VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-02-2016 , 07:06 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
HỒI MƯỜI LĂM
TẠI QUÁN “CÂY CÒN” ĐÀN CHÓ ĐẦY PHẪN NỘ
NƠI NHÀ HỌ TRẦN CHÓ TRẮNG BÁO ƠN XƯA

Tế Phật: Các loài cầm thú cùng tất cả chúng sinh là một,
vì thú và người cùng ở trên mặt đất, chúng lại được trời
cao ban cho quyền sống giống như người. Người đời đói
biết ăn no, rét biết mặc ấm, biết đau biết đớn, cho nên
cũng là loài sinh vật có tình cảm, có giác quan, sinh mệnh
quả là có nhiều sinh lực. Người ta lúc không còn sự sống
chẳng khác nào là đồ phế thải. Nhân loại có được loài vật
thân yêu do trời sinh ra để cùng chung sống quý hóa biết
bao, bởi vậy phải biết luật sống hòa đồng để duy trì mối
tương quan tương ái. Loài vật hóa trang giúp loài người là
những diễn viên trên trái đất, nên loài vật đã trở thành bạn
đường thân thiết của loài người. Song có một thiểu số
thiên lệch, không chịu nhìn nhận sự thực này, để rồi đưa
đến cảnh giết chóc khiến thịt đổ máu rơi.

Bữa nay thầy
hướng dẫn Dương Sinh phỏng vấn một số động vật để
thâu lượm tài liệu sống khuyến hóa bến mê.
Tế Phật: Bán anh em xa mua láng giềng gần, bữa nay
chẳng cần đi xa, tới chợ ở Đài Trung cũng gặt hái được kết
quả.
Dương Sinh: Thưa gặt hái kết quả gì?
Tế Phật: A, thịt cầy nướng. Con hãy nhìn quán bên
đường kia, trên lồng đèn có viết dòng chữ “Mộc Tồn
Vương Nhục”.
Dương Sinh: Thưa con đã nhìn thấy cái lều bán thịt chó
dựng bên đường, ban ngày đi qua đây không thấy có chợ
họp.
Tế Phật: Chợ thịt cầy thường họp vào ban đêm lúc khí
trời lành lạnh mới hấp dẫn.
Dương Sinh: Có nhiều chó sủa bên ngoài quán, giống như
muốn nhào vô cắn người trong quán, có kẻ nằm lăn ra ngủ,
có kẻ ngồi trên ghế không giống khách hàng, hai mắt đỏ
ngầu, nắm tay đập xuống bàn rầm rầm, như có ý đòi nợ
chủ quán.
Tế Phật: Đó là những nguyên linh chó bị giết thịt, sau khi
chết trong lòng uất ức, liền theo máu thịt núp trong quán,
khách ăn thịt uống rượu rất khoái chí nhưng không hay
phía sau lưng, oan hồn chó sủa không dứt. Những kẻ ngồi
trên ghế nắm tay đập bàn rầm rầm cũng là một oan hồn
chó bị giết, vì nguyên linh mạnh mẽ nên nó đã hóa thành
hình người, lòng vô cùng phẫn uất, khăng khăng đòi nợ kẻ
đã giết nó, quả là hồn oan chẳng thể tiêu tan.Mùa đông lạnh lẽo nhiều kẻ ham ăn thịt chó, vì họ cho
rằng thân thể sẽ được nóng ấm cường dương, những người
thân thể yếu đuối cũng thường nghĩ vậy

Vì ăn nó vào thân thể nóng như thiêu như đốt,
mà vẫn chẳng hay rằng hồn chó rên siết, quằn quại, giãy
giụa, cắn nhai khiến huyết mạch trong người căng thẳng
mà còn cho là bổ béo, không biết đó là tính chó hoành
hành, lại còn cho là ơn ích, ăn rồi còn nhả ra chi bằng
chẳng ăn có hơn không? Người xưa nói: “Tiết dục tốt hơn
bồi bổ tinh dịch”. Nếu như người đời không mua thịt chó
mà ăn thì ốm o gầy yếu cả hay sao?
Dương Sinh: Thưa, thịt chó không có hương tại sao người
đời gọi là “hương nhục” tức thịt thơm?
Tế Phật: Kẻ bán thịt muốn đắt hàng mới gọi thịt chó là
“vương nhục” hay “hương nhục” cốt để quảng cáo cho
đông khách hàng. Chó hoang suốt đời không tắm, ăn xác
chết sình thối cùng phân người, hãy ngửi chó thử coi hẳn
là sẽ thấy hôi rình, các chủ quán thịt chó thử quảng cáo là
“thịt chó hôi” xem có còn thực khách nào dám tới ăn
không? Cho nên họ phải mượn cái tên đẹp đẽ “hương
nhục” hay “vương nhục” là lẽ dĩ nhiên. Nếu như họ dùng
dầu thơm tắm cho chó trước khi làm thịt thì cái tên “hương
nhục” nghe còn có lí đôi chút. Chẳng kể chó hoang, chó
có chủ thịt chúng ăn cũng không hợp vệ sinh, bởi lẽ chúng
chuyên nằm dưới đất, phần đông mang đầy vi trùng bệnh
hoạn, khuyên người đời chớ ăn là hơn.
Một khi chó đã thân cận với mình thì tình nghĩa nảy sinh
sâu đậm, chưa kể lại còn giữ cửa, coi nhà dùm, lại nỡ lòng
giết một người thân cận trung thành để ăn thịt cho bổ béo
thân xác, thì chẳng hóa ra là kẻ lòng lang dạ sói sao? Hành
động như vậy chỉ ích cho thân mà hại cho tâm, hối hận
suốt đời.

Dương Sinh: Bữa nay quán thịt cầy náo nhiệt vì thực
khách quá đông.
Tế Phật: Vì thân xác họ suy nhược rồi, không còn cách
nào ứng phó nên chỉ còn cách cầu cứu thịt chó thôi.
Dương Sinh: Thưa thịt chó bổ dưỡng cơ thể lắm sao?
Tế Phật: Giết chó không những bị cảnh sát bắt giải tòa vì
hành vi thiếu đạo đức, thiếu vệ sinh nên dù cho có bổ đi
nữa thì cũng là bổ ác, chẳng phải bổ thiện.
Dương Sinh: Thưa, vậy thì lẽ đạo đó ra sao?
Tế Phật: Chó rất trung thành với loài người, nên chẳng
nỡ giết chó ăn thịt, nuôi gà vịt để ăn thịt thì nhiều mà nuôi
chó để ăn thịt thì rất ít. Bởi vì hiếm chó cho nên những tay
buôn thịt chó thường đánh bả cho chó chết rồi đem về làm
thịt, nên thứ thịt chó đó có nhiều độc tố, ăn vào sinh ra
nhiều chứng bệnh ngặt nghèo. Chó hoang chuyên lục
thùng rác ăn đồ dơ bẩn thối tha, nên nó bị nhiễm nhiều
loại vi trùng, có lắm kẻ sau khi ăn phải loại thịt của loài
chó này, trúng độc không chữa trị nổi, bởi vậy người đời
nên cử thịt chó là hơn.
Dương Sinh: Hiện có nhiều chó đang kêu gào rên siết ở
sau quán, thưa ân sư có nên phỏng vấn chúng không?
Tế Phật: Rất cần phỏng vấn chúng, có thể phóng điển để
chúng hiện hình thuyết pháp.
Dương Sinh: Kính xin ân sư điểm hóa hầu giúp chúng
hiện hình người để cùng đàm đạo.
Tế Phật: “Chó ơi, chó ơi, các mi đều có Phật tánh, thân
tuy hôi hám song nhiều người lại nói là thịt mi thơm, hãy
ngẩng đầu lên, trước cái chết của thể xác chớ có kinh
hoàng, oán giận, bạo tợn. Người ta không sợ thịt mi hôi
mà lại còn xưng tụng là thơm, mi nên lấy đó làm hài lòng.
Hãy thử nhìn xác con người sau khi chết coi, nó thối rình,
không dám lại gần, chỗ thiêu xác chẳng ai bảo chốn đó
thơm cả. Vậy thì được làm kiếp chó là điều vinh hạnh, hãy
coi nhẹ và vất bỏ cái xác thân đã chết đó đi, mau giác ngộ
bản lai tính Phật, không được kêu la rên siết hoài như vậy
mi không cắn thân thịt của họ nổi nên họ chẳng sợ mi.
Hãy chấp nhận số mệnh, thịt hôi của mi đã thoát phàm trở
thành chả thơm với cái tên đẹp đẽ ‘hương nhục’”.
Dương Sinh: Nghe xong lời dạy của ân sư, tâm linh chúng
dường như được điểm hóa nên không còn thấy chúng oán
hận sủa vang, mà chạy lại gần thầy trò mình mắt ứa lệ, quỳ
gối, dần dần hiện rõ hình người, có nam có nữ, y phục đủ
màu, nào trắng nào đen, nào cà phê sữa, nước mắt nước
mũi chảy ròng ròng, vẻ rất thê thảm.
Tế Phật: Ta là Phật Sống Tế Công, phụng mệnh hướng
dẫn thánh bút Dương Thiện Sinh tới đây phỏng vấn, vừa
rồi ta đã ban Phật pháp điểm hóa cho các ngươi, ai nấy hãy
thuật rõ lại nghiệp quả của mình để chép vào sách Luân
Hồi Du Kí, một là lập công chuộc tội, hai là sinh linh siêu
thoát, công đức vô lượng.
Chó Mực: Cảm tạ Đức Phật Sống Tế Công đã độ hóa
cùng ân ban linh quang, chúng con chẳng may bị đầu thai
làm kiếp chó, ăn cơm thừa, gặm xương gặm xẩu. Mùa đông
giá lạnh đã không mảnh vải che thân lại còn bị người ta
đem giết, thật là đau đớn không sao tả nổi, hi vọng lời
vàng ngọc khuyên can của đức Phật Sống, kẻ lòng đang
muốn giết, muốn bán cùng người miệng thèm ăn hẳn tâm
sẽ tỉnh, kính xin ngài giải oan nghiệt cho tất cả chúng con!
Dương Sinh: Oan có thể giải không thể buộc. Các ngươi
hiện thời thân đâu còn là thân sống mà là giả thân, nên đe63
cho họ lấy xác, làm lông, ăn thịt cho thân họ ấm, há chẳng
an nhiên tự tại lắm sao?
Chó Mực: Nói thì dễ mà làm mới khó. Khi bị giết đau đớn
vô cùng, lông dựng đứng hết lên. Tôi sinh tại làng Thái
Bình huyện Đài Trung, một bữa chạy rong ngoài đường bị
một kẻ cầm gậy sắt từ phía sau đập tới trúng đầu, bể sọ,
máu chảy lênh láng, nằm lăn ra đất giãy chết. Hắn bèn
lượm lên thảy vào cốp xe hơi, trong đó có nhiều đồng loại
cũng đang rên la thảm thiết. Chúng tôi bị hắn chở về nhà,
ở nhà đã có sẵn thùng nước sôi, chúng tôi từng mạng một
bị thảy vào, có kẻ còn đang ngắt ngoải, gặp nước sôi lửa
bỏng, chồm lên kêu bạn chạy trốn, rồi sau đó mới dần dần
trút linh hồn, do đó sự thống hận tăng vượt bực. Bị nhúng
vào nước sôi cả hồn lẫn xác đau đớn, muốn vỡ tim nứt
phổi, sau đó bị lóc da, mổ bụng, lưỡi dao sắc cắt thịt nhức
buốt, vô cùng kinh hoàng. Sau khi làm thịt xong người ta
đem phân phối cho các quán thịt cầy, kiếm được tiền lời
rất nhiều, chúng tôi sẽ tố cáo với Diêm Vương.
Tế Phật: Thôi đừng tố cáo, hãy tự kiểm thảo xem kiếp
trước như thế nào?
Chó Mực: Thưa vâng, nghe lời khuyên của đức Tế Phật
lòng con lắng dịu hẳn lại. Nhớ lại kiếp trước làm quan
hành động chuyện mờ ám, chuyên tham nhũng hối lộ,
thấy vợ con của kẻ thuộc cấp có nhan sắc liền thi hành thủ
đoạn gian dâm, nếu như không nghe lời liền nghĩ kế hãm
hại. Có một người vợ của kẻ dưới quyền con rất đẹp, con
muốn mà không được liền nghĩ, trước bỏ tù chồng, sau làm
áp lực với vợ bằng cách đòi điều kiện nếu như chịu hiến
thân sẽ thả chồng ra. Người vợ vì quá thương chồng nên
đành chịu nhục hiến thân. Sau đó con nghĩ nếu thả người
chồng ra ắt chẳng còn những dịp may, cho nên lại khép tội
chồng nặng hơn, để khỏi có ngày ra tù, rồi nói dối với
người vợ là mặc dầu con đã ráng hết sức lo liệu cho chồng
nàng, nhưng không thể cứu gỡ nổi, do đó chẳng còn cách
nào khác có thể thả chồng nàng ra được. Người vợ thấy rõ
kế gian manh của con vô cùng căm phẫn và tuyệt vọng,
bèn uống độc dược quyên sinh, vì con phạm tội quá lớn
này, sau khi chết bị chuyển kiếp đầu thai làm loài chó.
Tế Phật: Trước đã như vậy, giờ phải hiến thịt cho kẻ khác
ăn há còn bất bình được sao? Kẻ ăn thịt ngươi, ngươi
không nhận ra họ là ai sao? Đó chính là người vợ bị ngươi
bức dâm nên tự sát chuyển kiếp đó, cõi u minh đã xếp đặt
để cho người đó ăn thịt ngươi, thôi ngươi quên hết những
nỗi giận hờn đi. Ngươi thấy người đó ăn rất ngon lành so
sánh với cái thuở mi làm ác chẳng kém nhau đâu, đó cũng
là lẽ nhân quả báo ứng, nên người mới ăn thịt ngươi như
thế đó. Thời gian ở tại quán thịt cầy này đã lâu, thôi thầy
trò mình tới nơi khác để thay đổi không khí.
Dương Sinh: Thưa tới nơi nào?
Tế Phật: Tới nhà số... thuộc hẻm 112 đường Đông Hưng,
thôn Đông Hưng, làng Đại Lí, huyện Đại Trung, phỏng
vấn một con chó rất có duyên với chủ. Thôi theo ta lên đài
sen.
Dương Sinh: Thưa, xin tuân lệnh...
Tế Phật: Đã tới nơi, đây là nhà họ Trần, có nuôi một con
chó vá, hàng ngày nó theo chủ đi đây đó, tối về ngủ chung
giường với chủ thật quả như hình với bóng chẳng rời nhau.
Trước đây có một độc giả của tạp chí Thánh Đức dẫn con
chó đó tới Thánh Đức Đường, giới thiệu là con chó đó rất
mực kì dị, khác hẳn những con chó khác, giờ hi vọng thầy
trò mình phỏng vấn để nghe nó thuật rõ lại lai lịch của nó,
con có muốn như vậy không?
Dương Sinh: Thưa con muốn lắm. Bữa trước Trần Tiên
Sinh và một bạn đồng tu dùng xe chở con chó đó tới bản
đường tham bái Tiên Phật cùng để cho các tín hữu phỏng
vấn nó, con chó đó rất đẹp đẽ, hiền lành.
Tế Phật: Thầy điểm hóa cho nó để nó hiện hình người rồi
phỏng vấn nó. “Tiểu Viên, Tiểu Viên cái tên mà chủ nhân
thường thân mật xưng hô, sớm tối được gần nhau, hẳn là
có tiền duyên, này chó kì dị ở thế gian ơi! Hãy thuật lại
chuyện kiếp trước của ngươi”.
Dương Sinh: Ân sư vì chó mà ban pháp điểm hóa, niệm
xong câu chú, chó dần dần biến thành một người con gái
mặc áo trắng thêu hoa hồng, vô cùng diễm lệ.
Tế Phật: Trò ngoan có thể phỏng vấn.
Dương Sinh: Tôi là thánh bút Dương Sinh thuộc Thánh
Đức Đường ở Đài Trung, bữa nay đặc biệt theo thầy T
Phật tới đây để phỏng vấn cô, vậy mong cô thuật lại
chuyện kiếp trước cho tôi được rõ.
Tiểu Viên: À thì ra đức Phật Sống Tế Công điểm hóa cho
tôi, nên mới rồi tôi có cảm giác như vừa tỉnh mộng, giống
như đương từ nơi tối tăm chợt thấy ánh mặt trời... Tôi xin
thuật lại chuyện kiếp trước cũng như kiếp này tôi làm kẻ
hầu nhà họ Trần. Từ bé nhà nghèo tôi phải tới giúp việc
cho nhà họ Trần, vì tôi làm việc chăm chỉ cho nên được
chủ nhân quý mến, tôi họ Trương tên Viên nên cả nhà gọi
tôi là Tiểu Viên và tôi lấy làm sung sướng lắm. Chủ nhân
đối xử với tôi thật là tốt, đã từng giúp tiền để mua thuốc
chữa cho cha mẹ tôi khỏi bệnh. Vì mang ân cứu mạng
song thân, dần dần tôi đem lòng cảm phục yêu thương chủ
nhà, song vì lễ giáo nghiêm ngặt, tôi chẳng dám hé răng
nên mắc bệnh tương tư. Từ đó thân thể suy nhược ốm yếu.
Có một bữa trong cơn mê sảng tôi đã âu yếm kêu họ tên
chủ nhà, người vợ chủ nhà nghe được thấy vô cùng kì quái,
âm thầm dò xét tình ý của tôi nên đã rõ sự việc, liền thuật
lại với chồng. Chủ nhà bèn tới an ủi tôi, khuyên tôi không
nên nghĩ ngợi vẩn vơ, cố giữ cho tâm được trong sáng, cả
nhà đối xử với tôi rất tốt, tôi cứ an tâm dưỡng bệnh mới là
hay hơn cả, rồi mua thêm thuốc chữa trị cho tôi. Song vì
căn bệnh tương tư của tôi đã lâu ngày, nên phổi bị lao,
cuối cùng lìa bỏ cõi trần. Sau khi chết hồn xuống tới âm
phủ, mối tình này khó quên, Diêm Vương thấy tôi bệnh
tình trầm trọng, nên muốn cắt đứt nghiệp quả, song vì thời
cơ chưa tới, đành phải chờ đợi tại âm phủ. Tới khi chủ
nhân qua đời chuyển kiếp tái đầu thai làm người, thành gia
lập nghiệp xong tôi mới được đầu thai làm chó để đền ơn
kiếp trước.
Dương Sinh: Cô đã chung tình đến mức đó, cớ sao Diêm
Vương không cho phép cô được đầu thai lên làm người, để
cùng người chủ cũ sống đời chồng vợ?
Tiểu Viên: Vì người chủ nhà có nhân duyên chồng vợ với
người khác, vả lại ba kiếp nhân quả của tôi tội nghiệp nặng
nề, nên dù người chủ nhà đã giúp đỡ tiền bạc để cứu mạng
cha mẹ tôi và mặc dù tôi rất chân tình song chỉ đủ làm
thân khuyển mã để đền ơn thôi, chứ không đủ tư cách để
chuyển kiếp đầu thai lên làm người sống đời chồng vợ.
Dương Sinh: A thì ra nguyên nhân là như vậy.
Tiểu Viên: Tôi ở quán bán chó, chủ nhân họ Trần thấy
được, tự nhiên trong lòng vui thích, liền bỏ tiền ra mua tôi
đem về. Ở nhà họ Trần mỗi ngày tôi một lớn khôn, hết
lòng giữ nhà giữ cửa, luôn luôn làm tròn phận sự. Họ cũng
đối xử với tôi rất tốt, hàng ngày tắm rửa cho tôi, vì kiếp
trước có nhân duyên nên tôi và chủ nhà rất là thân mật,
hình bóng chẳng rời nhau, ban ngày chủ nhân ra ngoài làm
ăn buôn bán, đều cho tôi leo lên xe chở đi, mỗi bước có
nhau. Ở nhà chủ luôn luôn để tôi leo lên ghế, tối đến cho
tôi ngủ chung giường, chủ nhân bảo sao tôi nghe vậy liền,
tới giờ đi làm tôi biết đánh thức chủ nhân tỉnh dậy, tuy
Luân Hồi Du Kí
258
không phải là vợ chồng thực sự song cũng cảm thấy vô
cùng an ủi. Đó là nhân quả kiếp trước của tôi.
Dương Sinh: Thực là câu chuyện kì lạ chưa từng được
nghe giữa người và súc vật lại có thể có được. Vì hiện tại
ngôn ngữ chẳng thông, chẳng rõ có điều gì muốn nói cùng
chủ nhân chăng?
Tiểu Viên: Vợ chồng chủ nhân đối xử với tôi rất tốt, nên
lòng tôi vô cùng cảm kích, chỉ mong họ bớt bận rộn bởi kế
sinh nhai, có dư thì giờ nghiên cứu kinh sách, gần người
hiểu đạo tu tâm dưỡng tính, sửa đổi được những thói quen
không mấy tốt lành, có như vậy kiếp tới mới có thể phiêu
diêu miền cực lạc, hoặc chuyển sinh vào một gia đình tốt
đẹp hơn. Nếu như đọa lạc không tu chắc chắn kiếp tới sẽ
xuống dốc rất nhiều, khi ấy hẳn là lòng tôi đau đớn lắm.
Dương Sinh: Hoàn cảnh này thực là cảm động, mong chủ
nhân thể hiện được đời sống tinh thần trong lành để người
con gái si tình kiếp trước khỏi thất vọng.
Tế Phật: Câu chuyện người con gái si tình Tiểu Viên
khiến ta xúc động vô cùng, đã thành thực thuật rõ lại hết
nhân quả kiếp trước, rất có công trong việc khuyên đời,
kiếp tới ban phước cho ngươi được đầu thai lên làm người
tại một gia đình phú quý vinh hoa.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-05-2016 , 06:52 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
I. CẦM THÚ LUÂN HỒI SƯU TẦM.

1) Người và vật sau khi chết tính linh đều bất diệt (Cư sĩ
Hoàng Hàm Chi).

Tính linh không biến hóa, không tiêu diệt, tính linh ở
trong cơ thể con người giống như con người ở dưới mái
nhà, thân xác chết tính linh không chết khi tính linh rời bỏ
thể xác, người ta quen gọi là “chết” song thực sự tính linh
khi đó giống kẻ rời bỏ nhà cũ đi nơi khác mà thôi. Giả sử
một kẻ lúc sống tạo nghiệp xấu, khi chết tính linh phải
chuyển kiếp đầu thai nhập vào cơ thể loài thú đi nữa, thì
họ cũng chỉ biến đổi phần thể xác còn tính linh vẫn
nguyên vẹn, nên kể như kẻ đó chỉ thay đổi nơi cư trú mà
thôi. Tính linh người và thú giống nhau, chẳng khác nào vị
thuốc sau khi sao tẩm trên chảo, nấu sắc trong siêu, nếu
như tính được ôn hòa thì vẫn ôn hòa, còn độc thì vẫn độc.
Cây cỏ vô tình dẫu đem đốt cháy thành tro tính chất của
chúng vẫn không thay đổi, tính linh cỏ cây còn vậy huống
hồ tính linh của người và động vật há lại tiêu diệt được
sao?

2) Hai con heo đối thoại (Kiến Văn Lục).
Đại sư Tạ Ích kể rằng: “Ở Tùng Giang có một người họ
Châu chuyên mua heo về giết lấy thịt đem ra chợ bán, vào
đời Minh, triều Tư Tông hiệu Sùng Trinh (1639) năm Kỉ
Mão tháng giêng, có một đêm nọ vào lúc canh hai, đang
nằm trên giường chợt nghe có tiếng người nói, nghi là kẻ
trộm lẻn vô nhà, bèn cầm gậy đi kiếm thì khám phá ra
được âm thanh đó phát ra từ chuồng heo, một con nói rất
thương tâm là: “Ngày mai tôi bị giết”, còn con kia nói:
“Anh bị làm kiếp heo bảy lần, lần này là lần thứ sáu, mong
anh sớm thoát khỏi khổ đau, còn tôi phải làm kiếp heo
năm lần, lần này mới là lần thứ nhất, nỗi khổ đau của tôi
còn dài”. Người bán thịt heo nghe nói vậy, mới hiểu là loài
thú hoàn toàn do người chuyển kiếp, từ đó bỏ nghề buôn
bán thịt heo.

4) Đầu thai làm bò để trả nợ (Kiến Văn Lục).
Đại sư Tạ Ích kể rằng: “Ở huyện Võ Khang thuộc phủ
Hồ Châu có một người lính hầu, đi đường gặp hai khách
bộ hành một nam một nữ liền theo chân họ tới trước nhà
một vị chức sắc họ Lạc trong làng, thế rồi ba người cùng
đi. Song rất kì quái là lúc tới nơi đợi tới đêm khuya chẳng
thấy ai ra mở cửa, mãi sau gặp người giữ cổng hỏi họ thì
họ lại nói vớ nói vẩn, hai bên cãi qua cãi lại, chủ nhân nghe
thấy lòng sinh nghi, tra hỏi gia nhân coi có kẻ nào sinh đẻ
không thì không thấy, sau đó mới khám phá ra là bò mới
đẻ ba con, một đực hai cái, chủ nhân bèn sai lính hầu tới
coi thì thấy màu lông ba con bê mới sinh này giống hệt
màu áo ba người lạ hồi nãy, như vậy là ba người đó đã đầu
thai làm kiếp bò rồi vậy. Mãi sau mới khám phá ra ba kẻ đó
là ba kẻ vay gạo nhà họ Lạc, ba con bê lớn lên, con to
thiếu nợ nhiều, con nhỏ thiếu nợ ít, quả là một sợi tơ sợi
tóc không sai chệch nổi.

