VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 04-25-2016 , 05:15 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶT (tiếp theo).

Khi chết đến gần , lúc ấy ta sẽ không hối tiếc.
Mọi chúng sinh có định mệnh là chết.
Nhưng hiếm khi, người ta nghĩ đến sự kiện này.
Vì vậy mà họ mất nhiều cơ hội tu tập pháp.
Đến lúc thân hư huyển của con hư hoại,
Tốt hơn hãy kết giao với pháp bây giờ.

Tiền bạc và sang trọng hoa mỹ là sứ thần của quỷ,
Kết giao với chúng chỉ là độc hại.
Hãy khước từ chúng và tất cả những gì ràng buộc.
Rồi nghĩ về cái chết để hàng phục lòng tham.

Đất quê của một người là nhà tù của quỷ,
Khi biết chúng là mê hoặc, hãy cẩn thận xem chừng.
Bị nhốt trong đó thì khó đạt đưọc giải thoát,
Vậy hãy lập tức thoát ra.
Đặt tất cả sang một bên và cố gắng lên vì pháp.

Nếu con không chú ý đến được mất thế gian.
Nếu con thực sự muốn theo ta.
Hãy biết rằng thân nhân là chướng ngại của pháp,
Mà quỹ ma đã sắp đặt.
Đừng nghĩ đó là thật,
Mà làm dịu đi cơn thèm khát vì họ của con.

Nếu muốn hoàn thành thiền định của con,
Hãy tự mình tiết chế sự tin mù quáng,
Và những nói chuyện rỗng tuếch.
Đừng nghĩ gì đến những vinh hoa , phú quý trong quá khứ,
Hãy ở lại trong thung lũng không người đến,
Hãy xa rời bạn xấu và tự xét mình.
Hãy khiêm cung và cần cù tu tập.
Hãy thiền định đến khi con chết.
Hãy khước từ nói chuyện và lắm lời.
Hãy tập trung vào sự thực tập.
Đừng ham muốn trở thành Đạo Sư,
Đừng hy vọng chóng đạt thành Giác Ngộ.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 04-25-2016 , 05:32 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GÓP NHẶt ( tiếp theo)

Ai tôn kính, hoan hỹ trong pháp,
Luôn luôn có niềm tin nơi pháp,
Là đang trồng hạt giống pháp,
Mà từ đó trí huệ bẩm sinh, sẽ phát triển trong các đời vị lai.
Nếu bây giờ anh thực hành những hành vi đạo đức,
Và đặt niềm tin nơi pháp,
Anh sẽ tái sinh ở một xứ sở đặc biệt, thuận lợi với những điều kiện, phương tiện tuyệt hảo để tu tập pháp.

Đối với một người theo pháp,
không nhất thiết phải đi nhiều nơi.
Ai thấy nhiều lổi lầm ở người khác thì chính y là một kẻ vô minh
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 05-08-2016 , 02:00 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
BÀI CA THỐNG THIẾT VỀ SỰ VÔ THƯỜNG.
(Pháp Vương Jigme Phunsok) Thanh Liên việt dịch.


2. Cánh đồng mùa hạ ngập tràn hoa cỏ và vui vẻ như một xứ thần tiên, nhưng đến mùa đông, khi bị sương giá, gió, mưa và băng tuyết tàn phá, ta càng thêm đau buồn bởi cảnh tượng hoang tàn, lạnh lẽo.

3. Trong khu vườn tráng lệ và nhiều màu sắc, những con ong cần cù, đáng yêu nhìn nhau và hát những bài ca êm tai. Mặc dù tất cả mọi người đều ước muốn thời gian tuyệt vời, vui nhộn, và lãng mạn của cuộc đuổi bắt kéo dài mãi mãi, nhưng làm sao họ né tránh được nghiệp quả của những đời trước?

4. Trong khu rừng sum suê, những con chim cu líu lo và hát ca vui vẻ; âm thanh êm tai và trong như tiếng bạc của chúng lôi cuốn mọi người; một sự dâng hiến tuyệt vời! Tuy nhiên, khi sắp đến đầu thu, nếu ta nhớ lại những điều này thì đó quả là một vị Thầy siêu phàm biểu thị sự vô thường của cuộc đời!

5. Qua cơn mưa bụi, một cầu vồng sáng chói và nhiều màu sắc trong bầu trời được tô điểm bằng những đám mây trắng, nhẹ nhàng và tao nhã biết bao! Nếu suy niệm nghiêm cẩn, quý vị sẽ nhận ra đó là một ảo ảnh sâu sắc và sinh động về sự vô thường.

6. Vào mùa thu, những đám mây trắng chồng chất lên nhau thật thân thiết, giống như những đỉnh núi không ngừng phủ tuyết. Ngay lập tức, chúng biến mất trong bầu trời không để lại chút dấu vết. Chẳng phải tất cả những ẩn dụ này là để dành cho những người có ý hướng từ bỏ “Mọi vinh quang và hạnh phúc trong đời này đang trôi đi và không xác thực” hay sao?

7. Những vũ trụ kiên cố và bao la gồm ba ngàn thế giới sẽ hoàn toàn bị hủy diệt bởi những tai họa của nước, lửa, và gió, vì thế những cung điện, vườn tược và những bức tường được xây dựng bởi chúng sinh tầm thường thì còn khó giữ gìn và không đáng tin cậy hơn nữa.

8. Ngay cả những vị trời và risi (hiền nhân) là những người có thể sống lâu hơn một kiếp, có sự thấu thị và an trụ hỉ lạc trong thiền định cũng không thể trốn thoát và bị trói buộc khi đối diện Thần Chết và những kẻ thù của họ. Thật là một tư tưởng sai lầm và xấu ác khi tin rằng ta có thể tránh khỏi cái chết.

9. Trong quá khứ, có một ít vị được gọi là “Chuyển Luân Thánh Vương” cai trị bốn đại lục và có năng lực kêu gọi hàng trăm người đi vào hành động, nhưng giờ đây những gì họ để lại cho hậu thế chỉ là ký ức về thanh danh trong thời đại huy hoàng của họ. Vì thế, thân thể yếu ớt của chúng ta cũng không thể có chút thực chất nào.

10. Các Đức Như Lai và Bồ Tát đã hoàn thiện mọi sự tịnh hóa che chướng và đạt được chứng ngộ thì như vô số vì sao trên bầu trời. Tuy nhiên, để biểu thị sự vô thường, các ngài đã lần lượt thị hiện việc nhập niết bàn. Tất cả những hiện tượng này cho ta thấy rõ nguyên lý vô thường.

11. Tại ngôi chùa vĩ đại Samye có viên bảo ngọc được tôn trí trên đỉnh, nơi được tán thán là cõi tịnh độ, khi nhớ lại những cảnh tượng sống động của Ba Đấng Tôn quý, các Đạo sư và Đức Vua, (1) tôi không thể không hân hoan và vui sướng. Tuy nhiên, khi trở lại với thực tế, làm sao tôi tránh khỏi nỗi buồn sầu, tan nát.

12. Không lắng nghe và quán chiếu đúng đắn về những pho Kinh và Luận siêu việt, là những gì có thể chống cự sự truy xét bằng ba cách, không thể chặt đứt gốc rễ sinh tử bởi chỉ hành động phù hợp với sự suy nghĩ và ước đoán của riêng ta. Trái lại, ta sẽ lập gia đình, có con, và có rất nhiều thành viên trong gia đình, trở nên già yếu; và khi cái chết đến, vị tu sĩ già bị buộc phải tái sinh và đi đến những cõi thấp bởi đã không thực hành đức hạnh.

13. Nếu người không tinh tấn nghiên cứu và thực hành Kinh điển, điều huyền diệu và tâm – Kinh Ý nghĩa Cô đọng (Kinh), Mạng lưới Huyền diệu (Pháp Kỳ diệu) và Mười tám Mật điển Mẹ-Con (Tâm); mà chỉ chú ý đến các nghi lễ, chẳng hạn như đánh trống, thổi kèn Trung quốc hay sự trình diễn khác, như ý nghĩa sâu xa của Giáo Pháp; tiêu phí một cách bất thiện và tham lam của cải do tín chủ cúng dường; khi cái chết đến, mọi ác hạnh của người ấy sẽ bị phơi bày.

14. Các nhà sư trẻ trong các tu viện thì thông minh và hùng biện biết bao! Quý vị toàn tâm toàn ý khi bám chặt vào việc giảng dạy và tranh luận, nhưng đến khi quý vị nhận được danh hiệu Geshe, tóc quý vị sẽ bạc trắng như những con ốc xà cừ. Mọi hạnh phúc thế tục mà quý vị tận hưởng không thể thoát khỏi số phận phù du của những đóa hoa ưu đàm.

15. Các hành giả bề ngoài hững hờ với công đức của con đường tu tập, chẳng hạn như giới, định và tuệ, mà nhất quyết kiếm tìm lợi lạc của cuộc đời hiện tại! Quý vị không thể đi tới đích ngay cả khi cái chết đến và định luật nghiêm ngặt của Thần Chết không trì hoãn và loại trừ ai!

16. Những ông già bạc tóc và lão suy! Quý ông vẫn đang dự trù kế hoạch cho những tháng năm của đời mình mà không chú ý đến tuổi tác như thể không biết rằng mình như một ngọn đèn bơ cạn kiệt; hành trình của cuộc đời này sắp kết thúc. Sao quý ông không nghĩ rằng bây giờ là lúc chuẩn bị một ít tiền của cho chuyến du hành trong trạng thái trung ấm sau cái chết?

17. Những thanh niên và thiếu nữ tràn đầy sức sống và đang độ thanh xuân! Các bạn tự hào về tuổi trẻ mau chóng của mình và chẳng bao giờ thoáng nghĩ đến cái chết, nhưng không ai biết được khi nào cái chết đến. Khi những sứ giả của Thần Chết đến và tròng giây vào cổ các bạn, các bạn cảm thấy ân hận thì đã quá trễ.

18. Những cô cậu đến tuổi dậy thì tìm thấy ở nhau sự hoàn toàn cảm thông và tâm đầu ý hợp! Các bạn không ngớt trao cho nhau những viên kẹo dưới bụi hồng, nghiêm trang thề thốt sẽ thương yêu nhau mãi mãi, mơ màng sẽ là bạn đồng hành bền vững của nhau và không bao giờ chia cách, nhưng dù các bạn làm gì chăng nữa, không ai có thể tiên đoán được là các bạn sẽ sống lâu đến mức độ nào.

19. Những người giàu có, quý phái và có vận mệnh hoàn hảo trong quá khứ đã trở thành những người cùng khốn. Khi những cảnh tượng này được phóng chiếu rõ ràng trên tấm gương của tâm thức, làm sao ta không cảm thấy thống thiết và mỏi mệt về mọi hiện tượng bị nhiễm ô?

20. Bộ ba mươi chiếc răng trắng trẻo của quý vị đã rụng rơi đây đó. Những vết nhăn phủ đầy thân thể quý vị như những đường núi xoắn xít với nhau. Mọi cảnh tượng của sự già yếu là những cảnh báo lặng thầm: chẳng mấy chốc quý vị sẽ chết. Nếu quý vị vẫn u mê và rối trí, làm sao quý vị có thể khác biệt với những con yak?

21. Xuân qua thu lại, cùng thời gian này vào năm tới, vô số người sẽ gặp phải cái chết của mình. Ai có thể quả quyết rằng bạn không phải là một người trong số đó? Vì thế, đời sau thực sự không quá xa!

22. Một trăm năm nữa, chẳng ai có mặt vào lúc này trên trái đất còn sống. Mọi sự sống buộc phải chết đi. Trong hình tướng mê lầm như giấc mộng phù du này, đâu là ý nghĩa của việc theo đuổi lợi lạc của cuộc đời hiện tại?

23. Hầu hết những người bạn tốt cùng độ tuổi với tôi giờ đã trôi dạt vô định đến những xứ sở khác. Nhiều đời người đã rơi vào bóng tối của trạng thái trung ấm. Làm sao một mình tôi có thể hiện hữu trong thế giới này?

24. Khi những sứ giả toàn thắng của Thần Chết đến, cho dù dấu mình trong một lâu đài không thể bị hủy hoại và hoàn toàn vững chắc, được mười ngàn quân lính trang bị áo giáp và vũ khí canh chừng, ta vẫn không thể sống trong thế giới này dẫu chỉ một chốc lát.

25. Cho dù của cải và châu báu của quý vị có thể bao phủ toàn thể ba cõi, các sứ giả của Thần Chết không để cho quý vị hối lộ. Ngay cả Phạm Thiên và Trời Đế Thích cai trị ba ngàn thế giới cũng không thể thoát khỏi cái chết.

26. Cho dù quý vị có vẻ duyên dáng và dễ thương như một cầu vồng ở chân trời, dù quý vị có khêu gợi và hấp dẫn với đủ mọi khéo léo để tán tỉnh, phỉnh phờ và lôi kéo, thủ thuật của quý vị không thể làm lay động ngay cả một sợi lông của đạo quân Thần Chết khát máu.

27. Sau khi chứng kiến nhiều người, dù đau ốm hay khỏe mạnh, đã lần lượt ra đi, ta nên nghĩ tưởng và suy niệm một cách cẩn trọng theo cách này: tất cả những điều này là hồi chuông cảnh báo và thúc bách về sự chắc chắn của cái chết của riêng tôi, vì thế tôi phải chuyển tâm vào con đường vĩ đại của thực hành tinh tấn để đạt được giải thoát.

28. Những vị lãnh đạo và viên chức vĩ đại cai trị hàng trăm và hàng ngàn gia đình của nhiều bộ tộc! Khi cái chết đến, quý vị không có tự do để đem theo mình một miếng thực phẩm, còn nói gì đến việc mang theo thuộc hạ. Vào lúc đó, chỉ có Giáo Pháp chân chính và siêu việt là tuyệt đối lợi lạc, vì thế xin đừng mãi trì hoãn và lãng phí thời gian.

29. Khi mọi hiện tượng trong đời này hoàn toàn ngừng dứt, đau khổ xuất hiện như kết quả của nghiệp, cho dù quý vị có bao nhiêu người thân, bè bạn và người đồng hành, chẳng ai có thể chia sẻ chút nào với quý vị. Cho dù quý vị kêu khóc cho đến khi mặt đẫm lệ, điều ấy chẳng mang lại sự thay đổi hay giúp đỡ nào. Chớ để cái chết đánh bại, mà từ nay trở về sau hãy hiến mình cho việc thực hành Pháp, là điều mang lại lợi lạc vào lúc chết!

30. Nhờ suy niệm nghiêm cẩn, quý vị sẽ nhận ra rằng mọi hiện tượng của thế giới vật chất bên ngoài và thế giới chúng sinh bên trong là những quyển sách giáo khoa biểu thị sự vô thường của cuộc đời. Những tình cảm phóng xuất tự nhiên từ trái tim tôi thì vô vàn, nhưng ở đây tôi chỉ có thể hiến tặng quý vị một bài ca Giáo pháp như mây cho quý vị, những người bạn thân thiết của tôi!

31. Những người bạn thân mến trong cùng một trại! Hãy bảo đảm là sẽ liên tục lắng nghe điều này: mọi sự trong luân hồi sinh tử thật không đáng tin cậy. Để đạt được sự giàu có lâu dài, hoàn hảo và không ô nhiễm của đại lạc, từ nay trở đi, quý vị nên mặc áo giáp tinh tấn để toàn tâm thực hành Giáo Pháp!

32. Từ nay cho đến khi không gian diệt tận, cầu mong con có thể kính lễ vị Bảo trợ - Đức Văn Thù mà không thối chuyển; cùng lúc đó, giảng dạy Giáo Pháp sâu xa cho chúng sinh và đạt được trí tuệ và năng lực tâm thức như Đấng Chiến Thắng Văn Thù!



Trên đây là 32 vần kệ, một con số kỳ diệu, là những cảm xúc chân thành phóng chiếu tự nhiên từ trái tim tôi. Những lời thỉnh cầu liên tục của Otse Yana, một người bạn tốt, là thuận duyên và tâm từ bỏ mãnh liệt đối với sự vô thường trong tâm tôi là nguyên nhân sâu xa khiến tôi, Ngawang Lodro Tsungmed, biên soạn bài kệ này vào ngày 27 tháng Giêng năm 1964. Cầu mong đó là điều kiết tường!
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 05-08-2016 , 02:05 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CÁI CHẾT
Đức Dalai Lama 14



Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.

Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước – ngày mai hay cái chết. Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau.

Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất. Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta bất ngờ.

Điều này cũng ứng dụng cho sự thực hành Pháp: chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong chúng ta biết được khi nào mình chết. Mỗi ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang máng, hay của một người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như vui sướng, nhưng một cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng rằng điều đó sẽ không xảy ra cho ta.

Chúng ta nghĩ rằng mình được miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng ta trì hỗn sự tu hành tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng ta trước cái chết), và cho rằng ta sẽ còn thời gian trong tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới, điều duy nhất chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng ta cần phải đi vào sự thực hành ngay lập tức để dù cái chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta cũng sẽ sẵn sàng.

Khi cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản nó. Dù bạn có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với bệnh tật thế nào chăng nữa, cái chết sẽ chắc chắn giáng xuống. Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời của chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ thì nay các Ngài chỉ còn là một ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn cho Pháp và làm việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ đây tất cả những gì còn lại của các ngài chỉ là những cái tên. Đối với những nhà cai trị và các nhà lãnh đạo chính trị thì cũng thế.

Tiểu sử của các vị sống động đến nỗi hầu như họ vẫn còn sống. Khi chúng ta đi hành hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu viện Nalanda, là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những dấu tích để lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta thấy bản chất của sự vô thường.

Như những Phật ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào không gian, chúng ta sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người trong chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau như đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài người trong chúng ta sẽ chết, và những người khác sẽ chết trong ít năm.

Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả chúng ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có những sự thấu suốt tâm linh của ta là giúp ích được cho ta. Không ai sau khi sinh ra mà càng lúc càng cách xa cái chết. Thay vào đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái chết hơn, giống như súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những người chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng, chúng ta cũng bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến gần tới lúc kết thúc của đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc vào lẽ vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã.

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất mạnh mẽ và khỏe khoắn nhưng lại chết trẻ là những vị Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất cả những người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai còn sống trong một trăm năm nữa. Cái chết không thể bị đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm sự nương tựa ở một nhà lãnh đạo chính trị tài ba. Trải qua những năm tháng cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều người. Giờ đây họ chỉ còn là những hình bóng trong ký ức tôi.

Ngày nay tôi lại gặp thêm những người mới. Thật giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng ta tiêu phí cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng của sự tham luyến và oán ghét, nếu vì lợi ích của những cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng trưởng những mê lầm của mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất lâu dài, vì nó phá hủy những triển vọng thành tựu hạnh phúc tối hậu của chúng ta. Nếu đôi lúc chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế tục tầm thường, điều đó không quan trọng lắm, nhưng nếu chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được nhờ đời người này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời gian dài.

Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua sự đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân, hay ta muốn thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái sinh, hoặc ta muốn đạt tới trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva nói rằng trong đời này chúng ta có cơ hội, trách nhiệm, có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương lai của ta sẽ như thế nào.

Chúng ta nên tu hành tâm thức của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí – không lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị khi cái chết đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết đó thì động lực cho thực hành tâm linh sẽ phát sinh – đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe Sharawa (1070-1141) nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định về lẽ vô thường.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo huấn đầu tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ là vô thường. Khi phải đối diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất sẽ hoan hỉ, các hành giả trung bình sẽ được chuẩn bị tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất sẽ không có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng của đời mình, điều tối quan trọng là đừng có ngay cả một day dứt của sự hối tiếc, hoặc điều tiêu cực mà chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới sự tái sinh kế tiếp của ta.

Phương cách tốt nhất để làm cho cuộc đời có ý nghĩa là sống theo con đường của lòng bi mẫn. Nếu bạn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa. Bạn có thể cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không cần cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ khiến bạn ngã lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn. Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm tưởng rằng mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng bao giờ tiến bộ trên con đường tâm linh.

Sự tin tưởng rằng bạn sẽ không chết là chướng ngại to lớn nhất cho tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới Pháp, bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới nó, và bạn sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể tuân thủ nó ở một mức độ nào đó. Nếu bạn không thiền định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực hành một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng, bạn sẽ thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành, và bạn sẽ bị sự kiệt sức vây khốn. Bạn sẽ bị trói chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt. Khi suy nghĩ quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc cho những gì mình yêu quý – những thân quyến và bằng hữu của chúng ta – và ta nỗ lực để làm vui lòng họ. Rồi khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta liệt những người này là kẻ thù của mình.

Trong cách này các mê lầm như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng sông ngập lụt vào mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm lạc này khiến cho chúng ta mê đắm trong mọi thứ hành động tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh trong những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai. Nhờ sự tích tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một đời người quý báu. Bất kỳ công đức nào đang tồn tại cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt tương đối trong đời này.

Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng ta có sẽ bị tiêu đi mất, và nếu ta không tích tập công đức nào mới thì giống như ta tiêu hết tiền để dành mà không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn kiệt sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta sẽ bị đắm chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm hơn nữa.

Người ta nói rằng nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về cái chết thì chúng ta sẽ chết trong sự áp chế của sợ hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng ta đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái chết. Họ tránh né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy khi nó thực sự xảy tới họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta đừng nên không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối mặt với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu. Nhờ đó, khi chúng ta thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì nó không phải là cái gì hoàn toàn không chịu đựng được.

Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn. Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan. Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu – là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường – và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành đạt chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành đạt trong những đời sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là một thực tại do đó quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không giải quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều nên làm là đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích, khảo sát nó, xác định các nguyên nhân của nó và tìm ra phương cách tốt nhất để có thể đối phó với nó. Những người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị nó tấn công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ hơn những người bản thân họ đã làm quen với những đau khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát khởi.

Một hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của lúc sinh ra, nỗi khổ của sự già đi, nỗi khổ của bệnh tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức mỗi ngày một lần. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Nếu bạn phải đi qua một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu về những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó. Không tiên liệu về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không bạn cũng phải đi tới đó, vì thế tốt nhất là chuẩn bị sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn xuất hiện. Nếu bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn sẽ cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần đây. Như vậy nếu khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày hôm nay hay ngày mai, nhờ sự thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng trói buộc bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành công thế tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa nào.

Lợi lạc của sự tỉnh thức về cái chết là nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy hoan hỉ khi giờ chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc. Khi bạn quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung và sự bất định của giờ chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận ra rằng sự thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản chất và không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi lạc lâu dài của bản thân bạn và những người khác sẽ có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc đời bạn sẽ được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã nói, bởi chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự sau lưng, thì tại sao không từ bỏ nó ngay bây giờ ?

Mặc dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng thuốc men hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể hứa hẹn sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu mươi hay bảy mươi năm nữa, hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ không còn sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại chúng ta chỉ như một phần của lịch sử. Khi cái chết đến, điều duy nhất có thể giúp ích là lòng bi mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà người ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một đời sống sau khi chết hay không là điều hết sức quan trọng.

Những đời quá khứ và tương lai hiện hữu vì những lý lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ năm ngoái, từ năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được nhớ lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một cái biết đã hiện hữu trước cái biết hiện tại. Khoảnh khắc ý thức đầu tiên trong đời này không được sinh khởi mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh ra từ cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm là cái gì trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước nó phải là cái gì đó trong sáng và thấu biết, là khoảnh khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể tin được rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến từ không cái gì khác hơn là một đời trước.

Mặc dù thân xác vật lý có thể hành xử như một nguyên nhân thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ chuyển hóa thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển hóa thành vật chất. Vì thế, tâm thức phải đến từ tâm thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến từ tâm thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong đời sau. Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên tỉnh thức về nó, đời bạn sẽ trở nên có ý nghĩa. Nhận ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có tính cách bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống trả lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để ta sẽ được thúc đẩy thực hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu.

Nó quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan trọng ở lúc bắt đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai đoạn cuối. Sự tỉnh thức về cái chết mà chúng ta phải nuôi dưỡng không phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất lực về việc phải chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta. Đúng đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà chưa chấm dứt được các nguyên nhân của sự tái sinh trong các cõi thấp của luân hồi và sẽ chết mà không tích tập những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho sự tái sinh thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành được hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế bởi nỗi sợ hãi và ân hận ghê gớm.
Nếu chúng ta tiêu phí toàn bộ đời mình để miệt mài trong những hành động xấu xa phát sinh từ sự oán ghét và ham muốn, thì chúng ta gây nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu. Đó là bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ những nguyên nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc của chính chúng ta trong những đời sau. Nỗi sợ hãi về điều đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày trong cuộc đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh về cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và mọi sự của cuộc đời này thì không quan trọng, và sẽ làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của sự thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng ta sợ hãi cái chết, chúng ta sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc của mình khi chết.

Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ vô thường trở nên hết sức vững chắc và kiên cố thì mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về sự vô thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt đầu ngay từ khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng ta thường xuyên bị hành hạ bởi bệnh tật và sự già yếu. Khi còn khoẻ mạnh và tràn đầy sức sống, chúng ta không nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết.
Chúng ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khoẻ; cách tốt nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta. Ví dụ như người đang rơi từ một dốc đá thật cao sẽ không sung sướng gì trước khi họ chạm đất. Ngay cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực hành Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường thọ, có lẽ một trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời gian để thực hành Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự lần lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng.

Một nửa đời người bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời gian còn lại chúng ta bị phóng tâm bởi những hoạt động thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần giảm sút, và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành, nhưng đã quá muộn bởi chúng ta sẽ không có năng lực để thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh nói, nửa đời người tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ và hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị dày vò bởi những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất vọng, vì thế khó có thời gian nào để cho sự thực hành Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm và suy nghĩ về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ nhận ra rằng chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến mình cho sự thực hành nghiêm cẩn Phật Pháp.

Nếu chúng ta không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp, mà cứ sống như ta sống đời thường, thì chắc chắn là ta tiêu phí đời mình trong sự lười nhác không mục đích. Gung-thang Rinpoche nói, có phần diễu cợt: “Tôi mất hai mươi năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất hai mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này, và rồi mất mười năm nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực hành Pháp như thế nào.” Khi tôi còn là một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng mười bốn hay mười lăm tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một cách đứng đắn về Pháp. Rồi người Trung Hoa đến, và tôi mất nhiều năm trong mọi thứ rối loạn chính trị.

Tôi đi Trung Hoa và viếng Thăm Ấn Độ năm 1956. Sau đó tôi trở về Tây Tạng và lại mất thêm một ít thời gian trong chính sự. Điều tốt nhất tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy bằng Geshe (học vị hàn lâm cao nhất trong các trường Đại học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương mình. Giờ đây, tôi đã sống lưu vong hơn ba mươi năm, và mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn đời tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi lạc gì nhiều. Tuy nhiên tôi không đến nỗi phải hối tiếc rằng mình đã không thực hành.

Nếu tôi nghĩ về phương diện thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những khía cạnh nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những cơ cấu thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác. Thời gian để thực hành Pháp không đến một cách tự nhiên mà phải được sắp xếp có chủ đích. Nếu bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một lúc nào đó, cần phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi thường thích nói, chúng ta nên dùng năm mươi phần trăm thời gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau của mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của đời này.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên nhân để sống còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi là để củng cố đời sống, như thực phẩm và thuốc men, có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết. Ngày nay, nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của chúng ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng và chăn nuôi súc vật đã góp phần làm sức khỏe suy yếu đi và gây nên sự mất quân bình trong thân thể. Thân người quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì bạn có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn, bị cao huyết áp, và thể bạn trở thành một gánh nặng.

Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít mạnh khỏe hay khả năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số những người lớn, và khi quá già thì bạn có cảm tưởng như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là bản chất sự hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì tác động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay cách khác né tránh nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay lặn sâu trong đại dương. Nhưng khi hiểm họa đến từ bên trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi chúng ta còn tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một thân thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và rút ra được cốt tủy của nó. Rút ra được cốt tủy (bản chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự suy sụp và nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải thoát và toàn trí.

Người giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật sở hữu duy nhất khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu chúng ta phải để lại đằng sau thân xác này, là thứ mà ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là cái từng đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất, thì làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải vật chất. Hầu hết mọi người đều mất quá nhiều năng lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một ít thành đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi hoạt động thế tục của ta, như sự chăm sóc những người thân và bằng hữu, và sự đua tranh với những đối thủ, đành phải bỏ lại dang dở.

Mặc dù bạn có thể có đủ thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ phải chịu đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ mặc trong một trăm năm, nhưng khi chết bạn sẽ phải trần truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự khác biệt giữa cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy. Bạn nên cố gắng tưởng tượng một tình huống trong đó bạn bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn bị trọng bệnh và toàn thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt sức, và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc hấp hối bác sĩ sẽ nói bằng hai cách: với người bệnh thì ông nói: “Đừng lo lắng, bạn sẽ khá hơn.

Không có gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia đình thì ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp xếp để cử hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm đó bạn sẽ không có cơ hội nào để hoàn tất công việc dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của bạn. Khi nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động khó khăn. Rồi hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn cảm thấy thân mình trở nên cứng đơ, như một khúc cây rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn thấy tử thi của chính mình.

Những lời sau cùng của bạn nghe thều thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu bạn nói gì. Thực phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là một bữa ăn ngon lành mà là một nắm thuốc mà bạn sẽ không còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những bằng hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn mới gặp lại họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất thường, hơi thở vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ có một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm dứt việc hô hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết như thường được hiểu như vậy. Sau đó thì tên của bạn, cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào một từ “cố” ở trước nó.

Điều trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải ở trong một trạng thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có, và là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có thể sống một cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại để nuôi dưỡng một trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta có thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn đầy năng lực vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời sau chúng ta sẽ tái sinh trong một đời sống thuận lợi. Nói chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh.
Ít nhất, nên cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị Phật và Bồ Tát khiến họ có thể nhận ra các Ngài, cố gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết trong một tâm trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm được thì điều tối quan trọng là những người chăm sóc và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối. Vào lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay oán giận có thể đưa người hấp hối tới một trạng thái đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có khả năng đi vào một sự tái sinh ở cõi thấp. Khi cái chết đến gần, những dấu hiệu nào đó điềm chỉ tương lai có thể xuất hiện.

Những người có tâm thức tốt lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn thấy những điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi họ chết. Nếu lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt về sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo giác và sẽ cảm thấy đau buồn ghê gớm.
Một số người thấy như thể họ đang đi vào bóng tối, những người khác cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài người đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ thấy mình đang bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho số phận trong tương lai của họ. Do những dấu hiệu như thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối, và sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi kéo xuống.

Họ sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách rốt ráo, những sự kiện này phát xuất từ sự bám chấp vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ mà mọi người rất yêu mến đó sắp chết. Khi những người đã miệt mài phần lớn đời mình trong ác hạnh ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại hơi ấm của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái tim. Đối với những hành giả thiện hạnh thì tiến trình tan biến hơi nóng bắt đầu từ phía dưới, từ bàn chân, và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ trường hợp nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim. Sau khi chết, người ta đi vào trạng thái trung ấm, bardo. Thân thể trong trạng thái trung ấm có vài đặc điểm riêng biệt:
tất cả các giác quan đều đầy đủ, và nó có một hình tướng thể chất giống hệt với hình tướng của hiện thể mà nó sẽ tái sinh. Ví dụ, nếu nó tái sinh làm một con người, nó sẽ có một hình tướng thể chất giống hệt một con người. Nếu nó tái sinh là một súc sinh thì nó sẽ có hình tướng thể chất của súc sinh đặc thù. Thân trung ấm có thị lực mạnh mẽ đến độ có thể nhìn xuyên qua các vật rắn và có khả năng du hành bất kỳ nơi nào mà không bị ngăn ngại. Thân trung ấm chỉ có thể nhìn thấy những thân trung ấm cùng loại. Ví dụ, nếu một thân trung ấm được định là tái sinh làm một con người thì nó chỉ nhìn thấy những thân trung ấm đã được định để tái sinh làm người. Những thân trung ấm của cõi trời đi hướng lên, nhìn hướng lên cao, và các thân trung ấm của cõi người đi thẳng và nhìn thẳng.

Các thân trung ấm của những kẻ đã say đắm trong các ác hành và bị tái sinh vào các cõi thấp thì ta được biết là di chuyển hướng xuống dưới. Thời kỳ ở trạng thái trung ấm này là bảy ngày. Sau một tuần lễ, nếu thân trung ấm gặp được những tình cảnh thích hợp thì nó sẽ tái sinh trong cảnh giới luân hồi tương ứng. Nếu nó không gặp được thì sẽ lại chết một cái chết nhỏ và xuất hiện một lần nữa như một thân trung ấm.

Điều này có thể xuất hiện bảy lần, nhưng sau bốn mươi chín ngày thì nó không thể tồn tại như một hiện thể của trạng thái trung ấm nữa và phải tái sinh dù nó có muốn hay không. Khi đến thời điểm để tái sinh, thân trung ấm nhìn những hiện thể cùng loại với nó bay lượn, và nó sẽ phát triển một ước muốn nhập bọn với họ.

Những chất sinh nở của các cha mẹ tương lai, tinh dịch và trứng, trông khác biệt với nó. Mặc dù cha mẹ có thể không thực sự ngủ với nhau, thân trung ấm sẽ có ảo giác là họ đang làm việc đó và sẽ cảm thấy dính mắc với họ. Nếu thân trung ấm nào có thể sinh làm một bé gái, nó sẽ cảm thấy ghét bỏ người mẹ và bị cuốn hút bởi sự trói buộc, nó sẽ nỗ lực để ngủ với người cha.

Nếu thân trung ấm có thể sinh ra làm một bé trai, nó sẽ thấy ganh ghét người cha mà ràng buộc với người mẹ và cố gắng để ngủ với mẹ. Bị kích động bởi lòng ham muốn như thế, nó đi theo cha mẹ bất kỳ nơi nào. Sau đó, không có phần thân thể nào của cha mẹ xuất hiện ra trước thân trung ấm đó trừ những bộ phận sinh dục, do đó nó cảm thấy thất vọng và giận dữ.
Sự giận dữ đó là điều kiện (duyên) cho cái chết của nó từ trạng thái trung ấm, và nó tái sinh trong tử cung. Khi cha mẹ đang giao hợp và đạt tới khoái cảm cực độ, một hay hai giọt tinh dịch đậm đặc và trứng hòa trộn với nhau như kem trên lớp mặt sữa đun sôi. Vào lúc này, tâm thức của thân trung ấm ngừng dứt và đi vào hỗn hợp ấy.

Điều đó đánh dấu sự nhập thai. Mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, thân trung ấm có ảo tưởng là họ đang làm việc ấy và sẽ đi tới nơi đó. Điều này hàm ý rằng có những trường hợp, mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, tuy nhiên tâm thức vẫn có thể đi vào những yếu tố vật lý. Điều này giải thích cho việc những đứa trẻ sinh ra từ ống nghiệm ngày nay; khi các tinh chất được tập hợp lại từ cha mẹ, được hòa trộn và giữ gìn trong một ống nghiệm thì tâm thức có thể đi vào hợp chất đó mà không cần sự giao hợp thực sự xảy ra.

Ngài Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để cảm nghiệm niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời này. Chúng ta phải hướng sự chú tâm của ta về tương lai; nếu không, ta sẽ không khác gì những thú vật. Sự tỉnh thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường. Trừ phi bạn phát triển sự tỉnh thức này, còn không thì tất cả những thực hành khác sẽ bị chướng ngại. Pháp là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta trong cuộc hành trình;

Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa chúng ta tới bến bờ xa lạ của Niết bàn. Vì thế, hãy đem tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô thường thì rất dễ, nhưng thực hành thật sự thì quả là hết sức khó khăn. Và khi chúng ta thực hành, đôi lúc ta không nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu ta chỉ so sánh hôm qua và hôm nay.

Đó là một mối nguy hiểm dễ làm ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình huống như thế, rất lợi lạc khi ta không so sánh từng ngày hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng so sánh tâm trạng hiện thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười năm trước; như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi.

Chúng ta có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong nhận thức, trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng ta đối với các thực hành này. Chính nó là một suối nguồn nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự ban cho ta niềm hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết định trì hỗn thực hành của chúng ta tới một thời điểm thuận lợi hơn thì thực sự rất nguy hiểm.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 05-08-2016 , 02:20 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
UỐNG DÒNG SUỐI NÚI.

Những Bài Ca của vị Thánh được Mến Yêu của Tây Tạng, MILAREPA.
Nguyên tác: Drinking the Mountain Stream, Song of Tibet’s Beloved Saint, Milarepa
Translated by Lama Kunga Rinpoche & Brian Cutillo, Wisdom Publications, 1995
Việt dịch: Tha Nhân - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002.

Tất cả nước uống mà bạn đã dùng
Trải qua thời gian vô thủy cho đến hôm nay
Đã không thỏa mãn cơn khát hay làm bạn hài lòng.
Bởi thế hãy uống dòng suối này
Của tâm giác ngộ, hỡi những ai có phước.
– MILAREPA.

BÀI KỆ KẾt THÚC.
(Trích đoạn trong quyễn UỐNG DÒNG SUỐI NÚI)

Tôi là một thiền giả lang thang nơi đồng quê,
Một người xin ăn du hành một mình,
Một người rất nghèo không có gì cả.

Tôi đã bỏ lại đàng sau nơi chốn sanh ra,
Quay lưng lại với ngôi nhà xinh đẹp,
Và cho đi ruộng đất tốt tươi.

Tôi đã ở trong những chốn ẩn cư núi non hoang vắng,
Thực hành trong những động đá tuyết phủ chung quanh,
Và tìm thức ăn như loài chim chóc –
Như vậy đó, sống cho đến bây giờ.

Không có lời nào nói về ngày chết của tôi,
Nhưng tôi có một ý định trước khi tôi chết.
Đó là câu chuyện đời tôi, thiền giả ;
Bây giờ tôi sẽ cho các bạn vài lời khuyên :

Cố gắng kiểm soát những biến cố của cuộc đời này,
Cố gắng và cố gắng khôn ngoan thông thái,
Luôn luôn hoạch định thu xếp thế giới của bạn
Dấn thân vào những quan hệ xã hội mãi hoài –
Giữa những sửa soạn này cho tương lai

Không hay biết, bạn đi đến những năm chót của mình,
Không biết trán bạn hằn những vết nhăn,
Không biết tóc bạn ngả sang màu trắng,
Không thấy da mắt bạn thụng xuống,
Không chấp nhận chỗ lõm của miệng và mũi.

Thậm chí khi bị những sứ giả của thần chết săn lùng
Bạn vẫn hát ca và hưởng thụ lạc thú.
Không biết cuộc đời có kéo dài đến sáng mai,
Bạn vẫn hình thành những kế hoạch cho tương lai xa lắc.
Không biết tái sanh sẽ xảy ra nơi đâu, bạn vẫn duy trì một hài lòng tự mãn.

Bây giờ là thời gian chuẩn bị cho cái chết –
Đó là lời khuyên thành thật của tôi cho bạn ;
Nếu sự quan trọng của nó tác động nơi con người bạn, hãy bắt đầu sự thực hành của mình.

Last edited by Rau Sam; 05-08-2016 at 02:28 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 05:04 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TÂM SỰ CỦA NGƯỜI Ở CỎI ÂM .
( Nguyên tác : Chat với người ở cỏi âm ,tác giả Minh Thạnh)

Chiều nay đi làm về, Minh quẹo cua qua đường Pasteur tìm hiểu thử có giàn thiên lý nào ở đó không. Anh đánh vòng qua đường Hàm Nghi để có thể đi dọc hết con đường một chiều. Giống như Nam Kỳ Khởi Nghĩa, đường Pasteur có nhiều cây xanh. Nhà hàng thức ăn dinh dưỡng H20 không còn nữa, hình như nó chuyển về đường Trần Hưng Đạo mấy năm nay rồi thì phải. Mấy năm trước đi chơi Giáng Sinh về khuya, Minh và lũ bạn hay kéo vào đây ăn uống. Quán buổi tối đông hơn ban ngày và nhiều lúc người ta phải kê thêm bàn ở ngoài ngoài sân. Đại học Kiến Trúc vẫn vậy, nhiều năm rồi vẫn không thay đổi gì nhưng có vẻ sinh viên đông hơn trước. Trước cổng trường về đêm người ta hay bán hột vịt lộn và cả trứng cúc lộn nữa. Bây giờ cũng thế, mấy chàng mấy cô nàng thích ăn món này không phải ít. Vài ông nhậu nhẹt hát bài Phố đêm nghe sao mà chán. Buổi tối hay ban ngày đường Pasteur lúc nào cũng mát mẻ vì rợp bóng cây xanh. Hàng cây hai bên đường rất lớn, toàn là những cây lâu năm. Giờ này nam thanh nữ tú đi chơi chưa nhiều. Khoảng 9 giờ mới đông. Người Sài Gòn không có thói quen đi dạo nhưng lại thích đi xe máy dạo. Họ cứ chạy từ đường này đến đường khác, nói cười huyên thuyên, dĩ nhiên bỏ qua những con đường có nhiều xe tải. Minh chạy nãy giờ có thấy giàn thiên lý nào đâu. Anh đã chạy vòng đến ba lần, hết nhìn bên trái rồi nhìn bên phải. Anh đói bụng lắm rồi và cảm thấy mình dư hơi, tự nhiên đi kiếm cái không có, chắc cô bé nào trên mạng chọc ghẹo anh rồi.

Minh quay lại đường Mạc Đỉnh Chi ăn cháo gà. Quán cháo nổi tiếng nằm đối diện ngân hàng Á Châu. Buổi tối không nhiều khách ăn như buổi sáng nhưng có vẻ quán làm ăn cũng khá. Tuy nhiên nó không đông đúc và ồn ào như miến gà Kỳ Đồng. Ăn xong, Minh quay trở lại đường Pasteur và đi thêm một vòng nữa. Bỗng anh chợt nghĩ không biết ngôi nhà đó có khi nào lại nằm trong hẻm. Hồi chiều tới giờ anh chỉ nhìn mấy ngôi nhà mặt tiền, và hầu như quên bẵng mấy căn nhà trong hẻm. Không hiểu sao anh quyết chí đi vào từng con hẻm một để tìm cho bằng được căn nhà có giàn thiên lý. Buổi tối đường phố đông hơn, người trẻ nhiều và ăn mặc đẹp hơn. Anh quẹo vào khu hẻm này đến khu hẻm khác, nhưng có lẽ nhờ tô cháo gà nên anh có sức sống trở lại. Sực nhớ người ta thường cúng cô hồn bằng mấy con gà, anh có cảm giác rùng mình và hồi hộp. Anh quẹo vào một con hẻm gần tiệm bán thú nhồi bông. Đập vào mắt anh là ngôi biệt thự với khoảng sân rộng và hàng rào được che chắn bởi giàn hoa thiên lý. Vài cánh hoa đang nở nên hương thơm không đậm đà lắm. Thời tiết về đêm hơi dịu mát nhưng cơn gió nhẹ cũng làm anh nổi da gà. Các hàng rào đều phủ kín bởi những giàn thiên lý. Trong sân được rải những hòn sỏi nhỏ. Phía bên trái có một chiếc xích đu. Ngôi biệt thự trông khá buồn tẻ và ánh đèn hắt ra ngoài ở tầng thứ nhất. Minh đưa tay bấm chuông nhà nhưng không thấy ai trả lời. Anh nhìn lên căn phòng có ánh đèn và thấy chiếc màn khẽ lay động nhưng anh không thấy ai nhìn ra ngoài. Anh bấm chuông thêm một lần nữa với quyết tâm tìm hiểu thử xem, đâu có mất mát gì. Một người phụ nữ khoảng 50 tuổi trong đồ bộ cũng màu hồng ra mở cửa. Bà trông khá trẻ so với tuổi và có lẽ biết cách trang điểm nên làm tăng thêm phần trẻ trung. Bà hỏi: “Anh tìm ai?”. Minh trả lời ngay: “Dạ đây có phải nhà Trúc không ạ!”. Người phụ nữ nhìn anh chằm chằm, ánh mắt hơi bất thần, giọng nói có vẻ thay đổi: “Đúng rồi, nhưng sao anh quen biết con tôi?”


chieclarungroi
Anh muốn thăm nhà tôi sao? Vậy cũng được nhưng tôi chỉ là một trong hằng hà sa số vong linh đang cần được giúp đỡ. Nếu anh nhìn thấy Sài Gòn đông người và kẹt xe như thế nào thì vong linh cũng nhiều như vậy. Ở đâu cũng có họ. Nhà tắm, phòng ngủ, công sở, trường học, bệnh viện đầy dẫy vong vinh. Thai nhi bị giết đến thế giới này nhiều lắm. Chẳng trách được, con người sống không có trách nhiệm và muốn chối bỏ núm ruột của mình. Ông Tổng thống nào đó ở Bắc Mỹ vừa lên nắm quyền không lâu đã gỡ bỏ lệnh cấm tài trợ phá thai và tài trợ nghiên cứu tế bào gốc. Hành động này làm oan hồn thai nhi thêm dày đặc. Chỉ có thực tập tình thương mới mong dân số vong linh giảm bớt, bằng không dân số tăng lên, khả năng sa mạc hoá của Địa Cầu thêm mạnh mẽ. Vong linh nhìn thấy loài người đang làm gì, nghe họ nói chuyện, biết điều họ đang suy tính. Tuy nhiên họ thường ở nơi được chôn, nơi qua đời, nơi có bài vị hoặc nơi được gọi tên.

m_80
Vong linh nhiều như vậy sao?

chieclarungroi
Các vong linh khao khát được tu tập như nghe kinh, tham thiền, thọ trì Tam Quy và Năm giới. Sự tu tập của người thế gian sẽ tạo ra năng lượng nương tựa cho người cõi âm do cơ hội tu tập của họ nhiều hơn. Trên vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, và ngay thời điểm này, hằng hà sa số đức Phật đang thuyết pháp và hằng hà sa số chúng sinh đang tu tập. Vong linh tiếp cận các bài thuyết pháp của đức Phật không dễ dàng như chư thiên hay loài người do nghiệp báo của họ và bị ngăn chặn bởi nghiệp lực. Vong linh không phải là người chết mà người đang sống, chỉ có điều họ đang ở một dạng khác, ở một cõi khác và mang theo năng lượng khác. Nói là khác nhưng họ đang tồn tại song song với cõi người ngay tại thế gian này và có mối liên hệ như hình với bóng. Một số người có khả năng ngoại cảm, do nghiệp duyên của họ với vong linh trước đây như họ từng nguyện cứu độ vong linh chẳng hạn. Ngoại cảm không phải khả năng thiên phú, mà là kết quả của nhân hay lời phát nguyện trong quá khứ. Nhà ngoại cảm nếu biết tu tập thì năng lượng sẽ rất mạnh và chính xác, đồng thời cứu giúp được vong linh rất nhiều nhưng nếu họ không biết tu thì sẽ hết sức nguy hiểm cho người cõi âm lẫn cõi dương.

m_80
Chắc là cô chứng kiến được nhiều sự thật?

chieclarungroi
Đúng thế, nhiều sự thật bị thay đổi không thể tưởng tượng tựa nổi. Có người dùng từ đổi trắng thay đen và ngược lại. Người không có tội bị cho là có tội và người có tội được tha bổng. Nhưng có hai mặt của vấn đề. Một là người không có tội bị cho là có tội vì trong quá khứ xa xôi họ đã từng gây ra tình trạng không tội bị buộc tội. Hai là người không tội bị buộc tội bởi hành vi cố tình tạo nghiệp của người nắm quyền công lý. Những cảnh bất công xảy ra lan tràn khắp nơi trên thế giới nhưng phần lớn là do con người trả nghiệp, chứ không ai tạo ra cả, hơn nữa nghiệp xấu mới được hình thành không phải ít. Nếu người trả nghiệp chấp nhận hiện trạng đau khổ của mình thì họ sẽ chấm dứt nghiệp, còn họ tìm cách trả thù, bản thân sẽ tiếp tục chồng chất thêm nghiệp, trả hoài không hết. Vị hoà thượng ở ngôi chùa trên đường Lê Văn Sĩ dạy rằng hạnh nhẫn nhục rất quan trọng, vì con người có thể chấp nhận những khổ đau tưởng chừng không thể chấp nhận nổi, khi đó con người không còn sợ hãi và lên án cái gì gọi là bất công nữa, vì đau khổ vẫn mang tính công bằng của nó.

m_80
Con người còn bày đủ thứ trò gì nữa?

