VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-12-2019 , 05:48 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Bí quyết có thể cải biến vận mệnh của bạn.
Share

Điều gì quyết định vận mệnh của chúng ta?

Vào một ngày đẹp trời, có người bước vào thăm công viên thành phố. Sau một vòng dạo chơi anh bước ra và bực tức nói: “Nơi này đã không sạch sẽ lại còn bốc mùi, sau này nhất định sẽ không đến nữa”.

Một người khác cũng bước vào công viên dạo chơi một vòng. Khi đi ra anh cảm thán khen rằng: “Đẹp quá! Nơi nào cũng có hoa tươi, đến đâu cũng thấy hương thơm say đắm lòng người”.

Cùng một công viên nhưng vì sao lại có hai phản ứng hoàn toàn trái ngược đến vậy?

Đó là bởi vì người thứ nhất chỉ để ý đến phân chó phân mèo, đi đến đâu anh ta cũng nhìn chằm chằm vào gốc cây hay bên dưới khóm hoa, chỉ tập trung chú ý tìm bằng chứng. Kết quả anh chỉ thấy công viên bẩn thỉu.

Còn người kia thì tha thẩn dạo chơi vãn cảnh, mắt luôn ngắm nhìn những đoá hoa tươi đẹp và cảnh quan xinh xắn. Anh tập trung chú ý thưởng thức ngày xuân tươi đẹp, cảnh vật tưng bừng sức sống, thỏa thích cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và của cuộc sống.

Công viên này cũng giống như thế giới của chúng ta, và hai vị khách nói trên là tiêu biểu cho hai tâm thái: ‘oán trách’ và ‘cảm ơn’, cũng tiêu biểu cho hai vận mệnh: ‘thất bại’ và ‘thành công’.

Tâm thái khác nhau sẽ dẫn đến hành vi khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến vận mệnh và cuộc đời.

Có một bậc trí giả từng nói: Nhìn thấy tức là đắc được.

Nhìn thấy thứ gì tức là đắc được thứ đó. Thực tế không phải tri thức hay IQ quyết định vận mệnh, mà là tâm thái quyết định vận mệnh cuộc đời.

Cách đơn giản nhất thay đổi tâm thái và cuộc đời chính là: Không oán trách

Sức mạnh của “không oán trách” lớn nhường nào?

Nước Mỹ có một nhà văn từng ngồi trên một chiếc taxi vô cùng đặc biệt: Tài xế mặc rất chỉnh tề sạch sẽ, chiếc xe bóng loáng, và bên trong xe cũng rất sạch.

Ông vừa ngồi xuống thì tài xế đưa cho ông một tấm thiệp tinh tế xinh xắn, trên đó viết: “Trong không khí thân thiện chúng tôi sẽ đưa hành khách đến nơi nhanh nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất”.

Trông thấy những chữ này, đôi mắt nhà văn bừng sáng, trong lòng ông thầm nghĩ: Người tài xế này quả là xuất chúng. Lúc đó người tài xế nói: “Xin hỏi ông có muốn uống một chút gì không ạ?”.

Nhà văn lấy làm lạ hỏi: “Xe của anh lẽ nào còn cung cấp cả đồ uống?”.

Tài xế mỉm cười nói: “Vâng, tôi cung cấp cà phê và đồ uống, hơn nữa còn có nhiều loại báo và tạp chí khác nhau”.

Nhà văn hứng thú hỏi: “Vậy có thể cho tôi ly cà phê nóng được không?”.

Lái xe liền lấy chiếc bình giữ nhiệt rót một ly cà phê cho nhà văn, sau đó lại đưa cho ông một tấm thiệp. Trên tấm thiệp có tên các loại báo chí và danh sách các tiết mục truyền hình.

Nhà văn bỗng cảm thấy chiếc xe này quá đặc biệt. Ông không xem báo cũng không nghe nhạc, mà chỉ trò chuyện với tài xế. Người tài xế này còn thiện ý nói với nhà văn rằng còn có một con đường ngắn hơn để đi đến đích, và rằng ông có muốn đi không. Nhà văn cảm thấy vô cùng ấm áp.

Vị nhà văn tò mò hỏi tài xế: “Tại sao cước phí xe của anh không hề cao hơn những người khác? Những taxi tôi từng đi, các tài xế thường oán trách đường tắc, oán trách thu nhập thấp, còn anh thì luôn vui vẻ, hơn nữa lại còn cung cấp các dịch vụ rất chu toàn”.

Tài xế trả lời:

“Thực ra lúc đầu tôi cũng giống như người khác, thích oán trách, thời tiết xấu, thu nhập thấp, tắc đường… Mọi thứ diễn ra hàng ngày đều thấy rất tệ.

Cho đến một hôm tôi ngẫu nhiên nghe radio nói về cuốn sách ‘Thế giới không oán trách’, trong đó viết rằng: Nếu có thể chấm dứt oán trách cuộc sống thì bất kỳ người nào cũng có thể bước tới thành công.

Tôi đột nhiên minh bạch: Mọi thứ tồi tệ, thực tế đều là do mình oán trách mà ra. Do đó tôi quyết định ngừng oán trách, bắt đầu thay đổi bản thân.

Năm thứ nhất: Tôi mỉm cười với tất cả hành khách, thu nhập liền tăng gấp đôi.

Năm thứ hai: Xuất phát từ nội tâm, tôi quan tâm đến tâm tư của hành khách, đồng thời an ủi động viên họ. Điều này đã khiến thu nhập của tôi tăng thêm gấp ba.

Năm thứ ba: Tức là năm nay, tôi biến taxi thành taxi 5 sao ít có trên toàn nước Mỹ. Ngoài thu nhập tăng lên liên tiếp, tôi còn có mối quan hệ tốt với nhiều hành khách. Hiện nay những người muốn đi xe tôi đều cần gọi điện hẹn trước. Còn ngài thì thực tế là tôi tiện đường đón một hành khách mà thôi”.

Oán trách không bằng thay đổi

Oán trách vận mệnh không bằng thay đổi vận mệnh, oán trách cuộc sống không bằng thay đổi cuộc sống.

Nhà tâm lý xã hội học người Mỹ Festinger có một lý luận nổi tiếng rằng:

10% quyết định bởi những sự việc xảy ra trên thân bạn, còn 90% quyết định bởi phản ứng của bạn đối với những sự việc xảy ra.
Cũng có nghĩa là trong cuộc sống chỉ có 10% sự tình là chúng ta không thể nào kiểm soát được, còn 90% sự việc là chúng ta có thể kiểm soát được.
Đây chính là “Nguyên tắc Festinger” nổi tiếng.

Hãy xem xét một thí dụ như sau:

Buổi sáng Kastin dậy chải răng súc miệng, tiện tay để chiếc đồng hồ cao cấp ở bên bồn rửa. Vợ anh sợ đồng hồ bị thấm nước liền tiện tay để lên bàn ăn. Con trai đến bàn ăn lấy bánh mì, do bất cẩn đã động vào đồng hồ khiến nó rơi xuống đất và nứt vỡ.

Kastin rất yêu quý chiếc đồng hồ, liền đánh cho con trai một trận. Sau đó mặt hằm hằm mắng cho vợ một chặp. Vợ anh thấy oan ức liền nói là sợ nước thấm vào đồng hồ. Kastin nói, đồng hồ của anh là loại chịu nước.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau kịch liệt. Bực tức nên Kastin cũng không ăn sáng nữa, lái xe đến công ty. Khi gần đến công ty mới sực nhớ là quên cặp công văn, anh lập tức quay xe về nhà.

Nhưng trong nhà không có ai, vợ anh đi làm rồi, con trai cũng đã đi học. Kastin lại để chìa khóa trong cặp công văn nên anh cũng không vào nhà được. Anh đành gọi điện cho vợ lấy chìa khóa.

Vợ anh vội vội vàng vàng trở về thì đụng phải sạp bán trái cây ven đường kiến trái cây văng ra tung tóe. Chủ sạp giữ cô lại không cho đi, đòi cô bồi thường. Cô đành phải bồi thường một khoản tiền rồi mới được đi.

Sau khi lấy được cặp công văn, Kastin vội đến công ty nhưng cũng chậm 15 phút, bị sếp phê bình một trận rất nghiêm khắc. Tâm trạng Kastin buồn bực cực điểm. Trước khi hết giờ, anh lại vì một chuyện nhỏ mà cãi nhau với đồng nghiệp.

Vợ anh cũng vì về nhà sớm nên bị trừ hết tiền thưởng tháng. Con trai hôm đó tham gia trận đấu bóng, vốn có hy vọng vô địch, nhưng vì tâm trạng không tốt nên thi đấu kém, đã bị loại.

Trong trường hợp này, đồng hồ rơi hỏng chỉ là 10%, còn các sự việc sau đó là 90%. Tất cả đều do đương sự không kiểm soát được 90% kia nên mới khiến hôm đó trở thành “một ngày náo loạn”.

Thử nghĩ, sau khi xảy ra 10% sự việc đó, giả sử Kastin thay đổi cách phản ứng, an ủi con trai: “Không sao, không sao, đồng hồ hỏng rồi cũng không sao, đem đi sửa là ổn thôi”. Như thế thì con trai vui mừng, vợ cũng vui mừng, bản thân anh tâm trạng cũng vui vẻ. Như thế thì tất cả những sự việc sau đó đã không xảy ra.

Có thể thấy nếu bạn không kiểm soát được 10% việc trước thì hoàn toàn có thể thông qua tâm thái của bạn mà quyết định 90% sự việc còn lại.

Câu chuyện tương tự như vậy cũng diễn ra trong cuộc sống của tất cả chúng ta. Bởi vì oán trách mà khiến cả ngày không vui, thậm chí dẫn đến tổn thất còn lớn hơn.

Trong cuộc sống hiện thực có người thường oán trách: “Sao tôi lại đen đủi thế này, ngày nào cũng gặp những việc xui xẻo? Tại sao không để tôi yên ổn một chút, có được chút vui vẻ nhỉ? Ai có thể giúp tôi đây?”.

Thực tế người có thể giúp chúng ta không phải là ai khác mà là chính mình.
Vậy, chúng ta nên làm như thế nào?

Thiên hạ chỉ có 3 loại việc: việc của mình, việc của người khác và việc của ông Trời

Người oán trách mình thì nên học cách chấp nhận bản thân.

Người oán trách người khác thì nên chuyển lời oán trách thành lời thỉnh cầu.

Người oán trách ông Trời thì nên cầu nguyện để nói lên nguyện vọng của mình.

Như thế cuộc sống sẽ có những chuyển biến bất ngờ, cuộc đời cũng sẽ càng mỹ mãn tốt đẹp hơn.

Cuộc đời là một hành trình có thể lựa chọn. Chúng ta không thể nào kiểm soát được hoàn cảnh và người khác, nhưng chúng ta luôn luôn có thể kiểm soát chính mình.

Bất mãn, oán trách, mâu thuẫn hoàn toàn không thể giải quyết được vấn đề, trái lại sẽ khiến chúng ta chịu năng lượng tiêu cực rất lớn, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm trạng bản thân mình.

Đối xử với người xung quanh, nên dùng nguyên tắc “3 không, 3 nhiều”:

3 không: Không phê bình, không oán trách, không chỉ trích.

3 nhiều: Khích lệ nhiều, biểu dương nhiều, khen ngợi nhiều.

Trong cuộc sống, bạn sẽ phát hiện ra hiện tượng thế này: Khi có người kiến nghị góp ý với người khác, người khác có thể tiếp thu, nhưng cũng có khi góp ý thì người ta nổi nóng.

Thực ra cách thức góp ý mới là quan trọng nhất, chính là “bánh mỳ patê”: Khen ngợi, góp ý, lại khen ngợi. Như thế dần dần bạn sẽ trở thành người đến đâu cũng được đón tiếp.

Người ưu tú là người không oán trách. Họ biết cách quét sạch những suy nghĩ tiêu cực, để nội tâm tràn đầy ánh nắng và hy vọng.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-12-2019 , 05:52 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Kỳ thực sinh mệnh là do Trời định nhưng tích đức hành thiện có thể thay đổi được số Trời.
Share

Ai cũng từng nghe qua câu tục ngữ “Cứu một người bằng xây bảy tòa bảo tháp”. Trong thế giới này sinh mệnh con người là đáng quý nhất, con người là anh linh của vạn vật. Người xưa lại có câu thành ngữ cổ “Nhân mệnh quan thiên” nghĩa là: Sinh mệnh con người có liên quan tới trời.

Cuộc sống và sinh mệnh con người đều do Trời định đoạt, do vậy từ cổ tới nay sát sinh luôn là tội ác tạo nghiệp lớn nhất bao gồm cả tự sát. Việc cứu giúp tính mạng người khác chính là việc giúp bạn tích đức rất lớn. Và đức đó sẽ giúp bạn đắc phúc báo bởi “có đức sẽ giúp bạn đi khắp thiên hạ”. Câu chuyện hôm nay mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc chính là một câu chuyện đắc phúc báo nhờ cứu giúp người như vậy.

Một ngày cuối mùa đông giá rét cuối năm Uông lão tiên sinh một nhà buôn giàu có ở huyện Hữu Ninh triều đại nhà Thanh phải ra ngoại tỉnh đòi nợ. Sau khi thu nợ xong ông vội vã đáp thuyền về nhà. Đó là một ngày rét đậm của mùa đông, gió rít thét gào, tuyết rơi dày đặc.

Lão Uông nhìn thấy trên bờ có một người đang vẫy như muốn lên thuyền. Nhưng người lái thuyền lại không muốn đậu vào bờ, nhất định muốn rời đi. Nhìn thời tiết lại nhìn dáng vẻ tội nghiệp của người trên bờ, ông liền nói với người chèo thuyền: “Anh lái thuyền ơi, anh chịu khó cho thuyền vào bến chút đón người ta đi. Anh xem trời đang lạnh như vậy, người đó hình như đợi lâu lắm rồi thì phải, nếu chúng ta không đón họ không biết họ còn phải khổ cực đứng đợi trong tuyết bao lâu nữa”.

Anh lái thuyền đồng ý ghé vào bờ đón người đó lên. Người đàn ông đó dường như đợi trong tuyết lâu lắm rồi vừa đói vừa rét tới không cử động được cứ ngồi run lên cầm cập từng hồi. Thấy vậy ông Uông cởi áo ngoài cũ kỹ của mình khoác lên người đó, lại lấy rượu đưa cho uống.

Một lát sau người khách vừa lên thuyền mới có thể cử động, nói chuyện và dập đầu cảm tạ. Ông liền hỏi người kia từ đâu tới và định đi đến đâu. Người đó trả lời: “Tôi không phải là người, tôi là quỷ câu hồn ở miếu thành hoàng”. Lão Uông hỏi ông ta đi câu hồn ai, thế là người đó lấy ra một cuốn sách trên đó viết danh sách ba mươi người bị câu hồn trong đó tên ông Uông ở vị trí đầu bảng.

Ông lão giật mình kinh ngạc hoảng sợ tới khụy đầu gối, vội vàng quỳ xuống cầu xin người kia cứu mạng. Người đó trả lời: “Đây là ý chỉ của Đông Nhạc đại đế đến cả thành hoàng cũng không cứu được. Tôi làm sao giám cả gan thay đổi vương pháp, mang pháp ra làm trò đùa chứ”.

Nghe những lời người này nói, lão Uông khóc ròng không ngừng cầu xin người kia nghĩ cách cứu mạng. Người này suy nghĩ hồi lâu rồi nói: “Thế này nhé để cảm ơn ông đã giúp tôi qua cơn đói lạnh khi nãy, tên ông tôi sẽ đổi xuống cuối cùng để giúp ông kéo dài thời gian thêm mấy ngày. Ông lão ông hãy nhanh chóng trở về thu xếp việc gia đình và chuẩn bị hậu sự đi. Vào đúng ngày mùng ba Tết tôi sẽ đợi ông ở cửa bên trái của miếu thành hoàng”. Ông Uông chỉ biết dập đầu cảm tạ.

Không lâu sau đó thuyền tới một thôn trang, người này lên bờ và cáo từ ông cùng người lái thuyền. Ông Uông bảo nhà thuyền dừng lại ở đó quan sát tình hình một chút rồi hãy rời đi. Thế là hai người im lặng ngồi quan sát.

Chỉ thấy quỷ câu hồn đi vào nhà một gia đình nọ vài phút rồi đi ra. Khi vừa đi ra thì hai người nghe thấy trong nhà kia vọng ra tiếng khóc ròng thảm thiết. Trong lòng biết rằng lời người kia nói đúng là sự thật rồi, ông vội vàng bảo anh lái thuyền nhanh chóng chèo đi đưa ông về nhà.