5) Hai mươi ba tuổi chết đầu thai làm bò (Chuyện Di Kiên
Bính).
Tiên sinh Hồng Mai kể rằng: “Có một người nhà giàu ở
Trường Châu mới hai mươi ba tuổi, cư ngụ tại thôn Đại
Độc, sau ba năm đau nặng thì qua đời, khi đó tại nhà một
người ở vùng Đông Hương thuộc Côn Sơn, có con trâu mẹ
sinh ra con nghé trắng, dưới ngực lông đen mọc thành
hàng chữ “Hai mươi ba tuổi bị làm tù nhân”. Vì người đó
lúc làm cai ngục đã phạm nhiều tội ác, do đó phải đầu thai
làm kiếp trâu. Con trai mang hai chục ngàn tới điều đình
mua, song chủ nhân không chịu. Về sau, con trâu này tới
lúc già còn bị giết thịt.

6) Phạm tội tà dâm khi chết đầu thai làm heo (Quả Báo -
Kiến Văn Lục).
Đại sư Linh Ẩn Hối kể rằng: “Tháng sáu năm thứ tám,
niên hiệu Khang Hi, ở gần thành Tô Châu có một người
tên là Siêu Đức Phủ chuyên làm đậu hủ, có hai con heo
muốn bán với giá hai mươi lăm đồng bạc, vào đêm mười
rằm heo đột nhiên nói: “Chúng tôi vì kiếp trước phạm tội
tà dâm, kiếp này phải đầu thai làm heo, hãy mau giết
chúng tôi đi”. Vợ chồng Siêu Đức Phủ nghe thấy cho là
tiếng người đi ngoài đường nói, song sau khi nghe ngóng
kĩ càng thì mới hay là tiếng nói đó phát ra từ chuồng heo
nên rất đỗi ngạc nhiên. Đêm ngày mười sáu lại nghe một
con heo khác nói: “Bữa nay là tiết Trung Nguyên, Diêm
Vương xá tội ban ơn phước, chúng tôi nếu như không bị
giết, sẽ được tới Tây Viên tu hành”. Con heo khác nói:
“Tôi sẽ tới Huyến Mộ”. Vợ chồng Siêu Đức Phủ nghe xong
vô cùng sợ hãi, khi câu chuyện này lọt ra ngoài, hàng xóm
rủ nhau gom góp tiền bạc mua mấy con heo đó phóng
sinh. Hứa Hiếu Chước tai nghe mắt thấy việc này.

7) Phạm tội gian dâm với một người đàn bà nghèo bị đầu
thai làm heo (Quả báo - Kiến Văn Lục).
Ổ Hối Như ở Tiểu Hô, Côn Sơn mượn tiền của người
rồi trả bằng hai con heo nhỏ. Hối Như nợ tiền Trầm Bá Cư
cũng đang có ý định đem hai con heo nhỏ khác thế nợ.
Đêm ngày hai mươi tám tháng mười hai năm Khang Hi thứ
mười hai, người em của Ổ Hối Như là Ổ Hữu Thức nằm
mộng gặp một người đàn ông họ Lí ở chuồng heo, người
đó tự thú là: “Kiếp trước tôi gian dâm với một người đàn bà
nên kiếp này bị đầu thai làm heo, con heo bốn chân đốm
trắng là tôi, anh của anh là Ổ Hối Như muốn tôi đem tôi
thế nợ Trầm Bá Cư, tôi nhờ anh thuật lại chuyện này để
Trầm Bá Cư không giết tôi. Khi Hữu Thức tỉnh mộng thấy
người nhà đang bắt con heo đó trong chuồng, liền nói rõ
sự tình, anh em Ổ Hối Như liền đem con heo đó tới An
Thiên phóng sinh.

8) Cha tạo nghiệp sát sinh con trai và con dâu bị đầu thai
làm loài gia súc (Tín Trưng Lục).
Tiên Sinh Ngô Lan Thự kể rằng: “Năm Bính Tí triều
Khang Hi, ông già Ngô Đức Phủ ở Du Chúc Kiều thuộc
Hàng Châu làm nghề giết heo lấy thịt bán đã mười ba năm
song chỉ trong vòng sáu tháng con trai và con dâu chết.
Chín tháng sau vợ chồng Đức Phủ thấy con trai và con dâu
trở về nhà, con trai mặc áo trắng thắt dây lưng đen, con
dâu mặc áo vải thô, nói rằng đến nhà hàng xóm họ Hà đầu
thai làm chó, mời cha mẹ qua coi, sẽ nhận ra bằng cách coi
màu áo mặc. Vợ chồng ông già Đức Phủ kinh hoàng tỉnh
mộng, ngày hôm sau qua nhà họ Hà coi, vợ chồng nhà họ
Hà đêm đó cũng nằm mộng thấy như vậy, và có hỏi hai
người đó rằng: “Anh chị là con trai và con dâu nhà họ Ngô
cớ sao lại tới đây?”. Họ liền đáp rằng: “Tôi đầu thai, xin
ông bà thương xót dùm” lại thấy hai trai một gái đi tới, vợ
chồng nhà họ Hà kinh hoàng tỉnh mộng, sáng sớm vợ
chồng Ngô Đức Phủ tới hỏi: “Con dâu nhà bác sinh chưa?”
họ Hà đáp: “Hai con dâu của chúng tôi chưa mang thai, chỉ
có con chó cái mới sinh được mấy con chó nhỏ”. Vợ chồng
Đức Phủ coi kĩ thì thấy có năm con chó con, ba đực hai
cái, hai trong số năm con này màu lông giống hệt màu áo
của con trai và con dâu mặc thấy trong lúc nằm mơ bèn
khóc lóc kể lại câu chuyện nhân quả đầu thai làm thú,
khiến ai nấy đều kinh hãi. Đợi tới khi hai con chó đó thôi
bú mẹ, họ Ngô xin đem về nuôi.

9) Bị đầu thai làm heo ba kiếp (Tín Trưng Lục).
Có kẻ bị đầu thai làm heo ba kiếp, sau khi bị giết thịt
xương cắt nhỏ cực kì khổ đau, nên đã cầu xin cùng Diêm
Vương cho phép đầu thai làm kiếp ngựa. Có một lần người
chủ cưỡi đi xa, giữa đường gặp cướp đuổi, ngựa nghĩ thầm
nếu chủ bị cướp bắt đi thì mình lại mang tội, vì vậy gắng
sức vượt sông, cuối cùng người chủ thoát hiểm còn con
ngựa bị chết chìm. Diêm Vương thấy ngựa trung thành
cứu chủ, lần này cho đầu thai làm người, được giữ chức
quan nhỏ suốt đời.

10) Làm quan giết oan bị đầu thai làm kiếp thú.
Một vị quan ở Giang Nam tự thuật rằng có một kiếp làm
quan giết oan một tù nhân, sau khi chết, âm phủ phạt đầu
thai làm ngựa để cho người ta cưỡi, trí nhớ rõ việc kiếp
trước song miệng không thể nói ra. Một bữa vì việc quan
cấp bách, chạy tới chỗ núi hiểm trở, bị lính đánh bằng roi
cực kì đau đớn, tính lao đầu xuống vực tự sát, song nghĩ lại
kiếp trước vì giết oan nên mới phải đầu thai làm kiếp thú,
nếu như lại làm quấy chắc hẳn chẳng có ngày giải thoát
khỏi khổ đau, liền nhẫn nại chịu đựng, kiếp này được làm
người vẫn còn nhớ rõ nỗi khổ phải làm ngựa. Do đó đặc
biệt làm mấy trăm chiếc yên mềm tặng những người cưỡi
ngựa đi đường núi gập ghềnh hiểm trở, vì yên gỗ cấn lưng,
ngựa đau đớn lắm! Vì nơi đùi phía bên trái vị quan võ đó
có cả mấy tấc da và lông ngựa nên người nào trông thấy
đều tin ngay là chuyện thật.

11) Quan tri phủ Trâu tự ghi việc ba kiếp (Bút kí của một
người đời Đường).
Tiên sinh Tiết Phúc Thành kể rằng: “Tả viên Vô Tích
Uông hiệu là Sĩ Khản, đỗ tiến sĩ, khi làm tri huyện Tứ
Xuyên. Tri phủ Trâu cùng tiên sinh Uông cũng thi đỗ Á
Nguyên năm Giáp Tí niên hiệu Gia Khánh đời Minh. Tay
trái tri phủ Trâu là cán ngựa, nên có thể ghi chép việc ba
kiếp, và có trình bày cùng Uông tiên sinh là: “Kiếp trước
tôi là võ quan, nhân chinh phạt giống Miêu, giết quá nhiều
người, sau khi chết bị đầu thai làm ngựa, chịu nhiều khổ sở
đau đớn, nên chỉ nhảy và kêu không chịu ăn chết đói, do
đó tội chưa hết, lại bị phạt đầu thai làm ngựa, song lần này
chẳng dám tự sát nữa. Khi làm thân ngựa cho vị võ quan
cưỡi, tánh tình ông ta rất nóng nảy, thường dùng roi quất
tôi túi bụi, có lần ông và địch quân chiến đấu, bị truy binh
đuổi gấp, tôi phóng thật nhanh chợp gặp hẻm núi rộng cả
trượng, phía trước lại đầy đá nhọn hoắt như dao kiếm, tôi
nghĩ nếu như không nhảy qua nổi chủ tướng của tôi ắt bị
địch giết, còn nhảy qua thì tôi sẽ bị đá đâm lủng bụng,
song chủ tướng của tôi sẽ thoát nạn, nghĩ rồi tôi quyết
định hi sinh mạng sống mình cứu chủ.
Diêm Vương nhận thấy tôi có lòng trung thành nên cho
phép đầu thai làm người, được làm quan tới chức tứ phẩm.
Lần đầu tiên bị chuyển kiếp làm ngựa, âm binh lấy da ngựa
trùm lên người tôi, lần này được đầu thai làm người, âm
binh lột da ngựa trên mình tôi ra, da và thịt dính chặt
nhau, dao cắt mới đứt đau đớn vô cùng, khi lột da xuống
tới chân thì họ bỏ dở nữa chừng, do đó tôi được chuyển
thành thân người song chân ngựa vẫn còn nguyên. Chức
quan của tôi chỉ lên được tới mức này, và sống cũng không
lâu, sẽ có ngày chết. Về sau quả đúng như vậy.

12) Một ông già đầu thai làm thân heo (Cư sĩ Trịnh Tôn
Nhiếp).
Ít chục năm trước, ở Triết Ninh có một ông già lúc bình
thường chỉ làm việc một tay, còn tay kia luôn luôn rụt lại
giấu trong tay áo, mọi người đều lấy làm lạ, có lần một
thiếu niên kéo cái tay ấy ra thì đó là cái chân heo, ông già
đó liền khóc òa lên và kể lể rằng: “Ba kiếp đầu thai làm
heo, nhai bùn trấu đói rét khổ cực vô cùng, tới nay vẫn còn
nhớ rõ. Lúc bị giết kêu la mong chạy trốn, nhưng chẳng
thoát khỏi cảnh dao nhọn thọc tiết đau đớn vô cùng không
sao tả nổi, rồi bị đem xối nước sôi cạo lông, mổ bụng, moi
ruột, móc tim gan, chặt thân ra từng mảnh, thống khổ vô
cùng, nói tới đây khóc không lên tiếng. Chịu ngược đãi tới
khi nào thịt bán hết mới thôi. Lần cuối cùng đầu thai làm
heo, có một cái chân chẳng ai chịu mua, sau khi tính linh
thoát li cái giò đó, lãng đãng hốt hoảng đầu thai làm
người, bởi vậy mà cái chân không biến hóa nổi. Lúc mẹ tôi
sinh tôi, người có thấy một con heo chạy tới. Sau khi tôi
lớn lên thường lấy thế làm xấu nên mới giấu nó đi, một khi
có kẻ nào nhìn thấy tôi rất đỗi buồn lòng”. Ít ngày sau ông
ta bèn dời nhà đi nơi khác. Chuyện này do Trịnh Ngọc
Điền chủ tiệm thuốc bắc chính mắt trông thấy, là một
bằng chứng hiển nhiên và xác thực về chuyện luân hồi, há
chẳng đáng nghi sao?

13) Lúc đau phát thiện nguyện tăng tuổi thọ và được
hưởng lộc (Khuyến Giới Tục).
Tiên sinh Lâm Thiếu Mục, mùa thu lâm trọng bệnh thầy
thuốc cho thuốc sai suýt chết, bèn sám hối phát nguyện
cứu giúp người, một đêm nọ nằm mộng thấy đức Quán thế
Âm hiện về dạy rằng: “Kiếp trước ngươi làm quan tại Hồ
Bắc, chí công vô tư, quá liêm khiết thành giảm phước lộc,
vì tàn sát quá nhiều sinh linh nên kiếp này không được
trường thọ song nhờ ngươi biết thành tâm phát nguyện
nên Diêm Vương gia tăng tuổi thọ, cùng cho hưởng phước
lộc, vậy ngươi phải cố gắng làm nhiều việc thiện”. Sau khi
tỉnh, khuyên bảo mọi người trong nhà giới sát, mua cầm
thú phóng sinh, sau được làm quan huyện Ai Châu tỉnh
Cửu Giang, được nhà vua trọng dụng, nhiều lần ban ân huệ
đặc biệt, bệnh tật cũng tuyệt nhiên không tái phát nữa.

14) Lỡ giết chó miễn tội chết song phải phạt (Hữu Đài
Tiên Quán).
Tiên sinh Du Khúc Viên kể rằng: “Ở trấn Hán Khẩu có
một người họ Trần mở quán bán thịt khô, có một con chó
vàng tới tiệm kiếm ăn, đúng lúc người đó đang chặt thịt lỡ
tay chặt trúng đầu con chó một nhát chết tươi, người đó
quăng xác con chó xuống rạch. Mấy năm sau, một bữa gặp
một ông già tới ngồi trước cửa liền hỏi là có phải tới mua
thịt khô không? Ông già liền đáp: “Tôi tới tìm bác”. Hỏi:
“Tìm tôi có chuyện gì?”. Đáp: “Bác quăng tôi xuống rạch đã
ba năm, bữa nay may mắn mới được lên đây, và tôi chẳng
thể quên nổi bác!” nói xong biến mất. Người đó bèn hỏi
mọi người trong quán có thấy ông già không? Mọi người
đều đáp không nhìn thấy, chỉ thấy một con chó vàng sủa
thôi. Lát sau người đó cảm thấy mặt mày choáng váng, đầu
óc nhức nhối vô cùng, mắt hoa nhìn chẳng rõ, chợt lớn
tiếng nói: “Kiếp trước tôi là người ngoại thành ở huyện
Giang Ninh, họ Chu. Sau khi chết phải đầu thai làm chó,
bị giết và quăng xác xuống rạch chịu khổ đau chẳng thể
nào thoát ra khỏi, sau nhờ có người vét mương, nên mới
thoát khỏi cảnh bùn sình, Diêm Vương dạy rằng bác vô
tình giết tôi nên không bị xử tử, song tôi kể lại tất cả sự
thống khổ của tôi cho Diêm Vương biết, Diêm Vương rất
đỗi thương tôi, sai hai âm binh cùng đi với tôi tới đây,
chẳng thể bắt bác đền mạng, mà chỉ mong bác nói rõ việc
này cho nhiều người biết, hầu cảnh cáo những kẻ ham sát
hại cầm thú, nhân một mạng mà bảo toàn được nhiều sinh
mạng khác, có vậy tôi mới tiêu trừ hết được tội nghiệp
kiếp trước, lại được đầu thai lên làm người”. Vợ con người
chủ quán kinh hoàng nói: “Xin đợi tới khi chồng, cha
chúng tôi khỏi bệnh sẽ công bố chuyện này cho mọi người
đều biết”. Chẳng bao lâu người chủ quán liền khỏi bệnh.

15) Tào Hàn hiếu sát bị Diêm Vương Phạt đầu thai làm
heo đời đời (Kiến Văn Lục - Quả báo).
Đại sư Linh Ẩn Hối kể rằng: “Ở Tô Châu có một người
tên là Lưu Ngọc Thụ, biệt hiệu là Tích Nguyên, đêm ngủ
nằm mộng gặp một người mặt dài nói với mình là: “Tôi là
Tào Hàn đời Tống, kiếp trước vào đời Đường làm nghề
buôn bán, có lần đi qua ngôi chùa, thấy một pháp sư giảng
kinh, tôi phát tâm cúng dường đồ chay, ngồi nghe kinh
nửa ngày, nhờ nhân duyên này mà đời đời làm chức quan
nhỏ, đến đời Tống được làm tướng tên gọi là Tào Hàn, vì
không đánh chiếm nổi Giang Châu, tôi nổi giận giết hết
dân trong thành, vì nghiệp sát sinh quá lớn, đời đời phải
đầu thai làm heo. Mấy năm trước đây đầu thai vào nhà anh
cứu sống anh, bữa nay chỗ anh dừng thuyền cũng là nơi tôi
bị giết, ngày mai kẻ thứ nhất anh thấy là tôi, vì có duyên
được gặp anh thực hết sức may mắn, xin rũ lòng thương
cứu tôi”. Lưu Ngọc Thụ kinh hoàng tỉnh giấc, ngó quanh
chỗ đậu thuyền, quả nhiên thấy một cái quán giết heo bán,
nghe có tiếng heo kêu, Lưu Ngọc Thụ bèn bỏ tiền ra mua
con heo đó, nuôi tại vườn phóng sinh, có ai gọi con heo đó
là Tào Hàn nó liền lên tiếng ngay, nên chuyện này rất
nhiều người mắt thấy tai nghe.
Tội nghiệp của heo quá nặng, tính chất ngu xuẩn, song
khi muốn ứng mộng lại được ứng ngay, vì nhờ kiếp trước
có nghe giảng kinh nên trí tuệ được khai mở. Năm Tân
Mùi tôi cùng ông Lưu Tích Nguyên nghe giảng kinh, ông
Lưu nói với tôi đó là quả báo, tôi tới vườn nuôi heo phóng
sinh, thấy thật là sạch sẽ, cất tiếng gọi Tào Hàn ,heo đáp
liền. Ngày trước Tào Hàn và Tào Bân là anh em. Tào Bân
đánh trận không bao giờ giết oan một người, con cháu đời
sau phú quý. Tào Hàn giết chóc bừa bãi, đời đời phải đầu
thai làm kiếp heo, bị người ta giết thịt. Thế mới biết nhân
quả thực là phân minh, trồng nhân nào hái quả nấy, chỉ có
sớm hay muộn mà thôi, chẳng thể tránh thoát được nào.
Lại có Vương Đơn Lộc tác giả tập Toại Sinh có nói Lưu
Công trong mộng hỏi Tào Hàn rằng: “Lúc sắp bị giết đã
dùng cách gì để được cứu?”. Tào Hàn đáp: “Chỉ có nghe
thấy tiếng niệm Phật mới có thoát khỏi sự thống khổ, cho
nên khi nhìn thấy loài vật bị giết thì hãy niệm Phật thay
cho nó, không những giải trừ được khổ não mà còn có thể
giải thoát luân hồi, nói xong buồn rầu rơi lệ chắp tay vái
từ”
.
16) Lỡ giết bào thai heo (Nguyệt san Sư Tử Rống).
Tại Nghi Thủy ở Sơn Đông có một ông già họ Đỗ, một
lần ông ta ra chợ mua đồ, mua xong phải chờ bạn để về
nhà nên đến ngồi nghỉ chân dưới một bức tường, cảm thấy
hơi mệt, lát sau ngủ thiếp đi. Trong lúc đang mơ mơ màng
màng thấy có hai người lính cầm trát tới chẳng giải thích lí
do, chỉ nghe hô lên một tiếng xong là tay đã bị còng, và
thân bị lôi đi.
Ông già họ Đỗ theo hai người lính đó đi mãi cùng khắp
các địa phương. Ông ta vừa đi vừa nghĩ: “Quả là đóng kín
cửa ngồi trong nhà, họa từ trời giáng xuống” (Bế môn gia
trung tọa, họa tòng thiên thượng lai). Rồi tự nhủ một là mình
không thiếu thuế, hai là không trộm cướp, ba là không giết
người thành ra cứ thắc mắc hoài, chẳng rõ từ lâu đã phạm
phải tội gì? Đang khi buồn rầu thì tới phủ quan, hai người
lính áp giải vào thì thấy một vị đầu đội mão cao gắn ngọc
lưu li tiến ra nói: “A, đã nhiều năm không gặp bạn hiền
Trương A Tam”. Họ Trương gặp Đỗ Lão Đầu cũng ngạc
nhiên hỏi: “Đỗ đại ca cớ sao tới đây?”. Đỗ Lão Đầu lộ vẻ
buồn rầu đáp: “Không rõ phạm tội gì mà cũng bị quan phủ
ra lệnh bắt”. Họ Trương sợ nói thêm sẽ bị lỡ lời đợi điều
tra xong sẽ tìm biết sau, bèn nói với họ Đỗ rằng: “Anh
đứng đây đợi tôi, mình không nên gây ồn ào, tôi đi quanh
lát nữa trở lại”. Đỗ Lão Đầu đứng đó đợi một hồi, chẳng
thấy họ Trương trở lại, trong lòng buồn bực, tính dạo
quanh thì chợt có hai người lính tới cho biết họ Đỗ vô tội
và bị bắt lầm. Đỗ Lão Đầu nghe xong vui mừng khôn xiết
liền quên khuấy bạn hiền Trương A Tam, bỏ đi luôn.
Đỗ Lão Đầu đi được mấy dặm đường thì chợt thấy bên
cạnh mình có tới sáu cô gái tuổi mười bảy mười tám mặt
mũi xinh đẹp vô cùng, mắt Đỗ Lão Đầu sáng rỡ, quên mất
là mình tâm có dư mà sức chẳng đủ, liền đuổi theo các cô
gái đó khắp đường chính rồi lối ngang nẻo tắt. Chợt họ
Đỗ nghe tiếng Trương A Tam từ đằng sau gọi: “Đỗ ca ơi!
Anh chớ tới đó, hãy mau quay lại đi”. Nhưng khổ nỗi họ
Đỗ quá mê sắc, không kể tới lời kêu gọi của bạn cứ bám sát
những cô gái đó. Đột nhiên các nàng đi vào trong một cái
Thánh Hiền Đường
417
động nhỏ, Đỗ Lão Đầu biết rằng đó là quán rượu họ
Vương, liền vội vã theo gót vào trong, chỉ chớp mắt ôi
thôi! Đây là cái chuồng heo, nhìn lại mình thì đã hóa
thành con heo nhỏ! song lúc đó còn nghe tiếng Trương A
Tam gọi ở ngoài: “Đỗ đại ca ơi! Chớ vô đó, hãy trở lại đi”.
Họ Đỗ hết sức kinh hãi, bèn tìm cách thoát thân, như
điên như cuồng húc bừa húc bãi, và nghe có tiếng người
nói với nhau: “Coi kìa, con heo này mới đẻ đã trúng
phong”. Lát sau họ Đỗ nhìn lại mình thì đã hóa thành
người, vội vã chạy ra cửa gặp ngay Trương A Tam đang
đứng đợi và họ Trương lại còn trách họ Đỗ rằng: “Tôi kêu
đại ca trở lại, cớ sao chẳng nghe cứ làm tới hoài như vậy!”.
Họ Trương nắm tay họ Đỗ trở lại chợ, rồi mới từ giã. Đỗ
Lão Đầu tỉnh giấc thấy trời đã chiều, thấy mình vẫn còn
ngồi dựa lưng dưới chân tường, liền chạy tới nhà họ
Vương hỏi, thì quả nhiên có một con heo nái sinh được
bảy con, một con mới húc đầu vào đá chết chưa đầy nửa
tiếng.