chieclarungroi
Các trò yêu thương, sân hận, ganh ghét. Nhiều người ở không nên bày trò yêu thương, hết người này đến người kia nhưng chưa bao giờ biết cách yêu thương. Thậm chí có người giận hờn cho hết thì giờ, để được chú ý hay muốn chứng tỏ bản thân. Ganh ghét cũng vậy, họ xem đây là một món ăn tinh thần, thêm thắt vào những gia vị tầm thường hàng ngày và chẳng biết thỏa mãn. Hằng hà sa số dự án kinh doanh đào bới trái đất nhưng vẫn không dừng lại mà phát triển tinh vi hơn. Những gì thấy trên truyền hình, báo chí, phim ảnh nói về xã hội đen, bạo lực, bạo động, cuồng tín, hận thù… chỉ phản ánh sự thật nhỏ bé của đời sống vì tính điên loạn của con người khủng khiếp gấp ngàn triệu lần. Người cõi dương chẳng khác gì người cõi âm, có khi họ đang đồng hoá người cõi dương và người cõi âm, đến lúc nào đó người cõi dương không còn được phân biệt với người cõi âm nữa. Điều chú ý là người cõi âm sẽ sợ hãi không muốn tái sinh trở lại thành người cõi dương.

m_80
Vậy họ mãi là người cõi âm sao?

chieclarungroi
Khi có đầy đủ nhân duyên họ kết thúc đời sống ở cõi âm, tái sinh lên cõi người hay cõi trời. Vừa lên cõi dương một thời gian, phước báu tàn lụi lại rơi xuống cõi âm tiếp. Một số bào thai vừa hình thành đã bị phá hay trẻ nhỏ sống không bao lâu đã bị chết yểu. Người bị bệnh thần kinh có hai nguyên nhân lớn: thứ nhất bản thân họ không tu tập, đời sống hiện tại chuyên làm nghiệp ác nên tinh thần không được tỉnh táo, bị tà dục lôi kéo đến mức căng thẳng không làm chủ được mình, người bình thường nhưng được xem như kẻ tâm thần; thứ hai người cõi dương có oan trái với người cõi âm nên họ đến đòi nợ, âu cũng là nghiệp xấu gây ra trong quá khứ đến hồi phải trả. Nếu biết tu tập, nghiệp lực sẽ giảm đi nhiều nhưng không phải biến mất hẳn. Một vị A La Hán hay vị Phật vẫn phải trả nghiệp đã gieo trong hằng hà sa số kiếp trước, nhưng nhờ họ có tâm vắng lặng, sự đau đớn không dìm chết họ. Cho nên phải hết sức cẩn thận, một phút sa chân, trả hoài không hết.

m_80
Trên một diễn đàn Phật giáo, có bài viết người đắc đạo thì thiên ma không vào được?

chieclarungroi
Không đúng, thiên ma vẫn vào được, thậm chí còn vào rất nhanh. Người tu là người bị phá nhiều nhất vì người âm muốn mọi người giống mình, không muốn ai tĩnh lặng. Nhiều tu sĩ đi tu rồi nhưng bị tà dục lôi kéo đến nỗi bỏ tu ra đời lấy vợ, đẻ con, anh không thấy sao. Một số thanh niên quậy phá, chơi bời, lêu lỏng, gia nhập băng đảng được ví như những tên cô hồn các đảng. Họ không làm chủ được bản thân, phần nào bị thiên ma xúi quẩy. Người tu thành đạt làm chủ bản thân, thiên ma đi vào nhưng không làm gì được đành phải đi ra, thậm chí sợ hãi vì khả năng vắng lặng của người đó. Hãm hại người tu, cõi âm càng tệ hơn và khi đi khỏi người tu, thiên ma rớt xuống địa ngục ngay lập tức. Việc rải tâm từ của người tu đến người hại mình khiến người này cảm thấy nhẹ nhõm trong chốc lát nhưng tội lại nặng hơn. Ngày xưa đức Jesus tha thứ cho kẻ đóng đinh mình lên thập tự giá, kẻ đó nghiệp xấu gia tăng so với trường hợp không được tha thứ. Hành động tha thứ giúp người bị hại kết thúc nghiệp xấu và phẩm hạnh nâng cao.

m_80
Cô đọc được suy nghĩ của người khác?

chieclarungroi
Tâm người thường hay tán loạn, suy nghĩ miên man và chạy lung tung. Họ toả ra thứ năng lượng lăng xăng, thích hợp với năng lượng của cõi âm. Đâu ai muốn đọc suy nghĩ của các vị, chỉ vì các vị tự rót vào tai chúng tôi mà thôi. Nếu quý vị thực sự vắng lặng, tâm không lúng túng, chúng tôi được tận hưởng rất nhiều. Chẳng hạn, người rắp tâm ám hại người khác, suy nghĩ làm môi trường ngột ngạt và chúng tôi tổn thương bởi sức nóng hay tính khổ đau của nó. Nhưng khi người bình an, suy nghĩ từ bi, ban bố phước lành, đọc kinh, đi thiền hành, chúng tôi bắt chước theo và mau chóng giải trừ nghiệp, môi trường dễ chịu và những vết thương được chữa lành. Có người chuyên nghĩ về tiền bạc, tình dục, ăn chơi và hưởng lạc trong khi có người chỉ một mực buông bỏ các phiền não đó, chế tác các hạnh phúc dư dả ban tặng cho người khác. Một vị tu sĩ nọ chuyên chê bai mọi người, chê bai cả các tu sĩ tu tập như mình và bất cứ bài pháp thoại nào cũng chêm sự chê bai vào đó. Thật nguy hiểm, mình sẽ trói buộc mình trong thế giới của khinh thường.

m_80
Cô còn đọc được suy nghĩ gì nữa?

chieclarungroi
Nhiều lắm, nhưng suy nghĩ tà dục quá nhiều mà suy nghĩ lành mạnh quá ít. Người đang đi theo xu hướng thừa nhận tà dục là chuyện bình thường và xem lành mạnh là yếu tố ngoài trái đất. Ví dụ, một chàng trai được khen là đào hoa, có nhiều cô đi theo và anh tự hào về điều đó, một thứ tự hào ảo với bản lĩnh đàn ông mơ hồ. Cũng thế, một cô gái được khen là có cá tính hay sành điệu nhưng khi hỏi rõ ra cá tính là gì, sành điệu là gì thì được miêu tả là ăn nói khác người, đi đứng khác người, hành xử khác người hay trình diễn khác người, có nghĩa họ châm mẫm vào bề ngoài trong khi bên trong bệ rạc và mục nát. Con người đóng kịch và nói dối đến nỗi dây thần kinh xấu hổ không còn nữa, không ai cắt đi mà tự nhiên biến mất. Thích được khen, thích được tâng bốc, thích được công nhận khiến người tràn ngập khổ đau và bám víu vào những chuyện không có thật. Vậy họ đi trong cõi dương có khác nào cõi âm, bơ vơ, lạc lõng, mệt nhoài trong các hạnh phúc trá hình.

m_80
Điều gì khiến cô sợ hãi?

chieclarungroi
Làm người cõi âm đã là một sự sợ hãi do các điều kiện tu tập rất ít hay hầu như không có. Lúc muốn tu thì bị nghiệp lực cản trở nên việc chuyển nghiệp diễn ra chậm chạp. Người không tu bị đoạ vào cõi âm và sống ở đó rất lâu không biết khi nào ra khỏi. Loài người ám hại lẫn nhau đã đành, họ còn ám hại cả người chết. Bằng sức mạnh của tà chú, họ bắt chúng tôi làm cái này làm cái kia và vô tình nghiệp ác gia tăng không biết khi nào mới trả hết. Một số người bắt ấn hay niệm chú để diệt trừ ác ma và bị cho là tà ma ngoại đạo, không đúng với tinh thần Phật giáo. Tuy nhiên, loài người nên thủ trong mình một số cách bắt ấn và câu chú với mục đích nhắc nhở mình quay về thực tập tĩnh lặng hơn là đánh đuổi ai. Niệm Phật cho chúng tôi nghe, bắt ấn cho chúng tôi thấy, chúng tôi biết tu tập không làm chuyện bậy bạ nữa. Khi bắt ấn của Bồ Tát Quan Thế Âm, không phải ngài hiện về cứu độ chúng sinh mà năng lượng đó có mặt sẵn trong mình, mình giúp nó phát khởi, tràn ngập thân tâm, làm cho mọi năng lượng xấu không thể biểu hiện.

m_80
Vậy đâu cần phải bắt ấn hay niệm chú làm gì?

chieclarungroi
Mỗi chúng sinh có Phật tính hay Bồ Tát tính nên khi thực sự tĩnh lặng, các năng lượng tốt toả ra mạnh mẽ, lấn át các tâm hành bất thiện. Chúng tôi đến thì mời chúng tôi ngồi chơi, không cần phải bỏ chạy vì càng chạy, chúng tôi càng rượt theo. Các chư thiên thường đến thăm người tu, hỗ trợ họ tu tập và làm các nhiệm vụ hộ pháp. Người cõi âm biết tu chưa thể trở thành chư thiên mà toả ra năng lượng của cô trạng hay cậu trạng, đi khắp nơi nhắc nhở mọi người tu hành. Ở nhiều ngôi chùa có các vị hộ pháp, chư thiên cũng vậy, các cô cậu trạng cũng vậy. Cõi âm có nhiều thành phần, không ai giống ai, người cõi âm biết tu không phải ít nhưng vì chưa đủ duyên nên chưa thể tái sinh làm người. Tôi đã chứng kiến một vị trời hay chư thiên rớt xuống địa ngục vì phước báu không còn nữa, hoặc phước báu thì có nhưng công đức lại không. Giống như cõi dương, người giàu không biết tu thì những gì họ được hưởng nhanh chóng tan biến.

m_80
Có những người không phải Phật hay Bồ Tát nhưng lại được cúng kiến và chiêm bái, tại sao vậy?

chieclarungroi
Bởi vì họ có phước. Có phước nhưng chưa chắc có đức. Khi phước hết, miếu đền của họ bị kéo ngã rất nhanh. Hơn nữa tình trạng suy đồi đạo đức khiến con người thờ cúng sai lạc, không chịu tu tập, chỉ thích cầu nguyện, lễ lạy, mong vào tha lực và bỏ bê tự lực. Một vị anh hùng được phong làm thánh nhưng thực tế ông này đang ở cõi âm, không chịu nhiều khổ sở và đói kém lắm vì hầu như ngày nào cũng có người cúng kiến cho. Loài ngạ quỷ mong chờ sự cúng thí từ cõi dương và sống được là nhờ các vật phẩm đó. Người cõi âm không thuộc loài ngạ quỷ không cần phải ăn gì vẫn sống được và sở dĩ vui vẻ do tấm lòng thành, thái độ bao dung của cõi dương. Trong cuộc chiến chống phát xít Đức, quân đồng minh giết chết nhiều quân Đức, nếu cầu siêu cho quân đồng minh chết trận thì cũng nên cầu siêu cho cả quân Đức vì vong linh cả hai phía ấm lòng, cõi dương có điều kiện thanh bình nhiều hơn. Tha thứ rất quan trọng, cõi âm cần điều đó để nghiệp lực nhanh chóng chuyển hóa, việc siêu thoát diễn ra nhanh hơn. Còn kỳ kèo, hờn trách, bỏ rơi, chúng tôi sẽ đau khổ thêm và ảnh hưởng đến sự an bình của cõi dương.

m_80
Vậy vị anh hùng nào rớt xuống cõi âm mà cô biết?

chieclarungroi
Dĩ nhiên tôi sẽ không nói ra cho anh biết và anh cũng không cần phải biết. Người còn sống thường tò mò về người cõi âm, muốn biết họ là ai, sanh về cõi nào hay tái sanh về đâu. Không cần thiết phải làm như vậy. Khi người thân còn sống, mình không lo trân quý và chăm sóc họ, chết rồi hỏi thăm họ làm gì. Vấn đề là ngay giờ phút này, mình biết mình còn sống nên mình hãy sống trọn vẹn trong giây phút đó, hiến tặng sự có mặt cho người thương, lắng nghe và chịu trách nhiệm về hiện tại cũng như tương lai của họ. Người chết không bao giờ chết, họ đang được tiếp nối ở một kiếp sống khác. Mình khóc than không có ích lợi gì và không nhất thiết phải tìm hiểu người thương của mình đi về đâu. Nhìn vào cuộc sống của người đó lúc còn sống là biết ngay họ sinh về cõi nào. Trong kiếp sống hiện tiền, người làm mười điều lành ở ba yếu tố là suy nghĩ, hành động và lời nói, người sẽ sinh về cõi trên bao gồm cõi người và cõi trời. Ngược lại, lúc còn sống, người làm mười điều ác, khi chết sẽ sinh về cõi dưới bao gồm cõi súc sinh, cõi Atula, cõi ngạ quỹ, cõi địa ngục.

m_80
Thế à. Buồn ngủ rồi, mai tôi sẽ nói chuyện với cô tiếp.
(Còn tiếp)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 08:41 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CÚNG THÍ CÔ HỒN.

Người phụ nữ mời Minh vào nhà nói chuyện. Anh đẩy xe vào nhưng vẫn cảm thấy rụt rè. Phòng khách bày biện đơn sơ nhưng khá tao nhã. Anh chú ý đến bức hình treo về phía bức tường bên phải. Hai người phụ nữ, một người chắn chắn là bà chủ nhà vừa rồi và người kia có thể là Trúc vì trông rất trẻ, khoảng 16 tuổi là cùng. Người phụ nữ tự giới thiệu tên là Thanh Tâm và bà hỏi tên của Minh. Minh đi thẳng vào vấn đề: Xin hỏi bác là mẹ của Thanh Trúc? Bà đáp: Đúng vậy nhưng cách đây nhiều năm nó đã bỏ nhà ra đi rồi, không biết bây giờ thế nào, sinh sống ra sao. Tôi không biết vì sao đang học hành đàng hoàng, nó lại bỏ đi và không nói không rằng, đến bây giờ vẫn không có tin tức gì. Có phải cậu quen với nó không, hãy dẫn tôi đi gặp nó. Hiện tại nó ở chỗ nào, cậu có quan hệ gì với nó? Minh ngồi nghe một lèo và bắt đầu trả lời: Con chẳng quen biết gì Trúc cả, chỉ là chat trên mạng thôi, nhưng cô ấy nói rằng cô ấy đã chết và người nói chuyện với con chỉ là một vong linh. Minh kể lại câu chuyện mà Trúc kể cho anh từ việc bị lạm dụng đến việc lao mình vào xe trên đường. Bà mẹ mặt mày tái mét khi nghe anh kể, đôi tay trở nên run rẩy và lời nói đứt quãng: Trời, sao có thể xảy ra chuyện như vậy, một đứa con gái hiền hậu, ham học dễ thương như vậy mà có kết cuộc như thế, lỗi tại tôi, tôi không chăm sóc nó tử tế. Bà bật khóc và ngỏ ý muốn nói chuyện với con gái của bà. Minh cảm thấy phân vân nên nói với bà để anh hỏi Trúc trước. Anh ban đầu cũng không tin những gì anh trò chuyện trên mạng nên tìm đến đây để hiểu rõ cớ sự. Thời gian con gái bà bỏ đi trùng khớp với thời gian Trúc kể với anh. Tuy nhiên anh cảm thấy đây như một trò đùa, không có gì là chắc chắn, anh không muốn mình là người phụ nữ này. Bà ấy vì thương nhớ con mà tin ngay những gì anh nói, không một chút đắn đo và suy xét. Có khi nào cô Trúc vẫn còn sống và chơi trò ú tim với gia đình mình và mượn anh làm cầu nói liên lạc với gia đình.

Anh khuyên bà nên tiếp xúc công an khu vực hay cảnh sát giao thông lật lại hồ sơ các tai nạn vào khoảng thời gian đó để tìm hiểu. Tính tò mò và muốn khám phá trỗi dậy, anh sẵn sàng nghỉ một buổi sáng đi với bà. Anh để lại số điện thoại di động và tên tuổi, đồng thời hẹn bà một ngày thuận tiện đến sở giao thông nhờ giúp đỡ. Bà cám ơn rối rít và tiễn anh ra cổng. Minh thấy có điều gì đó mơ hồ, không hiểu sao mình lại vướng vào cái chuyện này, đã vậy rồi còn đòi nghỉ làm để giúp người dưng. Anh chạy trên đường mà suy nghĩ miên man, một vong linh làm sao có thể sử dụng máy vi tính hay nói những chuyện như một nhà sư đang thuyết pháp. Càng nghĩ anh càng thấy vô lý và hình như anh đang kẹt vào tình huống ảo, nếu không muốn nói là phản khoa học. Về đến nhà, anh mệt mỏi và buồn ngủ. Không thèm tắm rửa, anh leo lên giường nằm ngủ ngon lành, một giấc ngủ không mộng mị và có thể nói chưa bao giờ anh ngủ say như vậy. Buổi sáng đi làm như thường lệ nhưng không hiểu sao anh cứ nhớ buổi trò chuyện với bà mẹ có đứa con đi biệt tích tối qua. Ánh mắt của bà có vẻ u buồn và sự cô đơn trống trải lan toả khắp căn phòng. Dòng người vẫn ồ ạt và hối hả, kẹt xe ở thành phố này đã thành thông lệ. Nếu mai mốt không còn kẹt xe nữa, chắc người ta sẽ buồn mất. Giờ này không có xe tải chạy trên đường mà chỉ có xe buýt, xe hơi và gắn máy. Tiếng thắng két của chiếc xe buýt khiến anh giật mình và ngay lập tức anh mường tượng hình ảnh Trúc trườn vào chiếc xe tải.Toàn thân anh sởn gai óc.



chieclarungroi
Sao hôm qua anh không lên mạng? Nhưng đừng lo, tôi không giận anh, anh đang làm một việc tốt đấy. Nhìn thấy anh ngủ say tôi cũng không đánh thức anh dậy. Hôm qua là người ta cúng cô hồn, anh biết không. Anh đi ngủ sớm cũng là dịp may cho tôi đi chơi. Mấy người kinh doanh hay cúng cô hồn vào mùng 2 và 16 và dĩ nhiên các loài ngạ quỷ được một phen no say. Nói vậy chứ họ cũng không dùng được gì nhiều vì cái bụng thì lớn mà cái cổ thì bé như cây kim nên thức ăn thức uống khó mà lọt vào. Nếu người cúng biết cách niệm chú khiến cho thức ăn dễ đi vào hơn thì họ hưởng được nhiều, bằng không họ chỉ ăn bằng niềm vui mà thôi. Riêng tôi thì chẳng ăn gì cả, tôi hạnh phúc từ tấm lòng của người cúng. Nhiều nhà sư rải tâm từ hay hồi hướng phước báu đến các chúng sinh khắp mười phương, tôi hưởng các tâm từ và năng lượng của họ, nương vào đó mà sống. Cho dù các vị cúng đủ thứ thực phẩm, tôi cũng không hưởng được, chỉ có các loài ngạ quỷ hưởng thôi.

m_80
Vậy thì nên cúng cái gì?

chieclarungroi
Nếu cúng cô hồn nên cúng cháo trắng, sữa, mật ong, trà và gạo muối và nguyện thập vị cô hồn mười phương thọ lãnh. Người cúng nên tụng các bài kệ như Cành Dương Tịnh Thủy, kệ Tán Dương Bồ Tát Địa Tạng và chú Vạn Sự Kiết Tường để họ thọ lãnh lấy. Bên cạnh đó in ra một bản Tam Qui và Năm giới Cư sĩ, rồi đọc cho các vong linh nghe, hướng dẫn họ tu tập. Họ sẽ rất biết ơn nếu được thọ Tam Qui và Năm giới. Nhiều vong linh siêu thoát ngay lập tức khi nghe một tiếng chuông, một bài kệ, một câu kinh hay vừa phát nguyện qui y và hứa thọ trì giới bản. Họ không chỉ thiếu thốn thức ăn mà còn thiếu thốn tình thương. Tình thương rất quan trọng, không có nó, vong linh như cây chết héo khô giữa sa mạc, dù cho thức ăn đầy đủ cũng không tái sinh được. Có người làm ngạ quỷ hằng hà sa số kiếp, ấy vậy ngày càng lún sâu vào địa ngục hơn, không thể ngóc đầu lên được. Họ rất tội nghiệp và chỉ có những nhà ngoại cảm mới có khả năng trò chuyện hay dẫn dắt họ đi vào con đường thiện. Hơn nữa những người có tình thương sẽ đoái hoài và chăm sóc họ, chia sẻ phước báu đến cho họ.

m_80
Việc người ta thường hay đốt giấy tiền vàng bạc, họ có nhận được không?

chieclarungroi
Chẳng nhận được đâu, nhưng anh đừng lên án hay chỉ trích những người đốt vàng mã, mà hãy xem xét ở khía cạnh của tình thương. Vì thương người muốn đầy đủ tiện nghi nơi cõi âm mà người đốt đủ thứ tiền bạc với mong ước cõi âm sống sung túc và đầy đủ, nhưng thật ra họ sống khắp nơi nên họ chỉ hưởng tấm lòng của người cúng thí thôi, họ cảm thấy ấm áp và bớt tủi thân vì người sống vẫn nhớ, thương tưởng đến họ. Giống như anh vào chùa niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, trước hết năng lượng từ bi trong anh phát khởi và khi năng lượng đó tràn đầy, anh mới có thể gửi năng lượng về cho người thân, họ sẽ cảm thấy thoải mái và an lạc. Ở đây cũng vậy, khi anh hồi hướng đến người quá vãng bằng công đức và phước báu của mình, người đó khó nhận được lắm nhưng họ hưởng được năng lượng bình an và có nhiều thuận duyên tiếp xúc với phương pháp tu tập. Cho nên cúng thí cô hồn thì tốt nhưng hướng dẫn họ tu tập càng tốt hơn và bản thân người cúng biết tu còn hay hơn nữa.

m_80
Vậy chẳng cần cúng kiến gì sao?

chieclarungroi
Cúng cũng tốt mà không cúng cũng không sao. Ngày xưa đức Thế Tôn đâu có dạy đệ tử phải cúng cái này hay cúng cái kia, mà chỉ lo rèn luyện tâm ý của mình cho được trong sạch, làm lắng dịu các tập khí, thực tập buông bỏ và sống đời an lạc trong phút giây hiện tại. Người còn sống biết tu thì không cần cầu an và khi chết không cần cầu siêu vì bản thân đã tự độ, vậy đâu vướng bận tới ai nữa. Sở dĩ người thường làm lễ cầu an vì bản thân không thấy an, không chịu tu tập và nếu có lại tu lơ tơ mơ, nên mong cầu tha lực gia hộ nhằm lấp liếm những khổ đau của mình. Nghi thức cầu an nên được sử dụng làm cách nhắc nhở bản thân thực tập các lời dạy của đức Phật vì nếu có cầu an nhiều cách mấy mà bản thân sống vô bổ, cầu an chi cho mắc công. Cầu siêu cũng như thế, nên xem đó là cơ hội hướng dẫn sự tu tập, các vong linh sẽ biết ơn điều đó nhiều hơn. Người làm công tác cầu an hay cầu siêu sẽ có nhiều phước báu nhưng nếu hồi hướng đến việc tu tập giải thoát sẽ rất hay, còn muốn vun bồi các điều kiện vật chất hay tinh thần, họ tiếp tục ngụp lặn trong vòng lẩn quẩn của luân hồi.

m_80
Vì sao phải thọ Tam Qui, nhất là các vong linh?

chieclarungroi
Vong linh hầu như đánh mất khả năng nương tựa, bản thân còn không nương tựa được thì làm sao nương tựa vào đối tượng nào khác. Quy y Tam Bảo là quay về nương tựa Phật, người đã tìm ra con đường giác ngộ và chia sẻ sự thực tập với chúng sinh. Chúng sinh ở đây không chỉ là cõi dương mà còn cõi âm và các cõi khác. Thực sự chẳng có cõi dương và cõi âm gì cả, mình đặt cái tên cho dễ gọi vậy thôi. Quay về nương tựa Pháp, thực tập các lời dạy của đức Phật để đạt được sự cứu cánh nơi bản thân, tự tu thì tự ngộ không có ai tu giùm mình. Giống như anh đói bụng thì tự anh đi ăn cơm, không thể người khác ăn mà anh no được. Thứ ba là quay về nương tựa Tăng, là người đang đi trên con đường giải trừ phiền não, đang thực tập hạnh phúc và đến lúc nào đó sẽ giải thoát như đức Phật. Không có chi gọi là giải thoát, chẳng qua là đạt trạng thái tĩnh lặng, yên bình tuyệt đối, và cũng không có gì là tĩnh lặng hay yên bình vì mọi thứ đều như thế. Bởi vì người áp đặt nên người khổ thôi.

m_80
Còn Năm giới Cư sĩ là như thế nào?

chieclarungroi
Anh đến chùa mà không quy y và thọ Năm giới sao? Khi cúng cô hồn, nên đọc Năm giới cho họ nghe sau khi triệu thỉnh về. Không phải tất cả đều hành trì theo lập tức mà từ từ họ sẽ thấm, sẽ phát nguyện và thực hành theo. Giới thứ nhất là tôn trọng sinh mạng, bao gồm ba yếu tố chính là con người, động vật và thực vật. Người chết tái sinh làm vong linh vì khi ở cõi dương họ đã phạm tội sát sinh, tức là giết hại sinh mạng, nhiều khi sinh về cõi âm, họ có thể gặp lại người mà họ đã từng giết chết và nghiệp báo khiến họ bị người đó ăn hiếp hay hành hạ. Giới thứ hai là tôn trọng quyền tư hữu, bao gồm tài sản công và tài sản riêng cũng như cách làm ăn sinh sống. Người chết tái sinh làm vong linh vì họ từng ăn cắp và ăn cắp nặng nề, kể cả tham nhũng, ăn chặn tiền người nghèo hay bớt xén tiền dự án, tức là lấy những tài sản không phải của mình. Làm vong linh thì không ai cúng cho và tái sinh làm người thì nghèo đói, bị áp bức, bị đối xử bất công hay bị trộm cướp trở lại. Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh, tức là không ăn nằm với người không phải là chồng hay vợ của mình. Đã có gia đình nhưng tằng tịu với người khác hay biết người ta đã có gia đình mà cố tình lăng nhăng gây đau khổ cho nhiều người thì tội không thể tha thứ. Có người phụ nữ lấy nhiều chồng nhưng ông nào cũng bỏ hoặc lăng nhăng vì kiếp quá khứ họ đã không chung thủy. Hoặc có đứa trẻ sinh ra đã mồ côi hay bị cha mẹ bỏ rơi vì kiếp xa xưa bất hiếu với cha mẹ, không nuôi dưỡng cha mẹ hay bỏ cha mẹ mà đi gia nhập băng đẳng, gây tội ác tày trời. Giới thứ tư là tôn trọng sự thật, tức là chỉ nói sự thật, an trú trong sự thật không lúc nào đổi dời. Người nói dối đánh mất niềm tin trong cuộc đời, sau này có nói thật cũng không ai nghe và sẽ bị người khác lường gạt hay dối trá trở lại. Có những tu sĩ nói thật và người ta nghe vì họ từng nói thật. Có những tu sĩ nói thật nhưng không ai nghe vì họ từng nói dối. Giới thứ năm là bảo vệ và nuôi dưỡng thân tâm, như không uống rượu bia, không hút thuốc lá, không tham gia các trò giải trí không lành mạnh… Sống buông thả sẽ được tiếp nối bằng đời sống buông thả. Cõi âm là cõi của sự buông thả, chết mà sinh về đó thì khó mà lấy lại thân người. Vẫn có thể sinh về cõi dương nhưng lâu lắm, có khi bằng số kiếp của một trái đất mới sinh trở lại làm người.

m_80
Trong trai đàn chẩn tế, tại sao người ta thường hay tụng Bát Nhã Tâm Kinh?

chieclarungroi
Đơn giản thôi, vì bài kinh này dạy người thực tập tánh không, không bị kẹt vào bất cứ khái niệm nào. Giống như anh hành trì Năm giới nhưng không bị kẹt vào nó và nhiều lúc phải uyển chuyển. Lời nói dối nhiều khi có tác dụng cứu người, không muốn người đau khổ. Loài người nhiều phiền não vì bị kẹt vào các ý niệm, cái đúng cái sai, cái trước cái sau, chấp vào cái có cái không, cái thành cái bại… cho nên họ khổ, tự mình làm khổ chứ không ai mang nó đến cả. Tuy nhiên họ không biết điều đó, họ cứ cho người này người kia làm khổ mình rồi họ bức xúc, đanh đá, khó chịu, đau đớn, tuyệt vọng, tranh cãi, lên án, chỉ trích, buộc tội…. và họ đánh nhau, phạm giới, sinh về cõi âm. Ở cõi dương họ đã không có hạnh phúc thì cõi âm làm sao có hạnh phúc. Hơn thua với người được cho là hạnh phúc và chết rồi họ tiếp tục hành hạ nhau bởi các sự hơn thua đó. Thật ngốc ngếch khi con người cứ tranh giành, chết rồi cũng còn muốn thế. Ví dụ muốn đám ma thật to, kèn tây thổi phì phèo, trống vang khắp nơi, người cúng điếu phải đông, xe cộ rầm rộ và thức ăn thừa thãi. Họ hơn thua những chỗ như vậy, thật hết chỗ nói.

m_80
Vậy tâm động nên cảnh không thể bình yên?

chieclarungroi
Nói cách khác tâm tĩnh lặng, cảnh sẽ tĩnh lặng dù cảnh đó đối với nhiều người không hề tĩnh lặng. Thế giới vong linh khó đạt được sự tĩnh lặng vì khả năng thực tập của họ rất yếu kém và nếu muốn thực tập cũng không biết thực tập thế nào. Tuy nhiên sự tĩnh lặng của cõi dương có mối liên hệ với sự tĩnh lặng của cõi âm vì cõi âm là sự tiếp nối của cõi dương. Nếu cõi dương ăn ở đàng hoàng, cõi âm sẽ ăn ở đàng hoàng. Sau đó, cõi dương lại là sự tiếp nối của cõi âm nên cõi âm ồn ào khiến cõi dương cũng ồn ào như thế. Một con thú chuyên đi săn mồi và ăn thịt con kia tái sinh làm người tiếp tục cạnh tranh, mong muốn triệt người kia hoặc ngược lại. Cách con người đấu tranh sinh tồn chẳng khác gì các loài động vật và ngày càng giống động vật hơn. Nói hai cõi ngăn cách âm dương là không đúng, các cõi vẫn đang tồn tại ở nhiều trạng thái và hình dáng khác nhau, nhưng dù ở dạng nào vẫn không biệt lập. Nếu nhìn bằng con mắt vô tướng, mình và các loài động đã từng là của nhau. Ông của một người thích ăn thịt chó và đã giết thịt nhiều con chó. Khi chết ông tái sinh làm một con chó. Con trai của ông có sở thích như ông. Một ngày kia đã bắt một con chó lấy thịt và đó chính là hình dáng hiện tại của ông mình. Nên ăn thịt chó có khác nào ăn thịt người thương và xét cho cùng là ăn chính mình.

m_80
Vậy con người phải làm gì?

chieclarungroi
Phải tu chứ làm gì nữa. Người không tu tội nghiệp lắm, con đường họ đi rất dễ sợ và nhiều khi đó không phải là con đường. Sinh làm người khó lắm, sinh làm vong linh thì dễ ợt. Nếu đã mang thân người thì tận dụng nó mà tu tập chứ mất rồi thì lâu lắm mới lấy lại được. Nếu lầm lỗi với ai thì hãy sám hối và sửa đổi, còn ai lầm lỗi với mình thì tha thứ và chấp nhận. Một bài thiền tha thứ có thể giúp tôi tha thứ cho người đã hãm hại tôi, là ông bố dượng. Tôi không dám chắc mình tha thứ được không vì nỗi buồn, sợ hãi và căm thù vẫn day dứt trong tâm. Tôi đã thực tập nhiều lần nhưng chỉ thuyên giảm chút xíu. Thà vậy còn hơn không, bài thực tập sẽ được tiếp tục cho đến khi nào tôi tha thứ và thương được ông ấy. Sở dĩ tôi bị lạm dụng như vậy là do kiếp lâu xa tôi đã hành động không phải với người này, nên bây giờ gánh chịu hậu quả và chết thảm. Nếu tha thứ được, tôi sẽ chấm dứt nghiệp của mình và tái sinh làm người rất nhanh. Tuy nhiên bố dượng sẽ trả nghiệp cho hành động gây ra của mình. Nghiệp báo đi theo mình như hình với bóng, không thể trốn chạy, không thể lặn xuống biển sâu hay chạy vào rừng thẳm. Một khi anh đã gieo nhân ắt có ngày sẽ gặp bão.

m_80
Cô đang nói về luật nhân quả?

chieclarungroi
Đúng vậy. Luật nhân quả rất công bằng. Micheal Jackson sử dụng thuốc nhiều quá, ông ấy làm việc nhiều nữa nhưng lại nghỉ ngơi không đủ hay không biết cách nghỉ ngơi nên phải chết sớm. Đừng tưởng người chết sớm sinh về cõi âm đâu nhé. Micheal đã sinh về cõi trời do tấm lòng nhân hậu của ông lúc còn sống, làm từ thiện không biết bao nhiêu mà kể và cống hiến nhân loại những bài hát tràn ngập tình người. Bao nhiêu lời dèm pha bủa giăng ông nhưng ông vẫn tỉnh bơ, không một mảy may phản kháng, ông đã trả được nghiệp trong tiền kiếp. Ngược lại có ông nhạc sĩ Việt Nam viết toàn những bài về tình người, thậm chí có người khen ngợi ông ấy biết mang triết lý Phật giáo vào những lời ca nhưng khi chết phải tái sinh làm vong linh vì đời sống không đẹp như những gì ông viết ra. Tuy nhiên nếu ông thực tập giữ giới, ông sẽ thoát kiếp cô hồn nhanh thôi. Đừng tưởng một tu sĩ chết rồi sinh lên cõi trên trở lại vì ngày nay tu sĩ trá hình nhiều vô kể, tu thì ít mà hám danh thì nhiều.

m_80
Vậy tu tập có phải là sự bố thí không?

chieclarungroi
Chính xác. Bố thí với tâm mong cầu chưa thực sự là bố thí vì anh đang làm công việc đổi chác. Chưa làm gì hết, chỉ mới biết tu thôi, anh đã bố thí vĩ đại rồi. Đức Phật từng nói tu tập và hành trì theo chánh pháp là cách cúng dường cao thượng nhất rồi còn gì. Nói người giàu mới tu được là không đúng, người nghèo vẫn tu giỏi như thường, thậm chí giỏi hơn người giàu. Tu bằng tấm lòng, đừng tu bằng tiền. Người có nhiều tiền mà không lúc nào được yên, chạy đôn chạy đáo, lo trước lắng sau, không bao giờ cảm thấy hạnh phúc, vậy có nhiều tiền để làm gì. Người tu không lo lắng điều gì, chấp nhận những gì hiện có và cho đi những thứ mà người có tiền không thể cho được. Đó là tình thương, sự bao dung, nhẫn nhục, hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi… Người giàu làm được điều này không, nếu họ làm được thì còn gì bằng. Lầm tưởng bố thí là làm từ thiện, người sẽ dính mắc vào công việc đó và tự kiêu phát khởi, hành động thiện đã ít thiện đi rồi.

m_80
Vậy hãy nên bố thí bằng tấm lòng chân thật?

chieclarungroi
Chẳng có hành động nào được cho là bố thí, không ai là người bố thí hay người nhận bố thí. Chẳng qua đó chỉ là diễn tiến của vô số nhân duyên và người ta đặt tên cho nó là bố thí. Thực sự anh đang bố thí thì giờ của mình để lắng nghe những lời chia sẻ của tôi. Bố thí không cần tri ân và không cần cầu báo, tính chất của hành động sẽ chân thật hơn nhiều. Thái độ khi bố thí hay cúng thí rất quan trọng, phải thật trong sạch, càng trong sạch càng tốt. Nếu thái độ miễn cưỡng hay bực bội có mặt, việc làm đã giảm đi ít nhiều giá trị của nó. Một đứa trẻ khóc vì đói sữa được bà mẹ ẵm trên tay đã cảm thấy nhẹ nhõm phần nào, nói chi đến việc cho nó bú sữa. Trong bữa tiệc gia đình bày biện rất nhiều món ăn, nhưng nhìn thấy sự lăng xăng, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên, gia đình đã cảm thấy hạnh phúc rồi. Anh lắng nghe lời chia sẻ của tôi, có thể anh chưa đến tìm mẹ tôi nhưng tôi đã cảm thấy vui vì bản thân đã được chia sẻ. Có những hạnh phúc không thể mua bằng tiền hay cúng thí vật chất.

m_80
Đức Phật có cho phép cúng thí người mất?

chieclarungroi
Đức Phật không ngăn cấm nhưng cũng không khuyến khích. Vấn đề là các vong linh hay người cúng tu tập để bản thân có nhiều hạnh phúc, được tái sinh và được giải thoát. Kinh Cúng Thí Người Mất được đức Phật dạy như sau: người chết sẽ hưởng được vật phẩm cúng dường nếu có sự tương xứng. Người còn sống phạm tất cả các giới khi mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục nên sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Họ không hưởng được sự cúng thí từ trần gian. Thứ hai, người còn sống làm mười điều ác, đến lúc qua đời sinh làm động vật, được nuôi sống tồn tại bằng thức ăn của động vật, nên dù được cúng cũng không hưởng được. Thứ ba, người còn sống làm mười điều lành khi qua đời sinh trở lại làm người hoặc chư thiên, có cha mẹ riêng, người thân riêng, được nuôi nấng và ăn uống thức ăn riêng, có cúng cũng không hưởng. Thứ tư, chỉ trường hợp duy nhất người chết thọ lãnh được là khi họ bị đoạ vào đường ngạ quỷ, một loaì đói khát tột bực ở cõi âm.

m_80
Cô chỉ là một vong linh, tại sao có thể am tường kinh điển Phật Pháp, thậm chí có thể nói như thể một nhà sư đang thuyết giảng? Thật khó tin!

chieclarungroi
Tôi đâu có bắt anh phải tin. Tin hay không là tùy anh, miễn là anh nghe được rồi, không cần phải phán xét. Vong linh cũng là chúng sinh, chỉ có điều hình thái của tôi ở dạng khác so với loài người các anh. Nếu tôi biết tu và trả nghiệp, đến lúc nào đó, tôi sẽ sinh làm người và tiếp tục tu tiếp. Khi tôi đầy đủ phước duyên, thiện nghiệp sẽ tấn hóa, đạt tới giác ngộ rồi sẽ thành Phật. Loài người mà không tu sẽ sinh thành vong linh như tôi, còn lâu mới thoát khỏi khổ đau và mãi lẩn quẩn trong vòng sinh tử luân hồi. Nhưng anh nên nhớ, ma quỷ vẫn có thể thuyết pháp và giả dạng người thánh hiền thuyết pháp rất nhiều. Một khi không sáng suốt, không nhận hiểu chân chánh, anh sẽ bị mắc bẫy.

m_80
Coi như tôi nói không lại cô. À, mẹ cô muốn nói chuyện với cô đấy, cô đồng ý chứ?

chieclarungroi
Không thành vấn đề, cám ơn anh làm cầu nối cho chúng tôi.

[Mục lục] [Xem tiếp]
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 08:48 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CUỘC CHIẾN GIỮA THẾ GIỚI GIẤU MẶT
Phân chia giai cấp trong thế giới cõi âm

Bà mẹ hẹn Minh vào một buổi sáng thứ sáu và anh xin nghỉ cả ngày để có thể đi với bà. Đây là một ngày thuận tiện vì cuối tuần nên trụ sở công an chắc không đến nổi đông đúc, đồng thời anh xin phép cũng dễ dàng hơn. Anh chở bà trên chiếc xe Taurus và khấn cô Trúc cho hai người có thể tìm ra được hồ sơ liên quan đến tai nạn hay ít nhất tìm ra những manh mối nào đó. Ban ngày anh có thể nhìn kỹ gương mặt của bà mẹ. Trông bà ốm và hơi mệt mỏi. Đôi mắt lúc nào cũng đượm buồn nhưng với nỗi khát khao về tin tức đứa con, bà tươi tắn hơn một chút so với lần đầu tiên. Bà đem theo mình đủ thứ giấy tờ liên quan đến Trúc, như là giấy khai sinh, học bạ cấp hai, thẻ học sinh, vài tấm hình, hộ khẩu và các giấy tờ tuỳ thân khác. Anh không biết mình có làm việc đúng hay không và nếu như bên cảnh sát giao thông hỏi về sự việc gì khiến anh giúp đỡ người đàn bà này, chắc chắn anh chẳng biết trả lời thế nào. Nếu cho rằng anh từng trò chuyện với một vong linh trên mạng Internet, có lẽ người cảnh sát thẩm vấn sẽ nhìn anh từ đầu đến chân, rồi sau đó sẽ mắng anh một trận. Minh quyết định thoả thuận với bà mẹ là anh chỉ là người chở bà đi và dĩ nhiên mọi câu hỏi hay giao tiếp đều do bà ấy ứng xử. Thật ra anh có biết gì về Trúc đâu. Nếu anh dấn thân quá sâu, bỗng dưng anh trở thành con rối hay trò hề trong mắt thiên hạ. Nhiều lúc anh thấy mình thật ngốc, tự dưng đi làm những chuyện không đâu, chẳng dính dáng gì tới mình.

Hai người đến trước trụ sở công an giao thông. Ban đầu bà mẹ và ngay cả Minh chưa muốn vào nhưng sau đó không hiểu sao, hình như có năng lực nào thúc đẩy, hai người cùng bước vào. Tiếp hai người là một chiến sĩ cảnh sát trẻ măng, có nụ cười thật tươi và hàm răng thật sáng. Minh chú ý hình như chỉ có ông trẻ này là cười, còn mấy người khác còn lại trong phòng, ai nấy đều nghiêm nghị. Anh cảnh sát hỏi: Tôi giúp được gì cho các vị? Bà mẹ kể lại tình huống con bà dù ban đầu hơi ấp úng: Con gái chúng tôi cách đây khoảng chín năm bị mất tích. Tôi báo với công an phường lúc đó nhưng không thể tìm ra nó. Vả lại tôi nghĩ chắc nó có chuyện gì buồn gia đình bỏ nhà đi hay đam mê chúng bạn xấu. Nhưng thực tế tôi không biết gia đình có chuyện buồn gì và bạn bè nó có đứa nào xấu đâu. Tình cờ tôi nghĩ, hay là cháu nó bị tai nạn giao thông mà phía bên cảnh sát chưa tìm ra người thân. Chúng tôi mạo muội đến đây mong quý cơ quan giúp đỡ, xem lại các hồ sơ tai nạn giao thông trong năm đó, khoảng tháng này. Viên cảnh sát yêu cầu bà cung cấp một số giấy tờ liên quan đến Trúc và muốn biết mối liên hệ giữa bà và người bà nghi ngờ bị nạn như thế nào. Sau đó anh ghi ghi chép chép vào cuốn tập mà Minh nghĩ là sổ thông tin trực. Viên cảnh sát đi vào phòng trong nói chuyện với một chú cảnh sát. Ông ta trông có vẻ trầm ngâm theo dõi câu chuyện, lát sau ông ấy gật gù. Viên cảnh sát trở ra nói: Sếp đồng ý việc xem lại hồ sơ. Tuần sau hai vị có thể trở lại đây. Minh buột miệng hỏi: Anh có làm việc ngày thứ bảy không? Viên cảnh sát trả lời: Hiện nay chúng tôi có làm việc thêm vào buổi sáng thứ bảy. Hai người đến sáng thứ bảy cũng được. Bà mẹ trông mừng rỡ ra mặt. Một chút phấn chấn lướt qua gương mặt của bà. Minh nhìn thấy điều đó nhưng lòng anh vẫn thấy không ổn, có vẻ như anh đang chơi trò ú tim.


m_80
Không thể tin được là người ta đồng ý xem lại hồ sơ tai nạn của cô, nhưng có chắc là tìm được hồ sơ của cô không?

chieclarungroi
Có gì đâu mà tin hay không tin. Hôm đó tôi đã dùng năng lực của mình để khuyến khích sếp của viên cảnh sát đồng ý. Việc này đơn giản thôi mà, đâu có gì phải lo lắng hay nghi ngờ. Khi người dân có yêu cầu thì cảnh sát phải lắng nghe, hơn nữa có thêm thông tin về các tai nạn chưa được làm rõ, họ sẽ càng mừng thêm. Anh không cần suy nghĩ gì cho phức tạp. Dù sao tôi cũng đã chết rồi nên mẹ tìm ra hồ sơ tai nạn của tôi sẽ làm bà hiểu rõ vấn đề, không còn buồn phiền và chờ mong vô ích nữa, bà sẽ có thời gian lo cho bản thân hơn. Cảnh sát đang giữ tro của tôi trong phòng tang vật, anh hãy nói với mẹ gửi nó vào chùa Dược Sư, bằng không thì rải nó vào một gốc cây nào đó, nhiều khi tro giúp ích được cho cây. Đem bài vị hay tên tuổi của tôi vào một ngôi chùa bất kỳ để các nhà sư tụng kinh cầu siêu hàng tháng. Hơn nữa, tôi sẽ đi vào chùa dễ dàng, nghe kinh tụng và nghe thuyết pháp. Tôi nợ anh việc làm này đấy nhưng đừng có vội xin xỏ, tôi không cho anh được gì đâu.

m_80
Người cõi âm tác động được với người cõi dương sao? Vậy trong cõi âm có sự phân chia giai cấp hay không?

chieclarungroi
Người cõi dương còn phân chia giai cấp, huống hồ gì cõi âm. Cõi âm phân chia giai cấp khủng khiếp và nặng nề hơn cả. Bản thân họ sinh về cõi âm vì khi còn sống đã làm nhiều nghiệp ác và khi làm người cõi âm, họ không lo tu, lại còn tạo thêm nghiệp ác nữa nên ngày càng lún sâu vào đó. Các vong linh không chỉ giành ăn, giành uống, giành nơi ở, nơi trú ngụ, mà còn giành quyển hưởng thụ năng lượng tâm từ. Dĩ nhiên người rải tâm từ là truyền tải năng lượng an lạc đến đồng đều tất cả chúng sanh nhưng vì vong linh hầu hết đều vô minh mà tranh giành nhau nên năng lượng đó giảm đi ít nhiều. Có những ông tướng ở cõi dương làm tướng khi thác rồi làm một vong linh lính tráng, cung phụng cho những người trước đây bị ông ta đàn áp hay sai vặt. Anh thử nhìn một ngôi nhà kia cúng thí cô hồn và rải tiền cắc ra ngoài. Bọn trẻ con, thậm chí người lớn còn giành nhau chí chóe mà người ta thường hay gọi là “giựt cô hồn”. Người dương thế còn như vậy, làm sao trách được người cõi âm có những phân chia sai lầm.

m_80
Đúng là chẳng thể có bình đẳng ở mọi xã hội!

chieclarungroi
Cõi âm là một xã hội giống như cõi dương nhưng có lẽ chúng tôi mất tự do nhiều hơn. Cõi dương có rất nhiều tự do mà không chịu tận hưởng, cứ mãi kiếm tìm những tự do có điều kiện trong vô vọng. Việc cõi âm phân chia giai cấp, anh không cần quan tâm đến vì có biết cũng chẳng làm được gì. Thực ra việc phân chia này lại hết sức bình đẳng. Giống như phân chia giàu nghèo và khoảng cách đó ngày càng gia tăng trên Địa Cầu thực chất hết sức bình đẳng. Người giàu do kiếp trước hay hiện tại bố thí quá nhiều nên đã giàu lại còn giàu them. Bill Gates chẳng hạn hay anh chàng cao bồ Mỹ vừa mới trúng số độc đắc. Hai người này trong các kiếp quá khứ bố thí cả gia sản của mình, hơn nữa bản thân họ sống hiền lành, biết cứu người giúp người mà không cần đền báo, cho nên kiếp hiện tại họ làm ăn thành công, đời sống gặp nhiều may mắn là chuyện đương nhiên. Đã vậy, hiện tại họ còn tiếp tục bố thí, không nghĩ đến chuyện hưởng thụ, vậy họ giàu có là những thành quả họ đáng được hưởng. Còn người nghèo làm lụng vất vả mà vẫn nghèo vì những kiếp xa xưa, họ cứ mãi tham nhũng, ăn chặn tiền của, tham lam ích kỷ, keo kiệt bủn xỉn, trộm cướp chơi bời và đủ thứ nghiệp ác khác nên kiếp này họ phải trả. Nhiều khi kiếp này trả không đủ, nhiều kiếp sau phải trả tiếp nữa. Vậy phân chia giai cấp hay giàu nghèo không có gì là bất bình đẳng. Giàu là bình đẳng và nghèo cũng bình đẳng. Người giàu không biết bố thí, hưởng phước riết rồi cũng hết. Người nghèo biết bố thí, đến lúc nào đó sẽ hưởng được phước. Khi đang hưởng phước mà làm phước nữa, phước sẽ sinh sôi nảy nở, tuôn chảy mãi không thôi. Ở đâu cũng có phân chia giai cấp, trên cõi trời còn có phân chia trời này trời kia, người tu còn làm giáo phẩm này chức vụ kia, nói chi cõi âm. Cõi âm còn có cõi này cõi kia, đầy dẫy trên Địa Cầu. Cõi ngạ quỷ và cõi địa ngục là hai cõi điển hình. Hai cõi này lấp đầy đau khổ và dĩ nhiên hiện tiền tại trần gian, không đâu xa. Nhìn đống rác hôi thúi, anh cảm thấy đau khổ, địa ngục hiện tiền rồi, nhưng nhìn đống rác đó bằng con mắt bình thản, không phán xét, không kỳ thị, anh sẽ có niềm vui hơn, địa ngục không còn hiện tiền nữa. Vậy mắc mớ gì phải xem cõi địa ngục ở cõi âm ra sao. Nhìn thế giới của anh, dư biết địa ngục như thế nào.

m_80
Cõi âm đã đau khổ nên việc tranh giành quyền lực và phạm vi sinh sống khiến họ đau khổ hơn nữa.

chieclarungroi
Nguyên nhân là do quá thiếu thốn mà ra. Họ thiếu đủ thứ và không bao giờ là đủ dù cho cái họ cần đang rất thừa thãi. Thứ nhất, họ thiếu thốn tình thương từ người thân. Trước đây họ bị người thân ruồng bỏ, ngược đãi hay đối xử tệ bạc. Bây giờ họ không muốn đón nhận tình thương từ người thân và giận lẫy. Nếu người thân rải tâm từ xuống, họ không thèm đón nhận. Người thân cần xin lỗi và thực tập sám hối để mong họ tha thứ. Anh thấy buồn cười không, cầu xin người cõi âm tha thứ cho người cõi dương. Thứ hai, họ thiếu thốn thức ăn. Do các nghiệp xấu đã tạo nên bây giờ ăn uống không được. Trước mặt ê hề thức ăn do người thân quyến cúng, vậy mà không thể dùng. Lúc còn sống, họ chê bai thức ăn, hoặc ăn mà bỏ mứa, thậm chí không bao giờ can đảm bố thí thức ăn cho người khác. Bây giờ có đồ ăn vẫn không ăn được. Anh cũng vậy mà thôi. Nếu anh ăn uống vô bổ, không có chánh niệm, đụng cái gì cũng ăn, đến lúc nào đó anh sẽ bị bệnh và dù cho có nhiều tiền căn bệnh khiến anh không thể ăn uống được, làm mồi cho các con vi trùng, tiền bạc mất mát, sự nghiệp tiêu tan.

m_80
Thế giới này là thế giới của tranh giành, nếu không sẽ bị đào thải.

chieclarungroi
Tại sao anh không nghĩ nếu không tranh giành thì sẽ không bị đào thải. Càng tranh giành, khả năng đào thải càng lớn và càng ít tranh giành, khả năng đào thải càng ít. Mọi thứ đã được sắp đặt theo tiến trình tự nhiên, mình áp đặt bao nhiêu, sự sống bị bóp méo bấy nhiêu. Các vong linh tranh giành thì cơ hội tái sinh làm người của họ càng to ra. Những phe phái chính trị hay tập đoàn kinh tế tranh giành quyền ảnh hưởng hoặc thị phần có khác gì cõi âm giành giựt nhau đâu. Lúc còn ở cõi âm họ chiến đấu với nhau, khi được tái sinh làm người, họ tiếp tục chiến đấu với nhau. Nhìn thử một số nước có nội chiến hay phe phái chính trị bất đồng, đó là sự tiếp nối của đời sống quá khứ, họ đã từng chém giết nhau như thế. Phe A chỉ trích phe B và phe B chỉ trích phe A. Hay hai người bạn đang chơi thân bỗng nhiên quay sang đối đầu, thù địch nhau. Trước đây họ đã từng làm một con cọp và con nai. Cọp bắt con nai ăn thịt và kiếp này họ trả nhau món nợ. Hai người chơi thân vì khi cọp và thỏ còn nhỏ đều ở chung cánh rừng chưa ai đụng đến ai. Lớn lên rồi bắt đầu biết ghen tỵ, giận hờn và kình nhau, đó là khi con cọp mần thịt con thỏ.

m_80
Oan trái giữa người cõi âm với nhau rất lớn?

chieclarungroi
Lớn khủng khiếp. Khi còn sống, tên trộm giết hại gia chủ và cứ tưởng là sẽ không bị gì, ai ngờ gặp người gia chủ ấy ở cõi âm và nghiệp lực khiến anh ta phải cung phụng hay bị gia chủ hành hạ trở lại. Tuy nhiên nếu trước đây, gia chủ có tu, ông ta sẽ sinh về một cõi khác như cõi trên chẳng hạn và không còn trả quả nữa. Tuy nhiên, nhân duyên khiến họ gặp lại hoặc bản thân tên trộm sẽ phải trả nghiệp mạnh với đối tượng nào đó. Một người được làm nguyên thủ quốc gia do nhiều lần hiếu thảo với cha mẹ, giúp đỡ số đông người và buông bỏ tài sản nhiều lần. Đã làm nguyên thủ mà không biết tu, sát hại sinh mạng vô tội vạ, họ sẽ sinh vào địa ngục ngay lập tức và chịu tai nạn liên tiếp không thể nào ngừng nghỉ. Anh bị đau bụng, cái đau này chưa hết, bệnh tiêu chảy xuất hiện, bệnh tiêu chảy chưa hết, cơ thể bị mất nhiều nước, mất nước nhiều khiến anh kiệt sức, kiệt sức làm anh không đi làm được, nghỉ nhiều ngày nên anh bị mất việc, mất việc thành ra thất nghiệp, không kiếm được tiền, hết tiền không nuôi nổi vợ con, đến lượt vợ con xách gói ra đi… Cứ thế anh sống trong địa ngục, chịu từ cái khổ này đến cái khổ khác và vì anh không biết tu, nên các cái khổ đó nhấn chìm anh đến tận cùng của xã hội, anh trở thành nô lệ với cái khổ của mình. Cuộc sống của anh đã trở thành địa ngục triền miên.

m_80
Chỉ cần thay đổi thái độ của mình thì dù sống trong địa ngục cũng thấy bình an.

chieclarungroi
Chỉ sợ thay đổi không nổi hay không biết cách thay đổi.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 08:54 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
OAN TRÁI GIỮA NGƯỜI CỎI ÂM VÀ NGƯỜI CỎI DƯƠNG.