Khi thuyền cập bến và lên tới bờ lão Uông gặp một đôi vợ chồng nọ đang đứng trên bờ ôm nhau khóc lóc thảm thiết. Ông Uông lại gần và hỏi: “Hai con có chuyện gì mà lại đứng giữa trời mưa rét khóc lóc khổ sở vậy?”.

Người chồng trả lời: “Ông ơi, vợ chồng con khổ quá. Hôm nay là đến hạn phải nộp thuế cho quan trên, nhưng nhà con nghèo không có tiền lại mất mùa nên không biết làm cách nào cả. Vợ con bảo con đưa cô ấy ra đây xem có ai mua về làm người hầu không để bán nhưng cũng không ai thèm mua. Chúng con sợ quan phủ đến tận nhà bắt nộp thuế nên định cùng nhau tự tử”.

Ông Uông thở dài từ bi thông cảm nhìn đôi vợ chồng trẻ nọ trong lòng nghĩ thầm: “Tội nghiệp chúng quá, đằng nào mình sống cũng không được mấy ngày nữa. Tiền nhiều cũng chẳng để làm gì, chi bằng tiền mình vừa thu nợ được đây giúp chúng qua cơn khó khăn này sẽ có ý nghĩa hơn”. Nói là làm ông lão mang hết số tiền đưa cho đôi vợ chồng nọ và về nhà. Nhờ số tiền của ông đưa mà hai vợ chồng nọ có tiền nộp thuế và làm ăn sinh sống.

Ngày mùng ba Tết năm đó, đúng theo lời hẹn lão Uông đến miếu thành hoàng báo cáo. Quả nhiên một lát sau thì quỷ câu hồn tới, nó nhìn ông bằng nét mặt bi thảm và nói: “Ông lão ơi, ông làm liên lụy tới tôi rồi. Hôm ông cứu tôi, chỉ vì không nhẫn, tự sinh niệm thay đổi tên ông từ trên xuống dưới trong danh sách đã làm tôi bị liên đới. Việc ông cứu sống đôi vợ chồng đó đã làm thành hoàng gạch tên ông trong cuốn sổ cần câu hồn, và viết tấu dâng lên Đông Nhạc đại đế. Đông Nhạc đại đế có hỏi: “Người chết rồi sao lại có thể làm ra hành động đại nghĩa như vậy nên hạ lệnh cho thành hoàng đi kiểm tra lại”.

“Kết quả thành hoàng tra xét ra việc tôi tự ý tiết lộ thiên cơ lại tự ý thay đổi trình tự nên ra lệnh cho tôi đi lưu đày ở Vân Nam, còn ngược lại ông thì được tăng thêm dương thọ mười hai năm nữa, con cháu thì đều được hưởng phúc báo. Mong rằng từ nay về sau ông hãy tận tâm làm nhiều việc thiện hơn nữa, hẹn gặp ông mười hai năm sau tại đây”. Nói rồi quỷ câu hồn biến mất, còn ông Uông quả nhiên về nhà không chút ốm đau bệnh tật gì.

Sau đó hai người con trai của ông học hành thông hanh, thi đỗ trạng nguyên và làm quan trong triều đình, gia đình ông thì ngày càng giàu có. Đúng đêm mùng một Tết của mười hai năm sau ông Uông lại gặp quỷ câu hồn trong giấc mơ.

Qủy câu hồn nói với ông: “Từ sau khi ông được tăng thêm dương thọ đã luôn tích đức hành thiện, không sát sinh lại luôn thiện đãi với mọi người nên Ngọc Hoàng đã quyết định chọn ông làm thành hoàng. Hôm nay dương thọ của ông đã hết, cũng đã tới lúc ông phải lên đường nhậm chức rồi. Ông hãy chuẩn bị đi ba ngày sau tôi sẽ mang xe và cùng người hầu tới đón ông”.

Tỉnh dậy ông Uông liền gọi con cháu tới bên giường ung dung dặn dò sắp đặt con cháu chuẩn bị việc hậu sử của mình. Cắt đặt xong hết mọi việc đúng giờ hẹn, tắm gội sạch sẽ quần áo ngay ngắn chỉnh tề ngồi đợi. Bỗng nhiên có tiếng nhạc tiếng trống vọng tới, ông mỉm cười nói với con cháu: “Người đón ta đã đến rồi”, sau đó nằm xuống giường như đi ngủ, nét mặt hồng hào tươi tắn.

Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy có sự cách biệt rõ ràng vô cùng lớn một trời một vực trong số mệnh của ông Uông. Lẽ ra chỉ còn sống được vài ngày vì cứu mạng người khác mà có thể tăng thêm phúc thọ. Lẽ ra sẽ phải bỏ mạng trong giá rét chết thảm trên thuyền ngược lại lại được mũ áo chỉnh tề, có trống có nhạc, có người tới đón đi.

Sinh mệnh cuộc sống của con người là do ông trời ban cho con người, trừ khi người đó bị phán tội tử hình, không có ai có quyền tước đoạt đi mạng sống của họ cả. Tuy nhiên rất nhiều người hiện đại ngày nay đã không còn biết tới khái niệm trân trọng mạng sống của bản thân cũng như của người khác. Trong xã hội mới xuất hiện nhiều hoàn cảnh như tự sát vì bị phá sản, nạo phá thai, thuê mướn giết người, giết người hại mệnh… Tất cả những việc làm những hành động đó đều sẽ gặp phải báo ứng vô cùng thảm khốc.

Rất nhiều người hiện đại ngày nay đặc biệt là người dân Trung Quốc bởi ảnh hưởng của thuyết vô Thần nên trở nên lạnh lùng lãnh cảm, nhân nào họ gieo ra sẽ phải gặt lấy quả báo đó. Không kính ngưỡng trời đất, không có tín ngưỡng đạo đức, coi thường tính mạng con người đã trở thành hiện tượng tự nhiên của con người hiện đại ngày nay.

Thuyết vô Thần đã làm cho người Trung Quốc đối việc giết người hay tự tử lãnh cảm bình thường như là chuyện của ai. Sự lãnh cảm với sinh mạng con người đã trở nên vô cùng đáng sợ. Thuyết vô thần đã và đang ăn sâu trong tiềm thức mỗi người dân. Từ sự lãnh cảm đó đã dần làm cho đạo đức xã hội trượt dốc, làm trong lòng con người không còn thiện niệm…

Con người hiện đại ngày nay chỉ bằng cách quay trở về với văn hóa truyền thống, chỉ có khôi phục lại văn hóa truyền thống, kính ngưỡng trời đất, coi trọng đạo đức xã hội, thì xã hội mới có hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-12-2019 , 05:56 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Thế gian vận đổi sao dời, cất trong tâm 13 triết lý nhân sinh để vững bước trước phong ba bão tố.
Share

Đời người ngắn ngủi, nào ai biết được ngày mai. Mọi chuyện trong cõi nhân sinh thoảng qua như gió thổi, mây bay, như đá mòn nước chảy. Làm sao giữ được yên bình của tâm hồn để vươn tới sự tự do vĩnh hằng của sinh mệnh?

Xử thế ở đời chính là biết tiến biết lùi, biết trước biết sau, không làm tổn hại người, mà lại giữ được khí tiết của mình. Nếu không ngại, bạn hãy thử đọc những điều dưới đây, có lẽ sẽ có ích cho mình.

1. Nói chuyện phải dùng đầu óc, cẩn trọng từng lời nói, nói ít quá thì không ai hiểu, nhiều quá thì gây khó chịu. Đừng nên nghĩ gì nói nấy, thấy gì bàn nấy, phiền toái là từ miệng mà vào, từ lời vô ý mà đến. Không nói lời thị phi, lời gây chia rẽ, cũng đừng quá suồng sã, kể lể hết sự tình. Người thông minh thì lời nói ít mà hàm chứa, kẻ quân tử cũng lại nói ít làm nhiều, dùng hành động mà chứng tỏ bản lĩnh.

2. Gặp chuyện chớ nên vội vàng động thủ, dù có đáp án rồi cũng phải bình tâm chờ đợi, chớ kết luận ngay. Một người, một việc là không thể đánh giá từ một góc nhìn. Phán xét vội vàng có thể sẽ dẫn đến thảm họa.

3. Ở đời, hãy biết hóa giải chuyện lớn thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ xem như không có gì. Hãy cố gắng xử lý mọi chuyện một cách đơn giản nhất, tuyệt đối đừng chuyện bé xé ra to, vẽ rắn thêm chân, nghi hoặc, nổi nóng, không giữ bình tĩnh mà hại người, hại cả chính mình.

4. Người quân tử thì luôn độ lượng, khoan dung, không để trong lòng những chuyện tầm thường. Kẻ tiểu nhân lòng dạ hẹp hòi, chọc giận kẻ tiểu nhân cũng chính là chuốc lấy phiền phức. Cho nên ở đời, gần gũi người quân tử, xa lánh kẻ tiểu nhân chính là đạo lý làm người tối thượng vậy.

5. Hãy trân quý những người yêu thương mình. Họ trao gửi tình cảm cho bạn là có nguyên do, bởi vậy đừng hỏi tại sao. Hãy mở lòng đón nhận, lấy yêu thương gấp đôi để đáp lại họ. Cũng đừng bao giờ lừa gạt tình cảm người khác bởi phụ tình thì tình phụ, phúc đức rồi cũng tiêu tan. Ở đời, tìm được tri kỷ là không dễ. Tìm được rồi nhưng biết trân quý ra sao lại càng khó nữa.

6. Cẩn thận với những lời khen, dù là sau lưng hay trước mặt. Người khen bạn sau lưng chính là thật lòng, hãy trân trọng nhưng đừng vì thế mà trở nên tự mãn. Người khen bạn trước mặt rất có thể là xu nịnh, bợ đỡ, nói lời chót lưỡi đầu môi, vốn không đáng coi trọng. Hãy bỏ ngoài tai những lời khen và lắng nghe, cân nhắc những lời chê bai, chỉ trích.

Khi vẫn còn thiếu sót, sai lầm, chắc chắn bạn vẫn phải đối mặt với sự chê bai, dè bỉu. Nhưng đừng coi nó là khủng hoảng mà hãy thành thực cúi xuống lòng mình một phen, nhìn thấu, hướng vào nội tâm để tìm sai, sửa lỗi. Có khi một lời chê bai còn khiến bạn tiến bộ, đề cao hơn cả trăm lời khen thừa.

7. Ân huệ nhỏ tích góp nhiều sẽ thành món nợ lớn. Nhận ân thì phải báo ân. Người xưa nói, chịu ơn một giọt, báo ơn một dòng là bởi thế. Kẻ vô ơn thì cũng chẳng lương thiện, chẳng thể thành người. Người biết đền ơn mới chính là quân tử, là kẻ trượng nghĩa.

8. Người ta mải mê truy cầu hạnh phúc mà không biết hạnh phúc thực ra chính ở trong tâm. Hòa ái thì có được yên bình, độ lượng thì được nhiều người yêu mến, lương thiện đến đâu cũng có được phúc báo nhãn tiền. Đạo lý đơn giản chỉ là như vậy. Nơi quán trọ trần gian, trăm năm là hữu hạn, một sớm mai ngó ra ngoài cửa đã thấy bốn mùa trôi ngang tầm mắt, xuân qua hè tới, thu tàn đông về, ngày tháng chẳng còn lại bao nhiêu. Vậy thì cớ gì không sống cho ra sống, làm người cho ra người?

9. Duyên phận không phải là ngẫu nhiên. Bạn gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Trao gửi thiện lương thì gặp người lương thiện. Chuyên hành ác nghiệp thì phải chịu ác duyên. Kỳ thực duyên phận chính là một loại lựa chọn. Người đi ngang nhau, chỉ khẽ chạm vai cũng là cái duyên được tích tồn từ bao đời kiếp. Nếu đã là duyên thì phải biết tùy theo duyên mà sống, chớ cưỡng cầu những thứ vốn không thuộc về mình.

10. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình là người quan trọng. Ai cũng có điểm mạnh, điểm yếu, “người ta là hoa đất”, ai cũng đều quan trọng như nhau. Đừng ỷ tài, cậy vào một vài hiểu biết nhỏ bé nơi tri thức nhân loại. Cuộc đời này rộng lắm, vũ trụ này lại càng to lớn lắm, có nhiều điều ngay cả tri thức tối tân nhất của con người cũng chẳng thể chạm tới, chẳng thể giải khai.

11. Người ta còn sống ngày nào chính là phúc khí, nên phải biết trân quý. Đời người ngắn ngủi mấy chục năm, đừng để tâm vào những chuyện vụn vặt, như thế thân mới có thể thoải mái mà tâm cũng được bình an.

12. Nóng giận mà để bộc phát ra thì đó chỉ là bản năng. Nóng giận mà kiềm lòng ước chế được thì chính là tu dưỡng. Làm đi làm lại một công việc đơn giản nào đó thì gọi là chuyên gia, nhưng dụng tâm làm mãi một việc trùng lặp không biết chán chường thì đó là người chiến thắng.

13. Bằng cấp là huy chương đồng, năng lực là huy chương bạc, còn đối nhân xử thế mới chính là huy chương vàng.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-12-2019 , 06:04 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Quay đầu nhìn lại thấy đời người là ảo mộng, làm sao giữ hạnh phúc vĩnh hằng?
Share

Nhớ hồi còn trẻ mỗi lần đến ngày tết thường hay gửi thiệp chúc mừng, trong thiệp thường chúc người khác vạn sự như ý, muốn gì được nấy. Bản thân có lúc có từng ao ước, nếu như cuộc đời không có đau khổ lo buồn, thế thì tốt biết mấy.

Gần đây đọc được một bài viết, tôi đã thay đổi suy nghĩ này. Ở bang Georgia của Hoa Kỳ có một bé gái không bao giờ cảm nhận được đau khổ. Nhưng điều này lại mang đến cho cô nhiều bất tiện. Bởi nó khiến cô không biết bảo vệ chính mình, thường hay bị bỏng, trật khớp mà cũng không hay biết. Thử nghĩ xem, khi chúng ta đau răng, đau khớp, hoặc có chỗ nào khó chịu, sẽ kịp thời nghĩ cách chữa trị. Nhưng nếu không còn cảm nhận được những nỗi đau này, người ta có thể còn phải chịu những tổn hại lớn hơn về mặt thân thể, thậm chí mất đi tính mạng. Như vậy xem ra trên thân có thống khổ chưa hẳn là chuyện xấu.

Nhìn từ một góc độ khác, khi không có điều kiện ràng buộc bên ngoài, dục vọng của một người có thể sẽ khiến họ mất kiểm soát. Ví như một đứa trẻ, nếu từ nhỏ đã được nuông chiều hết mực, muốn gì có nấy, sau này khi lớn lên sẽ rất khó sinh tồn trong cuộc sống này. Khi ta gặp phải những chuyện không như ý trong cuộc đời thay vì uất hận, than phiền hãy nghĩ rằng hậu quả đó là do mong muốn của bản thân không thực tế.

Vận mệnh của con người vốn không dễ đoán trước. Lưu Bá Ôn trong tác phẩm “Úc Ly Tử” kể một câu chuyện ngụ ngôn có tên “Học cách làm ô”. Chuyện kể rằng vào thời Chiến Quốc, ở nước Trịnh có một người nông dân học cách làm ô. Trải qua thời gian ba năm học nghề, sau khi bỏ ra rất nhiều công sức, cuối cùng ông cũng thành thạo.

Nhưng thật không may, một trận đại hạn hán xảy ra, những chiếc ô của ông căn bản không dùng để làm gì. Thế là gió chiều nào xuôi theo chiều ấy, ông chuyển sang học cách làm gàu múc nước. Lại trải qua ba năm, mất rất nhiều công sức, ông cuối cùng cũng thành thạo, lành nghề. Chẳng bao lâu, một trận mưa lũ lớn xảy ra và không ai thèm mua gàu múc nước của ông nữa.

Sau đó, ông quay lại tiếp tục làm ô. Không lâu sau, một băng cướp tới vùng này, tất cả mọi người phải mặc quân phục để tự bảo vệ mình. Quân phục bản thân đã có thể dùng để làm áo mưa, bởi thế không ai hỏi mua ô của ông nữa. Sau khi cân nhắc, ông nghĩ tốt hơn cả là học cách rèn vũ khí. Buồn thay khi ấy ông đã quá già.

Trong văn hóa truyền thống có giảng luân hồi, cũng giảng nhân quả báo ứng. Tài phú trong kiếp sống này của một người có thể là kết quả hành thiện trong quá khứ hoặc những đời trước. Tương tự như vậy, một người sinh lòng đố kỵ, oán hận, gây ra tổn hại với người khác, sẽ phải trả nợ nghiệp trong tương lai.