17) Ba kiếp làm heo (Nguyệt san Phật Giáo).
Giờ tôi xin kể một câu chuyện nhân quả luân hồi mắt
thấy tai nghe để làm bằng chứng. Năm 1937 trong thời
gian tôi tạm cư tại chùa Quang Phúc làng Lô Sơn quận Tây
Xương tỉnh Tứ Xuyên, một hôm sáng sớm xuống núi vào
thành làm việc, dưới chân núi có một cái hồ tên là Cung
Hải, vì muốn tới thành cho gần, nên tôi cùng hơn mười
Luân Hồi Du Kí
418
người khác dùng thuyền băng qua hồ, trong số đó có ba
bốn đứa trẻ, khoảng mười một mười hai tuổi, một trong số
những đứa trẻ đó, tay nó cứ giấu sau lưng dùng áo che đi
để người khác khỏi thấy. Lúc đầu tôi không để ý, thuyền
đi được ít phút, một đứa trẻ nghịch ngợm khác liền cầm cái
tay giấu đó kéo mạnh ra thì mọi người thấy đó là một cái
giò heo có móng và mọc đầy lông. Mới thoạt nhìn tôi hết
sức kinh hoàng, quả là hình tướng kì quái tôi chưa hề thấy,
có một cụ già thấy tôi lộ vẻ sợ hãi liền nói với tôi rằng:
“Đứa trẻ đó có thể nhớ lại chuyện ba kiếp đầu thai làm heo
của nó, mỗi kiếp lúc bị đồ tể giết đề nhớ rõ ràng các sự
việc xảy ra, mỗi khi nhớ lại chuyện bị dao nhọn cứa cổ
thọc tiết, tim nó vẫn còn cảm giác đau buốt như bị dao
đâm, cùng sau khi chết bị cắt đầu, chặt thân ra từng mảnh
bày bán ngoài chợ, ruột gan vẫn còn cảm thấy đau đớn,
phải đợi tới lúc người ta bán hết thịt, hồn mới có thể thoát
xác chuyển kiếp tái đầu thai nó nhớ hai kiếp trước đều bị
như vậy, chỉ có kiếp cuối cùng, sau khi bị giết để lấy thịt
đem ra chợ bán mãi không hết, cuối cùng còn dư lại một
cái chân chẳng có ai mua, thành ra nó đau đớn vô cùng
chẳng thể nào chịu nổi, liền gắng sức vùng vẫy hồn mới lìa
khỏi cái chân. Kiếp này tạm tuy sạch nghiệp được đầu thai
làm người song còn một cái chân chưa thoát khỏi nổi nên
phải đeo mang để cho người đời lấy đó làm gương. Vì ba
kiếp nghiệp quả ác báo, đứa nhỏ vẫn còn nhớ rõ, nên mỗi
lần nghĩ lại cảnh bị đồ tể giết chóc nó vẫn còn cảm giác
đau đớn như đang bị làm thịt, cho nên thường nó phải giấu
kín cái giò heo đi để mọi người khỏi nhìn thấy, và cũng
giúp nó quên đi cho bớt đau lòng. Thế mới biết nhân quả
nghiệp báo một sợi tơ, một cọng lông không sai chệch
mảy may. Đây là câu chuyện chính mắt tôi thấy về nghiệp
quả luân hồi.

18) Sự kiện thực về chuyện người đầu thai làm loài thú.
Ở Giang Bắc có một kẻ tính tình hung bạo, năm Dân
Quốc thứ XII đột nhiên lâm trọng bệnh được một vị sư nói
cho biết là: “Nhà ngươi vì phạm nhiều tội ác, sau khi chết
phải đầu thai làm kiếp heo, hãy mau thành tâm sám hối”.
Vì bệnh quá nặng, lại nghe nhà sư nói vậy, tuy kẻ đó rất sợ,
nhưng lại đưa có một tay trái vái chào giống cách của
người tu hành. Nhà sư nói: “Chỉ có một tay thành tâm bái
Phật thì tay đó thoát khỏi hình chân heo, tiếc thay cho tay
kia. Tuy nhiên nó cũng được miễn bị dao sắc chặt đứt”.
Ngày sau khi kẻ đó chết, heo nái nhà hàng xóm đẻ một
con heo con, chân trái phía trước giống chân người, lúc đi
chân này không bén đất, thường thường gặp ai hai chân
trước cũng chắp lại vái chào. Người nhà tới xin chuộc đem
tới chùa Bảo Hoa ở Thượng Hải thả vào vườn phóng sinh
đến nay đã mười năm. Tôi có tới chùa xem con heo đó và
hỏi rõ lai lịch trước sau cùng chụp hình để viết thành
chuyện

19) Đứa trẻ ăn mày tự thuật về ba kiếp luân hồi nghiệp
quả đã trải qua.
Năm Dân Quốc thứ I, ở huyện Kì Xuân tỉnh Hồ Bắc có
một đứa trẻ ăn mày họ Trương mười hai tuổi mặt heo, mắt
híp, tự biết rõ về ba kiếp nhân quả đã trải qua của nó. Theo
như lời kể lại, ba kiếp trước nó là tay học rộng biết nhiều,
văn võ kiêm toàn, tài ba lỗi lạc song tính tình lại gian manh
xảo trá, có gan hành động mọi chuyện phi nhân bất nghĩa.
Bởi vậy từ quan cho tới dân trong vùng đều sợ nó như sợ
cọp. Về sau chết xuống âm phủ, chịu đủ mọi thứ hình phạt
xong, khi chuyển kiếp phải đầu thai làm gà, đó là kiếp thứ
nhất và kiếp thứ hai. Tuy làm gà song tinh thần nó cực kì
minh mẫn vì biết kiếp trước phạm nhiều tội ác nên kiếp
này nó giữ gìn thật là cẩn thận, mỗi khi chủ cho ăn không
dám tranh giành với những con gà khác cùng bầy, bao giờ
nó cũng đợi những con khác ăn xong bỏ đi mới dám tới ăn
những hạt thóc, hạt ngô còn sót lại; đối với côn trùng nó
càng kiêng cữ hơn nữa, chẳng hề dám bắt ăn, nhờ vậy mà
trở thành con gà lành. Sau này bị người giết thịt song
không phải tái đầu thai làm gà mà làm heo, đó là kiếp thứ
ba. Tuy phải làm heo song trí vẫn còn sáng suốt chẳng
thua gì kiếp trước, mỗi khi gặp đồ ăn ô uế đều nhịn đói
không ăn. Khi gia chủ thấy heo bỏ ăn định bắt làm thịt thì
nó kinh hãi vô cùng, đành phải gắng ăn. Ăn đồ ăn đó vô
bụng thì tâm đang thanh trở thành trược nên dần dần
chẳng còn minh mẫn như trước do đó mỗi bữa ăn đều ăn ít
đi. Tới khi chủ giết, bị dao sắc cứa cổ vẫn chưa thấy đau
đớn, nhưng khi mũi dao nhọn thọc sâu tới tim thì cảm thấy
cực kì thống khổ chẳng thể nào tả nổi. Khi hồn lìa xác
chẳng thể bay xa, chỉ quanh quẩn bên xác chết nên lúc bị
người ta dội nước sôi để cạo lông thì đau buốt tới tận tủy
xương, nhưng khi xác bị chặt thành miếng nhỏ bỏ vào nồi
nấu nướng lại hết còn cảm thấy đau đớn, chỉ khi kẻ húp
nước luộc thịt vì còn nóng, họ phải thổi thì cực kì đau khổ
không thể tả xiết. Sau khi thịt giao tới các nhà, đợi họ ăn
hết rồi hồn mới thoát li nổi, song còn hai cái đùi, người ta
đem ướp và hun khói làm thịt khô để lâu, phải đợi tới hai
năm sau họ ăn hết mới được đầu thai làm đứa nhỏ ăn mày
hiện tại.
Câu chuyện nghiệp quả luân hồi trên đây chỉ có thể kể
lại với người mình biết rõ về họ, còn nếu muốn quảng bá
cần phải dè dặt nếu không gặp kẻ nghiệp chướng nặng,
đêm ngủ chắc chắn họ sẽ mộng thấy phải chịu các hình
phạt đau đớn. Phải nhớ rằng: “Chuyện này rất ứng nghiệm
về sự đói rét, vậy sự ăn mặc chớ nên phí phạm, nếu như
gặp người giàu có phát tâm bố thí đồ, chớ có tham lam
nhận nhiều để dư không xài, phải luôn nghĩ tới việc tu
nhân tích phúc dành cho kiếp tới”. Lại cần biết thêm: “Đứa
trẻ này chỉ sống tới năm mười bốn tuổi, sau khi thác được
chuyển kiếp đầu thai làm người giàu có sang trọng, song sợ
rằng nó chẳng có cơ hội để hiểu lẽ nhân quả bằng kiếp
này, lại đi đường tà hành động bất lương, để rồi đọa l
đầu thai làm kiếp súc sinh thì thật đáng tiếc đáng sợ lắm
thay!”. Về sau quả nhiên tới năm mười bốn tuổi, đứa trẻ ăn
xin này tự nhiên lâm bệnh rồi thác.

20) Con chó có nghĩa minh oan được cho vị ân nhân
(Mạnh Quang).
Có một tờ thời báo ra ngày 3 tháng 8 năm Dân Quốc
nọ, đăng tin về bến Thanh Giang: “Gần đây tại huyện
Quán Vân, một con chó có nghĩa đã làm chứng để người
khác khỏi bị kết oán oan, đọc tin này ai nấy đều kinh ngạc.
Tại huyện Quán Vân một nhà nông họ Tôn nuôi một con
chó, to béo lạ thường. Một bữa nọ con chó đã tha một cái
giò heo từ đâu về mà giò heo lại là thứ chó ưa thích nhất,
song vì nó nhớ ơn họ Tôn dưỡng dục nên không ngại hi
sinh miếng ăn ngon, dùng hai chân trước dâng giò heo đó
lên chủ nhân, gia cảnh chủ nhân thanh bần, bữa no bữa
đói, đã lâu không được biết tới mùi vị ngon lành của thịt,
nên nay nhìn thấy giò heo lòng hân hoan, miệng thèm
chảy nước miếng, quên không tìm hiểu xuất xứ, liền lấy
nước rửa sạch, xào nấu ăn xong, vì vị thịt quá ngon cả nhà
sung sướng bàn tán mãi.
Ngày hôm sau không ngờ người hàng xóm họ Lí tới nhà
họ Tôn tìm kiếm cái giò heo bị mất, sau khi đã có đủ bằng
chứng liền dùng dây thừng trói con chó của họ Tôn vào
thân cây, cả nhà họ Lí xúm lại đánh đập hết sức dã man để
cho hả giận. Họ Tôn nhà ít người vả lại thiếu chính trực
nên đành nuốt hận để mặc nhà họ Lí ra tay. Con chó bị
đánh tàn nhẫn, rên la thảm thiết. Ngay khi đó có một
người buôn heo đi ngang qua, mắt nhìn thấy cảnh thê
thảm liền động lòng trắc ẩn, dừng bước tìm hiểu lí do. Sau
khi hiểu rõ liền mở túi xách lấy tiền ra thường cái giò heo,
giúp con chó thoát nạn. Họ Lí nhìn thấy túi của người lái
heo quá nhiều tiền liền sinh lòng tham, nhân trời đã gần
tối họ Lí bèn nói với khách rằng: “Trời sắp tối đường lại xa,
giữa nơi xứ lạ e khó tránh chuyện chẳng lành, nếu như
không chê nhà tôi nhỏ hẹp xin mời dừng bước nghỉ tạm
đêm nay”. Khách nghe nói xong rất cảm động trước tấm
lòng tốt của họ Lí bèn nhận lời ngay. Họ Lí mời khách lên
nhà trên rồi sai người nhà giết gà mua rượu về thết đãi thật
là long trọng, chuyện trò hết sức tương đắc, nhậu nhẹt hồi
sau khách say mèm, lăn ra ngủ thiếp đi. Họ Lí bèn ra tay,
lấy ngay dây thừng cột chó hồi chiều trói khách lại, dùng
dao cắt cổ mổ bụng, chặt xác ra từng mảnh bỏ vào vại sành
giấu dưới gầm giường, cảnh thảm sát thật là ghê gớm mà
chẳng một ai hay biết, nên họ Lí cho rằng việc cướp túi
tiền của người khách không còn thành vấn đề.
Đâu ngờ con chó chẳng quên ơn, sau khi được cứu rồi,
thấy ân nhân còn ở lại nhà họ Lí, ngày đêm nằm chờ ngoài
cổng, mong báo đền một phần ngàn, phần vạn ơn mưa
móc. Nó đợi cả hai ngày hai đêm mà vẫn không thấy bóng
dáng ân nhân, liền lẻn vào trong nhà tìm kiếm, thì ngửi
thấy mùi thối tử thi, dò la mãi mới thấy xác của ân nhân
giấu trong cái vại. Chó liền chạy ngay tới nhà viên lý
trưởng, quỳ mọp xuống đất, nước mắt chảy ròng ròng, lý
trưởng đã thấy làm lạ, chó lại còn cắn quần lý trưởng kéo
tới phòng ngủ nhà họ Lí, dùng đầu đẩy cái giường, dùng
chân lật nắp vại, mùi hôi thối của xác chết xông lên nằng
nặc không thể nào chịu nổi, lý trưởng vội vàng đem ngay
những điều mắt thấy tai nghe trình liền lên huyện để nhà
chức trách lo liệu
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-05-2016 , 07:21 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
II. TẬP TRANH TỪ ÁI

1. Chúng sinh

Heo và người đều là chúng sinh, chúng biết đau khổ,
biết ham sống sợ chết giống hệt chúng ta. Chỉ khác ở điểm
là chúng không được khôn ngoan bằng người, vì vậy nên
khi bị người giết chóc không hề kháng cự. Hãy nhìn bầy
heo trong bức tranh đang bị lùa tới lò sát sinh mà chúng
vẫn chẳng hề hay biết là đi đâu, chúng chỉ biết một điều là
tổ tông ngàn kiếp trước, con cháu vạn đời sau thân sẽ
không ngừng bị giết rồi lại giết, và chính thân chúng cũng
sắp bị giết tới nơi. Ôi! Nhìn cả bầy yếu đuối không chút
kháng cự, há chẳng đáng thương sao?

Tất cả chúng sinh
Với ta là một
Phải có cảm tình
Thương chúng ngu muội
Tham ăn máu thịt
Công lí chẳng dung
Nuôi nấng vạn vật
Mới gọi đại đồng.

Mọi người phải biết cầm thú cũng là sinh vật, tình cảm
và dục vọng của chúng giống hệt ta, nếu có khác chỉ khác
về trình độ cao thấp mà thôi, bởi vậy con người phải thừa
nhận quyền sống của chúng.

2. Địa ngục
Trên thế giới hàng đêm cứ vào lúc gà gáy sáng có biết
bao tên đồ tể lòng lang dạ thú cầm dao sắc nhọn cắt cổ,
thọc huyết loài heo. Heo biết là chẳng thể thoát chết, song
vẫn lớn tiếng kêu thương để mong cứu nạn. Chỉ trong
nháy mắt, đồ tể mổ bụng, móc ruột moi tim, chính lúc đau
đớn cùng cực đó lớn tiếng than gào thảm thiết, rồi lại bị đồ
tể nhúng nước sôi, cạo thân xác không còn một cọng lông,
nếu như kẻ đó có lương tâm, thấy cảnh tượng chết chóc bi
thảm này hẳn là không cầm nổi nước mắt, chứ đừng nói là
còn dám nhẫn tâm ăn thịt. Trên thế giới heo bị giết thịt
hàng ngày không biết bao nhiêu mà kể, bò dê cũng vậy,
còn gà vịt cá tôm thì khỏi cần phải nói. Sự giết chóc này
cứ theo tình trạng hiện tại mà luận thì sợ rằng càng ngày
càng bành trướng thêm, không có hy vọng giảm thiểu. Thế
mới hay thế giới này là thế giới tối tăm, thiếu bóng mặt
trời và nhân loại há chẳng phải là loài động vật quá tàn ác
sao! Con người còn ham bàn luận về công lí cùng nhân đạo
nữa chăng? Nếu còn xin hỏi công lý ở đâu, nhân đạo ở đâu?

Vô số các loài
Không tội bị giết
Nên khuyên các người
Chớ có ăn thịt.

Hãy thử nghĩ: Cảnh giết chóc loài cầm thú thảm khốc
đều bởi người đời còn cố chấp, mê tín trong việc dưỡng
sinh nơi đồ mặn cá thịt béo bổ.

3. Đêm cuối năm vắng lặng
Ông già trong hình vẽ này họ Bành tên Tế Thanh là
người đời Thanh. Ngày cuối năm nghe nhiều gà hàng xóm
tranh nhau gáy, song tới đêm ba mươi thì chẳng còn nghe
thấy tiếng gà gáy nữa, và cũng chẳng biết tại sao? Bởi vì
mọi nhà cần giết gà để ăn tết, nên nội ngày ba mươi là đã
giết xong bởi vậy không còn nghe tiếng chúng gáy. Sau
khi ông già họ Bành biết rõ lí do mới nghĩ là cứ mỗi dịp
năm hết tết đến hàng hà sa số gà bị giết, do đó có làm một
bài thơ như sau:

Hàng xóm gà đua gáy mỗi đêm
Bữa nay vắng lặng lại bao trùm
Ngàn dao máu đẫm không ngừng chảy
Chén rượu mượn người nói buổi xuân.

4. Đám lông gà mẹ
Có một con gà mẹ có bốn con nhỏ, khi mẹ bị giết gà
con không hay biết, về sau vì mớ lông mẹ chúng tỏa mùi
thân quen, khiến chúng quyến luyến hoài bên cạnh, chẳng
chịu dời đi. Chúng vốn yêu mến mẹ chúng vô cùng, mà
hiện tại chỉ còn mớ lông tung toé trên mặt đất! Ta thử nghĩ
tình cảnh này có đáng thương?

Gà nhỏ thấy lông quen
Buồn rầu nhớ mẹ hiền
Lí do nào có biết
Quyến luyến ở gần bên
Cảnh huống thực bi thiết
Hỏi sao chẳng khổ phiền.

5. Con ta
Có một con gà mẹ đẻ được mấy trái trứng, hàng ngày lo
ấp, lòng vô cùng sung sướng. Một bữa nọ người chủ lấy lén
luộc ăn, vỏ vất dưới đất. Gà mẹ nhìn thấy vỏ trứng, phảng
phất nhận ra đó là con mình. Chẳng rõ khi ấy gà mẹ lòng
cảm thấy ra sao.

Cầm thú mẹ con thảy có tình
Chó lo giúp đỡ lúc trâu sinh
Gà con gà mẹ không chia cách
Lươn mẹ lươn con quấn quýt quanh
Chỉ tại loài người ham miếng thịt
Cho nên loài vật hại thân mình
Cầm thú với người nào có khác
Khổ đau hồn chúng cũng tan tành.

Yêu mình yêu người, quý trọng mạng sống, người và vật
tâm lí này giống nhau. Người yêu con mình, loài vật cũng
yêu con nó, loài người há lại nhẫn tâm hủy hoại tình mẫu
tử của loài khác được ư!

6. Chết là khổ
Vịt sau khi bị giết, không thể chết liền. Cổ bị cắt đứt
song vẫn cứ còn giãy giụa kêu hoài rồi mới chết. Nhìn
cảnh tượng này mới thấy nó thật là đau đớn, thực quả
không thể nào chịu nổi. Mong mọi người trước khi ăn thịt
vịt hãy nghĩ lại cảnh thịt đổ máu rơi cực kì thê thảm này.

Có thân sống ắt ham
Người vật có tâm hồn
Sợ hãi bị làm thịt
Khổ đau bởi xẻ thân
Cổ lìa hoài giãy giụa
Đầu rụng mãi than van
Nhìn cảnh đau thương đó
Há còn tham miếng ăn.
Đối với sinh mạng loài cầm thú, con người không thể
mặc sức giết chóc, bởi chúng cũng có quyền sống bình
đẳng như loài người.

7. Xin tha chết
Cảnh giết bò là cảnh thê thảm tàn nhẫn nhất. Tại sao lại
thê thảm tàn nhẫn nhất? Vì cứ nhìn lúc bò bị giết nước mắt
chảy ròng ròng, mới hay là trước cái chết nó cũng biết sợ
hãi chỉ không biết nói, không kêu nổi hai tiếng tha chết
mà thôi. Khi nhìn thấy đồ tể cầm dao sắc nhọn hai dòng lệ
bò chan hòa coi thực là thê thảm, tại sao lại có thể tàn
nhẫn tới mức đó được nhỉ? Nhân vì bò sau khi bị giết khí
chưa dứt đoạn, tới lúc người ta lột da bò còn sống nên nó
đau đớn vô cùng, thực quả là cực kì vô nhân đạo, con
người không thể hành động như vậy được.
Vả lại, bò suốt đời đem sức ra cày ruộng cho người,
người sống được là nhờ bò, đợi tới lúc chúng già lại đền ơn
bằng cách giết chúng ăn thịt, thì thử hỏi đối với lương
tâm, đối với công lí hẳn là người ta đã phạm pháp, đã bất
lương tới mức nào! Dưới đây là hai bài thơ thay lời bò già
xin được tha mạng.

Bò già kêu khóc thật u sầu
Quỳ lạy xin tha có được đâu
Dao sắc người cầm hồn chết điếng
Mắt buồn lệ đổ miệng khôn kêu
Bao năm cày ruộng thân lao nhọc
Cắt cổ lột da dạ khổ đau
Già lão mới hay người chẳng xót
Công xưa giúp đỡ lại quên sao.
Vật và người cùng sinh ra từ một bọc, đó là nền tảng của
tình thương yêu, kẻ nhẫn tâm ăn thịt loài vật lấy làm sung
sướng được sao.

8. Nông dân và bò sữa
Hình ảnh nhà nông trong bản vẽ dưới đây tự biết là lúc
bé nhờ uống sữa bò mới lớn nổi, tới khi trưởng thành nhờ
cùng bò cày ruộng mới sống được, cho nên đã coi bò như
một vị ân nhân. Lúc bình thường rất yêu thương bò, không
hề đánh đập, tới lúc bò già không bắt cày bừa, chỉ nuôi ăn
và cho sống đời nhàn hạ, không nỡ giết thịt cùng bán cho
bọn đồ tể. Chúng ta phải noi gương bác nông phu này mà
đối xử tốt với loài vật.

Nuôi nấng nhớ ngày xưa
Thường cho uống sữa bò
Lớn lên ăn thóc gạo
Nhờ nó chịu cày bừa
Nhớ lại công đức đó
Đền ơn phải gắng lo.

Loài vật thường than không được loài người tích cực
giúp đỡ, ta nhờ làm người được hưởng nhiều sự ưu đãi, do
đó phải lo hỗ trợ loài vật nhiều hơn.

9. Sống chết chia lìa
Sống chết chia lìa đó là cái hận lớn nhất của loài người.
Khi đọc tiểu thuyết gặp cảnh huống này tả trong truyện,
thường thường độc giả cảm động chảy nước mắt. Bức hình
dưới đây vẽ cảnh dê mẹ dê con phải xa lìa nhau đau đớn,
lúc bị người ta đem đi giết thịt dê mẹ cũng phảng phất cảm
giác thấy rằng lần ra đi này sẽ không còn trở lại, do đó nó
quay đầu lại, quyến luyến nhìn các con của nó. Còn các
con của nó cũng thấy khó mà gặp lại người mẹ thân yêu
của chúng lần thứ hai, do đó đều ló đầu ra ngoài hàng rào
kêu gào thảm thiết, dường như chúng nói: “Mẹ ơi! Mẹ chớ
bỏ đi, mẹ hãy trở lại với chúng con” song đau đớn thay
người ta lại đem mẹ chúng đi giết, chúng ta đã biết tình
mẫu tử của loài dê cũng thật là thắm thiết, mà tình càng
nồng đượm thì cảnh sinh li càng thê thảm.

Chia lìa lòng đớn đau
Mỗi bước lại quay đầu
Đi mãi không về nữa
Các con nào biết đâu.
Kẻ ăn thịt làm xúc phạm tới thần thánh, nếu như không
bị luân hồi quả báo thì cũng tự làm hại thân mình.

10. Thương mến bạn
Gia đình một đứa nhỏ có nuôi một con dê, đứa nhỏ
hàng ngày trước khi đi học thường đem cỏ cho dê ăn, sau
khi học về cũng làm như vậy. Mỗi khi đứa nhỏ chơi trong
vườn, dê thường theo chân nó, quả là người và dê đã trở
thành đôi bạn thiết. Bữa nọ gia đình tổ chức lễ mừng tuổi
thọ, mời nhiều khách tới, đứa nhỏ đi học về ra vườn chơi
không thấy dê nữa, bèn tìm kiếm khắp nơi, chợt nó kinh
hoàng vì thấy bạn nó đã nằm chết dưới đất, cổ bị cắt máu
chảy chan hòa, đứa nhỏ bèn ôm xác con dê khóc lóc thảm
thiết. Từ đó về sau không những chẳng bao giờ dám ăn
thịt dê mà lại còn bỏ luôn ăn mặn, chỉ ăn chay mà thôi.

Thấy nó sống không nỡ nhìn nó chết
Nghe tiếng nó không nỡ ăn thịt nó
Phải có lòng từ bi chớ ham ăn mặn.
Chỉ có những người không ăn thịt mới vun bồi nổi đức
từ bi.

11. Chặt tay mình
Vẩy cá có thể ví với móng tay người, nếu như ta đánh
vẩy cá khác nào tự rút móng tay mình đau đớn biết là bao
nhiêu, ngôn ngữ nào diễn tả nổi?

