong thời khóa niệm Phật hàng ngày, tôi thường gia trì thêm chú Đại Bi và Thập chú nhưng một người bạn đồng tu bảo như thế là tạp tu. Mong được quý Báo hướng dẫn và chia sẻ.

ĐÁP: Một Phật tử tu tập pháp môn Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật A Di Đà đồng thời tham gia đạo tràng tụng kinh, tu Bát quan trai và trì chú là điều tốt, đúng Chánh pháp. Có thể nói, tụng kinh và tu tập Bát quan trai cùng trì chú sẽ trợ duyên tích cực cho việc hành trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà.
Căn cứ vào kinh Nhật tụng được phổ biến trên toàn quốc hiện nay, chúng ta thấy rõ các khóa lễ đều có trì chú, tụng kinh và niệm Phật. Sự kết hợp hài hòa giữa Giáo (tụng kinh), Mật (trì chú) và Tịnh (niệm Phật) trong kinh tụng hàng ngày chứng tỏ các pháp này có công năng trợ duyên lẫn nhau, hướng đến thanh tịnh ba nghiệp.

Tu Bát quan trai không phải để “chuẩn bị cho kiếp sau xuất gia” mà chính là thực tập hạnh xuất gia một ngày một đêm. Đời sống tại gia còn nhiều chướng duyên ràng buộc nên bạn không thể tu tập tinh chuyên như hàng xuất gia. Vì thế, bạn cần tham dự khóa tu Bát quan trai (tập sự xuất gia, sống thân cận và tu tập như chư Tăng một ngày đêm) để gia tăng công phu trì giới, tu niệm. Nhất là trong nội dung tu học của khóa tu Bát quan trai, niệm Phật luôn được xem là công phu căn bản. Như vậy, người tu niệm Phật cần tham dự khóa tu Bát quan trai nhiều hơn để tinh chuyên hơn trong việc tu tập niệm Phật của mình.

Đối với vấn đề tụng kinh cũng rất cần thiết cho người tu tập pháp môn niệm Phật và các pháp môn khác. Tụng kinh có tác dụng nhiếp ba nghiệp thân khẩu ý từ vọng động thành thanh tịnh. Đọc tụng kinh điển giúp cho hành giả thẩm thấu, hiểu biết sâu sắc hơn lời Phật dạy để ứng dụng, hành trì. Mặt khác, các đạo tràng tụng kinh hiện nay đa phần trì tụng các kinh như: kinh A Di Đà, Phổ Môn, Địa Tạng, Pháp Hoa v.v… đều là những kinh văn căn bản, cần thiết cho hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ.

Riêng đối với vấn đề trì chú Đại Bi và Thập chú vốn rất quan trọng đối với người tu hành. Công năng của các thần chú thường được đề cập là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Thần chú Đại Bi và Thập chú là một trong những nội dung quan trọng của thời khóa công phu khuya trong các chùa viện, người xuất gia phải hành trì mỗi ngày đã chứng tỏ tầm quan trọng, không thể thiếu của thần chú. Vì thế, trong những thời khóa tụng kinh, niệm Phật tại tư gia nếu bạn phát tâm gia trì thêm các thần chú như Đại Bi, Thập chú nhất là thần chú Vãng sanh (thuộc Thập chú) sẽ rất tốt, trợ duyên thêm cho việc hành trì niệm Phật.

Công phu tu niệm có những cấp độ cạn, sâu khác nhau. Khi hành giả bước vào cấp độ sâu của pháp môn niệm Thánh hiệu Phật A Di Đà mới cần đến sự chuyên nhất hay “nhất tâm bất loạn” với danh hiệu Phật. Còn đối với hàng Phật tử sơ cơ, mới tập tu niệm Phật thì nghe pháp, tụng kinh và trì chú là cần thiết, không phải là “tạp tu”. Tạp tu là không định hướng được pháp môn, hành trì nhiều pháp môn cùng lúc mà không có công dụng hỗ trợ lẫn nhau, điều này hoàn toàn khác biệt với việc tu tập với một pháp môn chính và các pháp trợ duyên cần thiết.

Một người tu tập pháp môn Tịnh độ, cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc, cố nhiên niệm danh hiệu Phật A Di Đà là chính yếu, cốt tủy. Những hành giả nào có đầy đủ trí lực, Tín-Nguyện-Hạnh sung mãn thì chỉ việc chuyên nhất niệm Phật đến một lòng không loạn. Còn lại hầu hết chúng ta cần lấy pháp niệm Phật làm căn bản đồng thời nỗ lực nghe pháp, tụng kinh, trì chú để trợ duyên thêm. Ngoài ra, vấn đề tu tập rất cần sự trợ duyên của các bạn đồng tu, “ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Tham gia các khóa tu và đạo tràng là cách hay nhất để thiết lập một “Tăng thân” nhằm giúp đỡ, động viên lẫn nhau, cùng tiến tu trên con đường đạo.
Chúc bạn tu tập thành công!

www.chuyenphapluan.com

Last edited by NonregisterC; 05-04-2007 at 07:01 PM..
MrFarmerUSA
Junior Member
Join Date: Sep 2004
Số Điểm: 51
Old 05-06-2007 , 12:51 AM     MrFarmerUSA est dconnect  search   Quote  
"
Duy: chi? cỏ
Ngã: ở đây ngã la` ba?nNgã, còn co' nghi~a là con người, chúng sanh. Nếu ai thiển cận sẽ cho chử ngã là (chỉ có Phật) sự suy nghĩ này ra^'t sai lầm và ro? ràng kho^ng ddi song hành với những gì Phật giác ngộ và dẩn dạy chúng sinh: Từ tứ diệu đế(four Noble Truths) đến bát chánh đạo (eight fold Paths) kho^ng co cái nào noi' tự ngạo về cá nhân, vì mỗi cá nhân là một cái nghiệp (Karma) phải trả, Rất tiếc người đơ`i tôn trọng đức Phật nên đôi khi dùng chử cao nghĩa nhu*ng chi làm một số người thắc mắc va` ngoại đạo châm chỉa!
Nói gì cũng vậy mà thôi, con người là hiện hửu và lúc nao cũnng được tôn trong hơn so với súc sanh!
Độc Tôn: Được Tôn trọng Độc cũnng có nghĩa la được, Tôn la Tôn trọng

Giải thích na`y đi dúng với nghỉa cu?a "Nghiệp" (Karma)
"
Đây là câu giải thích cua Venerable Thích Huyền Sĩ, Một vi. sư co' MDs (ba'c sĩ tâm lý Doctor of Psychology) BS (toán/Mathematics)
đăng trên tờ Empirical Zen News 6/12/2002 MrFarmerUSA
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-08-2007 , 10:20 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi và Trả lời của Kỳ 18

Câu 01: Con vừa mất mẹ do tai nạn giao thông, con rất buồn và đau khổ, con rất ghét người đã gây ra cái chết cho mẹ mình, con xin thầy cho con một lời khuyên để con được vơi đi nỗi buồn.

Thư chia sẻ của sư cô Vân Nghiêm

Chị thân mến!

Sư cô xin chia buồn cùng chị. Cầu chúc chị và gia đình được nhiều sức khỏe và bình an. Cầu nguyện cho Mẹ được nhẹ nhàng, siêu thoát. Mất Mẹ là một nỗi đau thương không gì bù đắp được và mỗi người đều phải đi qua sự thật đó. Tùy cách chúng ta tiếp nhận nỗi đau buồn và khổ tâm, Sư cô xin thành thật chia sẻ sự mất mát ấy cùng chị.

Chị thương!

Mẹ mất rồi là một sự thật, cái cần nhất lúc này là chị nên giữ gìn sức khỏe và bình tâm để cầu nguyện cho mẹ sớm được nương tựa nơi cõi an lành mà tu tập. Mẹ đang cần năng lượng bình an và thương yêu của chị nhiều lắm, chị hãy cố gắng lên để giúp mẹ nhé. Sư cô đọc thư và cảm nhận chị là một người con rất có hiếu, sư cô cảm động rất nhiều. Cái hiếu hạnh được biểu hiện bằng nhiều cách lắm và công đức làm lành để hồi hướng cho người quá cố đó cũng là một cách báo hiếu rất là cao cả. Người đã khuất sẽ nhờ công đức tạo phước lành của người thân mà được nhẹ nhàng hơn và chính những người còn đang sống cũng được hưởng sự bình an và vui vẻ. Kinh Địa Tạng đức Phật dạy rõ lắm, mỗi khi rảnh chị có thể tụng đọc kinh cầu nguyện cho mẹ và cũng là cơ hội cho chị đỡ cảm giác đau đớn, trống trải vì mất mẹ. Chị đồng ý với sư cô không? Mỗi khi nhớ về mẹ, chị có thể ngồi yên để nghĩ về những cái hay, cái đẹp mà mẹ có và chị sẽ ngạc nhiên để phát hiện ra rằng những cái đẹp đó đều có trong anh, chị của chị và cả chị nữa. Mỗi người đều mang trong mình những đức tánh tốt của mẹ, mỗi người một ít. Mẹ vẫn còn đang sống trong chị và các anh chị em của chị. Dẫu rằng nay thân xác của mẹ không còn nữa nhưng những tinh anh của mẹ vẫn còn đang tiếp tục trong các con của mẹ. Thử đi chị nhé, sư cô tin chị rất thông minh để có thể khám phá ra sự thật màu nhiệm này và chị sẽ đỡ đau khổ hơn rất nhiều.

Mỗi ngày trước giờ đi làm, chị đến bàn thờ thắp hương cho mẹ và nói với mẹ rằng “Mẹ ơi! Hôm nay con sẽ sống một ngày thật vui cho mẹ!”. Chị là con gái của mẹ mà, chị sẽ dùng cặp mắt của mình để nhìn những cái đẹp của cuộc sống và những thành viên trong gia đình thay cho mẹ. Mẹ sẽ vui lòng và hạnh phúc lắm khi biết chị có cuộc sống nhẹ nhàng và đầy tình thương với mọi người để có được sự vui vẻ và hòa thuận trong gia đình, đó chẳng phải là một cách báo hiếu cho mẹ sao. Sư cô chia sẻ với chị những điều này không với ý khuyên chị đừng đau mà với sự thực tập của mình, sư cô mong được cùng chị thực tập để có thể vượt qua được những nỗi đau trong lòng.

Sư cô thấy cuộc sống bây giờ mong manh lắm, sống chết chỉ cách nhau gang tấc. Vì vậy sống hết lòng với những người còn đang có mặt với mình một cách đầy đủ lỡ mai đây có gì xảy ra với họ mình cũng đỡ dằn vặt, khổ đau và khóc hết nước mắt. Sư cô đã từng ở Sài Gòn một thời gian khá lâu và cũng đã bị tâm trạng bất an mỗi khi dắt xe đi học, không biết chiều có về lại chùa hay không? Tai nạn giao thông trở thành một nỗi ám ảnh cho mọi người, sư cô rất hiểu tâm trạng chị ghét người đã gây ra cái chết cho mẹ, sư cô rất thông cảm bởi đó là một tâm trạng rất con người. Nếu sư cô lâm vào hoàn cảnh đó, có thể sư cô cũng như vậy. Nhưng chị ơi! Nếu chị có thì giờ ngồi nghĩ lại để thấy người gây tai nạn cho mẹ cũng chỉ là một người cần được chị thương. Có thể họ cũng hối hận lắm vì một chút bất cẩn mà cướp đi sinh mạng người mẹ yêu quý của chị thì chị sẽ đỡ hơn trong lòng rất nhiều. Sự tha thứ làm cho mình khỏe nhiều lắm, khi trong mình có sự tha thứ được mình thấy nhẹ nhàng hơn và niềm đau cũng nhờ đó mà giảm nhẹ. Khi trong lòng mình có sự ghét bỏ thì lúc nào mình cũng thấy hình ảnh của người mình ghét nó biểu hiện ra trước mắt làm cho mình càng thêm bực bội, khó chịu và gợi nhớ cho mình những sự thật bị mất mẹ, đau lòng quá! Mình có thể trừng phạt, đưa họ ra toà để trả giá cho hành động vô ý của họ, nhưng chị có cảm thấy dễ chịu hơn không? Sư cô nghĩ chắc chị cũng chẳng can tâm khi thấy họ bị đau khổ. Bản chất người Việt Nam mình có nhiều từ tâm lắm và sư cô nghĩ chị cũng là người có đầy từ tâm. Đôi khi mình nghĩ phải trừng phạt người kia thì nỗi khổ của mình sẽ nhẹ hơn nhưng thực tếcó thể ngược lại. Có thể người gây cái chết cho mẹ phải vào tù, nếu người đó là trụ cột kinh tế của gia đình thì thật là vất vả cho người nhà của họ. Sư cô biết chị chẳng nỡ nhìn cảnh con mất cha, vợ mất chồng mà phải không? Một người đó vào tù nhưng còn bao nhiêu là người vô ý, coi nhẹ sinh mạng của người khác đang sống đầy ngoài xã hội. Chị cùng sư cô cầu nguyện cho ý thức của họ cao hơn thì cuộc sống sẽ đỡ khổ vì những mất mát thương tâm chị nhé. Đây là những lời chia sẻ thật từ tấm lòng mong chị có thể vơi bớt được khổ đau trong lòng thì đó là hạnh phúc của Sc cũng như của tất cả các thầy, các sư cô ở đây. Thương chúc chị thành công và nhiều lợi lạc.
_______________________

Thư chia sẻ của sư cô Luật Nghiêm
Chào bạn!
Trước hết sư cô xin chia sẻ nỗi khổ của bạn, nhưng xin bạn hãy bớt đau khổ. Bạn có biết người đã gây ra cái chết của mẹ bạn có thể lúc này họ vừa sợ hãi vừa đau khổ, vừa bối rối và hối hận khi đã gây ra tai nạn mà chính người đó không hề muốn như vậy. Bạn hãy thử đặt mình vào tâm trạng của người kia thì bạn sẽ làm gì và như thế nào ngoài tâm trạng khổ đau, lo sợ, lại biết rõ thân nhân của nạn nhân sẽ rất ghét và hận mình nữa. Không ai trên đời này muốn mình trở nên kẻ giết người, nhất là đối với một người hoàn toàn mình không hề biết. Nếu như bạn đem lòng thông cảm và hiểu cho người ấy thì bạn cũng hãy đem lòng thương mà đừng ghét bỏ người ấy. Bạn biết không dù mẹ của bạn không còn nữa nhưng những kỷ niệm hay, đẹp và những đức tính tốt của mẹ bạn đã có trong bạn, chính vì vậy mà khi bạn buồn và giận người đã gây ra cái chết cho mẹ của bạn thì bạn vô tình đã làm cho mẹ của bạn buồn. Vì vậy nếu như bạn hiểu và thương cho người kia thì mẹ của bạn sẽ vui biết nhường nào một khi thấy rằng con mình có tâm địa rất hiền lương, biết tha thứ, có hiểu biết, bạn có công nhận không? Mà hơn nữa bạn cũng thấy khi mình có sự buồn phiền, giận ghét thì mình cũng đâu phải là người sung sướng gì cho lắm bởi vì trong người mình lúc nào cũng thấy bực dọc mà không có sự bình an trong thân và tâm của mình nữa. Cho nên xóa đi sự ghét bỏ thì trong người mình sẽ cảm thấy thoải mái hơn mà cũng không phải làm cho mình trở nên khó khăn hơn trong cuộc sống và con người mình sẽ trở nên tươi mát hơn, như vậy thì người khác cũng dễ tới với mình hơn. Hơn nữa bạn nên dùng tình thương hướng về phía người đã gây ra đau thương cho gia đình bạn thì bạn sẽ thấy cuộc sống của bạn có ý nghĩa hơn và người kia chắc chắn là cũng bớt sợ hơn. Sư cô tin chắc rằng người đó cũng chẳng muốn có tai nạn đó xảy ra nhưng làm sao mà có thể lường trước được.

Trong cuộc sống, nếu chúng ta biết lấy tình thương để đối xử với tất cả mọi người thì cuộc đời này sẽ có nhiều niềm vui và hạnh phúc biết nhường nào. Thương những người dễ thương là đương nhiên rồi, nhưng mà cũng nên thương những người mà mình cho là không dễ thương, như vậy mình sẽ có hạnh phúc lâu dài. Chúc bạn sớm tha thứ cho người đó và hiểu được người đó để có được hạnh phúc và thành công trong cuộc đời.

Thương nhiều.

www.langmai.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-11-2007 , 08:35 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Vô Tình Chúng Sanh

Hỏi:

Có một vị thầy giảng rằng cây cỏ cũng có "cảm giác" và "dường như có tâm hồn". Cũng có một vị lão hòa thượng Trung Hoa nói rằng người chết cũng có thể tái sinh làm cây cỏ. Cho nên nhổ đốn cây cỏ nhiều cũng tạo nhiều nghiệp chẳng lành.

Kính xin quý vị chỉ giáo, bởi vì có một số Phật tử ăn chay mà cứ băn khoăn về những lời dạy trên của quý thầy. Có người ăn chay trường mà cứ lo sợ kiếp sau đầu thai làm cây cỏ.

Ðáp:

1- Chúng tôi đã tham vấn với một số quý thầy ở Úc Châu, Âu Châu và ở Việt Nam qua vi tính thư và thấy rằng đa số quý thầy có đồng quan điểm với hay tương tự như quan điểm (8/10) của thầy Thích Tâm Thiện như vầy: "Ðạo lý cơ bản của người Phật tử là 5 giới cấm, trong đó có dạy là không sát sinh. Còn đối với cỏ cây hoa lá, cũng là chúng sinh , nhưng là vô tình chúng sinh, khác với con người , động vật ( hữu tình chúng sinh) . Chúng ta tu , cái chính là không sát hại các loài hữu tình, còn nếu cao cả hơn thì không sát hại cả các loài vô tình. Tuy nhiên, mục đích chính của không sát sinh là để tăng trưởng tâm từ bi"

"Còn chuyện các loài cỏ cây có linh hồn hay không , tôi nghĩ người trần như chúng ta không thể biết được. Và nếu có, thì có lẽ Ðức Phật đã không chia thành hai loại hữu tình và vô tình (sentient being & non sentient being ) chúng sinh. Tình ở đây là tình thức, là tâm hồn, là linh hồn " (Thích Tâm Thiện).

2- Chúng tôi cũng tìm đọc kinh để lấy lời Phật làm dấu ấn và lời của Phật trong kinh Lăng Nghiêm đã giải đáp thật rõ ràng. Chúng tôi xin chép lại đây lời Ngài để quý độc giả được rõ : "Người tu thiền định, khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đã diệt, chơn tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thấy thức ấm biến khắp tất cả, rồi sanh tâm chấp: "Mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây". Vì mê mờ tánh Bồ Ðề, mất chánh kiến, nên sẽ làm bè bạn với hai chúng ngoại đạo Bà Tra và Tán Ni, chấp tất cả vạn vật đều có tri giác (biết)." (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ 6-7, Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Hòa Thương Thiện Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế tái xuất bản năm 1987, Bài thứ 16: Mười Món Ma Về Thức Ấm, phân đoạn 4, chấp cỏ cây cũng đều biết, trang 252).

