VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
dothuyvy
Junior Member
Join Date: Oct 2005
Số Điểm: 1
Old 03-07-2006 , 03:24 AM     dothuyvy est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by LaughingHaHa
Nói thêm về cái Trí Huệ Bát Nhã này . Cái Trí Huệ này có một đặc tính đặc biệt nữa là GIẢI THOÁT . Tức là nó có khả năng giúp ta thoát được TỨC THỜI các PHIỀN NÃO THAM SÂN SI và các sự KHỔ NÃO . Nếu không có tính cách GIẢI THOÁT này thì chưa phải là Trí Huệ Bát Nhã .

Lấy thí dụ như có một người nghiền thuốc lá thật nặng . Do một TRỰC KIẾN gì đó mà người này bỗng bỏ ngay lập tức không hút thuốc lá nữa . Bỏ lập tức chứ không phải là bỏ từ từ hút bớt đi dần dần . Bỏ không hút một điếu thuốc nào nữa và cũng không hề thèm thuồng . Trí Huệ Bát Nhã là tương tự như vậy đó .

Còn nếu hiểu rằng thuốc lá là hại và quyết định bỏ hút thuốc, thế nhưng chỉ có thể bỏ từ từ và hơn nữa còn bị cơn ghiền thuốc lá dằn vặt, hành hạ thì trong trường hợp này không phải là Trí Huệ Bát Nhã đâu . Chỉ là một sự HIỂU BIẾT BÌNH THƯỜNG DO SUY LUẬN .
Nếu vậy thì mình mời bạn vào trang web thì có lẻ bạn sẻ rỏ hơn, vì lời SUY LUẬN vốn không thể nào chính xát, nên mình mời bạn vào trang web để mình cùng nhau học hỏi thêm nha....WWW.QUANGDUC.COM.....bạn click vào tủ sách phật học thì bạn sẻ rỏ hơn...good luck nha ban.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 03-08-2006 , 10:52 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI ĐÁP



LỐI CŨ TA VỀ

HỎI: Con là một Phật tử thuần thành, hiện đang nỗ lực tu học. Con luôn mong muốn hoàn thiện mình để xây dựng đời sống gia đình hạnh phúc. Thế nhưng một trở ngại và thử thách lớn đã đến với con trong cuộc sống cũng như tu tập, đó là chồng của con thời gian gần đây có quan hệ tình cảm với một cô gái khác. Con thực sự đau khổ khi biết chuyện này và thương các con còn nhỏ dại. Sau nhiều ngày trăn trở nhưng con chưa biết làm sao và nên xử sự thế nào? Kính xin Tổ Tư vấn dành chút thì giờ quý báu để chia sẻ đồng thời cho con những lời khuyên để con hàn gắn hạnh phúc gia đình và đủ nghị lực vượt qua chướng nạn này.

ĐÁP:

Có lẽ, trong các niềm đau của con người thì sự thiếu thủy chung của người bạn đời là một niềm đau lớn. Tổn thương tình cảm, lòng tự trọng tuy vô hình nhưng hậu quả rất khó lường và dấu ấn của vết hằn này cũng không dễ nhạt nhòa trong tâm thức. Dẫu thực trạng của gia đình bạn đã đến mức báo động đỏ nhưng cũng chưa đến nỗi đổ vỡ hoàn toàn, sẽ cứu vãn được tình thế nếu hai người thực sự nỗ lực hàn gắn.

Là một người vợ, người mẹ mà đặc biệt là người Phật tử, hẳn bạn đã biết rằng không có một sự việc nào xảy ra mà chẳng có nguyên nhân và theo đặc tính duyên khởi thì không có nguyên nhân nào mang tính đơn lẻ mà phức hợp, đa chiều, trùng trùng điệp điệp. Phải tìm ra nguyên nhân thì bạn mới đủ khả năng và cơ hội khắc phục hậu quả. Bất hạnh của gia đình bạn ngày hôm nay, bình tâm mà xét, khoan vội nói đến chồng bạn, thì chắc chắn có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ phía bạn.

Trước hết bạn cần tự vấn lương tâm, cẩn trọng xem xét lại mình đã thực sự là hậu phương, là "điểm tựa" vững chắc cho chồng hay chưa? Người ta thường nói người chồng phải là trụ cột của gia đình để vợ con nương tựa. Thế nhưng thực tế hôn nhân thì lại khác, chồng vợ phải nương tựa vào nhau, nâng đỡ lẫn nhau. Nhất là trong bối cảnh đời sống đầy biến động và bất trắc của xã hội hiện đại thì nhu yếu tìm một chỗ dựa an ổn, vững chắc là mái ấm gia đình trở nên vô cùng cần thiết. Bao mệt mỏi, căng thẳng, lo toan cùng thăng trầm vinh nhục của người chồng vì cuộc mưu sinh sẽ thành mây khói khi về đến mái ấm gia đình. Vì nơi ấy, chốn bình yên nhất trong đời, con cái bi bô, vợ cười tươi tắn, nhà cửa sạch sẽ, cơm nước tinh tươm v.v… Nếu được như vậy, thì dù bất cứ hoàn cảnh nào, dù ai có mời gọi hấp dẫn đến đâu đi nữa, kẻ đàn ông, người chồng vẫn tâm tâm niệm niệm điệp khúc "lối cũ ta về".

Trong đời sống tình cảm vợ chồng, luôn tiềm tàng trong sâu thẳm của tự tâm mỗi người là mong muốn được hiểu, được thương, được tôn trọng và trên hết là được tha thứ. Đối với chồng của bạn, dĩ nhiên anh ta phạm phải một sai lầm lớn. Hy vọng rằng sai lầm này chỉ là sự nhất thời mất phương hướng, bộc phát khi chơi vơi hụt hẫng, có tính "lầm lỡ" tham lam hơn là sự phản bội. Đành rằng có những sai lầm không thể tha thứ nhưng không thể vì một sai lầm để rồi phủ nhận tất cả mà đặc biệt là con cái, rồi đây con cái sẽ đi về đâu, chúng có tội tình gì mà phải bơ vơ, lạc lõng? Do vậy, thương mình và thương con là điều mà tự thân mỗi người (vợ, chồng) phải quán niệm, chiêm nghiệm trong lúc này. Chính trăn trở về tương lai của bản thân, gia đình và đặc biệt là con cái sẽ làm cho các bạn thức tỉnh rằng các bạn cần phải có nhau và đó là động lực mạnh mẽ cho sự tái hợp, hàn gắn. Để làm được điều này, tự thân mỗi người phải nỗ lực nhận ra những sai lầm đã và đang có của mình. Biết thừa nhận những lầm lỗi, hạn chế của mình là liệu pháp tối ưu cho sự hàn gắn. Điều cần có hơn bất cứ điều gì ở bạn trong lúc này là sự tha thứ. Bao dung và tha thứ là cánh cửa đầu tiên giúp chồng bạn phản tỉnh, quay về. Sự giận dữ, ghen tuông, đau khổ và thù hận không phải là giải pháp mang lại hiệu quả tích cực thậm chí còn tác dụng ngược lại, làm cho tình hình càng bi đát hơn.

Tận trong tâm khảm của chồng bạn là vợ và các con chứ không phải bất kỳ ai khác. Bạn phải tin chắc vào điều này, chuyện lăng nhăng của chồng bạn là tập khí đi hoang nhất thời của đàn ông (đàn bà cũng vậy), dẫu sai trái vô cùng nhưng có thể khắc phục được. Xét cho cùng thì "rung rung lá rụng về cội", mấy ai mà "chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà"? Vì vậy, bạn hãy gượng dậy chứng tỏ mình là cội cho lá rụng về, mình là chốn quê xưa cho người xa xứ hoài niệm. Bạn hãy mở rộng vòng tay cùng với tấm lòng đồng thời dành nhiều thời gian chăm sóc chồng, con hơn và đặc biệt là tự trang bị cho thân tâm bạn luôn tươi mát, nhẹ nhàng, dễ thương v.v… Lạt mềm mới buộc chặt, nếu ứng xử nhuần nhuyễn, chúng tôi tin tưởng rằng bạn sẽ thành công, chồng bạn sẽ tự nguyện quay về, gia đình bạn lại đoàn viên, hạnh phúc.

www.chuyenphapluan.com

PS. BTW, các bài hỏi đáp. NR copy từ các mạng khác để cho các bạn tham khảo. Không phải là của NR đâu nhe. Để tránh ngộ nhận vậy thôi. NR về Phật Pháp thì "dõm" lắm. Nếu các bạn muốn hỏi, hỏi bạn KKT, Phivân và các bạn khác. NR chỉ post thôi. (smile).

Thân mến,

NR.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 03-08-2006 , 02:46 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
PHẬT GIÁO CHÁNH TÍN

Phật Giáo Chính Tín là gì?

KKT: Chánh Tín = Tin đúng . Tức là những phần bên dưới đây .

2. Đức Phật có Phải là chúa sáng thế không?

KKT: Không, Phật không phải là Chúa Sáng Thế (Creator-God) và trong Phật Giáo cũng không có Creator-God .

3. Đức Phật là gì?

KKT: Đức Phật là một người như chúng ta nhưng cũng lại khác chúng ta . Khác ở chỗ Phật là một người Sáng Suốt, đã đắc đạo Giải Thoát . Phật Đà = Buddha = The Enlightened-One = Giác Giả = Người Giác Ngộ . Mở ngoặc nói ở chỗ này, Trang Tử (của Lão Giáo) nói trong Nam Hoa Kinh: Thánh nhân cùng hình với người mà chẳng cùng tình với người . Cùng hình với người nên mới sống cùng đàn với người . Chẳng cùng tình với người nên yêu ghét không để vào lòng .

4. Vũ trụ và sinh mệnh từ đâu đến ?

KKT: Vũ trụ và con người là do nghiệp lực từ vô thủy (no beginning) của chúng sinh mà sinh khởi ra (cho nên không phải là do Creator-God đâu nhé ). Đó là thuyết Nghiệp Cảm Duyên Khởi của Phật Giáo Nguyên Thủy để giải thích nguồn gốc của vũ trụ và con người . Sang đến Đại Thừa thì có thêm nhiều giải thích << sophisticated >> hơn như A Lại Da Duyên Khởi, Chân Như Duyên Khởi, Pháp Giới Duyên Khởi, Lục Đại Duyên Khởi . Để ý rằng những giải thích của Đại Thừa có khuynh hướng tiến dần đến một hình thức << Thượng Đế >> subtle .

5. Bồ Tát là gì?

KKT: Bồ Tát (Bodhisattva) là một bậc đã giác ngộ nhưng từ chối không nhập Niết Bàn mà tiếp tục ở lại trong Lục Đạo Luân Hồi để độ cho các chúng sinh .