Rút móng tay ra
Đớn đau cực kì
Khắp mình đánh vẩy
Há chịu được sao.
Cứu người không khó bằng cứu loài vật, giới sát không
khó bằng cữ ăn mặn.

12. Nơi giết chóc
Loài cá mú sau khi bị giết, oán hận mãi mới chết. Có
loài cá, sau khi chặt vây, đánh vẩy, mổ bụng, móc hết ruột
gan rồi đem thả xuống nước nó vẫn còn bơi, đầu bị chặt
đứt lìa khỏi thân mình mà miệng vẫn còn ngáp, thân bị
chặt từng khúc thả vào chảo mỡ sôi vẫn còn giãy giụa. Ôi!
Cuộc đời thê thảm biết bao, khốc hại biết bao!

Hốt nhiên bị giết rồi
Cắt ruột thở còn hoài
Dao sắc xả ngàn miếng
Bếp lửa thịt nấu sôi
Thê lương tới mức đó
Còn nói được sao đây.
Ăn thịt uống máu loài cầm thú nay đã thành cái nhục
lớn lao của nền văn minh quốc gia mình.

13. Lời từ biệt
Chiều xuống có đôi chim trống mái, đang bay lượn trên
không giống như cặp vợ chồng đang nhởn nhơ tản bộ,
chợt có một mũi tên bay tới, trúng ngay mình con chim
mái, chim mái chỉ kịp kêu lên một tiếng để từ biệt con
chim trống, rồi rơi ngay xuống đất chết tươi.

Hoa rụng lìa cành
Mặt trời lặn nhanh
Tiếng kêu xé lụa
Tim vỡ tan tành.
Coi tất cả chúng sinh đều bình đẳng, thương yêu đùm
bọc khắp cả mới là bậc đại thánh nhân.

14. Ám sát
Có một con gà rừng bay tới bay lui trong rừng kiếm mồi
cho lũ con, không ngờ có một người thợ săn nhìn thấy,
nạp đạn bắn trúng, gà rừng rớt xuống thợ săn bèn xách con
gà rừng còn ngoắc ngoải đó về nhà, lòng sung sướng vô
hạn, đâu có biết rằng mấy con gà rừng con đang đói bụng
nằm ở trong ổ chờ mẹ chúng tha mồi về.
.
Mạng sống chúng sinh vốn gọi là
Cùng nhau máu mủ thịt xương da
Chớ nên giết hại loài cầm thú
Trong tổ đàn con đợi mẹ về.

Muốn nhân loại hòa bình, trước tiên trên bàn ăn cần
phải không có đồ mặn thịt cá.

15.
Phần trên đã trình bày thật kĩ càng để mọi người thấy rõ
những cảnh tàn sát dã man các loài cầm thú, vì lí do loài
người tham miếng ăn, hoặc thỏa mãn tính ham coi sự giết
chóc như một trò chơi. Còn giết sâu bọ côn trùng không
phải vì mục đích miếng ăn cùng trò chơi, mà phần lớn vì
vô tình. Loài này mạng sống của chúng tuy nhỏ, song cũng
vốn do trời sinh ra, chúng biết khổ đau cùng ham sống sợ
chết, lẽ nào con người lại nhẫn tâm sát hại chúng được sao!
Chúng ta đã biết rằng sư tử được xưng tụng là loài có nhân
nghĩa, bởi vì mỗi bước đi của nó đều hết sức lưu tâm để
tránh đạp phải kiến. Ngược lại, con người được coi là loài
khôn ngoan nhất trong các loài, mà trình độ đạo đức lại
thua kém loài thú thì chẳng xấu hổ lắm sao?

Sư tử nhân nghĩa
Không đạp sâu kiến
Huống hồ nhân loại
Không bằng thú sao.
Để nuôi dưỡng tâm từ bi trước hết phải cữ ăn mặn

16. Trẻ chơi đùa
Trẻ con thường ham bắt loài côn trùng để chơi, nhất là
khi gặp bươm bướm chúng liền dùng vợt bắt ngay, mặc dù
trẻ con không có ý giết bướm, song qua cuộc chơi bướm
cũng ngất ngư. Có một số trẻ lại ham bắt chuồn chuồn
dùng chỉ buộc đuôi rồi thả cho chuồn chuồn bay như thả
diều. Trò chơi này không nên để trẻ con duy trì, bởi lẽ
thân thể côn trùng yếu đuối, nếu như không cẩn thận côn
trùng chẳng chết, chẳng bị thương thì cũng đau đớn. Do
đó khuyên các em nhỏ không nên bắt côn trùng để chơi
đùa.

Muôn loài chết yểu bởi đau thương
Tham sống gặp nguy cố kiếm đường
Mọi giống do trời sinh đẻ cả
Dặn dò các bé chớ coi thường.
Nhân loại muốn tiến hóa cao hơn về mặt tinh thần chắc
chắn phải đề cao việc ăn chay hơn nữa.

17. Chết đuối
Chúng ta không nên tàn sát các loài côn trùng cùng bắt
chúng để chơi đùa, nhất là khi thấy chúng gặp nguy hiểm
phải cứu chúng ngay. Chúng ta phải nhìn một con bị té
vào chén nước nơi hình bên dưới, sẽ thấy nó đang giãy
giụa mong được thoát thân. Nhìn cảnh này chúng ta chớ
nhẫn tâm làm ngơ mà phải cứu nó ngay, để chứng tỏ mình
không phải là kẻ tán tận lương tâm, mà còn là người có
lòng từ bi quý giá vô cùng. Nếu có cơ hội thì nên thực
hành ngay, vì đây là điểm khởi đầu cho việc thực hiện tâm
từ bi bác ái.

Coi rẻ mạng côn trùng
Chết chìm cứu chẳng mong
Nhân từ không gốc rễ
Đạo sống thiếu tình thương.

Trước khi nhậu nhẹt rượu thịt nếu nghĩ tới cảnh loài vật
bị giết chóc thảm thương, thì dù lòng dạ có là sắt đá đi nữa
cũng chẳng thể nuốt trôi.

Ngục ca
Loài chim cũng có tình máu mủ, có lòng thương thân
quyến, bởi vậy ta chớ có gây cảnh chia lìa tình ruột thịt
của chúng để hưởng thụ sự vui sướng. Tại sao ta lại có thể
nhẫn tâm đẩy chúng vào cảnh lâm li đau khổ, chịu đựng
hình phạt tù đày chung thân? Chúng bị nhốt trong lồng
không có ngày ra khổ sở biết là bao, chúng cũng có tình
ruột thịt làm sao chịu nổi, vì lí do đó mà chim nhốt trong
lồng luôn luôn kêu gào thảm thiết, song ác thay con người
lại lấy làm vui sướng khi nghe những tiếng kêu thương đau
đớn đó!

Người bị lao lung
Cả ngày sầu thảm
Chim đem nhốt lồng
Cả buổi than gào
Nghe giọng bi thương
Ruột gan quặn đau
Mong chim thoát tròng
Bay lượn không trung.
Khi nào toàn thể chúng sinh đều ăn chay khi đó thế giới
mới hết nạn đao binh.

19. Ăn năn
Sau khi xem qua những trang sách bên trên trong lòng
quý vị độc giả cảm thấy ra sao? Đối với việc sát sinh ăn
thịt, liệu lương tâm có còn được yên ổn không? Tôi xin
chắc chắn rằng không, song nếu như muốn đạt tới thì phải
lập tức ăn năn, nguyện không sát sinh, bỏ mặn ăn chay
trường, chấm dứt mọi hành động tội ác trước đây. Từ bữa
nay trở đi quyết tâm mở một kỉ nguyên mới trong sáng
trọn lành.

Hôm trước làm ác
Giống như hôm trước chết
Hôm nay làm thiện
Giống tựa hôm nay sống.
Kẻ ăn thịt tự tiêu diệt tính đại từ bi.

20. Trọn ngày cùng vui
Dưới đây là hình ảnh một cụ già từ bi, không chỉ một
mình cụ ăn chay mà toàn thể gia đình cụ cũng đều cữ mặn,
nên tất cả các gia súc cụ nuôi trong nhà như chó, gà, vịt
đều được coi như bạn bè thân yêu. Về mùa đông cụ thường
dẫn cháu ra ngồi sưởi nắng trước cửa nhà, đàn gia súc khi
đó cũng quấn quýt quanh, cùng hưởng cảnh hạnh phúc tự
nhiên. Nhìn cảnh người và vật quây quần yêu quý như vậy
hẳn lòng ta cũng được vui sướng lây. Nếu như toàn thế
giới đều giống cảnh này thì hẳn là thế giới đại đồng.

Ngày trước sát sinh nhiều
Giờ đây cùng mến yêu
Không phân người với vật
Tất cả xót thương nhau.
Hãy thương yêu loài vật và xin đừng ăn thịt chúng.

Last edited by Rau Sam; 03-05-2016 at 07:25 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-05-2016 , 07:56 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TIẾNG KÊU CỨU SỐNG ĐAU THƯƠNG

I. Đức lớn của trời đất gọi là “cứu sống”, ác lớn của người
đời gọi là “giết chóc”. Hai câu nói của người xưa nhắn lại
với người sau nghe thực là thống thiết. Chúng ta đều biết
rằng sinh mệnh là cái quý nhất trên đời, sát sinh là sự bi
thảm vô cùng của thế gian. Chúng ta đọc sách, đọc tới
hình phạt thứ năm trong số ba ngàn, tội chết là tội lớn
nhất, thế mới biết kẻ gian phạm là kẻ ác tột đỉnh, tội
chúng ngập trời, chỉ còn đổi mạng sống mới đền nổi tội
mà thôi, ngoài ra không còn cách nào khác. Song ngược lại
trường hợp phạm tội sát sinh loài vật vẫn vô hại, vẫn
không phải đền mạng, được luật trời bao dung, luật nước
không nói tới, khiến con người tàn sát dã man để lấy xác
ăn, để làm trò chơi vui mắt. Thương ôi! Trần gian tội ác
ngập tràn, không sớm phát huy công lý, hẳn là còn mãi gia
tăng.
Các loài vật ở thế gian tất cả đều có sự sống, từ người
đến muôn loài, từ dưới nước bơi lội, trên cạn chạy nhảy,
giữa trời bay lượn, tuy thân mình to nhỏ không đều, song
tính linh cùng một loại. Hoặc nói khác đi, loài vật không
giống hình người song tính vật chẳng khác tính người, loài
nào cũng biết yêu sự sống, biết sợ cái chết. Bởi vậy được
may mắn làm người thì phải biết xử với vật như xử với
người, chớ có thấy vật khác người mà sinh lòng phân biệt.
Căn cứ ở điểm này ta thấy rằng cần phải có một nguyên
tắc căn bản tối thiểu đối với sinh vật trên trái đất, bởi lẽ tất
cả đều hít thở sinh khí của trời đất như nhau thì tuyệt đối
không được kỳ thị. Thử nghĩ khi ta nhổ một cọng lông thì
toàn thân rúng động, lấy ngải đốt châm vào da thịt toàn
thân đau đớn, hẳn rõ rằng một mà là tất cả, tất cả mà chỉ là
một, sự sống của muôn loài là sự sống của ta, huyết khí
hoàn toàn tương đồng thì đau đớn há chẳng tương quan
sao? Người là loài linh thiêng của muôn loài. Mới hay trời
đất sinh ra một giống thông minh biết quý trọng mạng
sống gọi là “người”, sinh ra nhiều loài ngu xuẩn khinh rẻ
mạng sống gọi là “vật” cùng hưởng sinh khí cùng sống trên
đời, cũng như người ta sinh con cả, con thứ và con út, tuy
có sự phân biệt cả, thứ, út song cùng chung cốt nhục, cùng
chung dòng máu thắm thiết, chỉ vì trí lực của người đủ
khống chế đời sống vạn vật, khiến nhiều kẻ mê lầm nghĩ
rằng trời sinh ra vạn vật cốt để cho người giết chóc ăn thịt,
hẳn là vô lí chẳng cần bàn cãi. Hổ lang gặp người liền ăn
thịt há cũng tin được là trời sinh người để hổ lang ăn thịt
chăng? Sự dinh dưỡng của con người có ngũ cốc rau trái
quả là đầy đủ, trời ban cho người như vậy không lẽ không
hậu đãi hay sao mà lại còn đi ăn thịt loài vật, chỉ hoàn toàn
lợi dụng tính mệnh của vạn vật vào vấn đề dưỡng sinh của
người sao?
Nói tất cả chúng sinh đều cùng một thể, người đời phần
đông cho rằng không đúng, vì nghĩ rằng người ta ai ai
cũng có cá thể làm sao có thể tin là một thể được. Kì thực
người trong gia đình là một thể, mẹ con là một thể, sự kiện
này chứng minh một cách vô cùng xác thực, chẳng chối
cải nổi, tất cả chúng sinh là một thể. Người mẹ thấy con
vui thì mình cũng vui, thấy con buồn thì mình cũng buồn,
thậm chí con bệnh, con chết mẹ cũng muốn bệnh muốn
chết thay con. Tất cả những bà mẹ dưới gầm trời này, ai
cũng nghĩ con mình và mình là một thể, khiến nó thương
nhà yêu nước cũng bởi tại lẽ đó, đến cả đạo thương người
yêu chúng sinh chẳng khác chút nào, thầy Mạnh Tử nói:
“Người đời có kẻ chết chìm tức là mình chết chìm, người
đời có kẻ đói tức là mình đói vậy”. Bồ Tát Địa Tạng nói:
“Còn một chúng sinh chưa thành Phật, ta nguyện không
thành Phật”. Tinh thần này chẳng khác nào tình người mẹ
chân thành nghĩ tới con mình, có quan hệ mật thiết một
hồn, một xác chẳng thể tách rời. Người này với người kia,
người kia với toàn thể chúng sinh, tính chất vốn là một,
chẳng qua túi da đựng ít chục cân khiến nó chia cách, trở
thành ta của ta, nó của ta. Nhưng khi túi da đựng thịt
không còn phân chia, gặp cơ hội sự đồng tính chất của cái
ta này, cái ta kia liền hợp ngay làm một, ngoài cái gốc ta bé
nhỏ của một cái ta lớn lao, càng lớn lao càng hội hợp, rồi
cứ lớn lao hội hợp hoài hoài, cho tới bao giờ tràn ngập hư
không thì tất cả cái ta hợp thành một thể, khi đó cái ta mới
toàn vẹn, mới chân thực. Còn sự phân biệt cái ta nhỏ bé,
cùng nhân cách đạo đức cao thấp qua cái nhìn của kẻ nhỏ
mọn, cái ta đó chỉ là cái ta vỏn vẹn trong vòng túi da đựng
ít chục cân thịt, do đó mà hành vi của họ trở thành cực
đoan, ích kỉ chỉ nghĩ tới lợi lộc của riêng mình, khiến tội
ác nẩy mầm đâm nhánh. Tội ác giết chóc hoành hành
nguyên nhân chỉ tại thiếu tình đồng tâm. Tình đồng tâm
sở dĩ không có nổi là bởi không có quan niệm được là tất
cả chúng sinh vốn cùng chung một thể.

II. Không kể loài nào giết loài nào, đều là việc không nên.
Song người đời lại thường không nghĩ như vậy, nên chẳng
chịu giới sát, nào như cảnh người giết người, người giết
cầm thú, rồi cầm thú giết người, vậy thử phân tích ba cách
sát sinh này, người đời cho người giết người là quan trọng
nhứt, hung bạo nhứt, song người giết cầm thú lại cho là
việc đương nhiên, còn cầm thú giết người thì cho là kì
quái. Tôi mong mọi người hãy tự xét lương tâm mình, rồi
thử suy ngẫm về ba cách giết chóc vừa kể trên, hẳn câu trả
lời sẽ cho thấy tội giết loài cầm thú là tội lớn nhất so với
hai tội kia, như vậy nghĩa là tại sao? Bởi lẽ người giết nhau
thì có pháp luật phân xử hoặc có sự chống trả tự vệ, sức
lực tương đương. Còn cầm thú giết lẫn nhau thì hẳn là hổ
báo không thể hại nổi chim bay, cá không thể hại nổi các
giống trên bờ, thì việc cầm thú hại nhau kể như cũng còn
có giới hạn. Chỉ có người giết vật là không biên giới, dù là
trên không, dưới biển, trong chốn núi rừng, đồng hoang
bãi vắng, bất luận ở đâu con người cũng có thể giăng bẫy
buông lưới, v.v... để bắt các loài cầm thú một cách dễ
dàng. Lớn là bò dê chó lợn, nhỏ là tôm cua cá mú, tất cả
đều bị người giết để ăn thịt, khiến chim mất bạn bay cao,
thú bỏ bầy sống cô độc quả là tội ác lòa trời. Song vì pháp
luật không can thiệp nên người ta lại càng ham hành động
một cách thích thú, ca ngợi hết mình, thế mới hay người
hại người còn có giới hạn, song người hại vật thì không
biên giới, xem ra như vậy thì tội giết hại cầm thú còn lớn
lao hơn cả tội giết người, vậy thì tội cầm thú giết người
còn coi là hung bạo chăng? Đã tự coi mình là loại linh
thiêng nhất trong muôn loài, há lại còn tàn nhẫn ham giết
chóc được nữa hay sao?

Tiếc thay người đời từ nhỏ tới lớn, từ lớn tới già luôn
luôn tạo nghiệp ác sát sinh. Người mẹ mới thụ thai ăn
mừng cũng sát sinh, khi con đầy tháng cũng sát sinh, lúc
con đầy năm cũng sát sinh. Lễ cưới hỏi cũng sát sinh, cúng
bái thần thánh cũng sát sinh, đón khách cũng sát sinh, tiễn
khách cũng sát sinh. Ham ăn thì lắm bệnh, chỉ vì miệng
lưỡi và bao tử mà đến nỗi phải sát sinh, một đời giết rồi lại
giết, vui cũng giết, buồn cũng giết, những sinh mệnh bị
mình hủy diệt lên tới con số ngàn vạn mới thôi, nọc độc
không giải trừ ắt hẳn có lúc lâm trọng bệnh, vì muốn cầu
được sống mà hành động lại hủy diệt sự sống, lễ mừng tuổi
thọ là muốn được sống lâu mà lại sát sinh, lễ cưới hỏi muốn
được đoàn tụ mà phải giết chóc. Sinh con trai vốn là để nối
dõi tông đường mà lại đi giết gà mẹ gà con, như vậy còn
nghĩa lí gì? Theo lẽ thường tình, mỗi khi ăn mừng việc
lành thì phải cữ sát sinh mới đúng. Như mừng sinh nhật
chỉ nên kể chuyện rùa hạc sống lâu, mừng sinh con trai thì
kể chuyện loài sinh nhiều trứng, chớ nên trong lúc có
chuyện vui mừng mà lại bày trò giết chóc, chớ hại sự sống
lâu của loài khác để làm vui cho sự sống lâu của mình, loài
khác phải tuyệt giống để mình mừng có nhiều con trai.
Cùng trong một ngôi nhà mà phía trước có tiệc tùng vui
vẻ, phía sau là lò sát sinh, bên trên mừng vui chúc phúc,
bên dưới kêu thương thảm thiết, quả khó mà chịu nổi. Lại
còn có kẻ lấy sự sát sinh làm trò chơi, lấy sự giết chóc làm
khoái chí cùng chứng tỏ là mình quyền uy. Ôi! Thực quả là
kỳ quái.
Thế mới biết người đời chỉ vì một bữa ăn mà thành ham
chém giết, cả mười con chim sẻ bị bỏ mạng mới đủ một
bữa ăn, như ngao sò ốc hến phải giết bao trăm con mới đủ
một bữa nhậu. Xác loài vật vốn đã ngon miệng song vì tính
ham thích vị lạ lại còn chế biến thành trăm ngàn món để
thỏa mãn sự khoái khẩu, chỉ có vậy mà cầm thú bị họa.
Người đời ăn sống nuốt tươi, mổ cả bụng chửa để kiếm ăn
bào thai, lột da lóc xương, có cả trăm ngàn phương cách
sát hại loài vật, ăn cho no say rồi dương dương tự đắc, hơi
chậm mang đồ ăn ra đã mắng bồi bếp, không biết rằng
những vật thực trong mâm đều oán hận mình vô cùng, vì
bắt chúng phải khổ đau để cho mình sướng miệng, vậy mà
vẫn đang tâm nuốt trôi được nữa hay sao? Không cần phải
luận về báo ứng, chỉ cần có suy nghĩ một chút, hẳn là sẽ
thấy việc làm của mình tàn ác nào có khác chi loài lang sói.
Chỉ vì người đời bị miệng lưỡi và bao tử đòi hỏi nên mới
đang tâm làm chuyện ác độc như vậy mà thôi. Trên cõi đời
này, mỗi ngày có biết bao nhà trở thành lò sát sinh, chứa
đầy dao sắc, chỉ trong khoảnh khắc trên toàn thế giới
hàng vạn ức sinh linh đầu lìa khỏi mình, xác chất cao hơn
núi, máu chảy thành sông biển, cảnh tượng bi thảm bày ra
ngập đất, tiếng rên la hờn oán như sấm dậy rung trời, từ
sớm tới tối, chỉ thấy dao sắc mổ bụng, dao nhọn moi tim,
lột da lóc thịt, cứa cổ cắt họng, nhúng nước sôi, quay
trong lò lửa, thái nhỏ ướp muối tiêu hành tỏi. Than ôi!
Khổ nạn đáng thương biết mấy, đau đớn sức nào chịu thấu,
tạo nghiệp ác ngợp trời kiếp này, kết thành mối hận nghìn
đời kiếp này muôn kiếp về sau chung quy chỉ tại miệng
lưỡi và bao tử mà ra cả, quả là tội quá lớn lao.