Bản dịch Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Thích duy Lực dịch như sau:

"4- Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên thông, nếu ở nơi sở tri, kiến lập tri giải, cho các loài cây cỏ mười phương đều gọi là hữu tình, với người chẳng khác ; cây cỏ làm người, người chết rồi lại thành cây cỏ, cho đến loài vô tình đều có sự giác tri, hữu tình vô tình chẳng có phân biệt, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào cái chấp "Tri vô tri", làm bạn với hai thứ ngoại đạo Bà Tra và Tiện Ni, chấp tất cả đều có sự giác tri, mê lầm tánh Bồ Ðề, lạc mất tri kiến Phật. Ấy gọi là lập cái tâm viên tri, thành cái quả hư vọng, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống Ðiên Ðảo Tri thứ tư." (Kinh Lăng Nghiêm, Từ ân Thiền đường xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 253).

Ngoài ra, bản dịch của cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám cũng tương tự.

3- Như thế, trên đây đã trả lời rõ ràng về cây cỏ, cũng đồng thời trả lời luôn về một câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được một vị thầy lập lại và đồng ý bia đá cũng biết đau: "làm sao em biết bia đá không đau?" Vâng thưa! biết chứ, Phật dạy rồi. Bia đá không biết đau, chúng là vô tình chúng sinh, là vô tri giác. Thưa thầy!

Tâm Diệu

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-16-2007 , 07:38 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Có phải biểu hiện của thời mạt Pháp

HỎI: Chúng tôi là Phật tử ở vùng rừng núi Tây Nguyên xa xôi, thỉnh thoảng mới có một vài vị Tăng ghé qua và hiếm hoi lắm mới được nghe một thời pháp. Thế nhưng, “chư Tăng Ni” hành nghề bán hương (nhang) thì lại khá nhiều. Họ đi khắp các hang cùng ngõ hẹp, bán hương với giá “trên trời” và nài nỉ mua để ủng hộ chùa chiền ở đâu đó. Thú thật thì chúng tôi có mua để ủng hộ nhưng địa phương chúng tôi đâu có thiếu hương, chỉ thiếu giáo pháp mà thôi. Trong khi chúng tôi được biết ở những đô thị lớn, các tỉnh lỵ thì chư Tăng tập trung khá đông. Nhìn “chư Tăng Ni” đến địa phương chúng tôi không hoằng pháp mà chỉ đi bán hương dạo, thật chạnh lòng. Xin hỏi quý Báo, đây có phải là biểu hiện của thời mạt pháp không? Giáo hội có thể điều phối chư Tăng đến những vùng sâu vùng xa không? Chúng tôi sẽ học tập giáo pháp với ai, bằng cách nào?

ĐÁP Phản ánh của các bạn về việc “chư Tăng Ni” đến Chư Păh chuyên bán hương dạo, chỉ thuần túy buôn bán, theo chúng tôi, lãnh đạo Phật giáo và chư Tăng, Phật tử tỉnh Gia Lai nói riêng cùng cả nước nói chung, cần đặc biệt quan tâm, cảnh giác. Bởi hiện nay, có một bộ phận không nhỏ người thế tục giả dạng Tăng Ni, nấp dưới danh nghĩa làm việc thiện như vận động tiền bạc nhằm xây dựng, cứu trợ… hoặc buôn bán nhang đèn, pháp khí, kinh sách… làm kinh tế cho chùa, lợi dụng lòng tin của bà con Phật tử để trục lợi (các phương tiện truyền thông đại chúng đã phản ánh).

Dù hiện nay, một số chùa viện vẫn chủ trương sản xuất nhỏ như tương chao, bánh trái, hương đèn hoặc buôn bán nhỏ như mở quán cơm chay, phòng phát hành kinh sách, pháp khí, văn hóa phẩm Phật giáo nhưng chủ yếu là cung ứng và phân phối tại chỗ, giao hàng tận nơi với số lượng lớn nếu có yêu cầu. Và có thể nói, ngày nay kinh tế xã hội phát triển nên kinh tế chùa viện và đời sống Tăng Ni đã ổn định, do đó, chư vị chỉ chuyên tâm tu học và hoằng hóa. Vì thế, việc chư Tăng Ni đi bán dạo hương, đèn… để làm kinh tế cho nhà chùa là hoàn toàn không có.

Vậy thì đội ngũ khá nhiều “chư Tăng Ni” đi bán rong buôn dạo, họ là ai? Nếu chúng ta không có phương án ngăn chặn kịp thời để chấm dứt tình trạng này thì uy tín của Tăng già bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hàng Phật tử hoang mang không biết đây có phải là biểu hiện của thời mạt pháp không, là một điển hình. Thiết nghĩ, Giáo hội các cấp nên đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự, phối hợp với chính quyền để có phương án giải quyết triệt để, nhằm tránh ảnh hưởng không tốt đến uy tín của chư Tăng đồng thời chư vị trụ trì các tự viện cần phổ biến sự việc này cho Phật tử để kịp thời cảnh giác.

Vấn đề các bạn ưu tư, mong mỏi được chư Tăng đến hành đạo, hoằng pháp tại những vùng sâu vùng xa như Chư Păh, hiện cũng là những trăn trở, thao thức của chư tôn đức lãnh đạo Phật giáo tỉnh Gia Lai nói riêng và Giáo hội nói chung. Có thể nói, hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa là một trong những mục tiêu của Ban Hoằng pháp Trung ương. Hiện Ban Hoằng pháp Trung ương đã kiện toàn đội ngũ Giảng sư đoàn và việc cử giảng sư đến Chư Păh hoằng pháp, đáp ứng nhu cầu tu học của các bạn là điều có thể thực hiện được.

Đối với chư Tăng, việc tu học và hành đạo ở nơi nào luôn mang tính tùy duyên. Nếu hội đủ các yếu tố về pháp lý, sự hỗ trợ của chính quyền và Giáo hội địa phương, môi trường tu học, điều kiện sống và hành đạo, tâm nguyện hộ pháp của Phật tử, sự phát nguyện dấn thân hoằng pháp của chư Tăng… thì xem như đủ duyên và chư Tăng có mặt. Trong sự nghiệp hoằng pháp, phát tâm hành đạo vùng sâu vùng xa, miền núi và cao nguyên, về chủ quan thì chư Tăng luôn sẵn sàng nhưng về các yếu tố khách quan vẫn đang cần hội đủ duyên lành. Do vậy, nếu nhìn qua lăng kính tùy duyên như chúng tôi đã phân tích thì các bạn sẽ hiểu được nguyên nhân vì sao chư Tăng tập trung khá đông ở đô thị và các tỉnh lỵ hiện nay trong khi những nơi khác mật độ chư Tăng khá thấp, thậm chí có những địa phương chư Tăng hoàn toàn vắng mặt.

Trong khi chờ đợi chư Tăng hội đủ duyên lành về hành đạo tại địa phương, các bạn cần thỉnh nguyện Ban Trị sự, Ban Hoằng pháp tỉnh Gia Lai và Ban Hoằng pháp Trung ương quan tâm giúp đỡ, bổ nhiệm trụ trì, hỗ trợ giảng sư. Mặt khác, hiện nay kinh sách, báo chí, băng đĩa Phật pháp rất phong phú, phát hành rộng rãi nên các bạn cần nương tựa Pháp bảo để làm hành trang cho lộ trình tu học của mình. Chúng tôi nghĩ rằng, trước vận hội mới của đất nước và Phật giáo Việt Nam, trong một tương lai rất gần, mong ước của các bạn sẽ trở thành hiện thực.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-29-2007 , 10:06 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
NIỆM PHẬT

HỎI: Đã từ lâu, tôi phát tâm tu tập pháp môn niệm Phật, niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, cầu vãng sanh Tịnh độ. Tôi cảm nhận được sự an ổn thân tâm và dần thiết lập được niềm tin vững chắc vào pháp môn. Gần đây, một người bạn cho tôi mượn 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang. Xem xong 4 đĩa VCD này tôi thật bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm, đơn cử như "Niệm Phật đừng nguyện thành Phật mà thành đất…" (VCD - Đất) hay "Niệm Phật thành đất, chắc gì được vãng sanh mà nguyện…" (VCD - Tiến trình niệm Phật). Vậy, kính mong quý Báo cho biết quan điểm của Phật giáo về pháp môn niệm Phật mà tôi đang hành trì để giữ vững niềm tin trong quá trình tu tập.

ĐÁP:


Niệm danh Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độ là pháp tu phổ biến của các hành giả Tịnh Độ tông. Tịnh Độ là một trong những tông phái lớn của Phật giáo Bắc truyền, có kinh luận y cứ rõ ràng, được chư vị Tổ sư thế thứ truyền thừa, rất nhiều hành giả niệm Phật được vãng sanh (Tứ chúng vãng sanh truyện). Đặc biệt, Tịnh Độ tông có số lượng tín đồ đông đảo, nhất là ở các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Vì vậy, thật xác đáng khi nhận xét "Ở các xứ Bắc tông Phật giáo, những người xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà chiếm phần tối đa" (Thích Thiền Tâm, Niệm Phật thập yếu, tr.14).

Khởi nguyên, giáo nghĩa Tịnh độ được hình thành và phát triển ở Ấn Độ, là một đường lối tu tập nhưng chưa hình thành tông phái. Khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc (cuối thế kỷ thứ I), khoảng thế kỷ thứ III, kinh điển Tịnh độ mới xuất hiện và đến thế kỷ VI thì giáo nghĩa Tịnh Độ tông xem như hoàn chỉnh. Ngoài ba bộ kinh nền tảng là kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, còn có Vãng sanh Tịnh độ luận (Thế Thân) và rất nhiều kinh điển Đại thừa ca ngợi tư tưởng Tịnh độ như Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bửu Tích…

Khai sáng Tịnh Độ tông Trung Quốc là Sơ tổ Huệ Viễn (333-416). Ngài thành lập Bạch Liên xã, tổ chức tu tập niệm hồng danh Phật A Di Đà tại chùa Đông Lâm, ở Lô Sơn. Sau đó, liên tông chư Tổ thế thứ truyền thừa đến Ấn Quang đại sư (1862-1940), Tổ sư thứ mười ba. Tại Việt Nam, giáo nghĩa Tịnh độ được truyền vào rất sớm, "sự có mặt của giáo lý Tịnh độ ở Việt Nam được đánh dấu chậm lắm là vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười một" (Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tr.202). Theo Thiền uyển tập anh, năm 1141 chùa Quỳnh Lâm đã tạc tượng Phật A Di Đà. Đời Trần, Trần Thái Tông (1218-1277) đã chủ trương tu tập niệm Phật (Khóa hư lục). Đến Trần Nhân Tông (1258-1308) đã xác định rõ, "Phật tử nước ta thời ấy, niệm Phật là niệm Đức Phật A Di Đà" (Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Thái Tông, tr.275).

Đường lối tu tập của Tịnh Độ dựa trên ba nguyên tắc Tín - Nguyện - Hạnh. Tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên là cơ sở vững chắc để thành tựu vãng sanh. Có nhiều phương thức niệm Phật nhưng trì danh niệm Phật rất thích hợp với quần chúng, số đông. Vãng sanh Cực Lạc là kết quả của những hành giả tu tập niệm Phật đạt đến nhất tâm. Dù quả vị trong chín phẩm có cao thấp, thượng hạ, song được sanh về Tịnh độ chắc chắn sẽ "bất thối", không còn đọa lạc, theo thời gian sẽ đến ngày chứng quả Vô sanh. Mặt khác, theo kinh Vô Lượng Thọ, với 48 lời nguyện của Đức A Di Đà, thì ngoài tự lực còn có tha lực nên niệm Phật trở thành pháp môn "dễ tu, dễ chứng". Do vậy, Tịnh Độ tông truyền bá rất rộng rãi, được nhiều người hưởng ứng, tu tập.

Như vậy, niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tịnh độ là pháp môn tu tập chính thống của Phật giáo, không một ai có thể bài bác, đả kích hoặc phủ nhận. Thiền sư Thiên Như khẳng định "Đời mạt pháp về sau, bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu ai không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục" (Thiên Như ký ngữ - Thích Thiền Tâm, sđd, tr 15). Những ai có duyên với pháp môn niệm Phật thì hãy giữ vững niềm tin vào Chánh pháp, nỗ lực và tinh tấn hơn nữa để niệm Phật đạt đến nhất tâm.

Trở lại vấn đề 2 bộ VCD, "Tiến trình niệm Phật" và "Đất" của thầy Chân Quang, theo chúng tôi, trong thuyết pháp có vấn đề đối cơ, tức tùy căn cơ của hội chúng mà nói pháp. Bạn nghe xong 2 bộ VCD ấy cảm thấy "bàng hoàng vì những lời giảng vô cùng lạ lẫm" có thể do bạn không phải là người đương cơ để cảm nhận những vấn đề thuộc "ý tại ngôn ngoại"!? Đã xác định mình không phải đối tượng của "pháp thoại" ấy thì hãy xem như "gió theo lối gió, mây đường mây", do đó bạn cứ an tâm tu tập với pháp môn của mình.

Chúc bạn tu tập thành công!

(Nguồn GN 283)

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-07-2007 , 07:53 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hôn nhân khác Tôn giáo

Thư viện Hoa Sen
Lời Ban Biên Tập: Có tất cả bốn câu hỏi liên quan đến vấn đề hôn nhân khác tôn giáo. Chúng tôi đưa ra năm câu trả lời. Những câu trả lời này thường không do một người viết mà do một ban hay một tổ biên tập. Quý bạn đang ở trong trường hợp sửa soạn một cuộc hôn nhân khác tôn giáo nên nghiên cứu tường tận tất cả các câu trả lời và quán chiếu lại chính mình để có thể tìm ra một giải pháp cho riêng mình.

CÂU HỎI 1: Con là một Phật tử thuần thành, gia đình con có truyền thống Phật giáo đều quy kính Tam bảo. Con thường xuyên đến chùa tụng kinh, học hỏi giáo lý. Vì hoàn cảnh riêng nên con phải lên thành phố học tập và làm việc. Trong thời gian này, con đã yêu một người con gái, cô ấy cũng rất thương con và chúng con có ý định tiến đến hôn nhân. Tiếc rằng, người yêu của con bắt buộc con phải theo tôn giáo của cô ấy và nói rằng đó là điều kiện để đi đến hôn nhân. Con không muốn mất cô ấy, khuyên cô ấy theo con thì con không có khả năng mà bỏ đạo thì con không thể..

ĐÁP: Một trong những yếu tố cơ bản để cấu thành cuộc hôn nhân bền vững ngoài tình yêu là hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Trong hôn nhân, cố nhiên tình yêu vốn cực kỳ quan trọng song chỉ có tình yêu đơn thuần thì chưa đủ. Một tình yêu đúng nghĩa phải vượt lên tất cả những chướng ngại bằng bao dung, vị tha và đặc biệt là sự tôn trọng.

Có thể các bạn thương nhau nhưng chưa thực sự đạt đến độ chín của tình yêu chân thật. Trở ngại lớn nhất giữa các bạn bây giờ là niềm tin tôn giáo mà tôn giáo và tín ngưỡng lại thuộc phạm trù thiêng liêng, vốn bất khả xâm phạm. Theo như tâm sự của bạn trong thư thì chính bản thân bạn cũng như người yêu của bạn cả hai đều có lập trường kiên định trong việc bảo vệ niềm tin của mình.

Giữ vững niềm tin là điều tốt song éo le ở chỗ là tôn giáo hiện hữu trên đời để hướng thiện con người, giúp con người ngày một thăng hoa và tiến bộ trên phương diện đạo đức và tâm linh trong đó có vấn đề bảo vệ và xây dựng tình yêu chứ không phải làm chướng ngại, ngăn cách tình yêu. Vấn đề đặt ra ở đây là người yêu của bạn "thách cưới" bằng việc bắt buộc bạn phải từ bỏ tôn giáo của mình để theo tôn giáo của cô ấy. Nếu không thỏa mãn yêu cầu này thì hôn nhân chỉ là chuyện trong mơ. Chính yêu cầu này bộc lộ một điều rằng cô ấy quá ích kỷ, hẹp hòi; bảo vệ niềm tin một cách thiển cận, thiếu tôn trọng và yêu tôn giáo của mình hơn yêu bạn.

Một khi lập trường hôn nhân của người yêu bạn nghiêng nặng về tôn giáo hơn là tình yêu đồng thời ra điều kiện cho bạn muốn đi đến hôn nhân với cô ấy thì phải bỏ đạo, chính bạn cần phải sáng suốt cân nhắc và kiểm định lại quyết định hôn nhân của mình. Bởi lẽ, điều kiện trên đã cho thấy người yêu của bạn sẵn sàng hy sinh tình yêu để bảo vệ tôn giáo đồng thời lộ rõ sự thiếu tôn trọng, xúc phạm đến niềm tin tôn giáo thiêng liêng của bạn.

Còn đối với bạn, dù yêu thương cô ấy và có dự định hôn nhân nhưng vẫn giữ vững lập trường kiên định về niềm tin tôn giáo của mình. Bạn đã có một quyết định đúng đắn và sáng suốt. Đạo Phật không chủ trương lợi dụng hôn nhân để quy nạp tín đồ đồng thời cũng không khắt khe đến độ cực đoan khi bắt buộc người chung sống với mình phải cải đạo. Người Phật tử, quy hướng đạo Phật xuất phát từ niềm tịnh tín, với ý thức tự giác và tự nguyện đồng thời rất tôn trọng tín ngưỡng và niềm tin của người khác. Do vậy, bạn cũng không cần người yêu của bạn từ bỏ tôn giáo của mình để theo bạn nếu không xuất phát từ tự giác và tự nguyện, nhưng đối với riêng bản thân bạn thì cần phải sáng suốt, không mù quáng và nhất là không đánh mất lòng tự trọng của người Phật tử, vốn dĩ cao quý và thiêng liêng.

Đạo Phật là đạo giác ngộ, được làm người Phật tử là đã đặt chân lên thềm thang giác ngộ, đó là một trong những căn lành mà không phải bất kỳ ai cũng có được. Do vậy, nếu bạn không muốn trầm luân, đọa lạc trong đời này và đời sau thì phải giữ vững niềm tin của mình. Hôn nhân có thể đem lại cho bạn hạnh phúc trong một đời nhưng để đạt được hạnh phúc trước mắt vốn mong manh ấy mà phải thay đổi lý tưởng và niềm tin là một điều tệ hại nhất trong các điều tệ hại vì đánh mất chánh kiến nên chắc chắn bị đọa lạc ở những đời sau.