Trong cõi hồng trần cuồn cuộn, con người ai cũng đều nghĩ đến thăng quan, phát tài, đều mong có được mối lương duyên “tài tử giai nhân”. Nhưng nếu như trong mệnh của bạn không có, dù nhất thời thông qua thủ đoạn mà đoạt được cũng sẽ sớm tiêu tan. Phúc lộc bản thân cũng chẳng còn, những ngày tháng sau hẳn càng thê thảm hơn nữa. Chi bằng hãy tùy kỳ tự nhiên giữ mình mà thiện đãi với người, sống đúng với lương tâm, lòng dạ ngay thẳng, vận mệnh cũng sẽ dần chuyển biến tốt đẹp.

Sinh mệnh của con người ta cũng giống như bốn mùa của một năm, có gieo giống trong mùa xuân, đơm hoa kết hạt trong mùa hạ, thu hoạch trong mùa thu và trữ kho trong mùa đông. Cái cảnh hoa mai nở rộ lúc xuân về thật khiến người hâm mộ, nhưng nó là kết quả của “hàn mai ngạo tuyết” (hoa mai cười trong tuyết) sau khi trải qua mùa đông giá lạnh khắc nghiệt. Cũng như vậy, khi phải đối diện với trắc trở và đau khổ, hãy xem đó như một cơ hội phản tỉnh, một lần nữa dò xét lại ý nghĩa của đời người. Rất có thể bạn sẽ có được thu hoạch không ngờ.

Đời người có lẽ chỉ là một bến nhỏ trong dòng sông dài đằng đẵng của sinh mệnh. Khi ta từ trong ân oán, tình thù biết được tổn thương của người khác, hiểu được những sai sót của mình đối với người khác, thì sẽ lĩnh ngộ được ý nghĩa đích thực của sinh mệnh. Có một ca khúc rằng: “Sinh mệnh vốn là tiên trên trời”. Chỉ khi hiểu được nhân quả luân báo, tích đức hành thiện, lựa chọn nghe theo lẽ phải mới là đang hướng đến sự vĩnh hằng của sinh mệnh.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-12-2019 , 06:06 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Những người thành công luôn coi trọng tự giác và kỷ luật?
Share

Người ôm chí lớn thường là người rất kỷ luật. Những người tự kỷ luật vừa đáng khâm phục lại vừa đáng kính. Nếu là bạn bè, họ sẽ là tấm gương cho bạn học hỏi. Nếu là bậc trưởng bối, họ sẽ là động lực cho bạn thêm cảm hứng hoàn thiện mình.

Trước đây tôi từng nghĩ nhân sinh khổ đoạn, thế sự vô thường, nên chỉ muốn tận hưởng niềm vui trước mắt. Cuộc sống tươi đẹp này quá ngắn ngủi, giờ không tận hưởng, chết rồi chẳng phải uổng phí sao? Hôm nay có rượu ta say đã, người chẳng phong lưu uổng thanh xuân. Cho đến sau này, tôi dần dần phát hiện ra rằng mỗi một hành vi vô kỷ luật đều là tự làm khổ bản thân mình.

Không cam chịu làm nô lệ của ham muốn tầm thường, tự kỷ luật sẽ thúc đẩy chúng ta sống tích cực và thành công hơn.

Vì sao cần phải tự kỷ luật?

Hầu hết chúng ta chỉ nhìn kết quả thành công của người khác mà bỏ quên nỗ lực đằng sau thành công đó.

Có thể bạn cho rằng: Những người giữ nguyên tắc đến tận xương tủy, xem chừng thật là nhàm chán! Khi người ta xúng xính rong chơi vui vẻ thì họ kiếm một chỗ vùi đầu đọc sách. Khi người ta rủ nhau thưởng thức của ngon vật lạ thì họ lại đổ mồ hôi như mưa trong phòng tập thể hình. Ngày cuối tuần, người ta lười biếng ngủ nướng đến tận trưa thì họ vẫn kiên trì như mọi ngày: Dậy sớm, chạy bộ, đọc sách, làm việc… Người như vậy thật chẳng có gì thú vị, thậm chí cứ như là đang ngược đãi bản thân vậy, cuộc sống cũng chẳng còn chút thoải mái, tự do nào.

Nhưng sự thật là người tự kỷ luật lại tự do hơn nhiều so với người vô kỷ luật.

Nếu một người chỉ luôn làm những gì mình muốn, coi trọng hưởng thụ mà không biết nỗ lực, người khác chơi họ cũng chơi, người khác làm việc họ vẫn còn phóng túng bản thân… thì rõ ràng họ không có trách nhiệm với bản thân mình. Hiện tại dường như là tự do, nhưng một ngày kia, họ sẽ phát hiện rằng mình đã trì trệ quá lâu, không còn theo kịp những người biết kỷ luật nữa rồi.

Khoảng cách giữa người biết kỷ luật và người không kỷ luật là rất tinh tế. Một ngày, hai ngày có thể bạn sẽ không nhìn ra. Một tháng, hai tháng e rằng vẫn chưa thể nhận ra. Nhưng một năm, hai năm, thậm chí mười năm, hai mươi năm, chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy sự khác biệt rõ ràng. Người tự kỷ luật và người không kỷ luật cuối cùng rồi sẽ đi trên những con đường hoàn toàn khác nhau.

Càng tự kỷ luật, lời nói càng có trọng lượng, đường đời càng thành công và cuộc sống càng hạnh phúc

Người vô kỷ luật vui vẻ với những thú vui hời hợt tầm thường, trong khi người tự kỷ luật lại hiểu rõ bản thân thực sự mong muốn gì. Cho nên họ sẽ không để thời gian và năng lượng phung phí vào những thứ vô nghĩa. Họ thực sự sử dụng mảnh thời gian quý báu để hoàn thiện chính mình, tương lai sẽ đạt được những điều đáng giá thật sự.

Rất nhiều người chỉ biết kỷ luật trên miệng, nhưng người thật sự kiên trì bằng hành động thì lại rất hiếm hoi. Giống như trèo lên một ngọn núi cao hiểm trở, càng gần sát đến đỉnh càng còn lại ít người cắn răng kiên trì tiến tiếp.

Có thể kiên trì được, đó chính là kỷ luật.

Tác gia Haruki Murakami bắt đầu viết từ năm 30 tuổi, đến nay ông đã viết gần 40 năm, sáng tác một lượng lớn tác phẩm kinh điển nổi tiếng cả trong và ngoài Nhật Bản.

Haruki Murakami có thói quen chỉ viết 4.000 từ mỗi ngày, 400 từ một trang, và khi viết được 10 trang thì dừng lại.

Ngoài ra, mỗi ngày ông đều dành một giờ để chạy bộ, ngày nào cũng đều đặn như vậy. Nhờ đó ông có năng lượng để tiếp tục tạo nên những tác phẩm xuất sắc.

Tính kỷ luật của các ông lớn trong lĩnh vực thương mại lại càng đáng nể hơn. Một vị tỷ phú danh tiếng của châu Á là một người như thế. Mặc dù đã là một ông chủ thành danh, nhưng ông vẫn học tập không ngừng, ngày nào cũng kiên trì xem truyền hình bằng tiếng Anh, không chỉ xem mà còn học nói theo vì ông sợ rằng không học tập thì chính mình sẽ lạc hậu. Ngoài ra ông vẫn luôn giữ thói quen đọc sách mỗi ngày trước khi đi ngủ.

Một vị tỷ phú bên kia trái đất là Bill Gates cũng đặc biệt yêu thích đọc sách. Suốt mấy chục năm qua ông đều kiên trì mỗi tuần đọc xong ít nhất hai cuốn sách. Phải yêu cầu bản thân nghiêm khắc, ông mới duy trì được thói quen ấy thường hằng.

Không phải người xuất sắc mới tự kỷ luật mà là tự kỷ luật rồi mới trở thành người xuất sắc

Những người có thể chân chính vươn đến đỉnh cao, chắc chắn luôn là người chuyên tâm dồn chí, luôn luôn kiên trì tiến lên phía trước.

Muốn đạt thành công không thể đi đường gần, nhưng lại không thể hấp tấp vội vàng, mỗi bước đi hãy luôn là những bước chắc chắn. Chân chính tự kỷ luật, chúng ta có thể trở thành hình tượng mà mình yêu thích, sống cuộc sống mà mình mong muốn.

Thay vì để những giấc mơ bị bóp nghẹt trên giường, hãy tự yêu cầu bản thân dậy sớm và nỗ lực trong tất cả mọi việc, tương lai đón chờ bạn sẽ là một tâm hồn tự do và cuộc sống hạnh phúc.

Càng chăm chỉ, càng nỗ lực, càng kỷ luật, càng xuất sắc. Đây chính là lý do vì sao chúng ta nên tự kỷ luật bản thân mình.
LeThanhPhong
Gold Member
Join Date: Apr 2015
Số Điểm: 2562
Old 08-13-2019 , 11:50 AM     LeThanhPhong est dconnect  search   Quote  
Bài Diễn Văn Hay Nhất Trong 100 Năm Qua Của Luật Sư George Graham Vest


Diễn văn của luật sư Georges Graham Vest tại một phiên tòa xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Saller của The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 100 năm qua.

"Thưa quý ngài bồi thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hoá ra kẻ thù quay lại chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được, rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần đến nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động một giờ.

Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ ta đi, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi ta va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng dù ta có là một gã ăn mày.

Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân bại danh liệt thì vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó làm kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù.

Và một khi trò đời hạ màn, thần chết rước linh hồn ta đi để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy khi tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ. Thì khi ấy còn bên nấm mồ ta con chó cao thượng của ta nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở ra cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã mất rồi.

Georges Graham Vest (1830-1904)


Nguyên bản tiếng Anh:

A Tribute To The Dog

Gentlemen of the jury:

The best friend a man has in the world may turn against him and become his enemy. His son or daughter that he has reared with loving care may prove ungrateful. Those who are nearest and dearest to us, those whom we trust with our happiness and our good name may become traitors to their faith. The money that a man has, he may lose. It flies away from him, perhaps when he needs it most. A man's reputation may be sacrificed in a moment of ill-considered action. The people who are prone to fall on their knees to do us honor when success is with us, may be the first to throw the stone of malice when failure settles its cloud upon our heads.

The one absolutely unselfish friend that man can have in this selfish world, the one that never deserts him, the one that never proves ungrateful or treacherous is his dog. A man's dog stands by him in prosperity and in poverty, in health and in sickness. He will sleep on the cold ground, where the wintry winds blow and the snow drives fiercely, if only be may be near his master's side. He will kiss the hand that has no food to offer; he will lick the wounds and sores that come in encounter with the roughness of the world. He guards the sleep of his pauper master as if he were a prince. When all other friends desert, he remains. When riches take wings, and reputation falls to pieces, he is as constant in his love as the sun in its journey through the heavens.

If fortune drives the master forth an outcast in the world, friendless and homeless, the faithful dog asks no higher privilege than that of accompanying him, to guard him against danger, to fight against his enemies. And when the last scene of all comes, and death takes his master in its embrace and his body is laid away in the cold ground, no matter if all other friends pursue their way, there by the graveside will the noble dog be found, his head between his paws, his eyes sad, but open in alert watchfulness, faithful and true even in death.

George Graham Vest



thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-13-2019 , 03:39 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
6 công thức xử thế vạn năng giúp nhân duyên ngày càng tốt đẹp
Share.

Giữa con người với nhau đôi khi chỉ vì giao tiếp không thông thuận mà dẫn đến hiểu lầm. Bởi vậy, nếu nắm vững được đạo xử thế thì có thể sẽ xây dựng được những mối nhân duyên tốt đẹp.

Dù thành công hay thất bại cũng phải giao tiếp. Tuy nhiên, đối với từng đối tượng có tính cách, tuổi tác, thân phận khác nhau thì nên có cách cư xử phù hợp.

Trong xử thế, đối với từng đối tượng có tính cách, tuổi tác, thân phận khác nhau thì nên có cách cư xử phù hợp.

Chỉ cần ghi nhớ 6 nguyên tắc dưới dấy, tin rằng chúng ta có thể dần dần xây dựng được những mối nhân duyên tốt đẹp.

1. Giao tiếp với người già, không thể xem nhẹ tự tôn của họ.

Trong thời đại ngày nay, mặc dù khoảng cách tuổi tác không nói lên được địa vị cao hay thấp, nhưng khi giao tiếp với người già, hãy cố gắng để tâm đến tự tôn của đối phương. Suy cho cùng phải giữ được sự khiêm nhường và cung kính cần có, đây không phải là cố chấp bảo thủ, mà là sự lễ phép.

Đối với nhiều người già mà nói, ắt hẳn những kinh nghiệm dày dặn mà họ có được còn nhiều hơn tất cả những con đường mà chúng ta đã đi qua, nên có lẽ họ cũng có chút cố chấp, chút tự phụ, ôm khư khư ý kiến của mình, không nghe lời người khác nói.

Gặp người già như vậy cho dù quan điểm bất đồng, cũng không nên tranh luận, chỉ cần thuận theo ý của người đó thì mọi chuyện sẽ tốt. Hơn nữa nếu đã tập trung chú ý lắng nghe, mặc dù bất đồng quan điểm, nhưng tin rằng những lời mà người đó nói vẫn có nhiều điều đáng để chúng ta học tập.

Khi giao tiếp với người già, hãy cố gắng để tâm đến tự tôn của đối phương.

2. Giao tiếp với đàn ông phải giữ thể diện cho họ.

Đàn ông coi trọng nhất chính là thể diện. Vì vậy khi giao tiếp với đàn ông, nhất định phải suy nghĩ cho đối phương, giữ thể diện cho anh ta.

Rất nhiều bà vợ thường không giữ thể diện cho chồng của mình trước mắt đám đông, dần dần tình cảm vợ chồng nhất định sẽ bị tụt dốc, kéo theo nhiều vấn đề về gia đình.

Ngày nay rất nhiều bạn bè chơi thân với nhau đều thích hạ bệ, vạch trần khuyết điểm của đối phương trước đám đông, có lẽ họ sẽ cảm thấy thích thú khi làm điều này. Nhưng hành động như vậy thật ấu trĩ, nhẹ thì khiến người khác xấu hổ, nặng thì lại đắc tội với người ta.

3. Giao tiếp với phụ nữ hãy quan tâm đến cảm xúc của họ.

Khi giao tiếp với phụ nữ, không nên chỉ để tâm đến việc giảng giải đạo lý, điều quan trọng cần chú ý hơn đó chính là cảm xúc của cô ấy.

Gia đình vốn dĩ không phải là nơi để giảng đạo lý, vì vậy một người chồng thông minh tuyệt đối đừng hơi một chút là lại lên mặt giảng đạo lý này nọ với vợ.

Chỉ có người chồng ngốc nghếch mới đôi co lý luận với vợ, mà kết cục cuối cùng là chỉ có thể đối diện với sự không hiểu lý lẽ của vợ. Vì vậy, tuyệt đối không nên tự cầm đá đập lên chân của mình làm gì.

Khi giao tiếp với phụ nữ, không nên chỉ để tâm đến việc giảng giải đạo lý, điều quan trọng cần chú ý hơn đó chính là cảm xúc của cô ấy.

4. Giao tiếp với cấp trên, phải giữ tôn nghiêm cho họ.

Giao tiếp với cấp trên nhất định phải chú ý đến sự khác biệt về thân phận và chức vụ, cho dù là bàn bạc chuyện gì thì cũng phải giữ thái độ khiêm tốn, không làm tổn hại đến sự tôn nghiêm của cấp trên.

Cho dù biết rõ cấp trên có sai sót, thì cũng không nên thẳng thắn vạch trần, mà nên khéo léo lựa thời gian địa điểm thích hợp nhắc nhở, cho cấp trên một đường lui, như vậy cũng được coi là nể mặt và giữ thể diện cho cấp trên.

Người cậy tài khinh người, coi thường người khác, cuối cùng cũng sẽ rơi vào thảm cảnh bị chèn ép.

5. Giao tiếp với người trẻ tuổi, hãy lưu tâm đến sự thẳng thắn của họ
Người trẻ tuổi nhiệt huyết tràn trề, khi giao tiếp thường rất thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy. Các bậc tiền bối, đàn anh nhiều tuổi ở nơi làm việc chắn hẳn cũng có cảm nhận rõ nét và sâu sắc trước ngôn từ hành động và cử chỉ bộc trực của các hậu bối.

Người trẻ tuổi là “làn gió mới”, là quân chủ lực của công ty, vì thế khi tương tác qua lại, tuyệt đối tránh vòng vo tam quốc, càng chân thành thì càng tốt.

Người trẻ tuổi nhiệt huyết tràn trề, khi giao tiếp thường rất thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy.
Hơn nữa đừng nên lúc nào cũng chỉ biết thuyết giáo, mà còn phải lắng nghe ý kiến của người trẻ tuổi. Nếu có thể làm được tin rằng bạn sẽ tạo được một nhân duyên tốt đẹp với họ.