Buổi sáng thứ bảy kế tiếp, Minh cùng bà mẹ đến sở cảnh sát. Thời tiết hôm đó khá dịu mát, không nóng nực như tuần vừa rồi. Hơn nữa trời nhiều mây và âm u mặc dù trời không đổ mưa. Minh không đi làm ngày thứ bảy nên có nhiều thời gian khám phá sự thật. Anh cảnh sát trẻ bữa trước tiếp Minh và cho biết họ tìm ra hai hồ sơ tai nạn giao thông mà nạn nhân là hai người trẻ xảy ra cùng một lúc, cùng một chiếc xe tải trên cùng một con đường. Một người là cô gái khoảng 14 đến 17 tuổi và một người là nam giới khoảng 25 tuổi. Minh giật mình và không thể tin được chuyện đang diễn ra. Có thể cố gái kia chính là Trúc. Minh hỏi: Anh còn giữ tang vật nào của cô gái này không, như xe cộ, quần áo hay đồ dùng nào đó mang theo? Anh cảnh sát trả lời: Chúng tôi còn giữ. Từ trong ngăn kéo, một hộp giấy được lấy ra và viên cảnh sát bày trên bàn đủ thứ. Đó là hai cuốn tập, một hộp bút đã bị nát một phần, một bộ quần áo rách bươm và bốc mùi cũ kỹ. Bà mẹ nhận ra ngay các vật dụng của con mình và bật khóc, không thành tiếng nhưng nước mắt cứ trào ra. Tay bà run run cầm lấy cuốn tập của Trúc và ôm vào lòng, trong đó có nét chữ thân quen của con bà. Minh gần như bị “choáng” và cảm thấy hơi chóng mặt. Anh xin phép viên cảnh sát cho bà mẹ nhận lại tro cốt và các đồ vật. Viên cảnh sát đồng ý nhưng bà mẹ phải làm một số thủ tục đem mọi thứ về. Danh tánh của người bị nạn trong vụ tai nạn năm xưa được làm rõ và sở cảnh sát chắc cũng thở phào nhẹ nhõm vì không phải giữ một số tang vật từ lâu không có người nhận diện.

Minh chở bà mẹ đến sông Sài Gòn vào buổi sáng cùng ngày. Cầu Sài Gòn lúc nào cũng đông người. Đủ thứ loại xe chạy tấp nập, nhiều em học sinh đạp xe đi học về ngang qua cầu, nhưng chắc không nguy hiểm như hồi xưa vì cầu có đường dành riêng cho xe gắn máy và xe đạp. Bầu trời mây đã tan, vầng thái dương bắt đầu đưa sức nóng của nó xuống mặt đất. Minh cảm nhận được hơi bụi xung quanh. Bà mẹ ôm tro cốt của Trúc rải xuống song Sài Gòn và lầm khầm khấn nguyện. Riêng Minh, trong tâm anh thầm mong Trúc nhanh chóng được siêu thoát, có thể sanh lại làm người hay ít nhất có cơ hội tu tập. Bà mẹ không còn khóc nữa, bà đứng trên cầu rất lâu. Chắc là bà đang nhớ đến Trúc, người con gái thùy mị, dịu dàng phải chết thảm và bấy lâu không ai nhang khói. Đã quá trưa, Minh nhắc bà về nhà. Anh chở bà qua những con phố đầy bụi và nắng. Chiếc mũ bảo hiểm không thể làm anh cảm thấy thoải mái nhưng anh biết mình đã làm một việc gì đó, ít ra giúp cho bà mẹ không khắc khoải chờ mong đứa con và hiểu rõ hơn về chồng của mình. Đến nhà Trúc ở đường Pasteur, bà mẹ nói với anh: Cám ơn cậu nhiều, cậu ở lại dùng với tôi bữa cơm. Minh nhanh nhẩu: Dạ thôi, cảm ơn bác. Con có hẹn với mấy thằng bạn đi đánh billiard rồi, con sẽ đi ăn với mấy tụi nó. Bà mẹ: Cậu thật tốt bụng. Tôi sẽ lập bài vị của Trúc ở chùa Dược Sư, cho nó có cơ hội vào chùa nghe kinh, nghe giảng mà sớm siêu thoát. Cậu nhớ là tôi sẽ đến chỗ cậu nói chuyện với con Trúc. Nếu cậu không phiền thì cho tôi một cái hẹn. Dĩ nhiên Minh không từ chối và biết đâu mẹ con gặp nhau, hàn huyên tâm sự, Trúc cảm thấy vui và người mẹ cũng đỡ nhớ con, hơn nữa bà ấy có thể làm điều gì đó mà Trúc mong muốn.



m_80
Sau này cô có thể vào chùa nghe kinh, nghe thuyết pháp được rồi.

chieclarungroi
Cám ơn anh, thật tốt quá. Tôi và anh trước đây có nhân duyên với nhau nên tôi gặp được anh. Cách đây khoảng mười kiếp, anh còn là một đứa trẻ đi lạc và tôi là người đi đường. Tôi giúp anh tìm ra cha mẹ của mình và bây giờ anh giúp mẹ tìm ra tôi. Như vậy là huề nhé. Sau này có thể tôi sẽ không gặp và nói chuyện với anh nữa nhưng để trả cái ơn này tôi muốn chia sẻ với anh đôi mươi lần nữa. Có những nhân duyên tốt đẹp nhưng cũng có những nhân duyên không tốt đẹp. Nhân duyên tốt đẹp khiến con người đến gần nhau và hạnh phúc bên nhau. Nhân duyên không tốt đẹp khiến con người đến gần nhau nhưng lại gây oan trái với nhau. Người biết tu tập tháo gỡ được các oan trái và mọi đau khổ được xem nhẹ như tơ hồng. Trong cõi này, chúng sinh đã từng oan trái với nhau nhiều lắm nên họ làm khổ nhau như hai con mãnh hổ cùng giành một miếng mồi. Người hùng cát cứ một phương và dù đi đến đâu, chúng sinh cũng muốn có nhiều quyền lợi và ảnh hưởng đến người khác, điều đó làm cho họ khổ.

m_80
Cô có bao giờ ham chơi không?

chieclarungroi
Thường xuyên, ham chơi nên quên tu, giống anh đi làm về mệt ngủ luôn quên đi tắm. Tôi đi rất nhanh, nếu anh gọi tôi có thể tôi đến liền ngay lập tức, nhưng có lúc tôi bận như bận đi nghe kinh hay thuyết pháp, nhưng bận đi chơi nhiều lắm, nhất là những nơi có lễ hội, cúng kiến, đàn hát vui vẻ. Vì ham chơi nên không tu, thậm chí nhiều lúc quên cả lối về. Một số người hay đánh chuông khiến tôi giật mình mà sực nhớ, à mình phải đi nghe kinh, phải đi nghe thuyết pháp, nếu không mình sẽ trôi lăn trong các trò chơi vô vị. Không ít người cõi dương rất sợ nghe tiếng chuông, hoặc cả đời chẳng nghe nổi một tiếng chuông. Họ rất đáng thương vì tâm đang rong ruổi hay đã đánh mất tâm của mình, cũng là trong các trò chơi, không phải để giải trí mà cho qua ngày đoạn tháng. Nghe chuông, tâm họ co rúm lại, sợ hãi và đầy đau khổ. Anh sắm cho mình cái chuông đi, mỗi ngày thỉnh ba tiếng, một lần hay nhiều lần. Tập nghe chuông để lắng lòng lại, không cho tâm bay nhảy nữa. Hơn thế, anh còn giúp được thế giới bên kia tỉnh thức, lo tu tập, mau siêu thoát.

m_80
Nếu cô ham vui như vậy, chắc cô hay đùa giỡn với chúng tôi?

chieclarungroi
Cái gì mà chúng tôi chúng ta. Anh và tôi chẳng có gì khác nhau. Nếu tôi tu, tôi sẽ sinh làm người lên đó gặp anh, còn anh không chịu tu, khi chết về đây gặp tôi. Lên đó hay về đây cũng chỉ một chỗ. Tôi đang ở chỗ anh và anh cũng đang ở chỗ tôi. Vì phước báu kém nên tôi và anh không thể thấy nhau, nhưng nói chuyện được với nhau thế này là hay lắm rồi. Người cõi âm hay tìm người cõi dương để giỡn lắm và dĩ nhiên sự đùa giỡn này ác ý hoặc không ác ý. Không ác ý như xúi giục người đi chơi đi, mở ti vi coi đi, nghe nhạc đi, đọc truyện đi, hay rủ bạn bè đi coi phim đi để họ được giải trí ké. Ác ý nặng thì bị xúi giục làm những chuyện phạm giới. Chẳng hạn, con trai anh đang xem phim hoạt hình nhưng đến giờ xem đá banh, anh bắt nó chuyển kênh khiến đứa trẻ giận. Thật ra anh bị đam mê xem đá banh xúi giục làm anh trở thành người tranh giành giải trí với con mình. Đôi khi anh bắt con trai tập xem đá banh như anh, nhưng tại sao anh không tập xem phim hoạt hình như nó mà áp đặt người khác theo ý mình. Sự áp đặt chính là một con ma, nó bắt anh phải làm cái này phải làm cái kia.

m_80
Vậy con ma đó ở trong mình?

chieclarungroi
Chứ ở đâu nữa. Ma có ở bên trong lẫn bên ngoài anh nhưng với sự tu tập vững vàng, con ma bên ngoài chẳng làm gì anh được, thậm chí anh còn chuyển hóa được nó. Bên cạnh đó, bản thân anh thực tập điều phục tâm, con ma bên trong nằm im không điều khiển anh được nữa. Chiến tranh ở cõi âm ghê gớm không kém gì chiến tranh ở cõi dương. Các anh sử dụng quyền lực, sức mạnh, tiền bạc, vũ khí tiêu diệt nhau là phục vụ cho con ma bên trong. Cõi âm sử dụng thần thông và cả sức mạnh để tấn công lẫn nhau. Nhưng họ càng lạm dụng chiến tranh bao nhiêu, họ càng khổ bấy nhiêu vì Địa Cầu trở nên hoang tàn, đến lúc nào đó bị diệt vong như sao Hoả, một tiếng chuông cũng không có nói chi đến lời kinh tiếng kệ hay ai đó dâng vật phẩm cho. Các vùng đất bị ô nhiễm, hạn hán, thiên tai hay bão lụt, không phải chỉ có cõi dương mới gánh chịu, cõi âm cũng bị ảnh hưởng như thường, thậm chí nặng nề gấp trăm ngàn lần.

m_80
Chiến tranh ở cõi dương có ảnh hưởng đến cõi âm và ngược lại?

chieclarungroi
Dĩ nhiên rồi. Các anh giết nhau, sinh mạng rơi lả chả, cõi âm phải gia tăng dân số và nếu họ không được siêu thoát, oan trái tăng lên gấp bội. Nhiều trai đàn chẩn tế cầu siêu bình đẳng không phân biệt trai gái, già trẻ, lớn bé, sắc tộc, màu da. Như vậy rất tốt vì tất cả vong linh có thể tu tập, giải bỏ oan kết. Nhưng một số nơi, họ chỉ cầu siêu một chiều, tức là phân biệt cả vong linh, vong linh theo phe này hay theo phe kia. Tâm người cầu siêu còn phân biệt như thế, thử hỏi làm sao có thái bình. Người chết còn bị trù dập, bị căm thù thì người còn sống chả trách tại sao lại bị đối xử tệ bạc. Làm con số thống kê, số người chết trên toàn thế giới vì chiến tranh, tai nạn, khủng bố, hãm hại, thù địch… mỗi ngày trên thế giới là bao nhiêu, thậm chí lớn hơn rất nhiều so với số người già chết tự nhiên. Họ mang nỗi oan kết đến thế giới bên kia và không để cõi dương được yên, và bản thân cõi dương gây ra điều đó mà thôi. Vậy đừng có trách ai, hãy nhìn lại mình, mình ăn ở thế nào để cho thế giới đảo điên như vậy.

m_80
Vậy cõi âm có hoà bình thì cõi dương có hoà bình và ngược lại?

chieclarungroi
Còn phải nói nữa. Quốc gia có chiến tranh triền miên hay gia đình nghèo khổ triền miên vì trong quá khứ họ từng gây chiến tranh cho kẻ khác hay chiếm đoạt tài sản kẻ khác. Nếu quá khứ họ biết trân quý hoà bình thì bây giờ họ sẽ tận hưởng thái bình hay xa xưa họ bố thí không mệt mỏi thì bây giờ tận hưởng giàu sang. Những người đang hiềm hận với nhau, một phần là quá khứ đã có dây tơ mối rợ không được tốt. Muốn hoá giải phải thực tập tha thứ, chấp nhận đau khổ và ban phát từ bi, bằng không chiến tranh chồng chất chiến tranh, nghèo đói đến tận cùng và con người tha hoá hơn bao giờ hết. Và rồi họ dẫn mình đến chỗ diệt vong. Cúm A H1N1 hay H5N1 gì đó là do con người ăn ở không đàng hoàng, kiêu căng, ngạo mạn, không biết lo tu tập, bênh tật phải mang là chuyện đương nhiên. Không chừng mai mốt xuất hiện thêm nhiều cúm mới lạ, rùng rợn hơn nữa. Thật tức cười khi loài người ăn nói tai to búa lớn nhưng lại làm mồi cho mấy con vi khuẩn kia. Nếu thương được mấy con vi khuẩn này, chúng sẽ thương lại và tha mạng cho.

m_80
Hoà bình ở cõi nào mà người ta cứ mãi đi kiếm đi tìm?

chieclarungroi
Hoà bình nằm trong tự tánh của mình, các nhà sư nói vậy, nên không cần phải đi kiếm tìm. Cõi âm muốn hoà bình thì hãy quay về chính mình, chưa nương tựa được bản thân thì phải biết nương tựa Tam Bảo. Hoà bình không là gì cao siêu, là sự nhận biết thực tại, an trú trong thực tại và thậm chí buông bỏ được thực tại. Con người không an phận, tranh giành tài sản và tình cảm nên mãi làm khổ nhau. Sống trên đời hãy cứ rong chơi, ngắm nắng, ngắm mưa, ngắm chính mình. Ai hối hả, mặc kệ họ. Ai tranh giành, mặc kệ họ. Ai chê cười, mặc kệ họ. Họ hối hả, họ mệt. Họ tranh giành, họ nhức đầu. Họ chê cười, họ đau khổ. Mình cứ việc thảnh thơi, buông bỏ những dính mắc. Đi nhưng không cần tới và làm không cần hấp tấp hay hoàn thành. Ngày nào đi làm về chúi mũi vào chiếc vi tính anh không thấy chán sao. Ra ngoài ban công hít thở không khí về đêm, đi tản bộ ngoài vườn hay gặp gỡ bạn bè trò chuyện, có phải thú vị hơn không. Hay hơn nữa, anh hãy thỉnh cuốn sách dạy áp dụng tinh thần Phật giáo vào đời sống, rồi thực tập, sẽ có nhiều an lạc và niềm vui. Sự an lạc của anh sẽ giúp những vong linh có oan trái với anh để cho anh yên và bản thân họ hưởng được năng lượng hoà bình đó từ anh.

m_80
Tại sao người ta treo kiếng hay dán hình bát quái phía trước nhà?

chieclarungroi
Các vong linh oan trái với cõi dương thường hay đi phá đám người tu. Khi anh khởi tâm thiện thì thường bị chặn lại như cứ bàn ra mà không bàn vào. Người ngồi thiền thì không cho anh ngồi, bắt anh phóng tâm tùm lum, ngáp tới ngáp luôi hay đi tu mà bỏ cuộc giữa chừng, hoàn tục ra ngoài cưới vợ. Đó làm những tâm hành của tham đắm hoặc rong ruổi tấn công anh, không cho anh tĩnh lặng. Nếu anh đứng, anh đứng không vững. Nếu anh ngồi, anh ngồi không yên. Nếu anh ngủ, anh ngủ không được. Tâm anh suy nghĩ vu vơ và những vu vơ nhỏ nhặt không được kiểm soát, nó kết lại thành trái núi to đùng biến cuộc đời anh thành vu vơ theo. Người tu tâm lực mạnh nên dù thiên ma có nhập vào cũng không làm gì được. Họ nản chí đi nhập vào những người xung quanh và nhờ người xung quanh đi chọc ghẹo người tu này. Đọc kinh và thuyết pháp cho họ nghe, họ sẽ thanh thản và bỏ đi, không ở lại quậy phá nữa. Người tu thiền ngồi xuống theo dõi hơi thở hay tập định tâm, nhưng đừng quên mời vong linh đó cùng thực tập với mình. Sau khi hành thiền xong, rải tâm từ và hồi hướng công đức đến vong linh hay chúng sinh mười phương. Tâm vong linh trở nên mát mẻ, không tấn công người tu nữa, thậm chí quay lại làm công việc hộ pháp.

m_80
Vậy có nên đánh đuổi họ không?

chieclarungroi
Đuổi họ một hồi, họ cũng vô nữa, nên giúp họ nhiều hơn là đuổi họ. Người không tu tập bị các tâm hành bất thiện không chế và điều khiển. Người biết tu không để tình trạng như vậy xảy ra, không trốn chạy và cũng không đối trị. Họ cho phép chúng nằm im và khi chúng nằm im được, các tâm hành thiện có dịp biểu hiện, chư thiên sẽ bảo hộ cho họ nhiều hơn vì chư thiên thường hay theo người tu hay người có tâm an lạc, vui tươi. Niệm Phật rất tốt, nhất là niệm Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng hay Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và Phật Mẫu Chuẩn Đề. Không phải họ chạy đến giúp anh đâu mà năng lượng tự thân phát khởi, anh cảm thấy an lạc và không bị quấy rối nữa. Tự tánh của anh và các đức Phật hay các vị Bồ Tát không sai khác nên khi niệm, anh kêu gọi tự tánh trỗi dậy, chứ thật ra chẳng ai giúp cả. Cầu đức Phật qua âm thanh hay hình sắc là tà đạo, cho nên hãy tự cứu trước khi trời cứu. Cũng chẳng có ai là ông trời. Nếu mình vui, mình là ông trời, mình giận và không biết là đang giận, mình trở thành quỷ sứ rất nhanh.

m_80
Người tu phạm giới có sự xúi giục của người cõi âm?

chieclarungroi
Cũng có nhưng ít thôi, không nên đổ thừa tại người này hay người kia, chỉ nên nhìn lại mình, cách thực tập không vững nên bị đốn ngã. Đa phần người tu bị các chướng ngại nội tâm làm cho sa ngã như tham lam quá nhiều, sân hận chồng chất, si mê dẫy đầy, ngạo mạn hám danh, nghi ngờ đủ thứ, đánh giá lôi thôi. Hơn nữa họ ở trong một môi trường tu tập không đàng hoàng, thầy của họ không giỏi cộng với sự nghi kỵ của thế gian, khiến cho họ đi vào thế gian rồi trở thành người của thế gian luôn, không thoát ra được sự trói buộc. Tu sĩ phạm giới đầy vì giới bản không được làm mới. Có những giới luật mấy ngàn năm vẫn y như cũ trong khi thời thế thay đổi chóng mặt. Thời đức Phật làm gì có điện thoại di động hay truyền hình nên không có giới về cấm sử dụng điện thoại di động hay xem giải trí trên truyền hình. Bây giờ giới phải thêm điều khoản này vào. Thử tưởng tượng một người đang thuyết pháp bỗng nhiên quay sang nói chuyện điện thoại, có thể uy nghi của họ đã giảm đi ít nhiều.

m_80
Vậy người phạm giới là bản thân người đó không có sự cố gắng?

chieclarungroi
Đối với cư sĩ có năm giới trong đó có giới không uống rượu và các chất say. Khi anh đi đám cưới, bạn bè mời anh rượu bia nhưng anh không từ chối nổi. Không phải bạn bè ép anh mà vì bản thân anh không hoà giải được hay yếu tố sĩ diện trong anh quá lớn. Nói uống rượu bia nhiều không say mới chứng tỏ bản lĩnh đàn ông là lời nói nguỵ biện, làm đệ tử của ma men và làm giàu cho các nhà máy bia mà thôi. Trong khi uống vào có thể dẫn việc phạm các giới khác như tà dâm và ác ngữ, làm mất sự tự chủ của thân tâm. Vậy việc anh phạm giới là do anh, đâu phải tại bạn bè hay các vong linh nào. Nếu thấy hoàn cảnh hay môi trường không phục vụ cho việc giữ giới, mình nên tránh xa hay từ chối tiếp xúc với điều kiện đó. Thà phòng tránh còn hơn mất thì giờ giải quyết vấn đề. Giống như công việc giết mổ động vật. Tại mình chọn công việc này, có ai kêu mình làm đâu. Tuy nhiên người có trái tim từ bi sẽ kiểm soát được việc giết hại và cầu siêu cho các vong linh động vật. Người không thực tập từ bi sẽ chém giết vô tội vạ, đến lúc nào đó không còn cảm giác gì nữa.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 08:57 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CÁC THẾ LỰC NGĂN CẢN NGƯỜI CỎI ÂM.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một bà mẹ nói chuyện với con gái đã mất của mình. Minh không muốn kể lể lại câu chuyện giữa bà và Trúc dù anh là người ngồi đánh máy cho cuộc trao đổi giữa hai người. Đến giờ phút này anh vẫn cảm thấy khó hiểu làm sao một vong linh có thể chạm vào bàn phím, thậm chí còn biết cách sử dụng máy vi tính và am tường giáo lý Phật Pháp cao siêu như vậy. Trúc còn chỉ nhiều cách tu tập, cách suy nghĩ, rèn luyện tâm. Nếu Trúc biết tu tập, đáng lẽ phải được siêu thoát rồi chứ. Buổi nói chuyện này có thể giúp bà mẹ vơi đi phần nào khổ đau vì mọi chuyện được sáng tỏ sau bao nhiêu năm nghi ngờ và nhung nhớ đứa con. Trúc nói với mẹ cô rất hài lòng về những việc bà làm cho cô như rải tro cốt xuống sông, đưa bài vị vào nhà chùa. Cô tha thứ cho ba dượng nhưng chắc chắn trong tương lai ông ta sẽ phải trả nghiệp. Việc tha thứ khiến cô thấy thanh thản và con đường đi đến siêu thoát nhanh hơn. Cô khuyên mẹ bán nhà về quê sống hay cho thuê căn hộ đó, đến ở chung với dì và các con của dì. Dì Trúc sống cách đó không xa, ở khu Tân Định. Chồng dì mất vì bệnh ung thư nhưng do khi còn sống làm nhiều việc thiện, ông được sinh lên cõi trời dục giới. Dì không tái giá mà ở vậy nuôi con. Hai chị em sống chung với nhau, mẹ Trúc sẽ không thấy cô đơn và nhìn những đứa cháu, bà cảm thấy vui hơn, bớt phiền muộn vì nhớ Trúc.

Trúc tiết lộ cô không trực tiếp nói chuyện mà người đang tiếp xúc với Minh là một nhà ngoại cảm và thông qua người này, cô chia sẻ với anh những điều cần thiết. Trên thế giới có rất nhiều nhà ngoại cảm và họ giúp ích cho người đời rất nhiều. Tuy nhiên số người không tin họ không phải ít vì người đời cảm thấy như vậy siêu hình quá. Đến lúc này Minh mới giải tỏa về việc vì sao một vong linh có thể sử dụng máy vi tính, thì ra thông qua một người ở cõi dương. Anh từng đọc một số bài viết trên mạng về cô Phan Thị Bích Hằng, anh không đồng tình cũng không phản đối. Tuy nhiên những việc làm của cô rất đáng quý vì giúp được người thân tìm ra hài cốt và người mất có nơi nương tựa. Minh không hỏi Trúc là cô đang nhờ vả nhà ngoại cảm nào vì Trúc sẽ không trả lời. Những người có tư tưởng chết là hết bị đánh sập vì chết chỉ là một tiến trình của sự sống nên khi còn ở cõi dương, con người hãy hết lòng tu tập. Anh nghĩ Trúc có duyên với nhà ngoại cảm kia nên mới gặp được và người ấy đồng ý giúp. Nhưng không hiểu sao Trúc không kêu gọi sự giúp đỡ của họ luôn mà phải tìm đến anh, thông qua máy vi tính và mạng lưới Internet như thế này. Trúc từng nói anh và cô đã có duyên vì giúp đỡ nhau trong kiếp quá khứ. Như vậy con người gặp gỡ cũng là do nhân duyên nên khi có mặt thì hãy trân quý, để ngày mai xa lìa thì không phải hối tiếc. Việc Trúc ra đi một cách đột ngột và mãi đến gần chục năm sau mới tìm ra nguyên nhân mà không phải do bên cảnh sát điều tra. Đời người thật ngắn. Nhìn vào nghĩa trang, bia mộ ghi tên tuổi những mái đầu xanh chết trẻ không phải ít. Khi còn sống hãy trân quý sự sống. Người tự tử cứ ngỡ sẽ chôn chặt nỗi đau, ai ngờ vẫn phải mang khổ đau sang bên kia thế giới. Nếu không biết cách chuyển hóa thì hãy gặp gỡ người có nhiều kinh nghiệm thực tập để được chia sẻ.



m_80
Người thực tập giỏi vẫn phải bị trả nghiệp?

chieclarungroi
Đức Phật sau khi thành đạo vẫn phải trả nghiệp, huống chi những người đang đi trên con đường chánh đạo. Anh có biết Đề Bà Đạt Đa từng ám hại đức Phật bằng cách cho đá lăn trên núi xuống không. Bất cứ ai cũng phải trả nghiệp dù nghiệp tốt hay xấu. Nếu nghiệp tốt sẽ hưởng quả tốt, còn nghiệp xấu sẽ chịu quả xấu. Không tỉnh thức con người tạo nghiệp rất nhanh. Tỉnh thức, họ tạo nghiệp thiện hoặc không tạo nghiệp gì cả. Các vị A La Hán phải trả toàn bộ nghiệp trong hằng hà sa số kiếp quá khứ mới có thể viên tịch, không tái sanh lại nữa. Sinh làm người là một việc hi hữu, gặp Phật là một việc hi hữu và thực tập chánh pháp lại hi hữu hơn nữa. Người tu giỏi phải trả nghiệp sẽ không oán trách hay than vãn, họ vẫn an nhiên tự tại. Đức Phật bị hãm hại nhiều lần nhưng có bao giờ khổ đau đau, sẵn sàng tha thứ cho người hại mình, rải tâm từ đến họ và hành trì nhẫn nhục không mệt mỏi. Cuộc đời có vay thì phải trả. Vừa rồi anh có đọc tin một đứa trẻ bị phỏng và người cha thương con quá, yêu cầu bác sĩ lóc da ở bắp đùi để cứu con. Người đời khen ngợi tình cha và tội nghiệp đứa trẻ. Anh có biết kiếp xa xưa đứa trẻ này đánh người đến phải mang tật nên kiếp này trả nghiệp. Còn người cha hi sinh phần da cho đứa con chắn chắn trong tương lai sẽ được hưởng nghiệp tốt.

m_80
Do có nhân duyên với cô nên mấy bữa nay tôi đang trả nghiệp phải không?

chieclarungroi
Nếu anh nghĩ vậy thì sẽ là như vậy. Mẹ đã dẫn dắt tôi vào chùa nên tôi có nhiều cơ hội tu tập hơn và chuyển hoá những nghiệp xấu. Do tư tưởng quyên sinh, tôi bị nhiều thế lực ngăn cản không cho tu tập nhiều mà cứ rong ruổi hay đi chơi ở những lễ hội. Người đời cho rằng thế lực này là mấy quỷ sứ ở địa ngục nhưng thực ra chẳng có quỷ sứ nào đâu, đó là do nghiệp lực thôi, nghiệp lực ngăn cản không cho tôi tu nhiều và do phước báu vẫn còn nên tôi thực tập được chút chút. Ở cõi dương cũng vậy, người bị nghiệp lực xấu che lấp, vô minh đầy dẫy nên có người tặng kinh sách cho thì không chịu đọc, có đọc thì không tin, có tin thì không thực tập, có thực tập thì lại dễ duôi. Nhiều tu sĩ thời đức Phật phạm giới và hoàn tục, đó là do nghiệp đưa đẩy họ như vậy, họ muốn làm chủ nhưng làm chủ không nổi. Đáng tiếc lắm. Đề Bà Đạt Đa sau khi trả nghiệp hết và biết tu đến lúc nào đó sẽ thành tựu thôi. Đừng trách những người gây nghiệp ác, họ đáng thương lắm, như tôi chẳng hạn, tôi giết sinh mạng của chính mình, nên tôi cần được thương hơn bị chỉ trích. Người trẻ bây giờ tự tử quá nhiều và nguyên nhân là do xã hội, xã hội đã buông bỏ họ hoặc cưu mang sai trái.

m_80
Người tự tử thác xuống cõi âm không thể sinh làm người?

chieclarungroi
Tự tử là phạm giới, giới giết hại sinh mạng nên sinh làm vong linh, mà nghiệp nặng quá sinh làm ngạ quỷ hay xuống địa ngục. Nhà ngoại cảm không thể thấy được địa ngục vì nếu thấy họ sẽ chịu không nổi vì ghê gớm quá. Nhìn các vong linh họ đã chịu không nổi, nói chi đến địa ngục. Khỏi cần biết địa ngục làm chi, thế gian này đã là địa ngục rồi, người ta gọi là địa ngục trần gian đấy thôi. Một cô gái bị bắt cóc làm nô lệ tình dục, cô này đã sống trong cảnh địa ngục. Cõi dương và cõi âm không có ranh giới đâu. Hai cõi này hay tất cả các cõi đều tồn tại song song cùng một chỗ cùng một thời điểm. Cõi chư thiên đang ngự trị nơi đây, họ thường tu tập đông đảo ở chùa chiền, dĩ nhiên là chùa đàng hoàng, nơi có nhiều người tu, cũng dĩ nhiên là tu đàng hoàng, họ hỗ trợ người tu tinh tấn, nhắc họ thường xuyên thực tập. Nơi mát mẻ có nhiều cây cối, chư thiên ngự rất đông và người có tu thường được ở nơi mát mẻ như vậy. Nơi hạn hán, lũ lụt, nói chung là thiên tai, nhất là chỗ ô nhiễm, khung cảnh âm u, tăm tối, vong linh cư ngụ rất nhiều.

m_80
Vậy xung quanh tôi đây bây giờ người âm rất nhiều?

chieclarungroi
Nhiều lắm. Nhưng nhà anh có thờ Bồ Tát Quan Âm, vả lại bản thân anh cũng có tu nên các vong linh này hiền. Họ biết anh làm gì, nghĩ gì, thậm chí anh đi tắm họ cũng nhìn thấy hay hôn cô nào họ cũng biết. Mọi chuyện diễn ra trước mặt họ, họ không biết sao được. Một khi anh tu tập, họ được thọ hưởng. Tâm anh toả ra năng lượng của từ ái và yêu thương, họ cũng sẽ mát mẻ theo, nhiều khi nhanh chóng được tái sinh. Nếu không lo thực tập, anh sẽ là một vong linh sau khi chết, họ sẽ kể cho anh nghe những gì họ thấy khi anh còn sống. Cõi âm và cõi dương đâu có ranh giới gì, nó cũng chỉ là một mà thôi. Chúng sinh sống dưới nhiều hình thức khác nhau rồi phân chia thế giới bên này bên kia cho dễ gọi tên vậy thôi. Nhiều người nói chẳng cần tu làm gì, sống tốt là được rồi. Sống tốt là sống thế nào, sống theo kiểu chất chứa kiến thức và vật chất mà cho là tốt thì coi chừng lầm to, phước đức xài hết, nghiệp xấu trở quả nhanh, hối hận vì không lo tu tập cũng không kịp.

m_80
Vậy không có địa ngục hay cái gọi là nơi giam giữ tội nhân, mà chỉ có quả của nghiệp lực xấu?

chieclarungroi
Hoàn cảnh của người đang trả quả cho nghiệp xấu là địa ngục không sai khác. Người đầu tư toàn bộ sự nghiệp và của cải cho chứng khoán sau một đêm mất trắng, thậm chí nợ nần chồng chất, không phải địa ngục chứ là gì. Hoả hoạn ở toà nhà ITC, toà tháp đôi WTC sụp đổ hay đánh bom cảm tử ở Iraq đều là những viễn cảnh của địa ngục. Người học đến tiến sĩ, kinh doanh đang phát đạt, đùng một cái bão lũ cuốn trôi hay bị động đất chôn vùi tất cả, chỉ trong tích tắc. Biệt nghiệp khiến mình gánh chịu một mình. Cộng nghiệp khiến một tập thể gánh chịu. Tuy nhiên, không cần phân biệt hai loại nghiệp này vì một cá thể tác động đến tập thể và ngược lại. Nghiệp lực xấu phát huy tác dụng, địa ngục hiện tiền, là sự kết hợp đầy đủ của các nhân duyên xấu. Nghiệp lực tốt phát huy tác dụng, tịnh độ trần gian hiện tiền, là sự kết hợp đầy đủ của các nhân duyên tốt. Không ai mang đến địa ngục hay cõi tịnh độ cho mình, chỉ mình tự tạo ra thì mình phải gánh lấy. Đức Chúa Jesus đã từng nói, anh em đã đong đấu nào, anh em sẽ nhận lại đấu ấy là vì vậy.

m_80
Cô đang nói về Luật Nhân Quả?

chieclarungroi
Anh cho như vậy thì nó sẽ như vậy. Tôi chỉ nói về các hiện tượng tự nhiên đang diễn ra mà thôi. Không bị nghiệp lực ngăn cản, tôi nói chuyện với anh dễ dàng và cũng do nghiệp lực ngăn cản, anh không thể nhìn thấy tôi. Nghiệp không phải là thế lực bên ngoài tác động vào mà tự thân của anh làm nên. Cho rằng người này người kia làm khổ mình hay ma đưa lối quỷ đưa đường đều do nghiệp chi phối. Cách ăn ở của mình thế nào, mình sẽ gặp những người như thế, sống trong môi trường như thế, mình trở thành cái mình lựa chọn. Lựa chọn tĩnh lặng, mình sẽ được tĩnh lặng, lựa chọn ồn ào, mình sẽ được ồn ào. Nhưng đừng kẹt vào tướng, có sự thực tập, ở nơi ồn ào mình vẫn tĩnh lặng, còn không thực tập hay thực tập lơ tơ mơ, ở nơi tĩnh lặng nhưng bản thân ồn ào không chịu nổi. Có địa ngục nào canh giữ người chết đâu hay có ai chết sinh về cõi địa ngục đâu, chẳng qua nghiệp đẩy họ vào địa ngục hay đẩy họ vào tịnh độ mà thôi, còn không tạo nghiệp nữa, người đạt trạng thái tĩnh lặng, an vui tự tại, không sinh về đâu cũng không đi tới đâu, tự do tuyệt đối.

m_80
Người cõi âm thuyết pháp như một vị Phật vậy?

chieclarungroi
Anh phải nhớ là bây giờ ma thuyết pháp nhiều lắm nhé, có khi ma đội lốt tu sĩ để thuyết pháp không phải ít, người nghe trở nên lầm đường lạc lối, dĩ nhiên chẳng con ma nào dẫn đi cả, tại mình không đủ sáng suốt để chuyển hoá tính ma trong mình. Bất cứ ai cũng có Phật tính, chỉ e rằng mình không đủ sức để nhận ra, phát huy và làm cho nó rạng rỡ. Thời kỳ mạt pháp, người ma nhiều hơn người tu và người tu giả nhiều hơn người tu thiệt. Đi tu mà còn đòi có bằng cấp, làm giảng sư, làm giáo thọ hay đánh bóng tên tuổi, thậm chí có chùa khai trương hay kỷ niệm mười năm thành lập, vậy thì tu làm cái gì. Tu là không bị kẹt vào gì cả, kể cả pháp môn và việc tu tập, mới gọi là tu. Tu ở khắp mọi nơi, chứ không phải vào chùa mới tu. Các nhà ngoại cảm có khả năng nhìn thấy và trò chuyện với người âm vì kiếp xa xưa họ phát nguyện giúp đỡ người khác, tưởng nhớ tổ tiên, hiếu thảo ông bà cha mẹ. Kiếp này họ thực hiện sứ mệnh đó và nếu có tu tập, khả năng sẽ mạnh mẽ, đồng thời giúp ích cho đời rất nhiều. Nhà ngoại cảm không tu, họ sẽ lợi dụng khả năng của mình làm chuyện xấu nên nghiệp xấu hiện tiền rất nhanh, năng lượng yếu đi và đến lúcnào đó không còn khả năng ngoại cảm nữa.

m_80
Vậy nhà ngoại cảm chỉ tiếp xúc vong linh có duyên với mình và không nhìn thấy địa ngục?

chieclarungroi
Hình như tôi nói chuyện này cho anh nghe rồi. Nhìn thấy vong linh, họ đã thấy sợ rồi, nếu nhìn thấy địa ngục nữa, chắc họ chịu không nổi, hoặc bị người đời cho là thần kinh luôn. Thông thường người ta nhìn thấy người âm và nhắc tới nhà ngoại cảm có khả năng như vậy, nhưng họ lại quên có nhà ngoại cảm nhìn thấy cả chư thiên và cõi trời. Số lượng nhà ngoại cảm này rất ít và hiếm khi họ ra mặt vì sợ bị hãm hại hay lí do người đời thường nói là thiên cơ bất khả lộ. Vấn đề là mình hãy tu tập trong phút giây thực tại, lo cho bản thân đàng hoàng nghĩa là lo cho người khác, bản thân hạnh phúc mới giúp người khác hạnh phúc được. Có người lo làm từ thiện, chăm sóc trẻ em mồ côi và người già, việc làm đáng quý, nhưng nghịch lý là bỏ bê cha mẹ và con cái mình, nên việc làm thiện kia cũng vô nghĩa. Nhà ngoại cảm biết tu giúp ích cho đời không biết bao nhiêu mà kể, nhưng phải học tính khiêm cung và học hỏi thêm nữa cũng như đừng kể lể lôi thôi. Bởi vì không có gì gọi là giúp cả, đó là do nhân duyên đưa đẩy và mình phải hoàn thành công việc ở vị trí của mình.

m_80
Lần này là lần nói chuyện sau cùng của cô với tôi phải không?

chieclarungroi
Có thể là vậy. Cám ơn đã giúp đỡ mẹ tìm ra tôi. Nếu muốn nói chuyện với tôi thì cứ việc lên mạng và đánh vào cái nick này, nhưng có thể tôi sẽ từ chối nói chuyện với anh vì muốn tốt cho anh thôi. Những gì tôi kể cho anh không mang tính chất siêu hình nhưng tôi không quan tâm anh có tin hay không. Vấn đề là anh có chịu thực tập để có được an lạc trong phút giây hiện tại và chuyển hóa được những đau khổ của mình hay không. Mỗi ngày, thay vì dành thời gian buổi tối để tán gẫu như thế này, anh hãy thỉnh một cuốn kinh về đọc, nhưng đọc kinh đừng có đọc suông mà phải tìm cách thực tập hay ứng dụng lời dạy của đức Phật vào đời sống tu tập của mình. Người không tu là người phước đức kém cỏi, bản thân không lo được làm sao lo cho người khác. Một người tu, nhiều người được hưởng lợi. Nhiều người tu, hằng hà sa số chúng sinh có hoà bình. Đức Phật ra đời là để làm lợi ích chúng sinh, nên nếu mình không tu, không phải mình ích kỷ lắm sao.

m_80
Tôi sống tốt là được rồi.

chieclarungroi
Sống tốt là sống thế nào? Nhiều người cứ lãi nhãi là sống tốt làm người tốt nhưng chẳng bao giờ làm được, chỉ thấy càng ngày càng bệ rạc, bẩn thỉu và hôi thối. Anh cần có sự hướng dẫn cụ thể, phải có bạn đạo, phải nương tựa Tam Bảo, thực hiện theo những lời dạy chính đáng của những bậc chân tu, bằng không mình đánh mất mình hồi nào không hay, đến lúc muốn làm người tốt cũng không được nữa. Làm người tốt thì khó chứ làm người xấu thì dễ và người xấu đội lốt người tốt không phải ít. Người đời thường hay dạy con cháu hãy cảnh giác người xấu mà quên cảnh giác mình. Nhiều lúc mình đi hoang mà mình không biết, mình trở thành người xấu của mình. Tôi nói mình phải cảnh giác mình là vậy. Bây giờ anh thử lấy một tờ giấy liệt kê những điểm mình cho là tốt và mình cho là xấu, cái mình làm cho mình và cái mình làm cho người, cái mình dễ thương và cái mình không dễ thương. Những điều hay mình nên duy trì, những điều chưa hay mình nên sửa chữa và thay đổi.

m_80
Thôi tôi không nói nữa, nếu có duyên tôi sẽ gặp lại cô. Chúc cô thực tập giỏi và mau chóng siêu thoát.

chieclarungroi
Tôi cũng chúc anh như vậy. Có bao giờ anh nghĩ mình phải tự chúc mình hay không, hôm nay mình phải dễ thương và hạnh phúc hơn hôm qua. Tự chúc mình là lời nhắc nhở bản thân phải tu tập, làm đẹp mình bằng tâm hồn trong sáng. Tôi sẽ không quay lại nói chuyện với anh nữa, nhưng có thể trong tương lai lại gặp nhau dưới một hình thức khác. Chúc anh mỗi ngày đều tinh khôi. Tạm biệt
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 09:14 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
RẢI TÂM TỪ.

Rải tâm từ là sự phát khởi tình thương và chuyển tình thương đó với người mình nghĩ đến. Đối tượng mình rải tâm từ dù ở gần hay xa sẽ nhận được năng lượng mát dịu, tinh thần dễ chịu, tâm bồ đề thêm vững chãi, người đang toan tính làm sai sẽ ngừng lại, ngừng đã từng làm sai bắt đầu hối hận và không muốn làm sai nữa, người đang đau khổ vơi bớt phần nào những nỗi khổ niềm đau… Bản thân người rải tâm từ là người hạnh phúc nhất vì năng lượng tình thương đầy dẫy cả thân và choáng ngợp cả tâm. Tâm từ cho đi nhưng không bao giờ hết mà ngày càng lấp đầy, cao ngùn ngụt, đi đâu đến đâu cũng chỉ hằng mong làm công việc của tình thương. Ban đầu tâm từ yếu ớt, nhưng vì thường xuyên thực tập, tâm từ lớn lên, cao to, vĩ đại, không gì có thể so sánh được. Rải tâm từ đến chúng sinh ở hướng đông, hướng đông nam, hướng nam, hướng tây nam, hướng tây, hướng tây bắc, hướng bắc, hướng đông bắc, hướng trên, hướng dưới, hướng giữa, đều sống lâu, an vui, không có khổ bệnh hoạn, không oan trái lẫn nhau, luôn thành tựu đầy đủ. Rải tâm từ đến chúng sinh là các loài hữu tình, kẻ yếu, kẻ mạnh, kẻ to, kẻ nhỏ, kẻ dài, kẻ lớn, kẻ trung, kẻ thấp, kẻ nhìn thấy, kẻ không nhìn thấy, kẻ ở gần, kẻ ở xa, các loài đã sinh ra, các loài đã được sinh, các loài sắp sinh, các loài bốn phương và tám hướng, ba giới và bốn loài, tất cả các cõi đều sống lâu an vui, không có khổ bệnh hoạn, không oan trái lẫn nhau, luôn thành tựu đầy đủ. Rải tâm từ đến chúng sinh là người thương mình, người không thương mình, người cưu mang mình, người ghét bỏ mình, người giúp đỡ mình, người hãm hại mình, người khen mình, người chê mình, tất cả mọi người đều sống lâu an vui, không có khổ bệnh hoạn, không oan trái lẫn nhau, luôn thành tựu đầy đủ, mong rằng không ai lường gạt lừa dối ai, không ai khinh chê miệt thị ai, ở bất cứ nơi nào ở bất cứ lúc nào, không hờn giận thù hận nhau, không chống đối đả kích nhau, không gây đau khổ thất vọng lẫn nhau. Rải tâm từ đến muôn loài đồng đều cả thảy trong tất cả thế giới không phân biệt, không hạn chế, không từ chối, không lười biếng, không dễ duôi, không trói buộc, không áp đặt, không thù địch, không ích kỷ. Rải tâm từ đến chúng sinh mười phương khi đi, đứng, ngồi, nằm, lúc khỏe, lúc bệnh, lúc đau yếu, không kể ngày hay đêm, không kể đối tượng. Đây là thực tập rải tâm từ cao thượng.