Vẫn biết rằng nếu cùng một chí hướng và niềm tin thì rất tốt cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình song thực tế quan điểm của hai người hiện giờ thì điều ấy trở thành không thể. Giải pháp "đạo ai nấy giữ" dù còn nhiều giới hạn và trở ngại nhưng vẫn không có tính khả thi vì điều kiện bắt buộc để tiến tới hôn nhân của cô ấy là bạn phải bỏ đạo. Và đây cũng là tín hiệu rõ ràng nhất của vấn đề rằng chuyện tình yêu của các bạn còn một khoảng trống bất hòa khá lớn, chưa hội đủ các điều kiện cần và đủ cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Do vậy, nếu đi đến hôn nhân khi tình yêu cũng như quan điểm chưa đạt đến độ hòa hợp, chín muồi thì chắc chắn sẽ bất hạnh, đổ vỡ và chuốc lấy thất bại mà thôi.

Người Phật tử luôn vận dụng trí tuệ để làm hành trang cho cuộc sống. Bạn phải luôn ý thức để quán niệm rằng hôn nhân (nếu may mắn) chỉ đem lại hạnh phúc một đời, còn Chánh pháp sẽ dẫn bước và soi đường cho bạn đạt đến hạnh phúc và an vui trong đời này và mãi mãi về sau. (TTV-GN)
CÂU HỎI 2: Cháu là một Phật tử thuần thành, áp dụng những lời Đức Phật dạy vào cuộc sống thực tiễn được nhiều lợi ích. Cháu đang làm việc cho một công ty nước ngoài và yêu thương một bạn gái theo đạo Thiên Chúa. Bạn này cũng như cháu rất ngoan đạo. Hơn một năm, tình cảm tụi cháu vẫn tiến triển tốt đẹp, bàn về tương lai xa chúng cháu đã thống nhất với nhau đạo ai nấy giữ. Nhiều người nói với cháu: "Hai đạo khó làm ăn, khó dạy con cháu, khó hạnh phúc...".

TRẢ LỜI : Đúng là trên thực tế có rất nhiều cặp vợ chồng đã không hạnh phúc chỉ vì họ theo hai đạo khác nhau. Tuy mỗi tôn giáo có một nền giáo lý khác nhau, mục đích tối hậu khác nhau nhưng vẫn có những điểm giống nhau trong quan niệm cuộc sống. Ví dụ như tôn giáo nào cũng khuyên tín đồ của mình nên siêng làm những việc lành và cố gắng lánh xa điều ác. Cho nên hai người khác đạo quyết định lấy nhau, họ đã tìm ra chỗ dung thông sau khi vượt qua biết bao cách trở: Đạo ai nấy giữ. Song, họ đã không hiểu hết lời tuyên thệ đó. Họ chỉ hiểu đơn giản khi lấy nhau rồi thì ai nấy cứ tiếp tục tín ngưỡng tôn giáo của mình, tự do cúng kiếng lễ bái hay những hình thức sinh hoạt khác mà một tín đồ cần phải thực hiện. Họ không hề nghĩ đến sự khác nhau giữa tư tưởng của hai tôn giáo là một trở ngại lớn. Càng là tín đồ thuần thành thì họ càng khó chấp nhận về quan niệm sống hay những điều chân lý của tôn giáo khác. Nếu như chân lý là một cái gì đó ở đằng xa, họ ít có dịp luận bàn đến thì những giáo lý áp dụng ngay trong đời sống hiện thực cũng không phải luôn luôn có điểm chung giữa hai tôn giáo. Vì ai cũng giữ cái "ngoan đạo" của mình mà không chấp nhận nhau rồi xảy ra việc tranh cãi và chê trích đạo của nhau là chuyện thường có.

Nếu họ là những người hiểu biết, ôn hòa và nhường nhịn lẫn nhau thì với tình yêu sắt son cũng không khó xây dựng hạnh phúc gia đình. Song, đến khi có con lại là một vấn đề nan giải. Lời giao kết "đạo ai nấy giữ" thuở ban đầu ấy là dành cho vợ chồng, nhưng con của họ thì sao? Theo cha hay theo mẹ? Ai mộ đạo thì cũng muốn con mình theo đạo truyền thống của ông bà cha mẹ mình, phải tranh thủ hướng đạo cho con ngay từ nhỏ. Nếu cha mẹ khoáng đạt hơn thì lớn lên cho con tự quyền lựa chọn tôn giáo, nhưng nếu đứa con mặc dù đã đủ lớn khôn để nhận thức nên theo đạo nào lại ngặt nỗi sợ mất lòng cha hoặc mẹ thì càng rắc rối hơn. Đó là chưa nói đến hai họ, bên nội và ngoại, họ là những bức tường thành kiên cố khó mà vượt qua. Ngay từ khi cha mẹ chúng lấy nhau đã phải khổ sở lắm mới chinh phục được quan niệm "như đinh đóng cột" của nội ngoại, bởi những người theo đạo lâu năm họ cho rằng đó là một điều thương tổn đạo đức. Vì thương con mà họ đành ngậm ngùi chấp nhận, nhưng đến khi có cháu thì bất ngờ trong họ nảy sinh một sự chiếm hữu rất lớn, họ không thể "mất" thêm đứa cháu.

Thật ra, tất cả cũng chỉ là quan niệm mà con người đã lỡ đặt ra và chấp chặt vào. Tôn giáo không hề có lỗi, bởi tôn giáo ra đời là để giáo dục con người hướng đến hạnh phúc trọn vẹn, chỉ tại con người bị bản ngã làm kẹt vào những quan niệm. Hai người khác đạo lấy nhau nếu muốn có hạnh phúc thì phải vượt lên những quan niệm đó. Còn chưa hiểu gì về tôn giáo của nhau, chưa tìm thấy được điểm chung để cố gắng hòa vào và điểm riêng để vượt ra khỏi thì nhất định sẽ rơi vào nghịch cảnh tan vỡ nếu vội vã lấy nhau. Không nên vì tình yêu quá độ mà lờ đi những hiểu biết về đạo của nhau. Phải thực sự hiểu giá trị đích thực của cuộc sống là gì thì mới thấy được sự cần thiết của đạo, bằng không sẽ xem nó như một nỗi ám ảnh đọa đày.

Giáo lý Đức Phật dạy chúng ta từ bi bình đẳng, độ lượng vị tha, nhu hòa nhẫn nhục... để thanh tịnh hóa nội tâm, chuyển hóa và trị liệu những tật bệnh phiền não chứ không hề khuyên chúng ta phải chết sống để bám giữ khư khư vào đạo mà không được phép tạm rời. Sống hình thức trong đạo mà không thực hành được những điều đạo đã dạy thì coi như hoàn toàn xa đạo, ngược lại không điều kiện để gần đạo hoặc có thể ở chung đạo khác mà vẫn sống tốt theo những gì đã được hấp thụ từ đạo của mình và còn tạo ảnh hưởng đến người đạo khác thì quả là một tín đồ thuần đạo, rất gần với đạo. Đó là lời răn nhắc của Đức Phật. Nhưng tư vấn đến đây, chúng tôi có ý định khuyên cháu khoan tiến xa hơn trong mối tình này, bởi chúng tôi vừa phát hiện ra cháu phát biểu nông nổi: "Chúa Jesus và Phật Thích Ca là một". Dựa vào đâu là cháu dám nói càn như vậy? Cháu hiểu Phật Thích Ca là như thế nào và Chúa Jesus ra sao? Không nên vì muốn chuyện tình cảm của mình được trọn vẹn mà cẩu thả "sáp nhập" đại để tìm ra sự "dung hòa chân tình" trong tư tưởng của mình. Điều đó chứng tỏ rằng vì những lời cảnh báo của kẻ bàng quan và thấy người đi trước gặp thất bại nên cháu mới lo lắng băn khoăn chứ cháu chưa thật sự quan tâm đến vấn đề trở ngại của chính bản thân mình.

Chúng tôi tán đồng quan điểm của cháu là cuộc sống là do bàn tay và khối óc của mình tạo nên, song sức mạnh của bàn tay thì có thể dễ dàng biết rõ chớ còn khối óc thì cần phải kiểm tra thật kỹ lại từng giây phút mới không lầm nhận về nó. Sự hiểu biết của con tim luôn nhạy cảm tìm sự thích nghi với hoàn cảnh và cũng bị tác động ít nhiều từ hoàn cảnh. Cháu không được phép chủ quan mà không chịu tìm ra chỗ gút của bài toán khó này thì về sau cháu sẽ hối tiếc vì không còn đủ sức để nhận diện nữa, lúc ấy chỉ còn biết đương đầu chấp nhận và thở dài mặc tùy số phận mà thôi. (TTV-GN)
CÂU HỎI 3: Em năm nay 20 tuổi, anh ấy 23, em quen anh ấy đã được 3 năm, tình cảm giữa em và anh ấy rất mặn mà, anh ấy đang học computer science, nhưng có một chuyện mà hai đứa em luôn đau khổ: em là người đạo Thiên Chúa, nhưng gia đình anh ấy theo đạo Phật, có nhiều lần anh đã muốn công khai chuyện tình cảm của hai đứa nhưng không dám vì gia đình của anh ấy không chấp nhận anh quen với người có đạo, bản thân anh cũng là con út trong gia đình, cho nên bây giờ hai đứa em quen nhau cứ phải lén lút, điều này làm em buồn lắm, gia đình em khó lắm, không chấp nhận em kết hôn với người ngoại đạo, thậm chí anh ấy đồng ý theo đạo mà ba em cũng còn không chấp nhận, chúng em không thể xa nhau

Bây chúng em phải làm sao để hai gia đình chấp nhận, bản thân anh là người rất có trách nhiệm, là đứa con ngoan trong gia đình, anh ấy sẵn sàng theo đạo nếu gia đình chấp nhận, nhưng mãi mãi gia đình anh ấy không chấp nhận thì chúng em sẽ phải xa nhau mãi mãi ư, đời em đã thuộc về anh ấy, em không hề hối hận những điều em đã làm, nhưng em phải làm sao để gia đình cho anh ấy theo đạo, chẳng lẽ em cứ chờ đợi mòn mỏi hoài vậy, em và anh ấy yêu nhau là một cái tội ư, bây giờ em phải làm sao đâỷ Xin chi giúp em vớị
TRẢ LỜI : Phải nói thẳng một điều là cả hai gia đình, gia đình em và gia đình anh ấy của em, đều hẹp hòi, ích kỷ, không quan tâm đến hạnh phúc của con cái mà chỉ muốn chúng phải là những con cừu do mình chỉ huy, áp đặt, nếu chúng không làm đúng theo ý mình thì mặc kệ, cho chúng nó đau khổ. Họ không thèm quan tâm đến tình huống cặp tình nhân tre, quá yêu nhau, muốn sống chung với nhau nhưng phải lén lén lút lút, nếu người con gái có thai ngoài hôn nhân, rồi hậu quả sẽ ra sao, liệu mầm sống mới chưa kịp mở mắt chào đời kia có vì sự khắt khe của ông bà nội, ông bà ngoại mà đành trôi theo bàn tay nạo thai mà ngậm hờn dưới lòng cống không?

Tuyệt đỉnh của tôn giáo là CHÂN THIỆN MỸ. Nhưng khi tôn giáo đã gom lại thành tổ chức thì đôi khi lại nẩy sinh ra những hạng người cuồng tín, làm những điều khiến cho tôn giáo của họ trở thành biến thể, đi xa cái chân thiện mỹ, mà trở thành một hình thức giống như là phe pháị Phe này muốn lấn lướt phe kia, tự cao về phe mình, không nghiên cứu giáo lý của tôn giáo khác để nhìn thấy được cái tuyệt đỉnh, cái CHÂN THIỆN MỸ mà giáo chủ của họ đã vì những điều đó mà hình thành tôn giáo của họ. Trái lại, cứ như con ếch ngồi dưới đáy giếng, nhìn lên thấy bầu trời nhỏ hơn cái chiếu, tưởng rằng chỉ có đạo của mình là hay nhất, không biết gì về các đạo khác, thậm chí, do không hiểu biết, đôi khi nói những điều vô căn cứ, hoang đường, thành ra như là nói xấu đạo khác vậy.

Căn bệnh trầm kha này đã và đang gây tai họa cho nhân loại qua các cuộc thánh chiến. Chỉ khi nào, hoặc là mọi người đều nghiên cứu thêm về các tôn giáo khác để hiểu biết và thông cảm nhau hơn, hoặc là không nghiên cứu thì cứ nên tôn trọng sự tự do tôn giáo, tự nhủ rằng vì mình thiếu hiểu biết, không thấy cái hay của các tôn giáo khác không có nghĩa là đạo khác xấu, mình có bổn phận phải << cứu vớt >>. Đừng nghĩ rằng chỉ có riêng những người theo tôn giáo mình là <<có đạo>>, còn các người không theo đạo của mình thì gom chung thành << người ngoại đạo >> cần được giáo dục để << theo đạo >>. Điều này phải cần đến sự tận tâm giảng dậy của các vị linh hướng có tinh thần cởi mở, hiểu biết rộng, và có tấm lòng từ bi, bác ái, thương xót cho cái kiếp người vốn đã đầy nỗi thống khổ, không nên lợi dụng tôn giáo để quàng thêm vòng dây kẽm gai lên đầu lên cổ tuổi trẻ nữa.

Các em nên cố gắng học hành chăm chỉ để kiếm được việc làm, thoát được ảnh hưởng của gia đình về mặt kinh tế, rồi sau đó, hãy can đảm trình bầy hoàn cảnh thực sự của hai em, là hai em không thể xa nhau được, yêu cầu hai bên cha mẹ tác thành, nếu không, các em đã lớn, các em cũng có bổn phận đối với chính mình, các em có thể tự định đoạt đời các em.

Về việc đổi đạo, em nên giữ sự tế nhị và hợp lý, không nên đem hôn nhân làm một áp lực bắt người khác đổi đạọ Hai em nên đạo ai nấy giữ. Sau này, khi hai em sống chung, chính cung cách sống của các em sẽ nói lên tính ưu việt của tôn giáo mà các em chịu ảnh hưởng. Từ đó, tùy theo lòng kính quý của mỗi em đối với từng tôn giáo, các em vẫn còn dư thời giờ để đổi đạo, nếu muốn. Sự cưỡng bách không thể thấm sâu vào lòng người, mà lại phát sinh ẩn ức. Để xứng đáng đi vào lãnh vực tâm linh, mỗi người phải có tấm lòng thành khẩn, bước những bước hân hoan, tâm hồn sung mãn với những tư tưởng khai phóng, không phải là những bước lầm lũi tủi hờn vì bị ép buộc. (Thuần Nhã)


MỘT Ý KIẾN KHÁC:

Ðối với Ðạo Phật, Ðức Phật quan niệm rằng: "Không có sự phân biệt Tôn giáo và giai cấp, khi trong máu người cùng đỏ và nước mắt người cùng mặn". Lời dạy ấy chứng tỏ rằng: Ðối với Ngài hay đối với Ðạo của Ngài - Ngài không phân biệt ai cả. Ai tin thì theo Phật, ai không tin Ngài cũng không sao. Câu nói ấy cũng chứng tỏ rằng: Ngoài Ðạo Phật, Ngài còn công nhận nhiều Ðạo khác nữa. Trong khi đó những Ðạo khác có tính cách cực đoan hơn, chỉ biết công nhận Ðạo của mình, còn những ai không tin mình đều là Ngoại Ðạo cả. Từ đó mới phát sinh ra chuyện khó khăn giữa một chàng trai Phật Tử đã quy y Tam Bảo đi yêu một cô gái theo đạo Thiên Chúa.

Cuộc tình nào cũng đẹp nhưng cũng lắm đắng cay. Nếu chỉ có hai người không thì họ đã tự quyết định rồi; nhưng ngặt còn cha mẹ của hai bên và còn chuyện tương lai của con cái nữa. Có nhiều cuộc tình rất đẹp; nhưng đến ngày cưới lại tan vỡ, vì bên này không chấp nhận lễ nghi bên kia, hoặc bên kia không chấp nhận lễ nghi bên này. Thật ra thì Phật Tử chưa hiểu Ðạo vẫn có người cực đoan, mà con Chiên của Chúa cực đoan cũng không phải là ít.
Ðiều mà người Phật Tử phải nhớ là đã quy y Phật, Pháp, Tăng rồi thì dầu cho không gian và thời gian có thay đổi cũng không được quyền thay đổi Ðạo của mình. Ðổi Ðạo tức là đã phạm vào những giới mà mình đã phát nguyện lúc quy y Tam Bảo. Và Phật Giáo cũng không bắt buộc một người nào theo Ðạo của mình dưới bất cứ một hình thức nào cả.
Một vị Tăng sĩ có thể đứng ra chủ lễ cho một đám cưới hai Ðạo khác nhau; nhưng chúng tôi đoan chắc rằng một vị Linh Mục Việt Nam không làm điều đó. Vì cho rằng chú rể hoặc cô dâu kia là người ngoại đạo. Nhưng đó chỉ là những vị Linh Mục Việt Nam bắt buộc như thế thôi, còn các Linh Mục Âu, Mỹ vẫn khuyên rằng đạo ai nấy giữ - nếu có đi chăng nữa là từ hồi xưa - lúc họ còn ít tín đồ- chứ bây giờ có lẽ vì bị sự chống đối của Tín hữu nên không thấy nói.
Chúng tôi thấy Phật Tử của mình bị mất mát quá nhiều; vì một cậu Phật Tử đi lấy vợ theo Thiên Chúa hoặc một cô Phật Tử đi lấy chồng theo Thiên Chúa là sự đi chùa của cô hay cậu đó hoàn toàn trống vắng mà lâu nay quý Thầy không nói có lẽ còn nể tình, hoặc bảo rằng chuyện không đáng. Vì Phật Giáo không có chủ trương thâu nhận tín đồ cho lấy nhiều mà chỉ tự nơi tâm thôi. Nhiều Phật Tử có tâm đạo hay nói với chúng tôi rằng: "Nếu chỉ theo Ðạo Chúa để lấy được vợ thì sau khi lấy vợ xong con phải dẫn vợ về chùa, chứ không đi nhà thờ nữa". Nhưng thông thường thì đàn ông theo đạo vợ hơi nhiều, chứ đàn bà ít theo đạo chồng - có lẽ niềm tin của các ông chồng còn yếu.
Gần đây bên Giáo Hội Thiên Chúa có cho xuất bản bộ giáo luật mới có đề cập đến vấn đề hôn nhân giữa người khác Ðạo. Chúng tôi thấy rằng Giáo Hội Thiên Chúa giáo có cho tự do kết hôn giữa người khác Ðạo (nghĩa là Ðạo ai nấy giữ) nhưng đến đời con, cháu phải theo Ðạo Chúa. Chúng tôi nghĩ rằng đó cũng chỉ là tự do trong một giai đoạn ngắn thôi. Ðiều quan trọng là ở tương lai chứ hiện tại cũng không có gì đáng nói lắm. Chúng tôi thấy hơi lạ là bên Ðạo Thiên Chúa cứ bắt buộc người khác rửa tội mới được làm lễ nhà thờ. Trong khi đó Ðạo Phật thì không bắt buộc gì cả. Ðạo ai nấy giữ. Nếu cứ tình trạng này thì con Chiên của Chúa cứ tăng dần mà Phật Tử càng ngày càng ít. Nên chúng tôi có một số ý kiến như sau :

Việc viết lên bài này không nhằm đả kích giữa Tôn giáo này hay Tôn giáo khác mà chỉ nhằm mục đích nói rõ, nói thẳng cho người Phật Tử cũng như con Chiên của Chúa hiểu được Ðạo là gì theo một Tôn giáo không phải là thay cái áo cũ mặc cái áo mới, mà theo một Tôn giáo là trọn đời của mình phải phục vụ cho một niềm tin cao thượng, giải thoát - chứ không phải theo một Tôn giáo để lấy vợ hoặc chồng rồi lại thôi không theo nữa.