6. Giao tiếp với trẻ nhỏ, hãy tôn trọng sự ngây thơ.

Giao tiếp với trẻ nhỏ, đừng nên bộc lộ sự bất mãn với cuộc sống, xã hội, như vậy sẽ khiến các em cảm thấy thế giới của người lớn quá phức tạp.

Suy cho cùng trẻ nhỏ rất ngây thơ hồn nhiên, kinh nghiệm xã hội rõ ràng còn thiếu sót và non nớt, dù nói nhiều thì các em cũng khó mà lĩnh hội hết được. Vì thế hãy để các em tận hưởng quãng thời gian tuổi thơ hạn hẹp, ngắn ngủi.

Kiên định giữ vững mục tiêu không phải là xấu, nhưng nếu không biết ứng biến, đối nhân xử thế cho thỏa đáng thì nhất định sẽ gặp phải những tình huống xấu mặt. Chi bằng hãy học cách ứng biến, tùy đối tượng khác nhau mà cư xử, như vậy mới tránh được bất lợi về sau.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-13-2019 , 03:50 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?
Share.

Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai.

Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.

-Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

'dấu' nghĩa là 'yêu mến'.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’.

-Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?

'Búa' là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là 'phố', nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán.

‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.

‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa.

-Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?

'Gộc' là 'cây củi có khúc đẩn lớn cũng là 'đoạn gốc của cây tre, cây vầu' hay có nghĩa là 'to lớn'.

‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này [㭲]. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.

-Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.

'Han' nghĩa là 'hỏi tới', 'nói tới'.

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

-Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?

'Tát' đúng ra phải dùng là 'tác'.'Tác' nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ 'tuổi tác'.

‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên, ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.

‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tác’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.

Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,…

Riêng từ ‘to tác’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.

-Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘Cù’ có nghĩa gì không?

'Cần' là siêng năng chăm chỉ, 'cù' là khó nhọc, vất vả.

‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.

Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ (劬劳) chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao).
Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

-Bếp núc.

Núc là 'đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn' và có thể hiểu núc chính là ông Táo.

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)

-‘Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa.

– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm.

Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

-‘Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa.

– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-13-2019 , 03:56 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Hai câu tục ngữ thể hiện ý chí và cách xử thế trí tuệ của người xưa.
Share.

Làm việc gì thì cũng phải quyết tâm đến cùng, không nên chùn bước quay đầu, nhưng nếu làm sai thì nhất định phải dũng cảm sửa đổi. Hai câu tục ngữ này tuy có vẻ trái ngược nhau nhưng đã phản ánh đầy đủ ý chí của con người.

1-Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ phía sau.

Có một câu tục ngữ mà rất nhiều người hay dùng “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ phía sau”. Ý tứ của câu này là một con ngựa tốt, nếu như đi ra khỏi chuồng tới một thảo nguyên, nhìn thấy bãi cỏ xanh mơn mởn, nó sẽ chỉ tập trung ăn cỏ, cứ thế mà ăn cho no, không cần bận tâm cỏ mọc ở xung quanh có tốt hay không.

Ngựa tốt sẽ chỉ tập trung ăn cỏ, cứ thế mà ăn cho no, không cần bận tâm cỏ mọc ở xung quanh có tốt hay không.

Ngay cả sau khi đi qua, nhìn thấy hai bên hoặc đằng sau còn có cỏ tốt hơn nữa, nó cũng không quay đầu lại để ăn.

Câu tục ngữ này đã nói cho chúng ta biết đạo lý làm người: Dù là ai khi làm bất kể việc gì, đều nên làm cho đến nơi đến chốn, cứ từng bước tiến tới. Mặc dù gặp khó khăn ngăn trở, chúng ta cũng phải kiên trì, quyết không thể quay trở lại.

Cũng giống như người có chí khí, dù cho gặp phải khó khăn, cũng quyết không quay đầu lại, đi một mạch cho đến cùng.

2-Lãng tử quay đầu, vàng chẳng đổi.

Nói đến việc quay đầu thì còn có một câu tục ngữ nữa cũng thường nghe nói: “Lãng tử quay đầu, vàng chẳng đổi“, cũng rất có ý tứ. Những lời này chính là một câu chuyện trong dân gian vào triều đại nhà Minh.

Triều đại nhà Minh, có một người giàu có trên 50 tuổi mới có được một cậu con trai, đặt tên là Thiên Bảo. Thiên Bảo sau khi lớn lên chơi bời lêu lổng, tiêu tiền như nước, người cha sợ cậu con trai cứ như vậy thì khó mà giữ được gia nghiệp, liền nhờ một thầy giáo dạy dỗ cho cậu ta hiểu được lý lẽ, không cho cậu ta đi ra ngoài.

Dưới sự quản giáo của người thầy, Thiên Bảo dần trở nên biết lễ nghĩa và cũng đọc được một ít sách vở. Không lâu sau, cha mẹ của Thiên Bảo không may cùng qua đời, việc học của Thiên Bảo vì thế mà bị gián đoạn.

Thầy giáo của Thiên Bảo vừa rời đi, những bạn bè xấu thuở còn nhỏ của Thiên Bảo đã tìm đến tận cửa rồi. Thói cũ của Thiên Bảo lại tái phát, cả ngày ăn chơi, không đến hai năm, gia tài bạc triệu đã không cánh mà bay, cuối cùng phải dựa vào ăn xin mà sống qua ngày.

Cho đến lúc này, Thiên Bảo mới hối hận về cuộc sống trong quá khứ của mình, quyết định sửa đổi. Vào một buổi tối, anh đi mượn sách để đọc, trên đường đi về, bởi vì mùa đông đường trơn, hơn nữa cả ngày không có hạt cơm nào vào bụng, anh bị té xuống đường, không còn sức để đứng lên nữa, chỉ một lát sau, liền đông cứng lại ở bên đường.

Một người nếu phạm phải sai lầm cũng không đáng sợ, chỉ cần có thể ý thức được sai lầm của mình thì không có gì là muộn cả.

Lúc này, Vương viên ngoại vừa đi ngang qua, liền nói người nhà cứu giúp Thiên Bảo. Sau khi Thiên Bảo tỉnh lại, Vương viên ngoại vì thương cảm đã giữ anh ta ở lại, làm thầy giáo cho con gái tên Lạp Mai, dạy cho Lạp Mai biết chữ và đọc sách.

Lạp Mai lớn lên như hoa như ngọc, lại thêm ôn nhu, hiền thục. Thiên Bảo lúc đầu chỉ để ý dạy học, về sau tật cũ lại nổi lên, có ý nghĩ bất chính với Lạp Mai, động tay động chân. Lạp Mai tức giận tìm cha khóc lóc kể lể.

Vương viên ngoại nghe xong tỏ ra thản nhiên như không, nhưng trong lòng ông sợ chuyện này truyền ra bên ngoài, sẽ làm ảnh hưởng đến thanh danh của con gái, liền viết một bức thư, gọi Thiên Bảo đến nói: “Thiên Bảo, ta có một việc gấp cần anh hỗ trợ”.

Thiên Bảo nói: “Viên ngoại đối với tôi ân trọng như núi, bất kể là chuyện gì, tôi quyết không chối từ!” Vương viên ngoại nói: “Ta có một người anh họ, nhà ở gần một cây cầu ở Tô Châu, phiền anh đến Tô Châu đưa bức thư này cho người ấy. Anh lên đường ngay nhé!”

Nói xong, lại cho Thiên Bảo hai mươi lạng bạc làm lộ phí, Thiên Bảo tuy không muốn rời xa Lạp Mai, nhưng cũng không làm sao được, đành phải lập tức lên đường.

Ai ngờ đến Tô Châu, khắp nơi đều là cầu, Thiên Bảo tìm hơn nửa tháng, cũng không tìm được chỗ ở người anh họ của Vương viên ngoại, tiền lộ phí đã dùng hết rồi, anh ta thử mở thư ra xem, mới thấy vô cùng xấu hổ.

Chỉ thấy trong thư viết bốn câu: “Năm đó lạnh cóng ở bên đường; Mà nay dám đùa bỡn Lạp Mai; Không có anh nào bên cầu cả; Tiền bạc xài hết không cần về!”

Xem xong thư, Thiên Bảo muốn nhảy xuống sông tự vẫn, nhưng anh ta nghĩ lại: “Vương viên ngoại chẳng những đã cứu mạng mình, còn giữ thể diện cho mình, mình sao không cố gắng kiếm được 20 lạng bạc trả lại cho Vương viên ngoại, rồi cầu xin ông ấy tha tội?”

Vì vậy, Thiên Bảo phấn chấn tinh thần lên, ban ngày giúp việc nhà cho người ta, buổi tối châm đèn đọc sách. Ba năm trôi qua, anh ta chẳng những tích góp được 20 lạng bạc, hơn nữa còn trở thành một tài tử học rộng biết nhiều. Lúc này, vừa hay lại có khoa thi, Thiên Bảo vào kinh dự thi, và đỗ cử nhân, anh ta đi gấp trong đêm, trở về cầu xin Vương viên ngoại tha tội.

Khi đến nhà của Vương viên ngoại, Thiên Bảo quỳ ngay xuống đất, tay nâng một bức thư cùng 20 lạng bạc, nói với Vương viên ngoại rằng anh ta có tội. Vương viên ngoại nhìn thấy vị cử nhân trước mặt là Thiên Bảo, vội nhận lấy bức thư và số bạc, thì thấy chính là bức thư mà ông đã viết 3 năm trước.

Nhưng ở dưới bốn câu ông viết, lại có thêm bốn câu nữa: “Ba năm anh họ chưa tìm được; Bạc của ân nhân còn mắc nợ; Lãng tử quay đầu vàng chẳng đổi; Áo gấm hồi hương làm hiền nhân”.

Vương viên ngoại vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, vội đỡ Thiên Bảo dậy, thăm hỏi ân cần, lại hứa gả Lạp Mai cho Thiên Bảo. Từ đó về sau, câu tục ngữ “Lãng tử quay đầu vàng chẳng đổi” đã được lưu truyền rộng rãi.

Những lời này khuyên bảo người đời sau, một người nếu phạm phải sai lầm cũng không đáng sợ, chỉ cần có thể ý thức được sai lầm của mình, biết sai có thể sửa, thay đổi hoàn toàn, một lần nữa làm một con người đàng hoàng, không có gì là muộn cả.

Người xưa lưu lại những câu tục ngữ này, là dạy bảo chúng ta đạo lý làm người, tuy đơn giản nhưng bên trong lại chứa đạo lý lớn lao, đối với thế hệ sau này đều có thể giúp ích rất nhiều.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-13-2019 , 04:02 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Vì sao người xưa lại nói: “Nam không cưới năm, nữ không gả sáu”?
Share.

“Nam cưới, nữ gả”, mọi người tất nhiên sẽ liên tưởng đến một câu nói của người xưa “Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng”, người nam khi đến một độ tuổi nhất định sẽ phải kết hôn, người nữ khi đến độ tuổi nhất định sẽ phải gả đi.
Vì sao người xưa lại nói: “Nam không cưới năm, nữ không gả sáu”?

Trong cuộc sống có người này người kia, cũng có những loại tật xấu kỳ lạ, vậy thì gặp người nào thì không nên giao lưu, không nên lựa chọn là vợ chồng?

Người xưa trải qua mấy ngàn năm, trong cuộc sống thường ngày sẽ vận dụng hết những kinh nghiệm mà bọn họ vốn có, đúc kết thành những câu tục ngữ có ý nghĩa giáo dục, truyền từ đời này sang đời khác, để cho những thế sau này hiểu được ý nghĩa của tục ngữ, giảm bớt những gánh nặng, những vất vả đời sau.

Cho đến ngày nay, rất nhiều tục ngữ triết học vẫn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong đó có một câu tục ngữ: “Nam không cưới năm, nữ không gả sáu”, đây là một sự chỉ đạo đầy ý nghĩa, chúng ta hãy cùng nhau xem xét.

-Nam không cưới năm.

Ý chỉ rằng có năm kiểu phụ nữ mà người nam không nên lấy. Vậy đó là những kiểu người nào?

1. Kiểu người không biết chừng mực:

Bất kể thời cổ đại hay hiện đại, phụ nữ đối với chồng đều cần thủy chung, có vài người sớm nắng chiều mưa, gieo rắc tình cảm khắp nơi, có phụ nữ còn cắm sừng chồng mình. Những kiểu người này sẽ luôn luôn bị người khác chỉ chỉ trỏ trỏ, thậm chí còn bị người đời phỉ nhổ.

2. Kiểu người không hiếu thuận:

Hiếu thuận là một đức tính tốt đẹp của con người, bất kể là hiếu thuận với bố mẹ đẻ hay là bên nhà chồng, đều phải có đức tính này. Từ việc hiếu thuận, chúng ta có thể thấy rõ phẩm hạnh của một người phụ nữ, họ thường có trái tim lương thiện, biết giữ hòa khí, phẩm hạnh đoan trang, mọi việc diễn ra suôn sẻ!

3. Kiểu người yêu tiền:

Quan điểm hiện nay của một vài người là, chồng phụ trách kiếm tiền nuôi gia đình, còn mình phụ trách nuôi dưỡng sắc đẹp. Có người hở chút là lại mua sắm mỹ phẩm, túi xách, áo quần, vung tay tiêu tiền, hoàn toàn không mảy may một chút khái niệm tiết kiệm. Người phụ nữ như vậy, tương lai gả đi làm dâu, gia đình chồng sẽ cảm thấy lo lắng!

4. Kiểu người không nói đạo lý:

Kiểu phụ nữ này luôn lấy bản thân làm trung tâm, mọi chuyện đều phải là cô ấy đúng, bạn sai. Hai người không cách nào nói chuyện được với nhau, thời gian cứ kéo dài như thế thì ắt đôi bên sẽ có khoảng cách, cuối cùng là bùng phát.

5. Kiểu người quá tự cao:

Tự mình cảm thấy bản thân tốt đẹp, gặp phải một chuyện nhỏ liền nói chia tay, ly hôn, còn thường xuyên trâng tráo nói chia tay rồi, ly hôn rồi, đợi đàn ông muốn lấy cô ấy xếp hàng hơn mười mấy mét, không có suy nghĩ thật lòng thật dạ muốn cùng bạn trải qua những tháng ngày!

-Nữ không gả sáu.

Ý nói đến những kiểu đàn ông mà phụ nữ không nên lấy. Là sáu kiểu người nào đây?

1. Kiểu đàn ông không hiếu thuận:

Vừa nãy cũng đã nói rồi, hiếu thuận thể hiện rõ nhất bản tính của một người, khi một người đàn ông không hiếu thuận với bố mẹ ruột của mình, bạn còn hy vọng anh ta sẽ đối xử tốt với bạn sao? Đúng không? Người không hiếu thuận thường rất ích kỷ, tỉnh lại đi!

2. Kiểu đàn ông quá lười biếng:

Người xưa có nói, chăm chỉ mới có thể làm giàu, một người chỉ biết ăn không biết làm, bạn có thể mong chờ anh ta sẽ cho bạn những tháng ngày tươi đẹp không? Bản thân anh ta còn không thể sống nổi, làm sao có thể cho bạn những hạnh phúc mà bạn muốn?

3. Kiểu đàn ông không biết cố gắng:

Cuộc đời con người, dù là vì bố mẹ, vì vợ con hoặc vì chính mình thì đều phải biết nỗ lực mới được, thế mới có thể đem lại những ngày tháng hạnh phúc cho gia đình. Khi một người đàn ông chỉ biết ngồi ăn chờ chết, mỗi ngày trôi qua đều hỗn độn, vậy chi bằng dứt khoát một mình một thân cho rồi.

4. Kiểu đàn ông yêu thích cờ bạc:

Không ít những người vì quá yêu cờ bạc mà cuối cùng tán gia bại sản, đây có thể nói là một bài học xương máu. Một gia đình có tài sản vài tỷ hay vài chục tỷ, chưa tới vài năm, chỉ một lần thua mà bán sạch, có thể nói là khiến cho người khác nghẹn họng trân trối. Cổ ngữ thường nói: “Mười lần đánh cược chín lần thua”, bởi thế, vẫn nên tỉnh táo lại đi!

5. Kiểu đàn ông đa tình:

Sớm nắng chiều mưa, trêu hoa ghẹo nguyệt, người như vậy tâm tính không bao giờ thay đổi, hôm nay đối xử với bạn chân thành thế nào, ngày mai cũng có thể đối xử như vậy với nhiều người phụ nữ khác. Vì thế đối tượng mà chúng ta lựa chọn, dù nam hay nữ cũng đều phải suy nghĩ kỹ và lựa chọn cẩn thận.

6. Kiểu đàn ông vô dụng:

Bạn có chắc chắn muốn sống cả đời với một người đàn ông vô dụng không? Chỉ e rằng anh ta khi ở trước mặt kẻ xấu sẽ bỏ bạn mà chạy mất? Điều này rất đáng để suy ngẫm!