6. Vì sao gọi là Đại Thừa và Tiểu Thừa ?

KKT: Thừa = cỗ xe . Đại Thừa (Mahayana) = cỗ xe lớn (nên độ được nhiều người). Tiểu Thừa (Hinayana) = cỗ xe nhỏ (nên chỉ độ riêng một mình mình). Đại Thừa là một phong trào Phật Giáo khởi sự phát triển 500 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn . Đại Thừa gọi những tông phái có từ trước là Tiểu Thừa, một chữ có tính cách pejorative, là có ý chê Tiểu Thừa chỉ lo tự độ mà không độ tha . Năm 1956 đại hội Phật Giáo thế giới nhóm họp đã quyết định không dùng chữ Tiểu Thừa nữa . Bạn có thể thay thế chữ Tiểu Thừa bằng những chữ Phật Giáo Nguyên Thủy, Nam Tông, Nhị Thừa .

7. Phật Giáo có phải là tôn giáo có tính thế giới hay không?

KKT: Phật Giáo đương nhiên có tính cách thế giới là vì mục đích của Phật Giáo là nhắm giải Khổ cho tất cả chúng sinh . Mà Khổ là cái gì chung mà tất cả chúng sinh đều phải chịu đựng .

8. Giáo lý Căn bản của Đạo Phật là gì?

KKT: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Nghiệp, Nhân Duyên, Nhân Quả, Vô Ngã .

9. Giáo điều căn bản của Đạo Phật là gì?

KKT: Giáo điều = dogma = belief or a set of beliefs . Theo nghĩa này thì có gì phải << tin >> trong Phật Giáo đây ? Có lẽ là Luân Hồi . Đại Thừa thì << tin >> thêm những cái này: Tâm tức Phật, Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh .

10. Tín đồ Phật Có phải ăn chay không?

KKT: Ăn chay được thì tốt vì do lòng Từ Bi không muốn giết hại súc sinh .

11. Thái độ của Đạo Phật đối với uống rượu, hút thuốc và cờ bạc như thế nào ?

KKT: Tuyệt đối không nên dùng mấy thứ này .

12. Tin Phật Giáo có phải xuất gia hay không?

KKT: Tu theo Phật Giáo có thể xuất gia (tu sĩ) hay tại gia (cư sĩ).

13. Tín đồ đạo Phật có mấy đẳng cấp ?

KKT: Trong đạo Phật không có đẳng cấp . Tín đồ đạo Phật gồm có tứ chúng là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di .

14. Trở thành 1 tín đồ Phật Giáo như thế nào ?

KKT: Tin theo lời Phật dạy và y giáo phụng hành . Lễ Qui Y Tam Bảo là một buổi lễ mang tính cách tượng trưng rằng mình đã quyết định tu theo lời Phật dạy (tức là trở thành một Phật tử).

15. Phật tử vì sao mà phải tín ngưởng tam bảo ?

KKT: Tam Bảo (3 Jewels) = Phật, Pháp, Tăng . Pháp là những lời Phật dạy . Tăng là những vị Thánh Tăng tu tập theo lời Phật dạy và có đầy đủ đạo hạnh . Vì vậy mà Phật tử phải tín ngưỡng Tam Bảo .

16. Những người làm nghề ca hát, đồ tể, săn bắn, chài lưới bán rượu, có thể tin Phật được không?

KKT: Ai cũng có thể tin và tu theo Phật . Những người làm những nghề trên thì khi tu theo Phật rồi sẽ tùy ở lương tâm và sự hiểu biết của chính họ mà họ tự quyết định có tiếp tục hành những nghề kể trên không . Phật pháp không bỏ một ai cả . Buông dao đồ tể cũng có thể thành Phật như thường .

17. Phật giáo có tin ở sám hối hay không?

KKT: Đặc điểm rất quan trọng của Phật Giáo là xoay quanh một chữ TÂM . Tâm là nền tảng của Phật Giáo . Tự Tâm mình tạo ra thiên đường cho mình, tự Tâm mình tạo ra địa ngục cho mình, mà Tâm cũng tức là Phật nữa . Cho nên sám hối cũng rất quan trọng trong Phật Giáo là vì sám hối là sám hối ở Tâm . Cho nên nếu thành tâm sám hối thì do vì tâm mình thay đổi nên nghiệp lực cũng thay đổi theo . Bài kệ sám hối sau đây rất hay và ý nghĩa rất sâu:

Tội từ Tâm khởi đem Tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh thẩy đều KHÔNG
Ấy mới thật là chân sám hối

18. Phật giáo có tin thiên đường và địa ngục hay không ?

KKT: Thiên Đường và Địa Ngục là 2 trong 6 nẻo Luân Hồi (Lục Đạo Luân Hồi). Tuy nhiên chúng sinh không ở trong Thiên Đường và Địa Ngục vĩnh viễn như nhiều tôn giáo khác chủ trương .

19. Phật giáo có tin có diêm vương hay không?

KKT: Địa Tạng Vương Bồ Tát là giáo chủ ở dưới cõi Địa Ngục .

20. Phật giáo có tin công dụng của lễ cầu siêu cho vong linh hay không?

KKT: Như đã nói, Phật Giáo rất quan trọng ở một chữ TÂM . Một chữ Tâm có thể chuyển đổi được rất nhiều cho mình và cho người . Cho nên nếu có làm gì thì cũng hãy làm với một cái Tâm chí thành và trong sạch . Trong sạch có nghĩa là Tâm không vướng mắc vào ước muốn ích kỷ (tức là còn Ngã). Như vậy nếu có cầu siêu thì cũng hãy cầu với một cái Tâm chí thành và trong sạch . Còn nếu hỏi rằng cầu siêu như vậy có hiệu nghiệm cho vong linh người quá vãng không thì KKT nghĩ rằng không ai dám quả quyết là như thế nào .

21. Phật giáo có tin là công đức có thể hồi hướng cho người khác không?

KKT: Trả lời giống câu hỏi trên .

22. Phật giáo có tin luân hồi là chuyện chính xác có thực hay không?

KKT: Theo Phật Giáo thì Luân Hồi là chuyện có thực chứ . Bởi vậy mục tiêu tu tập theo Phật Giáo mới là để thoát khỏi Luân Hồi Sinh Tử .

23. Phật giáo có tin rằng có linh hồn tồn tại hay không?

KKT: Nếu định nghĩa của Linh Hồn (Soul) là một thực thể thường hằng (permanent, substantial entity) thì Phật Giáo bảo rằng không hề có một Linh Hồn như vậy . Phật Giáo dùng chữ Thần Thức mang ý nghĩa tương đương với Linh Hồn nhưng Thần Thức thì không permanent & substantial .

24. Phật giáo có sùng bái quỷ thần không?

KKT: Phật Giáo không sùng bái Quỷ, Thần vì Quỷ, Thần cũng là những chúng sinh còn Luân Hồi . Phật Giáo cũng không sùng bái các vị Trời (Gods) cũng vì cùng một lý do trên .

25. Phật tử có tin công năng của sư cầu đảo hay không?

KKT: Những cái này là mê tín . Tuy nhiên không phải là cầu đảo không có hiệu nghiệm . HT Hư Vân, một Thiền sư đắc đạo và cũng là một danh tăng đức độ và đạo hạnh của Trung Hoa thời cận đại cũng đã từng cầu mưa trong thời hạn hán rất nặng và đã có kết quả làm kinh ngạc mọi người .

26. Phật giáo có chủ trương đốt vàng mã hay không?

KKT: Cái này là hoàn toàn mê tín .

27. Phật giáo co tin định luật nhân quả là chính xác không?

KKT: Luật Nhân Quả là giáo lý nền tảng của Phật Giáo . Nếu không tin Nhân Quả thì khỏi tu theo Phật làm gì cho mất công .

28. Tất cả Phật tử đều nguyện vãng sinh về thế giới cực lạc hay không?

KKT: Không, chỉ những ai tu Tịnh Độ thôi .

29. Phật giáo có sùng bái trang tượng hay không?

KKT: Phật tử thường lễ lạy tượng Phật mục đích của việc này là để nhắc nhở và cũng là nguồn cảm hứng để Phật tử siêng năng tu tập Phật pháp hơn .

30. Phật giáo có coi trọng thần thông hay không?

KKT: Thần thông (psychic powers) là by-product khi tu tập thiền định . Vì thiền định là căn bản tu tập của Phật pháp nên Phật tử khi tu tập thiền định sẽ phát sinh thần thông . Điều này không phải là cái gì extraordinary cả . Tuy nhiên Phật Giáo không lấy thần thông làm cứu cánh đâu nhé . Nếu lấy thần thông làm cứu cánh trong khi tu tập thì sẽ dễ rơi vào Ma Đạo . Là vì người tu hãy còn Tham Sân Si nên khi mê thích thần thông thì sẽ kích động lòng Tham . Hơn nữa thần thông là một hình thức quyền lực nên rất dễ làm tăng trưởng Bản Ngã tức là trái với cứu cánh tu Phật là phải đạt Vô Ngã .

31. Phật giáo có phản đối tự sát hay không?

KKT: Phật Giáo không tán thành chuyện tự tử vì tự tử không giải quyết được gì hết mà kiếp sau của người tự tử còn xấu thêm hơn nữa .

32. Phật giáo có phải là tôn giáo chán đời và xuất thế không?

KKT: Definitely NO!

33. Từ tin Phật đến thành Phật mất bao nhiêu thời gian ?

KKT: Cái này cũng còn tùy sự tin tưởng của mỗi người . Đại Thừa thường nói phải tu 3 vô số kiếp mới thành Phật . Nhưng trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Phật bảo rằng nếu một người tinh tấn hành trì pháp này miệt mài không gián đoạn thì có thể Giác Ngộ trong 7 ngày!

http://community.vietfun.com/showthread.php?t=196413&page=5
Andy Le
Senior Member
Join Date: Jul 2001
Số Điểm: 604
Old 03-14-2006 , 10:33 PM     Andy Le est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by LaughingHaHa
Nói thêm về cái Trí Huệ Bát Nhã này . Cái Trí Huệ này có một đặc tính đặc biệt nữa là GIẢI THOÁT . Tức là nó có khả năng giúp ta thoát được TỨC THỜI các PHIỀN NÃO THAM SÂN SI và các sự KHỔ NÃO . Nếu không có tính cách GIẢI THOÁT này thì chưa phải là Trí Huệ Bát Nhã .

Lấy thí dụ như có một người nghiền thuốc lá thật nặng . Do một TRỰC KIẾN gì đó mà người này bỗng bỏ ngay lập tức không hút thuốc lá nữa . Bỏ lập tức chứ không phải là bỏ từ từ hút bớt đi dần dần . Bỏ không hút một điếu thuốc nào nữa và cũng không hề thèm thuồng . Trí Huệ Bát Nhã là tương tự như vậy đó .