Chúng tôi thấy có nhiều gia đình sống không có hạnh phúc với nhau vì khác Ðạo. Nên chúng tôi khuyên những vị sắp lập gia đình nên tìm những người cùng Tôn giáo để kết hôn nhau vẫn hơn là khác Tôn giáo. Vì con cái của quý vị sẽ khổ sở, không biết nên theo Ðạo của cha hay Ðạo của mẹ. Người Phật Giáo luôn luôn quan niệm rằng Ðạo nào cũng tốt; nhưng cuối cùng người Phật Tử để bị đồng hóa trở thành con Chiên của Chúa hơn là con Chiên của Chúa trở thành Phật Tử.

Chúng tôi cũng đề nghị với quý vị Linh Mục Việt Nam rằng: "Không nên bắt buộc những người Phật Tử phải bỏ Ðạo Phật để theo Ðạo Chúa. Vì điều đó Chúa cũng không dạy mà Phật cũng không muốn". Chúng tôi chỉ trình bày sơ lược một số vấn để có liên quan về việc hôn nhân giữa người cùng Ðạo và khác Ðạo. Hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp tích cực của những bậc Tôn Túc, quý vị lãnh đạo tinh thần giữa Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo. (Một độc giả gửi không ghi nguồn gốc bài viết)

CÂU HỎI 4: Con tên là Trung, cư ngụ tại tiểu bang Arizona, là một tín đồ Công Giáo cùng một người bạn đường và bạn đời cùng kết nghĩa vợ chồng. Tất cả mọi việc đều giải quyết thật ổn thỏa êm đẹp. Nhưng có một điều là con cái sau này thì làm sao? Theo Chúa hay Phật!! Thật là nan giải. Xin quý thầy cùng các bậc hiểu biết làm ơn giúp ý. Thành thật cảm ơn. Cầu xin ơn Trên trả công cho quý vị.

ÐÁP Theo như thư anh kể, anh, một người theo đạo Thiên Chúa Giáo và chị, một người theo đạo Phật đã yêu nhau và kết nghĩa vợ chồng, cùng chung sống hạnh phúc bên nhau. Sự kiện đó đã nói lên một thực thể đẹp và có thể là trong tương lai con cái anh chị cũng sẽ thừa hưởng được cái đẹp đó.

Chúng tôi nghĩ rằng những cuộc hôn nhân như vậy sẽ tạo nên cơ hội tốt để hai người có thể học hỏi truyền thống tôn giáo của mỗi bên. Khi anh chị sanh các cháu, anh chị có thể khuyên các cháu ôm ấp cả hai truyền thống tôn giáo của cha mẹ hoặc là để cho các cháu được tự do học hỏi và lựa chọn, đừng nên bắt ép các cháu phải bỏ bên này mà theo bên kia, cũng đừng bắt buộc các cháu phải rửa tội hay phải quy y Tam Bảo trước khi các cháu tới tuổi trưởng thành.

Cũng thế, trong đời sống gia đình, anh nên nói với chị, "Khi nào em đi chùa, nhớ cho anh đi với để chúng ta cùng cúng hoa lên Phật." Chị cũng nên nói với anh: "Chủ Nhật tới anh hãy cho em đi nhà thờ với để cùng dự lễ cầu kinh với anh." Thật là tuyệt đẹp, con cái cũng vậy, đứa nào thích đi chùa thì đi chùa, đứa nào thích đi nhà thờ thì đi nhà thờ, hay thích đi cả hai càng hay, hãy để chúng tự do lựa chọn, đừng ép buộc, đừng khuyến dụ. Trong cuộc sống hằng ngày hãy dạy các cháu những điều cơ bản mà cả hai truyền thống tôn giáo đều dạy là không làm các điều ác, làm các việc lành và hiếu kính cha mẹ. (1)

Ðó là tương lai của con cháu chúng ta, bởi vì nếu chúng ta khác truyền thống tôn giáo, khác tư tưởng mà có thể sống với nhau đẹp đẽ như vậy, chắc chắn xã hội chúng ta sẽ không còn hận thù, xung đột và chiến tranh. Chúng ta sẽ sống an lạc, và hạnh phúc hơn trong tinh thần tự do, cởi mở vì không chấp trước bất kỳ một tư tưởng nào. Anh hay chị hay cháu hãy cứ là Phật tử hay là con của Thiên Chúa, cứ enjoy những giá trị truyền thống sẵn có và luôn luôn mở rộng lòng đón nhận giá trị truyền thống khác của người bạn đời hay của con cái.

(1) Lẽ dĩ nhiên có những sự khác biệt quan trọng giữa đạo Phật và các đạo khác, mà trong đó đạo Phật có điểm "tự tịnh kỳ ý" nghĩa là phải "thanh tịnh tâm ý".
Source: http://www.*******hoasen.org/ddpp-honnhankhactongiao.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-11-2007 , 01:08 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI: Chúng tôi rất muốn tu tập để chuyển hóa nghiệp khổ của mình nhưng hoàn cảnh gia đình không mấy thuận lợi, chật chội, ồn ào và có vợ con. Hiện chúng tôi chưa đủ điều kiện để thực hành ăn chay, vậy trì chú Chuẩn Đề có được không? Tôi nghe nói trì chú Chuẩn Đề hay bị khảo, tính tình nóng nảy có đúng không? Có pháp môn nào thích hợp hơn trì chú không, bởi hiện tại chúng tôi cũng lớn tuổi và sức khỏe không được tốt? Mong quý Báo giới thiệu một pháp môn tu tập thích hợp và cho chúng tôi những lời khuyên.

ĐÁP: Tu tập để chuyển hóa là một nhu cầu quan trọng trong đời sống con người. Một người với đời sống gia đình bình ổn cũng cần tu tập để tăng trưởng phước báo, phát triển đạo đức, thăng hoa tinh thần. Với những người có hoàn cảnh riêng như bệnh khổ chẳng hạn, thì nhu cầu tu học lại càng cấp thiết hơn. Phát khởi được tín tâm, mong muốn tu tập, thực hành lời Phật dạy để chuyển hóa khổ đau của các bạn là những nỗ lực đáng trân trọng.

Thường thì khi mới phát tâm tu tập, ai cũng ái ngại về hoàn cảnh gia đình; chật chội, ồn ào, nói chung là không thanh tịnh. Tất nhiên, so với những gia đình có phòng thờ để lễ bái và tịnh niệm riêng thì đây là một bất lợi. Tuy vậy, yếu tố quyết định trong tu tập là chánh niệm ngay nơi tự tâm, hoàn cảnh bên ngoài chỉ trợ duyên thêm mà thôi. Quan trọng hơn, tu tập là giữ tâm chánh niệm với pháp môn mọi lúc mọi nơi trong đời sống hàng ngày, không phải đợi đến lúc ngồi trước bàn thờ trang nghiêm thanh tịnh mới tu. Vì thế, nếu cố gắng và thành tâm thì bạn có thể tu niệm được dù hoàn cảnh và điều kiện sống khá vất vả, chật chội và ồn ào.

Một người sống với gia đình, vợ chồng, con cái và chưa đủ duyên để thực hành ăn chay vẫn tu tập tốt và không có gì chướng ngại. Ăn chay nhằm nuôi dưỡng lòng từ, góp phần hạn chế sát sanh và phòng ngừa bệnh tật. Cố nhiên, ăn chay được sẽ tốt hơn vì ăn chay giúp cho thân tâm nhẹ nhàng, thanh thoát, có tác dụng trợ duyên cho tu tập thiền định hữu hiệu hơn. Những sinh hoạt thế thường trong đời sống gia đình như tình cảm vợ chồng và những việc khác v.v… nếu áp dụng đúng với năm tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức của người cư sĩ (năm giới) thì không ảnh hưởng gì đến việc tu tập của hàng cư sĩ tại gia cả.

Riêng vấn đề tu tập trì chú Chuẩn Đê, về cơ bản đó là một pháp trong vô lượng pháp môn tu, trong hoàn cảnh thực tế của các bạn như đã trình bày vẫn thực hành và trì niệm được. Tuy nhiên, để trì niệm thần chú Chuẩn Đề có kết quả cao cần phải tuân thủ theo nghi quỹ, pháp thức và ấn quyết từ một vị thầy có kinh nghiệm về Mật tông. Hiện có khá nhiều người vẫn tin rằng tu tập (trì chú Chuẩn Đề, tụng kinh Kim Cang, Pháp Hoa…) sau một thời gian thì tính tình nóng nảy, bị khảo đảo v.v… Những quan niệm như trên hoàn toàn không phù hợp với Chánh kiến, cần phải dẹp trừ. Bởi Chánh pháp là cam lộ (ngon ngọt và mát mẻ), thực hành Chánh pháp tất nhiên sẽ an lạc và thanh lương, chuyển họa thành phúc, chuyển mê khai ngộ. Cần chú ý rằng, những diễn biến không như ý xảy ra sau một thời gian tu tập chỉ đơn thuần là sự trùng hợp ngẫu nhiên của tiến trình nhân quả bình thường của tự thân. Đúng ra, vào thời điểm nhân quả chín muồi ấy, chuyện xấu xảy ra sẽ dữ dội hơn nhưng nhờ trước đó có tu tập, những việc xấu ấy cũng xảy ra nhưng nhẹ bớt và người tu đón nhận nó vững vàng hơn, chứ không phải vì tu tập nên nó mới “đổ nghiệp”.

Theo thiển ý của chúng tôi, trong hoàn cảnh hiện tại của các bạn, tu tập pháp môn Niệm Phật, niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà (Nam mô A Di Đà Phật) là thích hợp nhất. Bởi pháp tu này đơn giản, dễ thực hành, phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh, có thể niệm danh hiệu Phật mọi lúc mọi nơi. Chỉ cần xây dựng niềm tin (Tín) vào cảnh giới Cực lạc, sự tiếp độ của Phật A Di Đà và niệm Phật sẽ vãng sanh. Tiếp đến phát nguyện khẩn thiết, mong mỏi được sanh về Cực Lạc (Nguyện), những công đức lành tạo ra trong đời này đều hồi hướng trang nghiêm Cực Lạc. Sau cùng là thực hành niệm Phật (Hạnh); chỉ cần nhớ nghĩ, tâm niệm thường xuyên sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật . Nếu tín nguyện hạnh đầy đủ thì chắc chắc trong hiện tại và tương lai bạn sẽ được sự tiếp độ của Phật A Di Đà và Thánh chúng mà vãng sanh về Cực Lạc.

Hiện nay, pháp môn này khá thịnh hành và phổ biến khắp đất nước, chỉ cần các bạn dành chút thời gian tham dự một khóa tu niệm Phật, chúng tôi tin rằng bạn sẽ tự trang bị cho mình khá đủ hành trang để bước vào pháp môn Niệm Phật này, một pháp môn tu thường được chư Tổ ca ngợi là “dễ tu và dễ chứng nhất trong thời mạt pháp”.

(TTV-Giác Ngộ)

03-12-2007 10:34:12

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-18-2007 , 08:32 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Con tôi còn rất nhỏ, chỉ 3-4 tuổi thôi. Đến tuổi nào thì tôi nên cho con biết về tôn giáo, về Đạo Phật?


Thầy Pháp Chơn trả lời:

Thật ra không có một tuổi nhất định nào là phải cho con bắt đầu học về tôn giáo. Tuy là vậy, nhưng nhìn chung thì nên hướng dẫn và giới thiệu con em đến với tôn giáo chùa chiền càng sớm càng tốt. Và bước đầu tiên trong việc vun bồi tâm hướng thượng và nền tảng tâm linh cho trẻ con là vun bồi ý niệm về cái thiện trong các em.

Trong kinh A Hàm đức Phật có dạy: “Này các tỳ kheo, có 4 điều mà các Thầy không nên xem thường: đó là đừng xem thường một đốm lửa nhỏ, đừng xem thường một con rắn nhỏ, đừng xem thường một tu sĩ trẻ, và đừng xem thường một Thái tử nhỏ.”

Qua lời dạy này, chúng ta có thể thấy đức phật rất quan tâm đến tuổi trẻ và việc giáo dục tuổi trẻ vì tuổi trẻ là nền tảng của xã hội. Một đốm lửa nhỏ có thể hủy hoại cả một công trình hàng chục tỷ, một con rắn nhỏ có thể cắn chết nhiều người nếu ai đụng đến nó, một tu sĩ trẻ sẽ trở thành vị tôn túc lãnh đạo để kế thừa sự nghiệp phát huy giáo pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người, và một thái tử nhỏ sẽ trở thành một vị vua thống nhiếp sơn hà. Dưới Tuệ giác của Đức Phật, Ngài rất quan tâm đến thế hệ trẻ là mầm non, là nền tảng của xã hội trong tương lai nên khuyên chúng ta có trách nhiệm vun bồi, kính nễ và đừng xem thường.

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-21-2007 , 09:14 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Con tôi còn quá nhỏ, không thể nào ngồi yên đọc kinh, dù chỉ là đoạn kinh ngắn. Có cách nào hướng dẫn và dạy cho con về đạo đức Phật Giáo mà vẫn có thể cho chúng chạy chơi theo lứa tuổi năng động của chúng?

Đáp: Hướng dẫn và vun bồi nền tảng tâm linh cho con cái trong những năm đầu đời rất quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta phải linh động để tìm cách cho các em học về Đức Phật, học về tôn giáo mà không bị nhàm chán. Các em không cần phải biết những giáo lý cao siêu mà chỉ cần nghe những mẫu chuyện nhỏ, có con hươu, con vượn làm việc thiện. Đối với lứa tuổi mầm non chúng ta chỉ cần cho các em tập sống qua ngôn ngữ từ ái của cha mẹ, sự thực hành lễ Phật, niệm Phật và sự nhẹ nhàng khi săn sóc trẻ thơ là đủ để con mình tận hưởng được giáo lý của Phật. Các em sẽ rất thích khi nhìn hình ảnh con voi, con khỉ quỳ dâng hoa cho Phật. Thay vì đưa cho các em xem hình ảnh của những em bé khác, chúng ta cũng có thể đưa cho các em xem hình ảnh từ bi, nụ cười từ hòa của Phật và chia sẻ cảm giác thanh thản của mình mỗi khi nhìn tấm hình đó. Và khi em nhìn thấy ông bà cha mẹ thắp hương thành tâm cầu nguyện, thì em cũng sẽ muốn bắt chước làm như thế, và đó là bước đầu chúng ta xây dựng nền tảng tâm linh trong tâm hồn đứa bé.

Có một người Phật tử chia sẻ với tôi rằng chị đã kể chuyện về cuộc đời Đức Phật cho con của chị nghe mỗi đêm khi cháu còn nhỏ. Những dấu mốc chính trong cuộc đời Đức Phật thì vẫn không đổi, nhưng chị ấy luôn tìm cách thêm thắt những mẫu chuyện phụ về con hươu, con nai đến chơi với Phật, con ngựa chở Phật phóng qua sông, con khỉ mang hoa quả đến dâng cúng Phật. Ở tuổi mầm non, thì các em chỉ thích nghe về thú vật thôi, vì các em hàng ngày vẫn thấy các con thú vật này. Và những mẫu chuyện nhỏ đó của chị đã gieo trong lòng đứa con một niềm tin sâu sắc về việc thiện, về nhân quả. Và từ từ, đứa bé bắt đầu thấm những đạo đức trong câu chuyện.

Cuối tuần, cha mẹ nên đưa con cái đến chùa để các em làm quen với khung cảnh chùa chiền. Điều quan trọng là đừng la mắng các em mỗi khi các em sơ ý chạy giỡn trong Chánh Điện hay tiện tay sờ vào tượng Phật. Điều đó sẽ làm cho các em sợ hãi mà xa lánh chùa. Tôi nhớ Đạo Phật đối với tôi lúc nhỏ thật đơn giản—chỉ là một hình ảnh của đức Phật ngồi mĩm cười trên tòa sen mà không giận hờn hay cau có, là khung cảnh của sự thoải mái và con người thân thiện trong sân chùa, là những hành lang mát rượi cho trẻ thơ mệt mõi nằm lăn đùng ra mà ngủ, là giếng nước mát để tha hồ uống một hơi cho đỡ khát, là những buổi trưa trốn ngủ để thả những chiếc lá trên mặt hồ đầy hoa súng hoa sen.

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-27-2007 , 07:16 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Tôi là con chiên rất ngoan Đạo, mà vợ tôi thì lại sinh trưởng trong một gia đình Phật Giáo và rất sùng Đạo Phật. Cả hai chúng tôi đều mong muốn là những đứa con của mình sẽ hấp thụ và nối gót lòng tin tôn giáo của mình. Làm sao để dung hòa vấn đề này?

Đáp: Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh thì “Tôn giáo là sự cảm thông nối kết, tôn giáo không thể là những lớp thành trì phân cách con người với con người…” Sự cảm thông và hiểu biết của cha mẹ về tôn giáo mà cha mẹ đang theo là điều tối quan trọng. Nếu cha mẹ khác nhau về tôn giáo thì điều quan trọng là cha mẹ cần phải tôn trọng tôn giáo của nhau, tìm hiểu tận cùng gốc rễ của nhau để lấy ra những điều tốt điều hay nhất trong giáo lý của mỗi tôn giáo mà trao truyền cho con cái. Trong những năm đầu đời, chúng ta hãy trao truyền cho con của mình bằng những đức tin căn bản về lòng nhân ái và tâm ý làm việc thiện. Chúng ta càng có lòng tin mạnh bao nhiêu thì tự khắc con của chúng ta sẽ cảm được lòng tin đó và lấy đó làm tư liệu xây dựng nền tảng tâm linh của riêng chúng. Khi lớn lên, chúng sẽ có những lựa chọn về con đường tâm linh của riêng mình. Đừng gò bó, đặt để lên con niềm tin tôn giáo của mình, mà hãy tự hỏi lại mình xem lòng tin của mình, thái độ sống của mình có đủ để dẫn dắt, làm gương cho con noi theo không.