Trên đây là những ý nghĩa đại khái của câu tục ngữ, không biết mọi người sau khi xem xong có phải cảm thấy những câu tục ngữ người xưa để lại rất đáng quý không?

Những kiểu đàn ông, phụ nữ thế này thật sự là cưới không được, gả không nên, nói nhẹ thì sẽ uổng phí cả thời gian và thanh xuân của chính mình, nói nặng thì là phá hủy cả cuộc đời mình!
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-13-2019 , 04:09 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
4 điều kỵ trong quan hệ bạn bè, dù thân thiết mấy cũng không nên đùa giỡn.
Share.

Đôi lúc vô tư quá sẽ trở thành vô tâm, rồi vô tình làm tổn thương người khác mà lại không hay biết. Bạn bè càng thân thiết lại càng phải cẩn trọng hơn nữa.

Bạn bè kết giao thì nhiều, nhưng bạn thân lại chẳng có bao nhiêu, bởi vậy đối với những người bạn thân thiết thì nhất định phải biết quý trọng.

Đôi lúc vô tư quá sẽ trở thành vô tâm, vô tình làm tổn thương người khác mà lại không hay biết

Nhưng chúng ta thường mắc phải một sai lầm, vì đã coi là bạn thân nên đôi lúc sẽ đùa giỡn quá mức, điều này có thể làm cho đối phương để bụng, từ đó dần dần xa lánh.

Người với người giao tiếp với nhau, trong lúc trò chuyện không thể thiếu một chút vui đùa, nhưng đối với bạn bè mà nói, có 4 việc sau là không thể lấy ra để đùa giỡn.

1. Không lấy chỗ thiếu sót của người khác để đùa giỡn.

Nói nhiều tất nói hớ, đặc biệt là những lời nói không lịch sự, dễ dàng gây ra thị phi, cũng làm cho người khác ghét bỏ. Bạn bè thực sự sẽ không bao giờ lấy chỗ thiếu sót của đối phương để cười đùa.

Khi chúng ta cười nhạo khiếm khuyết của người khác, thì cũng là đang tự cười nhạo chính mình. Hoàn cảnh bên ngoài chính là tấm gương phản chiếu nội tâm của bản thân, chúng ta không mau tự sửa đổi tâm thái của mình, còn cười nhạo gì nữa?

Dù cho có là bạn bè thân thiết, cũng phải cư xử có chừng mực. Dù cho quan hệ có tốt như thế nào, cũng không thể nói chuyện không kiêng nể gì.

Bạn bè thực sự sẽ không bao giờ lấy chỗ thiếu sót của đối phương để cười đùa.

Không ai thấy thích thú khi người khác cười nhạo khuyết điểm của mình cả. Đừng chà đạp lên nỗi đau của người khác, bạn bè với nhau lại càng phải như vậy.

Có lẽ chúng ta cho rằng chỉ là lời nói vô tình, nhưng có thể sẽ làm cho người khác tổn thương thật sự đấy. Lấy thiếu sót của người khác làm trò đùa, chỉ thể hiện chúng ta là người có tố chất kém mà thôi!

2. Không lấy tiền tài ra để đùa giỡn.

Tục ngữ có câu: “Tiền bạc phân minh”, một khi động đến tiền bạc, sự tình sẽ trở nên phức tạp.

Tiền bạc không thể nói đùa, bởi vì đây là vấn đề rất nhạy cảm, tiền rất dễ làm con người ta mờ mắt, có thể chỉ vì câu nói đùa của chúng ta, mà người khác lại cho đó là thật, cuối cùng thì có hối hận thì cũng đã muộn rồi.

Trong “Kiển thường trái” của Bồ Tùng Linh có kể lại một câu chuyện: Lý Công hay làm việc thiện, anh có một người đồng hương tên là Vương Trác, quanh năm làm thuê trong nhà của Lý Công.

Bởi vì Vương Trác cả ngày chơi bời lêu lổng, tình cảnh gia đình vì thế mà ngày càng khó khăn. Anh ta hay nhờ Lý Công giúp đỡ, Lý Công cũng luôn hỗ trợ cho anh ta.

Một ngày, Vương Trác hỏi mượn Lý Công một đấu đậu xanh bán đi để làm vốn, Lý Công cũng cho mượn, còn vừa nói đùa vừa đưa cho anh ta.

Kết quả một năm trôi qua, Vương Trác không hề có ý định trả lại cho Lý Công. Về sau Lý Công phải hỏi, mới biết được Vương Trác đã tiêu xài hết rồi. Lý Công thấy tội nghiệp cho Vương Trác, nên cũng không hỏi thêm nữa.

Vương Trác sau khi chết, báo mộng cho Lý Công, nói rằng mình sẽ chuyển sinh thành một con lừa, để trả tiền một đấu đậu xanh còn thiếu. Về sau con lừa của Lý Công bị thương, đã nhờ bác sĩ đến chữa cho nó, sau khi chữa khỏi thì mang con lừa đi bán. Lý Công sau khi lấy được tiền bán lừa mới phát hiện ra, so với tiền một đấu đậu xanh thì không nhiều hơn cũng không ít hơn.

Tiền bạc là không thể đùa giỡn, chỉ vì Lý Công có thái độ không nghiêm túc khi cho vay nên Vương Trác mới không có ý thức để trả nợ.

3. Không lấy người thân của bạn ra đùa giỡn.

Bạn bè lúc đùa giỡn với nhau, ngàn vạn lần không nên lấy người thân của bạn ra để nói đùa. Nếu là bạn bè thân thiết, lại càng phải biết giữ chừng mực, thấu hiểu cho đối phương.

Không nên tùy tiện lấy người thân của bạn ra để đùa giỡn. Rất nhiều người sẽ có suy nghĩ như thế này: “Là bạn tốt của nhau, nên đối với những người thân của bạn mình cũng có thể thoải mái nhận xét, bình luận”.

Kỳ thực suy nghĩ này là vô cùng sai lầm, chúng ta chỉ chơi với bạn, chứ không chơi với người thân của bạn, nên chúng ta không có quyền nhận xét về những người mà chúng ta không liên quan.

Trong cuộc sống không thiếu những người hay nói giỡn về người thân của người khác, làm cho tình bạn tan vỡ. Đùa giỡn đúng mực là thể hiện của sự lễ phép, cũng là một loại tu dưỡng.

Đùa giỡn đúng mực là thể hiện của sự lễ phép, cũng là một loại tu dưỡng.

4. Không lấy sở thích của bạn ra làm trò đùa.

Mỗi người đều có tín ngưỡng và sở thích của riêng mình. Thế giới chính vì có sự khác biệt nên mới trở nên mỹ hảo. Có thể chúng ta có tín ngưỡng khác nhau, có suy nghĩ và sở thích khác nhau, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có thể lấy tín ngưỡng và sở thích của người khác ra để đùa giỡn.

Tô Thức trong lúc làm quan ở Hàng Châu, có kết giao với hòa thượng Phật Ấn ở chùa Kim Sơn. Một ngày, Tô Thức đi vào chùa tìm Phật Ấn để đánh cờ, nhìn thấy từ đằng xa có một con lừa, liền nói đùa một câu: “Con lừa trọc đầu ở đâu?”.

Hòa thượng Phật Ấn sau khi nghe được mới trả lời đầy ẩn ý: “Đông Pha cật thảo” (nghĩa là ăn cỏ ở sườn núi phía Đông, Tô Thức còn được gọi là Tô Đông Pha, ở đây còn có ý là Đông Pha ăn cỏ).

Tô Đông Pha cùng Phật Ấn kết giao cũng khá thân thiết, nhưng chưa tới mức có thể đùa giỡn như vậy được. Chúng ta phải biết rằng không phải cái gì cũng có thể đùa giỡn, không phải ai cũng chấp nhận những trò đùa của chúng ta.

Phải học được cách tôn trọng cuộc sống của người khác, tránh làm tổn thương đối phương, như vậy tình bạn mới có thể lâu dài.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-14-2019 , 04:03 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
CHỖ NGỒI MAY MẮN.
Share.

Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng. Dennis đã ráng cầm cự hơn sáu tháng nay, mỗi tháng anh phải mượn nợ từ bạn bè, thân thuộc để trang trải tiền công cho thầy thợ, tiền thuê cửa hàng.

Nhưng tuần rồi anh bắt buộc phải tập hợp những người cộng sự của anh lại để thông báo cho biết là dịch vụ của nhà hàng sẽ phải tạm đình chỉ từ cuối tháng này. Anh đã cẩn thận cộng đi cộng lại sổ sách nhiều lần, mỗi tháng dịch vụ thương mại của anh đều vướng phải một số âm to tướng. Trương mục tiết kiệm dành cho ngày dưỡng lão cũng biến thành một chữ số Zero. Dennis bắt đầu cảm thấy tay của anh giá lạnh như thể anh là một tay chơi trong sòng bài đang đến lúc cùng đường mạt vận. Buộc lòng anh phải nghĩ đến quyết định sau cùng là: Hãy bán hết ngày hôm nay, có thể anh phải đóng cửa kể từ ngày mai, tức là hai tuần sớm hơn dự định.

Đã đến giờ ăn tối mà sao khách của nhà hàng đi đâu hết rồi. Ở một góc khuất của quán ăn chỉ có hai cha con nọ đang ngồi đợi thực phẩm dọn lên, đứa nhỏ trông có vẻ nghịch ngợm, hết khua chén rồi lại gõ đĩa, người cha hình như có vẻ phiền muộn, không màng ngó ngàng đến đứa con đang làm huyên náo khung cảnh yên lặng của nhà hàng vắng khách.

Lúc đó, một người đàn ông ăn mặc sang trọng nhưng có gương mặt tái nhợt bước vào, Dennis chua chát nghĩ thầm: "Có thể đây là người khách cuối cùng của đêm nay mà cũng là người cuối cùng của nhà hàng mình chăng? Hay là ta đặc biệt chiêu đãi để tạo cho người ta có một thiện cảm với mình. Sau này, dù mình không còn mở cửa, nhưng biết đâu hình ảnh nhà hàng mình sẽ để lại trong lòng ông ta một ấn tượng đẹp đẽ!”

Người khách ngồi xuống gọi ngay một cốc rượu mạnh rồi mới bắt đầu lướt mắt qua tấm thực đơn đi tìm những món ăn đặc biệt nhất của tiệm Dennis. Không đợi ông gọi, Dennis tự động bước tới làm ra vẻ hớn hở nói với ông ta:
- Chúc mừng khách quí, ngài đã chọn đúng một chỗ ngồi tốt nhất, may mắn nhất trong tiệm của chúng tôi, vì vậy đêm nay không những ngài được miễn phí chiêu đãi mà những món ăn của ngài lại là phần ăn của một VIP.
Người khách ngây người nhìn Dennis một chặp rồi hỏi:
- Không ngờ tôi lại may mắn đến thế cơ à?

Dennis tiếp theo đó đã mang ra một phần ăn đặc biệt nhất trong tiệm anh để chiêu đãi người khách này. Đến món tráng miệng, thay vì chỉ một mẩu kem nhỏ thì anh mang ra một chiếc bánh ngọt hạng trung màu sắc rực rỡ và có nến thắp sáng giống như một chiếc bánh sinh nhật. Người khách lạ lúc này mới chịu nở một nụ cười tươi tắn.

Đứa trẻ bàn bên cạnh thấy chiếc bánh ngọt mang ra quá đẹp cũng ngây người nhìn một chặp rồi nó vòi vĩnh với cha:
-Ba à, con cũng muốn ăn chiếc bánh sinh nhật to như vậy đó.
Cha đứa bé nạt ngang:
-Cha con mình đâu có nhiều tiền để ăn những món đắt tiền như vậy đâu con.

Người khách may mắn thấy sự việc như vậy nên quay lại nói với Dennis:
-Đứa bé có vẻ thèm bánh ngọt, thôi thì anh hãy mang sự may mắn của tôi san sẻ với những người chung quanh của tôi vậy.

Dennis vâng lời chia cái bánh của ông làm đôi rồi mang nửa chiếc sang tặng cho cha con người khách ngồi bàn kế cận. Đứa bé hớn hở đón nhận tặng vật và múc ăn ngon lành. Người cha của đứa bé thấy con mình vui nên ông cũng cảm kích bước sang bên này để cảm ơn ông khách tốt bụng.

Hai ông khách từ những câu xã giao thông thường rồi bắt đầu bước vào thăm hỏi nhau qua nghề nghiệp. Ông khách sang trọng tự giới thiệu ông tên là Kent, chủ nhân kiêm giám đốc một hãng thiết kế điện tử ở Thung Lũng Hoa Vàng. Cơ sở của ông tuy còn rất nhỏ nhưng đã có những sản phẩm ăn khách bán chạy và bắt đầu có lời. Cha của đứa bé thì nghẹn ngào cho biết ông làm nghề địa ốc, nhưng tình hình kinh tế hiện nay đã khiến cho những tay dealer mua bán nhà cửa như ông gần như khánh tận. Ông đã nhận được giấy báo của công ty bắt đầu cho ông nghỉ việc kể từ đầu tháng tới.

Kent, ông khách sang trọng ngẫm nghĩ một chặp rồi nói với người cha đứa bé:
-Công ty của tôi đang cần những người saleman có khả năng, hay là anh vào hãng của tôi tạm thời làm thử một thời gian xem có thích hợp hay không?
Cha đứa bé bất ngờ gặp được quí nhân thì mừng rõ vô cùng, ông ta rối rít cảm ơn người khách lạ rồi họ trao đổi số phone và địa chỉ liên lạc …

Qua đêm hôm đó, Dennis bỗng nhiên bỏ qua ý định dẹp tiệm, anh nghĩ còn nước thì còn tát chớ có sao đâu. Bắt đầu từ ngày hôm đó, mỗi ngày anh chọn một vị trí may mắn trong nhà hàng của anh để chiêu đãi miễn phí cho một vị thực khách với tất cả sự vinh hạnh đúng nghĩa. Cái tin này được loan ra, thiên hạ ùn ùn kéo đến không ngớt. Người ta không chỉ muốn ăn miễn phí mà hình như ai nấy cũng muốn thử thời vận của họ xem có được là người may mắn trong đêm của nhà hàng nổi tiếng này hay không? Độc chiêu của Dennis bỗng nhiên hiệu nghiệm khiến nhà hàng của anh tức thì trở thành đông khách nhất khu vực tuy rằng trong giai đoạn kinh tế khó khăn này.

Mấy năm trôi qua, ông Kent đã trở thành khách thường trực và là bạn thân của Dennis. Một đêm cuối tuần, khi đợt khách cuối cùng đã ra về, được dịp Kent mời Dennis một ly rượu mạnh, ông bỗng hỏi Dennis một câu như sau:
- Anh có biết cái đêm hôm đó khi đến tiệm của anh, tôi đang nghĩ ngợi và có dự định gì trong đầu hay không?
Dennis lắc đầu, Kent gật gù nói:
- Buổi chiều ngày hôm đó tôi nhận được email của nhà tôi, bà ta cho biết là không thể nào chịu đựng thêm được cái tính say mê công việc (work-aholic) của tôi. Bà ta cho rằng dưới mắt tôi, bà ta không là gì cả, cho nên từ 6 tháng trước đó bà đã ngoại tình và hôm đó bà đã chính thức bỏ tôi để đi theo tiếng gọi của con tim. Tôi đã suy nghĩ cả một buổi chiều, ruột gan tôi rối tung lên. Đêm đó, trong đầu tôi dự định là sau khi ăn tối xong tôi sẽ trở về nhà để tự kết liễu sinh mạng của mình. Anh nên biết, cuộc đời tôi đã đi từ thành công này sang thành công khác, nhưng lúc đó tôi mới nhận ra là tôi đã thất bại hoàn toàn ngay từ bước đầu tiên. Kim tự tháp của tôi đã bị hỏng nền cho nên tôi chỉ còn cách là kết liễu sinh mạng của tôi thôi. Thế rồi tôi được anh chỉ cho một chỗ ngồi may mắn, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và tưởng chừng như ông trời đang giở trò châm biếm tôi. Nhưng sau khi tôi mang nửa cái bánh tặng cho đứa bé, rồi mang một việc làm giúp cho cha đứa bé thì lúc đó tôi mới thấy là cuộc đời của tôi cũng còn có một chút xíu giá trị và hữu dụng. Cuộc đời mới của tôi bắt đầu đứng lên từ lúc đó. Cho nên phải nói chính anh đã cứu lấy cuộc đời của tôi. Cám ơn Dennis, người bạn thân thiết của tôi.

Dennis cảm động ôm chầm lấy Kent, mắt anh cũng không ngăn được dòng lệ, bây giờ anh mới hiểu ra, sự may mắn chỉ có thể đến với ta khi nào lòng ta mở rộng vị tha. Nếu như anh không nghĩ ra cách mang tặng một phần ăn miễn phí, thì có thể là cơ nghiệp của anh đã không có được như ngày hôm nay. Bản thân anh phải chăng cũng chính là một nhân vật may mắn nhất trong chuỗi cờ domino trải dài đang xảy ra nhan nhãn trên khắp quả địa cầu mà chúng ta đang cư ngụ.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-14-2019 , 04:06 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
LÒNG TỐT ĐÔI LÚC TRỞ NÊN PHI THƯỜNG.
Share.

Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng hai đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lặp lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc!

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô la và thả xuống đất. Sau đó, ông cúi xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông.”

Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô la, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn: “Cám ơn, cám ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này.”

Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-14-2019 , 04:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
CHÂN LÝ LUÔN THUỘC VỀ LƯƠNG THIỆN.
Share.

Chó yêu Hồ ly sâu nặng. Chúng thường chơi với nhau. Rồi một ngày, cả hai gặp phải Thần chết. Thần chết nói:

“Trong hai ngươi, chỉ có một người được sống, hai ngươi hãy oẳn tù tì đi, ai thua sẽ phải chết”.

Chó bảo Hồ ly hãy cùng nhau ra búa, vì vậy chúng ta sẽ hòa nhau, không ai phải chết.

Cuối cùng Hồ ly đã chết. Chó khóc lóc ôm Hồ Ly đã chết nằm yên lặng trong lòng.

“Đã nói là cả hai sẽ cùng ra búa, tại sao trong khi ta ra kéo thì ngươi lại ra lá?”

Hóa ra Chó muốn thua để Hồ ly được sống, tưởng rằng Hồ ly sẽ ra búa nên Chó ra kéo, nhưng không ngờ Hồ ly lại ra lá, vì nó nghĩ Chó sẽ ra búa. Cuối cùng, tất nhiên là Chó đã thắng
Đây mới là hiện thực, là lòng người trong xã hội. Hồ ly ích kỷ, còn Chó lại quá ngốc nghếch.

Nhưng xã hội vẫn còn một mặt khác. Đó là: khi chúng ta hãm hại người khác cũng chính là đang hãm hại bản thân. Có một số người sẵn sàng chịu thiệt thòi luôn nhường cho người khác, nhưng chính họ mới là người đang thắng.

Thế nên: cứ tiếp tục lương thiện…rồi bạn sẽ thắng, làm người phải sống có hậu, chân lý lúc nào cũng thuộc về sự lương thiện.

Có ai đó đã nói:

“Rồi đến một ngày bạn sẽ nhận ra lương thiện khó hơn là thông minh.Vì thông minh là một dạng bẩm sinh, còn lương thiện là một dạng lựa chọn”.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-14-2019 , 04:18 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chuyện về chữ tín: Vì một lời hứa mà sẵn sàng cho đi cả con của mình.
Share.

Ngày nay chúng ta thật dễ dàng nói ra lời hứa, rồi cũng chỉ nhẹ nhàng mà thất hứa. Người xưa rất giữ chữ tín và coi trọng lời hứa, nên thường không tùy tiện hứa hẹn điều gì, nhưng đã hứa thì bằng giá nào cũng phải làm cho kì được.

Những năm cuối triều đại nhà Thanh, ở Giang Nam có một thôn bạo phát ôn dịch, chết rất nhiều người. Chính giữa thôn này có một con đường cái, chia thôn làm hai, trước thôn và sau thôn, điều kỳ quái chính là, ôn dịch chỉ xảy ra ở sau thôn, còn trước thôn không phát hiện ra ai nhiễm bệnh cả.

Có một người trong thôn tên là Lý Sơn, mặc dù anh ta ở trước thôn, nhưng con của anh ta vừa mới sinh, vì để an toàn, anh ta vẫn quyết định dời cả nhà đến chỗ cha vợ cách đó cả ngàn dặm. Trước khi đi, Lý Sơn đi về phía sau thôn để từ biệt một người bạn tốt tên là Trần Hồng.

Bước vào trong nhà, chỉ thấy Trần Hồng cùng vợ của anh ta nằm mê man ở trên giường. Thấy Lý Sơn đến, Trần Hồng mới cố hết sức mà mở miệng ra nói: “Anh đừng đến đây, hai chúng tôi đều nhiễm bệnh rồi, khả năng rồi cũng chết sớm thôi”.

Lý Sơn trong tâm sợ hãi, nói muốn tìm thầy lang cho bọn họ. Trần Hồng cười khổ nói: “Nào có thầy lang nào dám đến đây? Anh đừng mất công làm gì”. Anh ta chỉ tay vào cái nôi ở góc tường nói: “Anh nếu có tâm, xin hãy đem con của chúng tôi nuôi nấng cho thành người”. Nói xong thì anh ta cũng hôn mê đi mất. Lý Sơn cố nén đau thương, ôm lấy đứa con trong chiếc nôi rồi rời đi.

Cùng ngày, Lý Sơn liền thu dọn đồ đạc, chuyển cả nhà đi đến nhà cha vợ. Ai ngờ đi được nửa đường thì gặp phải sơn tặc, toàn bộ lộ phí đi đường đều bị cướp hết, rồi vợ của anh ta lại vô tình bị ngã xuống dốc đứng. Lúc Lý Sơn cõng được vợ lên trên đường thì đã bị bất tỉnh rồi.

Lý Sơn chỉ còn biết kêu trời kêu đất, không biết làm sao. Hai đứa nhỏ gào khóc đòi ăn, lại còn thêm người vợ bị hôn mê, biết làm sao bây giờ? Đúng lúc này, cách đó không xa có truyền đến vài tiếng chuông, Lý Sơn tập trung nhìn thử, thì chính là một ông thầy lang đang đi tới.

Lý Sơn nhanh chóng tiến đến chỗ thầy lang xin giúp đỡ, thầy lang liền xắn ống quần của Lý thị lên để xem xét, kết luận là bị gãy xương chân, liền quay lại nói với Lý Sơn: “Tình huống rất nghiêm trọng, anh bây giờ phải cõng cô ấy thật nhanh đến y quán của tôi, phải nhanh lên!”

Lý Sơn thở dài nói: “Thật không dám giấu diếm, tiền của tôi bị sơn tặc cướp hết rồi, hiện tại trong người không có đồng nào…”

Thầy lang nói: “Cứu người quan trọng hơn, những cái khác để sau hãy nói”. Vị thầy lang này họ Triệu, vốn là danh y trong vùng. Bởi vì Lý thị bị thương nghiêm trọng, nên tạm thời phải ở lại tại y quán của thầy lang.

Nhưng không ngờ là phải ở lại tận hai tháng, ăn uống thuốc men đều phải nhờ vào thầy lang họ Triệu tiếp tế. Lý Sơn vô cùng áy náy, liền nói với thầy lang: “Vợ tôi đã có thể bước xuống giường, chúng tôi định sẽ tiếp tục lên đường. Nhưng đại ân đại đức của ngài, chúng tôi biết báo đáp như thế nào đây?”

Thầy lang liền khoát tay, động viên Lý Sơn không cần phải để ở trong lòng, tranh thủ đi cho sớm là được rồi. Lý Sơn đương nhiên không đồng ý, cứ muốn thầy lang Triệu phải đưa ra điều kiện để báo đáp. Thầy lang thấy được tâm chân thành của Lý Sơn, trầm ngâm mất nửa ngày rồi mới nói cho Lý Sơn suy nghĩ của mình.

Vốn là vợ của thầy lang không thể sinh con được, mà vợ chồng Lý Sơn thì đang rất khốn khổ, chân của Lý thị thì bị thương vẫn chưa lành, hai vợ chồng này mang theo hai đứa nhỏ mà đi như vậy thật sự là không tiện, thầy lang họ Triệu muốn giữ lại một đứa nhỏ để nuôi, cũng cho thêm Lý Sơn một trăm lượng bạc, coi như là để tạ ơn.

Lý thị đứng bên cạnh vừa nghe thấy “một trăm lượng bạc” thì hai con mắt sáng lên. Nàng kéo Lý Sơn qua một bên nói: “Chàng còn do dự gì nữa? Thầy lang nói có lý như vậy, điều kiện của thầy lang lại tốt hơn chúng ta rất nhiều, con nhỏ ở lại đây, chắc chắn sẽ không bị thiệt thòi”.

Lý Sơn thở dài nói: “Vậy nàng nói xem, nên để đứa nào ở lại đây?”. Lý thị nói: “Cái này còn phải hỏi sao, đương nhiên là con của Trần Hồng rồi. Chúng ta lại còn được một trăm lượng bạc nữa, tại sao còn không chấp thuận đi?”

Lý Sơn lắc đầu nói: “Đứa nhỏ này là do Trần Hồng trước khi chết phó thác lại cho ta, ta sao có thể làm như vậy được? Nàng chẳng phải đang hãm ta vào chỗ bất nghĩa đó sao?”. Lý thị nói: “Chẳng lẽ chàng lại muốn bán con của mình ư?”.

Lý Sơn cau mày suy nghĩ. Nghĩ mất nửa ngày, cuối cùng quyết định phó mặc cho số phận, liền nói với thầy lang rằng: “Hai đứa nhỏ này, ngài ưa thích đứa nào thì cứ chọn lấy đứa đó”.

Thầy lang suy nghĩ một lúc, liền ôm lấy con của Trần Hồng vào lòng. Lý Sơn ngửa đầu thở dài: “Đây là thiên ý rồi!”. Nói xong, anh ta liền nhận một trăm lượng bạc từ tay thầy lang, rồi mang theo vợ con rời đi. Đã có bạc, Lý Sơn liền thuê cỗ xe ngựa để đi, rất nhanh đã tới nhà cha vợ và ở lại đó.

Thoáng cái đã hơn nửa năm. Hôm đó, Lý Sơn đang muốn đi ra ngoài, thì thấy ngoài sân có một người đang đi tới, nhìn kỹ thì đúng là Trần Hồng. Theo như Trần Hồng kể, lúc vợ chồng Lý Sơn vừa rời khỏi thôn, triều đình liền mời danh y họ Triệu đến thôn để khám và chữa bệnh ôn dịch.

Thầy lang Triệu nghe nói chỉ có sau thôn mới bị nhiễm bệnh, còn trước thôn lại không có gì, liền cảm thấy cái này không giống ôn dịch bình thường, mới đi xung quanh hỏi thăm thì biết được, dân ở trước thôn dùng nước đến từ một con sông nhỏ, dân ở sau thôn lại dùng nước đến từ một cái giếng cổ.

Vì vậy, thầy lang đi tới giếng cổ để xem xét, lúc này mới phát hiện ra huyền cơ. Bởi vì năm trước trong thôn có vài cụ già bị mất, trên núi lại có thêm vài ngôi mộ mới, thi thể hư thối, lại gặp phải mưa nhiều, nước đục từ trong núi theo mạch chảy xuống giếng ở dưới núi, dân ở sau thôn không biết uống phải nước này nên mới bị bệnh. Sau khi tìm được nguyên nhân, thầy lang dùng đúng thuốc để trị bệnh, dân trong thôn bị bệnh đều đã được trị khỏi.

Lý Sơn hỏi Trần Hồng, vị thầy lang họ Triệu kia tướng mạo ra sao, Trần Hồng tả lại đại khái, Lý Sơn lúc này mới nhận ra, đó chính là vị thầy lang mà mình gặp trên đường. Trần Hồng còn nói, lần này đến đây, là muốn đón con của anh ta về. Lý Sơn trong tâm lo lắng vội nói: “Đứa bé chị dâu ôm đi rồi, để tôi đi mang nó trở về, anh ở đây chờ tôi một lát”.

Lý Sơn tìm thấy vợ, ôm lấy đứa con rồi nói với vợ rằng Trần Hồng chưa chết, đến tìm bọn họ để đón con về. Vợ anh ta vội hỏi: “Có phải là chàng định mang con của mình đưa cho Trần Hồng không?”. Lý Sơn gật gật đầu.

Người vợ vội la lên: “Chàng sao không đem chuyện phát sinh trên đường nói cho Trần Hồng biết? Chàng đối xử với hai đứa nhỏ đều như nhau, lúc trước nếu thầy lang họ Triệu chọn lấy con của chúng ta, vậy chẳng phải chúng ta cũng phải chịu đó sao?”

Lý Sơn cười khổ nói: “Sự tình đúng là như thế. Vấn đề là, người ta sẽ tin sao? Chúng ta dù cho có giải thích thế nào đi nữa, người ta cũng sẽ cho rằng, chúng ta là vì một trăm lượng bạc mà bán đi con của anh ta” .
Người vợ khóc ròng nói: “Vậy chàng cũng không thể đem con của mình đưa cho anh ta được. Không được, chàng mau trả lại con cho thiếp!”. Nói xong, nàng muốn vươn tay ra để giằng lấy con từ Lý Sơn.

Lý Sơn một tay đẩy nàng ra rồi lớn tiếng nói: “Nàng hãy nghe ta nói, nếu Trần Hồng là người có nghĩa khí, anh ta hôm nay ôm con đi, qua mấy ngày rồi sẽ ôm trở lại thôi”.

Nhìn vợ có vẻ còn nghi ngờ, Lý Sơn nói tiếp: “Lúc Trần Hồng giao con nhỏ cho ta, đứa bé cũng vừa mới sinh ra. Hôm nay, ta đem con của ta cho anh ta, anh ta chưa hẳn đã phát hiện ra được. Nhưng vợ của anh ta là người cẩn thận, nhất định sẽ nhận ra đây không phải là con của mình, lúc đó Trần Hồng nhất định sẽ ôm con nhỏ quay trở lại tìm ta. Đến lúc đó, ta sẽ đem chuyện phát sinh trên đường kể lại hết cho anh ta nghe, khi đó anh ta mới tin được”.

Sự tình quả nhiên như Lý Sơn đã dự liệu, Trần Hồng sau khi ôm con trở về nhà, vợ anh ta ngay lập tức phát hiện ra đây không phải là con của bọn họ, nên nói Trần Hồng phải ôm đứa bé trở lại nhà Lý Sơn ngay. Lý Sơn lúc này mới đem những chuyện mình gặp trên đường, từ đầu chí cuối mà nói cho Trần Hồng, nói xong liền quỳ trên mặt đất, cầu xin Trần Hồng tha thứ.

Trần Hồng đỡ Lý Sơn dậy, cảm thán nói: “Anh có thể đưa con của mình cho tôi, tôi tự nhiên tin anh ngay. Chỉ là…”

Lý Sơn nhanh chóng lấy ra một trăm lượng bạc, nhét vào tay Trần Hồng và nói: “Anh cầm số bạc này đi đến y quán của thầy lang, đem hết câu chuyện kể lại cho thầy lang nghe, đồng thời trả lại số bạc này cho ông ấy. Thầy Lang Triệu là người tốt, ông ta nhất định sẽ đem con trả lại cho anh thôi”.

Trần Hồng do dự nói: “Tôi sợ thầy lang Triệu sẽ không tin tôi, anh cùng đi với tôi được không?”

Lý Sơn quay người lấy ở trong ngăn kéo ra mấy tờ giấy, đưa cho Trần Hồng rồi nói: “Mấy ngày gần đây tôi có việc không thể rời đi được. Đây là đơn thuốc mà thầy lang Triệu đã viết cho vợ tôi, anh cứ đưa cái đơn thuốc này cùng một trăm lạng bạc, nhất định ông ấy sẽ tin anh thôi. Hơn nữa, trong thôn cũng không còn bệnh dịch nữa, tôi cùng với vợ đã bàn bạc sẽ quay trở về, chúng ta sẽ gặp nhau ở trong thôn nhé”. Trần Hồng đồng ý, nhận lấy đơn thuốc và bạc rồi ra đi.

Mấy tháng sau, Lý Sơn cho cả nhà chuyển về lại trong thôn. Vào buổi tối, Trần Hồng ở nhà làm cơm mời Lý Sơn đến, Lý Sơn nhìn vào trong nhà không thấy bóng dáng đứa nhỏ đâu, sốt ruột hỏi: “Chuyện này là sao? Thầy lang Triệu không chịu trả lại con nhỏ cho anh hả?”

Trần Hồng lắc đầu nói: “Không phải là ông ta không chịu, mà tôi căn bản không làm sao mở miệng được. Ngày đó, tôi đã tìm được y quán của thầy lang Triệu, nhìn thấy thầy lang ôm đứa nhỏ, vừa âu yếm, vừa vui cười, nhớ tới ông ta không sợ ôn dịch, liều mạng đến thôn chúng ta chữa bệnh, cứu sống hơn mười người trong thôn, cũng đã cứu cả vợ chồng tôi, tôi thật sự không thể mở miệng ra được”.

Lý Sơn trầm ngâm nói: “Anh đã không đành lòng nói, hay là để tôi đi một chuyến?”