Còn nếu hiểu rằng thuốc lá là hại và quyết định bỏ hút thuốc, thế nhưng chỉ có thể bỏ từ từ và hơn nữa còn bị cơn ghiền thuốc lá dằn vặt, hành hạ thì trong trường hợp này không phải là Trí Huệ Bát Nhã đâu . Chỉ là một sự HIỂU BIẾT BÌNH THƯỜNG DO SUY LUẬN .
Bạn KKT ,
trong cả ngàn thứ " hổng tốt " bạn có thể dùng để làm thí dụ sao bạn không dùng mà lại dùng ngay thuốc lá để làm ví dụ ? Mình buồn 5 phút à nhen . Trước khi về nhà , mình có tạt qua 7/11 để mua một cây thuốc . Giờ lại đọc được cái ví dụ của bạn làm mình phải khựng lại ngẫm nghĩ 1 chút . Sau 5 phút suy nghĩ kỹ càng thì mình cảm thấy rằng Trí Huệ hiện giờ ( Trí Huệ thiếu Bát Nhã ) của mình vẫn cứ bảo mình rằng " Cứ tiếp tục phê đi , đừng có lo ngại chi . Bữa nào mà Bát Nhã bất thình lình xuất hiện ( lúc đó mới có Trí Huệ Bát Nhã ) thì tự nhiên bỏ được thôi . Đừng nên bỏ từ từ , làm thế thì dằn vặt cơ thể lắm " . hehehe . Như vậy có được không hả bạn KKT ?
Vậy hỏi bạn cái nầy nè . Vừa hút thuốc vừa thiền có được không vậy ? biết đâu thiền kiểu nầy còn mau có Trí Huệ Bát Nhã nữa hổng chừng ? hehehe . Giỡn chơi với bạn 1 tí thôi . Hy vọng là đã không làm phiền lòng bạn .

Ca dao hút thuốc

Hút thuốc lào làm tăng thêm phần sĩ diện
Thơm mồm , bổ phổi , diệt cả trùng lao
Tay bật que diêm như Triệu Tử múa long đao
Mồm nhả khói như rồng bay phượng múa .

Ca dao kiểu ni mà sao bỏ hút thuốc được hả trời ?
LaughingHaHa
Gold Member
Join Date: Mar 2004
Số Điểm: 3312
Old 03-15-2006 , 05:32 AM     LaughingHaHa est dconnect  search   Quote  
Chào Andy,
Quote :
Originally Posted by Andy Le
Bạn KKT ,
trong cả ngàn thứ " hổng tốt " bạn có thể dùng để làm thí dụ sao bạn không dùng mà lại dùng ngay thuốc lá để làm ví dụ ? Mình buồn 5 phút à nhen . Trước khi về nhà , mình có tạt qua 7/11 để mua một cây thuốc . Giờ lại đọc được cái ví dụ của bạn làm mình phải khựng lại ngẫm nghĩ 1 chút . Sau 5 phút suy nghĩ kỹ càng thì mình cảm thấy rằng Trí Huệ hiện giờ ( Trí Huệ thiếu Bát Nhã ) của mình vẫn cứ bảo mình rằng " Cứ tiếp tục phê đi , đừng có lo ngại chi . Bữa nào mà Bát Nhã bất thình lình xuất hiện ( lúc đó mới có Trí Huệ Bát Nhã ) thì tự nhiên bỏ được thôi . Đừng nên bỏ từ từ , làm thế thì dằn vặt cơ thể lắm " . hehehe . Như vậy có được không hả bạn KKT ?
Vậy hỏi bạn cái nầy nè . Vừa hút thuốc vừa thiền có được không vậy ? biết đâu thiền kiểu nầy còn mau có Trí Huệ Bát Nhã nữa hổng chừng ? hehehe . Giỡn chơi với bạn 1 tí thôi . Hy vọng là đã không làm phiền lòng bạn .

Ca dao hút thuốc

Hút thuốc lào làm tăng thêm phần sĩ diện
Thơm mồm , bổ phổi , diệt cả trùng lao
Tay bật que diêm như Triệu Tử múa long đao
Mồm nhả khói như rồng bay phượng múa .

Ca dao kiểu ni mà sao bỏ hút thuốc được hả trời ?
Không ngờ Andy lại là người nghiền thuốc lá hả ? Không sao đâu vì nghiền thuốc lá cũng đắc đạo được .

Một vị thầy Advaita (Bất Nhị Pháp Môn) rất lớn của Ấn Giáo trong thế kỷ 20 là Nisargadatta Maharaj (1897-1981) cũng là một chain-smoker . Ông ta có một cửa tiệm bán thuốc lá bidi là một loại thuốc lá đặc sản riêng của Ấn Độ . Hút nhiều như vậy mà đâu có cản được Nisargadatta đắc đạo . Có điều là vì hút dữ thần như vậy nên Nisargadatta đã chết vì ung thư cuống họng! Chết thì chết nhưng vẫn đắc đạo là được rồi phải không ? Bạn Andy Le có muốn như vậy không ? Get enlightened but die by throat cancer .

Còn nếu không muốn chết vì ung thư cuống họng hay ung thư phổi thì hãy bỏ thuốc lá đi . Có thể bỏ liền lập tức được đó như trong một thí dụ bên dưới đây: một người kia gặp Krishnamurti trên một sân ga (và không biết K là ai cả) vậy mà vừa nghe K nói mấy câu bỗng bỏ được thuốc lá ngay lập tức, không khó khăn gì . Trích trong "J. Krishnamurti as I Knew Him" của Susunaga Weeraperuma, trang 90:

One day I was so depressed that I visited K and blurted out that the people interested in his teachings were really getting nowhere. There was a touch of self-pity in my words: "I have resigned myself to the probability that the radical inward transformation, about which you talk so much, may never take place in me during my present lifetime . I don't know whether there is an afterlife. Perhaps I might have better luck in a future life. You have preached for so many years but hardly anyone has experienced a total mutation of the psyche. I am of course not holding you responsible for our failures. But isn't it sad and frustrating for you that all your efforts have been in vain in the sense that no one so far has found enlightenment?"

Thereupon K looked at me in a grave manner and corrected one of my statements: "Sir, it is not true that none has radically changed."

K then described two instances of psychological mutation: 'I had gone into retreat in North India amidst the lovely mountains. Everyday a sannyasin walked past the house where I was staying. We became good friends. I think he lived somewhere high up in the mountains. During the mornings he walked down the footpath to the valley and returned to his cave later. One day I questioned the sannyasin as to the reason why he was returning to the cave . He answered: "To remain silent."

He was asked: "Is there silence if your mind is chattering?" The question shocked his mind. He saw something very clearly . All chattering stopped and he was completely changed.'

With a bewitching smile, K added: "And instead of going to the cave he walked into the valley below where the people live".

In the aforementioned case, it is doubtful whether K was personally responsible for the cessation of the sannyasin's thought process. Did it not take place rather because the sannyasin himself happened to realize a great truth? Although many of us have repeatedly heard K explain that the chattering of the mind is the main obstacle to silence, why then are our wretched minds still addicted to chattering? Surely we have only ourselves to blame for our psychologically enslaved state .

K proceeded to describe the second instance of total liberation in his own words: 'After seeing off a friend at a railway station, I was returning home. A stranger asked: "Shall I walk with you ?"

"You may," was my reply .

Next he lit a cigarette and was enjoying it.

"Smoking is a stupid habit," he suddenly said.

"Perhaps it is," was my reply .

The man then threw away his cigarette and trampled it. At that moment he became free not only of smoking but of all conditioning. The mind was fundamentally transformed.'


Một người khác nữa cũng bỏ hút thuốc ngay sau khi nói chuyện với K như tác giả sau đây . Trích trong "God Men Con Men" của Robert Carr, trang 108:

Ther were about thirty of us in the room. J.K. quickly entered the room, sat down on a chair, then slowly looked at each one of us. He seemed to look straight into our eyes just for a moment. If this was a stage technique, it certainly worked, as we felt we were in the presence of a sage. That morning he talked about habit and described how we are all just a bundle of learned habits; and he asked if it was possible to free ourselves from this repetitive way of living. During the talk I asked J.K., "How can we change what's there, and that's..." He interrupted me, "Look, Sir, you are trying to find your way home and you are walking along a path, Someone asks, 'Where are you going?' You say, 'I am trying to find my way home,' and he says, 'No, that's the wrong way,' what do you do?" I began to speak in reply. Again he stopped me and asked, "Sir, what do you do?" Before I could respond, he again asked, "What do you do? You are lost and you realize that you don't know the way home. What do you do? Your very life depends on finding your way home!" "I stop," I said. "Yes, you stop. Have any of you stopped?" "Of course not," I thought to myself. J.K. looked directly at me and said, "For God's sake, you stop!"

What happened to me, I don't know. But after the meeting was over and we started to drive away, I rolled down the window of my car and threw my packet of French cigarettes out the window. (I have been smoking for the last three years, everyday a little more, until I was hooked.) There was no thought involved in my action. I knew the habit was over. I could see all the mental images that were involved in my smoking. We drove back to Saanen and had lunch at a small café. And after we ordered some coffee, I became aware of my hand as it was reaching for my pocket to get a cigarette. I saw clearly in my mind how the habit was being repeated, and I just relaxed. We continued to talk and enjoy our coffee. Later I thought, "Why can't all our habits, the thoughts that make up what we call ourselves, just go away?" The next morning Connie threw his cigarettes into the river alongside our tent, much to the delight of Douglas, who didn't smoke. I didn't think much about how I had stopped smoking. "Was it was just seeing the habit?" I wondered.


Chúc bạn Andy có thể bỏ thuốc dễ dàng như vậy . Bỏ liền và bỏ ngay lập tức như vậy mà không có gì chút gì luyến tiếc hay thèm thuồng . Good luck. KKT.
Andy Le
Senior Member
Join Date: Jul 2001
Số Điểm: 604
Old 03-16-2006 , 06:43 PM     Andy Le est dconnect  search   Quote  
Cám ơn bạn KKT đã có lời khuyên .Hy vọng rằng có một ngày gần đây Andy có thể bỏ hút thuốc dễ dàng như bạn đã chúc . Còn bây giờ thì sao thấy còn khó quá . Chẳng lẽ phải cần có một kinh nghiệm gì đó với một người như Krishnamurti mới có thể bỏ dể dàng được ? hihihi .
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2056
Old 03-16-2006 , 08:19 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Hỏi Đáp Phật Học (Anh Văn)

http://www.purifymind.com/RE.htm

Mến,
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 04-06-2006 , 10:30 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by chiba


Các anh chị em và các bạn có ai rành về Xá Lợi xin giải thích dùm . Cám ơn trước nhen

Chiba,

Xin theo cái link này.

http://www.doasen.com/nhomphohien/XaLoiPictures.htm

Thân mến,

NR.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 04-07-2006 , 01:25 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
PHẬT GIÁO CHÁNH TÍN

34. Đứng Dậy là thành Phật liền là điều có thực hay không?