Chúng tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình đã bị đổ vỡ vì không tôn trọng niềm tin của nhau, cứ mãi lo ép uổng con cái phải theo con đường mình theo. Nhiều bậc cha mẹ đã phải bấm lòng và khóc thầm khi nhìn con mình cải đạo để lấy người mình thương, để rồi sau đó tình thâm giao giữa đàng trai và đàng gái mãi như có cái gút mắc không gỡ được. Cái đau lớn nhất của đời người là đánh mất tôn giáo nơi chính mình. Và khi không có được nền tảng tâm linh theo ý của mình, thì con người sẽ rất bị hụt hẫng, vì tâm linh chính là nền tảng của lòng tin mà các em, và tất cả chúng ta, rất cần để vượt qua bao gian lao, khổ lụy ở đời.

Tôi đã từng đi làm lễ cưới cho một gia đình mà chú rễ là người theo Cơ Đốc Giáo và cô dâu là người theo Phật Giáo. Hai anh chị này đều là những người lớn lên và hấp thụ kiến thức tại Hoa Kỳ, được sống trong một bầu không khí cởi mở, tôn trọng những niềm tin sâu kín của nhau. Nơi diễn ra lễ cưới này có để hai bàn thờ một hình ảnh Đức Phật và một hình ảnh của đức Mẹ. Tôi và một linh mục cùng song hành bước vào nơi hành lễ, tôi làm lễ theo nghi lễ Phật Giáo, và linh mục làm lễ theo nghi lễ Cơ Đốc Giáo với một bài kinh ngắn. Trong lễ giao ước quan trọng này cô dâu và chú rễ đều có một lời nguyện ước: “Con nguyện tôn trọng niềm tin của nhau và nguyện tìm hiểu gốc rễ tâm linh của nhau để tạo sự cảm thông cho nhau trong cuộc sống lứa đôi, để giúp cho con cái của con có được một đức hạnh tốt đẹp nhờ những tuệ giác của các đấng tâm linh”. Đến nay gia đình đó thỉnh thoảng vẫn đến thăm tôi và tôi được biết cứ mỗi sáng Chủ Nhật chị đưa con đi nhà thờ cùng với chồng, và trưa hai vợ chồng lại đưa con đến chùa nghe Pháp, lạy Phật, và cháu rất thích ăn một tô bún riêu chay tại ngôi chùa gần nhà. Qua đó chúng ta thấy khi dạy con cái bằng bằng tấm lòng cởi mở học hỏi và tôn trọng tâm linh lẫn nhau thì chuyện cha mẹ khác tôn giáo không còn phải là vấn đề.

Trong 5 năm đầu đời, xin hãy gieo trồng trong các em thiện căn, lòng nhân ái giữa người và người, và cảm giác quen thuộc, thân thiết với Chùa để các em lấy đó làm niềm tin và nền tảng đạo đức để bước vào đời. Theo thời gian, và tùy nhân duyên của mỗi cá nhân, sau này các em sẽ có thể sẽ đến với đạo Phật sâu hơn, và nhìn Đạo Phật theo đúng nghĩa một tôn giáo hơn.

Pháp Chơn
Xây dựng nền tảng tâm linh cho con
(www.lieuquanhue.vn)

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-28-2007 , 11:26 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Địa ngục có hay không?

HỎI: Tôi đọc kinh Phật được biết nếu làm ác thì bị đọa địa ngục. Nhưng tôi lại nghe rằng địa ngục chỉ là ẩn dụ, biểu tượng cho trạng thái tâm lý khổ não, bức bách… chứ

ĐÁP: Bàn về thế giới, cảnh giới, kinh Phật nói có tam thiên đại thiên thế giới, vô lượng vô biên thế giới, hằng hà sa số thế giới. Địa ngục chỉ là một trong sáu cảnh giới của cõi Dục (Trời, A tu la, Người, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục) thuộc thế giới Ta bà. Tùy theo nghiệp lực của mỗi chúng sanh mà tái sanh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp lực của mình. Mỗi cảnh giới mà chúng sanh thọ dụng phải đầy đủ ba yếu tố là vị trí, thân tướng và tâm thức.

Vị trí địa ngục, theo kinh Trường A Hàm: “nằm giữa núi Đại kim cương thứ nhất và núi Đại kim cương thứ hai, xung quanh là biển lớn bao bọc”, “Địa ngục ở ngoài núi Thiết vi” (luận Lập thế A tỳ đàm), “Đại địa ngục ở phía dưới Nam Thiệm Bộ châu, cách 2 vạn do tuần, những địa ngục còn lại nằm chồng lên phía trên hoặc bên cạnh” (luận Câu xá, luận Đại Tỳ bà sa). Ngoài ra, còn có Cô địa ngục và Biên địa ngục nằm ở khắp nơi. Những chúng sanh trong địa ngục có hình tướng xấu xa, kỳ dị và tâm thức luôn đau khổ vì bị hành hạ, đói khát, sợ hãi.
Chúng sanh bị đọa vào địa ngục vì đã tạo nhiều nghiệp ác, tà kiến. Chúng ta nhờ tạo dựng nghiệp nhân làm người, sống giữa cõi người, còn những chúng sanh nào tạo nghiệp nhân địa ngục thì sống trong địa ngục v.v... Đây là một sự thật của nhân quả-nghiệp báo, vì thế địa ngục là một cảnh giới, một cõi sống cụ thể, không phải là ẩn dụ hay biểu tượng.
Đành rằng, đứng trên lập trường duyên khởi có thể nói địa ngục hay vạn pháp đều không thật có, là Không, như huyễn hay qua lăng kính “Tam giới duy tâm” có thể nói địa ngục hay Cực lạc là tùy theo trạng thái tâm mình đau khổ hay hạnh phúc nhưng điều ấy chỉ đúng về phần “lý” trong quan điểm về cảnh giới mà thôi. Đức Phật khi thuyết minh về cảnh giới bao gồm “lý” và “sự” rất rõ ràng. Thiên về lý mà bỏ quên sự sẽ dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc, nhất là sự phá kiến, không tin nhân quả, phủ nhận tội phước…

Do vậy, có thể nói, đối với Bậc Giác ngộ, thành tựu tuệ giác Bát nhã thì vạn pháp đều Không, còn đối với chúng sanh nói chung, nghiệp lực nặng nề, vô minh che lấp thì vạn pháp đều có.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-03-2007 , 03:02 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Cỏi âm& khả năng ngọai cảm

HỎI:Thời gian gần đây, báo chí có đưa tin về việc các nhà ngoại cảm đi tìm mộ liệt sĩ và tiếp xúc được với người "cõi âm”. Kính hỏi quý Báo: Phật giáo giải thích hiện tượng này thế nào? Quan điểm của Phật giáo là thần thức sau khi chết tối đa là 49 ngày thì tái sanh vào một thế giới tương ứng với nghiệp thức. Nếu đã tái sanh vào cõi khác thì "ai” tiếp xúc với các nhà ngoại cảm? Tại sao có những người chết cách nay hàng trăm năm vẫn tiếp xúc được với các nhà ngoại cảm? "Cõi âm” mà các nhà ngoại cảm tiếp xúc được nằm ở đâu trong lục đạo?


ĐÁP:
Các bạn thân mến!
Việc các nhà ngoại cảm tìm được hài cốt của những người chết nhờ tiếp xúc với người “cõi âm” được báo chí công bố gần đây là điều có thật và rất đáng trân trọng. Thực ra, khả năng ngoại cảm của con người được biết đến từ thời xa xưa. Các nước trên thế giới, từ lâu, đã nghiên cứu và ứng dụng ngoại cảm vào nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có cả quân sự. Và các nhà khoa học Việt Nam, từ khoảng 15 năm nay, đã bắt đầu nghiên cứu một cách nghiêm túc về các hiện tượng đặc biệt của con người, trong đó có ngoại cảm. Tiên phong trong lĩnh vực này là các cơ quan như Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng, Viện Khoa học Hình sự Bộ Công an, Trung tâm Bảo trợ Văn hóa truyền thống và Bộ môn Cận tâm lý Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người.

Trước hết, Phật giáo không hề có quan niệm về một dạng sống được gọi là “cõi âm”. Thế giới quan của Phật giáo là vô lượng vô biên thế giới, hằng hà sa số thế giới, trong đó có thế giới Ta bà gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Hai cõi Sắc và Vô sắc là cõi giới của thiền định. Cõi Dục gồm lục đạo là các loài Trời, A tu la, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh và Địa ngục. Cõi âm hoặc âm phủ chỉ là quan niệm dân gian dùng để chỉ thế giới của người chết đối lập với cõi người sống (cõi dương).

Đối với các bậc chân sư Phật giáo đã chứng đạo, khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm là chuyện bình thường, không có gì xa lạ cả. Những thiền sư, nhờ tu tập thiền định mà thành tựu Tam minh và Lục thông. Trong đó, khả năng của các nhà ngoại cảm hiện nay có thể xem như là một phần nhỏ của Thiên nhãn thông (năng lực thấy rõ mọi thứ, không ngăn ngại), Thiên nhĩ thông (năng lực nghe được tất cả các dạng âm thanh) và Tha tâm thông (năng lực biết được tâm ý của người cùng các chúng sanh khác). Chỉ có điều, các hành giả Phật giáo hiếm khi tuyên bố về thần thông, bởi thần thông thường thành tựu trước trí tuệ (chứng đắc Tứ thiền đã có năng lực của Ngũ thông, trừ Lậu tận thông) và chấp thủ hay lạm dụng vào thần thông sẽ chướng ngại giải thoát tối hậu. Vì vậy, các hành giả Phật giáo khi có sở đắc về thần thông thì đa phần thường im lặng. Đối với giới khoa học, Thiếu tướng Chu Phác, Chủ nhiệm Bộ môn Cận tâm lý Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, khá am tường Phật giáo khi nhận định: “Việc ‘thấy’ của các nhà ngoại cảm xét dưới góc độ khoa học hiện đại thực ra là hiện tượng Thiên nhãn thông, một trong mười lợi ích của thiền định”.

Sau khi chết, thần thức thường trải qua giai đoạn trung gian, chuyển tiếp trước khi tái sanh. Khoảng thời gian cho giai đoạn mang thân trung ấm này tối đa là 49 ngày, ngoại trừ hai trường hợp cực thiện và cực ác thì tái sanh ngay lập tức vào cõi Trời hay cõi Địa ngục. Tuy nhiên, còn có trường hợp đặc biệt của thân trung ấm do chết đột ngột (đột tử) và chết một cách oan ức thì thần thức hoặc “không biết” mình đã chết, hoặc do oán hận ngút ngàn mà cận tử nghiệp bám chặt, chấp thủ kiên cố vào trạng huống “hiện tại”, được gọi là các “oan hồn”, cần phải khai thị (giải nghiệp) mới có thể chuyển kiếp, tái sanh.

Ngoài các thân trung ấm, những “oan hồn”, các nhà ngoại cảm còn tiếp xúc được với những chúng sanh trong loài Ngạ quỷ. Nhà ngoại cảm Bích Hằng đã nói rất chính xác: “Thế giới người âm rất đa dạng, phong phú, chia thành nhiều giai tầng”. Chúng sanh loài Ngạ quỷ chiếm nhiều nhất so với các loài khác trong lục đạo. Những đối tượng mà con người gọi là “ma, quỷ, thần linh nói chung…” đều thuộc “những giai tầng” của loài Ngạ quỷ này.

Như vậy, “cõi âm” mà các nhà ngoại cảm tiếp xúc được bao gồm các chúng sanh đang ở giai đoạn thân trung ấm, các “oan hồn” và loài Ngạ quỷ. Nhà ngoại cảm Bích Hằng cũng nói rõ là “tôi chưa thấy địa ngục của người cõi âm bao giờ”, bởi chỉ những người tạo các ác nghiệp và các bậc Đại Bồ tát có đầy đủ thần lực mới vào được địa ngục mà thôi.

Hiện nay, các nhà ngoại cảm thường tìm kiếm hài cốt theo hai hướng.

Khuynh hướng thứ nhất là các nhà ngoại cảm “thấy” được hài cốt, vẽ lại sơ đồ chi tiết khu vực ấy và hướng dẫn thân nhân tìm kiếm. Trường hợp này nhà ngoại cảm chỉ sử dụng khả năng “thiên nhãn thông” của mình để tìm kiếm và phát hiện hài cốt mà không cần trợ giúp của “chủ nhân” chính hài cốt ấy. Bởi hầu hết những hài cốt này chỉ là phần thân xác vật chất đơn thuần (địa đại-đất), còn thần thức đã theo nghiệp tái sanh. Tuy nhiên, vì các nhà ngoại cảm chưa thành tựu Đại định (tam muội) nên năng lực “thấy” của họ thường chập chờn. Tùy thuộc vào cấp độ định tâm hay trạng thái tâm của họ khi làm việc mà “thấy mờ hoặc tỏ” khác nhau, phải điều chỉnh nhiều lần mới tìm ra vị trí chính xác của hài cốt. Năng lực thấy rõ không có gì ngăn ngại này của các nhà ngoại cảm còn được vận dụng để tìm kiếm khoáng sản, thăm dò lòng đất (ngành mỏ-địa chất), khả năng khám, chữa bệnh (ngành y khoa) v.v… hiện đang được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu, khai thác và ứng dụng.

Khuynh hướng thứ hai thì ngược lại, nhà ngoại cảm tiếp xúc với người “cõi âm” và họ chỉ cho nhà ngoại cảm thấy hài cốt của chính họ hoặc những người khác. Trường hợp này, sự trợ giúp của người “cõi âm” vô cùng cần thiết, do đó nhà ngoại cảm và thân nhân phải có lòng thành. Vì người “cõi âm” biết được tâm ý của chúng ta cho nên nếu lòng không trong sáng, tâm không thành khẩn, làm việc vì danh lợi thì sẽ thất bại. Những chúng sanh mang thân trung ấm, những “oan hồn” và loài ngạ quỷ đều có thể tiếp xúc được với nhà ngoại cảm để truyền thông những thông tin cần thiết.

Ở đây, trường hợp đặc biệt cần lưu tâm là các “oan hồn”. Như đã nói những người chết “bất đắc kỳ tử”, chết trong oán hận tột cùng rất khó tái sanh. Mặc dù phần lớn các luận sư Phật giáo đều cho rằng thời gian thích hợp cho tái sanh của thân trung ấm thường tối đa là 49 ngày nhưng “oan hồn” là một ngoại lệ. Theo luận sư Pháp Cứu (Dharmatrata), tác giả Tạp A tỳ đàm tâm luận (Samyutara Abhidharmahridaya) thì thân trung ấm tồn tại không hạn chế thời gian nếu nhân duyên chưa đủ để đầu thai (xem thêm Đại cương luận Câu xá, tác giả Thích Thiện Siêu, NXB Tôn Giáo, 2000, tr.109). Kế thừa quan điểm này, về sau vị chân sư Phật giáo Tây Tạng Sogyal Rinpoche, bằng tuệ giác chứng ngộ của mình, trong Tạng thư sống chết (Thích nữ Trí Hải dịch) khẳng định: “Toàn thể trung ấm tái sanh kéo dài trung bình 49 ngày, và ít nhất là một tuần. Nhưng cũng còn tùy, giống như hiện tại có người sống tới trăm tuổi, trong khi kẻ khác chết non. Một số lại còn bị kẹt trong thế giới trung gian để thành ma quỷ (18- Bardo tái sanh)” hay “Những người đã có cái chết kinh khủng hay đột ngột rất cần được giúp đỡ. Những nạn nhân của ám sát, tự sát, tai nạn, chiến tranh, thường rất dễ rơi vào sợ hãi đau đớn, hoặc ở mãi trong kinh nghiệm khủng khiếp về cái chết của họ, do đó không thể tiến đến giai đoạn tái sanh (19- Giúp đỡ sau khi chết)”. Vì những lý do trên, có những trường hợp tuy đã chết rất lâu nhưng vẫn chưa được tái sanh.

Phần lớn những người “cõi âm” mà nhà ngoại cảm tiếp xúc, mô tả hình dáng, tính cách của họ đúng như dáng vẻ, tâm trạng lúc chết đều ở trong trường hợp này. Chính việc thần thức “ở mãi trong kinh nghiệm khủng khiếp về cái chết”, “bị kẹt trong thế giới trung gian” (lời của Sogyal Rinpoche), sự chấp thủ kiên cố, bám chặt vào trạng huống “hiện tại” trước khi chết đã tạo ra một dạng sống gọi là “oan hồn”. Do đó, Phật giáo thường lập đàn tràng Giải oan bạt độ và Chẩn tế âm linh cô hồn. Giải oan là tháo gỡ sự chấp thủ, khai thị cho “oan hồn” hiểu giáo pháp mà buông xả, tỉnh ngộ để tái sanh. Chẩn tế là ban phát thực phẩm cho loài ngạ quỷ được no đủ, đồng thời khuyến hóa họ hồi tâm hướng thiện để sớm chuyển nghiệp, siêu thăng.

Như vậy, thế giới “cõi âm” vô cùng đa dạng và phức tạp, những nhà ngoại cảm nhờ có nhân duyên đặc biệt nên tiếp xúc được với họ, giúp họ truyền thông với con người. “Thông điệp” của người “cõi âm” cũng không ngoài tình thương, sự trân trọng, quan tâm lẫn nhau và đề cao các giá trị đạo đức, tâm linh. Chính những tâm tư của người “cõi âm”, nhất là các “oan hồn” đã góp phần tạo nên khí vận quốc gia, hồn thiêng sông núi. Do đó, việc cầu nguyện cho âm siêu dương thái theo pháp thức Phật giáo là điều cần làm.

Ngày nay, các nhà khoa học đang nỗ lực khám phá hiện tượng ngoại cảm theo hướng trường sinh học hay năng lượng sinh học. Tuy nhiên, nếu chỉ thiên về nghiên cứu “vật chất” thì sẽ khó tiếp cận trọn vẹn vấn đề, bởi “sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Tâm kinh). Đó là chưa kể đến hoạt dụng của tâm thức A lại da bao trùm khắp cả pháp giới, siêu việt cả tâm lẫn vật, theo Duy thức học, chỉ có tu tập thiền định mới có thể khai mở và thành tựu kho tàng tuệ giác này.

Chúc các bạn tinh tấn!