Trần Hồng gạt đi mà nói: “Hay là thôi đi, biết rõ con đã khỏe mạnh, lại có được một người cha tốt như thầy lang Triệu, tôi thấy như vậy là đủ rồi. Huống gì thầy lang Triệu là một người tốt đã cứu sống được bao nhiêu người, tôi cũng là người biết ơn ông ấy, không thể làm cho ông ấy đau lòng được”.

Lý Sơn chỉ vì lời hứa với Trần Hồng mà đã hai lần đặt con của mình lên bàn cân, nhưng anh ta thà giữ lấy chữ tín chứ nhất định không vì lợi riêng cho mình. Trần Hồng cũng vì ân nghĩa của thầy lang mà quyết định không lấy lại con. Lý Sơn và Trần Hồng quả là hai người đầy nghĩa khí, thật sự là người thời nay khó ai có thể sánh bằng được.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-14-2019 , 04:27 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chúng ta thường hay nói vui ‘rất tinh tế’, nhưng ‘tế’ nghĩa là gì?
Share.

Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai.

Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.

-Xinh xắn
Đa phần mọi người hay lầm tưởng ‘xinh xắn’ là từ láy và cho rằng chữ ‘xắn’ vô nghĩa. Nhưng không, đây là từ ghép đẳng lập, trong đó:

– Xinh là đẹp, cũng có nghĩa là lịch sự. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích ‘xinh trai’ là chàng trai lịch sự.

– Xắn là sáng, chói, cũng có nghĩa là đẹp. Chữ ‘xắn’ này, vốn là từ sinh đôi của chữ ‘xán’ trong ‘xán lạn’ có nghĩa là rực rỡ, sáng chói (thường bị viết sai thành ‘sáng lạng’).

Từ sinh đôi hay song lập thể (doublet) là một thuật ngữ của ngôn ngữ học, tạm hiểu là những cặp từ có chung nguồn gốc nhưng phát âm khác nhau.

-Sáng láng.
Đây là từ gốc Hán, viết là 爽朗, trong đó:

– Sáng âm Hán Việt đọc là ‘sảng’. Tên nữ diễn viên Trịnh Sảng chính là chữ này.

– Láng âm Hán Việt đọc là ‘lãng’.

Cả ‘sáng’ và ‘láng’ (tức ‘sảng’ và ‘lãng’) đều có nghĩa là sáng, rõ, trong.

‘Sáng láng’ là từ ghép đẳng lập trong khi vẫn hay bị nhầm là từ láy và chữ ‘láng’ thường không dùng một mình do nhiều người không rõ nghĩa.

-Tinh tế.
Từ gốc Hán, viết là 精细, trong đó:

– Tinh là gạo giã cho trắng sạch, những thứ đã lọc hết tạp chất gọi là tinh;

– Tế là những vật, những thứ nhỏ, mịn.

‘Tinh tế’ là từ ghép đẳng lập dùng để chỉ những thứ, những cảm xúc tỉ mỉ, kĩ lưỡng, chi tiết, sâu sắc, mang yếu tố tinh tuý.

-Thân thích.
Từ gốc Hán, viết là 亲戚, trong đó:

– Thân là gần, họ hàng gần, thường dùng chỉ họ bên nội;

– Thích là bà con khác họ, thường dùng chỉ họ bên ngoại.

Người ta vẫn nói ‘nội thân ngoại thích’ dùng để chỉ họ hàng hai bên nội ngoại. Ngày nay, chữ ‘thân’ thì còn dùng nhiều, khi nói ‘người thân’, người ta cũng không phân biệt bên nội hay bên ngoại. Nhưng chữ ‘thích’ này hiện nay rất ít khi dùng riêng biệt, khi nói ‘người thích’ thì hẳn là đang nói tới người mình thích và ngưỡng mộ.

-Mông muội.
Từ gốc Hán, viết là 蒙昧, trong đó:

– Mông là tối, bị che lấp. Chỗ mặt trời lặn gọi là đại mông;

– Muội là mờ mờ, tối tăm.

‘Mông muội’ không phải là từ láy mà là từ ghép, ban đầu dùng để chỉ giai đoạn đầu xã hội nguyên thuỷ, khi đời sống con người còn nhiều u mê, như ‘thời kì mông muội’. Về sau, ‘mông muội’ còn dùng để chỉ sự ngu ngơ, khờ dại, như ‘đầu óc mông muội’, ‘con người mông muội’.

-Đo đạc.
Từ Hán Nôm, trong đó:

– Đo là tiếng Nôm, viết là 都, đọc là /đo/, nghĩa là dùng thước để so xem dài ngắn rộng hẹp;

– Đạc là từ gốc Hán, viết là 度, (một âm khác là “độ”), đọc là /dù/, nghĩa là ước chừng, mưu tính.

‘Đo đạc’ là từ ghép, đều mang nghĩa là đo, ước chừng, tính toán khoảng cách. Hiện tượng ghép từ đồng nghĩa giữa Hán và Nôm thật ra rất phổ biến trong tiếng Việt.

-Đau điếng.
Từ Hán Nôm, trong đó:

– Đau là tiếng Nôm, viết là 𤴬, đọc là /đau/, nghĩa là nhức nhối, xót xa, cũng có nghĩa là cực khổ, khó ở, bệnh hoạn;

– Điếng là từ gốc Hán, viết là 酊, đọc là /dīng/. Về nguồn gốc, chữ 酊 có âm Hán Việt là đính, nghĩa là (say) không còn biết gì.

Trong ngôn ngữ đời thường, ‘đính’ đã biến âm thành ‘điếng’, hiện tượng biến âm ~inh thành ~iêng khá phổ biến trong tiếng Việt, như ‘chinh’ thành ‘chiêng’ (‘trống chinh’ thành ‘trống chiêng’).

‘Đau điếng’ là từ ghép dùng để diễn tả con đau đến mức mất cảm giác, đau đến mức không còn biết gì.

-Thu thập.
Từ gốc Hán, viết là 收拾, đọc là /shōushi/, trong đó:

– Thu là bắt, như ‘thu giám’ là ‘bắt giam’;

– Thập là nhặt nhạnh.

‘Thu thập’ là từ ghép mang nghĩa là góp nhặt, tập hợp, gom góp lại.

-Săn sóc.
Từ Việt gốc Hán, trong đó:

– Săn là truy đuổi (trong săn thú, săn đuổi). Tiếng Hán viết là 趁, đọc là /chèn/, âm Hán Việt đọc là ‘sấn’;

– Sóc là chăn nuôi, nuôi dưỡng. Tiếng Hán viết là 畜, đọc là /chù/, âm Hán Việt đọc là ‘súc’ (trong gia súc).

‘Săn sóc’ là từ ghép với nguồn gốc là một ‘thuật ngữ’ của nghề chăn nuôi, chỉ việc săn bắt và nuôi dưỡng thú. Sau này, có lẽ người ta không săn bắt thú nữa (chuyển sang mua bán hết rồi) nên cái nghĩa săn bắt bị mờ dần đi, chỉ còn cái nghĩa chăn nuôi, nuôi dưỡng. Thành ra, ‘săn sóc’ trở thành động từ mang nghĩa chăm nom, chăm sóc.

-Hống hách.
Từ gốc Hán, viết là 吼吓, đọc là /hǒu xià/ trong đó:

– Hống là gào, thét, gầm, rống;

– Hách là doạ nạt.

‘Hống hách’ là từ ghép, ban đầu có nghĩa là lớn tiếng nạt nộ, gào thét để thị uy. Sau này dần biến nghĩa trở thành từ dùng chỉ thái độ ra oai để tỏ rõ uy quyền. Ví như việc cán bộ mà tỏ thái độ khinh khỉnh, coi thường dân thì bị cho là có thái độ ‘hống hách’ dù cán bộ không có gào thét gì.

‘Thái độ hống hách’ thật ra không đúng lắm, vì ‘hống hách’ là động từ, không phải tính từ, không thể dùng miêu tả thái độ.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-15-2019 , 04:08 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Trí tuệ trong chiếc cân đòn: Vì sao thời cổ đại quy định 16 lạng bằng 1 cân?
Share.

Cân đòn hồi xưa được làm từ gỗ, trên đòn gỗ có 16 vạch khắc, một khắc tượng trưng cho một lạng. Cân đòn trông có vẻ rất đơn giản, tuy nhiên lại ẩn chứa rất nhiều trí tuệ.

Mọi người thường hay dùng cụm từ “kẻ tám lạng người nửa cân” để hình dung về hai sự vật giống nhau, đó là vì cân thời cổ đại sử dụng có quy định là 16 lạng bằng một cân, vì thế nửa cân mới bằng tám lạng.

Cân đòn bao gồm cán cân, quả cân, và đĩa cân. Truyền thuyết kể rằng cân đòn gỗ được Lỗ Ban sử dụng nguyên tắc đòn bẩy phát minh ra. Đồng thời, dựa theo Bắc Đẩu thất tinh và Nam Đẩu lục tinh khắc 13 vạch khắc trên đòn cân, quy định 13 lạng bằng 1 cân.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước, ông đã thêm ba vạch khắc tương ứng với tam tinh “Phúc Lộc Thọ”, đổi thành 16 lạng bằng 1 cân. Vạch khắc nhất định phải là màu trắng hoặc là màu vàng, không được dùng màu đen, hàm ý rằng khi kinh doanh buôn bán phải công bằng chính trực, không được mang tâm đen tối.

Vạch khắc đầu tiên trên cân đòn gọi là “định bàn tinh”, vị trí của nó là điểm treo của quả cân với móc cân khi quả cân ở vị trí cân bằng. Điểm mấu chốt nhất khi làm cân đòn đó là phải chọn thật chuẩn “định bàn tinh”. Vì vậy, người ta thường dùng cụm từ “định bàn tinh” để ví von chuẩn mực của sự vật.

Khi buôn bán, tay của thương nhân nhấc dây núm treo đầu cân lên, gọi là “cân hào”. Ý nghĩa của nó là khi bạn đang cân đo thì phải quan sát rõ đến chân tơ kẽ tóc, tuyệt đối không được qua loa đại khái.

Một khi cân được nhấc lên thì đầu tiên sẽ thấy “định bàn tinh”, nhắc nhở thương nhân phải cân nhắc đến lương tâm, bất kể là buôn bán thứ gì cũng không được cân thiếu.

Nếu như cân thiếu cho người ta thì sẽ bị tổn hại âm đức, trong đó thiếu một lạng gọi là “Tổn phúc”, thiếu hai lạng gọi là “Tổn lộc”, thiếu ba lạng gọi là “Tổn thọ”. Nhằm ám chỉ người làm ăn buôn bán phải thật tâm, không thể trái với lương tâm mà làm những chuyện tổn hại lợi ích của người khác.

Nhân quả của cân đòn.

Thời nhà Minh, trong thành Dương Châu có một phú ông phát tài nhờ mở tiệm tạp hóa, ông ta có một cậu con trai, hai người cháu, cuộc sống tương đối sung túc đầy đủ.

Sau đó phú ông đổ bệnh, lúc lâm chung ông cầm một chiếc cân đòn, dặn dò người con trai đang túc trực bên cạnh rằng: “Đây chính là tuyệt chiêu kiếm tiền của cha! Bên trong chiếc cân đòn này trống rỗng, và đã được rót đầy thủy ngân, vì thế khi cha buôn bán kiếm tiền đều dễ như trở bàn tay, nên mới có cơ đồ như hôm nay, con phải khôn khéo tận dụng chiếc cân này”.

Người con trai nghe xong trong lòng không khỏi kinh ngạc, không ngờ cha của mình lại có thể làm chuyện thất đức như vậy. Nhưng vì cha đang bệnh nặng, không muốn cãi cọ với cha vào lúc này nên đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

Sau khi người cha mất, con trai mang chiếc cân đi đốt, hơn nữa tích cực hành thiện, cứu tế người nghèo để bù đắp cho tội lỗi xưa kia của cha mình. Anh ta thành tâm hành thiện như vậy chưa đến 3 năm thì gia sản đã tiêu tốn hơn một nửa, nhưng đối với anh ta mà nói đó là can tâm tình nguyện.

Nhưng thật không ngờ hai cậu con trai của anh ta còn nhỏ tuổi mà lại lần lượt qua đời, điều này khiến anh ta vô cùng đau khổ, anh không hiểu tại sao lại xảy ra chuyện như vậy. Từ đó về sau, anh ta thường xuyên oán trách kêu than ông trời không có mắt, hành thiện mà không được báo đáp.

Một đêm nọ, anh ta nằm mơ thấy mình đi đến một nơi, hình như là cung điện. Anh ta nhìn thấy một vị quan ngồi trên điện, nói với anh ta: “Cha của ngươi có thể làm giàu là kết quả từ kiếp trước ông ta bố thí của cải. Sự giàu có này đã được định sẵn trong sinh mệnh, thực ra không phải là dựa vào chiếc cân thủy ngân đó.

Tuy nhiên lòng dạ ông ta không ngay thẳng, dùng thủ đoạn đê hèn, đã tăng thêm tội nghiệp của bản thân, đến chết vẫn không hối cải, nên bây giờ đang phải chịu báo ứng khổ cực.

Trời cao biết ông ta có dụng tâm làm điều tham lam độc ác, vì thế đã phái 2 vị thần đầu thai làm con trai của ngươi, để hủy hoại gia nghiệp của ngươi. Sau khi gia nghiệp bị tiêu tán, thì chúng sẽ rời đi. Còn ngươi cũng sẽ phải gánh vác tội ác của cha ngươi, không những ăn không đủ no mà còn đoản mệnh.

Cha của ngươi cho rằng để lại nhiều gia sản cho con cháu, thì chúng nhất định dùng mãi không hết; nhưng ông ta không biết được rằng, con của mình không thể trường thọ, cháu của mình đến chính là để phá hoại gia nghiệp.

Giờ may mà ngươi có chút lòng lương thiện, ba năm liền thành thật hành thiện để bù đắp lại tội nghiệp của cha. Vì vậy ông trời đặc biệt ra lệnh cho ta đến gọi hai tên phá gia chi tử đó trở về, chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện hiếu tử, nhất định sẽ làm rạng danh cho đời sau của ngươi, đồng thời tăng thêm tuổi thọ. Ngươi nên tiếp tục hành thiện, không được oán trách thiên đạo không công bằng”.

Sau khi anh ta tỉnh dậy mới bừng tỉnh đại ngộ: “Thì ra là như vậy”. Từ đó về sau anh ta lại càng tích cực hành thiện, sau đó quả nhiên sinh liền hai cậu con trai, đồng thời hai cậu con trai lớn lên đều đậu tiến sĩ.

Cân đo lòng người.

Từ đó có thể thấy, để phát minh ra cân người xưa đã phải hao tâm khổ tứ thế nào. Những vạch khắc này từng giây từng phút đều nhắc nhở người làm ăn buôn bán nhất định phải buôn bán công minh, không được cân thiếu, nếu không chẳng khác nào tự hại mình.

Thực ra ở đây đã đưa ra một đạo lý mà con người ngày nay ngày càng xem nhẹ, đó chính là hành thiện tích đức thì phúc nhiều lộc lớn, kéo dài tuổi thọ; ngược lại thì tổn phúc hại lộc, tuổi thọ bị giảm. Con người hiện đại khi theo đuổi tiền tài, thậm chí đã đạt tới mức độ “người không vì mình, trời chu đất diệt”. Thực tế này quả là bi kịch của nhân loại.

Người cổ xưa luôn cảnh tỉnh mọi người, buôn bán phải công bằng, làm ăn phải có đạo lý. Vì vậy chiếc cân trong mắt mọi người chính là biểu trưng cho sự chính trực vô tư, quang minh lỗi lạc.

Gia Cát Lượng đã từng nói: “Lòng ta như chiếc cân, không thể lúc cao lúc thấp theo ý kẻ khác được”, cách nói này đã vượt qua phạm vi làm ăn buôn bán trên thị trường mà thăng hoa đến cao độ trong nhân cách và đạo đức.

Có thể thấy cổ nhân đã sáng tạo ra 16 lạng và 16 vạch khắc trên cân đòn, tác dụng của chúng không phải chỉ để cân đo trọng lượng của vật thể, mà còn để cân đo lòng người.

Bất luận là người dùng cân hay làm cân đều phải công chính, công bằng, công đạo. Chiếc cân đòn này có thể cân được sự thành tín, chính nghĩa của con người, đó chính là nội hàm được truyền thừa trong văn hoá truyền thống mấy ngàn năm.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-15-2019 , 04:14 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Đạo kinh doanh của thương nhân xưa: Ai cũng có ngày mưa không mang dù.
Share.

Vàng bạc châu báu đều không phải là kho báu thực sự, chỉ có nhân cách, mới là bảo vật lớn nhất của đời người… Đó chính phần triết lý thể hiện cái đạo kinh doanh của thương nhân nổi tiếng Hồ Tuyết Nham.