KKT: Bạn dám tin điều này không ? Khi Phật vừa thành đạo thì Phật thốt lên rằng: "Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sinh đều có ĐỨC TƯỚNG TRÍ HUỆ của Như Lai mà chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên không thấy được!" Như vậy thì trong tâm của mỗi chúng ta đều sẵn đủ TRI KIẾN PHẬT . Chỉ có điều là bạn dám nhìn nhận điều này không ? Trong Kinh Pháp Hoa có truyện Cùng Tử (đứa con nghèo hèn). Đó là truyện của anh chàng kia vốn là con ông nhà giàu vậy mà không biết và không dám nhận mình là con ông nhà giàu . Bạn có như anh chàng cùng tử này không ? Có PHẬT TÁNH mà không dám nhận ? Ngộ nhập được Phật Tánh là có thể tức thời thành Phật đó!

35. Phật Giáo có bi quan trước tiền đồ của nhân loại hay không?

KKT: Phật Giáo không bi quan mà cũng không lạc quan gì trước tiền đồ của nhân loại . Vũ trụ theo một tiến trình là Thành, Trụ, Hoại, Không và cứ thế tiếp diễn bất tận . Cho nên đứng theo chiều dài thời gian mà nhìn thì sẽ thấy không có gì mất không có gì còn . Cho nên không có gì phải bi quan hay lạc quan . Thế giới này rồi cũng có lúc hoại diệt nhưng rồi sẽ có một thế giới mới sinh ra . Cho nên đứng ở thân phận con người chúng ta thì cái đáng làm nhất là nắm ngay lấy cái cơ hội dành cho con người: đó là con người có khả năng tu tập để đắc đạo giải thoát làm một vị Phật . KKT gọi là VƯỢT CÀN KHÔN (getting beyond the cosmos)

36. Kiếp là gì?

KKT: Kiếp hay Đại Kiếp (aeon) là thời gian đời sống của một Thái Dương Hệ và cũng là tuổi thọ của Thần Brahma (Đại Phạm Thiên) mà Ấn Giáo coi là Thượng Đế Tạo Hóa (Creator-God). Brahma cai quản một Thái Dương Hệ và lầm tưởng rằng mình là Creator-God.

37. Hiểu về đại thiên thế giới như thế nào ?

KKT: Điểm thích thú là Phật Giáo trình bày vũ trụ rất giống với khoa Thiên văn học nên có thể đối chiếu sự trình bày của cả hai bên để dễ hiểu . Thái Dương Hệ (Solar System hay Star System) trong Phật Giáo gọi là một Thế Giới . Thiên Hà (Galaxy) là tương đương của một Đại Thiên Thế Giới (còn gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới). Một Đại Thiên Thế Giới có 1 tỷ (1.000.000.000) Thế Giới . Theo Phật Giáo thì số Đại Thiên Thế Giới (tức Thiên Hà) thì nhiều như cát bụi . Một Brahma (Creator-God) cai quản một Thế Giới (Thái Dương Hệ) còn một vị Phật thì là giáo chủ một Đại Thiên Thế Giới (Thiên Hà). Phật Thích Ca là giáo chủ cõi Ta Bà (Saha) là một Đại Thiên Thế Giới cho nên cõi Ta Bà chính là giải Ngân Hà (the Milky Way) của chúng ta đó!

38. Phương Pháp tu trì của đạo Phật như thế nào ?

KKT: Tam học: Giới, Định, Huệ . Vì Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề mà đắc đạo nên Thiền Định cũng là căn bản tu tập Phật pháp . Trình tự của người khởi tu là Văn, Tư, Tu . Văn = nghe ---> Tư = suy nghĩ ---> Tu = đem ra thực hành .

39. Phật giáo có phải là tôn giáo chủ trương khổ hạnh hay không?

KKT: Không . Phật Giáo là con đường Trung Đạo (Middle Path) tức là tránh hai cực đoan Khổ Hạnh (physical mortification) và Buông Thả trong Ái Dục (self-indulgence). Phật có ví con đường Trung Đạo như căng dây đàn: căng quá thì đứt mà lỏng quá thì trùng, phải thật đúng thì mới phát ra âm thanh đúng .

40. Bàn về "sáu căn thanh tịnh"

KKT: Sáu căn = mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý . Khi mới khởi tu thì vì nội lực chưa đủ nên dễ bị ngoại cảnh lôi kéo mà không làm chủ được tâm . Cho nên cách hay nhất là dùng Giới để thúc liễm lục căn . Tức là đóng tất cả cửa sổ lại: mắt thấy sắc thì không dòm, tai nghe âm thanh quyến rũ thì không nghe, v.v... Đến trình độ siêu thì ... no star where .

41. Bốn đại đều không là thế nào ?

KKT: Tứ đại (4 elements) = đất, nước, lửa, gió . Đây là cách phân tích vật chất đơn sơ nhất của người Ấn thời cổ đại (ngày nay chúng ta biết rằng có khoảng 100 nguyên tố). Thân thể con người là tập hợp của 4 đại . Đến khi chết thì thân thể tan rã nên đất trở về đất, nước trở về nước, v.v... nên gọi là bốn đại đều không . Ý câu này là để khuyên con người hãy nhận thức sự vô thường (impermanent) và không thật (illusory) của xác thân tứ đại để mà không còn tham luyến vào cái xác thân nữa . Trong tác phẩm Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) có câu:

Tứ đại rã rời thôi già trẻ;
Núi khe mòn mỏi hết anh hùng.

42. Phật tử có hiếu thuận với cha mẹ không?

KKT: Đương nhiên rồi . Phật pháp tuy là pháp xuất thế gian nhưng Phật Giáo cũng gồm cả Nhân đạo (như Nho Giáo) nên Phật Giáo cũng đủ hết những đạo làm người .

43. Phật giáo có trọng nam khinh nữ không?

KKT: Đương nhiên là không . "Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh" tức là chúng sinh (sentient beings) đều bình đẳng thì nam nữ bình đẳng là chuyện đương nhiên . Tuy nhiên trên thực tế sinh hoạt của Tăng đoàn (nhất là ở các xứ theo Nam Tông Theravada) thì vẫn có vấn đề trọng nam khinh nữ, có lẽ do ảnh hưởng của văn hóa và xã hội thì đúng hơn .

45. Phật giáo có phản đối chế độ gia đình không?

KKT: Phật Giáo không hề phá bỏ gia đình vốn là đơn vị nền tảng của xã hội, như nhiều người hiểu lầm .

46. Phật tử có thể kết hôn với người đạo khác hay không?

KKT: Hoàn toàn tự do . Không có chuyện bắt người hôn phối phải cải đạo .

47. Phật tử có thể ly hôn chăng?

KKT: Đương nhiên được .

48. Phật giáo có cho rằng trẻ con có thể tin Phật được không?

KKT: Hãy cho con em bạn làm em oanh vũ sinh hoạt trong gia đình Phật tử .

49. Phật tử có quan niệm về quốc gia hay không?

KKT: Phật Giáo không phá bỏ đời sống thế gian nên đương nhiên rằng những gì xã hội chấp nhận thì Phật Giáo cũng chấp nhận . Trong Kinh có câu: Bất hoại thế gian nhi siêu thế gian, bất xả phiền não nhi nhập Niết Bàn (chẳng phá bỏ thế gian mà vẫn siêu việt lên trên thế gian, chẳng xả bỏ phiền não mà vẫn nhập được Niết Bàn).

50. Phật tử có thể tham gia công tác quân sự, chính trị hay không?

KKT: Trả lời như câu trên .

51. Phật giáo có chủ trương tính người vốn là thiện hay không?

KKT: Mạnh Tử chủ trương: Nhân chi sơ tính bản thiện . Nghĩa là bản tính ban sơ của con người là Thiện . Do những tập nhiễm trong đời sống mà trở nên Ác . Phật Giáo có chủ trương như thế không ? Theo Phật Giáo thì tâm mỗi người chúng ta khi sinh ra là có đủ thiện ác . Điều này không có gì ngạc nhiên là vì con người chúng ta trong kiếp này là quả của những hành động chúng ta đã làm trong những kiếp quá khứ nên tự nhiên là phải có đủ thiện ác . Tuy nhiên cái tâm thiện ác này chỉ là Vọng Tâm của chúng ta . Còn cái Chân Tâm của chúng ta (có thể gọi là cái primordial state) thì siêu việt cả thiện ác .
Chân Tâm cũng chính là Phật Tánh, Niết Bàn . Vương Dương Minh, một Nho gia đời Minh cũng bị ảnh hưởng bởi Phật Giáo nên ông chủ trương rằng:

Vô thiện vô ác thị tâm chi thể
Hữu thiện hữu ác thị ý chi động
Tri thiện tri ác thị lương tri
Vi thiện khử ác thị cách vật

Không thiện không ác là cái thể của Tâm
Có thiện có ác là sự động của Ý
Biết thiện biết ác là LƯƠNG TRI
Làm thiện bỏ ác là cách vật

52. Phật giáo có phải là một tôn giáo hoà bình hay không?

KKT: Definitely YES.

53. Phật giáo có bao nhiêu tông phái ?

KKT: Rất nhiều tông phái . Ở căn bản thì có: Tiểu Thừa, Đại Thừa, Kim Cang Thừa (hay Mật Thừa). Trong đó lại chia ra nhiều tông phái khác nữa . Những tông phái chính được biết đến ngày nay là: Nam Tông Theravada, Thiền Tông (Zen), Tịnh Độ, Mật Tông Tây Tạng .

54. Duy thức có phải là Duy tâm hay không?

KKT: Trong Phật Giáo chữ Tâm và chữ Thức có khác nhau, nhưng nhiều khi hai chữ này được dùng không phân biệt (cũng không phải là sai). Cho nên cũng nên hiểu cho thật đúng ý nghĩa hai chữ này . Con người chúng ta có hai phần là Thân (body) và Tâm (mind). Tức là Tâm là tất cả phần tinh thần nói chung . Phân tích chi tiết thêm nữa thì Tâm = Thọ (sensation) + Tưởng (perception) + Hành (mental formations) + Thức (consciousness). Như vậy thì Thức là cái phần thuần chỉ là nhận biết của Tâm (to be conscious of, to be aware of). Thông thường chữ Duy Tâm thường được dùng đối lập với chữ Duy Vật . Duy Vật (materialism) là chủ trương bảo rằng chỉ có vật chất mà thôi, không có gì khác . Đây cũng là chủ trương của Khoa Học vì cho tới nay thì Khoa Học chưa tìm thấy gì khác ngoài vật chất . Duy Tâm là chủ trương bảo rằng chỉ có Tinh Thần mà thôi . Phật Giáo khi tìm hiểu sâu vào cái Tâm thì tìm thấy một cái Thức gọi là A Lại Da Thức (Alaya-vijnana) hay Tàng Thức (storehouse consciousness) chứa đựng sinh mạng của tất cả các chúng hữu tình (sentient beings) và sơn hà đại địa (the material world). Đó là chủ trương Duy Thức của Phật Giáo . Duy Thức = chỉ có Thức mà thôi (mere-consciousness). Thức ở đây là A Lại Da Thức bao trùm cả vật chất lẫn tinh thần . Như vậy thì chữ Duy Thức có khác với chữ Duy Tâm nói ở bên trên . Tuy nhiên trong Phật Giáo thường dùng hai chữ Duy Tâm (Mind-Only) và Duy Thức (Mere-Consciousness) cùng một nghĩa . Ta thường nghe những thành ngữ TAM GIỚI DUY TÂM (the 3 realms are but Mind) VẠN PHÁP DUY THỨC (the ten thousand things are but Consciousness).