III. Nhân lễ nghĩa trí tín là những điều làm thân con người
phải lo tu bổ. Có giữ được ngũ thường tức năm điều vừa
nói trên mới không thẹn là mang tấm thân con người bảy
thước, đầu đội trời chân đạp đất, cao lớn bằng trời đất,
cùng trời đất thành ba ngôi, gọi là tam tài. Chúng ta hãy
tìm hiểu cứu cánh cuối cùng của cuộc đời là gì? Người là
loài linh thiêng nhất trong muôn loài, thử hỏi nhờ cậy
được gì? Bởi lẽ là người đều có năm đức tốt đẹp là ngũ
thường tức nhân lễ nghĩa trí tín, cho nên không thẹn mà
nói rằng mình to lớn sánh cùng trời, là một trong ba ngôi.
Không hổ với danh hiệu là loài linh thiêng nhất trong
muôn loài, vậy mà còn phạm luật sát sinh thì chẳng hóa ra
đem năm đức tốt đẹp đó chôn vùi đi mất hay sao? Xả thân
kẻ khác để nuôi mình béo mập là điều bất nhân, chia lìa
quyến thuộc của kẻ khác để bày tiệc khoản đãi thân bằng
của mình là bất nghĩa, đem thịt da kẻ khác cúng bái thần
thánh là vô lễ, thân phước đức lại ăn đồ tanh hôi là bất trí,
bày mưu thiết kế để kẻ khác rơi vào bẫy sập là kẻ bất tín.
Thương ôi! Người ta sống trên đời hoàn toàn nhờ cậy ngũ
thường là năm đức tốt lành, điều kiện để làm người đã mất,
con người có khác chi loài cầm thú, có phải là cùng loài
với chúng không? Chu Ân Sĩ nói: “Nhân là đầu của ngũ
thường, từ là ngọn của vạn đức” nếu như chúng ta còn
muốn khôi phục thiên chức làm người, thì trước hết phải
lo thức tỉnh lòng nhân từ. Thế nào gọi là lòng nhân từ?
Tức là phải đem tâm mình, cảm thông cùng muôn loài,
nghĩ tới vạn vật khiến kẻ hung ác cùng cực cũng phải động
tâm. Đã không tàn nhẫn với vật thì hẳn chẳng thể ác độc
với người, do đó tự cổ chí kim, kẻ đã mến vật ắt yêu người,
kẻ yêu người ắt thương vật. Tôi sở dĩ không ngại khó nhọc
nói về vật chính vì muốn quảng bá lòng nhân từ để mọi
người từ bỏ việc sát sinh, chung hưởng thái hòa.
Xin những ai ham giết chóc hãy hồi tâm suy nghĩ, nhớ
lại cảnh cầm thú kinh hoàng muốn tìm đường thoát thân,
giận trời không giúp thang, hận đất không bẻ khóa. Khi
chúng bị ta lùng bắt hồn tan phách lạc như ngây như dại,
phải nghĩ tình đồng loại cũng là chúng sinh, chỉ giết một
con gà cả đàn gà kinh hãi, chẳng khác nào khi đất nước
chúng ta bị giặc hoành hành bày cảnh tử biệt sinh li kinh
hồn táng đởm, thử hỏi khi đó lòng ta tan nát tới mức nào?
Nghĩ tới phút chúng sinh bị giết kêu khóc than gào, mong
tha mạng sống, huyết tuôn xối xả, tiếng rên la còn hoài
văng vẳng, nào có khác chi khi ta bị lên đoạn đầu đài, chỉ
mong thần Phật cứu độ, thần thức phân li, so lúc sống thử
hỏi còn phân biệt được gì? Nếu như kẻ ăn thịt nghĩ loài
cầm thú không biết nói song há lại nhẫn tâm giết kẻ câm
sao? Cho cầm thú là không có lễ nghĩa, há lại đành lòng
giết đứa nhỏ đó sao? Cho cầm thú là không ơn huệ, há lại
đang tâm giết một người say điên rồ hay sao? Cho cầm thú
là có ác nghiệp nặng phải đọa lạc, phải trả quả, há lại nhẫn
tâm giết một kẻ bần tiện hay sao? Thương ôi! Người đời
thường trách cứ các loài khác là mạnh hiếp yếu, lớn ăn thịt
nhỏ, song hãy thử nhìn lại mình xem nào có khác chi, vậy
thì loài người liệu có tránh khỏi bị loài vật trách cứ không?
Khi người ăn thịt loài vật đương nhiên người mạnh vật
yếu, nếu như ta tha chết cho chúng hẳn là chúng ca ngợi ta
không ngớt. Thế mới biết dù người hay vật cũng đều ham
sống sợ chết, tình thương yêu đối với người thân dù vật
hay người chẳng khác, lúc bị giết người và vật đều đau đớn
như nhau. Điểm bất đồng có chăng là người có trí còn vật
vô tri, người biết nói vật không biết nói, người khỏe mạnh
vật yếu đuối mà thôi. Người cho rằng loài vật vô tri không
biết nói không thể tố cáo, yếu đuối chẳng thể thắng nổi ta,
mà cho rằng ta hơn vật kém, ta trên vật dưới, để rồi mặc
tình ăn thịt chúng, thì cái lí đó chẳng phải cái lí của trời,
càng không phải cái lí của người, thương ôi! Còn biết nói
sao đây.
Người ta mỗi khi gặp tai nạn xảy tới, ai ai cũng mong
được cứu mạng, mắt chưa nhắm hẳn là miệng còn cầu xin,
gặp gươm súng, đạo tặc thân xác run rẩy, tóc dựng ngược,
hai hàm răng lập cập đánh vào nhau, mặt biến sắc, táng
đởm kinh hồn, nếu như có người tới giải cứu, hẳn là vô
cùng cảm kích ghi nhớ tới chết không quên. Còn như khi
bắt được loài vật thì người lại quên ngay, chẳng còn biết
đau đớn buồn thương thống khổ là gì, giống như chưa
từng nghe từng thấy bao giờ! Thật đáng trách những người
khi bị kiến hoặc muỗi cắn liền tức giận ra tay tàn sát
chúng. Mới vừa nhức đầu đau mắt liền tới ngay bác sĩ,
dược sĩ, lỡ bị thương nào như giải phẫu băng bó để cầu
thoát chết. Yêu cái thân xác của mình tới mức đó, tại sao
vô tình không chút đoái hoài tới cầm thú nỡ lòng tàn sát
chúng, quả là không hề nghĩ tới lẽ trời báo ứng, pháp Phật
giới cấm, chỉ biết yêu mình một cách hoàn toàn ích kỉ,
không biết yêu vật, hoàn toàn bất nhân bất nghĩa, hành
động mưu cầu lợi ích riêng tư, không biết tới sự tự trọng
mà người quân tử cần phải có. Người đời phải đối xử với
những loài yếu đuối hèn mọn bằng tình thương yêu đùm
bọc, tuy giặc cướp tàn nhẫn, hổ lang dữ tợn cách mấy đi
nữa song vẫn còn hi vọng chúng biết phát tâm từ bi, huống
nữa con người so với loài vật có nhiều ưu điểm hơn mà lại
thua kém chúng sao? Không chịu yêu thương đùm bọc các
loài yếu đuối dại khờ thật đáng chê cười, vì đã bỏ thiện
theo ác, nếu tâm dễ dàng cảm kích nhất định phải coi
trọng chúng, chỉ tại mình suốt đời không chịu làm thiện
nên tình thương yêu mới bị thui chột, mới không chế phục
nổi tánh ác, do đó mới đàn áp coi thường loài vật. Ỷ mạnh
hiếp yếu, cậy đông đè ít, hành động ác độc đê hèn đó là
mầm móng gây ra tất cả những tội lỗi trên cõi thế gian
này. Căn cứ vào đó mà quan sát nhân loại, thì mới thấy
rằng nếu như không sửa đổi cách cư xử đối với loài vật
chắc chắn có ngày tư cách của người không được bằng
chúng, khi đó loài người sẽ bị sỉ nhục biết là bao. Sở dĩ
thánh nhân ban bố giáo pháp là vì coi trọng nhân nghĩa,
nhân nghĩa sẽ giúp mình tiến bộ bằng người, khuyến khích
mình đem lòng yêu thương loài vật.
Gần đây thế giới có xuất hiện một thiên sách làm rung
động nhân loại do hội bảo vệ loài vật công bố, nội dung
chủ trương “Hãy mở rộng tình thương đối với loài vật”
lương tâm con người đã bị băng hoại, vì vậy cần phải mau
mau phục hoạt, để loại trừ tính bất nhân, vị anh hùng vô
danh đó đã phát tâm từ bi vô lượng để mở những cánh cửa
lòng bằng sắt khép kín, sức mạnh của quý vị đó vô cùng
lớn lao khi nêu ra mười vấn đề:

1) Những năm chiến tranh trước đây chúng ta đã trốn
lánh, may nhờ trời đất che chở mới sống còn. Giả thử khi
đó bị giặc đuổi gắt, sắp bắt được ta, nếu như ta tránh được
khỏi tay giặc thì ta sẽ nghĩ sao, liệu có khỏi kinh hoàng sợ
hãi không?
2) Giả sử ngày ấy giặc bắt được, trói ta như heo dê, biết
chắc sẽ bị giết, thì ta sẽ nghĩ sao? Liệu có tránh khỏi loạn
óc không?
3) Giả sử ngày ấy nhìn thấy bạn ta bị giặc tàn sát, máu đổ
thịt rơi, ta sẽ nghĩ sao, liệu tinh thần có khỏi khủng hoảng
thất kinh không?
4) Giả sử ngày ấy nhìn thấy người thân bị giặc trói lại lấy
dao đâm mà không cứu nổi thì ta sẽ nghĩ sao, liệu có tránh
khỏi thống khổ không?
5) Giả sử ngày ấy, cái chết đến với ta, chân tay rụng rời,
lớn tiếng kêu cầu, cứ ngoắc ngoải hoài chẳng được chết
ngay, ta sẽ nghĩ sao, liệu có khỏi oán hận chăng?
6) Giả sử ngày ấy, gần gũi cái chết, chợt giặc tha không
giết ta, thử hỏi ta sẽ nghĩ sao, có vui mừng được thoát chết
hay không?
7) Giả sử ngày ấy, không thù không hận mà giặc cứ muốn
giết ta, thử hỏi ta sẽ nghĩ sao, có khỏi oán giận giặc không?
8) Giả sử ngày ấy, giặc tha ta sống, chỉ bắt làm tù binh,
đương hi vọng được cứu thoát chết, chợt có một tên giặc
lại tuyên bố là ta đã tới lúc tận số rồi, đem ra xử tử, thử hỏi
ta sẽ nghĩ sao, có oán hờn không?
9) Giả sử ngày ấy, trong đám bạn hữu bệnh hoạn, đáng lí
là phải được phóng thích, song lại có một tên giặc kết án
các bạn ta là những đồ phế thải, phải đem giết đi, chẳng để
chúng sống làm gì, thử hỏi ta sẽ nghĩ sao, có khỏi phẫn nộ
chăng?
10) Giả sử ngày ấy, trong hàng quyến thuộc của ta phần
lớn là những trẻ thơ, đáng lý phải được phóng thích, song
có một tên giặc lại tuyên bố là những trẻ nít không giết
cũng chết, chi bằng hãy ăn thịt chúng, thử hỏi ta sẽ nghĩ
sao, có khỏi oán giận không?

Ta hãy thử suy nghĩ lại những điểm nêu trên một cách
thật kĩ càng đi. Nếu như tất cả mọi người đều tự vấn lương
tâm để tìm hiểu, thì hẳn đều rõ là mình chỉ vì cái miệng và
bao tử mà nỡ lòng giết cầm thú cùng các loại cá mú tôm
cua, đặt chúng nằm trên thớt, lấy dao băm vằm mổ xẻ bỏ
vào nồi, thử nghĩ chính thân mình quyến thuộc mình,
bằng hữu mình mà phải lâm vào cảnh ấy thì hẳn mình khổ
sở biết bao, nói chẳng nên lời, thoáng giây hồn lìa khỏi
xác, thử hỏi lúc đó mình sẽ nghĩ sao đây! Hãy đem tâm so
sánh với tâm, cùng những điều vừa trình bày. Thêm một
cái ví dụ khi bị giặc bắt chín phần chết chỉ còn một phần
sống, may mắn vừa được lệnh ân xá, song lại bị giặc bác
liền, đem đi xử tử, trước cảnh tượng này sẽ nghĩ sao đây?
Chắc hẳn mọi người sẽ đồng thanh trả lời: “Chúng ta thề
sẽ giới sát, không làm phước chắc chắn gặp nạn vì chính
thân mình biết sợ khổ, sợ chết thì trí mình hẳn là đã sáng,
việc mượn thân xác loài khác để nuôi mình béo mập chẳng
hề suy nghĩ kĩ càng quả là bất nhẫn. Tâm này nguyện giữ
gìn trong sáng, làm được như vậy linh hồn chúng ta đã
hoàn toàn thức tỉnh rồi đó.

IV. Người trần nếu như một đời tâm không dấy niệm giết
chóc chỉ lo phóng sinh loài vật sẽ bảo vệ chính mình sống
còn một cách chân chính; cứu được một con vật khỏi chết
chẳng khác nào mình được cứu tử, làm như vậy tất cả
chúng sinh tự nhiên không còn sợ hãi. Mỗi ngày mười hai
giờ, mỗi giờ sáu mươi phút chúng ta phải lo phóng sinh
cứu tử, chớ chậm trễ, sợ rằng loài vật không kiên nhẫn chịu
đựng nổi sự nguy khốn; chẳng thể phó thác cho kẻ khác,
sợ rằng loài vật sẽ bị hại bởi họ; không được hẹn lần sợ kẻ
lòng tham bắt mất loài vật; không thể tin là chỗ đó yên ổn,
sợ rằng kẻ ham ăn thịt loài vật dò la thấy được. Gặp trước
mắt phải mua liền và phóng sinh ngay; ở chốn đồng hoang
phải thả thật xa, kẻo trước sau cũng bị người ta bắt giết, thì
cơ hội sống sót mới tăng dần. Bầu khí thái hòa không chỉ ở
ngoài vũ trụ mà còn chan chứa trong cái mình nhỏ bé của
chính ta. Chớ nghĩ rằng giết một thân xác nhỏ bé như con
sâu cái kiến là vô hại hay cứu sống con giun con dế là vô
ích. Chớ sợ phiền toái mà ngại làm việc thiện, chớ thấy vật
giá mắc mỏ mà phế bỏ thiện duyên, phải biết một vật nhỏ
mọn cũng không phải là nhỏ, tất cả chúng sinh cũng
không phải nhiều, ruồi muỗi không bé, trâu bò không lớn,
một xu cũng đủ, ngàn vàng không dư, chỉ tại tâm mình còn
tham muốn mà thôi. Chúng ta càng không lưu ý tới loài
vật thì sự tàn ác càng xảy ra nhiều, bởi vậy ta phải luôn
luôn khuyên nhủ hàng xóm láng giềng, kẻ thân người
thuộc bỏ dần tính sát sinh, nuôi dưỡng lòng trắc ẩn, nếu
như khiến được mọi người lưu tâm, hẳn là ta đã lập được
công đức lớn lao.

Người đời thường quan niệm chỉ cần tâm hiền chẳng
cần ăn chay, thử hỏi lòng lang dạ sói ngập trời đầy đất, ăn
cả thịt họ thì họ nghĩ sao? Tâm hiền của họ có giải quyết
nổi vấn đề không? Đại khái tâm bất nhẫn đã là người ai
cũng có, vì vậy khi nhìn thấy đồ tể giết chóc mà không
kinh hãi, là vì ý nghĩ những con vật đó mình cũng sẽ ăn,
chung quy chỉ tại người đã chẳng chịu bỏ tật ăn mặn, đổ
tội cho người khác gánh, cốt sao mình được no béo sướng
miệng mà thôi. Đâu có phải chỉ một mình kẻ bán mà cả
người ăn cũng mang tội, phải biết là nguồn thực phẩm của
trời đất cung cấp cho người ăn như các loại ngũ cốc, trái
cây, rau đậu dưới nước cũng như trên cạn hiện thời nhiều
vô số kể. Người đời lại còn có phương pháp chế biến rất
tinh vi khoa học để có được những món đồ chay ngon
lành bổ dưỡng không kém đồ mặn, mà tại sao lại còn giết
chóc những loài cũng có khí huyết, có tình mẹ con, có tri
thức, cảm giác như mình để ăn thịt! Tàn sát biết bao sinh
mệnh cốt chỉ để ăn cho sướng miệng, nhưng sau khi buông
đũa bỏ chén, sự khoái khẩu đó cũng chẳng còn, mà nghiệp
sát sinh thì phải đeo mang mãi mãi, há không phạm tội
sao? Người đời ăn đồ mặn mắc tiền bị nhiễm độc phải trả
giá mạng sống cũng chẳng rẻ nào, nên lấy chay thay mặn,
lấy sống thay chết, một được một mất, sự sai đúng khác
nhau muôn phần.

Ăn chay đương nhiên tâm ta được yên ổn vô cùng, lợi
ích cho thân ta vô hạn. Những năm gần đây việc ăn chay ở
các nước coi có vẻ đã thịnh hành, tìm hiểu nguyên nhân
thì thấy các nền khoa học đều tiến bộ, đã chứng minh rằng
giữa việc ăn thịt với ăn rau thì việc ăn chay có lợi hơn, đã
cảnh giác người đời rất nhiều. Mạng sống mình ai mà
chẳng quý, nên việc ăn chay ngày càng phổ biến, nhất là
tại Hiệp Chủng Quốc sự ăn chay cũng rất thịnh hành, các
khóa giảng giải về việc ăn chay tuy chưa được triệt để song
cũng đã trở thành hiện tượng, cải biến được nhiều hủ tục
tập quán. Để bảo vệ sinh mệnh ta chủ trương nhất định
không ăn thịt, phải bất bình trước vấn đề ăn mặn là thiếu
vệ sinh, nếu cần bàn cãi có nên ăn thịt hay không ăn thịt
thì phải lí luận thật đanh thép để chứng minh cho thấy là
ăn thịt rất có hại, ăn chay rất có lợi, thì nền tảng giới sát
mới được xây dựng, tiếng kêu gọi giới sát bi thiết sẽ đánh
động lương tâm mọi người. Trình bày một cách khoa học
cho người ta thấy về cái hại của sự ăn thịt, để giảng giải
thêm về sự độc hại của việc ăn mặn xin trình bày một cách
vắn tắt như sau:
a) Một hóa học gia người Pháp đã khám phá ra rằng trong
thịt của các loài cầm thú đều có ít nhiều loại vi sinh vật độc
hại, lúc cầm thú bị đau đớn tột cùng, tiết ra độc tố rất
nhiều, trong khoảnh khắc lan tràn khắp cơ thể, nếu như ăn
phải thứ thịt này, ắt hẳn bị tai hại lớn. Một tâm lý gia người
Mỹ tuyên bố: “Lúc tâm lí con người biến đổi mạnh thì có
các loại vật chất hóa học tương ứng tiết ra ngoài
như khi giận dữ mồ hôi toát ra, còn lúc bi ai thì chất toát ra
lại là khác, cũng giống như khi mở miệng than gào thì
luồng khí trong cơ thể toát ra, mỗi trường hợp biến hóa
đều khác nhau. Lúc bình thường ta lấy một ống thủy tinh
lạnh hà hơi vào, hơi đó ngưng đọng thành nước trong suốt,
không có màu sắc, nhưng khi phẫn nộ lại khác hẳn. Khi
giận dữ khí thổi ra trong năm phút đã ngưng đọng thành
sương trong ống thủy tinh, lại còn có màu sắc và đóng cặn.
Người ta dùng phương pháp đó thí nghiệm các loại tình
cảm của con người. Kết quả cho thấy sự giận dữ hóa thành
loại vật chất có sắc chim diều hâu, sự bi thảm hóa thành
thứ vật chất màu tro, sự hối hận hóa thành thứ vật chất
màu đá”. Về sau hóa học gia đó lại thực nghiệm một cuộc
thí nghiệm khác, bằng cách lấy chất nước của một kẻ đang
giận dữ chích vào một vật khác, tinh thần nó liền có sự
phản ứng kịch liệt cùng nổi giận ngay. Lại lấy chất nước
đó của một kẻ chuyên đố kị chích vào mình heo, mình
chuột chỉ ít phút sau chúng liền lăn ra chết. Căn cứ theo
kết quả của những cuộc thí nghiệm, thì sự giận dữ làm hao
tổn tinh lực trong mình rất nhiều vì chất nước tiết ra rất
phức tạp, rất độc địa. Cho trẻ con bú vú mẹ lúc người mẹ
đang phẫn nộ thì thật quả là bất hạnh bởi đứa nhỏ có thể
sinh bệnh do tình cảm bất mãn của người mẹ đã là nguyên
nhân chính sinh ra độc tố. Xem như vậy thì sự oán hờn của
một bát canh thịt quả thật sâu như biển, miếng thịt gắp
trên đũa nỗi hận thật khó mà phê phán, song ngày ngày
theo thói quen không ngớt nuốt vào đầy bụng. Ôi! Còn
biết chạy chữa cách nào, nguy hiểm thay, nguy hiểm thay!
b) Hiện tại có một số y học gia dùng kính hiển vi tìm thấy
trong thịt của các loài cầm thú đều có ít nhiều loại vi sinh
vật độc hại, do đó kẻ ăn thịt thường bị nhiễm các loại vi
trùng đó, nhẹ thì bệnh hoạn, nặng thì vong mạng. Trong
thịt heo, thịt bò đều có nhiều vi trùng, giới y học Mĩ quốc
mở cuộc thí nghiệm để điều tra tuyên bố kết quả như sau:
“Người ăn thịt phần đông mắc bệnh” nhất là bệnh phổi,
thổ tả, thực khách thường hay bị nhất. Bên Anh quốc trước
đây bệnh đau nhức khớp xương cho là tại rượu, song hiện
nay thì đã biết rõ là tại thịt. Chúng ta phải biết rằng ăn thịt
cơ thể sẽ có nhiều độc tố, khiến máu lưu thông chậm chạp,
não bộ sinh hoạt bất bình thường nên dễ sinh chứng bệnh
đau thần kinh. Ăn thịt sức đề kháng trong cơ thể bị tiết
giảm nên bị bệnh phù thũng, ăn thịt uống rượu quá nhiều
dễ khiến thận nóng. Tóm lại tôi chẳng muốn dài dòng luận
bàn cùng quý vị về y học, mà chỉ muốn nêu một số bằng
chứng cụ thể để quý vị rõ ăn thịt quả đúng là có hại nhiều
hơn có lợi, điều đó hoàn toàn chính xác. Ngày hè nóng
nực, đồ mặn dễ bị thiu thối, thịt đóng hộp lại càng dễ bị rỉ
sét, tất cả đều cho thấy ăn thịt rất nguy hiểm. Đây chỉ nêu
một số ví dụ thông thường, tôi chẳng cần phải nêu nhiều
bằng chứng, song cũng đủ thấy rằng kẻ ăn thịt vô hình
trung đã tự chuốc biết bao loại vi trùng thối tha tanh tưởi
vào trong cơ thể của mình. Than ôi! Thế mới biết kẻ hay băng
rừng, vượt suối thường gặp nhiều cọp dữ, quả là đáng sợ,
đáng sợ.
Tôi xin phép tiếp tục trình bày thêm về lợi ích của việc
ăn chay, mục đích của sự ăn uống là để dưỡng sinh, sở dĩ
chúng ta phải dùng đồ ăn là cốt mong có tinh lực, mà tinh
lực do ánh sáng mặt trời tạo ra, chỉ có loại thực vật sống
trong khoảng trời đất là biết lợi dụng nhiệt độ của ánh
sáng mặt trời mà hấp thụ nguồn tinh lực đó một cách trực
tiếp, nên chỉ có hạt mầm cây cỏ là thừa hưởng được nhiều
kho trời chung vô tận đó mà thôi. Nếu đem phân tích chất
bổ dưỡng trong thịt, ắt thấy thịt có chất gì thì rau cỏ ngũ
cốc cũng có đầy đủ các chất đó, song có cái lợi lớn hơn là
dễ tiêu hóa. Ví dụ nếu đem phân chất loại đậu nành thì
thấy chất đản bạch chiếm tỉ lệ tới bốn chục phần trăm, còn
trong thịt chỉ có hai chục phần trăm mà thôi. Chất đản
bạch của thịt lại khó tiêu hóa là vì cơ cấu tổ chức cơ tạng
của động vật đã sử dụng mất một phần nên chất đản bạch
đã bị giảm thiểu. Bởi vậy đem đồ mặn sánh với đồ chay
mới thấy chất đản bạch trong đồ chay rõ ràng là phong
phú hơn. Thực vật sinh trưởng giữa trời đất, được gió
sương mưa nắng cùng ánh sáng mặt trời tưới tắm nuôi nấng
rất đầy đủ chất dưỡng sinh cho người dùng, thì cớ sao ta
lại để máu thịt dơ bẩn thối tha của loài động vật làm hại cơ
thể mình. Nếu như so sánh giữa việc ăn mặn và ăn chay,
chúng ta sẽ thấy rõ ràng có sự phân biệt là ăn chay được
trường thọ, ăn mặn chóng chết; ăn chay thị dục lợt, ăn
mặn thị dục đậm; ăn chay thần trí trong, ăn mặn thần trí
đục; ăn chay đầu óc mẫn tiệp, ăn mặn thần kinh trì độn; ăn
chay sức lực được dồi dào, ăn mặn sức khỏe yếu kém. Ăn
chay huyết dịch trong, sức đề kháng mạnh mẽ, ăn thịt
huyết dịch đục, dễ bệnh hoạn. Những hội thể dục quốc tế
khi tranh tài, kẻ ăn chay phần đông thắng cuộc, đó là một
chứng minh đã cho thấy rõ. Vậy thời muốn xây dựng sự
nghiệp, bất luận cá nhân hay quần chúng, không phải chỉ
những kẻ khí huyết thô bạo mới nắm chắc phần thành
công. Người xưa nói rất đúng: “Kẻ ăn thịt thô bỉ” (Thực
nhục giả bỉ). Vậy muốn lập chí để trở thành người đường
đường chính chính, trước hết phải bỏ ăn thịt, tập ăn chay,
không những ích lợi cho cơ thể mà còn cho cả tâm hồn
nữa. Tóm lại chắc chắn kẻ ăn chay thân tâm thường an lạc.
V. Đây là chương sau cùng, tôi là một tín đồ Phật giáo
nên chỉ luận bàn về điểm quan trọng của việc cấm sát sinh
theo pháp Phật chủ trương. Giới sát ăn chay, vốn không
phải chỉ Phật giáo quan niệm, phàm những chủ thuyết coi
trọng nhân đạo đều đề cập tới, và bao gồm cả lí thuyết lẫn
thực hành. Những điều trình bày ở trên, đều bàn theo lập
trường chủ nghĩa nhân đạo, song Phật giáo cấm sát sinh
còn có lí do quan trọng khác, theo giới luật của Phật giáo
thì ngũ giới, thập giới, hai trăm năm mươi giới tì khưu, bồ
tát giới đều lấy giới sát làm đầu, nếu muốn làm thiện đều
phải bắt nguồn từ đó. Người đời đều nghĩ rằng mình ăn
thịt có ai hài tội đâu, cớ sao lại sợ? Than ôi! Thứ tâm địa
đó chẳng thể nào bàn cãi nổi, bởi vì lòng họ vốn đã điên
đảo coi thường luật lệ, khinh rẻ sinh mệnh. Còn chúng ta
là người biết giới sát để bảo vệ mạng sống cũng chỉ vì có
chút lương tâm chớ có phải vì luật này luật nọ cấm đoán
đâu. Giờ đây nếu như không xét lại bản tâm, buông bỏ tất
cả tới lúc cơ duyên mất đi muốn cải đầu hoán diện, thân
xác tuy còn không làm sao thực hiện nổi? Đã có mắt tai
thử hỏi nhìn nghe được gì? Đã có lục phủ ngũ tạng thử hỏi
nhìn nghe được gì? Thưa quý vị, chớ cậy có thân trăm
năm, vì cái chết tới chỉ trong chớp mắt, thật là rợn mình!
Ai ai cũng biết rằng kiếp này làm người, song đều quên
kiếp trước mình từng là loài gì! Kiếp sau mình là giống gì!
Phật có dạy: “Những chúng sinh bị ta giết kiếp này,
phần lớn là người thân của ta kiếp trước”. Quả là lời thống
thiết, đúng là lí chân xác. Phật còn dạy tiếp: “Người nào
cũng có tâm thức là ruộng, một niệm thiện ác dấy lên là
hạt giống, nếu như tâm giới sát dấy lên một niệm thảy đều
hạt gieo vào ruộng, thành mầm luân hồi muôn kiếp”. Các
chúng sinh bị giết, niềm phẫn uất dấy động cũng là hạt
giống gieo vào ruộng thức, thành mầm oán hận luân hồi
muôn kiếp, đời nọ nối tiếp đời kia vay trả trả vay không
bao giờ dứt.
Đại sư Liên Trì nói: “Nay ta buồn đau mà bày tỏ với thế
nhân rằng, ta chẳng dám bắt các người ăn chay, chỉ
khuyên các người giới sát thôi, vì hễ nhà nào giới sát được,
thần thánh liền bảo hộ, tai họa tiêu trừ, sống lâu trăm tuổi,
con cháu hiếu thảo thuận hòa, phước lộc vô biên không
thể tả nổi”. Lời dạy về lẽ nhân quả trên đây thực là chí lí,
mọi người phải ghi nhớ kĩ để rồi nghiêm chỉnh thực hành.
Thế nào gọi là nhân quả? Tôi xin trích dẫn hai đoạn dưới
đây để trả lời và đồng thời cũng để thay thế phần kết cho
bài này.
“Tất cả các sự vật trên đời đều bị chi phối bởi luật nhân
quả tuần hoàn, sự sống chết thọ yểu, phúc lộc họa hoạn,
gặp gỡ thịnh suy của người cùng sự hưng phế của một
quốc gia đều không phải ngẫu nhiên xảy tới, từ không mà
có. Người xưa nói: “Tích thiện hưởng phước, tích ác chịu
họa” đó là lẽ nhân quả vậy. Lẽ nhân quả này với lẽ số mệnh
là một, như một cộng một là hai, ba nhân ba là chín, đều
có một kết số nhất định, nhân nào quả nấy. Nhân đã thành
hình thì quả đương nhiên xuất hiện, quả nặng nhẹ bao
nhiêu chắc chắn nhân cũng y như thế. Lẽ nhân quả đơn
giản này người đời ai ai cũng hiểu, còn lẽ nhân quả phức
tạp cũng khó trình bày. Một cái nhân gieo xuống nếu như
không tương ứng nhất định sẽ tạo một nhân khác cộng với
cơ duyên trước đó tất nhiên sẽ được tương ứng, lẽ nhân
quả này thực chẳng đơn giản mà là phức tạp vậy. Sự biến
đổi phức tạp muôn phần ở cõi thế gian hoàn toàn tương
ứng với sự biến đổi phức tạp muôn ngàn trong nội tâm con
người, bởi vậy mới có cảnh sáu ngả luân hồi, muôn ngàn
khác biệt bày ra, và bởi tâm niệm của người không một
phút giây lắng đọng là nhân nên mới phát sinh thiện ác là
quả. Sở dĩ có hiện tượng ân đền oán trả dài ngắn trước sau
là do nghiệp nhân chuyển biến. Nghiệp nhân đã có cơ hội
biến đổi theo thời khắc thì quả báo cũng tự nhiên có khả
năng biến đổi theo thời khắc. Sự vật biến đổi muôn hình
vạn trạng, nhân nhân quả quả, như chủ nợ đuổi theo con
nợ, kẻ mạnh nắm lấy, thiện ác cuối cùng đều báo đáp, chỉ
sớm hay muộn mà thôi. Giống như trồng dưa được dưa,
trồng đậu chắc chắn đúng y như vậy”.
“Phật dùng mắt huệ nhìn thấy mười phương ba cõi, cho
nên khi giảng về nhân quả báo ứng, mỗi lời mỗi đúng, cái
nhìn cái biết của Phật vượt hẳn thời đại, bao quát muôn
ngàn kiếp, giống như chúng ta nhìn thấy sự việc đang diễn
ra trước mắt hết sức rõ ràng. Song mắt chúng ta là mắt thịt,
chỉ nhìn thấy những gì thuộc về vật chất giữa không gian,
chẳng thấy nhìn thấy nhân quả siêu thời gian. Mắt thịt
thấy vật, chẳng cần bàn rõ ra sao, như bị tờ giấy che ngăn,
không thấy được những gì phía bên kia tờ giấy. Còn như
nhân quả siêu thời gian, càng chẳng thể nói rõ nổi. Vì
chúng sinh sống trong cảnh luân hồi, sống chết ràng buộc,
thần thức biến dịch, ngũ uẩn bưng bít, giống như con ngựa
bịt mắt, chỉ biết đời này, chẳng rõ tiền kiếp hậu kiếp ra
sao. Chúng ta phải biết là đạo trí tuệ và tri thức khác nhau,
trí tuệ tự nhiên đại giác, chiếu sáng cùng khắp, tất cả các
pháp xuất thế của thế gian đều rõ ràng, thấu triệt. Còn
phạm vi tri thức chỉ có thể suy nghĩ tính toán những việc
trước mắt thuộc về đời, người thường cũng hiểu nổi, vì sờ
thấy, nghĩ tới được. Những môn học hiện giờ trên thế giới
như khoa học, triết học, chúng ta là đệ tử của Phật không
phản đối mà còn khuyến khích, đến như đem lại tri thức
này phê bình đánh giá cùng phỉ báng thuyết nhà Phật thì
không thể được. Chúng ta hiểu phương pháp khoa học là
tự nhiên trong thực nghiệm, thái độ của nhà khoa học là
phải thực tế chứng minh được rồi sau mới tin, song biết
dùng phương pháp thực nghiệm nào? Hay là lại đem ngũ
quan ra làm công cụ để thí nghiệm chăng? Bất cứ dùng
phương pháp nghiêm mật cùng khí cụ tinh xảo tới đâu tất
cả đều không thể vượt qua phạm vi của ngũ quan. Thử hỏi
ngũ quan có thực chính xác không? Có thể xác định được
tiêu chuẩn bất di bất dịch không? Ví dụ như phân, người ta
cảm thấy thối chẳng thể gần nổi thì chó lại có thể ăn, cái
mà lưỡi có thể nếm thì không có tiêu chuẩn, cũng như dấu
chân của người đi đường, chó có thể đánh hơi mà người
chẳng phân biệt được, còn ngoài ra đều có thể tìm kiếm sự
tương đồng. Xem như vậy thì mọi kết quả của khoa học
đều phải dùng ngũ quan làm công cụ tìm kiếm, nói là vạn
năng thì ai có thể tin nổi? Nếu lùi mười ngàn bước thừa
nhận khoa học cầu là được, là lẽ tuyệt đối đi, song vũ trụ
vốn lớn vô cùng, còn vị trí của nhân loại dĩ nhiên là khó
mà có thể hình dung nổi, vả lại sự kiến giải của nhân loại
thật là rất giới hạn, nên sự kiến giải rất giới hạn đó chẳng
thể tin cậy được! Bởi vậy chỉ có trí huệ mới có thể thấu
triệt tất cả các pháp thế gian vượt thế gian thôi, còn như
trông cậy vào tri thức thì chẳng thể đạt tới nổi. Có một số
người không tin thuyết luân hồi nhà Phật, luôn luôn giữ ý
kiến có chứng nghiệm được thì họ mới chịu tin, song nói
tới chứng nghiệm là phải nghĩ tới việc dùng tai mắt để tìm
hiểu, phải đem cái xa cái lớn ra làm chứng, phải đem
những thuyết của các bậc hiền triết cổ kim ra làm bằng cớ.
Đem những chứng nghiệm xưa nay ra để cho chúng ta
thấy, nếu như còn nghi hoặc, liền đem sự hiểu biết gian
dối của chính mình ra chứng nghiệm để tin tưởng, đã
chứng nghiệm mà còn nghi ngờ không tin, hiện tại có
chứng không tin, không chứng cũng không tin. Pháp sư
Ấn Quang nói: “Nhân quả báo ứng trong kinh chữ nho rất
nhiều, tiếc rằng các nhà nho không chiêm nghiệm nhiều về
sống chết cho nên thấy cũng như chưa thấy, do đó người
có thiện căn nhân duyên chẳng cần có chứng nghiệm rồi
mới tin, còn kẻ nghiệp chướng nặng tuy có chứng nghiệm
song họ vẫn không tin, tin hay không tin là việc của cá
nhân họ, còn sự chứng nghiệm vẫn là sự chứng nghiệm, sự
thực nhân quả tương ứng vẫn không vì những kẻ không tin
mà thay đổi. Người đời phần đông vì những chuyện bất
bình trước mắt mà sau tránh không khỏi ác nghiệp của quả
báo, há chẳng đáng thương
Chúng sinh đọc xong bài : Tiếng kêu cứu sống đau thương do Lý Viên Tĩnh thuật hẳn là sẽ động lòng trắc ẩn, rất mực thương yêu đùm
bọc các loài động vật có thân xác máu thịt như người. Sát
sinh nhiều dĩ nhiên không tốt, khoa học kỹ thuật phát đạt,
y học tiến bộ, y viện tối tân, hàng ngày dùng dao kéo mổ
xẻ con bệnh không biết bao nhiêu mà kể, về phía bệnh
nhân khi tới đó cũng đành phó thác thân xác của mình. Từ
cõi vô hình nhìn xuống mới thấy đời nay người ta bị mổ xẻ
cắt bao tử, ruột già ruột non, lóc thịt cạo xương, cưa chân
cưa tay, lục phủ ngũ tạng bấy nhầy, nguyên nhân tạo cảnh
này bởi kiếp trước sát sinh nhiều quá nên giờ đây lại diễn
lại tấn tuồng thịt đổ máu rơi. Nhất là đám ghiền ma tuý
thân thể bị tàn phế, nào như xương mục, tủy rỗng, khi y sĩ
mạnh tay xuống dao té đái lòi phân. Những oan hồn đứng
bên thấy chủ nợ máu thịt của mình bị mổ xẻ cắt thiến đau
đớn như vậy thì lại vỗ tay reo hò: “Sướng thay! Sướng
thay!”. Thế mới hay luật tàn sát sinh linh ở cõi thế gian
thật là khắc nghiệt, miệng càng thích hưởng sung sướng
bao nhiêu thì càng phải trả quả đau đớn trên bàn mổ bấy
nhiêu.