Bài thực tập quan trọng nhất là rải tâm từ cho người hãm hại mình, người được mình luôn miệng cho là kẻ thù. Người tu còn có kẻ thù là người chưa giỏi. Đã quyết chí thực tập thì không có ai là kẻ thù cả. Nếu chỉ yêu thương người yêu thương mình thì bình thường nhưng thương được người không thương mình, thậm chí ban phước lành đến cho họ, mong họ thay đổi, mong họ có hạnh phúc, tình thương này to lớn hơn nhiều. Tâm từ là nguồn năng lượng nuôi sống mình trong khổ đau, khiến mình không bị chìm đắm, không bị dính mắc, đem lợi lạc cho mình và người. Người hãm hại mình có nhiều khổ đau, chưa bao giờ được thương, chưa bao giờ được hiểu, nên họ có nhiều tri giác sai lầm, nhiều bươn chãi, nhiều trầm luân, mình phải thương họ mới đúng, tại sao phải giận họ, tại sao phải căm tức họ? Thực tập tâm từ tức là yêu thương hết tất cả, bất kể loài đó là đối tượng như thế nào. Người bị rắn cắn vì năng lượng tâm từ toả ra từ thân tâm yếu ớt hoặc không có, con rắn tưởng người sắp tấn công nó nên nó phải phòng vệ và tấn công trở lại. Rải tâm từ với các loài, các loài sẽ tha thứ và buông tha mình. Nói lớn hơn, căn bệnh ung thư đang làm mình cằn cỗi, nhưng rải tâm từ với căn bệnh, cơn đau giảm đi phần nào. Thực tập thiền rải tâm từ là thực tập như vậy.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vun bồi tâm từ. Tâm từ phải dồi dào mới đem đi rải được, còn tâm từ chút xíu đem rải thì hiệu quả không lớn lắm. Ngày xưa thầy Mục Kiền Liên cứu được mẹ ra khỏi địa ngục khổ đau là nhờ vào năng lượng tâm từ của rất nhiều chư tăng trong tăng đoàn của đức Phật. Vì vậy, muốn thành tựu trong việc rải tâm từ, mình phải vun bồi tình thương của mình. Rải tâm từ bằng tâm ganh ghét, bực bội, so đo, phân biệt thì hiệu quả đã giảm đi ít nhiều. Để tâm từ thêm lớn mạnh, mình rải tâm từ đến mình trước, xong đến những người thân yêu hay gần gũi, đến người thân, bạn bè, đồng nghiệp, rồi mới đến những người xa cách mình. Tại sao như vậy? Đơn giản thôi, vì năng lượng tâm từ phát khởi với những người thân thuộc nhanh hơn nên khi tiếp xúc với năng lượng của họ, mình có nhiều an lạc và hạnh phúc, tâm từ phút chốc lớn mạnh, mình mới đủ năng lực, can đảm tha thứ và rải tâm từ đến người mình không ưa. Người mới gặp mặt đã không thấy ưa là do có oan trái từ kiếp xa xưa, nên vấn đề không phải là người đó có gương mặt hay thái độ không ưa, mà do mình không đủ khả năng chấp nhận người đó. Thay đổi thái độ của mình, mình sẽ chấp nhận được họ và khi chấp nhận được rồi, mình bắt đầu thực tập rãi tâm từ mãnh liệt để có thể yêu thương ngay người mình đã từng không ưa đó. Thông thường mình cho người chính là đối tượng làm khổ mình trong khi không chịu nhìn nhận mình là một trong các yếu tố gây nên tiến trình đau khổ này. Vậy thay vì ngồi trách cứ người khác, mình hãy nhìn lại mình, xem tâm từ có đủ để mang hạnh phúc cho người chưa, hay tâm từ quá yếu ớt, đang tàn lụi và chính năng lượng tâm không từ của mình làm người khác đau khổ, và tệ hại hơn, tự làm khổ mình. Tình thương to lớn khiến mình nghĩ thà mình chịu khổ còn hơn để người khác khổ, mình chấp nhận ôm hết tất cả cái khổ để người khác được vui, nhưng mình biết cách làm nỗi khổ được vơi, được êm dịu, nên cái khổ đến, mình vẫn bình thản, cười thoải mái.

Người thường nói về tình yêu như sự bày tỏ tình cảm với người nam và người nữ nhưng tình yêu đó vẫn còn nhỏ bé, vẫn còn hạn hẹp đối tượng. Tình yêu ở đây to lớn hơn nhiều, yêu thương tất cả muôn loài, bao trùm vạn vật và vũ trụ. Người hay nổi sân, nóng tính, có nhiều hận thù thực tập tâm từ dễ dàng thanh tịnh trở lại, biết nghĩ về người nhiều hơn nghĩ về mình, từ đó chuyển hóa tính hay giận và nóng thành ra tươi mát như hồ sen. Người may mắn sống đến trăm tuổi nhưng không phải ai vượt qua con số một trăm. Đời người chưa tới một thế kỷ, vài chục năm ngắn ngủi trôi rất nhanh, vậy tại sao không tận dụng thời gian ngắn ngủi đó để thực tập tâm từ, để yêu thương, để hạnh phúc. Người nóng giận chắc chắn không biết được niềm hạnh phúc của tâm từ vì đã bị che lấp bởi u mê, bởi tối tăm, bởi sự mệt mỏi. Chỉ cần trải lòng ra, thương lấy người mà mình nghĩ là đối tượng làm mình giận, nghĩ đến điều tốt đẹp của họ, nghĩ đến những khổ đau mà họ đã từng gánh chịu, nghĩ đến việc thiếu vắng họ mình sẽ cô đơn dường nào, nghĩ đến việc vài trăm năm nữa mình có gặp họ không… Họ giống mình thôi, cần được yêu thương, cần được chăm sóc, cần được tôn trọng, vạy hãy biết về họ như mình muốn biết về mình. Hành vi bất bạo động là hành vi rải tâm từ, tức là khởi tâm yêu thương với người bạo động với mình nhất. Bây giờ còn trẻ, họ đầy dẫy hành động bạo động, nhưng khi già yếu rồi họ không đủ sức như vậy nữa đâu. Họ đang làm khổ bản thân mà không biết, còn mình biết, tại sao mình phải bắt chước họ. Mình là người khôn ngoan, mình biết rải tâm từ, biết yêu thương, biết tha thứ, phải làm điều đó ngay thôi, mình hiểu rỏ tình trạng không đau khổ của mình và điều gì giúp mình có nhiều hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi.

Sử dụng năng lượng tâm từ tiếp xúc với vong linh hay những người mình không thể nhìn thấy, nhất là những người có mối liên hệ huyết thống với mình. Vào ngày 30 tết, người Việt Nam có truyền thống rước ông bà về ăn tết với con cháu trong ba ngày, đây là cơ hội để con cháu tưởng nhớ và cùng với tổ tiên tu tập. Tâm từ có tác dụng ban phát đến hạnh phúc cho mình và người khác nên chỉ cần một người thực tập, một khu vực rộng lớn an hưởng thái bình, nhưng cả nước tu tập, cả nước đó nhiều niềm vui và thuận lợi. Năng lượng có khả năng truyền từ người này sang người kia, khác với năng lượng vật lý. Năng lượng điện làm nước sôi, sức nóng đi vào nước. Còn năng lượng tâm từ ban phát đến người, người nhận được nhưng năng lượng của bản thân người phát không hề mất đi. Sở dĩ con người có mối liên hệ với nhau hay thiết lập các mối quan hệ với nhau vì họ có những năng lượng cần nhau, các năng lượng này tương tác tạo ra hạnh phúc. Giống như một người thích nói thì phải có người thích nghe, vậy mới hạnh phúc, còn ai cũng giành nói hết, hạnh phúc không còn nữa. Những người đến sống chung, họp thành một nhóm vì nghiệp hay năng lương có sự tương đồng, nếu không, một người sẽ tách hẳn khỏi cộng động đó, thành lập cộng đồng riêng hay tham gia cộng đồng phù hợp với trường năng lượng đang hiện có. Học Anh văn cũng vậy, người học anh văn thương mại, người học anh văn dành cho bác sĩ. Doanh nhân sẽ đi học anh văn thương mại còn bác sĩ đi học anh văn y khoa. Nói về kinh doanh cho bác sĩ hay nói về mổ xẻ cho doanh nhân. chắc chắn như vịt nghe sấm. Trở lại, nói về năng lượng tâm từ, những người có năng lượng tâm từ mạnh, nhóm lại sống chung với nhau, như tăng thân chẳng hạn, còn năng lượng thấp, họ sẽ tương tác hay giao tiếp với những người có năng lượng thấp. Đây là cách giải thích khác của cộng nghiệp. Con người ăn ở với nhau hợp không là do năng lượng hợp không. Năng lượng điện không thể sống chung với năng lượng nước, nhưng khi đi chung với dây đồng thì năng lượng điện dễ dàng phát huy tác dụng.

Thực tập rải tâm từ là hành vi của từ bi, mong muốn người hạnh phúc và thông cảm với nỗi khổ của người. Chỉ có từ bi mới hoá giải gốc rễ của hận thù, giúp dân số vong linh ít hơn, loài người đông hơn, đến lúc nào đó, loài người ít hơn, người giải thoát đông hơn. Tâm từ thực chất không phải là thứ ban phát mà là sự thực tập. Từ là tố chất của mỗi chúng sinh, có sẵn trong mỗi chúng sinh, thực tập để nó được phát huy và mạnh mẽ. Người tu chân chính lấy việc thực tập tâm từ làm kim chỉ nam hàng đầu. Một số người không đồng ý việc tu tâm, tức là tu thì phải ngồi thiền, là quán chiếu sự sống… để được an lạc, thảnh thơi trong giây phút hiện tại. Điều này không có gì sai mà còn đúng nhưng chưa đủ. Tu phải tu từ tâm, việc hành thiền cũng để giúp điều phục tâm của mình. Ngày xưa đức Bồ Đề Đạt ma chỉ dạy các thiền sinh Trung Hoa là ngồi thiền để thành Phật giống như mài đĩa làm gương. Thiền là phương tiện hỗ trợ cho phương pháp tu tâm của mình. Tu là sửa đổi, tu từ căn bản, tức là sửa cái tâm của mình. Sửa không có nghĩa làm mới nó bằng sơn phết, lấy cái mới đổi cái cũ hay tạo thêm chức năng, mà sửa những chỗ cong queo, cho ngay thẳng trở lại, nên cái tâm trước sau vẫn như một mà thôi. Nói rải tâm từ nhưng có rải cái gì đâu, chẳng qua chỉ là tình thương hay sự vắng lặng, đúng hơn là ban phát sự vắng lặng, vậy thôi. Đem cái tâm yêu thương nhìn sự vật, mọi sự vật đều đáng yêu và như nhau. Đem tâm từ nhìn mọi chúng sinh, người biết yêu thương muôn loài đồng đều, con mắt không còn kỳ thị, không còn phán xét. Ai cũng đáng quí, đáng trân trọng. Bằng con mắt của tâm từ, người đi vào cuộc sống không lo lắng, không sợ bị tấn công, không sợ bị hãm hại. Mọi thăng trầm của tâm đều do mình bất an, cứng đầu, tự kiêu và người khác xa lánh mình rồi tưởng tượng mình đang cô đơn trong chốn đông người. Làm bất cứ việc gì cũng đều lấy tâm từ ra mà đối chiếu, xem xem hành động, lời nói, suy nghĩ đó có làm tổn hại đến tâm từ hay không. Nếu có, dám giương cao ngọn cờ can đảm một cách hân hoan để từ bỏ hành vi gây tổn hại đó đi. Thậm chí, mình phải phát tâm thương cả hành vi tổn hại này, nó đang lạc lõng giữa thế giới của tâm từ, nên hãy chia sẻ và ôm ấp để nó trở nên từ bi hơn.

Xây dựng hoà bình bằng chính tâm từ của mình vì người có từ tâm là biểu tượng của hoà bình và tâm từ là hiện tượng của hoà bình. Một người gây chiến nhưng nếu mình không tham gia, họ sẽ gây chiến với ai. Người xấu và tệ bạc nhất vẫn có tâm từ, chỉ tại chối bỏ, không chịu nhìn nhận nó. Mà tâm từ là gì, đơn giản là đem lòng thương cha mẹ, thương ông bà, thương bạn bè, thương đồng nghiệp…, mình giàu có ngay lập tức. Nhiều người nói mình mồ côi, không được ai thương, không được ai chăm sóc, không được ai chú ý. Thực ra mình mồ côi tình thương, như cô hồn đói. Cái đói này không phải đói tình thương của người khác, mà đói tình thương từ trong mình. Mình không thương nổi mình thì làm sao thương nổi người mình cho là người thương. Chỉ cần đem lòng thương, mình không còn mồ côi nữa, mình tìm thấy trong thế giới có hằng hà sa số yếu tố để thương, để chăm sóc. Chăm sóc khu vườn là hành vi của tâm từ, cho hoa nở, chim chóc bay về, làm giảm nhiệt độ Địa Cầu. Chăm sóc cơn giận là hành vi của tâm từ, không để bản thân bị các hạt giống hờn dỗi, dính mắc, đau khổ làm chủ. Chăm sóc mình là chăm sóc những đau khổ và hạnh phúc của mình, chuyển hoá những đau khổ và phát huy những hạnh phúc. Đau khổ và hạnh phúc chỉ là những ý niệm, buông bỏ các ý niệm, mình đối diện và đón nhận chúng một cách bình thản. Mình cần hoà bình, thế giới cần hoà bình và nền tảng của hoà bình là tâm từ, hay tâm bình. Người biết thương yêu nên tất cả đều là bạn, đã là bạn thì không đàn áp, không đối đầu, không kẻ thù, không chiến tranh và tâm từ là phương tiện chuyển hoá mọi hờn giận, căm thù, đau thương, mất mát.

Tâm từ lớn mạnh, trái tim lớn mạnh theo. Người không chỉ thương mình, thương những người thương mình, thương gia đình, bạn bè, cộng đồng, đất nước, dân tộc hay đồng loại mình, mà còn thương người khác với mình, thương người không thương mình, thương dân tộc khác, thương muôn loài. Tâm từ làm cho tình thương vượt khỏi biên giới quốc gia, biên giới ngôn ngữ, biên giới văn hóa, biên giới đồng loại. Trái tim không biên giới nên tình thương không biên giới. Trái tim không nhỏ bé như hạt đậu đỏ mà to lớn như Địa Cầu, thậm chí như vũ trụ. Vũ trụ bao la bao nhiêu, tình thương mênh mông bấy nhiêu. Trái tim không biên giới làm được như thế, không gói gón trong lồng ngực mà bay đi khắp nơi. Trên thế gian này, có bao nhiêu loài, nguyện ôm lấy tất cả, có bao nhiêu địa ngục, nguyện giải trừ tất cả, có bao nhiêu khổ đau, nguyện đón nhận tất cả. Người có tâm từ mãnh liệt phát nguyện, nguyện tu tập theo Tam Bảo, nương tựa Tam Bảo để có thể nương tựa chính mình; nguyện thực tập hạnh phúc thoát khỏi mọi tai nạn và đập tan địa ngục; nguyện chia sẻ các phương pháp tu học hạnh phúc với muôn loài và bảo vệ sự sống muôn loài; nguyện tu học tinh chuyên, thành tựu đạo quả, cứu độ các chúng sinh, hoà tan vào chúng sinh và đồng hành với chúng sinh, cùng tu cùng thực tập; nguyện gìn giữ giới luật, hành thiền và rải tâm từ bằng chính tâm từ của mình; nguyện hoá giải mọi phiền não tối tăm, sống an lạc thảnh thơi trong hiện tại và tiếp xúc với thực tại cùng tột; nguyện xóa bỏ luân hồi, chấm dứt sinh diệt, không còn tạo nghiệp nữa; nguyện không dính mắc vào các pháp thế gian như sắc dục, tiền tài, danh vọng, bằng cấp…; nguyện tinh tấn thực tập tâm từ, thường xuyên soi rọi bản thân, nhìn mình nhiều hơn nhìn người; và cuối cùng nhưng không phải là hết, nguyện giải thoát ngay trong hiện tại, trở thành bậc giác ngộ trong kiếp này, không chờ đợi kiếp nào khác. Thực tập tâm từ là thực tập những lời đã phát nguyện như vậy.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 09:17 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CẦU SIÊU VÀ TRAI ĐÀN, CHẪN TẾ.

Cầu siêu là sự cầu nguyện với lòng mong mỏi những người đã quá vãng chưa được siêu thoát thì được siêu thoát, đã siêu thoát thì biết tu tập, đã tu tập thì mau giải thoát. Hồi nào tới giờ, người thường hay cầu siêu cho người quá vãng mà quên rằng vẫn có thể cầu siêu cho người còn sống. Cầu an chính là cầu siêu cho người còn sống đấy thôi. Vong linh không ai thờ tự sống phiêu bạt là một chuyện, người còn sống mà sống một cách lang thang, không định hướng, có khác gì cô hồn đâu. Một số người hay mắng mấy người phá làng phá xóm kết bè kết đảng là cô hồn, là bụi đời còn gì. Siêu thoát là thoát khỏi ba đường ác đạo bao gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Người làm mười điều ác và một trong năm tội nặng nhất sinh vào địa ngục vô gián, sẽ chịu khổ liên tục, ngay cả một câu niệm Phật cũng không có thời gian. Người làm mười điều ác sinh làm ngạ quỷ, chịu khổ đói, bụng to như cái trống, cổ nhỏ như cây kim, dù có thức ăn cũng không dùng được. Người làm ít nhất một trong mười điều ác sẽ sinh làm súc sinh, sống những nơi không an toàn, bị thiên tai, bị giết lấy thịt, bị đe doạ tính mạng. Nói về con người, sống ở cõi dương cũng trải qua cả ba đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh như ba đường ác đạo kia. Vì thế, người ta gọi là địa ngục trần gian, bị mắng là đồ quỷ sứ hay tệ bạc hơn cả súc sinh.

Cầu siêu là việc làm của tình thương, vì thương người quá vãng vẫn còn khổ trong ba đường ác đạo nên ra sức làm các viện thiện, tích phước báu và công đức để hồi hướng cho người đã mất mau chóng thoát khổ, biết tu tập, phát nguyện nương tựa Tam Bảo, thọ trì Năm giới, cùng hành thiền và siêu thoát. Siêu thoát tức là sinh làm người hay về cõi trời để có cơ hội tiếp tục tu tập, chuyển hóa các nghiệp xấu và đến khi nhân duyên đầy đủ, họ sẽ giải thoát, sẽ giác ngộ. Đức Phật trong tiền kiếp chắc chắn đã trải qua các đường ác đạo cho đến khi phát nguyện tu tập và không còn sinh vào các cõi dưới nữa, đến khi sinh vào cõi trên, liên tiếp tu tập các hạnh lành hằng hà sa số kiếp cho đến khi trở thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tuy nhiên, cầu siêu hay nhất là cầu siêu chính mình. Khi còn làm người, người thực tập và chuyên làm mười điều thiện, rồi thực tập các hạnh bồ tát thì khi quá vãng, đương nhiên người sẽ không đoạ vào các đường ác. Lúc này, dù không cầu siêu hay chẳng ai cầu siêu cho, người vẫn sinh về cõi trên và tiếp tục hành trình tu tập của mình. Bởi vậy mới có câu, tự tu thì tự ngộ, chẳng ai tu dùm mà người chứng cả. Nếu như có người đạo cao đức trọng cầu siêu cho, với phước báu và công đức của người này giúp người siêu độ nhưng sẽ mắc nợ người này, đến lúc nào đó cũng phải trả nghiệp thiện. Vì thế, không cần biết khi quá vãng mình sẽ sinh về cõi nào mà hãy nhìn xem trong hiện tại mình ăn ở có đàng hoàng hay không, có gìn giữ hành động, lời nói và tâm ý hay không. Trong trường hợp hành động giữ giới, lời nói giữ giới, tâm ý giữ giới, người chắc chắn sẽ sinh về cõi trên. Ngược lại, tất cả năm giới đều phạm, tức là không tôn trọng sinh mạng, không tôn trọng quyền tư hữu, không tôn trọng lắng nghe và chuyên nói lời ác ngữ, không tôn trọng sự thật, không bảo vệ tiết hạnh và không biết bảo vệ hay nuôi dưỡng thân tâm, người chắc chắn phải chịu khổ trong ba đường ác đạo. Đã biết thế thì những việc ác đã làm thì sám hối, ngưng lại và thề nguyện không làm như vậy nữa.

Cầu siêu là cơ hội để nhắc nhở người sống thực tập các pháp thiện, bên cạnh đó hướng dẫn người quá vãng thực tập để mau chóng quay đầu là bờ, đi về hướng chánh pháp. Thông thường, người thân tụng kinh, cúng dường trai tăng và mời các tu sĩ hồi hướng phước báu và công đức nhưng cách làm này, hiệu quả vẫn còn thấp. Muốn hiệu quả cao, người quá vãng siêu thoát nhanh, thì phải chỉ cho họ cách thực tập, như khi niệm Phật, mời vong linh niệm theo mình, khi đọc kinh, mời vong linh đọc theo mình, khi nghe chuông, mời vong linh nghe theo mình, khi hành thiền, mời vong linh hành theo mình. Họ sẽ rất sung sướng và biết ơn mình vì đã chỉ cho họ cách thức tu tập, cách thức sám hối và mau chóng siêu thoát. Thật ra chẳng ai sám hối cho ai hay cầu siêu cho ai. Tất cả đều do nhân duyên định sẵn, tức là người thân thương người quá vãng nên thường xuyên cầu siêu cho họ, người thân không hề biết người thương của mình sinh về cõi nào nhưng vẫn cứ tiếp tục làm công việc đó. Người quá vãng cũng vậy, với mong ước thoát khỏi cảnh khổ, họ đến những nơi có lễ cầu siêu để nghe kinh, phát nguyện tu tập và chẳng mấy chốc siêu thoát. Địa Cầu là nơi đang biểu hiện sự sống, tức là rất may mắn, có người biết tu, biết hướng dẫn cho vong linh. Các hành tinh khác như sao Hỏa hay Mặt trăng, có ai hướng dẫn vong linh ở đó đâu. Nếu để ý, mình thấy các thầy khi hồi hướng đều hồi hướng đến chúng sinh mười phương ở khắp vũ trụ, chúng sinh ở sao Hoả hay Mặt trăng đều có thể thọ lãnh, biết quay đầu là bờ, biết hối, biết tu, đến lúc nào đó, thiện nghiệp của họ sẽ giúp hai hành tinh này phát khởi sự sống trở lại. Người cầu siêu đang thực tập hạnh của bồ tát Địa Tạng, tức là thay mặt ngài Địa Tạng giáo hoá và giúp đỡ vong linh. Nếu quán chiếu kỹ, mình thấy hạt giống Địa Tạng hay tâm Địa Tạng có mặt sẵn trong mình và ai cũng có nên khi cứu giúp được bất cứ ai, mình sẽ trở thành bồ tát Địa Tạng không sai khác. Chẳng hạn nhìn thấy con đường lụt lội, nhiều ổ voi, ổ khủng long, nếu trẻ em đi trên đó sẽ gặp tai nạn, xe cộ chạy rất nguy hiểm, người khốn khổ, mình phát tâm xây đường, lắp các hố đó lại, đồng thời trồng cây mát mẻ, bảo vệ trẻ em, người dân, mình giúp người bớt khổ, đó là hành vi của bồ tát Địa Tạng.

Bằng tấm lòng chân thành và vô tư, mình cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ, anh chị em nội ngoại mười phương đều được siêu thoát, sinh vào đời nào cũng gặp Phật Pháp, biết tu, biết thương yêu lẫn nhau. Con cháu biết lo cho tổ tiên là điều đáng quý nên đừng kể công, đừng mong muốn chứng tỏ mình là người con có hiếu. Người thân có thể có người hợp hay không hợp, điều quan trọng là bỏ qua mọi tâm kỳ thị, để khi cầu siêu, mình biết tha thứ và bỏ qua tất cả, mong mọi người quá vãng đều tu tập được thành tựu. Nhiều người giận cả người chết, chửi rủa và mắng nhiếc người chết, thậm chí lên tiếng trù ẻo người chết. Hết sức nguy hiểm, vì chỉ làm cho bản thân thêm tội và chồng chất nghiệp xấu, trong khi người quá vãng khó siêu thoát và oan trái khó tiêu trừ. Ai cũng muốn có nhiều phước báu và công đức, vậy đừng làm gì thấy hổ thẹn với bản thân, kể cả người quá vãng. Người quá vãng đã yên nghỉ, hãy để cho họ được yên nghỉ, đừng trách móc, đừng buộc tội gì thêm nữa. Lên án người đã chết là việc làm của kẻ yếm thế, không biết yêu thương, là biểu hiện của tâm ích kỷ hẹp hòi. Nói vậy để thấy mình phải biết trân quý và tôn trọng người đã mất và làm được điều đó, mình càng trân quý và tôn trọng hơn nữa người còn sống, nhất là những người thân thương của mình. Nếu chỉ còn một ngày để sống, mình sẽ làm gì, có phải mình sẽ hết sức cống hiến mọi khả năng có thể cho người mình thương, sẽ tha thứ, sẽ buông bỏ, sẽ cho đi mà không cần đền đáp, mình sẽ cám ơn cuộc đời đã cho mình quá nhiều. Nhạc sĩ Hoài An mơ được nghe tiếng mẹ cha, mơ một khúc kinh cầu, mơ được sửa chữa lỗi lầm. Vậy bây giờ mình đang sống đây, hãy thương cha mẹ hết lòng, hãy tu tập hết lòng, hãy sửa chữa lỗi lầm hết lòng, đừng có đợi ngày mai, ngày mai mình không còn nữa.

Trai đàn chẩn tế là sự phát triển của cầu siêu với đối tượng lớn hơn, nhiều hơn, không chỉ là người thân quá vãng, mà muôn loài đã quá vãng, không phân biệt bất cứ ai hay bất cứ loài nào. Tất cả vong linh, mười loại cô hồn mười phương đều tề tựu một nơi, cùng nhận vật phẩm cúng dường, gặp gỡ nhau, cùng sám hối, cùng thực tập và cùng siêu thoát với nhau. Lễ này là một lễ hội, người còn sống và người quá vãng gặp gỡ, dù không thấy nhau nhưng dòng máu huyết thống cảm nhận điều đó, và hơn nữa là hơi ấm đồng loại, chia sẻ tình thương, chia sẻ pháp môn tu tập, và thật hay nếu có hằng hà sa số vong linh siêu thoát cùng một lúc.Trai đàn là đàn chay, cung cấp thức ăn chay tịnh cho tất cả vong linh, chẩn tế là phân phát sự cứu giúp đến muôn loài quá vãng đang cần cứu giúp để thoát khỏi ra những hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, ngặt nghèo. Đây đích thực là việc làm của tình thương, không phân biệt, không kỳ thị. Các nghiệp lực ngăn cản vong linh siêu thoát, nghiệp lực nhẹ có nhiều cơ may tham gia trai đàn, nghiệp lực nặng quá phải tham gia nhiều lần mới mong giải toả oan kết. Muốn biết mình sẽ đi tiếp ở cõi nào, chỉ cần nhìn vào nghiệp lực của mình, tức là nhìn vào cách mình hành động, nói năng và suy nghĩ, cách mình đối đãi với bản thân và người khác cũng như cách mình chuyển hoá các khổ đau. Cầu siêu cho các vong linh cũng là cầu siêu cho chính mình, là cơ hội nhìn lại mình cần phải làm gì để tự siêu thoát, không phải nhờ đến tha lực. Tuy nhiên, cho dù được siêu thoát, nghiệp lực vẫn phải trả và nếu biết thực tập, khổ đau sẽ giảm, đồng thời an lạc có mặt ngay trong những khổ đau. Không muốn rước hoạ vào thân thì đừng làm những gì mang tính tai hoạ. Trai đàn chẩn tế phần nào hướng dẫn cách phòng tránh và đương đầu với tai hoạ một cách bình an.

Bên cạnh việc cung cấp thức ăn cho vong linh, điều quan trọng là hướng dẫn họ tu tập. Trước hết là thọ Tam Quy, theo đó hướng dẫn vong linh quay về nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng. Bấy lâu nay, họ không nơi nương tựa, hoặc không biết nương tựa vào ai. Nếu có nương tựa thì nương tựa nhầm chỗ, bởi không có ai chỉ cho, trường hợp được chỉ thì nghị lực không đủ mạnh để buông bỏ những ảo tưởng cũ. Nhiều vong linh rất ham vui, thích đi chơi hay đến những nơi có người cúng kiến cúng quải, rồi quên thực tập nương tựa. Nương tựa Phật, họ quyết chí quay đầu là bờ, đến những nơi đang tụng kinh để nghe, thân tâm nhẹ nhàng hơn, giảm bớt những khổ sở. Nương tựa Pháp, họ đến nơi có pháp âm thuyết ra để nghe, cam kết thực tập theo và phát nguyện siêu thoát. Nương tựa Tăng, họ đến nơi tăng đang thực tập như tụng kinh, niệm Phật, hành thiền, rồi bắt chước làm theo. Thọ trì Năm giới là bước kế tiếp, theo đó các vong linh tiếp nhận Năm giới thật kỹ, ghi nhớ và thực tập. Giới thứ nhất là bảo vệ sinh mạng, giới thứ hai là tôn trọng quyền tư hữu, giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh, giới thứ tư là tôn trọng sự thật, giới thứ năm là bảo vệ và nuôi dưỡng thân tâm. Năng lực siêu thoát có được do khả năng tự tu tập, buông bỏ việc phạm giới và quay trở về con đường giữ giới. Người giữ giới miên mật chắc chắn không sinh vào đường ác đạo và người thường xuyên tái sinh làm người hay cõi trời là do hành trình giữ giới liên tục của họ. Giới là niệm và niệm là giới. Người có niệm sẽ giữ được giới và giới là một yếu tố trong Tam Học: giới, định, tuệ. Ngày nay việc giữ giới cần phải mở rộng vì thái độ loài người thay đổi vô chừng. Tầm vóc việc chế tác giới luật cần thay đổi theo tầm vóc thời đại. Chẳng hạn giới bảo vệ sinh mạng trước đây áp dụng cho con người, động vật, côn trùng…, thì bây giờ phải thêm vào bảo vệ môi trường, thiên nhiên, nguồn nước, không khí… Làm ô nhiễm nguồn nước hay không khí cũng tương đương với phạm giới sát sinh.

Quỷ đói là loài ngạ quỷ lúc nào cũng đói khát, thiếu thốn thức ăn lẫn tình thương. Thân hình luôn tiều tụy, chỉ còn da bọc xương, cái bụng to như cái trống nhưng cái cổ nhỏ như cây kim, uống ăn đều chẳng được. Nếu có người bố thí cúng quải cho, cũng khó lòng mà thọ lãnh. Nghiệp chướng tiền kiếp khiến mọi cố gắng đều vô nghĩa, nhưng nhìn thấy cơm không thể ăn được, thấy nước không uống được. Người thân cúng dường phải biết niệm chú hay khấn nguyện giúp thức ăn tan chảy, cái cổ to ra, cái bụng bé lại, họ mới thọ lãnh trọn vẹn. Tháng bảy là thời gian thích hợp tổ chức trai đàn chẩn tế cầu siêu cho ngạ quỷ nhưng người muốn cứu giúp, thời điểm nào cũng có thể tiến hành. Hạnh hiếu hiền của thầy Mục Kiền Liên là tấm gương cần noi theo vì thầy đã nỗ lực cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ nhờ chú tâm cầu nguyện và hồi hướng phước báu. Lễ Vu Lan bắt đầu có từ đó, vì người đời học theo hạnh hiếu thảo của thầy. Ngày nay người ta còn cúng thí cô hồn, nhưng trong buổi lễ, hầu như họ ít cầu siêu cho vong linh hay giúp họ mau chóng siêu thoát, mà cứ cầu xin cái này, cái kia cho công việc làm ăn của mình. Điều này khiến cho những kẻ gian lợi dụng người cõi âm mà không biết rằng họ đã quá khổ lại càng khổ thêm. Cõi âm không có hoà bình thì cõi dương không bao giờ được yên ả vì các cõi có liên hệ tương tức với nhau. Hỗ trợ cõi âm mau chóng siêu thoát cũng là giúp cho cõi dương được thêm có điều kiện an lành. Rất ít người tin vào việc này vì họ cho rằng chết là hết hay chết sinh về thế giới bên kia, chắc cũng hưởng an lạc thái bình. Sự sống là sự liên tiếp diễn ra của sinh và diệt nhưng vì liên tiếp như vậy nên chẳng thấy gì sinh cũng chẳng thấy gì diệt. Người cõi âm cũng đang sống đấy thôi, chỉ có điều họ ở dạng hoàn toàn khác nên mình không thể nhìn thấy.

Cầu siêu không nên để tâm kỳ thị vì nếu không, hiệu quả sẽ giảm đi. Trong bài kinh hồi hướng có câu, Nguyện đem công đức này – Hồi hướng đến khắp nơi – Chúng sinh trong mười phương – Đều có thể thọ hưởng. Như vậy, người thọ hưởng công đức là khắp mọi nơi, mọi đối tượng. Ngay cả người bị cho là kẻ thù cũng phải được hồi hướng đến, trước hết đem lại sự an lạc cho mình, sau đó đến họ. Thông thường mình cầu siêu cho người vừa quá vãng, nhưng phải chú ý đến tổ tiên mười phương vì hằng hà sa số cha mẹ trong tiền kiếp vẫn còn người phải chịu trong cảnh khổ. Tâm không kỳ thị tức là tâm bình đẳng, bình đẳng trong việc cầu siêu hay tế độ cho tất cả muôn loài, kể cả các loài động vật hay côn trùng. Uống nước hay dùng cơm cũng phải cầu siêu vì trong nước và cơm, có biết bao nhiêu sinh mạng đang ăn nhờ ở đậu nơi đó. Ngày xưa đức Phật cầm bát nước lên nói với đại chúng, trong bát nước này có vô số sinh mạng, rất ít người tin điều này, nhất là các cư sĩ. Bây giờ, khoa học chứng minh trong nước có nhiều vi trùng, người ta mới liên tưởng đến lời đức Phật từng nói.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 09:33 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
BẢO VỆ SỰ SỐNG ĐẾN TẬN CÙNG CỦA TẾ BÀO

Cây sứ còn rất nhỏ, nếu mỗi ngày có người tưới nước và chăm sóc, nó sẽ lớn lên và trổ hoa. Hoa sứ màu hồng đỏ, rất đẹp, không sống lâu, khoảng 3-4 ngày là héo và rụng xuống. Thân hoa trở thành đất và nuôi dưỡng trở lại cây sứ. Nhìn cơn mưa, nó không thể là cơn mưa nếu không có sự tổng hợp của hằng hà sa số hạt mưa và hạt mưa không làm được gì nếu một mình đơn độc. Điều cần chú ý là trận mưa có mặt là nhờ từng hạt mưa có mặt, nên trân quý trận mưa, là trân quý từng yếu tố của nó, là hạt mưa. Mỗi hạt mưa nuôi dưỡng cả cơn mưa và các loài sinh thực vật. Nhìn cậu bé đôi mắt tròn xoe, nụ cười chúm chím, đôi bàn tay bụ bẫm chạy nhảy ngoài vườn. Bé lớn lên từ một phôi bào rất nhỏ nhưng vì được gìn giữ, được chăm sóc, cái phôi đó lớn lên, đẹp đẽ và vĩ đại như bây giờ. Đứa con là thành tựu của cha mẹ và hỏi sự nghiệp của ông bà là gì, họ nói, là đứa con của tôi với tâm trạng rất đỗi tự hào. Nhớ lại ngày xưa, cây sứ con bị chặt bỏ, người sẽ không có cây sứ, không có hoa, không có màu hồng, không có gì cho chim chóc, cho đàn bướm bay về. Không có những hạt mưa nhỏ góp lại, mình không thể ngắm mưa qua khung cửa và không thấy nó đẹp như bức tranh. Mưa là sự tiếp nối của đám mây, nhờ mây biết giữ gìn nên cơn mưa mới đẹp như vậy. Đứa trẻ là sự tiếp nối của cha mẹ, là kết tinh tình yêu giữa người nam và người nữ nên giữ gìn đứa con là giữ gìn tình yêu. Mình thường lên tiếng bảo vệ thiên nhiên và các loài động vật, vậy không có lý do gì không bảo vệ đứa con của mình.

Số người trẻ quan hệ tình dục trước hôn nhân không biết cách bảo vệ ngày càng đông và những sinh mạng mới được hình thành. Tác động bởi phim ảnh, bạn bè, môi trường không lành mạnh, trào lưu văn hóa sống thử khiến họ bị mê hoặc bởi những cảm xúc được nguỵ biện là chứng minh cho tình yêu. Bây giờ người ta yêu bằng mắt và xác thịt nhiều hơn yêu bằng con tim, tình yêu đích thực trở thành của hiếm. Mối quan tâm về trách nhiệm bị đặt ở mức tối thiểu và khi có thai ngoài ý muốn họ chối bỏ sự sống bằng cách tự cho mình cái quyền vứt đi mầm non vừa chớm nở. Vong linh thai nhi vì thế có mặt và số lượng vong linh này ngày càng đông, họ oán giận người từ chối họ, cướp đi sự sống của họ. Người biết giữ giới, trong đó giới thứ nhất là bảo vệ sinh mạng muôn loài, sẽ tuân thủ việc gìn giữ bào thai từ trong trứng nước. Vong linh thai nhi trở nên dày đặc hơn và tiếng kêu khóc của chúng vang lên khắp nơi, nào là đói lạnh, nào là không nơi nương tựa, nào là thiếu thốn tình thương, nào là bị ruồng bỏ, nào là bị hất hủi. Ngay cả một cái tên chúng cũng không có, nói chi đến thức ăn, cúng quải hay dẫn đến chùa để nghe kinh kệ. Vô hình chung, đứa trẻ trở thành dây oan với cha mẹ của chúng. Nhiều người hiếm muộn con cái, sinh con không nuôi được hay đứa con mất khi còn trẻ là do trong kiếp quá khứ đã vứt bỏ con của mình. Nhiều nguyên thủ quốc gia, cha mẹ hay bác sĩ rất dại dột đã ban hành những luật lệ, khuyến khích, thậm chí dùng lời đe doạ để ép buộc người khác từ bỏ sự sống trong cơ thể. Hổ dữ còn không ăn thịt con, gà mái yếu ớt vẫn giang rộng đôi cánh che chở cho đàn con, kanguru bỏ con vào túi để mang con theo suốt ngày, vậy mình là người, sao lại đành đoạn vứt bỏ núm ruột của mình, đứa con là máu thịt, là tình yêu, là vẻ đẹp vĩnh hằng. Mình ơi, mình phải biết hy sinh cho đứa con, đó là niềm hạnh phúc vô tận. Thương con, mình bảo vệ cho con. Người có tình thương sẽ bảo vệ sự sống đến tận cùng của tế bào.

Bảo vệ sự sống bào thai là bảo vệ chính mình, cho phép bản thân có sự tiếp nối và đi vào tương lai. Thật vui mừng khi người mẹ cảm nhận mầm sống lớn dần trong cơ thể, mẹ đi, con cũng đi, mẹ ăn, con cũng ăn, mẹ vui, con cũng vui, mẹ cười, con cũng cười. Người không có quyền tước đi quyền làm con và hơn cả là không có quyền tước đi quyền làm người của con. Ngày vừa mới hình thành, con mừng lắm, bởi vì con biết rằng, con sắp được nghe tiếng mẹ nói, ngắm nhìn bầu trời xanh và chạy tung tăng giữa không gian thênh thang. Con hạnh phúc khi được làm con của mẹ và không biết mẹ có sung sướng như con không. Nếu quí vị đọc cuốn sách Thiên thần sám hối của Duy Anh, sẽ thấy đứa trẻ bị chối bỏ đau khổ như thế nào. Được sinh ra đời là diễm phúc lớn nhất của một sinh linh, mình may mắn khi cha mẹ gìn giữ mình, cho phép mình ra đời. Thầm cám ơn cha mẹ đã sinh ra mình, cho mình được sống để tu tập, để hạnh phúc với cuộc đời. Sinh ra làm người là điều hết sức hi hữu vì biết bao chúng sinh vẫn còn lăn mình trong các cõi khổ, mong dứt hết nghiệp bất thiện trở lại làm người. Hãy cho đứa con cơ hội làm người là như vậy bởi vì chỉ có kiếp người mới tu tập được, mới giải thoát được. Sinh về cõi dưới hay cõi trời khó tu lắm. Cõi dưới khổ quá, tu không nổi. Cõi trời vui quá, làm biếng tu. Chỉ có con người đủ điều kiện để thực tập hạnh phúc, chuyển hóa nỗi khổ niềm đau. Vậy khi đang làm người, hãy lo hạnh phúc đi và nếu sinh mạng mới sắp chào đời, đó là sự kiện tuyệt diệu vì sắp sửa có người cùng mình thực tập trên con đường hạnh phúc. Nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn làm đủ mọi cách để có con như cầu nguyện, nhờ khoa học, canh ngày giờ… Trong khi đó, mình là người mắn con, có nhiều con, mình sung sướng vì điều đó mới phải. Những thứ mình trân quý nhiều nhất, đứa con là điều phải trân quý nhiều hơn cả, bởi đó là sự sống nhiệm mầu, là tình thương vô tận.

Thông thường, đứa con được dạy là phải hiếu thảo với cha mẹ nhưng cha mẹ cũng phải biết ơn đứa con. Hãy suy nghĩ vì sao đứa trẻ không chọn ông bà kia làm cha mẹ mà chọn mình, vì mình có duyên với đứa con. Đứa con mang đến niềm vui, sự chia sẻ, tình cảm cha mẹ gắn bó hơn và là thành tựu của tình yêu. Nếu chưa muốn có con, đừng để tình trạng có con xảy ra. Nếu biết sức khỏe yếu kém, đừng để cho việc hình thành phôi thai diễn ra. Một khi người ăn nằm với người khác, người phải có trách nhiệm với người ấy và sinh mạng mình tạo ra cũng như hoàn cảnh sống của sinh mạng ấy. Việc người nữ hay người nam tìm đến với nhau nhằm thoả mãn dục tình không bao giờ giải quyết được sự cô đơn mà còn tạo ra những hệ lụy, gia tăng thêm khổ đau và lập hàng rào ngăn cách. Sống là biết giữ gìn cho bản thân và người khác. Thực tập nếp sống lành mạnh và khả năng tự chủ để những cái gọi là “ngoài ý muốn” không xảy ra, trường hợp có xảy ra người biết nhận trách nhiệm và đứng ra lo cho trách nhiệm của mình. Nếu thực sự yêu thương, người giữ gìn cho nhau, nếu đến với nhau, phải có trách nhiệm cho nhau. Tình yêu đích thực là biết hy sinh, chia sẻ và giữ gìn, còn đòi hỏi, ép buộc và buông thả thì cái gọi là tình yêu kia chỉ là mớ bong bóng. Vấn đề không phải là có nên phá thai hay không mà vấn đề là thực tập như thế nào, ăn ở như thế nào, sinh sống như thế nào, yêu thương như thế nào để tình trạng có thai không xảy ra. Yêu thương phải có chánh niệm, biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm. Đã buông thả bản thân, còn đòi hỏi quyền phá thai, có phải quá đáng hay không. Thương người, nên gìn giữ cho người và gìn giữ cho mình. Giới thứ ba của Năm giới cư sĩ là bảo vệ tiết hạnh, tức là không ăn nằm với người không phải là chồng hay vợ của mình. Điều này còn có nghĩa, người nam và người nữ quen biết và yêu thương, là bạn trai bạn gái, chưa phải là vợ chồng, thì không nên quan hệ tình dục trước hôn nhân. Nói rộng ra, xã hội không cần và cũng không cần thiết cổ xuý cho cái gọi là sống thử hay tìm hiểu đối tượng về mặt thể xác.

Con người phát triển từ một tế bào gốc nhỏ bé gọi là phôi bào hay phôi thai. Phôi này bị tiêu diệt đồng nghĩa con người không có cơ hội sống, nói chi đến phát triển hay nền văn minh. Một số nhà khoa học biện minh cho hành động sử dụng tế bào gốc để nghiên cứu thuốc men hay các phương thức trị bệnh. Điều này hết sức vô lý, vì huỷ diệt sự sống của tế bào sau này phát triển thành con người để cứu mạng người khác không thể cho là hành động cứu người. Các loài sinh vật cũng vậy, chúng bị lợi dụng cho nghiên cứu khoa học, thử thuốc, bị giết hại làm thịt phẩm, bị lấy xương da làm trang sức, quần áo hay đồ trang trí. Giới thứ nhất nói rõ về việc bảo vệ sự sống của muôn loài, kể cả những loài nhỏ nhất. Một học trò hỏi, con đi học trong trường, môn sinh vật học đòi hỏi phải thực tập ở phòng thí nghiệm, phải mổ ếch mổ cá, nếu không sẽ bị điểm không hoặc bị thi rớt. Vậy có điểm kém hay bảo vệ sự sống của loài cá, loài ếch, mình chọn bên nào? Có bao giờ nghĩ mình thà bị điểm kém còn hơn cầm dao giết hại sinh vật. Người ăn chay biết rằng cơ thể sẽ yếu đi, không đủ chất dinh dưỡng nhưng vẫn ăn chay vì nhờ đó nuôi dưỡng được lòng từ bi và bảo vệ sự sống muôn loài. Ngay cả con kiến còn không dám giết thì nỡ lòng nào tước đi mạng sống của con cá, con ếch hay con chuột bạch. Nói trở lại tế bào gốc, đó là nền tảng phát triển sự sống. Bảo vệ nó là bảo vệ sự sống, bảo vệ loài người. Bên Trung Quốc có mấy con gấu trúc rất đẹp, dễ thương và hiền lành. Mọi người ra sức bảo tồn chúng trước nguy cơ bị tuyệt chủng nên tìm cách nhân bản hay giữ gìn trong các khu thiên nhiên dành riêng. Các loài động vật được trân quý như thế, con người cần trân quý chính mình nhiều hơn như vậy.

Đức Phật ngày xưa yêu cầu các tu sĩ mỗi năm an cư kiết hạ vào khoảng tháng tư đến tháng bảy âm lịch. Thời gian này là mùa mưa, nhiều loài sinh vật và côn trùng sinh sôi nảy nở, việc đi khất thực hay hoằng pháp khắp nơi có thễ dẫm đạp lên chúng nên ngài yêu cầu chư tăng an cư một chỗ vừa lo tu tập vừa tránh được việc sát sinh. Bất cứ sinh vật nào cũng khát khao sự sống, kể cả các loài cỏ cây. Khi đã muốn sống thì là muốn sống lâu, khoẻ mạnh. Thực tập nếp sống từ bi để trân quý sự sống của mình và trân quý sự sống muôn loài. Thực phẩm thực vật có đầy đủ chất chất dinh dưỡng mà thực phẩm động vật có, hơn nữa ăn chay giúp an tịnh thân tâm. Bên cạnh đó, giải trí lành mạnh, tiếp xúc với bạn bè lành, sử dụng các phương tiện hoà bình, người thiết lập lối sống giản đơn, không cầu thị, không lo lắng nhiều. Mình thường đòi hỏi cha mẹ phải thương mình, phải lo cho mình, bản thân cũng phải thương con của mình như vậy. Nếu ngày xưa cha mẹ không cưu mang mình, mình sẽ không có mặt trên cõi đời này và có thể tiếp tục luân hồi ở tận đâu đâu. Mình thương bản thân, thương con của mình, thương đồng loại, thương muôn loài, thương cỏ cây. Ai cũng thương thì không cần ngồi suy nghĩ người này nên ghét hay thương. Bên cạnh chỗ tôi ở có ngôi nhà nuôi dạy trẻ, ngày nào cũng nghe chúng nói chuyện huyên thuyên, chơi đùa, ca hát, rất là vui. Thật may mắn khi có mặt những đứa trẻ. Khuôn mặt chúng đẹp như bông hoa, đôi mắt như bông hoa, đôi bàn tay như bông hoa, tiếng nói như chim hót, chúng không biết giận không biết buồn, chỉ biết yêu thương, chỉ biết vui vẻ. Biết đâu sau này, trong số chúng có những đứa lớn lên trở thành tu sĩ, rồi thực tập hạnh phúc, rồi thực tập giải thoát, mang lại lợi ích cho đời không biết bao nhiêu. Mình thương đứa con, nên cho đứa con cơ hội được sống, được yêu thương, được hạnh phúc, được giải thoát. Mẹ tôi kể, ngày xưa ba tôi bắt mẹ bỏ cái thai mang trong người là chị của tôi. Mẹ phản đối kịch liệt và gìn giữ chị ấy bằng tất cả tình thương của mẹ. Nếu mẹ không làm vậy, bây giờ đâu có chị tôi, tôi đâu thắm thía được tình thương của chị hay hiểu rõ tâm sự của nhạc sĩ Trần Tiến qua bài hát Chị tôi.