55. Thiền tông có phải là thiền định không?

KKT: Thiền Tông (Ch'an, Zen) là thiền định vì căn bản tu tập của Thiền Tông là thiền định . Chữ Ch'an = Thiền = Zen là phiên âm của chữ Dhyana có nghĩa là Thiền Định . Nhưng ngược lại bất cứ ai nói rằng dạy Thiền thì chưa hẳn đã là dạy Thiền Tông . Là vì các tôn giáo khác và các tông phái khác của Phật Giáo cũng có dạy Thiền . Tuy nhiên Thiền của họ không giống với Thiền của Thiền Tông Zen .
Ngu?
Junior Member
Join Date: Jan 2006
Số Điểm: 39
Old 04-13-2006 , 09:37 PM     Ngu? est dconnect  search   Quote  
Quote:from NonregisterC

<<Mặc dù đã tiên đoán Thái tử về sau đắc quả Phật nhưng khi Bồ tát từ bỏ lối tu khổ hạnh thì Kiều Trần Như cùng bốn đạo sĩ khác đã thất vọng, bỏ đi Isipatana. Điều này thoạt tiên tuởng chừng mâu thuẫn nhưng có cơ sở và lý do rất chính đáng của nó. Bởi theo quan niệm của đa phần các đạo sĩ đương thời thì chỉ có duy nhất pháp tu khổ hạnh mới đạt đến giải thoát, giác ngộ.>>

Làm sao chắc được người tu đạo chúa sẻ....ra sao?
chẳng lẻ họ đi con dường không có đúng?
và họ sẻ được giải thoát hay không?

Quan niệm của chúng ta có phải là quan niệm của <<kẻ đương thời>>?

Thật lòng cháu băn khoăn, xin chú cho ý kiến.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 04-14-2006 , 11:32 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
May quá, có bạn KKT giúp đỡ thì...NR khoẻ rồi (smile)

Cảm ơn bạn KKT. (smile)

Thân mến,

NR.
email
Member
Join Date: Jan 2005
Số Điểm: 427
Old 04-18-2006 , 06:28 PM     email est dconnect  search   Quote  
here is a very helpful link. it's a dictionary of terms used in buddhism.

http://sgi-usa.org/buddhism/dictionary/browse/k.html
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 04-21-2006 , 08:35 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
56. Đốn và Tiệm là thế nào ?

KKT: Đốn = lập tức (sudden), Tiệm = từ từ (gradual). Đây là hai khái niệm được tranh luận rất nhiều ở trong Thiền Tông Zen . Ý chính của vấn đề Đốn & Tiệm là câu hỏi: sự giác ngộ là lập tức (đốn) hay là một tiến trình từ từ (gradual) ?

57. Tốt nhất nên tu học theo Phái nào ?

KKT: Phải tự tìm hiểu và tự lấy quyết định cho riêng mình thôi . Phật pháp có nhiều tông phái và nhiều pháp môn như vậy là để độ cho vô số chúng sinh với căn cơ và sự ưa thích khác nhau . Cho nên nhiều khi cũng phải tự tu tập qua một vài pháp môn khác nhau rồi mới tìm được pháp môn thích hợp nhất cho mình .

58. Thái độ của Phật tử đối với toàn bộ kinh Phật nên như thế nào ?

KKT: Tam tạng Kinh điển của Phật Giáo là toàn bộ những lời dạy của Phật và của các Tổ đã đắc đạo nên có thể coi như là guideline hay pointer hay bản đồ để giúp mình chứng ngộ được Chân Lý . Cho nên Phật tử phải cố gắng dành thời giờ tìm hiểu Kinh Phật mặc dầu rằng khối lượng Kinh điển rất đồ sộ . Kinh Viên Giác có câu: "Nhất thiết Tu Đa La giáo như tiêu nguyệt chỉ" (tất cả các lời Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng).

59. Kinh sách của Phật giáo có phải là khó hiểu khó đọc hay không?

KKT: Những Kinh Đại Thừa tương đối là khó đọc và khó hiểu . Tuy nhiên hãy bắt đầu bằng những Kinh Nguyên Thủy tương đối là dễ đọc hơn vì trong đó Phật giảng toàn những thứ << có thể lấy ra để trên mặt bàn >>. Ngoài ra Kinh Nguyên Thủy cũng ví như cái nền nhà cho nên rất cần thiết phải đọc qua . Không ai xây nhà vững chãi nếu nền nhà không chắc chắn .

60. Có cấm các Phật tử không được đọc sách các tôn giáo khác hay không?

KKT: Không .

61. Phật giáo có cho rằng người theo tôn giáo khác là có tội không?

KKT: Không . Trước hết trong Phật Giáo không có Creator-God cho nên không ai mang tội với God cả . Những người theo những tôn giáo khác cũng không mang tội với Phật vì Phật chỉ độ sinh thì đâu có bắt tội ai . Nhiều khi Phật Giáo còn coi các tôn giáo khác là những phương tiện thiện xảo (skillful means) của các Bồ Tát lập ra để độ sinh . Tuy nhiên tôn giáo cũng có tôn giáo đúng và sai . Những tôn giáo sai là không dẫn đến cùng mục tiêu Giải Thoát giống như Phật Giáo vậy .

62. Quan niệm khổ của Đạo Phật có tương đương với quan niệm tội của đạo cơ đốc hay không?

KKT: Khác nhau . Khổ là vấn đề riêng của mỗi cá nhân, Khổ là kết quả của những nghiệp quá khứ của mỗi cá nhân . Cho nên mỗi cá nhân tự trách nhiệm lấy chuyện Khổ của mình và phải tự tìm cách giải thoát Khổ cho chính mình . Đó là quan niệm về Khổ của Phật Giáo . Còn Tội trong Ki Tô Giáo là Tội Tổ Tông, tức là tội bất phục tùng của con người đối với Thiên Chúa . Tội này con người không tự thân mà thoát được bằng những cố gắng của chính mình mà phải do chính Thiên Chúa tha thứ qua Chúa Jesus là ngôi hai xuống thế chết trên thánh giá để chuộc Tội Tổ Tông cho nhân loại (What a strange idea! It always appears to me to be the strangest religious idea I've ever heard of ) Con người phải tin nhận Thiên Chúa và tin nhận sự Cứu Chuộc của Chúa Jesus thì mới được tha thứ .

63. Phật giáo có tin là thượng đế tồn tại hay không?

KKT: Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một Thượng Đế Tạo Hóa (Creator-God).

64. Phật giáo cống hiến gì cho Trung Quốc?

KKT: Thật sự KKT cũng không biết trả lời câu hỏi này làm sao . Phật Giáo truyền vào Trung Quốc từ đầu công nguyên và trong 2000 năm đã cùng với Nho Giáo và Lão Giáo cùng chi phối đời sống và văn hóa của người Tàu . Cả 3 tôn giáo này đã cống hiến gì cho Trung Quốc ? Người Tàu có trở nên tốt hơn hay xấu hơn ? Thật khó trả lời . Chỉ biết rằng riêng tông phái Thiền (Ch'an, Zen) đã cống hiến khoảng 1000 thiền sư đắc đạo .

65. Chân lý Phật giáo là gì?

KKT: Nhiều lắm: Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, v.v... Nhưng nếu bạn là Phật tử Đại Thừa thì có thể coi câu sau đây là Chân Lý rốt ráo của Phật Giáo . Kinh Pháp Hoa nói rằng: "Chư Phật thị hiện ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên, đó là để Khai, Thị, Ngộ, Nhập cho chúng sinh về PHẬT TRI KIẾN". Phật Tri Kiến hay Phật Tánh chính là chân lý rốt ráo mà Phật muốn chỉ ra . Đó là hạt châu trong búi tóc (hay trong chéo áo) mà mọi người đều có .

66. Hoà thượng , ni cô, cư sĩ là gì?

KKT: Hòa thượng và ni cô là tên gọi tăng sĩ nam, nữ xuất gia của Phật Giáo . Cư sĩ là tên gọi Phật tử tại gia .

67. Thiền sư, Luật sư, Pháp sư là gì?

KKT: Xin mượn câu trả lời của Thiền sư Huệ Hải trong Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận vì rất hay:

__Luật Sư là người mở pháp Tỳ ni (luật) truyền nề nếp làm mạng sống, sống TRÌ PHẠM, thông KHAI GIÁ, giữ oai nghi để làm mô phạm, phổ cáo ba phen yết ma để làm nhân sơ khởi cho bốn quả (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán). Nếu chẳng phải là hàng trưởng lão đức dày thì đâu kham đảm trách .

__Pháp Sư là người ngồi tòa sư tử, biện luận thông như nước chảy, đối với nhiều người đông chúng soi thấu cổng huyền, mở cửa nhiệm mầu của Bát Nhã, bình đẳng bố thí tam luân không tịch . Nếu chẳng phải là hàng Long Tượng làm sao dám đảm đương .

__Thiền Sư là người nắm được then chốt của đạo, thấu suốt nguồn tâm, ra vào co duỗi, tung hoành tùy vật ứng hiện; sự lý thảy đồng, chóng thấy Như Lai, nhổ gốc sâu sinh tử, được tam muội hiện tiền. Nếu chẳng phải người tọa thiền tịnh lự đến chỗ ấy thảy đều mờ mịt .

68. La hán, Bồ tát, Phật là gì?

KKT: A La Hán là bậc đã đi trọn con đường giải thoát cho bản thân mình (tự giác). Bồ Tát là bậc đã giải thoát nhưng không nhập Niết Bàn mà nguyện ở lại trong sinh tử để độ chúng sinh (giác tha). Phật là bậc giác ngộ viên mãn (giác hạnh viên mãn), tức là bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .