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-04-2007 , 09:38 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Tôi xin có câu hỏi, kính nhờ chỉ dạy, sự gặp gỡ nhau trong kiếp này là do có nhân duyên với nhau, tôi xin hỏi làm sao nếu trở lại làm người trong kiếp tới, không gặp lại những người đã gặp trong kiếp này ? Xin thành thật cảm ơn. Kính


Ðáp: Có lẽ vì một nhân duyên nào đó mà Ðạo Hữu không muốn gặp lại những người đã gặp trong kiếp này. Ðó là “Oán Tắng Hội Khổ”; nghĩa là buồn bực khi gặp lại những kẻ mình không ưa. Thế nên, trước khi trả lời làm sao để không gặp lại họ, thì xin thưa rằng lý do không bao giờ muốn gặp lại họ vì tâm hận thù ganh ghét của mình. Do đó, việc đầu tiên là chuyển hóa tâm hận thù của mình thành tâm từ bi hỷ xả; nghĩa là sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của họ đã lỡ phạm; đây là điều mà ai ai cũng mong muốn khi mình lỡ làm những gì sai trái.
Thứ hai, cũng chưa chắc là chúng ta sẽ gặp lại tất cả những ai mà mình đã và đang gặp trong hiện tại, vì mỗi người sẽ đi tái sanh tùy theo nghiệp lành hay xấu của mỗi cá nhân.

Nếu ai thường tạo nhiều nghiệp lành như giúp người, bố thí, cúng dường, thì chắc chắn sẽ tái sanh lại làm người hay làm chư thiên. Nếu ai thường gây những nghiệp xấu như giết hại, trộm cướp, tà dâm, lường gạt, cờ bạc rượu chè trác táng thì khó lòng mà tái sanh làm người trở lại, chỉ hướng xuống ba đường xấu như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chính bản thân của mình cũng không ra ngoài ngoại lệ lý nhân quả đó

Vì vậy, nếu chúng ta thường tạo nghiệp lành thiện thì đa phần sẽ gặp lại những người hiền lương. Ví dụ, một sinh viên nếu muốn học về ngành xã hội học thì thường xuyên tiếp xúc với các giáo sư cũng như những sinh viên khác trong ngành nghề. Nếu ai thích cờ bạc rượu chè thì tìm đến những quán Bar, tiệm rượu, casino, để nhậu nhẹt bên những canh bạc đỏ đen; đương nhiên là những thành phần mà họ gặp gỡ ở những nơi đó đa số là những thành phần bất hảo trong xã hội.

Tóm lại, thay vì không muốn gặp lại những người trong hiện tại, chúng ta hãy tự nhìn lại và chuyển hóa tâm sân hận của mình, tha thứ cho những lỗi lầm của họ, cũng như tích cực tạo nghiệp lành nhiều hơn nữa để có đầy đủ phước báo và để thường tạo duyên lành gặp lại những người lương thiện. Nếu làm được như thế thì dù có gặp lại những người mình không thích, chúng ta cũng sống vui vẻ, an lạc.



Hỏi: Tụng Chú Lăng Nghiêm có giảm được nghiệp chướng không ? Chú Lăng Nghiêm co nên tụng từ câu 421 trở xuống không ? Hay là phải tụng từ đầu ?



Ðáp: Chắc chắn sẽ giảm được nghiệp chướng nếu chuyên tâm thành ý tụng toàn bộ thần chú Thủ Lăng Nghiêm.



Hỏi: Chú Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Hoa hoặc Chú Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni, kinh nào sẽ làm cho mau hết nghiệp chướng ?

Ðáp: Tất cả kinh chú đều giúp chúng ta mau tiêu trừ hết nghiệp chướng. Tuy nhiên, tùy theo căn cơ ý muốn của mỗi cá nhân, nếu cảm thấy có duyên lành với bộ kinh hay thần chú nào thì nên cố gắng trì tụng miên mật với tâm thành khẩn. Nếu hành trì như thế thì chắc chắn sẽ mau tiêu trừ nghiệp chướng và được cảm ứng.



Hỏi: Nghe nói là mỗi 6 tháng thì vận mạng sẽ thay đổi, có phải như vậy không ?

Ðáp: Không phải đợi đến 6 tháng vận mạng mới thay đổi. Vì sao? Vận mạng có thể thay đổi trong từng giây phút tùy theo nghiệp duyên phước báu của mỗi cá nhân. Ðiển hình, hơn ba ngàn người làm việc trong 2 tòa WTC đâu có ngờ trước được rằng 9/11/2001 là ngày cuối của đời họ. Nói chung, nếu thường tạo nghiệp lành thì vận mạng của mình luôn tốt lành. Ngược lại, nếu thường gieo những nhân xấu thì vận mạng của mình cũng xấu luôn.



Hỏi: Chiêm Tinh, Tử Vi là tà kiến nhưng sao lại rất đúnng khi nói về quá khứ của tôi. Vậy nghĩa là sao ? Có phải Ma biết tôi đọc Chiêm Tinh, Tử Vi nên khiến như vậy phải không ?

Ðáp: Có thể nói đúng, nhưng chưa hẳn là đúng 100%. Tuy nhiên, quá khứ đã qua, không thể nào trở lùi lại được, dù ma quỷ gì đi nữa. Cho nên dù gì đi nữa, phải bắt đầu lại và cố gắng sống với hiện tại thì cuộc đời mới có ý nghĩa nhiều hơn.



Hỏi: Làm tội gì mà thân thể không được đẹp như mình muốn ? Muốn sám hối thì phải làm sao ?

Ðáp: Trong kinh Nhân Quả Ba Ðời, đức Phật nói rõ nhân duyên có hình tướng đẹp hay xấu tùy theo nghiệp lành ác.

1/Ðui mù vì đời trước không chỉ đường rõ ràng.

2/ Môi miệng sứt thiếu vì đời trước thổi tắt đèn cúng Phật.

3/ Câm điếc vì đời trước dùng lời ác mắng nhiếc cha mẹ.

4/ Lưng gù vì đời trước chê cười người lạy Phật.

5/ Tay chân bị cong quẹo vì đời trước ngăn đường đánh đập, cướp đoạt của cải của người khác.

6/Lùn bé vì đời trước xem kinh rồi để xuống đất.

7/ Thân có mùi hôi vì đời trước bán hương thơm gian dối.

Nói chung, thân thể của mình có được ngày hôm nay không phải do ai ban cho mình, mà tự mình tạo đầy đủ phước báu. Ví dụ, nếu muốn có gương mặt hồng hào đẹp đẽ thì trong tâm phải có sự hoan hỷ tươi vui, buông xả mọi chấp trước, sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh. Hãy nhìn gương mặt của những ai đang cau có tức giận. Dù họ có xinh đẹp đến đâu đi nữa, ngay lúc họ nổi giận lên thì cũng không ai dám nhìn hay gần gũi họ.

Muốn chuyển thân nghiệp thì trước hết phải chuyển ý nghiệp, bằng cách thành tâm sám hối tất cả lỗi lầm mình đã lỡ tạo trong quá khứ, và tạo công đức lành để đền bù lại những tội lỗi đó. Có thể tụng kinh Thủy Sám, Lương Hoàng Sám để sám hối ý nghiệp của mình. Tạo công đức lành bằng cách bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo khổ, tàn tật, cô nhi, quả phụ.



Hỏi: Dựa theo giáo lý Tùy Duyên thì việc đi xuất gia, tìm Thầy học Ðạo, tìm chỗ ở để nương cho việc tu học có nên dùng lý Tùy Duyên hay không ? Làm thế nào để bước đầu của người mới phát tâm bồ đề không dễ bị thất bại và thối chuyển dễ dàng nếu không gặp thuận thắng duyên ?


Ðáp: Thuận thắng duyên là gì ? Nghịch duyên là gì ? Tùy duyên là gì ?

Thế nào là thuận duyên? Thế nào là nghịch duyên ? Thế nào là tùy duyên ?


Hỏi: Thầy có thể cho con biết phải tốn bao nhiêu tiền để ấn tống Kinh ? Ví dụ Kinh Thiện Ác Nhân Quả, Kinh Kim Cang.

Ðáp: Ấn tống kinh điển hoàn toàn tùy vào sự phát tâm của Phật tử. Có ít thì ấn tống ít. Có nhiều thì ấn tống nhiềụ Không nhất thiết là phải bao nhiêụ

Nhưng, phải biết là dù làm việc lành bao nhiêu, đừng có chấp trước, thí dụ như nghĩ rằng: "Ồ! Tôi sẽ có công đức, tôi sẽ có quả báo tốt hay tôi là người tốt bởi tôi làm việc thiện, giúp người." Nếu có tâm như vậy thì không tương ưng hay phù hợp với tự tánh thanh tịnh vốn có của mình. Mà nếu không phù hợp với tự tánh thì sự tu hành của mình không thể thành tựu được hay dạt đến cứu cánh được.

Phải xem sự làm việc lành chỉ là bổn phận hay giống như việc ăn cơm uống, rất bình thường.


www.chuavanphat.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-13-2007 , 08:03 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Gần đây có người nói rằng Phật Giáo Đại Thừa là Bà La Môn Giáo, là tà ma ngoại đạo. Vậy xin hỏi ý kiến quý ban biên tập về nghi hoặc này.

Đáp: Thật ra lời nói này không có gì mới lạ, nó đã có từ thời xưa, khi Phật Giáo đang ở trong thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, nhằm tránh sự hoang mang cho những người mới bước chân vào đạo Phật và cho những Phật tử không có nhiều thì giờ nghiên cứu về sự khác biệt giữa hai tôn giáo nên chúng tôi viết bài dưới đây. Chúng tôi không có ý so sánh hai tôn giáo lớn của nhân loại, vì việc làm này là của các nhà học gỉa, mà chúng tôi chỉ đưa ra vài điểm khác biệt quan yếu có tính cách nền tảng giữa đạo Phật nói chung, Phật Giáo Đại Thừa nói riêng so với Bà La Môn Giáo.

Bà La Môn Giáo (Brahmanism) hay còn gọi là Ấn Độ Giáo (Hinduism) là một tôn giáo lớn ở Ấn Độ có từ trên 1000 năm trước khi Phật Giáo ra đời. Kinh Vệ Đà (Veda) xem như là cỗi gốc của Bà La Môn Giáo và là suối nguồn của nền văn minh Ấn. Trong kinh có những bản thánh ca để ca tụng các vị thần, như thần lửa, thần núi, thần sông ... Phần lớn ca tụng những vẻ đẹp huy hoàng, tưng bừng và mầu nhiệm của cuộc sống trong vũ trụ. Toàn thể bộ kinh gồm bốn tạng: (1) Rig Veda: thi tụng cái biết, (2) Yajur Veda: nghi thức tế tự, (3) Sama Veda: ca vịnh thần chú, và (4) Atharva Veda: triển khai ý nghĩa ba bộ kinh kia. Tư tưởng chủ yếu của Vệ Đà được biến đổi từ Đa thần qua Nhất thần, từ Nhất thần sang lãnh vực Triết học ngang qua ba thời đại: Vệ Đà Thiên Thư (Veda), Phạm Thiên Thư (Brahmana) và Áo Nghĩa Thư (Upanishad).

Theo trình tự thời gian, tư tưởng Vệ Đà đã đạt tới quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngã sáng tạo vũ trụ và một bản thể tuyệt đối vô ngã làm cội nguồn chung cho vũ trụ. Tuy nhiên, trên đại thể, kinh Vệ Đà vẫn thiên trọng về quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngã hơn.

Thời Vệ Đà Thiên Thư, dân chúng sùng bái cúng tế để cầu xin sự trợ giúp của các thần linh, hình thức phần chính thuộc về Đa Thần giáo. Sang thời kỳ Phạm Thiên Thư, tín đồ chán việc tế lễ và thờ tự nhiều Thần, nên tuyển lọc lại vài vị Thần quan trọng để phụng thờ, sau thờ một Thần là đấng Phạm Thiên (Brahma), vị thần tối cao toàn năng, siêu việt, sáng tạo ra vạn vật vũ trụ. Thế là đối tượng tín ngưỡng của đa phần dân Ấn Độ chuyển từ Đa thần giáo sang Nhất thần giáo. Qua đến thời kỳ Áo Nghĩa Thư không chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự, mà bao gồm môn triết học cao siêu.

Áo Nghĩa Thư là những bộ kinh luận được các giáo sĩ Bà La Môn trước tác nhằm khai triển nền giáo lý Vệ Đà trên phương diện triết học. Trong khi các kinh Vệ Đà chú trọng về nghi thức thờ phụng thì Áo Nghĩa Thư muốn tìm hiểu thêm về tự ngã và tự thể của con người và mối liên hệ của chúng với bản thể tuyệt đối của vũ trụ vạn vật. Nội dung căn bản của Áo Nghĩa Thư cho rằng con người, cũng như mọi chúng sinh đều có một tự thể bất sinh, bất diệt, thường tịch và vô trụ như Bản thể tuyệt đối, thường được gọi là Atman hay Tiểu ngã (một linh hồn bất diệt). Khi tự ngã của con người hay của chúng sinh chưa hoà nhập với Bản thể tuyệt đối (Brahman, đấng Phạm Thiên hay Đại Ngã), thì Tự ngã của con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử. Họ chủ trương “Brahma-Atman đồng nhất” và con người giải thoát là con người hoà đồng vào bản thể của vũ trụ. Tiểu Ngã hoà đồng với Đại Ngã vô biên trong một trạng thái hằng hữu vĩnh cửu.

Trên địa hạt xã hội, dân chúng Ấn Độ hồi đó được phân chia thành bốn giai cấp: (1) Hàng Tăng lữ thuộc giai cấp Bà La Môn (Brahman), (2) Vua chúa thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ, (3) Thương buôn, nông phu và thợ thuyền thuộc giai cấp Phệ Xá (Vaisya), và (4) Tiện dân bần cùng thuộc giai cấp Thủ Đà La (Sùdra). Hệ thống giai cấp này theo chế độ cha truyền con nối, các người khác giai cấp không được cưới nhau, không được cùng nhau hành lễ tế tự và không được ăn chung bàn. Giai cấp Thủ Đà La là giai cấp cùng đinh bị khinh miệt và bị hành hạ, nên đời đời làm nô lệ phục vụ cho ba giai cấp trên. Giai cấp này bị khinh bỉ đến nỗi một người Thủ Đà La đến gần một giếng nước, thời giếng nước ấy xem như đã trở thành dơ bẩn, không dùng được cho ba giai cấp trên và người Thủ Đà La nào vi phạm tội ấy có thể bị ném đá cho đến chết. Chính sự kỳ thị này đã gây ra một tổ chức xã hội cực kỳ bất công. Cho đến cuối thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch đẳng cấp Bà La Môn hoàn toàn ngự trị trên toàn thể dân chúng Ấn, họ hợp nhất quyền lực chính trị vào quyền lực tôn giáo, đặt thêm nhiều nghi lễ tế tự phiền toái để trói buộc dân chúng nhằm củng cố giai cấp thống trị. Thời kỳ này có nhiều luận chấp về Tự Ngã và nảy sinh nhiều phe phái, từ những luận chấp về quá khứ, về tương lai, cho đến luận chấp về hiện tại Niết Bàn. Tất cả các luận chấp này đều dựa vào sự xúc đối phân biệt của sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức). [1]

Trong khung cảnh ấy, nền giáo lý đạo Phật ra đời như một luồng gió mới, một cuộc cách mạng giải phóng con người ra khỏi tình trạng bất công hà khắc về giai cấp xã hội, thoát khỏi ngục tù nô lệ tư tưởng, khỏi những nghi lễ tế tự phiền toái của hàng giáo sĩ độc tôn Bà La Môn. Còn về nội dung giáo lý thì có nhiều điểm dị biệt với Bà La Môn Giáo, như trong khi kinh Vệ Đà thường ca ngợi vẻ huy hoàng, tưng bừng và mầu nhiệm của cuộc sống thì đức Phật, trong giáo lý Tứ Đế, Ngài nói rằng cuộc đời là bể khổ. Lời tuyên bố này là cơ sở xuất phát ra nền giáo lý đạo Phật. Song điểm khác biệt độc đáo là giáo lý Vô Ngã của Phật, tương phản với giáo lý Ngã của Vệ Đà. Đây là điểm khác biệt quan yếu có tính cách nền tảng giữa Phật Giáo và Bà La Môn Giáo. Một đằng chủ trương các thuyết liên hệ đến Ngã, một đằng chủ trương hết thẩy các pháp là Vô Ngã, và cho rằng phải phá chấp ngã, vì chấp ngã là nguồn gốc sinh ra vô minh, mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử và khổ đau của con người.

Một điểm khác biệt nữa ở mặt hiện tượng xã hội rất dễ nhận thấy, đó là Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Bình đẳng không chỉ thể hiện trong việc giao tiếp xã hội mà còn thể hiện trong tâm của mỗi người. Trong thời Đức Phật còn tại thế, hai sự thành công rõ nét nhất tại Ấn Độ là sự bãi bỏ chế độ giai cấp và sự thiết lập Giáo hội Tỳ Kheo Ni.

Dù bất cứ một bộ phái hay tông phái Phật Giáo nào từ trước cho đến ngày nay cũng đều phải thừa nhận đó là hai nét nền tảng khác biệt giữa Phật Giáo và Bà La Môn Giáo. Chính vì hai điểm khác biệt này mà có một số tín đồ và đạo sĩ Bà La Môn Giáo cho đến nay vẫn xem Phật Giáo như là thù nghịch, cho rằng chính Đức Thế Tôn đã đả phá tôn giáo của họ, đã làm đảo lộn truyền thống tôn ti trật tự xã hội của họ. Chúng tôi sẽ lần lượt giải thích chi tiết dưới đây, đặc biệt trong lãnh vực tư tưởng và giáo lý:

Trong suốt chiều dài của lịch sử Phật Giáo, tính cách đồng nhất trong khác biệt là một đặc tính nổi bật. Mặc dù các nhà Phật Giáo Nguyên Thuỷ và Phật Giáo Đại Thừa không đồng quan điểm với nhau về một số vấn đề, nhưng cả hai đều công nhận giáo lý Vô Ngã và Duyên Khởi là giáo lý nền tảng của đạo Phật, là giáo lý chung cho tất cả các bộ phái hay tông phái Phật giáo.

Vô Ngã là một trong ba thành phần của Tam Pháp Ấn, chỉ định tính cách đích thực giáo pháp của Phật, không thể nhầm lẫn với giáo pháp ngoại đạo. Tam Pháp Ấn theo Phật Giáo Đại Thừa là Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn [2]. Nhưng theo Phật Giáo Nguyên Thuỷ là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

Vô Ngã cũng là duyên khởi vì vô ngã là duyên sinh biểu thị ở mặt hiện tượng và duyên sinh là vô ngã biểu thị ở mặt thể tính. Sự kiện này được biểu thị bằng mối quan hệ y tha (paratantra), như sóng là hiện thân của nước, và nước là thể tính của sóng. Chính vì thế mà cả Phật Giáo Nguyên Thuỷ lẫn Phật Giáo Đại Thừa đều đồng ý rằng: “Ai thấy được lý Duyên Khởi, người ấy thấy được Pháp; Ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý Duyên Khởi”. [3] Chính Đức Phật nói rằng Ngài và các Đức Phật thời quá khứ đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ giáo lý Duyên Khởi. [4] Và chính Bồ Tát Long Thọ cũng nói rằng, “nếu không có Tứ Đế và Duyên Khởi, thời không có Phật, Pháp và Tăng, vì chính nhờ hai giáo lý này mà sự thật tuyệt đối mới chứng đạt và vì vậy được chấp nhận trong giáo lý của các nhà Đại Thừa.” [5]

Một lần sau khi nghe về Duyên Khởi, thầy A Nan thưa: “Bạch đức Thế Tôn, lý Duyên Khởi hay quá mà cũng thật đơn giản, dễ hiểu. Phật nói: “Thầy đừng nghĩ như vậy, lý Duyên Khởi rất sâu sắc và nhiệm mầu. Thầy chưa hiểu được hết đâu. Người nào thấy được tính duyên khởi tức là thấy được Như Lai.”. Câu nói đó phải học thuộc lòng. Tất cả giáo lý của đạo Phật đều lấy lý Duyên khởi làm nền tảng [6].