Hãy cho con quyền được sống, được lớn lên và được cống hiến cho đời những hoà bình. Sáng nay, một nụ hoa vừa mới nở, à không đó chỉ là một cánh lá thôi, cánh lá còn non và tươi mới nhưng rất đẹp, trên đó có đậu một hạt sương long lanh. Hạt sương chứa đựng cả vũ trụ, cánh lá cũng vậy, nụ hoa cũng vậy, đứa con cũng vậy. Con là đại diện cho một vũ trụ ra đời, nuôi dưỡng con là nuôi dưỡng cả vũ trụ. Cách đây vài tháng, một chú chim non tập bay bay vào phòng làm việc của tôi và ngã xuống. Nó cất tiếng kêu inh ỏi, một hồi sao mẹ nó chạy tới, rồi ba của nó. Ba mẹ cũng cất tiếng kêu inh ỏi như thế. Tôi ôm ấp chú chim non trong lòng bàn tay và đem ra ngoài ban công, chú thấy ba mẹ liền bay đi. Chắc hẳn chú hạnh phúc lắm khi nhìn thấy và tìm lại được ba mẹ, chú vỗ cánh tung tăng không ngã nữa. Cái ngã đau ban đầu cho chú một bài học nên biết thế nào để không bị ngã đau. Đứa con cần tình thương của cha mẹ, cần dìu dắt, cần nâng đỡ. Cha mẹ cũng cần đứa con, cần mái ấm gia đình, cần sự quây quần, cần tiếng cười trẻ thơ. Ngày mai con lớn khôn, đứng vững trên đôi chân, cha mẹ mừng lắm vì nhìn thấy sự tiếp nối của mình đi khắp nơi. Xin đừng xem con là của nợ, con không phải như vậy bởi vì con biết rằng con là món quà vô giá, là hiện thân của vũ trụ, chỉ có cha mẹ mới đủ sức cán đán việc chế tạo vũ trụ đó. Cha mẹ thương con nên cho con ra đời, cho con quyền được sống và vì muốn con sống tốt, cha mẹ gìn giữ những hạt giống của cha mẹ trong con, không cho nó bệnh tật, không cho nó buông lơi. Cha mẹ hãy tu tập vì con, như thân cây khoẻ mạnh, biết nuôi dưỡng cành lá và bông hoa. Nếu nói hoa trái là thành tựu của cây thì con là thành tựu của cha mẹ, của yêu thương và sự chăm sóc đích thực.

Phá hủy sự sống càng nhiều, địa ngục càng dữ dội. Nhìn những dòng sông, nơi thì cạn kiệt, nơi thì lũ lụt, nơi thì ô nhiễm trong khi con người sống nhờ vào chúng. Nhìn cỏ cây, chúng héo úa đi vì trái đất nóng lên, hiện tượng sa mạc hóa và hạn hán không đủ nước để tưới. Không khí thiếu ôxi và dư thừa khí cacbonit, người khó thở hơn và các bệnh hô hấp cứ xuất hiện. Cúm A/ H1N1 là một minh chứng cho sự sống bị hủy diệt, số người mất gia tăng và khoa học tự cho là rất tự hào vẫn đang tìm tòi vaccine. Trẻ em chết vì đói lả, bệnh tật, không y tế, không giáo dục. Chúng bị bỏ bê, người trẻ không được quan tâm, mạng lưới Internet cổ xúy cho lối sống nhanh, đi nhanh, ăn nhanh, yêu nhanh, làm việc nhanh rồi cho đó là giỏi, là hay, là xuất sắc. Trần gian này là một thứ địa ngục và càng ngày càng tệ. Hình như người ta thích đi vào những cái tệ như thế nhưng luôn vỗ tay cho là tốt. Chỉ cần dừng lại và thay đổi, cái gọi là địa ngục kia sẽ được chuyển hóa, người tiếp xúc với nhiều mầu nhiệm của sự sống. Mình không xây địa ngục hay thiên đàng cho những đứa trẻ, nhiệm vụ của mình là đảm bảo hạnh phúc chân thật cho mình và cho những tiếp nối từ mình.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-06-2016 , 09:35 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CON NGỰA THÀNH TROY.

Mỗi lần có chút thời gian rảnh rỗi, mình mở chiếc điện thoại di động hay máy vi tính lên chơi game hay nghe nhạc. Làm việc cật lực, kiếm thật nhiều tiền để rinh cái tiện nghi về, mà tiện nghi ở đây là gì, là cái điện thoại, cái vi tính, cái máy truyền hình… Một bữa đang ngồi học trong lớp tiếng Pháp, bỗng nghe âm nhạc rên rỉ ma quái cất lên, tôi tưởng nhà nào gần đó mở ti vi lớn, ai ngờ đó là âm thanh chiếc điện thoại di động. Mình thích nuôi dưỡng bằng các âm thanh kích động như vậy và mang vào lớp bắt người khác nghe những thứ kích động. Trên vi tính và đặc biệt là mạng lưới Internet đầy dẫy những âm thanh này. Nói rằng mạng lưới kết nối con người lại với nhau nhưng thực ra làm cho họ thêm lười biếng, lười giao tiếp và làm tha hóa ngôn từ. Bao nhiêu cạm bẫy ở trên đó, bao nhiêu tà dục lôi kéo người trẻ, biến thành mạng lưới giải trí ảo và tình hình xấu đi. Mình ra cửa hàng mua cái máy vi tính là mang cái ảo về, mang cái tà dục về mà không biết. Người lớn phải thiết lập không biết bao nhiêu mật khẩu, bức tường lửa, phần mềm ngăn chặn để không cho trẻ em xâm nhập vào, gây sự lầm tưởng và điên đảo với tâm hồn non nớt của chúng. Truyền hình ngày nay có hàng trăm kênh, loại nào cũng có, kiểu nào cũng được và mình ra cửa hàng điện máy khiêng nó về, nó ngồi chiễm chệ trong phòng khách hay phòng ngủ. Phim bộ dài lê thê kéo từ năm này qua tháng nọ, hình ảnh quảng cáo chớp nhoáng, vợ xem mặc vợ, chồng đọc báo mặc chồng. Có những đứa trẻ phải xem quảng cáo mới chịu ăn cơm và dính vào đầu óc hình ảnh siêu nhân, sự đau khổ của nhân vật hay cách ăn nói buông thả của thần tượng.

Thực ra mình đang nối giáo cho giặc hay nuôi ong tay áo. Điện thoại di động, mạng Internet, máy truyền hình là một thứ giặc nếu sử dụng chúng không có chánh niệm. Không ai cấm mình mua và sở hữu chúng, nhưng mình xài như thế nào, tiêu thụ như thế nào để thấy khỏe, nuôi dưỡng và tưới tẩm được những hạt giống lành mạnh. Bản thân đã có nhiều sợ hãi còn mời các phương tiện kia tưới tẩm sự sợ hãi, kinh dị, bạo động, ma quái, thèm khát, hận thù, có phải mình rước giặc và mời họ vào nhà không. Trong nhà có rất nhiều giặc, không phải chỉ có bên ngoài, giặc đó nằm trong tâm của mình, người ta gọi là những tên trộm tâm. Chính chúng làm mình tê liệt, đau khổ, mệt mỏi và địa ngục hiện tiền. Mình xem ti vi thấy người ta ganh ghét đấm đá nhau, lừa lọc phản kháng, mình cũng bắt chước như vậy, xem đó là tuyệt vời là hay ho. Có người còn nói mình khóc như vậy là vì mình đồng cảm mà không biết đang chìm đắm trong thú đau thương. Ít khi nhìn nhận những hành động đang làm không có lợi cho mình. Một người bạn kể tôi nghe về ngày làm việc rất căng thẳng với bao nhiêu vấn đề phải giải quyết, về nhà vợ than con khóc, bật ti vi lên xem toàn những cảnh bạo lực hay tình cảm sướt mướt. Anh ngán ngẩm, không biết mình sống vì cái gì. Tại sao phải ngồi tự trách như thế? Làm việc hết lòng, tìm niềm vui trong công việc. Dành thêm thời gian cho gia đình, lắng nghe vợ, khuyên dạy con, nụ cười sẽ trở lại ngôi nhà. Lựa chọn kênh truyền hình thích hợp để xem, kênh nào bạo lực và ướt át quá đừng xem, chỉ xem kênh nhẹ nhàng và có tính giáo dục. Mình ngán ngẩm là do mình chọn, tại sao phải kêu ca. Ngồi than hay tự trách có giải quyết gì, có chăng làm cho sức khoẻ sa sút và suy nghĩ thất niệm. Khi còn nhỏ, mình rất tươi mới, lớn lên, mình ôm công việc vào, ôm tình cảm vào, ôm các đòi hỏi tiện nghi vào, ôm đủ thứ, nó trở thành giặc trong mình và mình là tù nhân. Mình bị sai khiến bởi những thứ giặc và giặc càng ngày càng đông.

Công việc là tên độc tài, xâm chiếm hết thời gian. Mình làm công việc thứ nhất chưa đủ, mình tìm công việc thứ hai, thứ ba, thứ tư. Cái gì sai sử, điều khiển mình, không cho mình cục cựa hay lên tiếng phản hồi, đều gọi là độc tài. Đã gọi là độc tài nên không nghe ai, chỉ biết có mình, mặc kệ hiện trạng của người. Một cư sĩ kể anh ấy đi xem nhạc rock, mọi người gào lên, thét lên, khóc hét om sòm. Âm nhạc là tên độc tài, nó bắt người phải quay cuồng như vậy. Nếu tiêu xài và giải trí ít, mình không phải làm việc nhiều, sống đơn giản và làm việc đơn giản, có nhiều thì giờ chăm sóc người thương và thực tập hạnh phúc. Đòi hỏi nhiều, nhu cầu nhiều, làm việc nhiều, đó là chuyện đương nhiên. Công việc đầu tắt mặt tối rồi chứng minh là người bận rộn, là một cái tham, tham chứng tỏ, muốn cho người khác biết mình giỏi giang, chẳng qua là nhằm phục vụ nhu cầu bản thân mà thôi. Muốn sống thảnh thơi hay bù đầu bù cổ do mình chọn, chọn thảnh thơi sẽ được thảnh thơi, chọn bận rộn sẽ được bận rộn. Trong thời đại bận rộn, ai cũng làm việc và nói đến chuyện thảnh thơi chắc mắc cười lắm. Thảnh thơi không phải là không làm gì cả, mà chỉ làm những gì đáng làm, không làm những gì không đáng làm. Làm việc cứ làm, đừng có lo sao làm lâu chưa được tăng lương hay thăng tiến. Sau giờ làm việc, nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình, biết cách giải trí lành mạnh, không đi vào thế giới ảo. Sống tiết kiệm rất hay, tiết kiệm khác với keo kiệt. Keo kiệt mang tính xan tham, tiết kiệm mang tính phòng thân, giảm bớt sự lo lắng về tương lai. Thiền tập là sự giải trí và nghỉ ngơi vi diệu, không tốn tiền gì hết, vừa tiết kiệm vừa có sức khoẻ. Thiền công việc giúp công việc mang tính chất thư giãn, không cần đi massage hay chơi thể thao quá mức. Nhiều vị tu sĩ làm việc nhiều, ăn ít nhưng vẫn khoẻ vì họ biết thảnh thơi trong công việc, không lo lắng, không rầu rĩ và nhất là không cạnh tranh, nên không gì chiếm hữu họ, không gì độc tài đối với họ.

Nói trở lại thú đau thương, nó có thể tạo ra địa ngục giả tạo, ăn từ từ vào da thịt và ngấm từ từ vào tâm. Sau này trong đời gặp chuyện tương tự, có thể mình hành xử rất đau thương. Người có ý niệm vì thương mình, mình phải làm cho nó đau, phải gây thương tích, phải xát muối. Người cảm thấy phấn chấn hay đê mê trong tình trạng đau thương, ngập chìm trong đau thương và bắt đầu có tà tư duy. Người hung dữ cho rằng người kia làm khổ mình nên mong cho người đó chết đi, gặp tai nạn hay chuyện xui xẻo. Người nhu nhược cho rằng mình đáng bị như vậy nên tự hành hạ, bắt người khác lo cho mình và tìm cách tự tử. Người thích nhìn những thứ độc hại, đôi mắt bị nhiễm độc. Người thích nghe những thứ độc hại, đôi tai bị nhiễm độc. Người thích ăn những thứ độc hại, cái miệng bị nhiễm độc. Người thích những xúc chạm độc hại, thân thể bị nhiễm độc. Người thích nghĩ về những thứ độc hại, tư tưởng bị nhiễm độc. Người trở thành một thứ chất độc, nguy hiểm và hết sức đau thương. Cũng vậy, khi đi vào một bài nhạc, bộ phim, cuốn tiểu thuyết, tin tức báo chí, mình tưới tẩm các hạt giống thèm khát, rồi tưởng tượng và cũng thèm khát đủ thứ. Xem thử cách người ta quảng cáo sản phẩm nhằm đánh vào tâm ham muốn của người, bắt người làm việc cật lực, để dành tiền và mua nó cho bằng được. Khi có nó, mình mân mê yêu thích, đây là yêu thích một vật dụng hay phương tiện. Đa số quảng cáo đều không thật. Một anh cư sĩ là chuyên viên quảng cáo (tiếng Anh gọi là copywriter) nói, anh phải tưởng tượng ra những ý tưởng kỳ lạ, thậm chí khác hẳn với sản phẩm được quảng cáo, nhằm thu hút khách hàng, đây là kiểu nói dối mà người đời chấp nhận. Tất cả là do tâm tham mà ra, vì tham nên đòi phải có sản phẩm đó. Nếu không tham, bài quảng cáo hay cách mấy cũng chỉ là bài quảng cáo, không làm người khó xử hay dằn xé trong tâm.

Ngày xưa một con ngựa đi vào thành Troy, người ta tưởng chiếm được nó là có hạnh phúc, ai ngờ khi đi vào thành nó gây biết bao tai hoạ và người dân mất thành luôn. Nàng Tây Thi đi vào nước Ngô, Phù Sai tưởng nàng đã là của mình, nhưng nàng đã làm cho nước mất nhà tan. Bây giờ, mình nghĩ chiếm được cái gì, sỡ hữu cái gì, như con ngựa, nàng Tây Thi hay điện thoại di động, mạng lưới Internet, máy truyền hình, mình cũng sẽ tan nát như dân thành Troy hay Ngô Phù Sai. Cái gì đưa vào cơ thể phải có chánh niệm. Ăn có chánh niệm, tức là chỉ ăn những thức ăn lành mạnh, không gây bệnh, không làm gia tăng quá đáng năng lượng tình dục, không gây hại đến sinh mạng loài khác. Ăn vào thấy khỏe, an lạc và chỉ dùng thức ăn thức uống mang lại hoà bình cho thân tâm. Nhìn có chánh niệm, tức là biết nhìn thứ không gây hại. Sống trong tự viện mỗi ngày tiếp xúc với cỏ cây, hoa lá, hình ảnh đức Phật, tăng thân, mình được nuôi dưỡng nhiều. Lâu lâu vào rừng chơi hay chăm sóc cây cối. Còn đi vào thành thị, có đèn chớp nháy sáng loáng, xe cộ nườm nượp, nhìn thấy mấy thứ độc, nhiều khi hại đến thân tâm của mình. Nghe có chánh niệm, tức là lựa chọn âm thanh để nghe, từ chối âm thanh không cần thiết, và nên bỏ đi không cần nghe âm thanh gây sự thèm khát hay hận thù. Ngửi có chánh niệm, tức là biết mùi đó như thế nào, nhận diện nó và thu nhiếp tâm không cho điên đảo. Nhiều người cố tình sử dụng nước hoa đặc biệt nhằm thu hút sự chú ý hay tạo nội kết ở người khác. Nói có chánh niệm, tức là nói lời nhẹ nhàng, dễ thương, mang hạnh phúc đến người và mình. Lời nói đẹp mang người đến gần nhau, xoá bỏ khoảng cách và thấu hiểu nhau hơn. Xúc chạm có chánh niệm, tức là biết những sự va chạm chỉ là giả tạm, nó không mang lại hạnh phúc đích thực mà chỉ là những khoảnh khắc buông trôi, nhất thời. Ý thức về sự xúc chạm, biết mình phải nuôi dưỡng tâm hành đẹp, lựa chọn sống trong môi trường lành và quen bạn thích hợp. Suy nghĩ có chánh niệm, tức là biết mình đang nghĩ gì, rong ruổi, biết đang rong ruổi, lúc này cho phép nó quay trở về hiện tại. Rong ruổi theo suy nghĩ tà dục mà không biết sẽ bị nó níu lấy và sai sử ngược trở lại. Chánh niệm giúp suy nghĩ tà dục được nhận biết và thôi không suy nghĩ như vậy nữa, đây là tập buông bỏ trong suy nghĩ. Sử dụng phương tiện có chánh niệm, tức là phương tiện đó có chức năng nào mang lại điều kiện thực tập hạnh phúc, không lợi dụng nó để chế tác khổ đau. Có bài kệ về sử dụng máy điện toán: Sử dụng máy vi tính – Vào thế giới bao la – Tâm phải nhìn cho ra – Đâu là bạn là thù. Xài cái gì, sử dụng tâm thiện để xài một cách có hạnh phúc.

Dính mắc vào đối tượng nào đó, mình đang có nội kết về đối tượng. Nội kết gây ra đau khổ và biến cuộc đời tươi đẹp thành địa ngục. Cô tiểu thư có nội kết với tiếng hát Trương Chi, ăn không ngon, ngủ không yên vì cô thương tiếng hát quyến rũ của chàng. Khi gặp được chàng, cô mới xóa bỏ được nội kết vì chàng không đẹp như trí tưởng tượng trước đây. Lần này chàng Trương Chi có nội kết với cô, với sắc đẹp của cô. Biết thân phận nghèo hèn của mình, chàng buồn bã, lâm bệnh mà chết. Nội kết trong chàng lớn đến nỗi đóng thành cục, xác được thiêu, nội kết đó vẫn còn. Nội kết làm khổ bản thân rồi gây khổ người khác bởi sự ưa thích cái gọi là bên ngoài. Mình sống không có chánh niệm nên dính mắc đủ thứ. Cả cuộc đời là một chuỗi những dính mắc, nói đến đâu cũng có nội kết hay khối u. Nội kết phát triển do có tập khí cho phép các đối tượng bên ngoài đi vào như con ngựa thành Troy hay máy vi tính mà không có sự tỉnh giác. Tập khí là những thói quen xấu do thiếu khả năng và nghị lực để làm chủ bản thân. Giống như ai đó nói chuyện không liên quan đến mình nhưng mình tưởng nói về mình, nên nhảy dựng lên, tranh cãi đủ thứ. Người đứng ngồi không yên, nói năng lộn xộn, hoa tay múa chân cũng là thói quen không tốt. Do có thói quen thích nghe những âm thanh du dương, đê mê, huyễn hoặc, cô tiểu thư tự tạo nội kết với âm thanh ấy và dính vào nó, nên cô khổ. Cũng vậy, chàng Trương Chi bị mê hoặc bởi sắc đẹp của cô, thương dáng vẻ bề ngoài và cô cũng thế, thấy ghê sợ dáng vẻ bề ngoài của chàng Trương, cô và chàng đều khổ. Người nào cũng dính vào lớp vỏ trấu rồi tự sinh ra đau khổ.

Con người có những đau khổ đông lại lâu ngày không được giải quyết nên cứng như đá, khi gặp giọt từ bi tan ra chảy như nước. Người ôm ấp khổ đau quá lâu, đè nặng trên đôi vai gầy gò, đời sống thật thiếu sinh khí. Nỗi buồn kéo dài đến mấy mươi năm, thậm chí hàng trăm năm, cha ông buồn chưa đủ, bắt con cháu buồn theo. Tôi thích câu, buồn ơi chào mi hay buồn ơi tạm biệt nhé hay buồn năm phút thôi. Quan sát và nhìn sâu để biết mình buồn điều gì, nguyên nhân nào dẫn đến nỗi buồn, hành xử ra sao để không còn buồn nữa. Lúc nào cũng buồn, cơ thể sẽ tiết ra chất độc, riết rồi sinh bệnh. Người với tinh thần lạc quan nhìn đời bằng con mắt sáng đầy tình thương, dù có bệnh hay khổ đau vẫn mau chóng vượt qua. Nhiều chuyện không đáng để buồn nhưng lại thích buồn, chứng tỏ như bản thân là người có tâm sự, cố gắng làm người khác quan tâm, chú ý tới. Người đôi lúc chủ động rước cái buồn vào bên trong hay không có chuyện gì làm, kiếm cái buồn cho qua ngày đoạn tháng. Buồn ngày hôm qua dai dẳng đến ngày hôm nay và lan sang ngày mai, không biết làm thế nào hết buồn hay sống vui trong giây phút hiện tại. Ca sĩ Ngọc Lan hát thế này, buồn như ly rượu đầy không có ai cùng cạn, buồn như trong một ngày hai đứa không gặp mặt, buồn như khi gặp mặt không còn chuyện đầy vơi… buồn mỗi ngày buồn thêm. Đang vui nghe bài hát này xong chắc đứt ruột. Bài hát tưới tẩm những nỗi buồn không tên, người nghe rước vào lòng “đam mê buồn”. Mỗi ngày đều là một ngày vui, đáng sống, đáng hạnh phúc, đáng chia sẻ, vậy mà cứ để cho nỗi buồn ngự trị, có phải rất đáng tiếc không. Đủ sức khỏe để uống ly rượu kia là vui lắm, cũng chẳng cần uống rượu, uống nước lọc hay nước trà là vui rồi. Hai đứa sắp xếp thời gian gặp gỡ, đâu cần nói gì, im lặng ngồi nhâm nhi chén trà, vui chán. Ngày hôm sau thức dậy, thấy mình còn sống, mặt trời lên, rờ lên ngực tim còn đập, Chạy xuống nhà, thấy mẹ ngồi may vá, đứa em chơi đá banh ngoài sân, vườn cây hoa lan vừa nở, vài con bướm vờn bay, thật là vui. Trước giờ học tiếng Pháp ở IDÉCAF, tôi đi thiền hành trong vườn, tôi biết đây là cây mai, đây là cây sứ, đây là cây dương sỉ… Gọi tên từng cây như thế, vừa tận hưởng vừa học, vui làm sao. Học viên đông thế nhưng tôi dám cá là rất ít người bỏ thì giờ đi dạo rồi mới bước vào lớp hay họ bận rộn ngồi nói chuyện, ăn sáng, làm bài tập, suy nghĩ mông lung về công việc.

Đừng đem đau thương về nhà, nhà ở đây là thân và tâm của mình, mình chiều cái thân và cái tâm quá lâu. Thân thèm xúc chạm, mình chiều nó nên thân tàn tạ. Tâm thèm được ca tụng, khen ngợi, mình chiều nó nên tâm mãi lang thang, bị tổn thương. Hãy tập sự bình tĩnh bằng cách theo dõi hơi thở hay thiền im lặng, nghe nhiều hơn, cảm nhận nhiều hơn. Bình tĩnh nhận ra mấy tên giặc hay tên trộm không cho nó vào nhà, nếu có vào nhà thì mình vẫn là chủ nhà tỉnh thức, giặc hay trộm chẳng làm gì được.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 06-21-2016 , 05:15 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NHÂN QUẢ PHỤ GIẢI LƯƠNG HOÀNG SÁM (Tác giả CƯ Sỉ Quả Khanh )

QUẢ BÁO CỦA VIỆC ĐÓNG PHIM, LÀM PHIM BẠO LỰC, VIẾT KỊCH BẢN DIỄN TẢ CẢNH CƯỚP, GIẾT, DÂM HOẶC LÊN MẠNG CHIA SẺ NHỮNG HÌNH ẢNH XẤU, LỜI NÓI, BÀI VIẾT THÔ TỤC....LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC CỦA NHIỀU THẾ HỆ TRẺ: TƯƠNG LAI ĐỌA ĐỊA NGỤC. NGƯỜI XEM MÀ KHEN NGỢI, TÁN DƯƠNG CÁI ÁC CŨNG VÔ TÌNH TẠO TỘI NGHIỆP NÀY. KÍNH MONG AI NẤY CẢNH GIÁC!
Lúc ta xem phim tình cảm khiêu dâm hay đọc truyện tình dục, đa số trong lòng cũng dậy sóng, động niệm theo…chưa kể còn có người bắt chước theo… như xem phim , sách: “ Đại Đạo Tặc Giang Dương", "Thần Trộm” hay phim “ Cuộc đua tử thần” của Mỹ.v.v..., sẽ gieo ảnh hưởng xấu là : Trong đám khán giả ắt sẽ có người khởi ý niệm bắt chước hành vi đạo tặc, trộm cướp, giết chóc đó, tương lai qua vài kiếp, ý niệm đó làm nhân, tạo thành quả hành động, đó là họ sẽ làm y như phương thức giết người, trộm cướp như trong phim… thế là tội lỗi ngút trời.
Trong thực tế đã có rất nhiều chuyện xảy ra mà báo chí từng đăng tin là bằng chứng.
Các phim bạo lực, tình dục diễn cảnh cướp, diễn cảnh dâm..nhằm câu đông khách. Hễ càng “ cháy vé” (vé bán hết sạch) thì nghiệp tạo càng lớn. Như vậy cả ê kíp thực hiện phim đồi trụy này, tính từ nhà sáng tác, đạo diễn, tài tử diễn viên... tương lai sẽ phải vào địa ngục khó có ngày ra. Vì thời gian họ chịu quả báo địa ngục tính bằng tổng thời gian mà những khán giả xem phim bị ảnh hưởng xấu - tạo tội - chịu quả báo... cho tới khi tất cả số khán giả đó tội nghiệp tiêu hết, thì ê kíp làm phim mới được ra khỏi địa ngục. Diễn viên diễn mấy cảnh này càng nhập vai sống động thì tội càng lớn.
Trong giới điện ảnh, các diễn viên dành được giải Oscar, phần đông họ thường không hiểu vì sao gia đình mình thường mất hạnh phúc, bị tan vỡ đến quái lạ?
Chẳng hạn như trong tám vị hoa hậu điện ảnh vừa đoạt giải Oscar hiện nay thì có sáu vị lâm vào cảnh: phải li hôn hoặc chia tay bạn tình. Người Tây phương hoàn toàn không hiểu là do họ từng diễn quá xuât sắc các vai bất lương: khiêu dâm, đạo tặc..nên gia đình họ bị mất hạnh phúc, việc này là do quả báo của nhân ác kia.
Những tác phẩm và phim ảnh bạo lực gieo ảnh hưởng xấu tràn lan khắp nơi ta đều thấy. Như khi John Hinckley ám sát tổng thống Mỹ Reagan, động cơ tấn công của y xuất phát từ lòng hâm mộ cuồng nhiệt dành cho nữ diễn viên Jodie Foster trong bộ phim Taxi Drive (năm 1976). Bộ phim kể về âm mưu ám sát tổng thống Mỹ và hắn đã mô phỏng bắt chước theo. Ngày 30/3/1981, Hinckley mang theo súng và phục kích bên ngoài khách sạn mà Tổng thống Reagan đến dự hội nghị. Lúc 14h25 ( theo giờ Washington), khi Reagan vừa bước ra ngoài, John đã nã súng liên tục vào ông và các cận vệ. Tổng thống Mỹ bị thương nặng (do viên đạn bị gim vào ngực nên phải vào viện phẫu thuật gấp) nhưng may mắn qua cơn nguy kịch và thoát chết.
Vào ngày 16/4/2007 xảy ra vụ án giết người thê thảm tại trường Đại học Bách khoa Virginia ở Blacksburg Mỹ , do hung thủ Cho Seung Hui ( người Hàn Quốc) cũng là sinh viên Đại học Virginia, y giết 32 người và làm bị thương nhiều nguời, nhìn ảnh y cầm 2 súng ngắn chỉa ra hung hãn…(đây chính là ảnh hưởng từ phim bạo lực “Old Boys” của Hàn Quốc, bởi hung thủ rất mê và sùng bái phim này).
Do vậy mà những nhà sáng tác, biên kịch hay đạo diễn trong thế gian cần ra những bộ phim giúp người hướng thiện, làm được vậy không những tạo công đức vô lượng, mà còn lưu phúc sâu dày đến con cháu họ. Những băng đĩa này được lưu truyền càng lâu thì phúc của họ càng tăng.
PHẢI BIẾT SÁCH, TRUYỆN, PHIM ẢNH GÂY ẢNH HƯỞNG VÔ CÙNG TO LỚN.
Bằng chứng trong cuốn “ Thọ Khang Bảo Giám” có ghi rõ: Thi Nại Am viết ra tác phẩm Thủy Hử nổi danh lưu đời, trong sách toàn tán dương tà ác, cổ xúy nổi loạn, phạm thượng…đối với sát - đạo - dâm - vọng miêu tả tỉ mỉ, lại còn tán dương hết sức. Ngay trong thực tế ông đã chiêu lấy ác báo: Con cháu mình bị câm đến ba đời. Bản thân ông khi tuổi già còn bị tống vào thiên lao, thọ đủ thống khổ, bị trăm bệnh hành hạ thân xác, sau bị lưu đầy, sống đời túng bấn và chết vì thổ huyết.
Riêng Đại tài tử Kim Thánh Thán (nhân vật cuối đời Minh đầu đời Thanh), là kẻ văn hay thơ giỏi nhưng thường xuyên tạc kinh Phật. Do gieo nhân phê bình chú giải, tán tụng Thủy Hử, Tây Sướng Kí, vv… là những sách dậy dâm, dạy cướp, ca ngợi tạo phản…mà sau này ông lãnh quả báo bị xử án chém đầu. Đây đều là do bất minh Phật pháp nên mới để họa khởi từ tâm. Đáng tiếc cho một kẻ có tài, văn chương đầy bụng như Kim Thánh Thán, vì chọn đường sai mà tự hại mình, còn di hại đến tôn tử đời sau.
Trong cuốn “ Duyệt Vi Hiểu Đường Bút Kí” từng kể về Kỳ Hiểu Phong như sau:
Mùa xuân năm Mậu Tí (1768) Kỷ Hiểu Phong nhìn bức họa săn bắn “ Phan Kỵ Xạ Miêu Đồ” của bạn liền nổi hứng đề một bài thơ ca ngợi và bày tỏ cảm giác thật sướng khoái khi được uống máu vật trên khoảng sân đầy tuyết…
Nào ngờ vào tháng tám năm đó, ông bị cách chức xung quân đi đầy đến Ô Lỗ Mộc Tề phục dịch (do gieo nhân đề thơ ca ngợi săn bắn, uống huyết tươi, làm thơ với mục đích mỹ hóa, tô đẹp việc sát sinh), cho dù ông không đích thân giết cũng phải chiêu báo ứng, bởi chính những câu thơ này đã cổ súy kích động thêm bao nhiêu người khởi thêm tâm hiếu sát sai lầm.
Việc này nhắc nhở chúng ta: “Chớ thấy ác nhỏ mà làm, nhân quả báo ứng chân thật không dối”. Chuyện viết sách , lập luận…gieo ảnh hưởng đến trăm năm.. Thế nên về viết lách hay nói năng , phát biểu chúng ta phải tuyệt đối cẩn trọng.
Trong xã hội hiện này, đạo đức ngày càng suy, đa số sách báo phim ảnh đều dựa vào nội dung kích dục, bạo lực, giết chóc… không hề biết việc làm này chiêu quả báo vô cùng nặng, như tạp chí tình dục Playboy đứng đầu nước Mỹ, người sáng lập là Flint vào năm 1978 bỗng bị người khác dùng súng bắn, tuy giữ được mạng nhưng từ đó bị bại liệt luôn. (thực ra đó mới chỉ là mở đầu cho vô số quả báo về sau nữa)
Ở Trung Quốc có một vị viết tiểu thuyết tình dục dâm uế, vừa mới xuất bản thì té lầu, bị gãy cột sống và bại liệt...hôn mê suốt 25 ngày, sau đó tỉnh dậy ông tự thuật mình bị ở trong đường hầm hắc ám dài thăm thẳm không thấy bến bờ… Đây là do y viết sách quảng bá tư tưởng bất lương, nên hiện đời mới lãnh hoa báo (hoa báo là những quả báo sơ sơ, xuất hiện trước quả báo chính, nặng nề về sau ) của việc viết bài xúi dâm, xúi cướp. Nhưng quả báo thực sự nơi đời sau mới khổ hết chỗ nói.
CÓ MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CẢNH TỈNH QUÝ VỊ:
Tuyệt đối không nên giới thiệu người đến chỗ nào ăn nhậu, đừng chỉ nơi thưởng thức gà, vịt…hải sản… hoặc chỉ điểm những nhà hàng, tiệm quán…có thức ăn mặn trứ danh…cũng đừng giới thiệu nơi bán rượu ngon, thuốc hút tốt, bởi vì đây đều là : Gieo nhân dạy người tạo ác nghiệp. Chúng sinh khổ là do có bạn phụ họa hướng dẫn lầm, giúp làm sai thêm, nên họ phải thọ đủ loại khổ báo…vì vậy bạn chắc chắn khó tránh khỏi luật nhân quả nghiêm phạt và hậu quả còn nghiêm trọng hơn là đích thân bạn làm sai nữa.
Mọi người chắc vẫn nhớ thuốc lá thơm hiệu Marlboro sản xuất từ năm 1950 được quảng cáo rất xôm tụ tại nước Mỹ và được bình chọn là thương hiệu có ảnh hưởng cực lớn vì đã lôi cuốn vô số người (bao gồm thanh thiếu niên) đổ xô vào hút?
Vì có lợi nhiều nên công ty chế tạo thuốc lá này càng bành trướng đồ sộ (họ bành trướng được là do phước quá khứ, khi phước tận thì quả báo mới ập đến). Nhóm người quảng cáo đã giúp cho thương hiệu Marlboro trở thành thương hiệu bán chạy nhất thế giới. Doanh số của Marlboro đã tăng từ 5 tỉ USD (năm 1955) nên 20 tỉ USD (năm 1957).
BẢN THÂN NHỮNG NGƯỜI QUẢNG CÁO THÌ SAO?
Năm 1976 đài truyền hình nước Anh từng phỏng vấn sáu nhân vật quảng cáo nổi danh đó, bọn họ tuổi đời còn chưa già, nhưng thảy đều bị ung thư phổi, dãn phế quản, và mấy năm sau thì nối nhau tạ thế trong nỗi đau đớn của bệnh tật.
Vì họ quảng cáo trông rất uy vũ, anh tuấn, sành điệu…khiến giới thanh niên nhìn thấy là ngưỡng mộ…rất muốn noi theo để được oai phong, lịch lãm giống họ…và lầm cho hút thuốc là việc tốt, hợp thời đại… Cuối cùng cả nhóm quảng cáo này đều bị quả báo tổn hại sức khỏe, vướng đủ loại bệnh phổi nghiêm trọng. Xúi hút thuốc là hành vi hại người, vậy thì làm sao bản thân họ có thể bảo toàn sức khỏe được?
Theo nghiên cứu khoa học hiện nay thì thuốc lá là độc chất gây nên hàng loạt bệnh, bao gồm cả ung thư, góp phần làm ngắn tuổi thọ người. Do thuốc lá hại chết người, nên ai hút là đang tự giết mình dần mòn, chưa kể những người chung quanh khi hít phải khỏi thuốc bị di lụy trầm trọng (vì họ nhiễm độc nặng hơn).
Thế nên dạy người hành thập ác, tán dương thập ác, sai lầm này rất lớn. Trong xã hội hiện nay, còn có nhiều nhân vật nổi danh nhưng lại trắng trợn ca ngợi tuyên bố : “ Tình một đêm là hợp lí”…họ chấp nhận chuyện “ đổi vợ , đổi chồng” ..còn hô hào cố xúy, yêu cầu được “ hợp pháp hóa” các hành vi tà dâm này. Không những họ làm bại hoại nghiệm trọng phong khí xã hội mà còn đầu độc tư tưởng, di hại đến vô lượng vô biên chúng sinh.
Thế thì khi họ lãnh quả báo sẽ là : ôm trụ đồng nóng đỏ, chết đi sống lại vô số lần rất thê thảm, đây chính là những người đáng thương mà Phật đề cập đến.
*****************************
Sau đây là một minh họa rõ nét về quả báo của việc đóng phim gây ảnh hưởng xấu đến khán giả :
“Poltergeist” là bộ phim nằm trong danh sách 100 bộ phim “thót tim” nhất của Mỹ và từng nhận được ba đề cử cho giải Oscar. Tuy vậy, điều khiến “Poltergeist” càng trở nên nổi tiếng là sự việc các diễn viên tham gia lần lượt chết thảm một cách khó hiểu…
Bộ phim “Poltergeist” là câu chuyện kinh dị xoay quanh gia đình Freeling gồm 5 người sống cuộc sống bình yên ở ngoại ô. Ở đây, họ liên tục bắt gặp những hiện tượng siêu nhiên khó lý giải, từ những âm thanh kỳ lạ đến sự dịch chuyển đồ vật trong nhà. Những tình tiết trong phim được đẩy lên cao trào khi cô con gái út Carol Anne bị linh hồn ma quỷ quấy phá và bắt cóc.
“Poltergeist” ngay sau khi công chiếu đã gây ám ảnh cho người xem. Thậm chí, nhiều người cho biết, sau khi xem Poltergeist, họ đã không thể nào ngủ được trong nhiều tuần và thậm chí cho tới ngày nay, họ vẫn chưa dám xem lại bất kỳ một bộ phim kinh dị nào.
Tuy nhiên điều khiến nhiều người cảm thấy thực sự sợ hãi là việc 4 trong số các diễn viên tham gia đã chết trong và sau khi hoàn tất 3 phần của loạt phim “Poltergeist”. Điều này khiến dư luận dấy lên một nghi ngờ rằng, “Poltergeist” đã chịu một lời nguyền khủng khiếp nào đó, nhưng ít ai hiểu được rằng, đó chính là quả báo của việc làm phim gây hại tâm lí cho khác giả.
Bi kịch đầu tiên ập đến đoàn làm phim phải kể đến nữ diễn viên 22 tuổi Dominique Dunne, người vào vai cô chị cả Dana trong 3 người con của gia đình Freeling đã bị bạn trai bóp cổ đến chết vào ngày 4/11/1982, chỉ vài tuần sau khi bộ phim được ra mắt.
Trường hợp tiếp theo là nam diễn viên 60 tuổi, Julian Beck, (vào vai đức cha Henry Kane trong phần 2 của Poltergeist) qua đời vào ngày 14/9/1985 vì bệnh ung thư dạ dày trước khi phần 2 của bộ phim được ra rạp.
Đến năm 1987, nam diễn viên Will Sampson (vào vai pháp sư Taylor trong phần 2) lại tiếp tục qua đời vì bệnh thận ở tuổi 53.
Năm 2009, nam diễn viên 67 tuổi Lou Perryman (vào vai một nhân vật phụ có tên Pugsley trong phần 1) bị giết hại tại nhà riêng.
Tuy vậy, điều khiến khán giả cảm thấy bàng hoàng nhất chính là sự qua đời của nữ diễn viên nhí Heather O’Rourke, 12 tuổi, người vào vai cô bé bị quỷ ám Carol Anne. Theo đó, cô bé đã bị ốm đột ngột và chết trên bàn mổ vào năm 1988, trước khi phần 3 của phim được phát hành. Các bác sĩ xác định rằng, Heather đã bị nhiễm trùng đường ruột và chết do các biến chứng.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 07-05-2016 , 03:17 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
LẮNG NGHE TIẾNG HÁT SÔNG HẰNG .Tác giả Quách Huệ Trân

Lời giới thiệu

Bác sĩ Quách Huệ Trân là một bác sĩ chuyên khoa ung thư, bà rất nhiệt thành và tận tâm trong công việc. Lòng từ bi và thuần thành của bà không những đã đem lại sự khích lệ to lớn cho bệnh nhân mà còn cảnh giác cho những người khỏe mạnh, làm cho nhiều người phát tâm học Phật và niệm Phật. Sau đây là bài nói chuyện với các bạn học ở Huệ Trí Phật Học Xã của Đại học Trung Nguyên, nội dung rất phong phú cảm động. Tuy là đang bị bệnh ung thư trầm trọng, bác sĩ Trân vẫn ráng chịu đau và dùng Tín, Nguyện niệm Phật vô cùng kiên cố của mình để lên giảng đài thuyết pháp. Khi tuyên bố bị bệnh bà nói: “Bây giờ vừa đúng lúc để tôi nhất tâm niệm Phật và chuẩn bị vãng sinh”. (Sau lần nói chuyện này bác sĩ Trân từ chức và lên núi xuất gia).

Trong cuộc sống trầm luân khổ ải này, chúng ta không chịu buông xả và tham luyến tất cả những gì “của mình”; ai cũng đầu tắt mặt tối, bận rộn suốt cuộc đời, đến phút cuối cùng nhìn lại chỉ là một con số không to lớn rồi âu sầu than thở. Thưa quý vị, quý vị muốn cuộc đời của mình như thế nào? Làm sao để vượt qua khỏi sự trói buộc của luân hồi sinh tử? Chúng tôi hy vọng bài này sẽ đem nhiều tư duy và chất liệu có thể giúp quý vị tìm ra phương hướng (về quê hương) của mình!

Cư sĩ: Lý Nghi Linh
Kính ghi
Xem tiếp »
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 07-05-2016 , 03:22 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Lắng nghe tiếng hát sông Hằng

Kính thưa quý thầy cô, kính thưa quý bạn!

Khi lên giảng đài này, tôi cảm thấy rất bối rối và xấu hổ khi nhìn thấy phía dưới phần đông đều là những người trong hàng tiền bối, bậc thầy cô của mình. Trước hết xin giải thích tại sao một người mạt học dở ẹc như tôi cũng lên giảng đài nói chuyện với quý vị? Đây là do ảnh hưởng của một bệnh nhân cho nên tôi thường kể lại câu chuyện của bệnh nhân này và nói lên lý do người này đã giúp cho tôi hiểu được nhiều vấn đề. Chúng ta thường phải trả một giá rất đắt mới có thể hiểu được một câu nói trong Kinh, nhiều khi chỉ một câu Kinh thật đơn giản. Cô này mới có ba mươi mấy tuổi thì bị ung thư ruột già. Khi cô đến bệnh viện cứ khóc hoài không thôi. Lúc đó tôi mới làm bác sĩ tập sự thuộc khoa ung thư, xem bệnh lý mới biết cô đã mổ qua hai lần nhưng ung thư vẫn tái phát trở lại, đúng là vô phương cứu chữa. Cô khóc hoài nên nói không ra tiếng nữa, thật là không biết làm sao, muốn tìm bác sĩ để hỏi rõ bệnh trạng cũng khó. Hôm đó tôi hết ca trực liền đến phòng bệnh để thăm cô và cũng nhân tiện giới thiệu sơ lược một ít Phật pháp cho cô biết. Không ngờ cô nghe xong, xúc động, mở mắt thật to, nói:“ Tại sao bấy lâu nay không có ai nói cho tôi biết về những chuyện này? Tại sao tôi đã sống ba mươi mấy năm đầy phiền não và đến lúc sắp lìa đời tôi mới được nghe Phật pháp?”. Tuy chỉ có mấy câu nói thật ngắn nhưng hình như đã xoi thủng tim tôi. Sau đó cô bật khóc và làm tôi cũng khóc theo, khóc một cách thật bức rức. Lúc bấy giờ Tuyết Công lão ân sư (lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam) còn tại thế và giảng kinh vào ngày thứ tư mỗi tuần. Mỗi ngày khi làm xong việc tôi thường ở lại bệnh viện để nói chuyện và an ủi bệnh nhân, ngoại trừ ngày thứ tư vì phải đi nghe Tuyết Công giảng kinh. Cô thấy mỗi thứ tư tôi đều rất vui chuẩn bị đi nghe giảng nên nói: “Tôi cũng hy vọng có thể đi theo (nghe giảng) nhưng rất tiếc không có cơ hội”. Tôi đáp: “Trong tương lai cô cũng có dịp đi được”. Cuối cùng cô cũng được đi nghe kinh. Lúc đến giảng đường Hoa Nghiêm ở thư viện Từ Quang, tôi thấy cô ngồi ở vài hàng ghế phía trước. Nhưng đến nửa buổi giảng cô vừa ôm bụng vừa khóc và đi về, bệnh tình của cô biến chứng nặng nên cô đau quá không thể tiếp tục nghe kinh. Lúc đó tôi chợt hiểu được một câu trong bài “khai kinh kệ”:
“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa”.

Vì ảnh hưởng của cô nên từ hôm đó trở đi tôi không ngại sự hiểu biết còn thô thiển của mình, luôn luôn cố gắng, tích cực hơn, và muốn mau mau giới thiệu cho mọi người những điều trọng yếu trong Phật pháp mà mình hiểu được; nói cho đại chúng biết sự hạnh phúc mà Phật pháp có thể đem lại cho mọi người. Hạnh phúc này tiền tài mua không được, kẻ ăn trộm cũng không thể lấy mất. Trong bất cứ trường hợp và cảnh giới nào, không kể người ta dùng quan niệm “phước” hay “họa” trong thế gian để đo lường những cảm nhận về hạnh phúc đó, trong nội tâm của chúng ta đều luôn đầy đủ sự an tịnh, hạnh phúc, và sáng tươi.

Tôi hỏi các vị đạo hữu ở Phật học xã nghiên cứu đề mục hay Kinh điển gì trong khóa học này, bác Hứa trả lời là đang thảo luận “Kinh Bát Đại Nhân Giác”. Chắc ai cũng đã xem qua Kinh này và có thể học thuộc lòng rồi. Điều giác ngộ thứ nhất:

“Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, năm ấm vô ngã, sinh diệt đổi dời, hư ngụy không chủ…”

Tuy là biết thuộc lòng nhưng phần đông chúng ta không tin như vậy. Tuy Phật nói thế gian vô thường, nhưng bạn lại cảm thấy thế gian rất vui sướng! Mỗi sáng thức dậy ăn bánh uống cà phê… ngước mắt nhìn lên, ôi chao trời trong mây trắng, đời sao mà sung sướng thế! Nếu như vậy thì cũng thường thôi, nhưng những lúc như vậy trôi qua rất nhanh. Giả sử một lúc nào đó, chuyện khó khăn thử thách thình lình xảy ra, khi đó bạn sẽ không thấy trời trong mây trắng, không thấy trăm hoa đua nở, trong lòng của bạn sẽ không còn cảm thấy vui sướng nữa. Ở đây tôi xin kể một vài câu chuyện thật mà tôi đã gặp khi làm việc ở bệnh viện. Trong những câu chuyện này, mỗi người đều kể cho tôi một đạo lý mà đức Phật đã nói trong Kinh điển, họ ấn chứng (chứng minh) những điều Phật dạy, họ làm cho tôi hết lòng tin tưởng lời Phật nói và tin đức Phật là “người nói lời chân thật, không bao giờ nói dối”.

Có nhiều bệnh nhân hỏi tôi: “Bác sĩ năm nay bao nhiêu tuổi?”. Tôi trả lời: “Ba mươi hai tuổi”. Lại hỏi: “Bác sĩ lập gia đình chưa? Tôi làm mai cho”. Tôi liền hỏi họ: “Cuộc sống của bà rất sung sướng phải không?”.

Thật kỳ lạ không có người nào đáp là “phải” hết! Cho đến một hôm tôi gặp một bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung, mỗi lần đến khám bệnh đều trang điểm thật là đẹp, thoa môi son thật đỏ, móng tay chân đều có sơn màu rất đẹp. Khám bệnh xong bà muốn làm mai cho tôi. Bà nói: “Cháu tôi làm việc ở bệnh viện Quốc Thái, người rất lịch sự, đàng hoàng”. Tôi hỏi bà: “Bà thật là rất sung sướng phải không?”. Bà nói: “Phải, chồng tôi đối xử rất tốt, con cái rất có hiếu, nhà cửa rất sung túc”.

Như vậy thật là sung sướng, xin chúc mừng cho bà. Bà là người duy nhất nói mình có hạnh phúc, thật là mừng giùm cho bà. Tại vì khi bệnh nhân bước chân vào bệnh viện thì thường khóc và than: “Bác sĩ không biết đâu, tôi phải mượn tiền của người ta để lại đây khám bệnh, con cái không vui chút nào”, hoặc là: “Ôi chao, lúc về nhà không ai đếm xỉa tới, mang bệnh lâu quá rồi người ta không chịu chăm sóc nữa”, cũng không ai thăm hỏi: “Thưa ba ăn cơm chưa?”, hoặc là: “Từ lúc tôi mắc bệnh này, chồng tôi bỏ đi luôn”.