Một buổi sáng đầu xuân, Hồ Tuyết Nham đang ở trong phòng khách trao đổi với người phụ trách kinh doanh ở các chi nhánh về vấn đề đầu tư. Khi nói về một vài đầu tư gần đây, sắc mặt của Hồ Tuyết Nham chợt trở nên nghiêm nghị.

Các trưởng chi nhánh gần đây thực hiện một số đầu tư, tất cả đều thành công. Chỉ là, có một chi nhánh lợi nhuận thu về quá thấp. Hồ Tuyết Nham cau mày, giáo huấn người phụ trách chi nhánh lợi nhuận thấp đó, nói rằng lần sau trước khi đầu tư phải phân tích thật kỹ thị trường, không được tùy tiện đầu tư.

Hồ Tuyết Nham còn chưa nói xong, thì bên ngoài có người tới báo, nói rằng có một thương nhân có chuyện gấp cần gặp ông. Thương nhân này sắc mặt đầy lo lắng.

Vốn là, vị thương nhân này trong một thương vụ làm ăn gần đây đã bị thất bại, nên cần gấp một số tiền lớn để quay vòng. Bởi vì gấp rút, nên ông muốn bán toàn bộ gia sản của mình với giá thấp cho Hồ Tuyết Nham.

Sau khi nghe xong, các trưởng chi nhánh bàn tán xôn xao, đúng là một cơ hội hiếm có, và khuyên Hồ Tuyết Nham đừng bỏ lỡ.

Không ngờ rằng cách giải quyết của Hồ Tuyết Nham lại khiến tất cả mọi người đều ngạc nhiên.

Hồ Tuyết Nham nhanh chóng hẹn thương nhân này ngày hôm sau đến bàn chuyện, rồi sau giao cho cấp dưới đi tìm hiểu gấp xem chuyện có thật hay không. Cấp dưới quay lại rất nhanh, nói đã xác nhận chuyện của vị thương nhân đó đúng là như vậy.

Hồ Tuyết Nham nghe xong, ngay lập tức chuẩn bị tiền, sẵn sàng cho giao dịch ngày hôm sau.

Ngày hôm sau, Hồ Tuyết Nham mời vị thương nhân kia đến, không những đồng ý mua, mà còn mua những bất động sản và cửa hàng của ông này theo giá thị trường, giá này cao hơn giá ban đầu đưa ra. Vị thương nhân rất kinh ngạc, không hiểu vì sao Hồ Tuyết Nham lại không mua với giá rẻ, mà lại nhất quyết mua theo giá thị trường.

Hồ Tuyết Nham vỗ vai của vị thương nhân, bảo ông hãy yên tâm, và nói rằng, mình chỉ tạm thời giúp ông bảo quản số tài sản thế chấp này thôi, đợi đến khi ông vượt qua giai đoạn này, sẽ bán lại những bất động sản này lại cho ông, cùng với một chút ít tiền lãi.

Cách hành xử của Hồ Tuyết Nham làm cho thương nhân vô cùng cảm kích, ký xong thỏa thuận, ông thở dài, rưng rưng trở về nhà.

Thương nhân vừa đi, cấp dưới của Hồ Tuyết Nham vẫn không thể nào hiểu được.

Mọi người hỏi Hồ Tuyết Nham, rằng vì sao một số chi nhánh lợi nhuận thấp thì bị giáo huấn cả ngày, còn vụ đầu tư này của ông lợi nhuận còn thấp hơn nhiều, sao ông vẫn quyết định đầu tư, vả lại mỡ treo tận miệng còn không ăn, không thừa dịp đối phương đang cần tiền để hạ giá, mà còn chủ động trả giá cao hơn.

Ai cũng đều có lúc gặp phải ngày mưa không mang dù, mình cũng không ngoại lệ

Hồ Tuyết Nham, kể lại một trải nhiệm hồi còn trẻ của mình: “Khi tôi vẫn là một cậu bé, có một ngày đang vội đi trên đường thì gặp mưa, có một người đi cùng đường bị mưa xối ướt sũng.

Ngày hôm đó cũng may là tôi mang theo dù, tôi liền cho người đó đi cùng. Sau này, khi trời mưa, tôi thường cho một số người không có dù đi nhờ. Cứ như vậy một thời gian lâu, những người trên đường ngày càng có nhiều người biết tôi.

Vì thế lúc tôi quên không mang theo dù cũng không lo, bởi vì sẽ có rất nhiều người mà tôi từng giúp sẽ cho tôi đi cùng”.

Hồ Tuyết Nham tiếp tục cười nói: “Bạn cho người khác đi nhờ, người khác mới nguyện ý cho bạn đi nhờ”.

“Sản nghiệp của thương nhân đó, có thể là mấy đời mới tích góp được, nếu tôi mua theo cái giá mà người đó đưa ra, thì chắc chắn sẽ kiếm được món hời lớn, nhưng có thể người ta cả đời sẽ không ngóc lên được.

Đây không phải là một đầu tư đơn thuần, mà là một cách giúp đỡ người khác, kết giao bạn bè, cũng không hổ thẹn lương tâm. Ai cũng có lúc gặp phải ngày mưa không mang dù, có thể giúp họ thì hãy chìa dù ra che cho họ”.

Mọi người nghe xong, tất cả đều im lặng.

Sau này, thương nhân lấy lại sản nghiệp của mình, cũng trở thành bạn hợp tác trung thành với Hồ Tuyết Nham.

Kỳ thực thì mình mới là người được hưởng lợi nhiều nhất

Sau đó, ngày càng nhiều người biết đến nghĩa cử của Hồ Tuyết Nham, và rất bội phục ông.

Người dân ở đó đều rất kính nể cách đối đãi có tình có nghĩa của Hồ Tuyết Nham. Công việc làm ăn của Hồ Tuyết Nham cũng trở nên thuận lợi vô cùng, bất luận là kinh doanh trong lĩnh vực nào, thì cũng đều có người giúp đỡ, càng ngày càng có nhiều khách hàng đến ủng hộ.

Vàng bạc châu báu, đồ cổ tranh chữ đều không phải là kho báu thực sự; lực hấp dẫn của nhân cách, mới là kho báu lớn nhất của đời người. Đó cũng chính là bí quyết thành công của Hồ Tuyết Nham.

Thành công của một người, là không chỉ dựa vào sự nỗ lực của chính mình! Vì thế khi người khác gặp khó khăn, nếu có thể hãy chìa tay ra giúp đỡ họ.

Ghi chú: Hồ Tuyết Nham (1823-1885) là thương gia giàu nhất Hàng Châu cuối thế kỷ 19. Sự nghiệp làm ăn của ông là cả một huyền thoại. Ông xuất thân là một người nghèo ở tỉnh An Huy, đến Hàng Châu giúp việc cho một ngân hiệu. Sau này ông có ngân hiệu riêng và mở rộng kinh doanh đến nhiều lĩnh vực khác.

Đường hướng kinh doanh của ông đến ngày nay vẫn còn hợp thời. Một loạt tư tưởng “chân thực”, “đúng giá”, “chọn mua hàng tốt”, “bào chế hàng thật”, “vì chữ tín”, “cội nguồn đời sống” mà ông từng áp dụng, đều là cách thức lấy chữ tín để lập nghiệp mà người kinh doanh ngày nay rất cần phải học hỏi.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-15-2019 , 04:18 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Lễ Vu Lan khởi nguồn từ câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ.
Share

Trong Phật giáo, ngày 15 tháng Bảy âm lịch, được gọi là Ngày Tự tứ, đồng thời cũng được người thời nay gọi là ngày Vu Lan Bồn Tiết, gọi tắt là lễ Vu Lan. Ngày lễ này bắt nguồn từ câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ.

Theo tăng nhân Thích Chí Bàn triều đại Nam Tống ghi chép lại trong “Phật tổ thống kỷ”, ngày lễ Vu Lan bắt đầu sớm nhất tại Trung Quốc vào thời Nam Bắc triều năm 538, lúc ấy Lương Vũ đế mang chậu đồ chay Vu Lan đến chùa Đồng Thái (hiện tại là chùa Nam Kinh Kê Minh) nhờ chư tăng cúng.

Từ đó trở đi, ngày rằm tháng Bảy hàng năm, lễ Vu Lan được tổ chức ở nhiều chùa khác. Đến thời nhà Đường, thì lễ Vu Lan được tổ chức rộng khắp và rất long trọng. Ngày lễ Vu Lan khởi nguồn từ câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ.

Mục Kiền Liên là người có thần thông đệ nhất trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi tu luyện xuất được thần thông, ông liền muốn báo đáp công ơn sinh dưỡng của mẫu thân.

Ông dùng công năng thiên nhãn thông thấy được mẹ của mình rơi vào cõi ngạ quỷ trong lục đạo luân hồi, bởi vì phải hoàn trả nghiệp đã tạo ra khi còn sống nên bà đã bị tra tấn, không được ăn uống, toàn thân chỉ còn da bọc xương.

Mẫu thân của Mục Kiền Liên rốt cuộc đã tạo nghiệp nghiêm trọng gì mà phải chịu tội như vậy? Khi còn sống, bà là người rất tham lam, hay nổi giận, ác niệm rất nặng, lại còn không tu khẩu, không tu dưỡng hành vi, đối xử cay nghiệt với mọi người, hơn nữa lại phỉ báng Phật, Pháp, Tăng.

Mục Kiền Liên là một người con hiếu thảo, chứng kiến mẫu thân chịu khổ chịu đói, ông đã không cầm được lòng, dùng thần thông hóa ra một bát thức ăn đưa đến trước mặt mẫu thân.

Mẫu thân Mục Kiền Liên lấy được đồ ăn, sợ quỷ đói khác giành ăn, vội vàng tay trái che bát lại, tay phải vội vàng bốc đồ ăn cho vào miệng, nhưng khi đồ ăn cứ lên đến trước miệng thì lại hóa thành than nóng, không thể nào ăn được, mà khi than nóng rơi xuống mặt đất thì lại biến trở lại thành đồ ăn.

Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng bi thương! Mặc dù có thần thông quảng đại, nhưng không thể cứu giúp được mẹ của mình.

Thế là Mục Kiền Liên liền đi đến hỏi Đức Phật, rằng làm thế nào mới có thể cứu giúp mẹ mình thoát khỏi cõi ngạ quỷ.

Đức Phật nói: “Mẹ của ông nghiệp sâu nặng, một người không thể cứu độ được, cần phải dùng thần uy của chúng tăng thập phương mới có thể cứu được”. Đức Phật bảo ông rằng, ngày mười lăm tháng Bảy chính là cơ hội. Nói như người ngày nay, thì ngày này có năng lượng rất mạnh mẽ. Tại sao lại nói như vậy?

Ngày 15 tháng Bảy, ngày các tăng ni xuất gia hoàn thành mùa An Cư Kiết Hạ (Mùa hạ từ ngày 16/04-15/07 âm lịch, các tăng ni chỉ ở trong chùa chuyên tâm ngồi thiền tu học, không ra ngoài), và trong ngày này phải ra ngoài sám hối tội nghiệp của mình (gọi là ngày “Tự tứ”) chấm dứt Hạ An Cư, cho nên ngày này năng lượng thiện mạnh nhất.

Đức Phật dặn dò Mục Kiền Liên, vào ngày này chuẩn bị ngũ quả, bữa cơm trăm vị và quần áo, đủ loại dụng cụ, cho vào trong cái chậu, thỉnh mời chúng tăng thập phương đến cúng dường, cùng phát ra thiện niệm cầu nguyện thì mới có thể cứu được mẹ. Sau đó Mục Kiền Liên đã làm theo lời dạy của Đức Phật và cứu được mẹ mình ra khỏi cõi ngạ quỷ.

Thiện ác tất có báo ứng.

Câu chuyện Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi cõi ngạ quỷ là có sự tương đồng với tư tưởng “hiếu đạo” của Nho gia trong văn hóa truyền thống. Con cái hiếu đạo với cha mẹ, đây là gốc rễ làm người, là đạo lý thuận trời đất và cũng là truyền thống xưa nay của người phương Đông nói riêng và con người thế gian nói chung.

Mặt khác, nó cũng thể hiện ra đạo lý bất biến “thiện ác có báo”. Nghĩa là một người nếu sống mà làm việc thiện thì sẽ được thiện báo. Trái lại, nếu một người sống mà làm nhiều việc ác, tạo nghiệp thì bản thân nhất định sẽ phải hoàn trả.

Mẹ của Mục Kiền Liên khi còn sống tham lam, ích kỷ, thậm chí còn phỉ báng tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) nên khi chết bị đày đọa xuống cõi ngạ quỷ chịu tội. Điều này cũng cho thấy, con người ta khi sống mà tạo nghiệp thì chỉ có thể tự mình chịu khổ để trả nghiệp mới có hy vọng được thoát ly khỏi khổ ải.

Cho dù là một người có thần thông quảng đại như Mục Kiền Liên cũng không thể gánh thay được nghiệp của người khác, dù đó là cha mẹ hay người thân thích của mình. Đây cũng chính là lý do Mục Kiền Liên thần thông quảng đại nhưng cũng không thể tự cứu được mẹ thoát khỏi cõi ngạ quỷ.

Cho nên, xưa nay trong cả Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo đều dạy con người sống phải hành thiện tích đức. Việc tu hành là ở ngay tại bản thân mình, nhận được thiện báo hay ác báo là do bản thân mình mà ra.

Nhưng câu chuyện cũng cho chúng ta thấy một điều kỳ diệu, chính là khi con người tỉnh ngộ, làm nhiều việc thiện, có rất nhiều năng lượng thiện lành được ngưng tụ lại thì sẽ khiến Thần Phật cảm động và có thể cứu vớt được tội lỗi của mình.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3794
Old 08-15-2019 , 04:27 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Mỗi người đều đang hạnh phúc, chỉ là hạnh phúc của bạn thường nằm trong mắt người khác.
Share.

Con người luôn ngưỡng mộ, ham thích hạnh phúc của người khác, bỗng có lúc quay đầu nhìn lại phát hiện cuộc sống của chính mình đang được người khác ngưỡng mộ. Vậy hạnh phúc rốt cuộc nằm ở đâu? Câu chuyện ngụ ngôn về bữa ăn của voi và thỏ dưới đây có lẽ sẽ cho bạn câu trả lời…

Một con voi trưởng thành một ngày phải ăn 150kg cỏ mới đủ no. Một con thỏ trưởng thành thì ăn đâu đó khoảng 0,15kg một ngày là đã thấy ổn. Mọi chuyện bao năm qua vẫn vậy, cho đến khi có Facebook.

Mỗi người đều đang hạnh phúc, chỉ là hạnh phúc của bạn thường nằm trong mắt người khác.

Một hôm thỏ lướt Face, xem được ảnh của voi chụp bữa ăn của mình, thỏ choáng váng lắm, bởi nó lớn gấp cả ngàn lần bữa ăn của thỏ. Tự nhiên thỏ thấy bữa ăn của mình thật xoàng xĩnh, cuộc sống của mình thật kém cỏi, thỏ nghĩ phải là bữa ăn 150kg kia mới đáng gọi là bữa ăn, thế nên mỗi ngày dù vẫn ăn 0,15kg cỏ (vì có nhiều hơn cũng chả ăn nổi) nhưng thỏ không còn thấy vui nữa, chỉ mơ có ngày được ăn bữa ăn như của voi…

Voi thực ra cũng không sướng như thỏ nghĩ. Bữa ăn của nó đúng là hoành tráng thật, nhưng chỉ cần hôm nào đó ăn ít hơn 150kg cỏ thì chắc chắn là đói, nên nếu có một thảm họa nào đó như hạn hán, cỏ không còn nhiều thì voi mới là con dễ chết vì đói chứ không phải thỏ. (65 triệu năm trước, khủng long tuyệt chủng phần lớn là vì đói chứ vì thiên thạch thì chắc cũng không nhiều)…

Bữa ăn của thỏ và voi có thể khác nhau đến cả ngàn lần, nhưng cảm giác no và đói của hai con đều giống nhau. Cảm giác hạnh phúc của chúng ta cũng vậy, một chị nông dân bán hết được mẻ rau lãi vài trăm ngàn thì lòng cũng lâng lâng sung sướng như một anh buôn bất động sản vừa bán được căn chung cư lãi vài trăm triệu.

Cảm giác hạnh phúc của chúng ta giống nhau, nhưng ai cũng có một định mức hạnh phúc riêng, phù hợp với điều kiện cuộc sống của mình. Voi không thể ăn theo mức no của thỏ, và ngược lại, thỏ cũng không ăn được theo mức no của voi. Hãy sống đúng với định mức hạnh phúc của mình, như vậy sẽ dễ tìm được hạnh phúc nhất. Đừng mê mải lướt Face để rồi cứ phải sống theo định mức hạnh phúc của người khác, như vậy thì khó mà hạnh phúc lắm. Đặc biệt là trên Facebook ai trông cũng có vẻ hạnh phúc cả…
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 07:22 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.