69. Phật Giáo có 1 tổ chức thống nhất hay không?

KKT: Phật Giáo không có một tổ chức thống nhất như Giáo Hội Công Giáo Vatican chẳng hạn . Phật Giáo là con đường tu tập tự giác của mỗi cá nhân cho nên không cần một cái authority nào cả . Khi Phập sắp nhập Niết Bàn thì Phật cũng không chỉ định ai làm người thừa kế của Phật mà Phật chỉ nói với mọi người rằng hãy làm BE A LIGHT UNTO THYSELF .

http://community.vietfun.com/showthread.php?t=196413&page=5
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 05-15-2006 , 09:43 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Dương liễu Quán Thế Âm

hỎI:

Theo cháu biết thì tượng Bồ tát Quán Thế Âm một tay cầm bình cam lộ và một tay cầm cành dương liễu. Thế nhưng, cháu thấy một vài nơi tượng của Bồ tát lại thiếu mất cành dương, chỉ có tịnh bình hoặc nếu có cành dương thì lại không có bình cam lộ. Cháu phân vân không biết đó có phải là một sự "thiếu sót” không?

ĐÁP:

Đúng là cháu đã có một “phát hiện” đầy thú vị về tôn tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Những hình tượng về Bồ tát như cháu mô tả gồm: một tay cầm bình cam lộ, một tay cầm cành dương liễu hay một tay kiết ấn, một tay cầm bình cam lộ hoặc một tay cầm cành dương liễu còn tay kia không cầm bình, tất cả đều đúng với các hóa thân của Bồ tát mà không hề có sự thiếu sót nào trong việc tạo tượng cả.

Cháu đọc kinh Phổ Môn sẽ biết Bồ tát Quán Thế Âm có khả năng thị hiện vô số thân để tùy duyên hóa độ, do vậy hình tượng của Ngài rất đa dạng, mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tôn tượng Bồ tát mà cháu thường thấy một tay cầm cành dương và một tay cầm bình cam lộ có tên là Dương Liễu Quán Âm. Một hóa thân khác của Bồ tát, một tay kiết ấn cam lộ và một tay cầm bình tịnh thủy có tên là Sái Thủy Quán Âm. Tôn tượng Bồ tát được thể hiện một tay cầm cành dương liễu, tay kia không cầm tịnh bình có tên là Diên Mạng Quán Âm.

Nói chung, trừ các tượng Phật, Bồ tát, Tổ sư được sáng tác theo thể loại “nghệ thuật” ra, các tượng dùng để thờ tự đều được thể hiện đúng theo chuẩn Đồ tượng học Phật giáo. Khi gặp một tôn tượng có phong cách mới lạ, cháu đã nỗ lực tìm hiểu về tên gọi, ý nghĩa để học theo công hạnh của các Ngài như vậy, rất đáng được tán dương.

chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-06-2006 , 10:59 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Duy Ngã độc tôn

HỎI:

Tìm hiểu về "tuyên ngôn” Phật đản sanh, chúng tôi thấy đồng nhất nơi hai câu đầu: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Tuy nhiên, còn hai câu sau của bài kệ này thì mỗi người dẫn một khác, đơn cử như: "Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” hay "Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ”. Xin cho biết câu nào thực sự chính xác nhất.

ĐÁP:

Nói về bài kệ Đản sanh, tức “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” có khá nhiều chi tiết cần phải bàn, vì các tư liệu ghi chép lại không đồng nhất. Ngày nay, tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, mặc nhiên được xem là Phật ngôn phổ biến, thông dụng nhất. Thực tế cho thấy, khi nói về “tuyên ngôn” Phật đản sanh hay trên các lễ đài Phật đản đều dùng “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.

Thế nhưng, tra cứu Kinh tạng, chúng tôi thấy hầu hết trong các kinh điển Hán tạng rất ít (hoặc không) dùng “duy ngã độc tôn” mà chủ yếu là “duy ngã vi tôn”. Đơn cử như: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” ( Đại Chính, Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả” (Đại Chính, Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi) v.v…

Cũng trong Đại Chính, “Duy ngã độc tôn” lại được tìm thấy trong sử truyện như Phật Tổ Thống Kỷ (q34), Đại Đường Tây Vực Ký (q6) và Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (q22)… Ngay cả Phật Quang đại từ điển, mục “Duy ngã độc tôn” cho rằng được dẫn trong kinh Trường A Hàm, nhưng thực tế kinh này chủ yếu nói “duy ngã vi tôn”. Đành rằng “duy ngã độc tôn” và “duy ngã vi tôn” về ý nghĩa không mấy khác nhau, song cụm từ “duy ngã độc tôn” mà chúng ta dùng phổ biến hiện nay có thể ảnh hưởng từ tinh thần của sử truyện như đã dẫn.

Hai câu kệ đầu đã có đôi chút khác biệt, hai câu kệ kế tiếp lại càng dị biệt hơn khi đối chiếu giữa các kinh văn. Theo Đại Chính, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, hà giả hà lạc” (Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, ngô đương an chi” (Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn, đoạn sanh tử khổ, tam giới vô thượng…” (Kinh Phổ Diệu); “Ngã ư nhất thiết nhân thiên chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, q1); “Thế gian chi trung, ngã vi tối thượng, ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” (Kinh Phật Bản Hạnh Tập, q8) v.v và v.v…

Như vậy, hai câu cuối của bài kệ Đản sanh có vô vàn sự khác biệt về văn tự, nội dung và ý nghĩa. Sự phong phú này (như đã dẫn) nhằm tôn vinh, ca ngợi sự hy hữu, thù thắng của sự kiện Phật đản sanh. Do đó, khi trích dẫn bài kệ Đản sanh, theo chúng tôi, tùy theo mỗi kinh văn mà chúng ta có một bài kệ khác nhau, bài kệ nào cũng đúng cả (nếu trích dẫn chính xác). Ngoài ra không có một bài kệ nào thuộc loại “chính xác nhất” như các bạn đã nêu.


www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-13-2006 , 10:18 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi & Đáp
Lý Việt Dũng

Hỏi:

Xin cho biết, trong Thiền tông, “Tổ sư Tây lai ý" là gì? Xin trưng tập một số câu hỏi đáp về Tổ sư Tây lai ý và gợi ý sơ lược.

Đáp:

“Tổ sư Tây lai ý” là một vấn đề rất thường thấy được thưa hỏi trong Thiền tịch. Vì Tổ sư Tây lai ý, tức diệu chỉ Thiền tông, là một vấn đề bất khả tư nghì, nghĩa là chúng ta không thể dùng phàm tình nắm bắt thánh ý, dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt chỉ ý chư Tổ, cho nên khi sưu tập một số câu hỏi đáp về Tổ sư Tây lai ý trong Thiền sử là để mong thấy được chỗ mật tàng của Thiền tông. Hỏi & Đáp

Các Thiền sư khi được hỏi về Tổ sư Tây lai ý không bao giờ trả lời thẳng mà mỗi người ví von một cách khác nhau. Khi trưng tập các câu vấn đáp này, chúng tôi cũng không có lời giải thích gì cả mà chỉ tạm gợi ý đôi điều trong việc nắm bắt thiền lý.

1- Tăng hỏi: “Thế nào là ý chỉ Tổ sư từ Tây lại? (Tổ sư Tây lai ý). Thai Thiền sư đáp: “Đêm qua trong chuồng mất một con trâu” (Gợi ý: Đêm qua trong chuồng mất trâu hay mất cái gì cũng được).

2- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Hòa thượng Triệu Châu Tùng Thẩm đáp: “Cây bá trước sân” (Cây bá hay cái gì cũng được, miễn là hiện tiền).

3- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Khánh Chư đáp: “Một phiến đá trên khoảng không”. (Hỏi Tây lai ý là lâm chuyện vô lý như nói hòn đá treo từng không).

Tăng nhân lạy kính, sư hỏi: “Lãnh hội chưa?”.

Tăng nhân đáp: “Chưa lãnh hội được”.

Sư nói: “May cho ngươi là chưa lãnh hội. Nếu lãnh hội, đá sẽ đập vỡ đầu ngươi” (Nếu vọng tưởng lãnh hội sẽ bị phiến đá trên không rơi xuống vỡ đầu!).

4- Lịnh Tôn tìm đến pháp đường của Thiền sư Thúy Vy hỏi: “Thế nào là ý nghĩa đích thực của Tổ sư Tây lai?”. Thúy Vi hồi đáp: “Đợi lúc không có người sẽ nói cho ngươi nghe”. Một lúc sau Lịnh Tôn lại nói: “Không có ai rồi, xin thiền sư nói đi”. Thúy Vy bước xuống thiền sàng dẫn Lịnh Tôn xem vườn hoa. Lịnh Tôn lại nói: “Không có ai cả, xin Hòa thượng nói đi chớ!”. Thúy Vy chỉ lùm trúc nói: “Cây trúc này sao lại dài thế, cây trúc kia sao lại ngắn thế”. Lịnh Tôn qua đó lãnh hội! (Chỉ lòng vòng, nói bâng quơ mãi ý khải thị là không thể nói được).

5- Ngày kia Thiền sư Trí Nhàn hỏi chúng Tăng rằng: “Có một người tại chốn non cao ngàn thước, miệng chỉ cắn được nhánh cây, chân không có gì để giẫm đạp, tay không có gì để bấu, thì bỗng có người hỏi chỉ ý của Tổ sư Tây lai là gì. Nếu mở miệng trả lời thí tán thân mất mạng, mà không trả lời thì phụ ý người hỏi. Lúc đó các ngươi tính thế nào?”. Khi ấy có vị Chiêu thủ tòa bước ra nói: “Lúc leo cây thì không hỏi làm chi, còn lúc chưa leo thì chỉ ý Tổ sư Tây lai là gì?”. Thiền sư cười bỏ qua.

6- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiên sư Động Sơn đáp: “Chờ khi nào nước khe trong động chảy ngược lên dốc sẽ nói cho ngươi nghe” (Tức không bao giờ nói).

7- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Cư Tuần đáp: “Chờ khi nào con rùa đá biết nói, ta sẽ nói cho ngươi nghe”. Tăng nói: “Rùa đá nói rồi đó!”. Thiền sư hỏi vặn: “Nó nói với ngươi chuyện gì vậy?” (Bướng bỉnh bị hỏi vặn đớ lưỡi).

8- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thuận Chi đưa cây xơ quất lên. Tăng lại hỏi: “Chỉ ý là vật đó à?”. Thiền sư hạ cây xơ quất xuống đất. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như giơ lên, hạ xuống).

9- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Diễn Giáo đáp: “Hôm nay, ngày mai”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như giờ là hôm nay, sau hôm nay là ngày mai).

10- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đáp: “Bình bát lớn đầy cơm, bình bát nhỏ đầy thức ăn”. Tăng nói: “Học nhân chưa hiểu”. Thiền sư nói: “Đói ăn, no nghỉ”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường như đói thì ăn, no thì nằm nghỉ).

11- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Kim Sa đáp: “Hãy nghe đây!”. Tăng nói: “Đại chúng xin lắng tai chờ nghe”. Thiền sư nói: “Rời khỏi Tây lai ý 108 ngàn dặm rồi. (Lắng nghe là đã rời xa thiền lý ngàn vạn dặm rồi).

12- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Qui Bổn chồm lên chụp ông Tăng. Tăng mặt mày biến sắc. Thiền sư nói: “Ta nơi đây không có thứ đó”. (Ta nơi đây không mê chấp chỉ ý Tổ sư từ Tây lại).

13- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Quang Tuệ đáp: “Không lễ bái ngay, còn đợi chừng nào”. (Hỏi là đã lầm chấp, thiền sư nín lặng là đã khai thị vậy mà còn chưa lễ bái tạ ơn).

14- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tùng Chí đáp: “Bên cạnh vách tường có lỗ tai chuột”. (Hỏi vu vơ trả lời bá láp).

15- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thiện Tịnh đáp: “Trên vách vẽ cây tòng khô, loài ong bay đến không thấy nhụy hoa”. (Đừng vọng tưởng ý chỉ Tổ sư Tây lai như con ong tìm nhụy trên hoa về).

16- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Bảo Ứng đáp: “5 nam, 2 nữ”. (Tổ sư Tây lai ý bình thường tự nhiên như năm ba nam, hai ba nữ).

17- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đạo Hy hỏi lảng: “Người từ đâu đến vậy?”. (Hỏi ý Tổ sư bị hỏi lại tắc nghẽn).

18- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đạo Uông đáp: “Con muỗi đậu trên lưng trâu sắt”. (Muỗi đậu lưng trâu sắt hút máu thế nào được, như Tổ sư Tây lai ý thì nói thế nào đây!).

19- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hưu Phục đáp: “Người nói xem, đất nước này có hay không?”. (Cần chi ý Tổ sư từ Tây lại. Diệu chỉ Thiền tông bàng bạc khắp mọi nơi).

20- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Cầu Thiền sư đáp: “Một tấc lông rùa nặng bảy cân”.

21- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Quang Tộ đáp: “Mắt không thể nhìn thấy mũi được”. (Mắt không thể nhìn thấy mũi như miệng không thể nói chỉ ý Tổ sư Tây lai được).

22- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Giới đáp: “Gánh không nổi”. Tăng lại hỏi: “Vì sao gánh không nổi?”. Sư đáp: “Tổ sư Tây lai ý”. (Hễ chấp thì chỉ ý Tổ sư nặng ngàn cân đâu gánh được).

23- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Minh đáp: “Thật sự lặn lội 18 ngàn dặm mà từ Tây Vực vẫn chưa qua đến Đông Độ”. (Nếu chấp ý Tổ sư thì có đi bao nhiêu ngàn dặm vẫn chưa từng đến Đông Độ).

24- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Văn Ích đáp: “Không Đông mà cũng không Tây”. (Ý Tổ sư Tây lai nào có Đông hay Tây).

25- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Viên đáp: “Đất nước Trung thổ này cũng chẳng thiếu chi!”. (Ở đâu cũng là ý Tổ sư từ Tây lại mà).

26- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tự Nguyên đáp: “Mua bán tiền mặt đây, không từng thiếu chịu đâu!”. (Ý Tổ sư từ Tây lại là thứ thiệt đấy).

27- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ Chẩn đáp: “Nếm giấm biết vị chua, nếm muối biết vị mặn”. (Ý Tổ sư Tây lai tự nhiên giản dị như giấm thì chua, còn muối thì mặn).

28- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Huyền Tố đáp: “Tuy không lãnh hội, nhưng cũng không nghi hoặc”. Rồi sư lại nói tiếp: “Không muốn lãnh hội thì chẳng hoài nghi. Không chịu hoài nghi thì không lãnh hội”. (Có nghi mới lãnh hội).

29- Hai Thiền sư Thản Nhiên và Hoài Nhượng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tuệ An đáp: “Sao không tự hỏi chỉ ý của chính mình”. (Tại sao không tin ở chính mình mà lo đi hỏi chỉ ý của kẻ khác).

30- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đáp: “Bánh vẽ”. (Tổ sư Tây lai ý như cái bánh vẽ không thể lót lòng).

31- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hy Thiên đáp: “Hãy hỏi cây lộ trụ trước chùa”. Tăng nói: “Học nhân đây không hiểu”. Sư nói: “Ta cũng không hiểu”. (Cứ hỏi cây lộ trụ, chứ ta không hiểu ý Tổ sư Tây lai).

32- Chấn Lãng hỏi Thiền sư Thạch Đầu: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Thạch Đầu đáp: “Hãy hỏi cây lộ trụ”. Chấn Lãng đáp: “Học nhân không hiểu”. Thạch Đầu nói: “Ta cũng không hiểu đâu”. (Cũng như ý câu trên).

33- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Đại Mai đáp: “Tây lai không có ý chỉ”. Thiền sư Diêm Quan nghe chuyện đó chê: “Mọi thây chết, khi liệm vào quan tài đều như nhau” (tức cá mè một lứa). (Người hỏi chấp có, Đại Mai chấp không).

34- Thiền sư Pháp Hội hỏi Mã Tổ Đạo Nhất: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Tổ đáp: “Hỏi nhỏ một chút. Hãy bước lại gần đây ta nói cho nghe”. Sư bèn bước lại gần, bị Tổ vả một bạt tai nói: “Nơi đây đông người không thể nói được, ngươi hãy tạm lui, mai trở lại đây”. Qua ngày hôm sau sư một mình vào pháp đường nói: “Xin Hòa thượng giảng giùm”. Tổ nói: “Hãy tạm lui đợi ta thượng đường thuyết pháp rồi đến hỏi, ta sẽ chứng minh cho”. Sư bỗng tỉnh ngộ nói: “Cám ơn đại sư đã chứng minh”. (Hẹn lần hẹn lữa ngầm ý khải thị không thể nói được).

35- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Hòa thượng Lợi Sơn đáp: “Không thấy như thế nào”. Tăng lại hỏi: “Tại sao lại như thế?”. Sư đáp: “Chỉ vì thế đó”. (Chỉ vì ý chỉ Tổ sư là như thế thôi).

36- Thiền sư Nhũ Nguyên thượng đường nói: “Ý nghĩa đích thật của Tổ sư Tây lai thật sự không khó nói. Trong đám học trò há không có ai nói được sao. Hãy bước ra nói thử coi”. Lúc bấy giờ có một học tăng bước ra lễ bái định nói, sư liền đánh mắng: “Là lúc nào đây mà lại ló đầu ra”. Nói xong quay về phương trượng. (Ló đầu ra là chấp vào ý Tổ sư Tây lai nên bị đánh mắng).

37- Sư Thủy Lạo đến tham yết Mã Tổ hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Tổ nói: “Hãy lễ bái cái đã”. Sư vừa cúi lạy, Mã Tổ nhắm ngay ngực sư cho một đạp té nhào. Sư liền đại ngộ, nhổm dậy xoa tay cười ha hả nói: “Thật lạ kỳ, thật lạ kỳ, trăm ngàn tam muội, biết bao diệu chỉ của Thiền tông chỉ nhờ nơi đầu mảy lông nhỏ xíu mà nhận thức được bổn lai nguyên”. (Ngộ rồi thì chỉ ý Tổ sư từ Tây lại biến khắp hà sa).

38- Ngưỡng Sơn hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Linh Hựu chỉ chiếc đèn lồng bảo: “Là chiếc đèn lồng”. Ngưỡng Sơn nói: “Có phải cái lồng đèn này là nó không?”. Linh Hựu hỏi: “Cái này là cái gì?”. Ngưỡng Sơn nói: “Chính là một cái đèn lồng”. Thiền sư Linh Hựu nói: “Quả nhiên là không thấy rồi”. (Hễ chấp là chưa thấy được ý chỉ Tổ sư).

39- Tăng hỏi: Nếu nói “Tự tâm tức Phật” thì Tổ sư Tây lai còn gì mà truyền thụ? Thiền sư Hy Vận đáp: “Tổ sư Tây lai duy truyền tâm Phật, trực chỉ tâm Phật, trực chỉ tâm các ngươi bổn lai vốn là Phật. Vì thấy được tâm, Phật và chúng sinh không khu biệt nên gọi là Tổ. Như trực triệt, liễu ngộ được tâm ấy thì tức khắc vượt khỏi tất cả mọi phẩm vị của tam thừa giáo pháp, bổn lai là Phật, mà không cần phải trải qua các giai đoạn tu hành mới đạt được”. (Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh là thành Phật cần chi để ý đến ý chỉ Tổ sư từ Tây lại).

40- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận liền quơ gậy đánh. Kiểu khai thị như thế này, sư đều dành tiếp dẫn học nhân có căn cơ thượng đẳng. Còn hạng trung và hạ đẳng thì không có cách nào nhìn thấu rõ cốt cách nó được. (Đánh là để đừng chấp vào ý Tổ sư).

41- Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây lai ý?”. Thiền sư Tịnh Không đáp: “Chừng nào có người té xuống giếng sâu ngàn thước mà không cần một tấc dây nào cũng đem y lên được thì lúc đó ta sẽ trả lời cho ngươi nghe về Tây lai ý”... (Không bao giờ nói được vậy). Góp nhặt và biên dịch từ “Trung Quốc Thiền tông Ngữ lục đại quan” của Viên Tân

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-20-2006 , 04:29 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi:

Nhờ giải thích nguyên nghĩa của các cách Tôn xưng "Hòa thượng", "Thượng tọa" và "Đại đức".

Đáp:

- Hòa thượng: có gốc từ Phạn ngữ: upadhyaya, Pàli: upajjhaya, tiếng Nhật là: osho; dịch âm Hán Việt là Ưu ba đà la; nguyên là cách gọi đối với các bậc tôn sư thân cận dìu dắt các Sa di hoặc Tỳ kheo, vì vậy cũng được gọi là Thân giáo sư hoặc Lực sinh. Trong thời gian đầu của Phật giáo tại Ấn Độ, người ta phân biệt hai vị thầy của một người mới nhập Tăng già, đó là Hòa thượng và A xà lê (hoặc Giáo thọ, Phạn ngữ: acarya). Hòa thượng là người dạy các đệ tử biết trì giới, thực hành nghi lễ, và vị Giáo thọ là người giảng Pháp, ý nghĩa của kinh sách. Vì thế mà danh từ Hòa thượng cũng đồng nghĩa với từ Luật sư hoặc Giới sư trong thời này.

Tại Đông và Nam Á, danh hiệu Hòa thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A xà lê. Muốn mang danh hiệu này, một vị Tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ)... và danh hiệu này được tấn phong trong một buổi lễ long trọng của Tăng già. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị Tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.

Danh hiệu "Đại Hòa thượng" cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến vị Lão sư (roshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được thêm danh hiệu (Đại Hòa thượng) phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm.