Phần lớn là thuộc vào loại này, tình tiết tuy không giống nhau nhưng nội dung hoàn toàn tương tợ; chỉ có bà này thật may mắn có được hạnh phúc. Nhưng qua một thời gian ngắn sau đó, y tá coi báo ngạc nhiên nói bà đó đã tự tử. Cô y tá nói: “Trong báo đăng tin bà được vớt lên từ bờ sông ở… Bà bỏ nhà ra đi hết năm ngày, sau đó thì tự tử”.

Tôi tự hỏi: “Bà đó rất sung sướng, rất hạnh phúc, sao lại tự tử?”.
Thưa quý vị, chúng ta thử nghĩ xem, tại sao lúc đó niềm thương yêu của chồng không thay đổi được tâm niệm muốn tự tử của bà? Tại sao sự hiếu thảo của con cái cũng không kéo bà lại được? Tại sao tiền bạc không mua được sự an ổn của tinh thần? Chồng thương yêu cho mấy và con cái hiếu thảo đến đâu cũng không thay thế được sự đau đớn trên thân thể của bà. Một người đàn bà xinh đẹp như thế tại sao lại phải trốn ra khỏi nhà đi lang thang rồi cuối cùng phải nhảy vào dòng nước đen tối? Có lẽ vì trước đó bà cảm thấy cuộc đời quá xinh đẹp, chưa nếm qua mùi vị của sự khổ, bà chưa biết qua “thế gian vô thường, quốc độ mong manh”, cho nên trong tâm không có chuẩn bị tâm lý, gặp chuyện thử thách trong đời chịu không nổi, không có “chích ngừa” để phòng bị, không có khả năng đề kháng, chịu đựng khổ không được nên mới tự tử. Tôi rất hối hận trước đó không giới thiệu Phật pháp để cho bà thay đổi quan niệm và hướng về quang minh, hướng về Di Đà. Những sự khổ này có lẽ mọi người sẽ nghĩ: “Đó chỉ là thiểu số, người tự tử rất ít”. Thật ra người tự tử rất nhiều, tôi làm việc trong khoa ung thư, nếu có ngày nào không gặp bệnh nhân muốn tự tử thì ngày đó phải được kể là rất tốt, rất hiếm! Thật đó, mỗi ngày tôi thường nghe câu: “Tôi nên chết sớm thì tốt hơn”. Khi người ta cầu mong khỏe mạnh và sự quan tâm chăm sóc mà không được toại nguyện thì thường thường sẽ tự sát. Ban đêm trong bệnh viện, tôi thường phải đi giải quyết những chuyện tự tử này. Không phải là họ cố ý không muốn sống nhưng bị bệnh đau khổ quá nên không biết cách nào để chịu đựng nữa.

Ngoài ra còn có người cầu sống không được, cầu chết cũng không xong, nằm trên gường bệnh rên siết. Có một người bệnh nguyên phần phía dưới bụng bị ung thư lở loét ra hết, bác sĩ phải mổ và làm một hậu môn tạm trên bụng, nhưng không cách nào trị lành được. Chất bài tiết trong ruột rỉ thẳng ra. Phòng của người này ở lầu ba, từ lầu hai đã nghe mùi hôi bay đến. Không phải người này có gì đặc biệt nhưng bất cứ ai trong chúng ta khi gặp phải trường hợp này đều như vậy. Khi con bà săn sóc cho mẹ, bất đắc dĩ phải dùng một miếng vải để bịt miệng và mũi lại. Mỗi ngày bà đều muốn tự tử nhưng chưa gặp cơ hội. Một hôm, nhân dịp con bà đi ra chợ mua đồ ăn sáng, bà ráng hết sức mình ngồi dậy, leo qua cửa sổ từ lầu ba của bệnh viện nhảy xuống. Vừa đúng lúc đó người con về đến, nhìn thấy mau mau chạy tới để đỡ bà. Kết cuộc bà nhảy xuống không chết mà còn bị thương. Vốn là đã quá đau khổ bây giờ còn bị thương thêm, mỗi ngày đau đớn không thể nào diễn tả được, cầu sống không được, cầu chết cũng không xong; mạng chưa hết tự tử cũng không chết. Cho dù tự tử chết đi rồi, vĩnh viễn trầm luân trong lục đạo luân hồi, sự khổ não vô tận lại tái diễn trở lại!
Nhà thơ Rabindranath Tagore có nói:

“Sinh thời lệ tợ hạ hoa, tử thời mỹ như thu nguyệt” (lúc sống đẹp như hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng mùa thu).

Bạn muốn sống đẹp như hoa mùa hạ có lẽ cũng không khó lắm; nhưng muốn chết đẹp như trăng mùa thu thì phải ra sức chuẩn bị công phu mới được! Lắm lúc có nhiều người phê bình những người học theo Phật và nói: “Ôi chao, sao quí vị ưa nói chuyện “chết”, ưa nói chuyện “lâm chung” quá, hình như đã xem thường cả cuộc đời. Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện phải làm, đặc biệt là những người tu theo Tịnh độ như quí vị, ngày ngày cứ niệm “A DI ĐÀ PHẬT, chuẩn bị để vãng sinh Tây phương, thật là quá tiêu cực”. Thật ra cuộc sống chúng ta giống như quá trình vẽ một con rồng, mỗi nét vẽ, mỗi màu sắc đều rất quan trọng. Lúc lâm chung cũng như nét vẽ cuối cùng vào mắt rồng. Lúc sinh lúc tử đều rất quan trọng, không có nét vẽ nào có thể cẩu thả được. Niệm Phật là tâm niệm tối thiện nhất, tích cực làm cho lúc sống và lúc chết đều là chí thiện chí mỹ (tốt đẹp nhất).

Nói chuyện từ nãy đến giờ nhưng chưa nói vào đề tài chính hôm nay: “Lắng nghe bài ca bên sông Hằng”. Mấy năm trước tôi có dịp đi qua Ấn Độ và ngồi thuyền đi dọc theo bờ sông Hằng. Lúc đó trong lòng tôi rất an tịnh; âm thanh trên sông cứ cuồn cuộn nổi dậy làm tôi có cảm giác như là đang đi trong dòng nước “sinh tử”. Khi lắng tai nghe những âm thanh này, tôi nghe thấy trong đó có âm thanh của trẻ con, của người lớn, có tiếng khóc, có tiếng cười vui… Tất cả những âm thanh này trộn lẫn vào nhau biến thành một câu vạn đức hồng danh “A Di Đà Phật”. Bạn hãy nhìn hình ảnh của sông Hằng, của từng làn sóng nhấp nhô, hình bóng của chính bạn, của người thân, bạn bè, mặt trời lặn, con chim và làn mây đang bay lơ lửng ở cuối chân trời, tất cả những hình bóng này hòa hợp lẫn nhau làm thành con sông “sinh mạng”. Chúng ta hãy cùng nhau xem những hình ảnh và lắng nghe bài ca bên sông Hằng này, từ bài ca “luân hồi sinh tử của sông Hằng” cho đến bài ca “đức Phật giác ngộ”. Đối với chúng ta, sông Hằng là một con sông rất quen thuộc, vì trong Kinh đức Phật thường dùng danh từ “cát sông Hằng” để hình dung ý nghĩa “vô lượng vô biên”. Trong con sông Hằng sinh mạng này, chúng ta đều là những người bơi lội qua sông...

Con thuyền cứ tiếp tục tiến tới và đi ngang một chỗ dùng để hỏa táng ở bờ sông. Phong tục mai táng người chết của Ấn Độ rất đơn giản, họ không cần quan tài, chỉ dùng vải bao bọc thi thể lại rồi đem thiêu ở bờ sông, cho đến bà Gandhi cũng không ngoại lệ (bà được dùng lá Quốc kỳ để bao). Người giàu thì có đủ củi lửa nên có thể thiêu thành tro rồi đem bỏ xuống sông. Người nghèo thì thiêu qua loa một chút rồi đem thi thể bỏ xuống sông. Lúc tôi ngồi thuyền đi ngang một chỗ thiêu người chết này, dưới đống tro tàn còn thấy được một cái chân đen kịt thiêu chưa thành tro. Chúng ta thử hỏi cái chân thiêu nữa chừng này là của ai? Không lâu trước đó nó cũng có làn da rất mềm mại và được ôm ấp trong lòng mẹ. Có lúc nào đó cái chân này đang rảo bước trên bải cỏ xanh mướt, cũng có thể là có rất nhiều thanh niên muốn thân cận nó. Rồi theo thời gian trôi qua nó bắt đầu chai cứng và khô khốc khi người chủ của nó già đi. Rốt cuộc rồi nó biến thành một cái chân thiêu nữa chừng, đen kịt, nằm dưới đống tro tàn. Sau một thời gian nữa thì nó sẽ biến thành một đống cát trong sông Hằng. Thêm một lần nữa chúng ta hãy nhìn kỹ hình ảnh và lắng nghe bài ca bên sông Hằng. Những hình ảnh này của người Ấn Độ mà cũng có thể là của chúng ta!

Có một ông thường ngày rất thích ăn trầu, hút thuốc, uống rượu rồi sau này bị ung thư trong miệng. Khi đến bệnh viện khám thì chỗ bị ung thư đã lan rộng ra, lở loét đến quai hàm và gò má lủng lỗ. Chỗ lở cứ chảy nước vàng ra hoài, khi ông ăn uống thì thức ăn đều lọt ra ngoài. Cho dù ông uống rượu ngon trước đó ông thích nhất cũng rất đau, khi ăn trầu vào cũng đau như “nuốt viên sắt nóng”. Thân thể cường tráng của ông dần dần tiều tụy vì ăn uống không được; chúng tôi phải đút một ống dẫn đồ ăn từ mũi vô đến bao tử. Vợ ông rất hối hận và nói lúc trước hai vợ chồng họ cứ cãi lộn hoài. Bà kể lại: “Được rồi, ông chửi tôi thì ông sẽ bị ung thư miệng. Tôi trù cho ông bị ung thư miệng. Ai ngờ rằng ổng bị ung thư miệng thật, người khổ nhất lại là tôi; ngoài việc phải chăm sóc vết thương cho ổng, đi khắp nơi kiếm bác sĩ trị cho ổng, tôi còn phải lo kiếm tiền để trang trải… thật là khổ không cách nào diễn tả được”. Nếu bà biết trước được cảnh khổ bây giờ thì sẽ trân trọng những lúc còn khỏe mạnh và còn nói: “Lúc ổng chửi tôi, tôi thà đi lạy Phật một trăm lạy chúc phúc cho ổng, mời ổng ăn đồ ngon, tôi cũng không dùng lời ác độc để trù ổng”.

Hai người cùng nhau niệm Phật trong ánh sáng từ bi trí tuệ của đức Phật thì không tốt hơn là cãi lộn hay sao? Rất tiếc là chúng ta thường chọn lấy những phương thức đối xử để gây đau khổ lẫn nhau; lúc chưa bệnh thì mặc sức hành hạ thân thể này, đến lúc mang bệnh rồi thì lại than trời than đất. Hy vọng là chúng ta trong những nhân duyên tương ngộ rất ngắn ngủi này, hãy dùng tâm từ bi chân thành đối đãi với nhau. Sự giận tức oán hờn chỉ giúp tạo ra con đường đầy chông gai đau khổ ở phía trước. Ông rất thích đi câu cá; lúc tay mang trầu, rượu và cần câu đi ra bờ sông thì ông cảm thấy rất thích thú. Nhưng đến khi bị ung thư loét hết miệng thì mới giật mình sực tỉnh, mới biết được cảm giác của con cá khi bị lưỡi câu đâm thủng miệng. Vì miệng ông lở loét nên ông nói chuyện rất khó khăn. Lúc tôi săn sóc vết thương cho ông, ông ráng chịu đau và nói ra những lời hối hận này, cảm nhận được khi trước vì một chút khoái lạc nhất thời mà gây đau khổ cho những con cá. Sự đau khổ đó bây giờ quay ngược lại đến với ông, cũng là đau khổ khi miệng bị lủng lỗ. Khi miệng nuốt đồ ăn giống như cuống họng đang bị thiêu đốt, đang bị đâm bằng dao, đau quá cũng muốn giằng co giãy giụa như con cá cắn câu ráng hết sức mình để thoát khỏi lưỡi câu. Ông dạy cho tôi một bài học nhớ hoài không quên, đúng là “nhân quả tơ hào chẳng sai!”. Có bài thơ như sau:
Mạc đạo quần sinh tánh mạng vi,
Nhất ban cốt nhục nhất ban bì,
Khuyên quân mạc đã chi đầu điểu,
Tử tại sào trung vọng mẫu quy.

Tạm dịch:
Mạng vật yếu ớt đừng khinh
Thịt, da, xương xẩu như mình khác chi!
Chớ bắn chim trên cành kia
Chim non trong tổ đang mong mẹ về.

Có một bác bị ung thư miệng và cũng phải mổ để cắt bỏ tế bào ung thư ở gò má. Cuộc giải phẫu này rất phức tạp, phải chia ra mấy lần mới xong, phải cắt da ngực để đắp lại vết mổ ở gò má, và đòi hỏi rất nhiều sức chịu đựng. Ban đêm, khi tôi đi tuần phòng bệnh nhân, tôi thấy đôi mắt của bác mở thao láo nhìn lên trần nhà, đêm đã khuya rồi mà bác ngủ không được. Ngoài trời đêm tối lạnh, nước mắt của bác cũng rất lạnh lẽo thê lương. Chúng ta phải làm sao để an ủi những bệnh nhân này? Bác đang đợi để mổ lần thứ nhì nhưng không sống được đến lần mổ cuối cùng. Có lẽ chúng ta thường chờ đợi để làm một công việc gì đó nhưng chưa chắc có thể sống đến lúc đó, cho nên chuyện tốt phải mau mau làm, niệm Phật phải niệm ngay bây giờ!
Lúc chăm sóc những người bị ung thư miệng, tôi thường nghĩ đôi lúc mình bị mụt nước lở trong miệng thì rất đau, nhất là khi ăn những thức ăn chua cay vào thì rất rát, huống chi vết thương lở loét cả hàm của những người này, khi uống nước lạnh cũng phải đau đến run. Khi chúng ta mở miệng nói lời không tao nhã thì chỉ dùng năm sáu giây để nói một câu mà câu nói đó có thể làm cho người nghe đau lòng cả đời, và khi quả báo hiện ra thì cũng đau đớn như những người bị ung thư hàm này! Trầu và rượu có thể đem lại cho người ta một chút khoái lạc nhất thời nhưng cũng đem đến những sự đau khổ không thể nào giảm nhẹ khi mang bệnh vào thân. Chúng ta phải nên cẩn thận, một giây phút vui sướng ngắn ngủi đi qua rất nhanh, thời gian chịu đau trên giường bệnh một ngày dài như một trăm năm vậy!

Phòng khám bệnh số 1 và số 2 của bệnh viện nối liền nhau bằng một cánh cửa tự động. Một hôm tôi thấy có một bà khoảng năm mươi mấy tuổi nằm ở phòng 1. Bà bị ung thư vú và cần một loại thuốc nhưng bảo hiểm lao động chưa chịu trả tiền cho thuốc này, nên ngoài việc đau bệnh, bà phải lo kiếm tiền trang trải chi phí thuốc men. Bà thường khóc thầm vì chịu đựng không nổi áp lực quá lớn. Lúc đó bên phòng 2 có một cô mới ba mươi mấy tuổi và cũng bị ung thư vú. Nghe được chuyện của bà bên phòng 1 nên lấy hết tiền trong túi rồi nói với tôi: “Nhờ bác sĩ trao cho bà ở phòng kế bên”. Cô vừa khóc vừa nói: “Chúng tôi đều chịu chung cái khổ này”. Tôi rất cảm động và khen ngợi tinh thần Bồ tát vị tha của cô. Tôi hiểu rõ hoàn cảnh của cô còn thiếu thốn hơn bà kia rất nhiều. Con của cô còn nhỏ nên phải gởi người ta nuôi giùm, tiền lương của chồng cô rất thấp, lại không có bảo hiểm, tiền dành dụm đã xài hết để trả tiền bệnh viện và mổ xẻ. Khi cô được giới thiệu đến bệnh viện để trị liệu phóng xạ, cô tính bỏ mặc vận mạng đẩy đưa và không trị bệnh nữa vì không có tiền. Nhưng khi cô nhìn thấy dòng chữ trên tường: “Cho dù ngày mai là ngày tận thế, tối nay tôi cũng phải trồng đầy hoa sen trong vườn” nên mới nghĩ lại, đi về nhà má mượn tiền, tiếp tục trị bệnh và duy trì mạng sống. Cô nói: “Sinh mạng thật là vô thường và có nhiều thử thách đầy đau khổ, tuy tôi không có khả năng lớn lao gì nhưng tôi có một chút tâm nguyện là hy vọng làm hết sức mình, giúp đỡ cho những người đồng cảnh ngộ cho họ sớm lìa khổ được vui”. Tôi rất cảm động; hai người này đều bị bệnh ung thư nhưng một người thì âu sầu khổ não, còn một người thì vượt thoát sự bi ai của mình. Giúp đỡ, an ủi và lau nước mắt cho người khác, phát huy tiềm năng của mình. Khi còn sống thì mỗi ngày trồng một hoa sen, dần dần có nguyên hồ sen thơm phức. Thử nghĩ, trị bệnh nan y đòi hỏi bao nhiêu sức chịu đựng và bao nhiêu sự giày vò; nếu đem sự giày vò này đổi lấy mạng sống âu sầu khổ não có phải là rất đáng tiếc không? Tại sao không “trồng hoa sen thanh khiết” trong tâm khảm của mình, cho dù chỉ nở một nụ cười thì cũng là bố thí, có thể làm cho mình và người khác đều được vui! Có câu là: “Chỉ cần một niệm từ bi phát khởi, tật bệnh cùng khốn cũng đều qua!”.

Có một bé trai mới sáu tuổi đã bị ung thư tuyến lâm ba (lymphatic cancer), mới có bây lớn đã phải trải qua rất nhiều đau khổ. Mỗi khi lượng bạch huyết cầu của em lên cao thì bác sĩ phải chích một loại thuốc có tác dụng phụ là ói mửa. Việc làm cho em vui nhất là khi lượng bạch huyết cầu giảm xuống quá thấp, thấp đến độ không thể làm trị liệu hóa học được, bác sĩ sợ độ bạch huyết cầu quá thấp thì dễ bị nhiễm trùng, có thể nguy hiểm đến tánh mạng. Đối với em, mỗi lần như vậy thì em vui sướng như ở tù được thả ra, tạm thời có thể “miễn bị hành hình!”. Em nói với tôi: “Mỗi ngày ngoại trừ xem ti vi thì cũng là xem ti vi”. Nhà em cũng khá giả nên em được ở một phòng bệnh riêng. Em nói: “Cô em gần lập gia đình rồi, cô mời em làm “em bé cầm bông” trong hôn lễ của cô. Phải chi em có thể trưởng thành thì tốt biết mấy, nhưng không biết có thể lớn nổi không?”. Đây là lời nói của một em bé mới sáu tuổi, thật là làm cho người nghe được không khỏi ngậm ngùi. Có lúc em ngồi ở phòng để chờ chích thuốc, trước đó em rất vui khi mang đồ chơi đến đó, nhưng đến cửa phòng thì nhớ lại “đau khổ gần đến, gần bắt đầu rồi” cho nên cụt hứng ngay. Đôi khi em cắn chặt răng đưa tay tự mình tìm ra một mạch máu rồi nói: “Lấy chỗ này đi”. Đôi lúc em cũng buồn hiu không chịu đi vô, em không khóc ra tiếng, chỉ khóc khe khẽ, lệ ướt đẫm mi. Lần đầu tiên đến để rút máu từ vành tai, em đã khóc hết hai giờ đồng hồ. Cho đến nay đã chịu khổ quá nhiều lần rồi, em thừa hiểu khóc hoặc là nhõng nhẽo thì cũng không giúp ích được gì nên em rất dũng cảm để chịu đựng. Thật là một em bé quá đáng thương. Trong đời sống chúng ta không muốn già nua thì phải đoản mạng (chết yểu), nếu không muốn chết yểu thì phải già nua!

Có một người mới ba mươi mấy tuổi đã bị ung thư mũi vào thời kỳ chót. Thường thường nếu ba mươi mấy tuổi đã chết thì có lẽ bạn nói là đoản mạng. Nhưng cô này chỉ mới ba mươi mấy tuổi đã làm cho người nhà của cô cảm thấy không thể chịu đựng nổi nữa. Chồng cô phải vừa lo cho con, vừa lo cho cô nên phải xin nghỉ hoài, và cũng vì vậy nên đã mất chỗ làm. Cả nhà lâm vào hoàn cảnh thiếu thốn và phải đến hội Từ Tế xin giúp đỡ. Hội Từ Tế đồng ý cho cô một số tiền to lớn để trợ giúp cô trả tiền nhà thương. Má cô đợi lâu quá nên than: “Tại sao lâu quá còn chưa đem tiền lại. Lâu quá!”. Tôi nói: “Người ta không phải thiếu tiền bà đâu. Tiền này là do hội viên dành dụm, ăn xài tiện tặn, từ bi đem đi giúp người. Họ không nhẫn tâm thấy bà chịu khổ chứ không phải người nào cũng giàu có gì đâu”. Bà thở dài ra! Không phải lo tiền bạc nữa! Nhưng không khí trong gia đình còn quá ngột ngạt. Bệnh nhân cũng không an tâm tiếp tục sống, má cô lo cho cô đã quá mệt mỏi nên nói: “Mày sao không mau chết cho rồi, làm hại tụi tao phải chịu khổ theo!”. Chồng cô khổ quá thường lại hỏi tôi: “Cổ còn ‘kéo dài’ được bao lâu nữa?”. Tôi nói: “Xin đừng dùng chữ ‘kéo dài’ được không? Sống được một ngày trong cuộc đời này thật là rất quý, tương ngộ một ngày thật là hiếm có”. Nếu chỉ chú trọng vào sự khổ và để ý đến chỗ tối tăm trong đời sống của mình, cho dù không có bệnh thì cũng là ‘kéo dài’ mạng sống. Nếu tích cực nghĩ về những chuyện tốt, cho dù đời sống rất khó khăn thì cũng đáng sống. Nếu trân trọng đời sống, ba mươi mấy tuổi so với mười lăm tuổi cũng là trường thọ gấp đôi, so với người sáu tuổi thì cũng trường thọ hơn gấp năm lần.

Tâm địa có thể cải tạo vận mạng. Tôi có người bạn mới ba mươi mấy tuổi thì bị ung thư xương, trước sau tổng cộng đã phải giải phẫu hai mươi lần. Sau một lần động mạch ra máu không ngừng nên phải cưa đứt một chân. Đời sống của cô còn khó khăn hơn người kể ở trên nhưng nhờ biết áp dụng Phật pháp, lấy tâm biết ơn đối đãi với nhau, cả nhà sinh sống còn vui hơn lúc chưa bị bệnh.

Cô nói với tôi: “Tôi rất may mắn, tôi mất đi một chân mà có thể nghe được Phật pháp. Nếu không nghe được thì không biết phải tạo ra bao nhiêu nghiệp tội, phải chịu bao nhiêu khổ đau”.

Chồng cô ở bên ngoài phòng mổ đợi qua hai mươi lần giải phẫu, quý vị biết được tâm trạng của ông chồng này không? Ông nâng đỡ chăm sóc cô như một vị Bồ tát, không hề than thở chút nào. Sau khi biết Phật pháp, cô chống nạng cùng chồng nấu đồ ăn đem cho những người cùng bị bệnh và khuyên họ niệm Phật. Tôi hẹn với cô: “Cô học thuộc lòng Kinh A Di Đà rồi chúng ta cùng nhau đi lên núi vừa đi vừa lạy để hồi hướng cho những người bị bệnh ung thư”. Do đó cả nhà cùng với cô học kinh, con cô mới học đến tiểu học nói với cô: “Má học thuộc lòng Kinh A Di Đà một chữ không sai thì con cho má năm trăm đồng tiền thưởng”. Cô ở nhà vừa làm đồ thủ công vừa học kinh hoặc niệm Phật, đến tối thì trả bài cho mọi người nghe. Đến ngày cô học thuộc hết quyển Kinh, cô nói: “Cả nhà tôi từ trước đến giờ, chưa khi nào vui mừng giống như hôm đó”. Kể cả tiền thưởng của con và tiền công kiếm được trong thời gian học kinh cô có được bốn ngàn đồng, cô đem toàn bộ đi cúng dường Tam bảo. Vì muốn đi lên núi, mỗi đêm, khi cả nhà đã ngủ yên giấc, cô phải tập luyện lạy Phật, bạn thấy cô dùng một chân để lạy Phật. Nếu bạn sẽ cảm động đến rơi lệ. Chồng cô tìm cách quyên tiền để làm cho cô một cái chân giả. Cô nói: “Nếu ông có thể quyên được mười vạn đồng thì xin đưa tiền này cho tôi để tôi bố thí; tại vì một cái chân cũng đủ dùng rồi”. Cô chỉ hai cây nạng rồi nói: “Tôi không phải là thiếu một chân mà ngược lại tôi dư một chân”. Khi cô nói câu này là lúc tế bào ung thư đã lan đến phổi nên phải mổ và trị liệu hóa học thêm một lần nữa. Nét mặt cô hồng hồng và thường có nụ cười thật tươi, nhiều khi còn tươi hơn những không bệnh nữa. Cô nói: “Nhà tôi tuy là không giàu có gì nhưng bây giờ còn vui hơn lúc trước khi chưa cưa chân nữa.” Người niệm Phật ngay đời này đã có thể sống trong Tịnh độ, trong không khí vui vẻ hòa thuận của cuộc sống hằng ngày. Như phần đông người bệnh ung thư khác, cô cũng không tránh khỏi tình trạng kinh tế thiếu thốn. Có người mời cô mở tiệm làm trò chơi điện tử cho trẻ em có thể kiếm rất nhiều tiền. Cô nói: “Tôi muốn thử chồng nên cố ý đem việc này hỏi ý kiến của chồng”. Và cô rất vui khi nghe ông nói: “Chúng ta là người niệm Phật, sợ con mình bị trò chơi điện tử mê hoặc thì làm sao lại có thể làm hại con cái của người khác!”. Tôi rất khâm phục hai vợ chồng này, tuy là trong hoàn cảnh khó khăn mà họ vẫn có những hành động rất cao thượng. Có nhiều gia đình cũng vì kinh tế khó khăn nên phải sa vào hoàn cảnh đen tối, ngược lại gia đình của cô nhờ bị bệnh mà có thể hướng về đức Phật, đem những chướng ngại khó khăn của mình biến thành những đóa hoa sen thơm ngát, rất xứng đáng làm gương cho mọi người.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 07-05-2016 , 03:25 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
(tiếp theo)

Có một người bị bệnh ung thư hàm miệng phải giải phẩu để cắt bỏ tế bào ung thư và phải cắt bỏ luôn xương ở hàm dưới. Bác sĩ phải cắt da trên ngực để đắp chỗ mổ và bất đắc dĩ ông trở thành người không có môi. Ông không thể ăn cơm, chỉ có thể uống súp hoặc thức ăn lỏng. Ông không thể ngồi ăn như người thường, phải nằm xuống để ăn, nếu không thì thức ăn sẽ đổ ra. Vì không có môi cho nên đối với ông không có chuyện ‘ngậm miệng lại’. Bạn hãy nhìn những người này làm thế nào ráng hết sức mình để chịu đựng và chống chọi với bệnh tật; có nhiều lúc tôi tự hỏi tại sao mình lại được may mắn hơn họ? Trong lúc chịu khổ đau như vậy, ai nỗ lực thì cũng có thể vượt qua; tuy họ có hoàn cảnh, tâm trạng không giống nhau và có cái nhìn đời sống khác biệt nhau, nhưng tất cả đều tin sâu những gì Phật nói. Lúc tôi giải thích những điều Phật dạy cho người trẻ tuổi, nhiều khi phải nói đến khô cuống họng luôn mà họ cũng không tin; nhưng đối với những người đang chịu đau khổ trong bệnh viện, không cần nói gì hết, chỉ hỏi: “Khó chịu đau khổ không?”.

Họ đáp: “Rất khó chịu, rất đau khổ”.
Tôi nói: “Phật nói thế gian là biển khổ, hãy niệm A Di Đà Phật, đem tâm niệm hướng về phía quang minh, sẽ lìa khổ được vui”.

Họ không nói thêm câu nào nữa, lập tức bắt đầu niệm A Di Đà Phật. Hèn chi mới có câu: “Thập phương ba đời chư Phật đều lấy tám thứ khổ làm thầy”. Khổ là vị thầy tốt nhất, nhưng chúng ta phải đợi cho đến lúc này sao?

Lại thêm một người bị ung thư hàm miệng, ông đã bị mù, tế bào ung thư đã phát triển đến cổ. Nước vàng không ngừng từ gò má chảy xuống. Con dâu của ông nói: “Ở nhà tôi xịt không biết bao nhiêu dầu thơm, cũng không làm những mùi hôi này bay mất”. Tôi nghe rồi mới nói riêng với cô: “Tôi thấy cô thường dẫn ba chồng của cô đi khám bệnh, cô rất có hiếu thảo. Chăm sóc cho người bệnh ung thư rất khổ, nhưng Phật có nói: “Trong tám phước điền, chăm sóc cho người bệnh là phước điền hạng nhất”. Nếu cô tận tâm chăm sóc cho ông làm cho ông được hoan hỷ, tự nhiên phước báo sẽ vô lượng. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ già đi, sẽ sinh bệnh, chúng ta đối xử với người già như thế nào, con cái của chúng ta cũng sẽ bắt chước theo để đối xử với chúng ta. Chúng ta phải để ý, cho dù một hành động lời nói rất nhỏ nào cũng vậy, cũng phải thương xót và tội nghiệp cho người bệnh. Người bệnh không muốn có những mùi hôi như vậy. Ngày nay, một trong ba bốn người sẽ có một người bị ung thư, nếu người đó là mình thì cũng không thể nào không có mùi hôi; họ bất đắc dĩ phải như vậy mà. Nếu cô có thể bao dung một chút thì cô sẽ có thêm phước báo”.

Vì ông bị mù nên thường hỏi bác sĩ bệnh trạng rất kỹ: “Bệnh của tôi thật sự ra sao? Bác sĩ nói thật cho tôi biết đi, không hề gì đâu. Điều tôi lo nhất bây giờ là con tôi còn một đứa chưa lấy vợ!”. Ôi chao, người ta đúng là có vô biên phiền não, một mình bệnh nặng mà không lo lại lo cho ‘đứa con chưa cưới vợ!’.

Khi một người không có năng lực lo cho mình thì thật ra không có khả năng và biện pháp gì để lo cho người khác. Nếu không vượt qua biển khổ của mình thì không thể nào độ người khác và giúp họ vượt qua biển khổ được.

Có một bệnh nhân ở trước ngực có xâm hình rồng và cọp, chắc trước kia là người trong băng đảng gì đó. Từ ngày bị ung thư hóc miệng trở đi, ông bắt đầu chân thành sám hối. Ông nói: “Tôi thật đáng đời”, không một lời trách móc, chân thành ăn năn giúp đỡ bệnh nhân, tận lực tu thiện. Trải qua rất nhiều hoàn cảnh khổ nạn, cuối cùng ông cũng đã vượt qua…

Tôi thường nghe bệnh nhân than thở: “Cả đời tôi đâu có làm ác, đâu có làm hại ai đâu, đúng là ông trời không có mắt; tại sao để cho tôi bị bệnh khổ như vầy?”. Lời này làm tôi suy nghĩ có thật như vậy hay không? Có thật là chưa làm việc ác không? Nếu đúng như vậy thì chúng ta đều là Thánh nhân hết. Xem lời Phật dạy, chúng ta từ nhỏ đến lớn khi gặp chuyện không vừa ý thì nổi giận, mở miệng thì chửi mắng. Vì dục vọng, khi ăn uống không đoái hoài gì đến gà con mất mẹ, không màng gì đến heo con một nhà sinh ly tử biệt. Không nói lời thành thật, làm việc không tích cực, thường cãi lời cha, mẹ v.v... Tất cả không có thứ nào không bị tham, sân, si chi phối. Người có trồng cải rồi đều biết hột cải tuy nhỏ nhưng lúc mọc ra cây cải thì không nhỏ. Lúc quả báo chưa hiện ra, chúng ta còn dám nói xấu người khác, hoặc là trong lúc giận dữ, nói lời xúc phạm đến người khác, dám mời khách ăn hải sản sống. Khi quả báo hiện ra mới biết khổ không chịu đựng nổi, đến lúc bị khổ nạn mới cầu nguyện để tiêu nghiệp chướng.

Lão Hòa thượng Quảng Khâm có nói: “Phải từ thân, khẩu, ý mà tiêu trừ căn bản của nghiệp chướng”.

Nói một cách khác, khi tham ăn, nghĩ đến con cá chép, con cá trê này cũng là một chúng sinh mà mười phương chư Phật thương xót, nói như vậy thì đó cũng là huynh đệ của mình, chư Phật đang thương xót, má nó đang trông đợi nó. Khi gặp chuyện muốn nổi giận nhưng vì hiểu đó đều là mộng huyễn cho nên không sinh tâm sân hận nữa. Nhịn không được nên muốn chửi người, nhưng phải nghĩ đến họ cũng là chúng sinh mà đức Phật A Di Đà ngày đêm trông mong để cứu độ và tiếp dẫn. Họ cũng bị nghiệp lực trói buộc và có sự khổ não, cho nên mới chuyển tâm niệm để nghĩ đến Phật và niệm Phật.

Nếu có thể sửa đổi mình một cách tích cực, không bị ngôn ngữ, hành động, ý niệm của thói quen làm chướng ngại, nghiệp chướng có thể tiêu trừ. Sự khổ của bệnh tật cũng nhờ tâm niệm từ bi nhu nhuyễn hóa giải và giảm dần đi.

Tôi gặp một giáo sư trung học, ông là một bệnh nhân rất phi thường. Mỗi lần đi ngang giường bệnh tôi đều dùng tâm niệm tìm tòi học hỏi để quan sát ông. Khi ông vào bệnh viện thì ung thư đã lan đến tủy xương sống, đè đến dây thần kinh cho nên hai chân không thể cử động được nữa. Trải qua một thời gian dùng phóng xạ trị liệu thì miễn cưỡng có thể chống nạng đi được. Nhà cầu ở ngay kế bên giường, đối với ông là một khoảng cách rất xa. Ông thường phải phấn đấu rất khó khăn mới có thể ngồi dậy và đi vào nhà cầu. Mặc dù thân thể của ông rất yếu nhưng hai mắt ông rất có tinh thần. Ông nói chuyện rất khó khăn vì thần kinh trong não cũng bị ung thư. Lúc ngủ hai mắt nhắm không được, rồi sau đó xương chân bị gãy luôn. Trong lúc bị bệnh nặng như vậy mà ông nói: “Rất tiếc là bây giờ tôi không thể dạy học được nữa!” (Ông đã là một giáo sư rất nhiệt tâm dạy học trò). Ông nói: “Từng trải qua cơn bệnh quá đau khổ này làm cho tôi hiểu thêm về cuộc đời, hiểu rõ được sự khổ đau của mọi người, tôi sẽ càng thương yêu chăm sóc học sinh của tôi, rất tiếc là tôi không còn cơ hội nữa!”. Tôi nói: “Ông là một giáo sư rất đáng kính trọng, chỉ xem nguyện vọng của ông khi bị bệnh như vậy thì biết được”. Ông từ trên giường phấn đấu để ngồi dậy, nhưng chỉ có thể ngước đầu lên ba tấc. Chúng ta lúc ngồi dậy thì lập tức ngồi dậy. Ông phấn đấu đến cả người đổ mồ hôi ướt đẫm áo cũng chỉ ‘gần’ ngồi dậy được; nhưng ông rất vui và nói: “Tôi hôm nay có thể nhích được khoảng cách như thế này”. Đối với tôi, khi ông ngồi dậy được khoảng 30 đến 40 độ còn đáng nể phục hơn lực sĩ nhảy xa ở Thế Vận Hội. Ngoài sự phấn đấu về thể lực ra, ông còn có tâm nguyện muốn tiếp tục dạy học và tiếp tục chăm sóc cho học sinh. Ngày thường, chúng ta khỏe mạnh đầy đủ tinh thần, nhưng thường tính toán chuyện nhỏ nhặt để đem phiền não đến cho mình, chúng ta thường than trách công việc trong chỗ làm, có sức lực khả năng mà không làm chuyện tốt. Ông là một bệnh nhân nằm chịu đau trên giường nhưng lại có nguyện vọng đi dạy học trở lại để chăm sóc dạy dỗ thêm cho học sinh. Tuy ông không thể làm vậy được, nhưng tâm nguyện rộng lớn chân thành của ông đã đem ông lên giảng đài vĩnh viễn và trở nên giáo sư của hàng vạn người.

Có một người bị ung thư lưỡi đang trong thời kỳ cuối cùng. Tế bào ung thư từ lưỡi đã lan rộng đến cả hàm dưới. Lúc đầu còn khỏe thì có thể tự mình đi đứng được, sau đó phải có hai người vịn ở hai bên mới đi được, rồi phải ngồi xe lăn, cuối cùng thì không cử động được nữa. Nước vàng từ những chỗ bị ung thư rỉ ra hoài; mỗi khi tôi đến thay thuốc, ông thường hỏi: “Tại sao càng ngày càng lớn vậy?”. Ông nói chuyện không rõ ràng; khi tôi rửa vết thương thay thuốc cho ông, ánh mắt của ông nhìn tôi hình như là đang hỏi: “Không biết bệnh của tôi có thể lành được không? Tôi gần chết rồi phải không?”. Cái tâm trạng sợ hãi đó chính là tấm ảnh của ‘sinh tử trên sông Hằng’.

Khi chúng sinh đối đầu với sinh tử, ai cũng cảm thấy rất cô độc, sợ hãi, khủng bố. Cho dù là một bà mẹ tám mươi mấy tuổi cũng co ro vào lòng tôi khóc nức nở như một đứa bé… Một hôm tôi đi nghe giảng kinh và đi ngang qua đường T.H. Trời lúc đó rất lạnh, quán bán thịt nai bên đường vừa mới khai trương. Tôi lái xe mô tô đi ngang nhìn thấy có ba con nai đang đứng khép nép trong lồng. Ánh mắt của con nai đó rất quen thuộc, rất giống ánh mắt của những bệnh nhân đang nằm trong bệnh viện, hình như họ đang nói: “Tôi sắp chết phải không? Mau mau cứu tôi với; không kể dùng thuốc gì, phương pháp gì…”. Tội nghiệp ba con nai. Hãy thả chúng ra! Thả cho chúng về rừng đi. Một khi hô hấp của chúng ngừng lại thì không có cách gì có thể làm cho chúng nó chạy nữa, mau mau kiếm người chủ van xin đừng giết chúng nó! Khi quay trở lại, tôi ghé qua và mua mấy con nai đó đi phóng sinh. Khi người chủ nghe chúng tôi muốn mua nai đem đi phóng sinh, cảm động mà nói: “Tôi là người nuôi nai, rất thương yêu chúng, không bao giờ giết hại chúng, nhưng vì kinh tế khó khăn, bắt đắc dĩ hôm nay phải bán chúng làm thịt, tôi cũng rất đau lòng!”. Nghe xong tôi rất xúc động, chúng sinh tạo nghiệp thọ báo đều có những sự khổ não bất đắc dĩ như vậy. Thật ra mỗi người đều có Phật tánh; đây cũng là lý do mà đức Phật A Di Đà luôn luôn khoan dung, thương xót, chờ đợi đến lúc chúng ta có một niệm quay đầu trở về với quang minh. Chúng tôi mua nai xong, đem chúng đi quy y Tam bảo rồi thả vào rừng, hy vọng là chúng không bị bắt trở lại. Và cũng nguyện cho những người đi săn có thể phát Bồ đề tâm, gặp nhân duyên thiện có thể đổi nghề nghiệp, chấm dứt nghiệp sát để khỏi chịu khổ báo nữa.

Bệnh nhân thường để một con cá trê hay cá chép trong nồi hay thau nước ở dưới giường hoặc trên bàn để ăn cho bổ. Khi tôi đến thăm bệnh thì thấy hình như những con cá này đang vùng vẫy. Có một hôm tôi đến giường bệnh của một cô bị bệnh ung thư vú. Cô là một tín đồ Cơ Đốc giáo rất trẻ, mới hai mươi bảy tuổi đã bị bệnh này; bạn có thể tưởng tượng được khổ tâm của cô không? Hai tay cô lúc nào cũng lạnh. Ở dưới giường cô có để một con cá; tôi nói với cô:

“Có người đang kêu cứu ở dưới giường cô”. Cô mở mắt thật lớn và tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tôi hỏi cô: “Lúc cô biết được cô mắc phải bệnh này thì cô rất hy vọng sẽ có người cứu cô hết bệnh phải không?”. Cô gật đầu, tôi nói tiếp: “Con cá dưới giường biết nó sắp sửa vô chảo nóng, cảm tưởng của nó giống cảm tưởng của cô bây giờ. Cô chịu làm Chúa Giê Su đi cứu con cá này không? Con cá đang cầu cứu cô đó. Cô hãy xem!”.

Mắt của cô đỏ lên (muốn khóc).Tôi mới nói thêm: “Cô phát tâm cứu nó, lúc cô bị chuyện khó khăn hay tai nạn, tự nhiên sẽ có người lại cứu cô”. Cô vui mừng chịu đem cá đi phóng sinh. Sau đó một vị đạo hữu ở trường đại học Chuyên Khoa Đài Trung giúp cô đem cá đi phóng sinh…

Nhiều khi tôi nói với bệnh nhân: “Bán cho tôi nồi cá sống này được không?”. Bệnh nhân thường nói: “Nếu bác sĩ thích ăn thì tôi tặng cho bác sĩ”. Tôi trả lời: “Tôi ăn chay, không ăn cá, tôi muốn mua những con cá này đi phóng sinh, đem công đức phóng sinh này hồi hướng cho bạn, hy vọng là bạn cũng giống như con cá này, cũng được giải thoát, khôi phục lại sức khỏe, sớm lành bệnh để về nhà đoàn tựu với gia đình”.

Thông thường, những bệnh nhân đã chịu quá nhiều đau khổ hoặc có kinh nghiệm đi gần đến cánh cửa sinh tử, đều hiểu rõ ‘tình cảm của mình cũng giống như của con cá’. Họ thường phát tâm từ bi đem cá đi phóng sinh. Tâm niệm đem cá đi phóng sinh thường có thể làm cho họ có cảm giác vui vẻ, cổ vũ sự yêu đời của họ, và làm tươi nhuận đời sống họ nhiều hơn là ăn cá.

Có một người trẻ tuổi khi đi trên phố, nửa đêm bị kẻ bất lương đâm vào bụng bị thương nằm ngã qụy ở bên đường. Sau đó được người ta chở vào nhà thương, vết thương quá lớn nên lòi ruột ra, gan và mật cũng bị thương. Chúng tôi nửa đêm phải giúp anh giải phẫu và khi đó anh không có người nhà đi theo nên chúng tôi phải chụp hình vết thương trước khi giải phẫu để ngừa trường hợp giải phẫu có trục trặc gì phải có bằng chứng bị thương trước… (Trong xã hội hiện nay, chúng ta cứu người cũng không phải là chuyện dễ dàng!). Anh này mới đính hôn không bao lâu. Bạn có thể tưởng tượng được sự bối rối, lo lắng của người vợ sắp cưới khi nghe tin anh bị thương không? Những thứ trong bụng chúng ta thật không phải là vật gì tốt đẹp, đức Phật nói với chúng ta về ‘quán bất tịnh’, chúng ta có thể quán tưởng thử xem. Nếu lúc đính hôn mà lấy một tấm hình vết thương bụng máu me tùm lum đem cho người ta xem, chắc rất ít người sẽ chịu đính hôn với bạn!

Có một bệnh nhân nọ vào bệnh viện để trị bệnh xương, phía trên chân có gắn một cây kim bằng kim loại xuyên qua xương và qua luôn cả bắp thịt phía bên kia. Phía dưới chân cũng xỏ thêm một cây như vậy. Bạn có thể tưởng tượng khuôn mặt và tiếng hét kêu đau của người này lúc đút cây vào xương. Nếu người đó là bạn thì bạn có thể mỉm cười được không? Chúng ta thử đoán xem? Bạn thấy những chỗ bán chim nướng ở chợ đêm không? Có cả năm mười con chim xỏ chung vô một xâu treo lủng lẳng trước quầy hàng. Sự đau khổ gì gây ra cho những chúng sinh khác, một ngày nào đó cũng có thể xảy ra đến thân thể chúng ta. Khi chuyện đó xảy ra thì chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn, một chút xíu cũng không dễ chịu. Nhưng chúng ta thường đem sự đau khổ này gây cho chúng sinh khác một cách vô tình và xem như không có gì xảy ra. Hãy nghĩ đến sự khổ của chúng sinh, và cũng nên nghĩ đến hạnh phúc lâu dài. Xin tất cả mọi người đừng làm vậy nữa, để khỏi ‘hý tiếu sát tha mạng, bi khốc nhập địa ngục’ (cười vui khi giết mạng sống của con vật, rồi khóc than lúc vào địa ngục).

Có một người bị ung thư tử cung, mỗi lần gặp tôi đều khóc. Bà đã ly dị và một mình nuôi mấy đứa con rất cực khổ; đứa nhỏ mới học tiểu học thì bà bị bệnh này. Mỗi ngày âu sầu phiền muộn cứ diễn ra… Thật ra, trước đó bà đã trị bệnh gần hết rồi; nếu bà có chút ít trí tuệ trong đời sống… thì cũng có thể sinh sống vui vẻ. Người ta có thể trị hết bệnh ung thư, nhưng sự đau khổ trong tâm nếu không dùng trí tuệ và nghe Phật pháp thì không trừ hết. Bà đã được trị liệu bằng phóng xạ, bằng giải phẫu, chỉ thiếu một chuyện là không thỉnh đức Phật mổ cho tâm bà. Sự giải phẫu có hiệu quả nhất là phải giải phẫu trong tâm. Bứng tận gốc rễ của phiền não, để bà đừng ôm cứng cây cổ thụ phiền não mỗi ngày mà cứ tưởng là cây phiền não quấn chặt lấy bà.

Có một bà lão lúc vào bệnh viện băng kín vải trên mắt. Lúc tôi mở băng ra trong tâm cảm thấy đau nhói! Bà lão này có gương mặt rất hiền hậu, tròng mắt bà đã bị móc ra vì bị ung thư nên phải làm như vậy. Chúng ta có khi nào nghĩ đến lúc dùng đũa để gắp tròng mắt của con cá trên bàn ăn? Chúng ta thử nghĩ đến Helen Keller, một vĩ nhân bị điếc, câm và mù đã viết như vầy: “Nếu mắt tôi có thể sáng lại được chỉ ba ngày thôi, chỉ ba ngày thôi…” Chúng ta có thể trong một trường hợp nào đó sẽ bị mất đi đôi mắt, vậy mà lúc còn đôi mắt thì lại nhìn Đông, nhìn Tây và tự mình sinh ra phiền muộn? Tại sao chúng ta không nhìn ánh mắt từ bi của đức Phật? Tại sao không nhìn về phía có vô lượng hào quang? Chúng ta thường dùng cặp mắt quý báu để nhìn rác rến ở chung quanh; đem rác rến của người khác bỏ vào tâm khảm của mình. Để lâu rồi thì cả nội tâm giống như một cái thùng rác hôi thối, nên phải xa cách với chúng Bồ tát trong thanh tịnh đại hải. Xin hãy mở rộng con mắt của nội tâm, nhân lúc còn nhìn thấy được, hãy nhìn cái tốt đẹp của người khác, học tập ưu điểm của người khác; hãy cảm nhận thêm một chút, hãy nhìn thêm “Cám mục trừng thanh tứ đại hải” của đức Phật A Di Đà, hãy nhìn phong cảnh cực kỳ xinh đẹp của thế giới Cực lạc, và tấm lòng rộng lớn của chư Bồ tát.

Có một người bị ung thư ở thực quản, hô hấp bị khó khăn, phải đút một ống từ mũi vào phổi để giúp sự hô hấp và một ống để đút đồ ăn vào bao tử. Có khi bà phải ráng sức để ho, mỗi lần ho thì đau như xé ruột gan, toàn thân run rẩy vì đau đớn. Chồng bà nhìn thấy cảnh tượng đau lòng như vậy chịu không nỗi nên chạy ra hành lang mà khóc. Đôi lúc tôi đi chợ nhìn thấy những con gà bị treo trên quầy thịt cũng tội nghiệp như vậy. Trên cổ của con gà nào cũng có khoét một lỗ để treo, rất ít người thương hại sự đau đớn của chúng nó; nhưng đến khi người đút ống thở vào mũi là vợ, là con, hoặc là mẹ của bạn thì bạn cũng sẽ đau nhói ruột mỗi khi họ ho và thở mạnh.