Last edited by Rau Sam; 03-05-2016 at 08:04 AM..
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 03-14-2016 , 03:13 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-15-2016 , 01:30 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  


Cùng chung sức gieo hạt giống yêu thương đến cho muôn loài. Cám ơn Mod đã chia sẽ vài lời sách tấn, tràn đầy tâm từ ái .
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-23-2016 , 01:39 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
LỜI TỰ THÚ CỦA MỘT NI CÔ (Trích trong trang Web :Đường về cỏi tịnh)

Tôi là Thích nữ Tuệ Nhi xuất gia tu hành năm 17 tuổi. Lứa tuổi đầy năng động. Sẵn thông minh nhạy cảm tôi theo đuổi sự học hành và được Sư phụ trợ duyên cho ăn học. Sau nhiều năm vừa tu vừa học tôi đã đạt được 4 bằng cấp đại học và tự mãn rằng mình có kiến thức học vị thế gian và cả Phật pháp có thể giúp ích cho Tín đồ.
Cha tôi tên Lại văn Từ một người ít học lại là người Tàu ở Chợ Lớn. Công việc của ông là buôn bán đồ phế thải. Hàng ngày ông bôn ba khắp nơi để thu nhặt những đồ đạc người ta không dùng và bán đi để nuôi sống gia đình.
Phước may cho ông gần cuối đời có người mách bảo phương pháp tu hành niệm Phật. Ông thật thà chất phát nghe tin theo và làm một bàn thờ tại nhà để ngày ngày niệm Phật cầu vãng sanh. Mẹ tôi cũng thế.
Bất ngờ một ngày nọ khi ông ở lứa tuổi 75. Ông tự tuyên bố với gia đình ngày 14 tháng 7 ông sẽ vãng sanh Cực Lạc. Mọi người trong nhà bán tin bán nghi.
Trước khi vãng sanh ông bị một cơn bệnh nặng phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Nhưng đến ngày 11 tháng 7 năm đó ông bình tĩnh xin được xuất viện về nhà.
Ông hỏi gia đình hôm nay là ngày mấy? Gia đình trả lời là ngày 11 tháng 7. Ông nói ba ngày nữa ông sẽ vãng sanh . Đức Phật đã báo trước rồi. Nấu cho ông ba trái khoai lang cúng Phật. Đúng ngày đấy ông an nhiên niệm Phật ra đi một cách êm nhẹ có đầy đủ ân chứng vãng sanh. Mẹ tôi cũng được vãng sanh sau đó vài năm.
Tôi thấy cha mẹ tôi rất ít học nhưng tin Phật pháp chỉ niệm Phật mà được giải thoát. Nhìn lại tôi đã 50 mươi tuổi học thức đầy đủ, toàn văn bằng Tiến sĩ Đại học nhưng tôi không cảm thấy mình có thể giải thoát bằng cách nào?
Bằng cấp tôi đạt được chỉ để giúp truyền đạt kiến thức thế gian. Quả thực không có thực dụng cho sự nghiệp thành tựu trí tuệ thực chứng. Tôi cảm thấy cha mẹ tôi thực sự đã phát minh được trí huệ qua quá trình niệm Phật mà tôi nghĩ quá đơn giản.
Bây giờ tôi mới liễu ngộ được sự thật là học vấn của tôi chỉ là một hình thức vọng tưởng, tôi đã nhét vào đầu những học vị tiến sĩ bằng cấp cao học này nọ chỉ là để thỏa mãn cái ta một cách trơ trẽn thực sự không ích lợi cho tôi về phương diện thực chứng chân lý.
Cha mẹ tôi tuy ít học nhưng hai người biết nhét vào đầu họ những câu niệm Phật đơn giản. Chính vì sự quá đơn giản này mà không ai ngờ nó ẩn chứa trong đó một sức mạnh tâm linh và trí tuệ siêu thoát vĩ đại bởi sức gia trì của chư Phật.
Từ nay với lứa tuổi 50 tôi phải dũng mãnh dừng lại sự giảng dạy, lập tức quay đầu niệm Phật. Đời sống có ý nghĩa gì khi ta không thể nhận thức vòng sanh tử luân hồi vô gián đoạn đã kéo lê kiếp sống vô minh mà ở đó nỗi thống khổ và đau đớn thê lương của mình cùng hàng triệu sinh linh luôn luôn đè nặng.
Tôi không dám dụng ý khuyên mọi người niệm Phật theo tôi. Nhưng tôi muốn bày tỏ sự giác ngộ của mình khi nhìn thấy song thân tôi không có một trình độ chi hết mà được tái sanh nơi cõi Phật trong khi đó tôi là một người tu hành xuất thế lại có nhiều bằng cấp học vị tiến sĩ mà rốt cuộc vẫn mù mờ trong ý niệm siêu thoát tâm linh.
Phải chăng tôi đã làm những cái không cần thiết mà tôi tưởng rằng vinh dự? Tuy cha mẹ tôi là người thế tục lại ít học nhưng đã biết làm những cái cần thiết trong cuộc đời quá ngắn ngủi này. Phải chăng tôi dù học rất nhiều nhưng vẫn không đạt được trí tuệ để hiểu lời dạy rất đơn giản của đức Phật là “hãy tinh tấn lên để giải thoát” (không phải tinh tấn để cầu danh hảo thế gian).
Tôi cũng không thực sự hiểu là bản hoài của chư Phật ra đời là để dạy dỗ tâm linh cho mọi người đặng sớm chấm dứt vòng sanh tử chứ không phải để mưu cầu cái gì khác từ thế giới huyền ảo này.
Cái vô minh mà đức Phật thường nhắc đến trong kinh điển phải chăng ám chỉ mọi người không biết MÌNH LÀ AI? PHẢI LÀM GÌ? Và CHẾT ĐI VỀ ĐÂU? trong cuộc đời quá ngắn ngủi này.
Thích Nữ Tuệ Nhi
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-23-2016 , 01:48 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NĂM THÁNG KHÔNG ĐỢI ĐỪNG HẸN NGÀY MAI.( Tác giả :Thích Trí Thủ )

Trên con đường tu hành, việc niệm Phật là một việc vừa cần thiết, vừa cấp bách. Hễ gặp dịp tu là tu liền, gặp dịp niệm được là niệm ngay, chớ nên chần chờ để cho thời gian luống trôi qua một cách vô ích.
Phật dạy mạng người ở trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào nữa là đời tàn! Bất luận lúc nào, giờ phút nào, con người cũng có thể chết được, không một ai có đủ tài năng bảo đảm đời sống vững chắc lâu dài. Thế gian có câu ca rằng: “Đời người khác thể bóng câu, sớm còn tối mất biết đâu mà lường”.
Sự thật đơn giản và phũ phàng ấy, từ Thánh nhân cho đến thế tục, không ai là không xác nhận. Sinh hữu hạn, tử vô kỳ, cho nên muốn kịp thời đối phó với cái chết bất thần, ta không nên để lỡ một thời gian nào trôi qua mà không tu niệm. Bất cứ lúc nào tu được, niệm được thì phải gấp rút và tinh tấn hành trì; có thế lúc lâm chung mới tránh khỏi cảnh hoang mang tay quàng chân rối, lúng túng chẳng biết về đâu!
Có một số thường nghĩ sai lầm rằng tay chân còn tráng kiện, đời sống còn dài, việc tu niệm xin để gác lại, đợi khi nào già yếu sẽ bắt đầu hạ thủ công phu cũng không muộn gì. Trong sự tu niệm bằng cách sắp đặt tính toán như trên thường hay đưa đến hỏng việc.
Ngày xưa, có người đến nhà bạn là Trương tổ Lưu khuyên niệm Phật. Trương nghe theo, nhưng xin khất lại một ngày khác vì có ba việc chưa làm xong: một là cha mẹ đang còn cần phải lo phụng dưỡng, hai là con cái chưa dựng gả xong, ba là việc nhà chưa thu xếp gọn. Trương hẹn khi nào làm xong ba việc ấy, sẽ hạ thủ công phu, nhất tâm niệm Phật. Sau khi cáo ra về được vài ba tháng, người kia trở lui thăm với chủ ý khiến ông bạn đừng nên chần chờ nữa, nhưng than ôi! Khi đến mới biết rằng bạn đã là người thiên cổ! Bèn ngậm ngùi than thở và làm một bài thơ điếu rằng:

“Ông bạn tôi tên Trương tổ Lưu,
Tôi khuyên niệm Phật hẹn ba điều,
Diêm vương ác hại không thèm hiểu,
Ba việc chưa xong vội bắt liều.”

Người đời dù quyền cao chức trọng đến đâu, vẫn không thể bảo đảm cho tương lai đời mình một cách chắc chắn được. Trường hợp như Trương tổ Lưu trên đây không phải là hiếm, vì thế nếu đã có chí tu hành thì tâm phải cho quyết và phải biết lợi dụng thời gian mới khỏi để ân hận về sau. Vậy, lúc nào tu được là nên tu liền, phút nào niệm được là phải niệm ngay.
Trích PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ
Hòa Thượng Thích Trí Thủ biên tập
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-23-2016 , 01:53 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Bài giãng mới nhất của Hoà Thượng THÍCH PHƯỚC ĐỨC.

TÌM VÀ TIẾC

http://www.phatam.com/video/thich-ph...63427a5c4.html
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-26-2016 , 03:53 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Người Tu Đạo Phải Xem Danh Lợi Như Nước Lũ Và Thú Dữ HẠI NGƯỜI.

Người Tu Đạo Phải Xem Danh Lợi Như Nước Lũ Và Thú Dữ Hại Người
Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên con đường học Phật. Từ xưa đến nay, có biết bao anh hùng hào kiệt và tài tử cao nhân nhưng vẫn tiêm nhiễm đến danh lợi, để rồi tới tấp trúng tên ngã ngựa, phát độc mạng vong, uổng phí tâm huyết một đời khổ sở nổ lực tu hành. Giá phải trả vì tham danh cầu lợi là một đời để qua suông, vẫn ở trong vòng luân hồi thọ quả báo khổ sở không lúc nào hết.
Người học Phật nên cẩn thận đề phòng danh lợi. Phải xa lìa danh lợi, luôn giám sát và quán chiếu nội tâm mình. Nhất thiết không nên tham cầu danh lợi.
Phải triển khai tới cùng và đem việc lớn sinh tử của chính mình đặt nó ngay sau gáy. Nếu tu hành chỉ vì thủ đoạn và mượn cớ để truy cầu danh lợi, hạng người này trên đời chỉ có tiếng vỗ tay tán xưng của kẻ dua nịnh. Cuối cùng việc giải thoát vãng sinh về Tây Phương không đủ tư cách nói đến.
Một câu nói quan trọng ảnh hưởng đến cuộc đời của Đại sư Liên Trì, đó là lời khai thị cuả Đại sư đến khắp tất cả: ”Bạn có thể giữ tròn bổn phận, không cần tham cầu danh lợi, đừng để tâm phan duyên, phải biết rõ ràng nhân quả và nhất tâm niệm Phật”. Bấy giờ, những hành giả đến cầu chỉ dạy, đối với lời khai thị bình thường không có gì là lạ này, phần nhiều còn cười lớn khinh miệt, không cho là đúng, lại còn cho rằng ngoài mấy lời này chẳng biết nói gì khác. Ngàn dặm ngưỡng mộ, đến cầu cứu một vị thiện tri thức trong thiên hạ khai thị mà chỉ nghe được mấy câu không có gì là huyền diệu. Lời khai thị không có giá trị nửa văn tiền. Nhưng đại sư Liên Trì có đại trí tuệ, biết được mấy lời này dung hoà khắp tất cả. Đại sư trọn đời tha thiết hành trì, thể nhận đến kho báu chân thật. Phải biết, đây là chỗ cao minh của đại sư. Đại sư không bao giờ nói huyền nói diệu, hay nói cho cao để hơn hết hậu học. Chỉ với lòng chân thật, đem yếu điểm công phu rất gần và rất thực do mình thể nghiệm qua mà khai thị, để cho hàng hậu học thật sự theo lời khai thị này mà tu hành đạt được lợi ích. Đây là do Đại sư Liên Trì một đời hết sức tuân thủ, không dám quên, nên sự thành tựu vượt hẳn người phàm.
Trong nhà Phật có lưu truyền câu chuyện thế này: đứng bên bờ sông, nhìn vô số thuyền bè qua lại, đại Lão Hoà Thượng nói với tiểu Sa-di đứng bên cạnh rằng: “Từ xưa đến nay, thuyền đi thuyền đến, không bao giờ hết. Người trên thuyền này đang theo đuổi và bận rộn chỉ có hai việc. Đó là danh và lợi, có thế mà thôi!” Chúng ta là hạng phàm phu sống chết trên biển danh lợi, lúc nào mới có thể chân thật khám phá, thật sự buông xuống và thành tâm niệm Phật cầu sinh Tây Phương Cực Lạc? Từ nơi chỗ lang thang phiêu bạt, quay về quê hương Cực Lạc, không còn trôi nổi trên biển nghiệp sinh tử luân hồi.
Danh và lợi làm người đời mê muội. Chúng ta không những thờ ơ với danh và lợi mà phải tiến thêm một bước xa hẳn danh lợi. Xem danh lợi như nước lũ và thú dữ hại người. Vì căn cơ chúng ta châm lụt, sức định quá yếu, chống chọi không lại với danh lợi mê hoặc. Dùng đạo lý đối trị, chỉ còn cách là xa hẳn danh lợi. Đối với một chút hành vi, tiêm nhiễm đến màu sắc danh lợi, nhất định phải tránh xa. Như thế mới không đến nỗi bị mê hoặc điên đảo, quên mất mục tiêu chính đáng là học Phật để giải thoát sinh tử.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-27-2016 , 03:01 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
QUÀ BÁO CỦA NHỮNG NGƯỜI HÀNH NGHỀ PHÁ THAI