Nếu đi vào phân tích giáo lý, thì từ nguyên lý Duyên Khởi chúng ta thấy rõ vô ngã tính của các pháp. “Vô Ngã” không phải là một thuyết triết lý siêu hình mà là một toa thuốc trị liệu tâm linh có giá trị vô song. Muốn được giải thoát con người cần phải phá chấp Ngã bằng cách thực hành. Đạo Phật là con đường trí tuệ của nhận thức Vô Ngã và thực hành Vô Ngã. Thực hành bằng cách chân không hoá ý thức. Trong kinh Trung Bộ (Majjihima Nikaya III) đức Phật dạy các đệ tử của Ngài cách thực hành bằng phương pháp chân không hoá ý thức một cách từ từ. Phải, đạo Phật là đạo thực hành, nếu con người muốn giải thoát ra khỏi luân hồi khổ đau, thì phải triệt để phá chấp, phá chấp tiểu ngã cũng như phá luôn cả thành trì cuối cùng mà Bà La Môn Giáo gọi là Đại Ngã, hay là cái gì đi nữa và cuối cùng phải phá luôn cả cái ý niệm phá đó nữa. Hòa Thượng Thích Minh Châu, trong một bài diễn giảng tại Viện Đại Học Vạn Hạnh cho rằng “Khi đức Phật mở ra con đường giải thoát bằng việc phá chấp, phá bỏ tất cả mọi cố chấp và phá bỏ ngay việc cố chấp vào chính đạo Phật, đức Phật chỉ muốn cho con người ý thức tối hậu rằng chính Thực Tại hay Thực Thể cũng là biểu tượng cuối cùng mà con người phải phá huỷ, để được giải phóng toàn triệt.” [7]

Như trên đã trình bày, chúng ta thấy rõ rằng Vô Ngã - Duyên Sinh là sự khác biệt nền tảng giữa đạo Phật nói chung và Đại Thừa Phật Giáo nói riêng so với Bà La Môn Giáo. Một đằng chủ trương các thuyết liên hệ đến chấp Ngã và Ngã sở, một đằng chủ trương hết thẩy các pháp là Vô Ngã. Với nguyên lý Duyên Khởi, sáu mươi hai luận chấp về Ngã và Ngã sở của Ba La Môn Giáo được thiết lập trên căn bản ngã tính đều đã được phủ nhận tận gốc rễ và các vấn đề siêu hình bàn về nguồn gốc tự thể của các hiện hữu đều được xem là hý luận đối với nguyên lý Duyên khởi. Tuy vậy vẫn có người cho rằng Phật Giáo Đại Thừa mà sự ra đời của Tánh Không luận của Bồ Tát Long Thọ với học thuyết “Nhất thiết pháp không” không phải là đạo Phật mà là đạo Bà La Môn. Không! Phải nói ngay rằng học thuyết “Nhất thiết pháp không” không có trong tư tưởng Áo Nghĩa Thư của Bà La Môn Giáo. Nó được khai sinh từ hệ Bát Nhã, thuộc kinh tạng Đại Thừa phát sinh từ Đại Chúng Bộ, xuất hiện lần đầu tiên tại miền Nam Ấn, trung tâm truyền bá Phật Giáo Đại Thừa. Nhưng “thực chất dòng triết học này vốn đã được thai nghén từ trong kinh bộ Nguyên Thủy Nikaya trên nền móng cơ bản của những giáo lý Duyên Khởi, Vô Ngã và Vô Thường...”[8]

Được biết trong quá trình phát triển tư tưởng Phật Giáo, trong môi trường biện biệt phân tranh của xã hội Ấn thời đó, kẻ nói có, người nói không, kẻ nói vừa có lẫn vừa không, kẻ nói chẳng có lại chẳng không; Bồ Tát Long Thọ đã tái cấu trúc nguyên lý Trung Đạo trên nền tảng phủ định triệt để: “Nhất thiết pháp Không” tức “Hết thảy các pháp là Không” bằng tám cái Không; nhằm phá huỷ tất cả kiến chấp sai lầm hay mọi định kiến về có, không, sinh, diệt..v..v.. “Không” ở đây không có nghĩa là “không có gì hết” hay là “hư vô” mà là không có thật như ta đã nhận thức hay không có thật theo cái thực tướng của nó. Không ở đây cũng là Trung Đạo, nó không dẫn tới có hay không, không dẫn tới chấp nhận hay phủ nhận. Trung đạo ở đây không phải là trung đạo, theo nghĩa ở ngoài hai cực đoan mà là con đường dẫn đến Niết Bàn, “con đường huỷ diệt mọi con đường, via negativa, con đường tự huỷ diệt...” [9]

Niết Bàn là Chân Không, là Bản thể tuyệt đối bất sinh bất diệt như trong Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt” nghĩa là tướng Chân Không của các pháp (tức các hiện tượng) không sinh không diệt.

Thật ra, Trung Đạo của Đức Phật và Trung Đạo trong Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ tuy có khác nhau ở chỗ Trung Quán Luận là một hệ thống luận lý, nhưng không vì thế mà Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ khác biệt hay chống trái với giáo lý đạo Phật Nguyên Thủy. Qủa là như vậy, trong Kinh Pháp Cú có nói: “Tu sĩ đạt tới chân không (sunna), tâm linh tịch tịnh (santacitta), họ đạt được một niềm hoan lạc không thuộc trần thế (amânusi rati) khi họ đã đạt pháp hoàn thiện.[10]. Pháp hoàn thiện ở đây được hiểu là chân không. Ngoài ra trong cả hai hệ kinh tạng tiếng Pali và tiếng Hán đều có hai bộ kinh nói về Không: Kinh Tiểu Không (Pali) [11] Kinh Đại Không (Pali) [12], Kinh Tiểu Không (Hán) [13], Kinh Đại Không (Hán), [14] đều trình bày khá rõ ràng nghĩa chữ Không.

Điểm thiết yếu trong nền triết học Tánh không của Bồ Tát Long Thọ là muốn minh giải về Bản thể tuyệt đối, điều mà xưa kia Phật ít muốn giải bày. “Việc triển khai giáo lý của phái Đại Thừa có lẽ cũng không trái với ý muốn của Đức Thích Ca, vì ở thời đức Thích Ca, dân trí còn thấp kém, nên có lẽ đức Thích Ca đã không muốn lý giải những vấn đề siêu hình. Tới thế kỷ thứ nhất sau tây lịch, dân trí đã mở mang hơn, lại thêm các tông phái Bà La Môn đều nảy nở, nền giáo lý Phật cần phải triển khai mới có thể tồn tại được..”[15]. Ngoài ra, việc minh giải của Bồ Tát Long Thọ cũng không ngoài quan điểm chính thống của đức Phật Thích Ca từng nhấn mạnh về con đường trung đạo và nguyên lý Duyên Khởi. Long Thọ cho rằng tất cả các pháp trên thế gian này đều nương tựa lẫn vào nhau để mà sinh khởi. Về Bản thể tuyệt đối, Long Thọ nói rằng không thể lý giải theo những quan niệm của thế gian được vì nó là bất khả thuyết bởi ngôn ngữ. Nó ngoài phạm trù tứ cú của thế gian, nên chỉ tạm gọi là Chân Không. Chân Không cũng còn được gọi là Niết Bàn.

Tưởng cũng cần ghi chú thêm ở đây là trước Bồ Tát Long Thọ 100 năm có Bồ Tát Mã Minh ra đời vào thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch, tức vào cao điểm của thời kỳ phân phái trong Phật giáo và cũng vào thời điểm thịnh hành của Bà La Môn Giáo. Mã Minh theo Đại chúng bộ tức phái cấp tiến, đã trước tác thiên trường ca bất hủ về cuộc đời Phật Thích Ca, thần thánh hoá Ngài là con người vũ trụ. Về địa hạt tirết học, Mã Minh trước tác bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, trong đó Mã Minh mô tả về Tự thể và Bản thể tuyệt đối (hay Chân như) và sự liên hệ giữ chúng với nhau qua ví dụ sóng và nước trong biển cả đại dương. Bản thể tuyệt đối như là nước đại dương bao la, còn các Tự thể chúng sinh như những làn sóng. Nước của đại dương tức là cái bản chất phẳng lặng thường tịch, vô sinh vô trụ của Bản thể. Sóng chỉ là một thực tại tương đối sinh diệt có tính cách huyễn ảo. Sóng chỉ là nước nhấp nhô rồi lại trở về đại dương. Chính điều mô tả này mà về sau một số người cho đó là quan điểm của Phật giáo và một số người khác cho rằng đó là quan điểm của Bà La Môn Giáo. Tuy nhiên, xét cho kỹ chúng ta thấy rằng đó là thuyết “vạn vật đồng nhất thể” vốn hàm chứa trong kinh Vệ Đà và cũng là quan niệm của Áo Nghĩa Thư Upanishads, thường được gọi là Adwaita, tức Phi Nhị Nguyên môn, nghĩa là không có hai. Nguyệt Khê Thiền Sư cho rằng: “Đại Thừa Khởi Tín Luận lấy nước dụ cho Chơn Như, lấy sóng dụ cho sanh diệt, ấy là sai lầm “ và nói: “tác giả Đại Thừa Khởi Tín Luận là ngoại đạo mạo danh Ngài Mã Minh để truyền bá...” Ngài Nguyện Khê giải thích: “Chân như là bản thể Phật tánh, sanh diệt là tác dụng vọng tưởng của bộ não, hai thứ chẳng dính dáng với nhau, Chơn như là như như bất động, chẳng có biến đổi, chẳng khởi vọng niệm, nếu Chơn như hay khởi vọng niệm sanh diệt như nước nổi làn sóng thì Chơn như cũng có sanh diệt luân hồi, chẳng phải bản thể cùng tột của Phật tánh. Kinh Lăng Già dùng nước biển dụ cho thức thứ tám, làn sóng dụ cho thức thứ bảy mới đúng với chánh lý...” [16]

Trong khi tiểu Ngã của Ba La Môn Giáo tìm cách giải thoát bằng cách hoà đồng vào Đại Ngã, thì người Phật giáo giải thoát bằng cách chân không hoá tất cả mọi ý niệm, mọi tư tưởng chấp ngã và đam mê, xem chính mình là không, vạn sự vạn hữu là không để đạt Chân không, trong đó không còn có phân biệt chủ thể với khách thể, không còn có ý thức với vô thức, không còn có hữu hay vô, mà chỉ còn là tuyệt đối Chân không. Chân Không ở đây cần hiểu là Chân Không Diệu Hữu. Đối với Phật Giáo, tất cả những ý niệm chủ khách, sắc không, niết bàn-sinh tử, hữu-vô, nhị nguyên-nhất nguyên, thường-đoạn, đều chỉ là những vọng chấp đối đãi. Trong sự giải thoát này không thể nói tới việc hoà đồng hay hoà nhập được vì muốn hoà đồng hay hoà nhập phải đòi hỏi sự hiện diện của hai hữu thể hay ngã thể mà trạng thái Chân không hay Niết Bàn lại chính là trạng thái trong đó mọi tư tưởng, mọi ý niệm bao gồm ý niệm về chấp ngã và ngã sở đều tịch diệt. Cái giải thoát của Bà La Môn Giáo chưa thể xem là giải thoát được vì vẫn còn Ngã, dù là Đại Ngã. Phật Giáo không chủ trương có hay không có Thượng Đế. Không chủ trương có hay không có Đại Ngã hay bất cứ nguyên lý tối cao nào ngoài nguyên lý Duyên Khởi.

Thật ra Bà La Môn Giáo có rất nhiều tông phái và quan niệm giải thoát của họ cũng có nhiều dị biệt với nhau. Gần thời đại chúng ta, họ có sáu tông phái chính với nguyên tử luận, luân lý luận, số luận, nhị nguyên luận, nhất nguyên luận và phi nhị môn luận. Trong số đó có phái Vedanta, một hệ phái được xem là chính thống hơn hết của Bà La Môn Giáo. Phái này còn gọi là phi nhị pháp môn, nghĩa là không có hai (Adwaita), cũng hàm nghĩa vạn vật đồng nhất thể. Đối với Phật Giáo, giáo lý đạo Phật là một pháp môn phi nhất, phi nhị, phi hữu, phi vô, phi sắc, phi không, phi đa nguyên, phi thiểu nguyên. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận tất cả, mà theo Trung Quán Luận, “nói phủ định nhằm khẳng định, khẳng định một “chân trời” không bao giờ hiện hữu trong tương quan đối đãi..”[17] . Điều này cũng chính là “ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành ý diệt”. Mọi tư tưởng chấp Ngã, tiểu Ngã lẫn đại Ngã đều bị quét sạch, kể cái công cụ quét cũng bị quét luôn. Ngay cả đến giáo lý của Phật giảng dạy chỉ là phương tiện như là con đò đưa người qua sông. Khi đã đến được bến đò thì phải bỏ đò và người đưa đò tức Phật cũng phải bỏ luôn và phải bỏ luôn cả cái vọng chấp gọi là bến đò nữa mới có thể đạt tới cái mà sách vở gọi là Niết Bàn, Chơn Như.

Đối với Phật Giáo, không có vấn đề nhập Niết Bàn hay trở thành Niết Bàn Bởi vì có nhập, có vào hay có trở thành là có đối đãi, còn trong vòng nhị nguyên tương đối. Niết Bàn hay Chân Như siêu việt tất cả nên người ta nói Như Lai tịch diệt hay Như Lai Niết Bàn thế thôi. Niết Bàn chính là Chân không và Chân không chính là Niết Bàn. Vậy thử hỏi Niết Bàn và thế gian hay Phật và chúng sinh là hai hay một? Theo chủ thuyết Bất Nhị của Vệ Đà Vedanta thì không có hai (Adwaita), tiểu Ngã hoà nhập với Đại Ngã thành một, không có gì khác biệt. Nhưng đối với Phật giáo, Long Thọ Bồ Tát nói rằng: “Niết Bàn và thế gian không có gì sai biệt. Niết Bàn và thế gian chúng không hai, không khác.” Đây là một điểm khó hiểu và dễ gây ngộ nhận, nhưng Thiền Sư Bạch Ẩn đã cho một ví dụ rất dễ hiểu về sự nhất tính giữa Phật và chúng sanh hay giữa Niết Bàn và thế gian. Ông viện dẫn “băng (ice), mà bản chất là nước. Ngoài nước không thể có băng. Khi đông lạnh là băng , khi tan chảy là nước. Có một điều khó hiểu. Nếu chúng ta nói băng và nước là hai vật giống nhau. Đâu phải thế phải không? Nếu chúng ta đi mua băng (nước đá), chúng ta sẽ không nhận nước lã (water), do đó không phải tương đồng. Nhưng chúng ta không thể nói rằng băng và nước không giống nhau, bởi vì ngoài nước không có băng, cả hai không phải dị biệt. Băng và nước không phải đồng cũng không phải dị. Sự tương quan giữa Phật và chúng sinh (hay giữa Niết Bàn và thế gian cũng thế)”. [18]

Vì bài viết có giới hạn nên chúng tôi chỉ có thể trình bày vài điểm khác biệt quan yếu có tính cách nền tảng giữa đạo Phật và đạo Bà La Môn. Đó là tính chất bình đẳng và nguyên lý Duyên khởi của đạo Phật. Dù bất cứ một bộ phái hay tông phái Phật Giáo nào từ trước cho đến ngày nay cũng đều phải thừa nhận đó là những nét nền tảng khác biệt giữa Phật Giáo và Bà La Môn Giáo. Vậy những ai cho rằng Phật Giáo Đại Thừa là Bà La Môn Giáo quả là một điều không tưởng.

Hoàng Liên Tâm

Kinh Sách Dẫn Chiếu:

[1] Thích Minh Châu, Kinh Trường Bộ I, Kinh Phạm Võng, tr. 11-91, Viện Nghiên Cứu PHVN 1991
[2] Thích Minh Châu, Kinh tạng Bắc Tông, Kinh Tạp A Hàm, Kinh số 262, quyển thứ 10 và Đại Trí Độ Luận của Bồ Tát long Thọ sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, cũng nói rất rõ rằng Tam Pháp Ấn là Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn.
[3] Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ I, số 28 Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi, tr. 422, ĐTKVN Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1992, Tương Ưng Bộ III, tr. 144 và Tiểu Bộ Kinh I, tr. 48
[4] Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ II, Kinh Tương Ưng Nhân Duyên, bản dịch của Thích Minh Châu, Tu Thư Phật Học Vạn Hạnh 1982 tr. 5
[5] Đại Thừa và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa, nguyên tác:Nalinaksha. Dutt, bản dịch HT. Minh Châu, NXB TP. HCM 1999, tr. 80
[6] Trái Tim của Bụt, Thích Nhất Hạnh, tr. 27, Lá Bối 1999
[7] Thích Minh Châu, Tôn giáo Phải Là Con Đường Giải Thoát Cho Việt Nam và Thế Giới, Tư Tưởng Vạn Hạnh, Số I (8-67), trang. 368
[8] Lịch Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, Thích Tâm Thiện NXB TP. HCM 1999, tr. 14
[9] Phạm Công Thiện, Hố Thẳm Tư Tưởng, An Tiêm Saigon tái bàn lần 2, tr. 167
[10] Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Thiền Viện Vạn Hạnh 1996 tr. 202 nguyên văn chữ Pali và Việt như sau:
Sunnàgàram pavitthasa / Bước vào ngôi nhà trống,
Santacittassa bhikkuno / Tỳ kheo tâm an tịnh,
Amànusì ratì hoti / Thọ hưởng vui siêu nhân
Sammà dhammam vipassato. / Tịnh quán theo chánh pháp.
[11] Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ III, 121 Kinh Tiểu Không tr. 291-299 (Pali Tạng)
[12] Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ III, 122 Kinh Đại Không tr. 301-315 (Pali Tạng)
[13] Thích Thiện Siêu, Kinh Trung A Hàm, Tiểu Không Kinh, số 190, Đại I, 736c (Hán Tạng)
[14] Thích Thiện Siêu, Kinh Trung A Hàm, Đại Không Kinh, số 191, Đại I, 738 a (Hán Tạng)
[15] Nghiêm Xuân Hồng, Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tường Ấn Độ, Ấn Quán Hy Mã Lạp Sơn Saigon 1966
[16] Nguyệt Khê Thiền Sư-Việt dịch: Thích Duy Lực, Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì của Thiền Tông, Từ Ân Thiền Đường 1991, tr. 79
[17] Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởngvà Triết Học Tánh không,NXB TP. HCM 1999, tr. 122
[18] Ama Kuki Sessan - Bạch Ẩn Thìền Định Ca, Việt dịch Bạch Hạc, Viên Chiếu 1988, tr. 67

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-19-2007 , 11:18 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Câu hỏi:
Xin cho biết ý nghĩa cầu siêu thất tuần cho người qúa cố. Đó có phải là nghi lễ Phật giáo không? Tân (Ly Khanh).