Có một người làm nghề bán thịt heo, ông bị ung thư phổi được một thời gian thì qua đời. Tôi nghe vợ và con ông kể lại, khi ông về nhà mấy ngày hôn mê không tỉnh nhưng miệng cứ la hét và nói: “Mau mau đem những gan heo treo trên tường đi chỗ khác”. Hoặc là: “Mau đem đầu heo đi chỗ khác”.
Ông cứ kêu la như vậy suốt mấy ngày đêm, mọi người trong nhà sợ đến lông tóc dựng đứng nhưng không hiểu ông nói cái gì. Cảnh tượng lúc ông chết rất là dễ sợ, ông chịu rất nhiều đau khổ. Từ đó người nhà của ông mới biết nhân quả báo ứng của sự sát sinh. Khi ông nằm bệnh viện, tôi đã khuyên người nhà ông niệm Phật, nhưng họ nói trong lúc buồn khổ như thế thì làm sao niệm được? Tuy đức Phật A Di Đà có lòng đại từ bi tiếp dẫn người niệm được mười danh hiệu Phật lúc lâm chung vãng sinh về cõi Cực lạc, nhưng lúc còn khỏe mạnh người ta rất khó niệm được vì bị mê hoặc bởi vì tình ái của thế gian. Huống chi là lúc gần chết, bị sự bệnh khổ giày vò hành hạ thì làm sao có thể niệm được! Nguyện cho sự thị hiện thuyết pháp của người bệnh này làm cho người khác nghe thấy được và rút tỉa kinh nghiệm để tránh khỏi sự đau khổ tương tự. Và cũng nguyện công đức cảnh giác chúng sinh của ông có thể giúp ông lìa cảnh khổ và được Phật tiếp dẫn. Và cũng nguyện cho những chúng sinh bị ông giết hại nương vào nước cam lồ của Phật pháp, cởi mở gút mắc trong lòng, đồng niệm Di Đà, đồng sinh Tây phương, đồng thành Phật đạo.

Người khỏe mạnh thường than ngủ không đủ. Trong bệnh viện có quá nhiều nước mắt, sự đau khổ kéo dài lây lất! Người chưa tới số, nằm nướng trên giường và nói đồng hồ reo báo thức quá ồn. Người tới số, suốt đêm chiến đấu và dằng co với sinh tử. Có một người bị ung thư ở hàm dưới và lan đến cuống họng. Ông không thể nuốt được, hô hấp cũng khó khăn, cho nên bác sĩ phải khoét một lỗ ở bụng để dẫn thức ăn vào dạ dày, và khoét một lỗ ở cổ để giúp sự hô hấp. Chúng ta có thể ăn uống không cần khoét lỗ để đút đồ ăn và hô hấp không cần khoét lỗ để đút ống thì thật là rất quý. Vài ngày trước khi ông mất, có thể nói mỗi ngày máu đều chảy một chút, cách hai ba ngày lại chảy máu nhiều; máu từ miệng và mũi chảy ra, từ chỗ đút ống thở chảy ra. Những người y tá và bác sĩ trực muốn cứu ông nhưng chỉ có thể đứng một bên cầm cái thau để hứng máu từ trong thân ông chảy ra, rồi phải chuyền máu cho ông tại vì máu trong thân ông chảy ra từ những chỗ không thể cầm được. Có một lúc máu ông chảy ra dính vào người tôi. Đôi mắt ông đỏ ngầu và sưng lớn lên rất dễ sợ. Cả đêm chúng tôi ở bên cạnh chăm sóc và hứng máu cho ông. Sáng ngày hôm sau còn tiếp tục khám bệnh nên tôi mới nhờ một người bạn đem áo lại cho tôi thay. Áo của tôi thì có thể thay nhưng áo của ông thì không thể thay được! Bạn biết không, mỗi lần ông cử động mạnh một chút là máu chảy ra nhiều thêm nữa. Chúng tôi phải không ngừng tiếp máu vào cho ông nhưng cũng không nhanh bằng máu từ người ông tuôn ra; thuốc men gì cũng hết công hiệu; thân thể ông cứ chảy máu như vậy và hành hạ ông cả ngày cả đêm. Người ta muốn nhắm mắt một cách êm đềm thật không phải là một việc đơn giản!

Từ hôm đó tôi hiểu thêm một chút về vấn đề sinh tử, cái hình bóng phản chiếu trên sông Hằng rất có thể cũng là hình bóng của chính mình!

Có một em trai 16 tuổi, là một học sinh hạng nhất trong lớp; em bị bệnh ung thư não. Em đã phải mổ não bốn lần mà ba lần mổ được tiến hành trong cùng một năm. Em vào bệnh viện lần này để trị liệu phóng xạ, xương não của em bị cắt đi một khoảng cho nên cái đầu bị lõm vô một bên. May mà tánh mạng còn duy trì và có cơ hội nghe được Phật pháp. Một hôm tôi nhận được một bức thiệp cám ơn của ba em gởi. Trong đó ông nói là em nhờ ông viết và hy vọng nếu thuận tiện thì xin gởi cho em một tượng Phật để em lễ lạy. Ông rất khách sáo sợ làm phiền tôi, và làm như là bất đắc dĩ lắm mới xin tượng Phật. Tôi cảm động đến chảy nước mắt nên lập tức đi thỉnh một tượng Phật A Di Đà cho em. Ông ở Phong Nguyên, tôi quá bận nên phải nhờ một cô y tá đem cho ông. Cô y tá này kể lại khi cô vừa đến thì em từ trên giường ngồi bật dậy, vì nữa thân người dường như cử động không được nên đi cà nhắc, nhưng rất hăng hái và có tinh thần để đi lạy Phật. Nhìn cảnh tượng như vậy nên cô cảm động và nói: “Tứ chi tôi còn khỏe mạnh nhưng từ trước đến nay không bao giờ có ý muốn lạy Phật. Nhìn thấy em chí thành như vậy, phấn đấu hết sức lực yếu ớt của mình để lạy Phật, tôi rất xấu hổ”. Khi người ta còn khỏe mạnh đi đứng cử động được, thì cứ nghĩ đó là tự nhiên, ít khi nào quý trọng. Thời gian thân thể khỏe mạnh không thể kéo dài hoài được, những đoạn trước tôi có kể người ta có thể mất đi miệng, mất cuống họng, thậm chí đến mất bộ não. Ngày nay chúng ta còn có miệng, chúng ta nên học những lời nói ôn hòa tốt đẹp, cùng nhau khuyên nhủ giúp đỡ, cùng nhau niệm câu vạn đức hồng danh ‘A Di Đà Phật’. Chúng ta không biết khi nào có thể mất đi bộ não, ngày hôm nay còn thì chúng ta nên dùng nó để nghĩ đến hào quang và lòng từ bi của đức Phật.

A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!

Khi tôi làm bác sĩ nội trú vào năm thứ nhất, có một đêm trực ở phòng cấp cứu. Nửa đêm có một người bị nghẽn động mạch cơ tim, đã ngừng hô hấp và hôn mê không tỉnh. Mặt và lưỡi đã biến thành màu tím ngắt. Máy đo tim và kết quả thử máu cho biết là tim đã bị hư hoại trầm trọng. Theo kinh nghiệm của bác sĩ chủ nhiệm thì bệnh trạng nhẹ hơn người này cũng không cứu được nữa huống chi là tình trạng nặng như người này, nên nói cho người nhà phải ‘chuẩn bị tinh thần’. Tôi cứ theo lệ thường, vừa niệm Phật vừa lo cấp cứu bệnh nhân. Dùng hết nhiều thứ thuốc rồi nhưng huyết áp của ông không thể nào đo được, ông vẫn còn hôn mê và không thể tự mình hô hấp. Vợ của ông đau lòng nói với tôi: “Người ta nói ông trời thương và giúp đỡ người hiền lương, nhưng tại sao ông trời không thương tôi? Xin bác sĩ tìm mọi cách để cứu ông, cho dù ông biến thành ‘người thực vật’ thì tôi cũng chịu chăm sóc cho ông”.

Tôi cảm thấy là bà rất đôn hậu và thật thà nên mới khuyên bà: “Lúc người gặp tai nạn lớn, phải phát đại nguyện niệm Phật thì hy vọng có thể vượt qua”.

Bà nói: “Làm sao phát đại nguyện?”.
Tôi nói: “Dùng tâm chí thành của mình mà phát đại nguyện”. Bà liền nói: “Từ nay trở đi hai vợ chồng chúng tôi sẽ ăn chay trường và niệm Phật; ông ta là thầy giáo, khi hết bệnh có thể hoằng dương Phật pháp”.

Tôi đưa bà và mấy người con mỗi người một xâu chuỗi và nói: “Đêm nay quý vị nóng lòng chờ đợi trong phòng cấp cứu thì cũng không ích lợi gì, không bằng đem tâm bồn chồn này lắng xuống để niệm một vạn danh hiệu Phật A Di Đà, cầu Phật gia bị, Phật lực không thể nghĩ bàn. Chúng tôi ráng hết sức để cứu ông. Quý vị vì ông mà niệm Phật, nếu thọ mạng của ông hết thì ông cũng có thể vãng sinh Cực lạc”. Đêm đó ba người bác sĩ chúng tôi cứ nhìn các điện đồ đo tim và đo máu, điều chỉnh lượng thuốc từ 7 giờ chiều đến 3 giờ khuya. Một trong ba bác sĩ than là: “Chúng ta ba người trực cả đêm để lo cho một người mà không đo áp suất máu được!”. (Nghĩa là người này nếu không có gắn máy thì không thể tự mình hô hấp được). Điều kỳ lạ là đến khoảng bốn năm giờ sáng thì áp suất máu của ông từ từ tăng lên, ông cũng từ từ tỉnh lại. Tôi lập tức đi thông báo cho người nhà của ông. Tôi rất cảm động khi mở cửa nhìn thấy cả nhà ngồi xếp thành một hàng đang niệm Phật một cách rất chí thành. Con của ông viết trên một trang giấy: “Thưa ba, con rất muốn ba mở đôi mắt hiền từ ra”.

Có một thanh niên đến thăm ông và khóc sướt mướt làm tôi cứ tưởng là con của ông. Người thanh niên đó nói: “Ông là thầy tôi, lúc trước ổng ở trong một chái nhà lụp sụp, dùng hết tiền lương để cung cấp lo cho đám học sinh chúng tôi, nếu không có thầy thì hôm nay không có tôi, xin bác sĩ nhất định phải cứu sống ông”. Lời nói chưa dứt thì lại khóc tiếp; sau đó tôi mới biết ông đã được chọn là một trong ‘mười người thầy có lòng thương lớn nhất đối với học sinh’. Sau khi ông tỉnh lại phải tiếp tục dùng máy để trợ giúp hô hấp thêm ba ngày nữa. Lúc đó ông bắt đầu niệm Phật; ngoài bệnh bị nghẽn động mạch cơ tim, ông còn bị bệnh phổi nữa. Cuối cùng ông cũng lành bệnh và tự mình bước đi ra khỏi bệnh viện. Sau đó ông trở lại bệnh viện kiếm tôi để hợp tác in Kinh. Những bác sĩ xem qua tâm điện đồ và kết quả thử máu và thấy sức khỏe ông từ từ bình phục đều không thể tưởng tượng nổi.

Có một cô gái rất đẹp, lúc trước từng là hoa khôi trong trường. Trên mặt bị bệnh ung thư sưng lớn lên khoảng gần bằng ba cái đầu chụm lại. Lúc tôi mới gặp và nhìn thấy cô thì có cảm tưởng như là có đứa bé đang ngồi trên đầu. Tuy cô phải chịu đựng sự đau khổ to lớn như vậy, nhưng nghĩ lại cũng còn may. Trong thời gian đau khổ này, cô biết đến Phật pháp, cô than là: “Rất tiếc tôi nghe được quá trễ!”. Nhưng nếu kịp thời phát tâm thì cũng không trễ. Trong trường hợp đau khổ như vậy, nếu người khác thì đã kêu trời kêu đất rồi, ngược lại cô còn có thể niệm Phật. Cô đem sự đau khổ biến thành nước cam lồ của lòng từ bi, đổi sự áo não buồn rầu thành ánh sáng thanh lương, tâm cô đã nương dựa vào đức Phật A Di Đà. Cô đem tất cả tài sản của cô ra để cúng dường cho mọi người và dặn dò chuyện lâm chung đại sự. Rất nhiều Pháp sư và liên hữu cũng cảm động và từ bi niệm Phật tiếp cô. Một hôm, cô đưa năm trăm đồng nhờ tôi mua một giống hoa đem gieo trong chùa hoặc phía trước cửa Tịnh Nghiệp Tinh Xá Niệm Phật Đường; cô nói là để khi nào hoa có thể cúng Phật, có hoa nở ra hoài để cúng Phật. Chúng ta là người khỏe mạnh nhưng không ai có tâm niệm đẹp như cô. Có lẽ bạn sẽ nói mặt của cô rất xấu xí, diện mạo không còn đẹp như xưa nữa, nhưng nghĩ lại chúng ta có tâm niệm đẹp như cô không? Cô đưa tôi sợi dây chuyền quý nhất mà má cô tặng cho cô lúc trước và nói: “Nhờ bác sĩ bán sợi dây chuyền này xong rồi đem tiền đi in Kinh, cúng dường Tam bảo… tùy tiện làm thế nào cũng được, miễn là có thể làm lợi ích cho chúng sinh”. Thật là hiếm có, trong lúc cô chịu đựng muôn vàn đau khổ mà lại có được tâm niệm đẹp như vậy, bạn đã thể hội được sức lực của Phật pháp hay không? Rất nhiều người vào thăm cô, cô nói: “Tôi bị bệnh này là do nghiệp báo của những chuyện mà tôi làm lúc trước, quý vị thăm tôi rồi sau này phải đừng làm việc ác, nên làm việc lành, luôn luôn nhớ như vậy, phải biết dự trữ đồ ăn phòng khi đói kém. Mau sớm niệm Phật thì mới không uổng chuyến đi thăm tôi lần này”.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 07-05-2016 , 03:29 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Có một ông già tám mươi tuổi bị ung thư phổi từ viện dưỡng lão đến. Ông nói: “Lúc ông năm tuổi thì cha ông mất, tám tuổi thì mẹ mất, một người sống cô đơn đến nay đã 80 năm”. Có thể nói là ông đã nếm đủ hết mùi vị vui, buồn, ly, hiệp trong đời. Đến nay đã già lại mắc phải bệnh nặng, suốt ngày phải nằm trên giường. Có một đêm ông ngồi dậy ôm gối tự nói chuyện với mình: “Tôi muốn đi về, tôi muốn đi về”. Giọng nói rất thê lương, nhưng lúc đứng dậy thì đứng không vững và lại té bị thương. Răng trong miệng đã bám đầy bựa, mỗi ngày y tá phí bao nhiêu sức lực để kêu ông chà răng, ông nhất định không chịu chà và nói: “Người muốn chết rồi, chà răng để làm gì nữa!”. Đã gần hai tháng ông không chịu ăn gì hết nên gần kiệt lực vì đói. Rất khó khăn lắm tôi mới để thuốc và thức ăn vào miệng ông, nhưng ông nhất định không chịu nuốt và quyết tâm muốn chết. Sau đó đại và tiểu tiện cũng không khống chế và điều khiển được, đi đại tiểu tiện ngay trên giường bệnh. Ông không có gia đình, người làm trong bệnh viện không đủ, không có người túc trực ở kế bên để thay vải, trải giường và thay quần áo. Sau đó cả quần áo cũng không còn sức để mặc, mà cũng không chịu mặc, chỉ còn trơ da bọc xương như vậy nằm trên giường. Vì ông không chịu ăn cơm cho nên chỉ có thể chích thuốc. Tay ông bấy hết vì kim đâm để chích thuốc hoặc lấy máu. Đây là cái khổ của sự già nua. Khuyên ông niệm Phật nhưng ông cũng rất khó niệm được, mỗi lần nhìn ông thì không có bút mực nào diễn tả hết những sự đau lòng khổ não. Ông cũng đã từng khỏe mạnh như chúng ta, đã từng bước đi thoăn thoắt trèo non vượt suối, cũng đã từng giống như chúng ta, khi đói thì kiếm ăn, vui thì cười tươi như hoa nở. Nhưng những đợt sóng sinh tử của sông Hằng một giây phút, một tích tắc cũng không chịu ngừng lại… Thân thể chúng ta cũng như căn nhà có thể bị hư hoại và bị sụp đổ; sống trong căn nhà cũ bị hư, bị dột mưa thì rất khổ, rất khó khăn. Nếu lúc đó chúng ta niệm Phật, đem tâm an trú tại cõi Tây phương tự do tự tại, kiên cố thanh tịnh, bất cứ lúc nào cũng có thể dọn nhà đi thì rất trang nghiêm tốt đẹp. Nếu buồn rầu áo não theo căn nhà cũ nát, sợ là tương lai chúng ta cũng sẽ dọn đến căn nhà còn hư dột và cũ hơn hiện tại nữa, chịu khổ đời đời!

Có một bệnh nhân đã già, có người nói ông đã 80 tuổi, có người nói ông đã 90 tuổi. Hình như trước kia ông là giáo sư trường đại học Bắc Kinh, diện mạo của ông rất giống người trí thức. Ông không phải là bệnh nhân thuộc chuyên khoa chữa trị của tôi. Từ lúc đầu tiên khi tôi gặp ông thì ông đã hôn mê bất tỉnh. Mỗi lần đi vào phòng bệnh tôi chỉ có thể niệm ‘A Di Đà Phật, A Di Đà Phật’ vào tai ông, cứ như vậy cả hai tháng, ông chưa khi nào có một chút phản ứng gì hết. Sau cùng ông tỉnh lại, có chút phản ứng và nhìn tôi, ráng hết sức hình như muốn niệm “A Di Đà Phật”, nhưng không có sức để niệm ra tiếng. Tay ông cử động hình như muốn chắp tay. Chắp tay lại đối với người khỏe mạnh là một chuyện rất dễ dàng, nhưng đối với ông thì lại vô cùng khó khăn. Không phải là lúc còn trẻ da ông cũng rất hồng hào mềm mại hay sao? Nhưng thế gian vô thường, hồng hào mập mạp trẻ trung sẽ từ từ biến thành già nua lụm cụm!

Hình như tôi đã đem hình tượng của những người lớn tuổi kéo xuống tận đáy thẳm vực sâu, như thế có phải quá tàn nhẫn hay không? Nhưng nếu không diễn tả rõ ràng thì mọi người không hiểu rõ những chuyện trong thế gian, không buông xả được như vậy thì không thể đạt được hạnh phúc tự tại. Nếu không kịp lúc hồi đầu niệm Phật, e rằng sẽ hối hận vĩnh kiếp về sau!
Phần đông khi người ta sắp chết thì hô hấp rất khó khăn. Nếu đang ở trong ở bệnh viện thì bác sĩ sẽ đút một ống vào miệng hoặc vào mũi, vô khí quản đến phổi để duy trì sự hô hấp. Đến lúc nguy cấp thì đẩy vào phòng có y tá túc trực thường xuyên để theo dõi bệnh nhân. Có khi dùng dưỡng khí chụp vào mũi để giúp cho bệnh nhân thở. Khắp nơi trên thân thể chỗ nào có thể đút ống vào thì cũng đều đút ống, thí dụ đường tiểu thì đút ống vào để thông tiểu, miệng thì đút ống vào để dẫn thức ăn vào bao tử, hoặc mũi thì đút ống vào phổi, chỉ thiếu một thứ là không có một ống gì để dẫn ánh sáng của đức Phật A Di Đà vào tâm khảm của người ta. Một phòng bệnh có y tá túc trực (intensive care) thì cũng giống như một địa ngục ở trần gian. Có lẽ những thiết bị tối tân này đã cứu sống rất nhiều người, nhưng thật ra đối với bệnh nhân, không kể là chữa lành bệnh hay không, đều là địa ngục rất dễ sợ, không người nào thích bị đưa vào thêm một lần nữa! Lúc trước, khi đọc Kinh Địa Tạng, tôi thường nghĩ là chư Phật, Bồ tát sợ chúng sinh làm chuyện ác, cố ý nói ra để dọa người. Đâu có chỗ nào là địa ngục thiêu đốt, địa ngục cắt lưỡi… cái khổ gì cũng có, rất là dễ sợ, hình như đều là dọa người ta. Đến khi tôi vô bệnh viện thì mới biết đức Phật nói câu nào cũng đều là sự thật, và cũng hiểu được tại sao đức Phật ở trong Kinh đã nhiều phen dặn dò và phó chúc Địa Tạng Bồ tát là: “Đừng để chúng sinh đọa vào ác đạo cho dù chỉ là một ngày một đêm. Nhất định phải nói rõ cho chúng sinh biết những sự khổ trong nhân quả báo ứng này, đừng để cho chúng sinh đọa vào ác đạo chịu khổ một ngày một đêm”. Nhưng lúc bình thường chúng ta có để ý và hiểu tâm từ bi này của Phật không?

Khi bệnh nhân kêu tôi nửa đêm, lúc tôi rất mệt và buồn ngủ nhưng phải tỉnh dậy để đi thăm họ, săn sóc, cho thuốc hoặc là trị liệu, lúc đó thấy chúng sinh đang chịu đựng bên bờ sinh tử, những câu trong Kinh Bát Đại Nhân Giác liền hiện ra trong tâm: “Sinh tử thiêu đốt, khổ não vô lượng, phát đại từ tâm, phổ tế tất cả, nguyện chịu thay vô lượng khổ cho chúng sinh, làm cho chúng sinh đến được sự sung sướng viên mãn”. Nhưng khi nhìn thấy cảnh tượng quá khổ này, kêu bạn đi chịu khổ thay cho chúng sinh, bạn có thể làm được không? Thử hỏi những sự khổ đã kể ở đoạn trước, bạn có thể thay thế cho họ một đêm không? Tôi không nói chuyện “thay thế” này quá khó, chỉ là ở một bên để săn sóc an ủi người bệnh liên tục mấy đêm liền không ngủ, cả ngày lẫn đêm thì đã quá khó rồi (thường thì bạn sẽ cảm thấy đầu nặng, tim đập mạnh hơn lúc trước…). Tu hành trong nhà Phật, trừ tâm từ bi ra, còn cần có lòng tin vững chắc, nguyện lực rộng lớn, niệm Phật chuyên cần thì mới có khả năng thoát ra khỏi lục đạo sinh tử luân hồi khổ não. Thật ra không nói là thay thế chịu khổ, chỉ ‘nghe’ thôi, cả ngày ngồi ở đó từ sáng đến tối nghe người ta than thở: “Tôi khổ như thế nào”, “nhà tôi có sự khổ vô cùng”, để cho bạn nghe một ngày 24 giờ, liên tục mấy ngày liền thì bạn sẽ hiểu. Sau khi tôi ‘nghe’ một thời gian, có một hôm khi tôi đang niệm Quán Thế Âm Bồ Tát thì nghe có tiếng người khác cũng đang niệm “Nam Mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, nghe xong câu này tôi liền có một niềm xúc động vô hạn, chảy nước mắt lúc nào không hay. Thật đúng như vậy, đừng nói để bạn thay thế chúng sinh chịu vô lượng khổ, chỉ để bạn ‘nghe’ sự khổ thì liền biết lòng từ bi vô biên của Bồ tát. Ngài đã phát nguyện “lắng nghe chuyện khổ nạn trong thế gian”, chỗ nào có người chịu khổ thì liền lập tức đến để cứu họ. Chúng ta lắng tâm để niệm Bồ tát, từ danh hiệu của một vị Bồ tát thì biết được lòng từ bi vô cùng tận của chư Bồ tát, tâm địa rộng lớn không thể nghĩ bàn của quý Ngài.

Khi đôi mắt tôi nhìn thấy sự buồn rầu, lo sợ, khủng bố của những người sắp chết, đôi tai nghe vô số tiếng khóc lúc sinh ly tử biệt, quay lại niệm ‘vô lượng quang minh và vô lượng thọ’ của đức Phật A Di Đà, tự nhiên lại tràn đầy nước mắt và cảm nhận được sự từ bi thông cảm vô cùng thân thiết chứa đựng trong danh hiệu đức Phật A Di Đà. Thì ra đức Phật A Di Đà, từ xưa đã biết được những sự đau buồn đen tối và sự lo sợ trong vòng sinh tử của phàm phu chúng ta, nên Ngài phóng vô lượng quang đến khắp mọi nơi để cứu độ, không nhàm chán mà an ủi chúng sinh. Ngài không nghỉ ngơi, không ‘lấy vacation!’ ngày cũng như đêm, chí nguyện vĩnh viễn không bao giờ ngừng nghỉ để cứu giúp chúng sinh trong biển khổ sinh tử, đem sự thanh lương ở cõi Cực lạc ban bố cho chúng sinh. Bạn có để ý những khi mưa suốt mấy ngày liền nhưng mặt trời vẫn không mất đi. Vô Lượng Quang Thọ là một nguồn từ bi vĩnh hằng, chiếu rọi vô tận, không bị bất an vì mất đi quang minh, không có sự đau khổ của sinh ly tử biệt.

Có khi đêm đã khuya, thuốc ngủ và thuốc chống đau đều không còn hiệu lực nữa, tôi thường ở bên giường bệnh nhân giúp họ niệm Phật (thật ra phải nói là Bồ tát bệnh nhân giúp tôi niệm Phật, vì nếu không có họ ở một bên, tôi không siêng đến nỗi nửa đêm không ngủ thức dậy niệm Phật). Hòa hợp vào nhịp thở và tiếng niệm Phật của bệnh nhân, vừa niệm vừa nghe từng câu từng tiếng một cách an tịnh. Khi thuốc men không còn công hiệu nữa, hết sức thành khẩn cầu cứu đức Phật A Di có công hiệu mạnh nhất, có thể an ủi được thân tâm đau khổ của bệnh nhân. Lắng nghe được một tiếng thì ngay khi đó liền được giải thoát, nếu an tịnh mà nghe rõ ràng từng chữ thì sự đau khổ trong mỗi phút này liền biến mất, cũng như giọt sương tan khi mặt trời mọc. Phật A Di Đà cũng như một công ty cung cấp điện lực miễn phí, chỉ cần bạn đừng rút đồ cắm điện ra thì sẽ thâu nhận được nguồn năng lượng vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt này.

Có một người bị ung thư mũi, ở đây giới thiệu về người này là có ý nghĩa đặc biệt. Ung thư đã lan rộng đến mức khó thở thì cô mới đến bệnh viện, lúc đó vô cùng đau đớn. Một thời gian không lâu trước khi mất, cô phát tâm ăn chay. Cô kéo tay tôi và nói: “Bác sĩ à, nếu bệnh tôi không có hy vọng chữa hết thì xin cầu cho tôi được mau mau về nước của Phật A Di Đà”. Cô từ bệnh viện khác đến bệnh viện chúng tôi để trị liệu phóng xạ. Bệnh ung thư mũi vốn là bệnh có hiệu quả trị lành rất cao, chỉ cần phát hiện và trị liệu sớm thì đều hết bệnh, nhưng cô phát hiện bệnh quá trễ. Vì nửa đêm, cô bị hô hấp khó khăn nên người ta mới chở cô đến bệnh viện của chúng tôi để cấp cứu, nhưng không cứu được. Đêm đó, tôi không có trực tại bệnh viện, cho đến sáng hôm sau, lúc tôi đến thì cô đã ngừng thở hết một thời gian và được xem là đã chết rồi, người nhà đang sửa soạn để xuất viện. Không biết tại sao y tá ở phòng cấp cứu gọi tôi bằng hệ thống truyền thanh của bệnh viện. Khi tôi đến, nhìn thấy cô thì cảm thấy rất buồn. Tôi kề bên tai cô và nói:

“Trong đời sống quá ngắn ngủi của cô đã chịu đựng quá nhiều đau khổ. Con cô tuy còn nhỏ nhưng đã có chồng cô lo cho nó, những chuyện này cô muốn lo cũng lo không được rồi. Bây giờ cô nhất định phải buông xả hết tất cả mọi việc. Cô hãy cùng tôi niệm A Di Đà Phật rồi theo Ngài đi về Tây phương Cực lạc thế giới”.

Tôi ở bên cạnh cô niệm Phật và cầu đức Phật từ bi nhiếp thọ. Lúc đó, trong lòng tôi cảm thấy rất rõ ràng mỗi một câu niệm Phật đều từ đáy lòng phát ra. Một điều kỳ lạ là nước mắt của cô cứ chảy ra hoài. Sau đó, tôi mời những cô y tá trong phòng cấp cứu lại xem và nói: “Trên mặt y khoa, chúng ta nói là cô ta đã chết, hơi thở đã đoạn dứt rồi, không còn nhịp tim đập, không còn áp suất của máu, tất cả đều không còn nữa. Nhưng nhà Phật nói tại vì người chết có chấp trước, thần thức của họ chưa hoàn toàn rời khỏi thân thể, bình quân phải đợi đến tám giờ sau mới lìa khỏi thân thể. Do đó, chúng ta phải lo cho người gần lâm chung hoặc người mới chết một cách đàng hoàng”.

Nhưng người hiện nay nếu tắt thở trong bệnh viện, phần đông là không cho chúng ta để yên không động đến thi thể của họ, điều này thật đáng tiếc.

Là người học Phật, chúng ta phải đặc biệt chú ý. Lúc lâm chung vô cùng quan trọng, vì lúc người ta gần tắt thở tứ đại phân ly rất đau đớn, thần thức gần thoát ly ra khỏi thân thể, đau giống như gió rét cắt thịt hoặc như kéo mu rùa rời khỏi thân rùa. Lúc bấy giờ tuyệt đối đừng đụng chạm đến thân thể của người mất, phải nhắc nhở và giúp họ niệm Phật, giúp họ khởi lên chánh niệm muốn vãng sinh cõi Cực lạc. Nếu không vãng sinh thì phải tùy theo nghiệp báo đi đầu thai, đời đời kiếp kiếp lưu lạc trong sáu nẻo luân hồi, sự khổ đau của sinh lão bệnh tử cứ diễn đi diễn lại mãi mãi. Cho dù bạn là ông vua hay tổng thống cũng không tránh khỏi, thông minh không đối chọi được với nghiệp lực, giàu sang cũng không miễn được luân hồi!

Một lần nữa xin nhắc quý vị, nếu sau này gặp những trường hợp như vậy thì phải chú ý: Lúc lâm chung và tám giờ đồng hồ sau khi tắt thở, đều phải nhất tâm niệm Phật, nếu Tín, Nguyện được chân thành thiết tha, đức Phật nhất định sẽ từ bi nhiếp thọ. Trong lúc này (trong vòng tám giờ), không được di chuyển và động chạm đến thi thể người mất, không được làm bất cứ chuyện gì động chạm đến họ (kể cả di chuyển giường họ đang nằm).

Nếu bạn đã bị bệnh nặng thì biết trong lúc thân thể vô cùng yếu đuối và đau đớn, cho dù chỉ nhích một tí để xoay mình lại, hoặc là thay áo thì cũng làm cho người bệnh rất đau, thân tâm rất khó an lạc. Phần đông, người ta cho rằng niệm Phật là để tiễn đưa người mất. Thật ra, đức Phật A Di Đà có vô lượng quang và vô lượng thọ, niệm Phật cho người bệnh nặng là đem tâm đang đau khổ rối loạn của người bệnh mà khế hợp (nối liền) với vô lượng hào quang của Phật (cũng là để khôi phục lại vô lượng quang thọ trong tự tánh mỗi người). Nếu mạng chưa hết, niệm Phật nhờ vào Phật lực gia trì, có thể tiêu tai diên thọ. Có nhiều bệnh nhân buông xả hết vạn duyên nhất tâm niệm Phật, vốn là bệnh rất nặng nhưng cũng lành bệnh. Nếu thọ mạng đã hết, khi niệm Phật thì được đức Phật tiếp dẫn về cõi Cực lạc, đi ‘du học’, được tự tại an lạc. Trong bệnh viện, tôi từng thấy rất nhiều bệnh nhân được đưa vào phòng cấp cứu, nhưng cứu không được, bác sĩ tuyên bố đã chết rồi. Vài giờ sau, người nhà từ phương xa đến, người mất tự nhiên ra máu mũi hoặc chảy nước mắt. Những chuyện này làm cho tôi càng tin tưởng lời dạy của người xưa: “Không được đụng chạm và di động người mất trong vòng tám giờ sau khi tắt thở, hết lòng niệm Phật để trợ niệm cho người mất”. Ở đây, xin quý vị để ý đừng nên xem thường chuyện này mà tạo nên sự sơ sót không thể nào hàn gắn lại được.

Có một bệnh nhân vốn là một người bán thịt heo, thường ngày đối xử với mọi người rất tử tế, nghề mổ heo là do cha mẹ truyền lại, ông nói: “Chúng tôi không thể đổi nghề và cũng không biết là nên đổi nghề gì khác”. Thuở nhỏ, có người dạy ông niệm A Di Đà Phật, nên mỗi lần ông nhìn thấy tượng Phật thì đều chắp tay niệm ‘A Di Đà Phật’. Điều đáng quý là ông nói ông không cầu nguyện gì cho mình cả mà chỉ hy vọng đức Phật phò hộ cho tất cả chúng sinh; ông nói: “Đức Phật làm sao chỉ phò hộ cho một mình tôi được chứ”. Quan niệm này thật rất đúng. Tuy đã làm nghề này lâu rồi nhưng tâm địa của ông rất hiền lương. Ông không biết giết heo là làm hại chúng sinh thì phải chịu quả báo không tốt. Ông bị ung thư hàm dưới, qua một thời gian sau, nguyên cả cuống họng cũng bị ung thư lan đến, tuy có chữa trị nhưng cũng tái phát trở lại. Mỗi đêm, ông nằm trên giường rên rỉ, hít thở rất khó khăn và phát ra âm thanh như kéo cưa vậy. Trong miệng có đàm nhưng không thể khạc ra mà cũng không thể nuốt xuống, cuống họng như bị xiết cứng lại nên mỗi lần thở mạnh thì rất đau. Ông nói lúc đó ông mới biết được sự đau khổ của con heo vừa bị làm thịt, ông thật tâm sám hối. Ông ăn không được nên phải đút ống vào miệng để dẫn thức ăn lỏng. Trên quan niệm thì ông đã hiểu rõ và phát tâm niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Sắc mặt của ông khác hẳn với những bệnh nhân khác, ông không thường âu sầu. Ông nói: “Nhờ bác sĩ xem thân thể tôi có bộ phận nào còn dùng được, đôi mắt tôi có thể quyên cho người khác không? Tim tôi còn tốt không? Có thể quyên cho người khác không? Nếu quyên được thì xin quyên, bởi vì hy sinh một mình tôi không quan trọng lắm, nếu có thể làm cho người khác sung sướng thì rất quý”. Tôi nói: “Tâm của ông thật rất giống tâm địa của Bồ tát. Đời của mỗi người có thể làm gương cho người khác, đôi mắt của ông chỉ có thể cho một người duy nhất. Người đó có đôi mắt này sẽ nhìn thấy mọi sự vật, nhưng sau khi nhìn thấy, không biết người đó sẽ vui hay giận. Nếu dùng đôi mắt này để nhìn những thứ làm cho người đó phẫn nộ thì rất đáng tiếc. Một người tiếp nhận đôi mắt thịt này chưa chắc sẽ sung sướng. Nếu không biết dùng thì giải phẫu thay tim cũng không thể làm cho người đó hạnh phúc, nếu người đó không hiểu rõ được đạo lý chân chánh. Ý tôi không phải phản đối không cho người giải phẫu thay bộ phận trên thân thể. Nhưng người có thể chịu đau trong lúc mổ xẻ mà không sinh tâm sân hận hay hối hận thì cần phải có ‘đạo lực’ rất lớn. Hơn nữa, tuy là người bị bệnh ung thư có lòng tốt và quyên tặng bộ phận trên thân thể của họ khi còn sống, nhưng người tiếp nhận có ngại sau khi tiếp nhận bộ phận này sẽ bị ung thư không? Ông có lòng tốt như vậy rất đáng quý, tôi không thể ngăn cản ông được, chỉ nói với ông là: “Bây giờ ông nên niệm Phật gấp rút để vãng sinh đến Tây phương Cực lạc thế giới và sau đó theo nguyện vọng trở lại độ chúng sinh. Chỉ cần lúc này ông nỗ lực niệm Phật để đến phút cuối có thể bước chân lên đài sen, ông sẽ làm gương tốt cho rất nhiều người, và làm cho họ hiểu được sự thù thắng của cõi Cực lạc”. Ông nói suốt đời làm nghề này, ban đầu vì tình trạng kinh tế gia đình bắt buộc, nếu không làm (giết heo) thì không có tiền sinh sống. Sau này tính lại, số tiền ông kiếm được làm nghề này không đủ để ông trả tiền nằm nhà thương mà trái lại còn thiếu nợ nữa, làm cho đời sống ngày càng khó khăn thêm. Người ta thường viện cớ ‘không làm như vậy không được’, tuy biết là làm như vậy không đúng với Phật pháp mà vẫn tiếp tục làm. Một ngày nào đó phát hiện ra ‘không được nữa’, quay đầu nhìn lại mới biết làm như vậy không được bao nhiêu nhưng cuối cùng phải mang bệnh và đau khổ, phải trả bằng một giá quá đắt, thật không đáng chút nào. Lúc ông nằm bệnh viện, có một số liên hữu lại giới thiệu Phật pháp và giúp ông niệm Phật. Sau khi về nhà và mấy ngày trước khi mất, ông nhờ người nhà kiếm họ tiếp tục trợ niệm. Vài người ở Y Vương Học Xã và bà chủ nhà trọ của tôi đều đến trợ niệm cho ông. Nghe nói ông mỉm cười và niệm Phật mà đi. Họ càng niệm Phật thì ông cười càng tươi hơn. Xong rồi họ nói với tôi: “Chúng tôi trợ niệm cho ông, ông mỉm cười nhìn chúng tôi, sau tám giờ ông ấy cũng vẫn còn mỉm cười nhìn chúng tôi”.

Có câu thơ như vầy:
“Tự thị bất quy, quy tiện đắc
Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh?”
Tạm dịch:
Không chịu quay về, về được ngay,
Gió trăng mây cũ kẻ nào tranh?

Nụ cười của ông khi ‘quay về cố hương’ thật là sự an ủi và khích lệ cho những người đang vùng vẫy bàng hoàng bên bờ sinh tử. Nụ cười cuối cùng của ông là nụ cười vô cùng hiếm hoi và trân quý.

Những câu chuyện kể trên đều là hình ảnh của sông Hằng. Tất cả các hình ảnh của dòng sông sinh tử này đã làm cho đức Phật Thích Ca cảm thấy rất nhức đầu. Ngài đã nhìn thấy những hình ảnh của sinh, già, bệnh, chết và suy nghĩ để tìm cách cứu giúp chúng sinh xa lìa biển khổ sinh tử. Trải qua một quá trình gian khổ dưới bóng cây Bồ đề, Ngài đã giác ngộ được tất cả đạo lý của nhân sinh vũ trụ. Bắt đầu chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển, thuyết pháp Tứ Đế (khổ, tập, diệt, đạo) cho nhóm năm Tỳ kheo đầu tiên (nhóm ông Kiều Trần Như). Ngài nói cho họ biết nhân sinh có các thứ khổ như thế nào, nguyên nhân của khổ là gì, phương pháp thoát khổ là gì, và sau khi thoát khổ thì sẽ ra sao. Tôi nghĩ, đây là cuộc diễn giảng về y học hoàn hảo nhất trong lịch sử nhân loại. Đức Phật là một người thầy thuốc vĩ đại nhất. Ngài đã giảng cho chúng ta phương pháp vĩnh viễn miễn trừ những sự đau khổ này! Như tia sáng lóe ra từ trong đêm dài đen tối, giác ngộ là con đường vô cùng xinh đẹp, con đường đi về cố hương, đi trở về với Phật tánh thanh tịnh vốn sẵn có của mỗi người. Đức Phật Thích Ca mỗi ngày đều kêu gọi chúng ta mau mau lên đường đi về quê hương, Ngài muốn chúng ta tháo mở những phiền não đang trói buộc chúng ta để đi đến sự an lạc viên mãn.

Quý vị có muốn nối gót đức Phật đi trở về quê hương không? Có nhiều người đi theo đức Phật và đã giác ngộ rồi. Quý vị hãy xem hình của lão Hòa thượng Hư Vân, chỉ cần nhìn thần sắc của Ngài, chỉ cần xem phong độ phi phàm của Ngài mà không cần xem truyện ký, chúng ta cũng cảm nhận được tấm lòng của Ngài rộng lớn như thế nào mới có được thần sắc như vậy. Tôi từng nghe một Pháp sư kể lại vào năm thầy của Pháp sư 36 tuổi, lão Hòa thượng lúc bấy giờ đã 106 tuổi, hai người đi qua một con sông, cây cầu bắc ngang con sông được làm bằng hai cây trúc hợp lại. Vị thầy trẻ tuổi này không dám đi qua, lão Hòa thượng nắm lấy cổ áo ông nâng lên như thế rồi khiêng ông đi qua sông. Hai chân của ông còn đá tới đá lui sợ hết hồn, lão Hòa thượng nháy một mắt cũng không chớp thì đã khiêng ông đi qua cầu. Nguyên câu chuyện này quý vị có thể đọc được trong niên phổ truyện ký, ở đây, chúng ta chỉ nhắc đến một chút, mọi người có thể từ đó mà suy nghĩ. Hãy nhìn xem những người nối gót chân đức Phật, họ làm thế nào mà ‘sinh thời tợ lệ hạ hoa, tử thời mỹ như thu nguyệt’? Lúc sống đẹp như hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng tròn mùa thu chiếu khắp nơi.

Thêm một vị đại đức gần đây nhất là lão Hòa thượng Quảng Khâm, mọi người đều xưng tán Ngài là “bảo vật” trong Phật giáo. Hai ngày trước khi vãng sinh, đôi mắt Ngài sáng và vô cùng sắc sảo. Năm lão Hòa thượng 92 tuổi, tôi có dịp theo Ngài đi lên núi, Ngài đi ở phía trước từng bước rất vững vàng và nhanh chóng. Tôi đi theo phía sau thật rất mệt mới theo kịp. Lúc đó chùa Thừa Thiên còn đang xây cất chưa xong, khi đi qua một đoạn đường có nhiều vật chướng ngại, xém chút xíu tôi bị té, Ngài quay đầu lại nói: “Con phải đi cẩn thận nghen!”. Giọng nói của Ngài khàn khàn nhưng có oai lực, ánh mắt nghiêm nghị nhưng chứa đựng lòng từ bi vô hạn. Tôi rất hổ thẹn; bây giờ trên đường đời đã vấp ngã bao lần, đã gặp phải nhiều chướng ngại, nhớ lại lời Ngài nói thì tự nhiên lệ đẫm ướt mi lúc nào không biết.

Có người tưởng Ngài rất là huyền bí nên muốn đi ‘điều tra’ cặn kẽ. Đến khi nghe Ngài nói chuyện hết nửa ngày thì chỉ nghe toàn là những từ ngữ như: ‘Niệm Phật’, ‘đừng ăn thịt’ nên trong bụng thầm nghĩ: “Tôi cũng biết nói như vậy, cần gì phải hỏi lão Hòa thượng!”. Thật không sai, ai cũng biết nói như vậy, nhưng chúng ta không ai đã từng trải qua sự tu hành khổ hạnh, công phu chân thật như Ngài, lại không có đủ đức hạnh để cảm hóa người khác. Cho dù có nhiệt tâm để khuyên người, người ta còn chê mình là ‘nhiều chuyện’ nữa. Ngài đã hàng phục được mình, đã hạ thủ công phu rất sâu trong sự tu niệm, nên tự nhiên cảm hóa được hàng vạn người. Lúc Ngài còn trẻ tu hành ở trong hang trên núi, khi lương thực đem theo đã hết thì chỉ nhờ vào khoai rừng và rễ cây để duy trì mạng sống. Ba chiếc áo vá đi vá lại đến khi chỉ còn một chiếc, suốt sáu mươi năm chỉ ngồi không nằm, đối với vật chất yêu cầu rất thấp. Lúc còn trẻ ở chùa Thừa Thiên, thầy của Ngài là Chuyển Trần lão Hòa thượng có dạy Ngài như vầy: “Ăn những thứ mà người khác không ăn, mặc những thứ mà người khác không (muốn) mặc, làm những gì mà người khác không làm, sau này thì ông mới biết”.

Thầy của Ngài chỉ dạy Ngài tu khổ hạnh và chuyên niệm Phật. Ngài làm theo những lời dạy này một cách rất thật thà, hạ thủ công phu trên tâm địa mình. Rốt cuộc, Ngài trở thành một vị rất phi phàm; rất nhiều người vừa mới gặp liền cảm động, mến phục, và rất kính trọng Ngài.

Những lời Ngài khai thị thường thường chỉ là một vài câu, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng; nếu chúng ta tin theo được thì nhất quyết sẽ không lãng phí đời này. Như phía trước có nói: ‘Niệm Phật’ và ‘đừng ăn thịt’. Nếu chúng ta trong mỗi niệm đều niệm Phật, làm cho đại quang minh, trí huệ, từ bi, và giác ngộ của chư Phật bất kỳ lúc nào cũng tràn đầy trong tâm khảm của mình; như vậy không phải là lúc nào cũng kiết tường hay sao? Không còn sự đau khổ của ‘nhân, ngã, thị, phi’, không chịu sự hành hạ của tham, sân và si nữa. Nếu giảm bớt sự ham thích ăn uống và làm theo lời dạy của Ngài: “Đừng ăn thịt”thì từ từ sẽ thể hội được đạo lý: ‘Cùng một gốc rễ’ (cùng bản thể), sẽ thưởng thức được sự hỷ duyệt (vui sướng) của lòng từ bi. Mỗi ngày trong lòng đều điềm đạm, bình thản, mộc mạc, tin sâu, nguyện thiết và niệm Phật cầu sinh Tây phương, lúc lâm chung sẽ nhờ sức Phật tiếp dẫn, thoát khỏi sự đau khổ đời đời kiếp kiếp của sinh tử luân hồi! Hai câu nói đơn giản của Ngài đã chỉ ra con đường sáng rỡ thành Phật ngay trong một đời. Ai thật thà chịu nghe, tin, và làm theo thì sẽ được lợi ích lớn; người không thật thà chỉ thích nói lý thuyết cao siêu, làm những chuyện kỳ quái, phô trương một số thần thông mà lại xem thường lời dạy quan trọng nhất này thì sẽ đánh mất cơ hội quý báu để thoát ly sinh tử luân hồi.

Đệ tử của lão Hòa thượng thuật lại lúc Ngài còn tại thế, một hôm có một người xách cặp táp kiểu điệp viên 007 một cách rất thần bí, lên núi xin gặp và nói chuyện “riêng” với Ngài. Vì trong quá khứ đã có người có ý muốn làm hại Ngài cho nên các đệ tử không cho người này đơn độc gặp lão Hòa thượng. Người này đến kề vào tai lão Hòa thượng và hỏi Ngài một cách rất cung kính: “Kính thưa lão Hòa thượng, người ta đều nói Ngài có thần thông, xin Ngài nói thật với tôi Ngài có thần thông hay không?”.

Sau đó lão Hòa thượng cũng thần bí kề vào tai người kia mà nói: “Tôi nói với ông, tôi có ăn thì có thông, không ăn thì không thông!”.

Sự kỳ diệu của Phật pháp là ở chỗ rất bình thường, không lôi cuốn sự hiếu kỳ của người ta bằng những thần thông hoặc những tướng trạng kỳ dị. Người người đều có đầy đủ thần thông, chỉ vì bị tâm tham, sân, si, mạn, nghi, phiền não che lấp nên không thể hiện ra được; có thần thông mà không thể giải quyết vấn đề sinh tử thì cũng như không. Hướng ngoại tìm cầu nhờ “những người có thần thông” cứu giúp là “bỏ gốc rễ (căn bản) mà tìm cành nhánh”. Ngài nói: “Cầu người thì mất đi đức Phật Thích Ca”.