Con có một người bạn thân ở Đài Bắc. Cô vốn là một thầy thuốc giúp người phá thai, y thuật của cô rất giỏi nên đã giúp rất nhiều người bỏ thai. Sau khi cô được học văn hóa truyền thống thì phát hiện ra việc làm này là giết người nên cô đã bỏ nghề, quyết định không làm nữa. Có một lần, trước đó khoảng một tháng, cô ấy tìm đến nhà con rồi thuê một căn phòng đối diện nghỉ dưỡng. Nửa đêm, khoảng 3 giờ sáng, cô điện thoại cho con khóc nức nở và cầu cứu:
– Chị Gia Lệ ơi, xin hãy cứu em.
Con cứ nghĩ cô ấy bị kẻ xấu ức hiếp nên mới bảo cô gọi cảnh sát. Nhưng cô ấy trả lời:
– Không phải, không phải, cứu em, cứu em.
– Con hỏi: “Bây giờ em đang ở đâu?”
– Em đang ở nhà nghỉ.
Rồi cô khóc đến tắt tiếng, không thốt lên thành câu. Con nói:
– Vậy em mau qua chị đi.
Khoảng 4 giờ thì cô ấy qua đến chỗ con. Vừa vào đến nơi thì cô ấy ôm chặt lấy con, đầu tóc rũ rượi, cả người run cầm cập, sợ kinh khiếp. Con cứ ngỡ phía sau cô ấy còn có kẻ xấu bám theo nên con mới hỏi :
– Có ai theo em không ?
Cô ấy không trả lời mà khóc liền một mạch suốt 3-4 tiếng đồng hồ. Sau khi bình tĩnh trở lại, cô hỏi con:
– Chị Gia Lệ có biết gì không? Có rất nhiều trẻ con đầy trời, khắp đất. Những đứa trẻ này thiếu tay, thiếu chân, không có đầu…chúng đến bóp cổ em, khiến cho em thở không ra hơi.
Sau khi học lớp văn hóa truyền thống, cô ấy đã bỏ nghề này rồi thì tình trạng này cứ liên tục xảy ra với cô ấy, khiến cho cô bị bệnh thần kinh. Người chồng mới đưa cô đến bệnh viện tâm thần, hết thảy mọi người đều cảm thấy rằng cô ấy bị điên, cứ ngày nào cũng bị hành hạ như vậy thì làm sao khỏi bệnh. Bản thân cô ấy cũng rất đau khổ, ban đêm không tài nào ngủ được, vừa chợp mắt thì các vong nhi (tiểu anh linh) liền xuất hiện khủng bố tinh thần rất dữ dội. Cô ấy cảm thấy không còn thiết sống nữa, sống như vậy thì chẳng còn ý nghĩa gì cả. Như thế không phải địa ngục thì là cảnh giới gì?
Và một trường hợp khác là con có một cô bạn cũng là bác sĩ phá thai, sống tại Thượng Hải. Cô bác sĩ này thường giúp người khác hủy hoại thai nhi. Sau này cô mắc phải một căn bệnh kỳ lạ, đó là khi cánh tay cô vừa duỗi ra thì thịt cứ rớt rụng xuống. Ngày nào thịt cũng rơi, máu chảy tùm lum, ai nhìn thấy đều rất kinh hãi. Cô cảm thấy rất đau khổ, cô đã tìm đến tất cả bệnh viện trong nước để điều trị chứng bệnh quái lạ này, nhưng hầu như các bác sĩ Đông, Trung, Tây y thảy đều bó tay. Họ bảo chứng bệnh này quá kỳ lạ nên không chữa được.
Sau này, nghe nói ở Hồng Kông có thể trị được nên gia đình cô đã đưa cô đến để châm cứu, mỗi lần châm cứu tốn khoảng 480 ngàn NDT (khoảng gần 75.000 đô la Mỹ). Gia đình cô cũng giàu có nên vẫn điều trị cho cô. Thế nhưng, tình hình vẫn không khả quan, cô lại đau khổ và…hết cách.
Về sau, nhờ một người bạn giới thiệu nên cô may mắn được tiếp xúc với Phật pháp. Người đó khuyên cô hãy học Phật, niệm Phật đi. Sau khi học Phật rồi, cô tham gia vào một Pháp hội và thành tâm thành ý niệm Phật cầu sám hối lỗi lầm. Dù sao thì cô ấy cũng đang bệnh nặng sắp chết rồi, thôi thì niệm Phật, cái gì cũng buông xả hết, ngày nào cũng chăm chỉ mà niệm Phật. Trong thời gian niệm Phật thì xuất hiện một kỳ tích. Trong thời gian chí thành niệm Phật, cô ấy đã nôn ra một vật vừa đen vừa hôi thối. Nôn ra hết thì da dẻ cô ấy lập tức thay đổi, da thịt không còn rơi rụng, vết thương bắt đầu kéo mài. Chồng của cô ấy vốn chưa bao giờ biết đến Phật pháp, nay chứng kiến được sự nhiệm mầu của cô ấy thì cả nhà cùng quy y Tam bảo, trở thành những Phật tử thuần thành.
Hai trường hợp trên đây chính là Báo ứng hiện đời. Trường hợp này, họ đã chân thật sám hối nên mới hiển hiện cái Quả báo này để cho mọi người cùng được xem thấy, nhằm khuyên bảo mọi người nhất định đừng phá thai nữa. Như vậy có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của cô ấy.
Cho nên, vạn phần đừng bao giờ KHUYÊN NGƯỜI PHÁ THAI, KHÔNG NÊN LÀM NGHỀ PHÁ THAI VÀ BẢN THÂN CŨNG ĐỪNG TẠO TÁC RA THAI NHI ĐỂ RỒI PHẢI ĐEM BỎ. Tội này cực trọng, bởi vì bạn giết súc sinh hay giết người là kẻ thù của bạn thì tội còn nhẹ hơn một chút, chứ giết con của chính mình thì tội rất nặng. Vong nhi trở thành oan gia trái chủ đeo bám mãi những người kết oán với nó, chờ cơ hội để trả thù, làm sao bạn có thể trốn thoát được?
Nếu đã từng phạm phải lỗi lầm thì bạn hàng ngày phải ra sức chân thành sám hối ăn chay, niệm Phật, đem công đức này hồi hướng cho các vong nhi mà mình từng bỏ, sau đó trải rộng ra hồi hướng cho tất cả các tiểu anh linh trên thế giới này bị cha mẹ phá bỏ, thì may ra mới có thể hóa giải được mối oán cừu sâu nặng này.
Đệ tử ghi chép lại hai câu chuyện thật này hầu chia sẻ khắp những người hữu duyên. Nếu có chút công đức nào, xin hồi hướng cho hết thảy các tiểu anh linh tận hư không, khắp pháp giới có thể buông bỏ oán thù, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, vĩnh viễn lìa khổ được vui.
Nam Mô A Di Đà Phật.

Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ đĩa “Quý trọng sinh mạng, xin đừng phá thai giết con” – Cuộc phỏng vấn giữa cô Đinh Gia Lệ và Hòa thượng Tịnh Không năm 2011

Last edited by Rau Sam; 03-27-2016 at 03:14 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-27-2016 , 03:13 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
HOÀ THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH (95 tuổi ) KHAI THỊ.


Tôi năm nay đã 95 tuổi, ngày giờ đã đến lúc phải mãn. Tôi cũng cố gắng lắm, kỳ thật những người bạn đồng tu cùng thời với tôi đều đã theo Phật từ lâu. Tôi còn ở trên đời để gặp mặt tất cả các huynh đệ là điều hy hữu lắm. Tôi tuổi đã cao, sức khỏe cũng yếu không thể nói nhiều nên chỉ nói những điều cốt yếu để nhắc nhở tất cả các huynh đệ.
Trong việc tu hành, Quả Vị cao của các bậc Thánh chính yếu là nương nơi Lý Tánh (Tánh Không). Nhưng chúng ta đều là người sơ cơ, trong Sáu Nẻo Luân Hồi dù rằng may mắn được thân người nhưng vẫn còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử, nói thẳng đều là phàm phu tục tử. Cho nên mình phải biết căn cơ và vị trí của mình trong hiện tại để bước đi cho vững chắc. Vì sao như vậy? Vì ngày, tháng, năm, tuổi không chờ đợi. Trong Kinh nói, những cõi nước khác thọ mạng người dân tính bằng số kiếp, tính theo thời gian ở cõi này không biết bao nhiêu triệu năm. Còn thọ mạng của loài người ở cõi này chỉ mấy mươi năm, rất ngắn ngủi. Một ngày ở cõi Trời Tứ Thiên Vương bằng 50 năm ở cõi người, còn ở cõi Trời Đao Lợi thì một ngày bằng trăm năm ở cõi người. Thế nên đời sống con người ngắn ngủi không bền lâu. Chỉ vì chúng ta là phàm phu mê tối được một ngày thì cho là dài lâu, được một tháng hay một năm lại lầm tưởng là lâu hơn. Kỳ thật, thời gian qua rất mau do đó mình phải tranh thủ thời gian ngắn ngủi này đừng để lãng phí.

Tôi từ lúc vào chùa, biết được Phật Pháp, trước tiên là tụng thuộc lòng KINH PHỔ MÔN. Các huynh đệ nên nhớ tụng nghĩa là phải thuộc lòng. Tôi biết được công hạnh của Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM liền nghĩ rằng: Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh như thế, mình cũng phải làm gì để đem lại lợi ích cho mọi loài? Mình bây giờ lẩn quẩn chỉ lo ăn, lo uống, hoàn cảnh xung quanh toàn là những chuyện phàm phu tục tử, phiền não nghiệp chướng. Từ đó tôi mới lập chí. Tôi thường ra nơi thờ Ngũ Hành trong Chùa Vạn Linh (Núi Cấm) ở đó thanh vắng, một mình để học thuộc Kinh. Chỉ trong hai tháng, thời công phu sáng chiều, tôi thuộc làu hết. Lúc tôi xuất gia vô chùa không có Áo Tràng để mặc. Mỗi khi tụng Kinh ở Chánh Điện thì tôi phải mượn. Lúc đó có cô Phật tử cúng bốn thước vải nâu, yêu cầu tụng 60 biến Phẩm Phổ Môn. Các thầy bảo tôi nên nhận lãnh phần này để được vải Nâu may Áo Tràng mặc đi tụng Kinh. Tôi hứa nhận, chỉ một ngày tôi thuộc Phẩm PHỔ MÔN. Nhờ đó tôi biết rõ bổn phận của mình phải làm gì để lợi ích chúng sanh, trong khi thời gian lại quá ngắn. Tôi sức khỏe lại yếu kém, trong đại chúng là người ốm yếu nhất.
Tôi biết chữ Hán, nên chùa giao việc viết sớ cầu an cầu siêu. Lúc đó lá sớ phải viết sẵn bằng tay, khi có việc thì điền tên thí chủ vào. Do đó chùa cất cho tôi cái cốc, chiều ngang 1,5m , chiều dài 2,5m làm bằng tranh, tre. Tôi lấy tấm ván làm cái bàn để trên đầu giường, ngồi trên đầu giường để viết sớ. Nhưng tôi mượn việc viết sớ để có chỗ tịnh tu, giành thời gian tụng Kinh niệm Phật thêm bốn thời nữa, chưa tính thời khóa nơi Chánh Điện của chùa. Tôi lại nghe nói tu hành phải khổ hạnh nên không ngủ, đến nỗi ngồi thọ trai mà chén cơm rơi xuống đất lúc nào cũng không hay. Tôi không ăn cơm, chỉ ăn rau rừng, đến khi đi lên những dốc cao trên núi bước lên không nổi. Cuối cùng tôi từ bỏ lối tu này. Về sau, tôi đọc Tạp Chí Từ Bi Âm (tờ báo này mỗi tháng đều được gởi lên tận chùa) của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, trụ sở đặt tại Chùa Linh Sơn (Sài Gòn). Trong tạp chí ấy, tôi đọc được một đoạn KINH PHÁP, trong tâm rất vui thích (lúc đó là năm 1938). Qua năm sau, tôi nghĩ phải đến trường để học Phật Pháp, vì có học có hiểu biết đúng thì tu hành mới đúng Chánh Pháp.
Năm 1940, tôi ra Huế được học ở Trường Phật Học Báo Quốc. Tôi đọc Kinh Quán Vô Lượng Thọ, y theo đó lập hạnh cho mình. Trong Kinh nói:
“Người muốn sanh về Cực Lạc phải có Ba Hạnh: 1. Tin sâu nhân quả. Tôi từ trước đến giờ biết điều nào lành thì làm, điều nào ác thì tránh. Nên đối với đạo lý nhân quả cũng rất tin tưởng; 2. Đọc tụng kinh điển Đại Thừa; 3. Khuyến tấn hành giả”.
Cuộc đời tu hành của tôi nhất định phải làm được Ba Điều này để sanh về Thế Giới Cực Lạc. Hiện tại, tôi nhận thấy những điều này đã đem lại kết quả tốt, tương lai cũng tốt. Tôi y theo Điều Thứ 2 (đọc tụng kinh điển Đại thừa) nên hễ thích Kinh nào thì tụng thuộc lòng Kinh đó. Nhờ tụng thuộc lòng, dù ở hoàn cảnh nào, đi đứng nằm ngồi đều có thể tụng Kinh được. Còn ở Chánh Điện trước bàn Phật mở Kinh ra thì gọi là đọc. Cho nên ý nghĩa giữa đọc và tụng rõ ràng không nên hiểu sai lệch.
Năm 1945, lúc nhập thất 49 ngày tại Chùa Kim Huê (Sa Đéc), ban ngày tôi xem Tạng Luật, ban đêm thì đọc KINH HOA NGHIÊM. Lúc đến Phẩm PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN lòng tôi vui mừng như người đi xa được trở về cố hương, cảm thấy rất quen thuộc, chỉ mấy ngày thôi tôi đã thuộc lòng Phẩm Kinh này. Từ đó,tôi lập thời khóa riêng của mình: tụng Phẩm PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN, bài kệ Phẩm Phương Tiện trong KINH PHÁP HOA, Phẩm PHỔ MÔN, KINH A DI ĐÀ, rồi niệm Phật hồi hướng Tây Phương Cực Lạc.
Năm 1947, tại Trường Liên Hải Phật Học, vào đêm 30 tháng 3 âm lịch, tôi chợt nghĩ: mùng 8 tháng 4 âm lịch này là lễ Phật Đản, mình lấy gì để cúng dường lên Đức Phật? Mình nhất định phải học thuộc KINH KIM CANG để đến ngày đó cúng dường Phật. Đến ngày mùng 7 tháng 4 âm lịch, tôi nhờ Thầy Tắc Phước (bây giờ là Hòa thượng trụ trì Chùa Phước Huệ ở Úc), cầm bút dò theo. Nếu tôi đọc sai thì biết để sửa. Tôi tụng Kinh xong thì Thầy Tắc Phước nói không sai chỗ nào hết. Từ đó trở về sau, tôi đưa thêm KINH KIM CANG vào thời khóa của riêng mình thành Năm Bộ Kinh: KINH PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN, KINH KIM CANG, bài kệ Phẩm Phương Tiện trong KINH PHÁP HOA, Kinh PHỔ MÔN, Kinh A DI ĐÀ, rồi niệm Phật hồi hướng về Cực Lạc. Tôi giữ kỹ thời khóa tu tập, mỗi ngày đều phải thực hành đều đặn chưa từng bỏ sót.
Tôi nói chân thành với các huynh đệ rằng, sự tướng không thể bỏ được. Lấy sự tướng của việc tụng Kinh, niệm Phật để chống lại sự tướng của Ba Độc: tham, sân, si, phiền não, già, bệnh, chết. Ngày tháng không thể bỏ qua, nó thúc đẩy mình tiến đến chỗ chết mà thôi. Như tôi năm nay 95 tuổi, qua sang năm là 96 tuổi, không thể trở lại 94 tuổi được. Thân này mầm bệnh tật bao vây từ trong đến ngoài, nó luôn chờ dịp để sanh khởi lên. Còn trước mặt là tấm bảng già yếu, bệnh tật, chết chóc, chui đầu vào đó mà thôi. Ai cũng phải đến chỗ đó hết, chỉ sớm hay muộn. Thân này là như vậy, kết cuộc của thân là như vậy. Mọi người phải nhận hiểu rõ ràng, chớ nên mê lầm. Tôi cũng có Ba Điều để dìu dắt mọi người, xuất gia cũng như tại gia. Vì người tin được thì sẽ thực hành theo:
1. ĂN CHAY phải thiết thực. Vì mỗi ngày ăn thịt chúng sanh thì điều ác nào chẳng dám làm, việc thiện nào có thể sanh khởi được? Bởi vì loài vật bị giết bị nấu bị nướng thì con người mới có thịt ăn. Vả lại, đạo Phật lấy Từ Bi làm chánh, nhưng ăn thịt chúng sanh thì đâu còn Từ Bi nữa. Ăn chay có những lợi ích gì:
· Không vướng mắc vào nhân quả của Nghiệp Giết Hại. Nghiệp Sát Sanh ở thế gian rất nặng, vì chúng sanh bị bắt giết thì chúng ta mới có thịt ăn.
· Ăn chay vì tình thương không nỡ ăn thịt loài vật. Tình thương phát sanh thì mong muốn mọi loài đều được an vui, do đó làm các việc lành. Như thế Tâm Từ đã sanh ra. Ví như mình thương người em, người cháu thì đâu muốn nó khổ, đã không muốn nó khổ thì không làm những việc bất thiện. Do vậy, Tâm Bi cũng sanh khởi mà làm các việc lành. Tâm Từ Bi có được cội gốc do ăn chay mà thành. Thuở nhỏ những người bạn trong xóm sắm giàn thun để bắn chim, tôi cũng làm theo. Bạn bè sắm cần câu để câu cá, tôi cũng sắm cần câu đi câu theo. Từ lúc biết ăn chay, tôi thấy con gà, con chim,các con vật khác thì thương nó lắm. Nếu người ăn thịt thì tình thương không thể phát sanh. Ví như chúng ta có con em, mỗi ngày mình ăn thịt nó mà cho rằng thương nó thì không được. Tình thương phát sanh ảnh hưởng nơi “Từ” thì làm lành, nơi “Bi” thì không làm ác. Điều Thiện Lành thì tăng thêm, việc Xấu Ác ắt giảm dần và dứt sạch. Như vậy chúng ta ăn chay tự nhiên làm được hai việc mà Đức Phật từng dạy: “Từ bỏ các việc ác, luôn làm các việc lành”. Do đó Tâm Từ Bi là cội gốc để đi lên con đường Hiền Thánh.
2. Trong KINH LĂNG NGHIÊM, đoạn Đức Phật nói BA MÓN TIỆM THỨ. Trước tiên không được ăn Ngũ Tân (Hành, Hẹ, Tỏi, Nén, Hung Cừ). Vì tính chất của Ngũ Tân làm tăng tham dục và sân hận, ảnh hưởng của nó là quyến rũ Ngạ Quỷ, Chư Thiên cùng Thiện Thần đều tránh xa. Nó hay trợ giúp phát sanh Nghiệp Phiền Não. Cách đây ít hôm, có người xưng là Quỷ Vương nói: “Tôi lên đây để đấu với Hòa Thượng, nếu Hòa Thượng thua thì tất cả binh tướng của tôi sẽ chiếm chỗ này”. Sáng hôm đó, tôi đang ngồi uống thuốc Tam Tài thấy có một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông thì đứng chắp tay, còn người đàn bà thì uốn mình như con rắn (có thể thuộc loài Ma Hầu La Già) rồi quỳ xuống lạy, lạy xong rồi đi xuống. Tâm tôi cũng không để ý chỉ nhìn thấy vậy thôi. Sau đó tôi nghe mấy Thầy nói họ lên Chánh Điện ngồi niệm Phật một ngày một đêm. Các Thầy kể lại đã hỏi họ rằng: “Sao không thấy đấu với Hòa Thượng mà quỳ lạy rồi đi xuống?”. Người kia nói: “Tôi nhìn thấy Hòa Thượng sợ quá nên quỳ xuống lạy chứ không dám làm gì hết”.
Các Thầy hỏi, lúc đó Sư Ông có bắt ấn hay niệm Chú gì không? Thật ra, tâm tôi không để ý tới. Tôi nói việc này để các huynh đệ biết, mình sống ở đây các loài Ngạ Quỷ hạng cao đầy dẫy. Cho nên Phật nói, nếu ăn Ngũ Tân sẽ ảnh hưởng đến các loài đó. Bây giờ nhiều chùa ngập tràn mùi vị Ngũ Tân. Cho đến các chùa xung quanh Tỏi, Hành (Ba Rô) treo đầy trong nhà bếp. Các huynh đệ muốn giữ điều này cũng khó lắm, vì mỗi ngày phải đi đám, người ta nấu thức ăn bỏ hành bỏ tỏi, nếu không dùng thì nhịn đói. Do vậy tôi không đi dự các đám cúng. Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ dùng Năm Thứ Rau Cay này. Có khi xuống Chùa Huệ Nghiêm (Bình Chánh) tôi phải dặn không được bỏ Ngũ Tân vào thức ăn. Lúc đến các chùa dùng cơm chay mà có mùi vị này thì tôi chỉ ăn chút cơm và bánh ngọt rồi về.
3. Từ trên nền tảng đó tu hành CHÁNH NIỆM: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Niệm Phật là trì niệm danh hiệu Nam Mô A DI ĐÀ Phật. Niệm Pháp là tụng Kinh. Niệm Tăng là niệm danh hiệu Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM, Bồ Tát ĐẠI THẾ CHÍ, Bồ Tát ĐỊA TẠNG VƯƠNG. Trong đó lấy niệm Phật làm chánh, mỗi ngày đều thực hành như thế thì Chánh Niệm dần dần tăng lên, Thiện Căn cũng từ đó thêm lớn, Công Đức và Phước Đức cũng từ đó tăng trưởng. Trong sinh hoạt hàng ngày, có những điều giúp mình tăng Phước và giảm Phước mà chúng ta không để tâm lưu ý. Trong Mười Đại Nguyện Vương của Bồ Tát PHỔ HIỀN, Điều Nguyện Thứ Năm là “Tùy hỷ công đức” dễ thực hành lắm, lấy công đức của người làm công đức của mình. Đây là Pháp tu thong thả nhẹ nhàng. Đối với các việc lành của người, chúng ta không vui mừng lại còn ngăn cản chê trách thì tổn phước. Còn tùy hỷ (vui mừng theo) thì Phước Đức tăng thêm. Chẳng hạn có người xây một ngôi nhà lớn, khách bước vào khen ngợi khang trang mát mẻ thì người chủ liền vui. Một người khác lại cho rằng, nhà rộng quá dọn dẹp mệt thêm. Người chủ nghe được cũng hơi buồn. Như lúc xây Chánh Điện Chùa Vạn Đức, có người khen ngợi Cây Bồ đề cao đẹp quá. Nhưng có người lại nói nhìn lên Cây Bồ Đề quá cao thật mỏi cổ. Chỉ một việc nhỏ này, một bên tăng Phước, một bên tổn Phước. Các huynh đệ lưu ý để ứng dụng trong đời sống thường ngày, những điều tăng Phước thì nên làm. Những điều tổn Phước thì nên tránh. Mỗi ngày tích lũy một ít thì Phước Đức từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn. Ngày tháng qua mau, các huynh đệ lấy ĂN CHAY làm nền tảng, luôn lấy việc NIỆM PHẬT TỤNG KINH làm Công Đức Xuất Thế. Từ những điểm này gắng sức giữ gìn, rồi tu thêm các việc lành khác. Mong các huynh đệ ai nấy đều nhất tâm tinh tấn, vững bền ở trong Giáo Pháp của Phật. Phải khắc ghi hai chữ VỮNG BỀN này./.

Khai Thị 17/7 Tân Mão của Đại Lão HT. Thích Trí Tịnh
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-27-2016 , 05:34 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
PHƯỚC TRÀN PHƯỚC VÉT
Thích Giác Đăng

https://www.youtube.com/watch?v=_31cUwtknWs
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-27-2016 , 06:54 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TÁNH LINH CỦA VẠN VẬT.