Trả lời:
Quý Phật tử cư sĩ mến,
Câu hỏi của Phật tử gồm có 2 phần, chúng tôi xin lần lượt trả lời theo thứ tự.

1. Ý nghĩa cầu siêu thất tuần cho người quá cố

Vì Phật giáo cho rằng, không phải con người chết là hết. Sau khi xác thân này hư hoại thì thần thức tuỳ theo nghiệp báo mà tái sanh vào các cõi tương ứng với nghiệp nhân mà người kia đã gieo tạo, ngoại trừ các bậc đại giác như Đức Phật, các bậc Bồ-tát, các bậc A-la-hán đã cắt đứt dòng tham ái, đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Thế giới tình thức này không chỉ có cảnh giới con người, mà còn có các cảnh giới khác nữa, nếu tính từ dưới lên thì có: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

Việc cúng cầu siêu thất tuần cho người quá cố chỉ được tổ chức tại các nước theo truyền thống Bắc Phương Phật giáo. Theo Kinh Địa Tạng, phẩm thứ 8 “Chúa Tôi Xiêm La Xưng Tụng” trình bày sự kiện trong vòng 49 ngày, người chết như ngây như điếc, tâm thức không biết đường đi lối về, nên thân nhân cầu thỉnh chư Tăng, Ni vì lòng bi mẫn trì tụng tôn kinh để nhắc nhở thần thức của người mới mất. “Kính bạch đức Thế Tôn ! Kẻ nam, người nữ nơi mặt địa cầu đến lúc lâm chung, thần thức của họ tối tăm mờ mịt, chẳng biện biệt được điều lành, điều dữ, đến đỗi mắt tai không còn nghe thấy. Những người thân quyến của kẻ lâm chung hãy nên sắm sửa sự cúng-dường lớn, chuyển đọc kinh sám, niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ-tát, thì duyên lành ấy có thể giúp cho người thân đã mất lìa các nẻo ác, chúng ma, quỷ thần thảy đều lui tan” (bản dịch mới Kinh Bổn Nguyện của Bồ-tát Địa Tạng do Thầy Thích Thiện Thông dịch).

Như vậy, cúng 49 ngày thật sự có ý nghĩa chỉ đối với những người đã mất chưa quyết là được tái sanh về cảnh giới nào, hoặc đang trong trạng thái mê mê tỉnh tỉnh của thân trung ấm. Việc cúng cầu siêu như vậy có tác dụng nhắc nhở, gợi cho người quá vãng hướng tâm về các thiện sự đã làm hoặc thiết tha thực hiện những tư tưởng tốt đẹp, nhờ đó thần thức được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp hơn. Nhân tiện, xin giới thiệu đến Phật tử bài Ý Nghĩa Cầu Nguyện của đại đức Thích Viên Giác và bài Ý Nghĩa của Cầu Nguyện, Cầu An và Cầu Siêu của đại đức Thích Nhật Từ, để quý Phật tử đọc thêm, và bài Năm Hình Ảnh trước Cửa Tử của Hoà Thượng Rastrapal, do Hải Trần dịch ra tiếng Việt.

Cúng cầu siêu trong vòng 49 ngày như vậy thật sự luôn luôn cần thiết không?

Theo thiển ý của chúng tôi, các lễ cầu siêu không chỉ là lúc thân quyến cùng tưởng niệm đến người quá cố, cùng chia sẻ nỗi mất mát lớn lao, mà quan trọng còn là dịp tốt cho thân bằng quyến thuộc của người quá cố làm nhiều công đức như cúng dường Tam Bảo, hoặc bố thí cho người nghèo khổ, v.v… Trong thực tế, cũng như nhiều trường hợp trong Kinh đề cập, nhiều Tăng Ni, hoặc nam nữ cư sĩ sau khi bỏ thân này liền được sanh về các cảnh giới chư Thiên do nghiệp nhân thiện lành, hoặc lập tức bị sanh vào cảnh giới a-tu-la, ngạ quỷ, địa ngục vì những nghiệp nhân quá xấu ác. Như vậy, việc cúng cầu siêu cho người quá cố trong trường hợp này chỉ là để thể hiện lòng biết ơn hoặc lòng hiếu thảo của người còn sống đối với người đã khuất mà thôi. Tương tự, cho trường hợp cúng 49 ngày, cúng kỵ 100 ngày hoặc kỵ giỗ hàng năm của người đã khuất cũng là để bày tỏ lòng nhớ ơn hoặc nhân dịp đó làm trai cúng dường để cầu an, siêu trong gia đình, làm duyên cho con cái hoặc thân nhân đến với giáo pháp cao thượng.

Kinh Địa Tạng, phẩm thứ 7, cũng nói rõ vấn đề này, nếu người cư sĩ tại gia vì người chết mà cúng dường thì bảy phần công đức người chết chỉ hưởng một phần. Sáu phần công đức còn lại những người thân nhân tổ chức cúng dường sẽ được hưởng. Điều này rất phù hợp với tinh thần của Đạo Phật: tha lực chỉ là phần hỗ trợ, nghiệp lực của mỗi người phải tự nhận lấy, không ai có thể gánh chịu thế cho nhau được.

2. Việc cúng cầu siêu như vậy có phải là nghi lễ của Phật giáo không?

Nói một cách tổng quát, việc tổ chức cúng cầu nguyện như vậy là một trong những nghi lễ Phật giáo. Nhưng cũng xin trình bày là đạo Phật nhắm đến mục tiêu vì lợi ích cho chúng sanh, vì mục tiêu làm vơi bớt nỗi đau khổ của chúng sanh, chứ không phải vì nhu cầu cần có hình thức bày biện để làm đẹp mắt, vui tai hoặc cho dễ coi đối với xã hội. Do đó, nếu chúng ta chấp nhận chữ nghi lễ với định nghĩa là một hình thức bày tỏ lòng biết ơn, tôn kính hay thương xót nguời đã khuất thì các hình thức cúng cầu siêu như vậy thuộc về nghi lễ của Phật giáo. Cũng xin nói thêm rằng, nghi lễ của Phật giáo không phải là một tập tục của một dòng họ hay thuộc xã hội nào, không hề liên hệ đến đời sống tâm linh của người sống hoặc người đã khuất mà nghi lễ của Phật giáo xuất phát từ tinh thần độ sanh của hàng xuất gia cũng như trách nhiệm của người Phật tử tại gia. Ngoài ra, những chuyện bày biện màu mè, hình thức âm thanh sắc tướng, nhưng không liên hệ mục tiêu như đã trình bày thì không phải là nghi lễ của Phật giáo.

Mến chúc quý Phật tử đạo tâm tăng trưởng, thâm tín Phật Pháp và chuẩn bị hành trang thật tốt cho những hành trình thật xa mà ai cũng sẽ phải đi qua.

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-30-2007 , 12:11 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Xin cho biết về Năm Thời Thuyết Pháp của Đức Phật.

TRẢ LỜI: Theo Ngài đại sư Trí Khả thì đức Phật thuyết pháp chia là 5 thời kỳ:

1. Thời kỳ Hoa Nghiêm (Avatamsaka). – Sau khi mới thành đạo, đức Phật dùng tuệ nhãn nhìn thấy rõ tâm địa các vị đại Bồ tát và các bậc căn trí thượng thừa đã thuần thục, nên Phật nói kinh Hoa Nghiêm để giáo hóa và điều ngự họ. Trong số đó cũng có những hàng tiểu căn nghe, nhưng lại chẳng hiểu đức Phật nói gì cả.

2. Thời kỳ A Hàm (Agamas). - Thời kỳ đức Phật nói kinh “Tứ A Hàm”:

- Dirghàgamsa sutra (Trường A Hàm)
- Madhyamàgamas sutra (Trung A Hàm)
- Ekottarikàgamas sùtra (Tăng Nhất A Hàm)
- Samyaktàgamas sùtra (Tạp A Hàm) và

- Khudhana sùtra (Tiểu A Hàm) (Tạp Tạng) thì gọi là “Ngũ A Hàm”. Bộ kinh này đầu tiên đức Phật giảng tại vườn hoa Lộc Uyển (Sarnath), nên sau này còn gọi là Thời kỳ Lộc Uyển, vì căn cơ của các hàng Thanh văn còn thấp kém nên Phật nói Pháp “Tứ Diệu Ðế” (Catuariyasaca = Khổ, Tập, Diệt, Ðạo); diễn giảng trong 4 bộ kinh A Hàm, để giáo huấn các bậc sơ cơ Tiểu Thừa.

3. Thời kỳ Phương Ðẳng (Vaipulya). – “Phương Ðẳng” có nghĩa là thời kỳ thuyết giáo chung cho hết thảy chúng sinh, gồm 4 giáo TẠNG – THÔNG - BIỆT – VIÊN. Về thời kỳ này, đức Phật nói kinh Vimalakirti (Duy Ma Cật) để giáo hóa các bậc Tiểu Căn, rằng giáo pháp thuộc Nhị Thừa giáo chưa phải là chỗ rốt ráo, cùng tột, đã vội cho là đủ, tức Phật có ý quở trách để họ tự biết hối mà ham mộ giáo lý Thượng Thừa.

- Tạng Giáo, tức Tam Tạng Thánh Giáo.

- Thông Giáo, tức có nghĩa là đức Phật thuyết pháp cho mọi hạng người đều nghe. Hàng đệ tử căn cơ ám độn khi nghe giáo pháp ấy thì “thông” vào Tạng Giáo; bậc căn trí sáng láng, nghe giáo pháp ấy rồi thì được “thông” vào Biệt Giáo và Viên Giáo, nên gọi là Thông Giáo.

- Biệt Giáo, tức là đức Phật nói phép cho hàng Bồ tát, khác với Tạng Giáo, Thông Giáo kể trên và Viên Giáo sau này, nên gọi là Biệt Giáo.

- Viên Giáo, Ðức Phật đối với các bậc Bồ tát có căn trí thông tuệ mà nói ra pháp cao siêu, mầu nhiệm, dạy đủ Viên, Ðốn, cho nên gọi là Viên Giáo.

(Trong 4 Giáo trên, TẠNG, THÔNG BIỆT, là 3 giáo thuộc về Quyền Giáo, VIÊN giáo thuộc về Thật Giáo).

4.Thời kỳ Bát Nhã (Prajnãramita), tức thời kỳ đức Phật nói các kinh Bát Nhã để mở mang kiến, văn, giải, cho hàng Tiểu căn, có tâm hướng thượng; nhưng hãy còn có chỗ cố chấp, chưa dứt bỏ hết được, nên Phật nói pháp “Bát Nhã Không Tuệ” để phá chấp, giúp cho họ không đạt lý CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU của các “Pháp”. (Ðấy chẳng qua là “giả tướng”, chứ thực ra không có cái gì là thật thể hiện hữu trên cõi đời này). Nhờ đó mà hàng Tiểu căn sớm đạt được giải thoát.

5.Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn (Saddharmapundarikam - Nirvàna), tức thời kỳ đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa và kinh Niết Bàn cho mọi căn cơ, mọi lớp người (từ thượng căn, bậc căn trí thông tuệ, đến trung căn, bậc căn trí trung bình và hạ căn, bậc căn trí thấp kém), tất cả đều được nghe và hiểu, tùy mỗi căn tính chúng sinh; cũng gọi là “HộiTam Qui Nhất” cho đến khi đã thuần thục, nên đức Phật trực chỉ nghĩa Khai, Quyền, Hiển, Thực, tức là chỉ thẳng Thật Tính, Thật Tướng của các “pháp”; không ngoài mục đích: “Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật Tri Kiến” cho chúng sinh đều được chứng đạo quả “Vô Thượng Bồ Ðề = Anuttara Samyak Sambodhi”. Ngoài ra, cũng có những căn cơ vì quá thấp kém thì Phật giảng kinh Niết Bàn để độ tận chúng sinh cùng vào bể “Ðại Hải Thanh Tịnh”, chứng đạo quả Giác ngộ và Giải thoát.
Ban Biên Tập TVHS

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-08-2007 , 08:51 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Nhân ngày vía Đức Bố Tát Quán Thế Âm - 19-6

HỎI: Xin cho biết về nguồn gốc tích truyện Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện, hai ngài có phải là Phật Quan Âm thường thờ ở các chùa không? Ba ngày vía của Bồ tát Quan Thế Âm trong năm có ý nghĩa thế nào?

(NGUYỄN THỊ KIM DUNG, TP.HCM;
LÂM QUANG THINH, Sóc Trăng;
VĂN VIẾT QUỲNH, Quảng Trị)


ĐÁP: Bạn Nguyễn Thị Kim Dung, Lâm Quang Thinh và Văn Viết Quỳnh thân mến!

Quan Thế Âm (Avalokitesvara) là vị Bồ tát với hạnh nguyện luôn lắng nghe tiếng kêu khổ đau của cuộc đời rồi tìm cách cứu giúp... Hình tượng ngài được mô tả trong kinh Pháp Hoa là một người nam nhưng khi Phật giáo truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam, Bồ tát được tôn thờ hầu hết dưới dạng nữ thân, mẹ hiền Quan Thế Âm. Bởi theo kinh Pháp Hoa, Bồ tát có khả năng thị hiện vô biên thân, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà hiện thân tương ứng để cứu độ: “Nếu cần hiện ra thân gì để cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó như: thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ v.v...” (phẩm Phổ môn). Truyện tích về Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải (Diệu Thiện) ở Việt Nam được hình thành dựa trên quá trình tiếp biến văn hóa và cơ sở “thị hiện” này.

Sự tích Quan Âm Thị Kính được lưu truyền phổ biến trong dân gian Việt Nam từ xưa qua nghệ thuật hát chèo, truyện thơ và gần đây nhất là truyện văn xuôi. Theo tác giả Nguyễn Lang, sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập II, “Truyện thơ Quan Âm Thị Kính (bản Nôm) hiện chưa biết được sáng tác trong thời gian nào. Bản Việt ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911, gồm 788 câu lục bát và một lá thư Kính Tâm viết cho cha mẹ bằng văn biền ngẫu”. Cứ vào nội dung của truyện Quan Âm Thị Kính thì có thể đây là một dị bản của Phật giáo Cao Ly (Triều Tiên): “Thị Kính là con gái của nhà họ Mãng, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly”. Tuy vậy, bối cảnh của câu chuyện Quan Âm Thị Kính liên quan mật thiết đến một ngôi chùa cổ ở miền Bắc nước ta, Pháp Vân tự (chùa Dâu, Bắc Ninh). Và Phật Bà chùa Dâu được xem là Phật Bà Quan Âm Thị Kính, “Xem trong cõi nước Nam ta/Chùa Vân có Đức Phật Bà Quan Âm”. Hình ảnh Quan Âm Thị Kính bồng con trên tay, qua nhiều dị bản rất gần gũi và tương đồng với những câu chuyện về Quan Âm đồng tử và Quan Âm tống tử. Theo các nhà nghiên cứu, tượng Quan Âm tay ôm đồng tử lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử tín ngưỡng tượng hình tại Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII và đã trở nên nổi tiếng vào thế kỷ thứ XVIII, hiện nay vẫn còn bảo lưu tại nhiều chùa.

Truyện thơ Quan Âm Nam Hải gồm 1.426 câu, được lưu truyền trong dân gian trước cả truyện Quan Âm Thị Kính. Theo Nguyễn Lang (sđd), truyện Quan Âm Nam Hải vốn xuất phát từ một vị Tăng đời Nguyên bên Trung Hoa. Tích này được lưu truyền trên đất Việt kể từ khoảng cuối thế kỷ XIV hay XV và được Việt hóa. Bản Nôm cổ nhất của truyện Quan Âm Nam Hải vẫn chưa biết được khắc vào thời đại nào. Bản Việt ngữ đầu tiên Quan Âm diễn ca của Huỳnh Tịnh Của, ấn hành năm 1897.
Theo dị bản Việt hóa thì Quan Âm Nam Hải vốn là Diệu Thiện, công chúa thứ ba (về sau gọi bà Chúa Ba) con vua Diệu Trang (Subhavyùha) ở nước Hưng Lâm (có thể thuộc Ấn Độ). Nàng từ bỏ cuộc sống xa hoa của cung đình, vượt qua mọi ngăn trở của vua cha, cương quyết vượt biển đến động Hương Tích (chùa Hương ngày nay) tu hành và chứng quả tại đây. Truyền thuyết cho rằng, sau khi đắc đạo, công chúa Diệu Thiện biến thành Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cứu độ hoàng tộc và muôn dân. Theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, tượng thờ Quan Âm Nam Hải xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVI. “Trong một văn bia đời nhà Mạc năm 1578, học giả nổi tiếng đương thời là Nguyễn Bỉnh Khiêm cho biết tượng Diệu Thiện được tôn thờ tại chùa Cao Dương. Văn bia còn ghi rõ Diệu Thiện là một biểu tượng rất đặc thù của giáo lý từ bi trong đạo Phật. Quan Thế Âm nghìn tay nghìn mắt trước hết có liên hệ mật thiết với sự thực tập trì chú Đại bi, dần dần đã trở nên một biểu tượng rất lớn trong các chùa viện Phật giáo” (Thích Hạnh Tuấn, Hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt).

Như vậy, các hình thái Quan Âm Nam Hải, Quan Âm đồng tử, Quan Âm tống tử, Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính đều bắt nguồn từ lòng từ bi, hiện thân cứu độ của Bồ tát Quan Thế Âm trong kinh Pháp Hoa. Những truyện tích và tín ngưỡng Quan Âm rất phổ biến ở các nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Tôn tượng Bồ tát Quan Thế Âm được thờ tại chùa viện nước ta hiện nay rất đa dạng, dựa vào một trong 33 ứng hóa thân của Bồ tát.

Về ba ngày vía của Bồ tát Quan Thế Âm, HT.Thích Huyền Tôn, dẫn theo Thiền môn nhật tụng cho biết: 19-2 kỷ niệm Bồ tát Quan Thế Âm đản sinh, 19-6 kỷ niệm Bồ tát Quan Thế Âm thành đạo, 19-9 kỷ niệm Bồ tát Quan Thế Âm xuất gia.
Chúc các bạn tinh tấn!
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 06:02 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.