Tôi cảm thấy “thần thông” vĩ đại nhất rất đáng cho mọi người tán thán là công phu nhẫn nhục của Ngài: “Nhẫn chuyện người không nhẫn được, làm chuyện người khác không làm được”. Năm xưa khi Ngài từ hang động trên núi về đến chùa Thừa Thiên ở Đại Lục, đầu tóc mọc ra quá dài làm cho Ngài trông giống như một người rừng, không ai nhận biết đến, khi giải thích rõ ràng thì mọi người mới nhận ra. Về chùa qua một thời gian sau đó, vị sư “đương gia” (thầy giám viện) và “điện chủ” trong chùa muốn khảo nghiệm công phu tu hành của Ngài nên cố ý đem tiền trong thùng phước sương giấu đi, rồi giả vờ nói nghi ngờ lão Hòa thượng đã ăn cắp tiền này; từ đó mọi người đều cho là Ngài đã ăn cắp, ai cũng đều nói nặng nói nhẹ lão Hòa thượng. Ngài nghe những lời nói này như gió mùa xuân thổi và như uống nước cam lồ, an nhiên tự tại, tâm lượng của Ngài thật vô cùng rộng lớn, thật là một người tiêu diêu tự tại. Cái “thần thông” nhẫn nhục này so với những thứ “phóng quang, lên khói” thì còn thần kỳ hơn nhiều; tại vì đốt giấy thì sẽ lên khói, đốt đèn thì sẽ phóng quang, nhưng chúng ta tự hỏi ai bị vu oan là người ăn cắp mà vẫn an nhiên tự tại như uống nước cam lồ và vẫn không giải thích biện bạch rằng mình không phải (người ăn cắp!). Ai có công phu tu hành đến mức nhìn thấu chuyện thế gian như bèo như bọt là người có đại trí huệ, xứng đáng được người khác cung kính. Chúng ta thường biến thành vật mà lão Hòa thượng hình dung là “thạch đầu cẩu” (con chó chạy theo cục đá). Người ta muốn chúng ta chạy thì rất dễ, chỉ cần liện một cục đá thì mình liền chạy theo, đuổi theo đến khi mệt lả, đuối sức cũng chỉ vì đuổi theo một cục đá ăn không được! Lão Hòa thượng mở to đôi mắt nói: “Không có chủ trương (ý chí không cứng rắn nhất định) như vậy làm sao có thể đi về Tây phương được?”. Ngài làm chủ được mình, sinh tử tự tại, mọi người đều kính trọng. Ngài không cầu danh văn lợi dưỡng mà chỉ biểu hiện qua hành vi trong đời sống thường ngày, làm cho mọi người tự nhiên tâm phục khẩu phục.

Có lần nọ, một ký giả nhà báo lên chùa uy hiếp, đòi tiền Ngài và nói: “Ngòi bút của tôi rất lợi hại, nếu không đưa tiền cho tôi thì tôi sẽ viết xấu về Ngài”. Lão Hòa thượng điềm nhiên và nói: “Cứ việc đăng lên báo, tùy ý viết như thế nào cũng được, tôi không cần người ta cung kính, nếu người ta cung kính tôi, mỗi ngày tôi phải niệm Chú Đại Bi gia trì vào nước Đại Bi cho họ; nếu người ta không cung kính tôi, tôi được rảnh rang thanh tịnh mà niệm A Di Đà Phật”. Người ký giả này cũng không làm gì được và cảm than rằng Ngài không giống người phàm, đúng là: “Sự việc đến mức không tâm thì rất vui sướng, người có thể không mong cầu thì phẩm đức tự nhiên cao”.

Còn lần nọ, một số đệ tử theo Ngài đi nghe giảng và biết vị Pháp sư thuyếp pháp có ý phê bình Ngài trong buổi giảng nên nổi giận và về chùa thuật lại với Ngài. Không ngờ Ngài nghe xong, không những không nổi giận mà còn kêu nhóm đệ tử này phải sám hối với vị Pháp sư đó, và còn giải thích rõ (dùm vị Pháp sư) hàm ý của những ngôn từ đó. Ngài nói với nhóm đệ tử nếu người ta lấy pháp danh của mình mà chửi mắng thì mình phải cảm ơn người ta, huống chi là họ không có nói rõ tên mình ra! Ngài còn nghiêm nghị mà giảng về đạo lý: “Nếu muốn Phật pháp hưng thịnh thì tăng phải khen ngợi tăng”. Ngài khen ngợi vị Pháp sư đó: “Trong thế giới trược ác này có thể độ chúng sinh, đúng là Bồ tát”. Và còn khiêm tốn nói: “Tôi không dám làm”. Công phu của lão Hòa thượng đạt đến mức chúng ta không thể suy đoán nổi, những việc xảy ra thường ngày đều nói lên tâm lượng rộng lớn của Ngài. Mọi câu chuyện về Ngài đều làm cho tôi cảm động. Ngài như ánh thái dương từ bi phổ chiếu từng ngọn cỏ gốc cây; tuy nhiên cũng có khi dùng cây kiếm trí huệ của Ngài để chém sạch cành lá của phiền não, chém sạch danh văn lợi dưỡng, giúp cho những mầm non đang lớn có thể hướng về Tây phương thanh tịnh. Ngài thường đề ra những bài thi đột xuất, thường rất là sôi nổi và kích thích, tài nghệ “diễn kịch” của Ngài rất xuất sắc; những người bị khảo thí này thường bị cảnh giới chuyển dời, ngay khi đó không cảnh giác thì không biết, lâu dần thì hiểu được và mới biết thiện ý rất từ bi của lão Hòa thượng. Phương pháp và sự tập luyện của Ngài có thể hình dung là: “Xay đến tróc vỏ, mài đến (gạo) trắng, nhồi đến nhuyễn, nung đến đổi màu”. Cách này làm cho một người chân chính phát tâm tu hành trở thành “một cái bánh Thánh có thể cúng dường tất cả chúng sinh, cúng dường tất cả chư Phật”. Quá trình này thường phải đòi hỏi rất nhiều nước mắt và mồ hôi. Có lúc lão Hòa thượng cũng rớt nước mắt, từ bi mà nói với đệ tử đang bị Ngài khảo thí: “Thầy dạy như vậy con có hiểu rõ chưa? Thầy sợ kết oán thù với con, chỉ muốn giúp con phá đi những thứ chấp trước, nhưng nếu con không hiểu rõ được hết dụng ý, thì sẽ kết thành oán thù với các con. Tạo cảnh nghịch ra là để tập luyện cho các con mà thôi!”.

Tổ sư nói ba món tư lương cần có để vãng sinh Tây phương là “tín, nguyện và hạnh”. Nguyện là chán ghét muốn thoát ly cõi Ta bà và ưa thích cõi Cực lạc. (Ta bà là từ “tự tâm ác” và “tâm uế”(dơ) tạo ra, Cực lạc là do “tự tâm thanh tịnh” hiện ra). Tuyết Công lão ân sư cũng nhấn mạnh cái tâm “hân” (ưa thích) và tâm “yếm” (chán ghét) là pháp môn “an tâm tịnh độ”. Phàm phu chúng ta trong cảnh thuận rất khó phát ra tâm chán ghét Ta bà, bất đắc dĩ nên lão Hòa thượng cho đến chư Phật, Bồ tát đều “ban” cho chúng ta những cảnh nghịch, để chúng ta “dùng khổ làm thầy”, dõng mãnh phát tâm chán ghét Ta bà ưa thích Cực lạc mà niệm Phật, liễu sinh thoát tử, dùng sự tinh tấn cần khổ trong đời này đổi lấy sự tự tại hạnh phúc vĩnh viễn; thật ra đây là ân huệ không có gì quý hơn mà các Ngài “ban” cho chúng ta. Ngặt vì chúng ta ưa thích những “mìn” nổ chậm được bao bọc đẹp đẽ bên ngoài”, theo đuổi sự khoái lạc và danh lợi nhất thời mà đánh mất sự an lạc vĩnh cữu. Chư Phật, Bồ tát thường rơi lệ vì những sự tổn thất lớn lao của chúng ta.

Có lần lão Hòa thượng nghiêm nghị nói: “Trong thế giới Ta bà này, chỉ cần tham ái một ngọn cỏ thì sẽ đi vào luân hồi trở lại”. Cho nên, mặc cho mọi người đối với Ngài vô cùng cung kính cúng dường, Ngài vẫn buông xả một cách rất siêu thoát. Ngôi chùa có một kiến trúc vô cùng hùng vĩ trên núi, đối với Ngài chỉ là “một công cụ dạy học nhất thời mà thôi”, Ngài mượn những nhân duyên và cảnh giới này để giảng dạy cho những chúng sinh có duyên. Những người buông xả hoàn toàn và thành thật niệm Phật vãng sinh mới là đệ tử chân chánh của Ngài.

Không lâu trước khi vãng sinh, Ngài cứ lặp đi lặp lại mà nói: “Sự khổ nạn càng ngày càng nhiều, hãy tu mau lên, phải tu mau mau; tu một phần được một phần công đức, tu một ngàn phần được một ngàn phần công đức, tu một vạn phần được một vạn phần công đức!”.

Ngài rất nhẫn nại nhắc đi nhắc lại hoài, đây là sự khuyên nhủ vô cùng khẩn thiết; tin lời Ngài nói thì hãy thật thà niệm Phật, một môn thâm nhập không nên đổi tới đổi lui!

Có một vị đạo hữu kể lại khi ông đi thăm và hỏi lão Hòa thượng: “Phải niệm Phật cách nào?”. Ngài nghe xong liền hỏi lại: “Ông niệm như thế nào?”. Ông trả lời: “Khi tôi rảnh rang thì thường niệm Phật”.

Lão Hòa thượng đáp: “Ông “rảnh” thì niệm, không rảnh thì không niệm, như vậy chắc ông có “quen biết lớn” (điểm đầu chi giao) với Phật phải không? Niệm như vậy thì làm sao kỳ vọng Phật đến cứu ông trong giờ phút sinh tử. Lại đây, mọi người đưa chân ra, chân nào là chân Phật? Nhận ra chân của Phật không? Nếu muốn ôm chân Phật, chân Phật là chân nào cũng không nhận ra, thì làm sao ôm được. Ông đích thật là có nhận biết được Phật không?” (Ôm chân Phật nghĩa là cầu cứu đức Phật).

Ngài nói như vậy là để thức tỉnh người ta. Vị đạo hữu này kể tiếp, Ngài hớp một ngụm trà rồi ngước đầu lên hỏi: “Ông thấy tôi có ‘xướng’ ra tiếng không?”. Ông đáp: “Không có”. Ngài hỏi: “Tôi niệm Phật ông biết không?”. Lão Hòa thượng dạy một cách rất sống động và biểu diễn niệm Phật trong khi uống trà, ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, tất cả mọi thời đều phải niệm Phật. Nửa đêm không vặn đèn, khi nghe hai tiếng ho ‘ách xì’ thì bạn biết là cha bạn đã về. Như vậy lúc nửa đêm nếu đức Phật A Di Đà đến thì bạn biết là Phật đến hay không? Chúng ta hãy thử hỏi mình đã niệm đến mức nhận biết Phật và cùng Phật rất quen thuộc hay chưa? Lão Hòa thượng đã niệm đến mức đó rồi.

Có một lần Ngài nói với một vị bác sĩ đến thăm: “Tiếng chim hót, xe chạy, âm thanh tạp loạn đều là tiếng niệm Phật”. Ông này hỏi: “Ngài có thể niệm như vậy được bao lâu?”. Ngài đáp: “Trú dạ lục thời” (nghĩa là 24 giờ mỗi ngày, bất kỳ lúc nào cũng niệm như vậy).

Mười năm trước, lão Hòa thượng đã nói với đệ tử của Ngài: “Tương lai lúc tôi vãng sinh sẽ hiện ra tướng có bệnh” và còn nói ba người trong nhóm đệ tử của Ngài sẽ không tiễn Ngài ra đi (hiện diện lúc Ngài ra đi). Ba người đệ tử này đều không tin, tại vì (họ nghĩ) một trong ba người thế nào cũng có một người luôn ở bên cạnh Ngài. Làm sao có thể nói là họ không “tiễn Ngài ra đi” được. Quả nhiên không sai, lúc Ngài ra đi vì một lý do đặc biệt gì đó mà cả ba người tạm thời đi khỏi thì Ngài thật đã vãng sinh rồi.

Trước lúc ra đi Ngài khuyến khích đại chúng: “Thế giới Ta bà này rất khổ! Đại chúng mau mau niệm Phật để đi về Tây phương Cực lạc thế giới”.

Cuối cùng Ngài nói: “Không đến, không đi, không có chuyện gì!” rồi an nhiên niệm Phật và vãng sinh. Thật là đẹp, thật là siêu phàm!

Chúng ta thì ngược lại: “Đến đến, đi đi, quá nhiều chuyện!”, không có ngày nào, không có giờ phút nào mà không có chuyện để lo lắng và bận tâm đến. Chữ ‘sự tình’ (chuyện xấu) trong tiếng địa phương ở Đài Loan hàm ý không kiết tường, đúng như người ta thường nói: “Bất thị nhàn nhân nhàn bất đắc, nhàn nhân bất thị đẳng nhàn nhân” (nếu không phải người nhàn hạ thì nhàn không được, người nhàn hạ không phải là người tầm thường).

Trong tâm chúng ta nếu thật là không có ‘chuyện gì’ hết, thật là ‘nhàn hạ’ thì cần phải có bề dầy công phu tập luyện chứ không phải dễ!

Khoảng một tuần trước lúc Ngài vãng sinh, cả ngày lẫn đêm Ngài đều to tiếng niệm Phật. Cách niệm của Ngài là rất thành khẩn mà niệm A Di Đà, không phải người nào cũng có thể niệm như vậy được. Đại chúng luân phiên nhau niệm lớn tiếng theo Ngài mà còn khan tiếng, đau ngực, chịu không nổi huống chi Ngài đã 95 tuổi! Đa số người ta lúc gần ra đi thì hô hấp rất yếu ớt, không thể làm chủ được, còn Ngài thì mạnh như ‘tướng quân đột phá vòng vây thoát ra khỏi ngũ trược ác thế’. Mấy người đệ tử sợ Ngài yếu sức chịu không nổi vì cả tháng Ngài đã không ăn gì hết, nên nói: “Để chúng con niệm, xin sư phụ đừng niệm, chỉ nghe theo mà thôi!”.

Ngài mở to mắt ra nói một cách rất dứt khoát: “Mỗi người niệm theo mỗi người, sinh tử của ai thì tự người đó đoạn dứt”. Nói xong liền lớn tiếng và thành khẩn mà niệm tiếp. Vào ngày thứ sáu trong tuần đó, đột nhiên Ngài ‘biểu diễn’ một màn kịch, tôi nghĩ thật là đáng để mọi người chiêm nghiệm. Hôm đó đột nhiên Ngài không khuyên mọi người niệm A Di Đà Phật như lúc trước mà lại lịnh cho đại chúng đem Đại tạng kinh ra tụng. Đại tạng kinh quá dài ai cũng không biết bắt đầu từ đâu mà tụng, nên hỏi lão Hòa thượng phải tụng quyển nào?

Ngài đáp: “Tổng tụng” (tụng hết).
Đại chúng mới đem từ quyển Đại tạng kinh ra, nội việc khiêng ra cũng mệt đứt hơi, nhìn thấy Ngài rất có vẻ quyết tâm vãng sinh, mọi người vừa mệt, vừa gấp, mà vừa buồn. Ngài nói: “Để coi quý vị biết quyển Kinh nào, tất cả đều tụng cho tôi nghe!”. Vì thế cho nên đại chúng phải tụng từng bộ từng bộ: Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, Kinh Dược Sư, Kinh Địa Tạng… Lúc ở trong cửa ngõ sinh tử khẩn yếu này mới biết nội hai trăm mấy chữ trong Tâm Kinh cũng tụng không mạch lạc; có thể nói là miệng họ tụng nhưng tâm họ lại lo ra. Lúc mọi người tụng kinh như vậy, Ngài lại cười chúm chím mà tiếp tục niệm: “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật…” một tí gì cũng không bị ảnh hưởng bởi âm thanh đại chúng đang tụng kinh. Nụ cười này của Ngài thật là một cây gậy thật to đập vào đầu của mọi người! Thử hỏi trong màn biểu diễn bất ngờ này, có ai đã ‘tổng tụng’ Đại tạng kinh không? Duy chỉ có lão Hòa thượng niệm niệm phân minh, rõ ràng, niệm niệm rất khẩn thiết mạnh mẽ, niệm A Di Đà Phật, đây mới là ‘tổng tụng’ Đại tạng kinh!

Chúng ta xin đừng nghi hoặc tại sao lão Hòa thượng lại thay đổi tiết mục bất ngờ như vậy. Ngài thường dùng phương pháp ‘phản diện’ rất khéo léo để cho mọi người tỉnh giác và còn làm cho mọi người ghi nhớ vào xương vào tủy; ý nghĩa rốt ráo của sự tu hành là phải ‘thực hành’, không phải chỉ nghe rồi bỏ qua. Trong trường y khoa bàn luận chuyện chữa bệnh trên sách vở hiển nhiên rất khác với chuyện gặp lúc bệnh nhân máu chảy đầm đìa! Có lẽ các bạn sẽ nghĩ sự thị hiện của lão Hòa thượng rất giống cách nói của Tuyết Công lão ân sư: “Sáu chữ hồng danh bao gồm hết thảy tinh hoa của vạn pháp”.

Phần đông người ta khi lâm chung rất khổ sở, chỉ bốn chữ “A Di Đà Phật” cũng niệm không được, huống gì là tụng kinh mà còn tụng Đại tạng kinh nữa! Chúng ta hãy nghe theo lời dạy bảo và hãy ‘lão thật niệm Phật, đừng thay đổi đề mục’ nữa. Đừng lâm vào tình trạng ‘luyện hết mười tám thứ võ nghệ, đến lúc khổ đau quá không biết phải dùng thứ nào’. Mỗi ngày thay đổi đề mục hình như có vẻ học rộng biết nhiều và hình như cũng kết rất nhiều duyên với Phật và Bồ tát. Đến lúc cần thiết thì tâm rối nùi như tơ, không biết phải niệm vị nào mới được. Thật ra trong Kinh A Di Đà có nói: “Sáu phương Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán A Di Đà Phật, khuyên chúng sinh tín thọ, cầu sinh Tây phương”. Đây là nói rõ chúng ta niệm Phật A Di Đà thì tất cả chư Phật đều vui vẻ tán thán, đây chính là ‘tổng tụng’ vậy!

Hai ngày trước lúc vãng sinh, lão Hòa thượng đích thân gõ mõ và kêu đệ tử niệm Phật, trong đó có nhiều chuyện rất thú vị. Ngài đem câu “Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới” niệm ráp vào danh hiệu của các vị Phật và Bồ tát. Thí dụ như Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Phổ Hiền Bồ tát, Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Di Lặc Bồ tát… Tôi hiểu ý của Ngài là ‘có thể gặp tất cả những vị Bồ tát này ở thế giới Cực lạc’, chỉ cần chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sinh Tây phương thì có thể sánh bước cùng họ khi đến Tây phương!

Một hôm tôi cùng một bác sĩ lên núi để thỉnh giáo Ngài. Ông bác sĩ này hỏi: “Làm thế nào tĩnh tọa mới có thể đả thông huyết mạch?”. Ngài đáp: “Không cần phải đả thông huyết mạch, nhất tâm niệm Phật chứng đến niệm Phật tam muội thì tất cả huyết mạch tự nhiên đều thông!”. Đây là lời dạy của người đã giác ngộ và đã được đại tự tại; chúng ta hiểu được thì không cần phải phí sức tốn công đi tìm kiếm vô ích. Mau sớm chuẩn bị tư lương như Ngài đã nói:

“Tôi đã mua vé xe rồi! Đã xác nhận ghế ngồi rồi!
Quý vị có phải đã mua vé rồi hay chưa?
Đã xác nhận ghế rồi chưa?
Hay là không cần xác nhận chỗ ngồi?
Hay là không chịu lên xe?”.

Phải nên mua vé sớm thì hơn, đừng làm giống tôi, sau khi Ngài vãng sinh lên núi niệm Phật, niệm hết mấy giờ đồng hồ, nước mắt cứ chảy hoài, không thể nào niệm Phật được đàng hoàng để cúng dường lão Hòa thượng; cúi đầu không dám ngước lên, tại vì không làm theo đúng lời dạy và lời dặn dò của Ngài, xấu hổ và sám hối đều đau khổ; xin nguyện cho các bạn đều sớm mua vé thượng hạng ở toa thứ nhất, lên đài sen vàng ở thượng phẩm thượng sinh!

Tiếp theo đây chúng ta hãy xem Tuyết Công lão ân sư (lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam) là một vị đại đức đương thời, 97 tuổi mới vãng sinh. Ở đây tại sao phải nhắc đến tuổi lúc Ngài vãng sinh? Vì đoạn trước có nói những người mắc bệnh mới ba mươi mấy tuổi đã chết, người nhà còn than là mạng sống (đau khổ) kéo quá dài. Nhưng như lão Hòa thượng 95 tuổi, và thầy Lý 97 tuổi vãng sinh, mọi người đều than là quá ngắn, ai cũng khóc lóc đòi Ngài ở lại trụ thế mãi mãi để phổ độ chúng sinh. Tôi đi nghe kinh cũng là vì cảm kích thầy Lý. Mười năm trước tôi có cơ hội đến nghe thầy giảng Kinh Hoa Nghiêm ở Thư viện Từ Quang, Đài Trung. Vì thầy có giọng nói của người miền Sơn Đông (rất khó nghe) tuy là có phiên dịch qua tiếng Đài Loan, nhưng tiếng Đài Loan (tiếng Phước Kiến) tôi cũng thông thạo, chủ yếu là vì trình độ quá kém nên nghe cũng không hiểu và cảm thấy thời gian kéo quá dài và cũng không thích thú. Thấy mọi người chung quanh nghe kinh và thường cười rộ lên mà mình không biết gì hết. Lâu lâu chỉ nghe được một câu có cảm giác quen quen hình như đã nghe ở đâu rồi nhưng cũng không hiểu. Mấy hôm trước, nửa đêm nằm mộng thấy trăng sáng lên núi, tự nhiên nhớ lại lời giảng của thầy mười năm trước. Lúc đó thấy giảng Kinh Hoa Nghiêm đến đoạn ‘vô tận tạng’, thầy có nhắc đến mấy câu trong bài Xích Bích Phú của Tô Đông Pha:
"Duy giang tự chi thanh phong
Dữ sơn gian chi minh nguyệt,
Dĩ đắc chi nhi vi thanh’
Mục ngộ chi nhi thành sắc…
Thị tạo vật giả chi vô tận tạng dã".

Một người (không rõ tên) đã dịch như vầy:
“Bụi gió mát trên sông dài
Trăng sáng chiếu non thẳm,
Tiếng thoảng qua tai,
Cảnh in vào mắt…
Kìa kho vô tận của hóa công!’

Thầy giải thích chữ ‘vô tận tạng’ trong bài thơ này là lấy từ Kinh Phật. Nửa đêm nằm mơ nhớ lại chuyện này rồi bị điện thoại reo giật mình, tỉnh dậy không thấy rừng núi trăng sáng gì cả, chỉ thấy bệnh nhân khó chịu nên mấy cô y tá kêu đi khám bệnh. Sau cơn mộng này mới càng hối hận, lúc đó tôi đi nghe kinh không hiểu nên cứ nghĩ là thầy giảng không hay; thật ra là vì trình độ của mình quá kém (thật ra cũng không có trình độ gì cả!), cho nên mới chê là thầy giảng không hay và không tiếp tục nghe cả mười năm rồi, xém chút xíu thì làm hỏng pháp thân huệ mạng của mình! Cách một thời gian sau đó thầy không ra ngoài giảng kinh; khi tôi tham gia Trai Giới Hội Học, chịu ảnh hưởng rất lớn của Pháp sư Sám Vân nên có thể nói Trai Giới Hội Học đã chuyển biến cả đời tôi. Trong thời công phu tối, Pháp sư đọc bài hồi hướng cho lão Hòa thượng Quảng Khâm và lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam làm cho tôi có ấn tượng rất sâu đậm, nên một hôm có cơ duyên đặc biệt tôi liền theo mấy vị liên hữu đi nghe giảng kinh. Hôm đó, chân thầy Lý sưng lên đến nỗi đi đứng không vững nên người ta phải dùng kiệu để khiêng thầy lên bục giảng. Phật pháp thật quá quan trọng và người hoằng pháp thật là vĩ đại, chân sưng lên đi không được mà vẫn tiếp tục giảng kinh thuyết pháp. Buổi giảng hôm đó tôi khóc từ đầu đến cuối; bài giảng ghi lại nghuệch ngoạc, nét chữ xem không rõ, đến nay cũng không nhớ nội dung là giảng về đề tài gì, nhưng lòng từ bi vô lượng của thầy Lý đã làm chấn động tâm tôi một cách mãnh liệt, tôi cảm động tinh thần ‘vì pháp quên mình của thầy’, nếu không có lòng nhiệt thành hoằng pháp của thầy thì không có cách nào cứu nỗi cái tâm ngoan cố ngu si của tôi, kể từ đó tôi dọn nhà về Đài Trung để nghe giảng cho thuận tiện.

Mỗi đầu tháng khi bệnh viện sắp xếp thời khóa biểu làm việc, tôi luôn luôn yêu cầu sắp xếp tránh thời gian đi nghe giảng; tôi thà chịu liên tục làm việc suốt mấy ngày liền và thà chịu mệt chứ không chịu bỏ qua những buổi giảng của thầy. Tại vì “thân người khó được, đây là một nhân duyên rất hiếm có; Phật pháp khó nghe được, cơ hội rất khó gặp trong lũy kiếp; nếu lỡ bỏ qua, thật không ai có thể bù đắp được sự tổn thất này!”.

Mỗi ngày bệnh nhân của tôi đều than thở khóc lóc để nhắc nhở tôi tầm mức quan trọng của chuyện này; không phải không có người khuyên tôi: “Cô nên ăn uống có dinh dưỡng một chút, uốn tóc đẹp một chút, mặc áo đẹp một chút”, nhưng tôi thể hội một cách rất sâu sắc rằng trong giờ phút khẩn cấp của sự sinh tử đời người, những thứ này đều không cần thiết tí nào! Phải nên thấy rõ, hiểu thấu, nghe kinh, thực hành theo để chuyển hóa đời sống thì có ích lợi hơn. Cho nên mặc dù giọng nói miền Sơn Đông của thầy rất khó nghe, nhưng nghe hiểu được câu nào thì trân quý câu đó, thật là cơ hội hiếm hoi ngàn đời khó gặp! Huống chi là lời phiên dịch qua tiếng thổ ngữ Đài Loan của bác Giản rất rõ ràng và lưu loát giúp đỡ rất nhiều; nếu còn chỗ nào không hiểu thì tôi đến Đài Trung để cung kính nghe những vị trưởng thượng trong Liên xã giảng lại. Khi nghe lại mới biết là các đạo hữu rất chăm học, tư duy thâm nhập (giáo lý) mà lại còn nỗ lực thực hành, ai cũng cảm nhận sự giáo huấn và đức hạnh của thầy chiêu cảm. Vào mỗi ngày thứ tư, rất nhiều người khắp nơi như Đài Bắc, Đài Nam, và Cao Hùng lũ lượt về đến Đài Trung để nghe giảng, cả một giải liễu châu, lục châu, tôi gặp rất nhiều người tay cầm xâu chuỗi, mặc áo đà, thật là một cảnh tượng rất ôn nhu, đẹp đẽ, thanh lương trong thế giới Ta bà… Tôi còn nhớ rõ ràng buổi giảng cuối cùng của thầy, thầy dùng tấm lòng bi nguyện rộng lớn, từng câu, từng câu khuyến khích mọi người phải nên ‘tịnh niệm tiếp nối’, đây là lời trong Chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông; nhiều người cảm động quá không cầm được nước mắt.

Thầy ráng hết sức trong mấy hơi cuối cùng để khuyên mọi người: ‘Tịnh niệm tiếp nối’ là điều quan trọng trong sự tu niệm’.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 248
Old 07-05-2016 , 03:35 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Chúng ta có thiết thực làm được chuyện này hay chưa? Trong Kinh Phật thường bắt đầu bằng câu: “Tôi nghe như vầy”. Bề ngoài chúng ta đều có ‘nhĩ văn’ (tai nghe) nhưng câu cuối cùng để “hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ” (vui vẻ tin nhận, lễ lạy rồi lui ra) thì có mấy người làm được? Y theo lời của Ngẫu Ích tổ sư, thân tâm vui mừng là ‘tín’, nhận chịu không quên thì gọi là ‘thọ’, cảm đại ân đức quy mạng lạy xuống thì gọi là ‘tác lễ’, y theo lời dạy mà tu trì không lùi bước thì gọi là ‘nhi khứ’. Chúng ta có thật là ‘y giáo tu trì, nhất vãng bất thoái’ không? Nghĩ đến đây thì rất xấu hổ, mọi người thử xem thì biết, tôi tự biết vọng tưởng của mình có sức mạnh giống như thạch nham từ trong núi lửa trào ra, còn tịnh niệm thì yếu ớt như xách một thùng nước nhỏ mà đi chữa lửa. Muốn thay đổi thế lực của hai thứ này (vọng niệm và tịnh niệm) thì phải ra sức khổ công; nếu không như vậy thì lúc thân thể khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, tự mình còn không làm chủ mình được, tự mình còn không biết tâm niệm kế tiếp là tâm niệm gì thì lúc lâm chung còn tệ hại hơn nữa!

Thầy dạy chúng ta: “Niệm Phật không nên cầu niệm nhiều, niệm một trăm lẻ tám hột chuỗi tâm không loạn, trong đó nếu có một niệm loạn, quay xâu chuỗi niệm từ đầu trở lại”. Tôi luyện tập qua một thời gian, chỉ có ba hột đầu tiên trong xâu chuỗi là có màu đen thôi! Không biết trong ba niệm này có xen tạp không nữa; khi niệm một vạn, hai vạn, cho đến lúc niệm sáu vạn, bảy vạn danh hiệu thì cũng rất khó tìm ra được ‘trăm lẻ tám tịnh niệm tiếp nối’. Cái tâm này thật loạn đến mức quá nguy hiểm rồi, nguy hiểm nhưng tự mình không biết, làm sao không sớm nỗ lực gia công thêm nữa! Chúng ta hãy nhìn thầy một lần nữa và đem lời dạy này nhớ kỹ trong lòng. Ánh mắt kiên nghị của thầy, ánh mắt nhìn về Tây phương thanh tịnh, nhìn về hư không vô tận, và cũng nhìn chúng sinh khổ nạn vô biên. Thầy dạy chúng ta: “Tận hư không biến khắp pháp giới đều là thân của đức Phật A Di Đà. Chúng ta nằm trong lòng của đức Phật A Di Đà cho nên Phật tiếp dẫn chúng ta rất dễ dàng. Điều này cũng như cái bàn ở trước mặt chúng ta, có con kiến bò từ bên đây qua đến bên kia bàn, nếu bò theo đường thẳng thì cũng phải bò hết một thời gian rất dài. Cũng như Phật A Di Đà, chúng ta có thể đem con kiến từ bên này qua đến bên kia, cũng có thể đem ngược lại; chúng ta đi và lại đã nhiều lần rồi mà con kiến cũng chưa đi đến bờ bên kia. Chúng ta niệm Phật khi đến mức có cảm ứng, đức Phật đến tiếp dẫn thì cũng như vậy. Làm sao mới cùng đức Phật A Di Đà có cảm ứng? Phải đem ngũ dục lục trần buông xuống; phàm những ai niệm Phật không có cảm ứng đều tại vì các thứ này trói buộc”.

Nguyện cho chúng ta có thể thật thà làm theo lời dạy của Ngài trong đời sống, có thể làm giống như thầy, có thể dự biết trước ngày giờ vãng sinh, quảng độ chúng sinh, viên mãn Bồ đề nguyện.

Có thể có người sẽ nói: “Rất khó có cơ hội gặp được những người giống như lão Hòa thượng Quảng Khâm hoặc là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Phàm phu như chúng ta phải làm sao?”. Xin quý vị xem xá lợi của lão cư sĩ Lại Tạ Diệu ở Viên Lâm, có năm màu trong suốt lấp lánh giống như lưu ly, mã não, ngọc đẹp… Bác Diệu từ khi tin Phật đến nay rất siêng năng, mỗi ngày thức dậy đều mặc áo hải thanh (áo tràng), mở cửa nghinh đón chư Phật, Bồ tát, ngày ngày thật thà niệm Phật, người rất từ bi, ít nói, bà cũng đã niệm đến lúc dự biết trước ngày giờ vãng sinh. Bà nhờ liên hữu trợ niệm giúp, liên hữu nói mùa hè trợ niệm rất là khó chịu. Bà nói: “Không sao đâu, tôi sẽ lựa một ngày mát mẻ mà vãng sinh!”.

Quý vị xem bà có thể lựa chọn một ngày mát mẻ để vãng sinh, thật là thong dong tự tại biết bao. Đến lúc cuối, mọi người trợ niệm giúp bà, bà không thể niệm ra tiếng, nhưng tay có thể gõ vào giường để hòa vào tiếng niệm Phật của mọi người, chánh niệm phân minh mà về Tây. Hỏa táng xong, có rất nhiều xá lợi đẹp năm màu như vậy, làm tăng thêm lòng tin cho những người đi sau! Thường ngày bà sinh sống rất đạm bạc, không cần mua châu báu mà dùng lòng tin tha thiết và từng tiếng A Di Đà Phật tích tụ lại những châu báu trang nghiêm tự bà sẵn có. Vì mỗi khi chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật thì liền đem vô lượng công đức của Phật gom về làm công đức của mình. Tín, Nguyện, trì danh, trì một câu, một câu không thể nghĩ bàn, trì trăm câu, ngàn câu, vạn câu danh hiệu, câu nào cũng không thể nghĩ bàn! Người xưa có câu: ‘Thuấn hà nhân dã, Vũ hà nhân dã, hưu vi giả diệc nhược thị’ (Thuấn là người nào, Vũ là người nào, họ làm được thì mình cũng làm được! Đại ý: Vua Nghiêu Thuấn, vua Đại Vũ là những ông vua nổi tiếng nhân từ hiếu thảo, tôi cũng là một người, nếu tôi ráng hết sức thì có thể làm giống vua Thuấn, vua Vũ). Một bà lão có thể làm được như vậy, chúng ta tại sao không nhìn mà bắt chước theo? Thật ra chúng ta có chỗ nào là thông minh hơn (hay thua) bà lão này không? Đạo lý của pháp môn Tịnh độ vô cùng thâm diệu, muốn chân chánh đảm đương triệt để thì chỉ có các vị Tổ sư như Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả và Vĩnh Minh; nếu chúng ta dùng vọng tưởng để đo lường thì càng suy nghĩ càng sai lầm, ngược lại không bằng bà lão thật thà niệm Phật và có thể từ từ thâm nhập vào Phật trí, âm thầm phù hợp với đạo lý thâm diệu.

Có thể sẽ có người hỏi: “Niệm danh hiệu A Di Đà Phật có hiệu lực lớn như vậy sao? Đúng vậy. Hãy khoan nói công đức vô lượng của danh hiệu đức Phật, trước hãy dùng một tên thông thường làm thí dụ: Thí dụ như tên ‘quýt’ (hay cam). Có một bác nông phu muốn trồng quýt để đến mùa thu (đem ra chợ bán và) có người sẽ thưởng thức được mùi vị ngọt ngào giải khát của quýt. Từ khi gieo hạt giống, vun bới, bón phân, tốn rất nhiều công sức, cây quýt này trải qua những trận mưa mùa xuân và ánh nắng gây gắt mùa hè, trải qua cơn bão tố, từ đất đen nở ra cây trái vàng óng ánh, tỏa ra hương thơm ngát, trải qua thời gian rất dài và tốn nhiều công sức, thật không phải dễ. Cây quýt có sự liên quan vô cùng mật thiết với cả thế giới này, rễ quýt bám sâu vào lòng đất, cây quýt hít thở bầu không khí rộng lớn và hòa vào không khí mà chúng ta hít thở hằng ngày, và cùng thọ nhận nguồn ánh sáng mặt trời vô tư. Anh nông phu cần phải dựa vào sức lao lực và hoa trái của những người khác để duy trì đời sống; anh phải mặc áo và khi bị bệnh phải đi khám bác sĩ. Cây quýt này có một lai lịch thật phức tạp nhưng khi mẹ hỏi con: “Con muốn ăn gì?”. Bạn chỉ trả lời: “Quýt” thì liền ăn được trái quýt vô cùng ngọt ngào, hưởng thụ được thành quả mà người nông phu phải ra sức vun bồi mới có được.

Không phải vậy sao? Trái quýt bình thường đã vậy, huống chi là câu vạn đức hồng danh ‘A Di Đà Phật’. Quá trình thành Phật đòi hỏi bao nhiêu sự khó khăn gian khổ, đòi hỏi bi nguyện rộng lớn chấn động đến trời đất, thêm vào sức nhẫn nại nỗ lực qua nhiều kiếp mới thành tựu được Phật quả không thể nghĩ bàn. Niệm danh hiệu thì cũng như nếm trái quýt; hưởng thụ được những mùi thơm ngọt của nó; trong danh hiệu ‘A Di Đà Phật’ này, đức Phật ban cho chúng ta hạnh phúc vô lượng vô biên, ban cho chúng ta thành quả gặt hái được từ tất cả công phu tu hành của Ngài. Có người hấp tấp nuốt liền và cũng có người từ từ thưởng thức hương vị; mỗi người nếm được mùi vị khác nhau, nhưng ai cũng được đã khát. Danh hiệu ‘A Di Đà Phật’ chứa đựng tất cả sự trang nghiêm, tốt đẹp, tự tại, thong dong của Cực lạc thế giới; tất cả đều có sẵn nhưng chỉ có người có Tín, Nguyện thành khẩn mới có thể tiếp nhận được. Giả sử bạn không chịu tin rằng ‘nói ‘quýt’ thì má bạn sẽ cho bạn ăn trái quýt’, mà nhất định phải tự mình đi gieo hột giống để trồng cây quýt. Như vậy thì cũng được nhưng sợ cây quýt chưa lớn thì bạn đã khát quá và chết đi rồi, hoặc là bị rắn trong vườn cắn bị thương. Giống như tôi không biết trồng cây, mạng sống lại rất ngắn ngủi thì thích nói chữ ‘quýt’ để má cho ăn và liền có thể nếm được mùi vị ngọt ngon của trái quýt, liền hấp thụ được mùi vị ngọt ngào dinh dưỡng của trái quýt, và cũng cảm ơn sự cần khổ của anh nông phu, tin tưởng vào Nguyện và Hành của anh nông phu đã thành tựu, tin vào lời má nói, rất đơn giản và dễ dàng. Ăn xong trái quýt thì có sức lực để đi khám bệnh, phục vụ xã hội, như vậy thì quá tốt! Giả sử tin làm việc (trồng trọt) để kiếm ăn, đây là cả một vấn đề khó khăn.

Chúng ta ở trong đời ác trược này lâu quá nên rất khó có thể tin những chuyện tốt hoặc tin chân lý. Nếu có người nói với chúng ta bên đường phía Đông có một băng đảng tên là Kim Quang, họ chuyên môn lập kế để gạt tiền người khác. Chúng ta sẽ tin liền, sợ họ và không dám đi về phía Đông. Nhưng nếu nói với chúng ta Tây phương thế giới có đức Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ tát, và Đại Thế Chí Bồ tát thường phóng hào quang và từ bi cứu giúp chúng sinh, giúp cho họ thoát ly khổ nạn và hưởng an lạc vĩnh viễn, chúng ta ngược lại sẽ hoài nghi cho đến chết cũng không tin. Tại sao nhìn không thấy mà chúng ta lại tin là có băng đảng Kim Quang và sợ không dám đi về phía Đông. Chúng ta tại sao không tin Phật, Bồ tát từ bi và có vô lượng hào quang trí huệ, không hoan hỷ tin tưởng để có thể đi về phương Tây? Tâm của chúng ta trầm luân đến nỗi chỉ tin ác chứ không tin thiện, chỉ tin giả chứ không tin thật? Tôi cũng tin người trong băng đảng Kim Quang cũng có Phật tánh, nếu chuyển ý niệm và niệm A Di Đà Phật thì cũng sẽ thành Phật. Đức Phật A Di Đà từ bi sẽ không bao giờ bỏ rơi họ. Tôi cũng tin Kim Quang đảng trong nội tâm tôi: tham, sân, si nhưng rồi cũng có một ngày nào đó cũng sẽ phóng hào quang như đức Phật A Di Đà.

Tôi xin giới thiệu thêm chuyện của bác Phan Tạ Ánh Mai. Vốn là một đêm trước tết, khi tôi mở cửa phòng khám bệnh chuẩn bị đi về thì nhìn thấy một người trẻ tuổi nói là họ từ Mỹ trở về thăm bà má vợ bị đụng xe. Bà này đã dặn dò chuyện ra đi của bà từ một năm trước, bà dặn khi bà qua đời thì kêu họ mời ngài Sám Công và các vị bạn sen trong Liên xã trợ niệm cho bà. Tại vì họ kêu điện thoại đến chùa Liên Nhân không gặp thầy và có người kêu họ lại kiếm tôi để nhờ giúp đỡ. Tôi nghe nói bà đã thọ giới Bồ tát, rất siêng năng niệm Phật, và đã dặn dò con cái không được di động thân thể của bà sau khi bà lâm chung, không cho con cái khóc lóc và phải niệm Phật trợ giúp bà. Tôi nghĩ: “Bà siêng năng tu hành như vậy mà còn gặp phải tai nạn đụng xe, huống chi là người như tôi”, nên mau mau đi trợ niệm giúp bà, phải làm cho bà được mãn nguyện, giúp bà vãng sinh. Khi tôi đến bệnh viện thì gặp con bà đang nói chuyện điện thoại bàn bạc về hậu sự. Tôi cảm nhận được sự khổ của tất cả chúng sinh đang trôi lăn trong vòng sinh, lão, bệnh, tử. Bà nằm trong phòng cấp cứu đã mấy ngày không tỉnh. Nhưng đến khi niệm Phật cho bà thì bà chảy nước mắt. Đêm đó các bạn ở Liên xã chưa ăn cơm xong, vừa nghe tin liền nhiệt tâm đến giúp chồng bà chuẩn bị và giải thích rõ về việc trợ niệm. Con bà rất hiếu thảo, muốn làm cho bà được mãn nguyện và vãng sinh Tây phương, họ đem các hình gia đình họ hàng đang treo trên tường đem cất để cho bà khỏi động tâm lưu luyến thế giới Ta bà này. Bà ra đi ngay đêm giao thừa; có ba bốn người bạn trong Liên xã đến để trợ niệm dù trước đó không có người nào quen biết bà. Tôi rất xúc động khi thấy tờ giấy viết bài phát nguyện (bài kệ phát nguyện trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện) đã nhuốm vàng bởi khói nhang. Con bà nói trước đó bà thường đi trợ niệm và có viết sẵn tên của những người quen có thể đến trợ niệm cho bà. Nhưng gặp ngay đêm giao thừa có một số đi về quê, một số khác thì bận việc không đi đến được. Con bà rất lo không có ai đến, nhưng không ngờ lại có nhiều người không quen biết nhiệt tâm đến để trợ niệm cho bà. Thật là nhân quả không sai, người niệm Phật chỉ cần tu nhân, ‘nhân’ đúng thì quả chắc chắn sẽ đúng.

Người Á đông vốn rất kỵ chuyện tang lễ vào dịp tết, nhất là vào đêm giao thừa, nhưng Phật tử thì không màng đến chuyện này, chúng ta chỉ hy vọng có thêm một người vãng sinh thành Phật thì có thể độ được vô lượng chúng sinh; chúng ta chỉ sợ người trong gia đình trong lúc buồn rầu làm cho họ mất đi ‘Tín’ và ‘Nguyện’. Sau khi hỏa táng, bà để lại vài viên xá lợi màu xanh, vàng và trắng. Chồng bà rất cảm động, trước đó ông thường phàn nàn: “Tôi nghèo như vầy cũng vì bà bố thí hết trơn và không nấu thịt cá cho tôi ăn!” (từ điểm này có thể biết bà là người như thế nào). Ông nói tiếp: “Mỗi khi tôi ngồi coi truyền hình, bà đều ngồi xếp bằng, dùng gốc cây nhang để tính số niệm Phật; nhiều lúc tôi trách bà nhưng không ngờ là bà đã tu thành công!”. Tôi cảm thấy một việc rất không thể nghĩ bàn là xâu chuỗi của bà làm bằng hột ‘Tinh Nguyệt Bồ đề’, sau khi hỏa thiêu xong còn lại hai hột y nguyên không bị cháy hết. Con trai, con gái, và con rể bà đều là tiến sĩ ở Mỹ, đối với việc này cũng nói là không thể tưởng tượng nổi. Thật thà niệm Phật, công phu đắc lực thì sẽ thành công; nhân quả tơ hào chẳng sai.

Hồi xưa, có một đệ tử hỏi Phật: “Nếu gặp chuyện bất trắc mà chết đi bất ngờ thì có thể vãng sinh được không?”. Phật thí dụ: “Nếu có một cây mọc nghiêng về phía Đông, nếu bị gãy thì cũng sẽ ngã về phía Đông”. Chúng ta niệm Phật cũng như cây mọc nghiêng về hướng Tây. Chúng ta phải tự hỏi mình có nghiêng về hướng Tây hay không? (chỉ sợ là không có!). Cái tâm của mình thường thường đều hướng về bốn phương tám hướng bay nhảy tùm lum, và không nhất tâm hướng thẳng về Tây. Hai mươi bốn giờ trong ngày, thời gian thật thà niệm Phật cũng không quá năm phút; nếu người siêng năng hơn một chút thì một ngày niệm được vài giờ, trong đó cũng không có bao nhiêu câu niệm được đàng hoàng (không xen tạp và không gián đoạn). Cho nên cây này đúng là mọc tùm lum, nếu bị gẫy bất ngờ rồi ngã về hướng nào thì rất khó mà biết trước được.

Trong nhật ký bà đã viết sẵn di chúc dặn con cháu phải lo chuyện lâm chung như thế nào, đến sau này thì con bà mới tìm ra. Cũng may là hậu sự cũng được làm giống theo ý muốn của bà. Có một đoạn trong nhật ký làm cho tôi có ấn tượng rất sâu. Bà có một người con đã từng làm khoa trưởng ở đại học Phùng Giáp bị tai nạn xe đã qua đời. Lúc đó bà chưa học Phật và cảm biết được sự đau khổ trong đời người, bà viết: “Hôm nay là ngày vĩnh biệt con tôi và là ngày đau khổ nhất trong đời tôi”. Một người mẹ nhận chịu sự đau khổ của người ‘tóc trắng tiễn đưa người tóc đen’ thật là chua xót biết bao. Một người không tầm thường sẽ không vùi đầu vào sự đau khổ và tối ngày than vắn thở dài. Người đó sẽ từ những sự khổ: ‘sinh, lão, bệnh, tử, thương xa lìa, ghét gặp mặt, năm ấm hừng hực (ngũ ấm xí thạnh)’ giác ngộ trở lại và bước theo gót chân của những Thánh nhân hồi xưa. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về pháp hội Di Đà vĩnh hằng vô tận, hướng về Liên Trì Hải Hội thanh tịnh, hoan hỷ, sáng lạng, tràn ngập tiếng cười. Ấn Quang đại sư đã từng nói:
Ưng đương phát nguyện nguyện vãng sinh
Khách lộ khê sơn nhậm bỉ luyến
Tự thị bất quy, quy tiện đắc
Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh?
Tạm dịch:
Vãng sinh phát nguyện đi thôi,
Suối non đất khách mặc người quẩn quanh
Quê nhà chẳng chịu về nhanh,
Hễ về ắt được, ai giành gió trăng?


Chúng ta đừng đi lang thang nữa. Hãy học theo thế giới nội tâm của Hoằng Nhất đại sư: “Hoa chi xuân mãn, thiên tâm nguyệt viên”; hãy niệm Phật cho đàng hoàng. Pháp môn niệm Phật là một pháp môn đặc biệt nhất trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của đức Phật Thích Ca, pháp môn này dễ thành công nhất. Mỗi ngày niệm đến khi vô cùng thành khẩn thì giống như hồi nhỏ trẻ em thường ca:
“Xe lửa mau bay, xe lửa mau bay, bay qua núi cao, bay qua khe suối…”

Lúc niệm Phật trong tâm càng trải qua nhiều sự khó khăn thì cũng như xuyên qua núi cao, băng qua khe suối. Và cũng giống như lời ca: “Mẹ hiền trông thấy thật là vui mừng”. Cha mẹ từ bi vô tận vô biên của chúng ta, đức Phật A Di Đà đã dang tay ra từ lâu rồi, rất lâu rồi, khi nhìn thấy chúng ta quay trở về nhà thì vui mừng biết bao! Nghĩ đến “Bồ tát đón mừng, Di Đà đợi ở ngưỡng cửa” tiếng vang dội từ xa truyền lại thì làm sao không bước mau lên…

Quay đầu nhìn lại tất cả những hình ảnh sinh tử bên bờ sông Hằng, chúng ta giống như những người đang vùng vẫy sắp chết, chư Phật, Bồ tát từ bi nhảy vào dòng nước sinh tử tràn đầy đau khổ và dạy chúng ta dùng một câu “A Di Đà Phật” để chứng đến bản tánh bổn vô sinh diệt của chúng ta, đem dòng nước ác trược dơ bẩn này biến thành con sông thanh tịnh Thánh thiện; đem lượn sóng cay đắng này biến thành những mùi thơm ngọt ngào.
‘Không nỡ để chúng sinh khổ, không nỡ để Thánh giáo suy, nguyện cho chúng ta phát ra tâm từ bi, thường làm theo đại nguyện của đức Phật A Di Đà mà cứu giúp tất cả chúng sinh, nguyện chúng sinh đều sinh đến Liên Trì Hải Hội trang nghiêm, cùng nhau thưởng thức mưa Mạn Đà La Hoa…
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 02:48 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.