Vì tánh linh của vạn vật mà cảm động, vì cái khổ của lục đạo chúng sanh mà khóc, thế giới Ta Bà hữu tình phi tình đều có Phật tính.
Vì sao mà cảm động? Tôi đã từng chứng kiến một cảnh chết rất bi tráng. Cái chết đó làm rung động cỏi lòng sâu thẳm của tôi. Từ đó tôi nguyện suốt đời không làm tổn hại bất cứ một sanh mạng cho dù là bé nhỏ…
Một lần nọ đi săn Linh dương, chúng tôi được chứng kiến đời sống và bản chất của chúng.
Linh dương có hình dạng giống sơn dương nhưng có khiếu nhảy rất giỏi, mỗi con trưởng thành nặng khoảng 30 kg ,tính tình thuần hậu , là loại động vật mà bọn thợ săn thích nhất. Lúc đó đội săn bắn chúng tôi bí mật bao vây khắp vùng nơi một đàn linh dương đang cư trú, áp hơn 60 con linh dương vào mõm đá trên vách núi cao, nghĩ rằng như thế sẽ làm cho chúng rơi hết xuống mà chết cho đở lãng phí cung tên.
Nhưng không ngờ, khoảng 30 phút sau, một con linh dương đực đột nhiên kêu lên một tiếng. Tất cả linh dương lập tức phân thành hai nhóm: môt nhóm già và một nhóm trẻ.Tôi nhìn rất rõ nhưng không hiểu vì sao chúng lại phân theo già trẻ như vậy. Lúc đó, một con linh dương đực từ trong nhóm già đi ra, con này lông dài xuống ngực, trên mặt có nhiều nếp nhăn ngang dọc, hai cái sừng bị mòn đi. Vừa nhìn tôi đã biết con linh dương này già lắm rồi. Nó đi ra đứng phía trước, nhìn về hướng nhóm trẻ kêu một tiếng “be”. Một con linh dương trẻ liền bước ra. Một già một trẻ của hai nhóm đi đến vách núi đoạn mệnh. Sau đó lui lại vài bước, đột nhiên con linh dương trẻ hướng về trước chạy như bay, liên tiếp linh dương già cũng chạy theo. Con trẻ chạy đến ranh giới của vách đá, rùng mình một cái, hướng về phía khe suối đối diện mà nhảy. Con già liền kế theo sau cũng từ vách núi đá mà nhảy. Cứ một trẻ một già thời gian nhảy có trước sau một chút, tư thế nhảy cũng có khác. Con già nhảy thấp hơn , có nghĩa là có trước có sau, có cao có thấp.Tôi rất kinh ngạc, lẽ nào chết cũng phải từng đôi sao? Tôi nghĩ những con linh dương này trừ khi có ráp cánh mới nhảy qua được vách núi bên kia.
Đúng vậy, con trẻ vừa nhảy được khoảng 5,6 mét thì rớt xuống ,trên không trung vẽ ra một đường cong rất đáng sợ. Tôi nghĩ nhiều nhất là vài giây nó sẽ rơi vào trong sâu thẳm. Đột nhiên một việc lạ xuất hiện. Con linh dương già nhờ vào kỷ thuật thành thạo của mình, tại chổ con trẻ từ điểm cao nhất trong nháy mắt nhảy xuống và toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ, những con linh dương trong nhóm già nắm thời gian rất chính xác, ngay lúc mà toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ thì cũng đúng lúc thời điểm cao nhất của đường cong nhảy, giống như hai chiếc tàu vũ trụ ở trên không trung hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận, bốn móng chân của nhóm trẻ đạp mạnh trên lưng của những con già, giống như nhờ vào cái cầu để nhảy qua vậy, nó ở trên không trung lại nhún một lần nữa và rơi xuống đất lại một lần nữa dồng lên cao. Mà các con linh dương trong nhóm già giống như xác phế của tên lửa đã di chuyển hết chất đốt sau đó tự động rời khỏi tàu vũ trụ,thậm chí nó càng bi thảm hơn xác phế tên lửa,sức mạnh của những con linh dương trẻ đạp nhún xuống giống như đôi cánh của con chim bị gãy ngang rớt thẳng xuống đất. Nhưng sức của những con trẻ nhảy lần thứ hai không xa như lần thứ nhất Độ cao cũng chỉ bằng nữa lần trước nhưng cũng đủ để vượt qua khoảng cách hai mét cuối cùng.Trong nháy mắt chỉ thấy những con linh dương trẻ rơi xuống ngọn núi đối diện thích thú kêu lên một tiếng “be” quay qua tảng đá đằng sau khuất dạng, cú nhảy đã thành công.
Lúc gấp gáp từng đôi từng đôi từ trên cao vòi vọi nhảy xuống, vùng cao trên khe suối như vẽ ra những đường cong làm người ta rối tung, thì từng con linh dương già đã rơi xuống thịt nát xương tan.
Tôi không ngờ đến giờ phút đồng loại sắp tuyệt diệt thì đàn linh dương đã nghĩ ra biện pháp hy sinh một nữa để giành lại một nữa cơ hội sanh tồn cho đồng loại.Tôi càng không nghĩ đến những con linh dương già sao mà ung dung khoan hồng chọnlấy cái chết, cam tâm tình nguyện, bỏ thân mệnh mình mở ra một con đường sống còn cho đời sau. Tôi vì thế mà cảm động nên từ đó về sau thề không sát hại. Do tận mắt nhìn thấy một cảnh chết vô cùng bi tráng làm rung động lòng tôi. Tôi cảm thấy rất xấu hổ. Từ đó về sau, nguyện không sát hại bất cứ một sanh mạng nào dù là rất nhỏ.
Vạn vật đều có tánh linh
Một buổi tối cuối thế kỷ 20, lúc ở trường đại học Hồ Nam khi xem một màn ảnh làm cảm động trời đất, tôi không cầm lòng được khóc ré lên!
Tỉnh Thanh Hải có một vùng sa mạc thiếu nước trầm trọng, mỗi người một ngày chỉ dùng 2 lít nước do đội quân đóng quân ở rất xa vận chuyển lại. Hai lít nước không chỉ dùng để uống, mà còn vo gạo, rữa rau… còn phải cho gia súc kéo uống, gia súc kéo thiếu nước không thể được, khát à!…
Có một ngày, bổng ở đâu hiện ra một con bò già, mà được mọi người cho là nó rất trung thành và thật thà. Nó quá khát giẫy giụa tuột ra khỏi dây cương mạnh mẽ xông vào con đường trong sa mạc mà đoàn xe chuyển nước đi qua, đợi một hồi đợi đoàn xe chuyển nước đến, nó chạy nhanh đến đứng sững giữa đường. Các chiến sĩ chuyển nước trước đây cũng đã gặp qua tình hình chặn đường của những con gia súc như vậy nhưng những con động vật trước không buất khuất kiên cường như con bò này.
Đoàn vận chuyển nước có quy định. Xe chuyển nước giữa đường không để mất đi một giọt, càng không thể tuỳ tiện cho nước. Những quy định này xem ra cũng thật khắt khe nhưng vì bất đắc dĩ. Từng giọt nước này đều là khẩu phần của mỗi người rồi.
Trong sa mạc người và vật đều như vậy, nó đứng đó một hồi lâu như vậy , thậm chí làm tắt đường, các tài xế phía sau bắt đầu chưởi rũa.
Có vài tài xế tính tình nóng nảy dùng dầu châm đốt con bò tội nghiệp đó nhưng nó vẫn không động đậy, kiên cố như núi Thái, không chịu dùn bước. Đến khi chủ nó tìm đến, ông ta rất hổ thẹn nắm một cây roi dài quất lên trên thân yếu ớt của nó. Toàn thân như nát nhừ, không thể đi được, cây roi cũng nhuốm đỏ màu máu, nhuốm đỏ thân nó, nhuốm đỏ cả một vùng cát vàng sa mạc và nhuốm đỏ cả một buổi chiều tà. Nó kêu lên một tiếng thảm thiết hoà với tiếng gió tàn khồc u ám lạnh lẻo của sa mạc hiện ra cảnh tượng sao mà bi tráng. Người tráng sĩ đứng kế bên bật khóc, người tài xế bị cản xe cũng oà lên khóc. Cuối cùng, người tráng sĩ nói: “thôi, để tôi vi phạm luật lệ vậy. Tôi chấp nhận xử phạt”. Anh ta cầm bát của mình lấy khoảng 2 lít nước trong xe để trước mặt con bò, nhưng nó không uống bát nước trước mặt mà nó đã cực khổ có được, nó ngước mặt lên trời rống lên một tiếng dài, dường như nó đang kêu gọi. Trong ráng chiều, không xa từ phía sau đống cát chạy ra một con bò con. Con bò mẹ bị thương nặng nhìn con bò con tham lam uống sạch bát nước, le lưỡi ra liếm liếm đôi mắt đáng thương của bò con. Con nghé cũng liếm mắt mẹ. Mọi người lẳng lặng nhìn. Những giọt nước mắt chảy dài của tình mẫu tử lăn xuống .
Tia nắng cuối ngày đã tắt, hai mẹ con không đợi chủ gọi, lặng lẻ cùng chúng tôi đi về. Một buổi tối của cuối thế kỷ 20, khi tôi xem cảnh này trên ti vi, tôi hiểu ra cái khổ của mẫu thân. Tôi và vô số những người đang ngồi trước ti vi đã bật khóc, những giọt nước mắt nóng hổi cuồn cuộn trào ra.
Vì thế, tôi thành kính khẩn cầu quý vị xem xong mẩu chuyện này nên đối xử tốt với tất cả những sanh mệnh dù lớn hay nhỏ xung quanh ta bởi vì chúng đều có tính linh, đều có cha mẹ, con cháu, gia đình của chúng. Chúng cũng như con người chúng ta, đều có khát vọng được vui vẽ, hạnh phúc. Chúng ta thế nào đành lòng làm tổn hại chúng ư? Lại cầu mong bạn hãy đối xử tốt với mẹ, bởi vì đối với chúng ta, mỗi người mẹ đều có tình thương đậm đà và thắm thiết hơn con bò mẹ kia rất nhiều!…Xin thành tâm, thành tâm khẩn cầu tất cả đều biết yêu thương và tôn trọng mạng sống lẫn nhau để có một cuộc sống thật bình yên. Xin kính chúc tất cả quý vị đều hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc của cuộc sống.
Trích Internet – Như Nguyện dịch
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 03-29-2016 , 06:11 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
MUỐN ĐỘ CHÚNG SANH PHẢI CÓ PHƯỚC BÁU TỪ VIỆC BỐ THÍ .

Trong kinh Phật thường nói khích lệ mọi người phước huệ song tu. Sau khi tôi đã học Phật mới biết được bản thân ngày xưa hoàn cảnh nghèo khổ, cuộc sống khổ như vậy. Liền biết được trong đời quá khứ tôi cũng là tu huệ không tu phước, có một chút trí tuệ thông minh, không có phước báo, hơn nữa còn đoản mệnh. Đây thật là khổ. Biết bao người nói tôi thọ mạng 45 tuổi. Tôi tin bởi vì gia phổ chúng tôi, tôi nhìn thấy rồi. Trong nhà tôi đã có ba đời đều không qua được 45 tuổi. Cho nên tôi nghĩ điều này có lẽ là di truyền. Ngày trước còn trẻ, không hiểu những đạo lý này, nói đó là di truyền, tôi tin vậy. Bản thân tôi đem thọ mạng của tôi định chắc là 45 tuổi. Nghe được Phật pháp rồi, cầu vãng sanh, 45 tuổi cầu sanh Tịnh Độ. Năm tôi 45 tuổi tôi đổ bệnh, một tháng sau liền khỏi bệnh. Tôi không đi khám bác sĩ, cũng không uống thuốc, lúc đó trong lòng tôi rất rõ, bác sĩ chỉ có thể trị bệnh, không thể trị mệnh. Mệnh đến rồi, tìm họ làm gì nữa? Mệnh đến rồi tìm Phật A Di Đà mới đúng, không nên tìm bác sĩ nữa. Lúc đó đúng lúc tôi đang ở chùa Thập Phương Đại Giác giảng kinh Lăng Nghiêm. Giảng đến một phần ba thì ngã bệnh. Tôi liền biết được thọ mạng đã đến rồi. Sau khi khỏi bệnh liền tiếp tục giảng kinh. Đây là bản thân coi trong vận mệnh quá khứ khiếm khuyết điều gì thì bổ sung vào. Quá khứ không tu phước, Đại sư Chương Gia dạy tôi tu phước. Từ nhỏ tôi đối với những thứ tiền bạc đã không coi trọng, không để ở trong lòng. Đại sư Chương Gia bảo tôi, hoằng pháp lợi sanh vẫn không xa rời được tiền bạc. Nếu như quí vị không có phước báo, cũng không thể hoằng pháp lợi sanh. Quí vị chỉ có trí tuệ không có phước báo. Ví dụ không có phước báo, quí vị giảng kinh giảng rất hay, quí vị là một thầy giáo tốt, nhưng trường học người ta không cần quí vị, không mời quí vị, quí vị cũng hết cách. Chúng ta mới hiểu được phước báo cũng rất quan trọng. Cách tu như thế nào? Ngài liền nói với tôi: bố thí.
Tài từ đâu mà có? Trong số có tài vật. Kiếp trước bố thí tài sản nhiều, trong mạng mới có tài sản. Hiện tại trong mạng không có tài sản, vậy thì tu bố thí, bổ sung cho nó. Bố thí pháp được thông minh trí tuệ. Bố thí vô úy được sức khỏe trường thọ. Ngài dạy tôi tu ba loại này: tài, pháp, vô úy. Không có tiền, ngài hỏi tôi, một hào có không? Tôi nói một hào thì được. Một đồng có không? Một đồng cũng được. Ông cứ từ một đồng một hào mà bố thí. Phải luôn luôn có tâm bố thí, điều này rất quan trọng. Quí vị có tâm bố thí, yêu thích bố thí, tương lai trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, cần tiền của để dùng sẽ không thiếu thốn. Không dễ dàng gì. Tôi tu sáu mươi năm rồi, năm 26 tuổi học Phật, năm nay 85 tuổi rồi, đã 60 năm. Sáu mươi năm mới nhìn thấy hiệu quả. Đây là hiệu quả hiển thị.
Thế gian hiện nay rất nhiều người có phước, hưởng phước. Phước từ đâu mà có? Đều do đời quá khứ cúng dường Tam bảo, bố thí chư thiên nhân dân, quyên phi nhuyễn động, đều tu được từ đây. Hiện nay hưởng phước, nếu như không hiểu được đạo lý này, không tiếp tục tu phước, khi phước hưởng hết sẽ không còn nữa. Không như ngày xưa, quý vị xem Tam giáo ngày xưa, tam giáo Nho Thích Đạo thịnh hành ở thế gian, người người đều học, người người đều hiểu. Người tu phước họ có trồng phước, nên phước báo của họ hưởng hoài không hết, đời này truyền qua đời khác.
Con người bây giờ rất đáng thương, hưởng hết phước báo là xong. Quý vị quan sát tỉ mỉ nhiều người, không truyền đến được đời thứ hai, chỉ một đời là hết. Còn có rất nhiều người đến một đời cũng không có, hiện nay rất hưng thịnh, đến tuổi già là hết, đóng cửa, phá sản. Đến một đời mình cũng không giữ được, nguyên nhân gì? Vì phước đã hưởng hết, lại không tiếp tục tu, vì thế hưởng phước phải biết cách tu phước, không có phước càng phải biết tu phước.
Tôi là một người không có phước báo, lúc trẻ rất nhiều người xem tướng, tôi gặp rất nhiều người đều nói rằng: Tôi là người có số mạng bần cùng. Bần là không có của cải, cùng là không có địa vị, nguyên nhân gì? Học Phật rồi mới biết, do trong đời quá khứ không tu phước, cũng may có tu được chút trí tuệ. Nghĩa là trong ba loại bố thí chỉ thích pháp bố thí, lơ là việc bố thí tài và bố thí vô úy. Có được chút trí tuệ, không có của cải, thọ mạng lại ngắn. Học Phật gặp được đại sư Chương Gia, gặp được thầy Lý, những người này đều rất giỏi, vừa nhìn đã nhận ra. Nên dạy tôi tu phước, bổ sung điều còn thiếu! Đại sư Chương Gia dạy tôi phải tu tài thí. Số mạng con không có của cải, hóa độ chúng sanh vẫn cần tiền tài, nên tu như thế nào? Tu bố thí tài, dùng tài vật bố thí cho chư thiên nhân dân. Tôi thưa với đại sư, cuộc sống của con vô cùng khó khăn, tự nuôi sống mình cũng rất miễn cưỡng, thì tiền đâu mà bố thí? Đại sư hỏi tôi: Một hào có chăng? Tôi nói một hào thì được. Một đồng được chăng? Được, có thể, vậy thì con bắt đầu bố thí từ một hào, một đồng. Thực hành, luôn giữ tâm bố thí, có bao nhiêu bố thí bấy nhiêu, đừng suy nghĩ đến ngày mai, sang năm. Tôi là người biết nghe lời, nghe lời đại sư, đại sư dạy sao tôi làm theo vậy, tôi liền y giáo phụng hành. Quả nhiên, thu nhập đúng là ngày càng nhiều, càng nhiều càng bố thí, bây giờ đã làm được một năm bố thí một ngàn vạn tiền Mỹ, nằm mơ cũng không nghĩ đến! Nhưng tôi bố thí chỉ có ba hạng mục, thứ nhất là kinh điển, ấn tống kinh điển. Đây là bố thí pháp, khiến thông minh tăng trưởng trí tuệ. Thứ hai là phóng sanh, thứ ba là thuốc men. Trong bệnh viện tôi bố thí thuốc men, giúp những người nghèo khó trả tiền thuốc, không hề gián đoạn. Ngay nơi chỗ tôi ở, thành phố Đồ Văn Ba- Úc Châu, mỗi năm đều ủng hộ tiền thuốc men là 20 vạn tiền Úc, đây là bố thí vô úy, mỗi năm đều như vậy. Tặng học bổng cho nhiều trường học trên thế giới, giúp người nghèo khó. Bản thân tôi không cần gì cả, sinh hoạt vô cùng đơn giản, tất cả đều vì chúng sanh.

Trích Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa
Tịnh Không Pháp Sư chủ giảng
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 04-07-2016 , 10:57 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶT (những lời hay từ Ngài MILAREPA , vị thánh của Tây Tạng).
(Trích từ những sách viết về Milarepa và nhũng đệ tử cuả Ngài , Đổ Đình Đồng phiên dịch.)

Ta, Repa kỳ lạ ở trong am.

Trong 3 tháng mùa hè,
Thiền định trên núi Tuyết,
Việc đó làm tươi mát thân, tâm và hứng khởi.

Trong 3 tháng mùa thu ,
Ta ra ngoài xin của bố thí,
Xin thóc hạt đễ làm lương thực,

Trong 3 tháng mùa đông ,
Ta thiền định ở trong rừng,
Vì thế ta không có khí xấu và không thuần thục.

Trong 3 tháng mùa xuân,
Ta tới lui trên đồng cỏ , khe đồi,
Giử phổi, mật của ta khỏe mạnh.

Trong tất cả mọi mùa trong năm,
Ta thiền định không phân tán.

Thân chúng ta hình thành từ tứ đại,
Chịu đau khổ và suy đồi,
Người ta phải luôn trông chừng và Thiền định,
Đây là cách duy nhất,
Để chinh phục 5 ô nhiểm.

Ta ăn bất cứ thực phẩm nào có ở đó,
Đây là cách để bằng lòng,
Để dập tắt ham muốn và hậu quả của nó.

Dấu hiệu tinh tấn vĩ đại của hành giả,
Là liên tục tu tập pháp.

Theo con đường tu tập khổ hạnh,
Không phải tìm kiếm lương thực,
Bởi vì y có thể sống bằng trái cây và rau cỏ.

Không ai có thể biết chắc chắn được ,
Khi nào cái chết sẽ đến
(còn tiếp)

Last edited by Rau Sam; 04-08-2016 at 03:30 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 04-08-2016 , 01:29 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶT ( tiếp theo)

Đời chóng qua.

Thần chết sớm gỏ cữa,
Vì thế, ngu xuẫn,là trì hoãn tu tập.
Thân nhân có thể làm gì khác ,
Trừ ném người ta vào sinh tử.

Cố gắng ,vì an lạc từ nay về sau,
Quan trọng hơn là tìm nó bây giờ.
Đã đến lúc tu tập Pháp.

Dù sấm nổ, ấy chỉ là âm thanh rổng,
Dù cầu vòng , màu sắc phong phú,
Nó sẽ sớm phai tàn.

Khoái lạc của thế gian này,
Giống như mộng cảnh,
Chúng là nguồn gốc của tội lổi.

Dù những gì chúng ta thấy có thể dường như là vĩnh viễn.
Nó sẽ sớm rơi thành từng mảnh và mất tiêu.
Hôm qua một người có lẽ đã có đủ hay nhiều hơn,
Hôm nay tất cả đi mất và không còn gì cả.

Năm ngoái người sống, năm nay người chết.
Thức ăn ngon trở thành chất độc.
Đồng bạn yêu thương lại biến thành thù.

Con đã suy tư về sự tạm bợ của cuộc đời.
Con đã thấy chết đập xuống cả già lẫn trẻ.
Đời thì bấp bênh và chóng vánh,
Giống như sương trên cỏ.

Thời gian qua không hay, rồi đời cũng hết.
Con chưa bao giờ thấy hay nghe nói đến có người nào không chết.
Con chắc chắn không nghi ngờ gì cả rằng con sẽ chết một hôm .
Con không có tự do hay lựa chọn đến chổ nào khi con chết.

Con buồn và sợ hải khi con nghĩ về,
Những đau đớn con phải chịu ở các cỏi thấp hơn.

Thế gian này chỉ là một vở tuồng.

Lao nhọc việc nhà không chấm dứt,
Đấu tranh để sống,
Lìa bỏ mẹ cha , ân huệ.
Buông bỏ đời mình cho kẻ hứa hôn.
Nếu rơi vào những cỏi thấp hơn,
Sẽ bị mất tiến bộ và giải thoát.

Con thấy người ta đánh nhau vì đất,
Rồi họ cải nhau vì nước,
Cuối cùng những quả đấm được đổi trao.

Con sẽ hiến mình tu tập pháp,
Con sẽ canh tác trên đất tự giới luật.
(còn tiếp)

Last edited by Rau Sam; 04-08-2016 at 03:28 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 04-08-2016 , 06:19 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶT (tiếp theo)

Như Đức Phật đã nói:

Nên từ bỏ những vật tùy thuộc,
Làm gia tăng ham muốn của mình.
Tất cà sở hửu,
Giống như ảo thuật, đều là mê hoặc.
Nên cho chúng đi,
Vì mục đích tốt và từ thiện

Muốn tẩy sạch rỉ sét của chiếc gương tâm,
Hãy nhìn vào chiều sâu của bầu trới thanh tịnh.
Và thiền định trong núi yên tỉnh.
Được gia trì bởi những bậc thành tựu.

Để nương tựa một đạo sư,
Nên thường nguyện với ông ta một cách chân thành.
Khi thiền định về sự nhanh chóng đến gần của cái chết.
Nên nhớ rằng ,chết không thể đoán trước hay tránh được.

Khi tu tập Đại Thủ Ấn,
Nên chăm sóc nó từng bước một.
Khi thiền định về chúng sinh như cha mẹ,
Nên luôn nhớ trả ân họ.

Khi tu dưỡng chánh pháp,
Nên từ bỏ thế gian.
Khi thức ăn được Chư thiên cống hiến,
Thì không cần tìm thực phẩm cho mình,
Ở một mình trong Am.

Nên biết làm sao quán sát tự tánh,
Thâm sâu của Tâm lay chuyễn
Để có được công đức của Phật,
Đừng quan tâm đến đau đớn hay khoái lạc
Như dòng sông chãy không ngừng,
Hãy thiền định , không gián đoạn.

Để thọ nhận gia trì từ Đạo sư,
Con nên có niềm tin không gián đoạn.

Như bầu trời, mặt trời và mặt trăng,đại dương bao la.
Hãy thiền định , không hôn trầm, trạo cử.
Giống như trái đất lớn này.
Hãy Thiền định vững chắc, không lay động.

Tâm người giống như cơn gió lốc.
Qua định lực, người ta có thể đè nén.
Dục vọng và những ý nghĩ lang thang.
Nhưng chỉ như thế sẽ không đưa mình qua cỏi Luân hồi.
(còn tiếp)

Last edited by Rau Sam; 04-08-2016 at 07:07 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 04-25-2016 , 03:41 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓp NHẶT (tiếp theo)

Pháp nói thì dể, nhưng khó tu tập theo,
Ôi các anh, những người thế gian nhầm lẫn,
Các anh luôn phí thì giờ nhàn rổi,
Để thời gian trôi qua ,
Dù tâm anh bao giờ cũng nói: ta phải tu tập pháp.

Đời của anh đã phí và những giờ đã trôi qua,
Giờ đây anh nên quyết tâm bắt đầu tu tập

Mười thiện đức (thập thiện ) theo luật nhân quả,
Có thể khiến người ta đến chổ cao hơn .
Nhưng chỉ với ai có lòng tin , tu tập .

Ngưới nào học nhiều mà không thực hành thì bị lạc đường.
Bám vào chuyện thế gian mà không từ bỏ nó là 1 nguy hiểm,

Không chú ý vào lời nói và thuyết giãng,
Nhấn mạnh vào sự tu tập thực tế.
Hãy buông nghi ngờ xuống và thiền định.
Người nương tựa vào chân giáo lý , sẽ không bao giờ đi lạc.
Chớ nghĩ về kiến thức và ngôn từ vô nghĩa,
Mà hãy tập trung vào sự thiền định.
Tụm ba, tụm bốn chỉ đưa đến nói năng trống rổng.
Để tránh nó tôi ở trong cô tịch

Last edited by Rau Sam; 04-25-2016 at 04:18 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 260
Old 04-25-2016 , 03:53 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶT (tiếp theo)

Càng có nhiều, ham muốn càng nhiều,
Vì thế tôi lìa bỏ gia đình và khước từ đất tổ.

Thế sự ,kinh doanh sẽ lôi kéo các người mãi mãi,
Vậy hãy buông chúng xuống và tu tập pháp bây giờ.
Ai có thể bảo khi nào chết đến.
Hãy luôn nghĩ đến điều này.
Hãy tự hiến mình cho tu tập pháp.

Ta chỉ hy vọng rằng con nên ấp ủ giáo lý này,
Và không bao giờ lãng phí nó.
Bây giờ hãy nhìn Milarepa kéo tấm y lên , lộ thân trần truồng,
Với mông đít đầy những khoãng chai lì.
Không giáo lý nào sâu xa hơn giáo lý này.
Hãy nhìn những khó nhọc ta đã trải qua.
Giáo lý sâu xa nhất trong Phật giáo là tu tập.
Nhờ nổ lực liên tục mà ta đạt được công đức và thành tưụ.
Con cũng nên kiên trì và tận hết sức mình trong thiền định.
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 03:54 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.