Tại Việt Nam ngày nay, "Hòa thượng" được xem là phẩm vị giáo phẩm cao nhất trong tổ chức Tăng già của GHPGVN, điều kiện tấn phong được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (đang ở giáo phẩm Thượng tọa, trên 60 tuổi đời và 40 tuổi đạo, có đạo hạnh, có công đức với đạo pháp và dân tộc...).

-Thượng tọa: có nguồn gốc Phạn ngữ: sthavira, Pàli: thera; là cách tôn xưng một vị Tăng cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Đức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lý căn bản của đạo Phật; 3. Nắm vững các phương pháp thiền định; 4. Người đã diệt ô nhiễm, phiền não và đạt giải thoát.

Danh hiệu Thượng tọa được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỷ kheo có danh tiếng, cao tuổi hạ.

Tại nước ta, phẩm vị "Thượng tọa" được xem là giáo phẩm sau "Hòa thượng", điều kiện để GHPGVN tấn phong cũng được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (Tăng sĩ từ 45 tuổi đời và 25 tuổi đạo trở lên, có công đức với đạo pháp và dân tộc...).

- Đại đức: là tôn hiệu chỉ cho những vị Tăng có đạo hạnh và trí tuệ. Ở nước ta ngày nay, Đại đức chỉ cho những vị Tăng đã thọ giới Tỳ kheo.

www.chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-25-2006 , 04:32 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
CẦU SIÊU CÓ PHẢI LÀ NGHI LỄ PHẬT GIÁO KHÔNG?

Ly Khanh hỏi; Thích Giác Hoàng trả lời

Câu hỏi:

Xin cho biết ý nghĩa cầu siêu thất tuần cho người qúa cố. Đó có phải là nghi lễ Phật giáo không? Tân (Ly Khanh).

Trả lời:

Quý Phật tử cư sĩ mến,
Câu hỏi của Phật tử gồm có 2 phần, chúng tôi xin lần lượt trả lời theo thứ tự.

1. Ý nghĩa cầu siêu thất tuần cho người quá cố

Vì Phật giáo cho rằng, không phải con người chết là hết. Sau khi xác thân này hư hoại thì thần thức tuỳ theo nghiệp báo mà tái sanh vào các cõi tương ứng với nghiệp nhân mà người kia đã gieo tạo, ngoại trừ các bậc đại giác như Đức Phật, các bậc Bồ-tát, các bậc A-la-hán đã cắt đứt dòng tham ái, đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Thế giới tình thức này không chỉ có cảnh giới con người, mà còn có các cảnh giới khác nữa, nếu tính từ dưới lên thì có: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

Việc cúng cầu siêu thất tuần cho người quá cố chỉ được tổ chức tại các nước theo truyền thống Bắc Phương Phật giáo. Theo Kinh Địa Tạng, phẩm thứ 8 “Chúa Tôi Xiêm La Xưng Tụng” trình bày sự kiện trong vòng 49 ngày, người chết như ngây như điếc, tâm thức không biết đường đi lối về, nên thân nhân cầu thỉnh chư Tăng, Ni vì lòng bi mẫn trì tụng tôn kinh để nhắc nhở thần thức của người mới mất. “Kính bạch đức Thế Tôn ! Kẻ nam, người nữ nơi mặt địa cầu đến lúc lâm chung, thần thức của họ tối tăm mờ mịt, chẳng biện biệt được điều lành, điều dữ, đến đỗi mắt tai không còn nghe thấy. Những người thân quyến của kẻ lâm chung hãy nên sắm sửa sự cúng-dường lớn, chuyển đọc kinh sám, niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ-tát, thì duyên lành ấy có thể giúp cho người thân đã mất lìa các nẻo ác, chúng ma, quỷ thần thảy đều lui tan” (bản dịch mới Kinh Bổn Nguyện của Bồ-tát Địa Tạng do Thầy Thích Thiện Thông dịch).

Như vậy, cúng 49 ngày thật sự có ý nghĩa chỉ đối với những người đã mất chưa quyết là được tái sanh về cảnh giới nào, hoặc đang trong trạng thái mê mê tỉnh tỉnh của thân trung ấm. Việc cúng cầu siêu như vậy có tác dụng nhắc nhở, gợi cho người quá vãng hướng tâm về các thiện sự đã làm hoặc thiết tha thực hiện những tư tưởng tốt đẹp, nhờ đó thần thức được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp hơn. Nhân tiện, xin giới thiệu đến Phật tử bài Ý Nghĩa Cầu Nguyện của đại đức Thích Viên Giác và bài Ý Nghĩa của Cầu Nguyện, Cầu An và Cầu Siêu của đại đức Thích Nhật Từ, để quý Phật tử đọc thêm, và bài Năm Hình Ảnh trước Cửa Tử của Hoà Thượng Rastrapal, do Hải Trần dịch ra tiếng Việt.

Cúng cầu siêu trong vòng 49 ngày như vậy thật sự luôn luôn cần thiết không?

Theo thiển ý của chúng tôi, các lễ cầu siêu không chỉ là lúc thân quyến cùng tưởng niệm đến người quá cố, cùng chia sẻ nỗi mất mát lớn lao, mà quan trọng còn là dịp tốt cho thân bằng quyến thuộc của người quá cố làm nhiều công đức như cúng dường Tam Bảo, hoặc bố thí cho người nghèo khổ, v.v… Trong thực tế, cũng như nhiều trường hợp trong Kinh đề cập, nhiều Tăng Ni, hoặc nam nữ cư sĩ sau khi bỏ thân này liền được sanh về các cảnh giới chư Thiên do nghiệp nhân thiện lành, hoặc lập tức bị sanh vào cảnh giới a-tu-la, ngạ quỷ, địa ngục vì những nghiệp nhân quá xấu ác. Như vậy, việc cúng cầu siêu cho người quá cố trong trường hợp này chỉ là để thể hiện lòng biết ơn hoặc lòng hiếu thảo của người còn sống đối với người đã khuất mà thôi. Tương tự, cho trường hợp cúng 49 ngày, cúng kỵ 100 ngày hoặc kỵ giỗ hàng năm của người đã khuất cũng là để bày tỏ lòng nhớ ơn hoặc nhân dịp đó làm trai cúng dường để cầu an, siêu trong gia đình, làm duyên cho con cái hoặc thân nhân đến với giáo pháp cao thượng.

Kinh Địa Tạng, phẩm thứ 7, cũng nói rõ vấn đề này, nếu người cư sĩ tại gia vì người chết mà cúng dường thì bảy phần công đức người chết chỉ hưởng một phần. Sáu phần công đức còn lại những người thân nhân tổ chức cúng dường sẽ được hưởng. Điều này rất phù hợp với tinh thần của Đạo Phật: tha lực chỉ là phần hỗ trợ, nghiệp lực của mỗi người phải tự nhận lấy, không ai có thể gánh chịu thế cho nhau được.

2. Việc cúng cầu siêu như vậy có phải là nghi lễ của Phật giáo không?

Nói một cách tổng quát, việc tổ chức cúng cầu nguyện như vậy là một trong những nghi lễ Phật giáo. Nhưng cũng xin trình bày là đạo Phật nhắm đến mục tiêu vì lợi ích cho chúng sanh, vì mục tiêu làm vơi bớt nỗi đau khổ của chúng sanh, chứ không phải vì nhu cầu cần có hình thức bày biện để làm đẹp mắt, vui tai hoặc cho dễ coi đối với xã hội. Do đó, nếu chúng ta chấp nhận chữ nghi lễ với định nghĩa là một hình thức bày tỏ lòng biết ơn, tôn kính hay thương xót nguời đã khuất thì các hình thức cúng cầu siêu như vậy thuộc về nghi lễ của Phật giáo. Cũng xin nói thêm rằng, nghi lễ của Phật giáo không phải là một tập tục của một dòng họ hay thuộc xã hội nào, không hề liên hệ đến đời sống tâm linh của người sống hoặc người đã khuất mà nghi lễ của Phật giáo xuất phát từ tinh thần độ sanh của hàng xuất gia cũng như trách nhiệm của người Phật tử tại gia. Ngoài ra, những chuyện bày biện màu mè, hình thức âm thanh sắc tướng, nhưng không liên hệ mục tiêu như đã trình bày thì không phải là nghi lễ của Phật giáo.

Mến chúc quý Phật tử đạo tâm tăng trưởng, thâm tín Phật Pháp và chuẩn bị hành trang thật tốt cho những hành trình thật xa mà ai cũng sẽ phải đi qua.

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 06-26-2006 , 02:10 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Vô Tình Chúng Sanh

Hỏi:

Có một vị thầy giảng rằng cây cỏ cũng có "cảm giác" và "dường như có tâm hồn". Cũng có một vị lão hòa thượng Trung Hoa nói rằng người chết cũng có thể tái sinh làm cây cỏ. Cho nên nhổ đốn cây cỏ nhiều cũng tạo nhiều nghiệp chẳng lành.

Kính xin quý vị chỉ giáo, bởi vì có một số Phật tử ăn chay mà cứ băn khoăn về những lời dạy trên của quý thầy. Có người ăn chay trường mà cứ lo sợ kiếp sau đầu thai làm cây cỏ.

Ðáp:

1- Chúng tôi đã tham vấn với một số quý thầy ở Úc Châu, Âu Châu và ở Việt Nam qua vi tính thư và thấy rằng đa số quý thầy có đồng quan điểm với hay tương tự như quan điểm (8/10) của thầy Thích Tâm Thiện như vầy: "Ðạo lý cơ bản của người Phật tử là 5 giới cấm, trong đó có dạy là không sát sinh. Còn đối với cỏ cây hoa lá, cũng là chúng sinh , nhưng là vô tình chúng sinh, khác với con người , động vật ( hữu tình chúng sinh) . Chúng ta tu , cái chính là không sát hại các loài hữu tình, còn nếu cao cả hơn thì không sát hại cả các loài vô tình. Tuy nhiên, mục đích chính của không sát sinh là để tăng trưởng tâm từ bi"

"Còn chuyện các loài cỏ cây có linh hồn hay không , tôi nghĩ người trần như chúng ta không thể biết được. Và nếu có, thì có lẽ Ðức Phật đã không chia thành hai loại hữu tình và vô tình (sentient being & non sentient being ) chúng sinh. Tình ở đây là tình thức, là tâm hồn, là linh hồn " (Thích Tâm Thiện).

2- Chúng tôi cũng tìm đọc kinh để lấy lời Phật làm dấu ấn và lời của Phật trong kinh Lăng Nghiêm đã giải đáp thật rõ ràng. Chúng tôi xin chép lại đây lời Ngài để quý độc giả được rõ : "Người tu thiền định, khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đã diệt, chơn tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thấy thức ấm biến khắp tất cả, rồi sanh tâm chấp: "Mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây". Vì mê mờ tánh Bồ Ðề, mất chánh kiến, nên sẽ làm bè bạn với hai chúng ngoại đạo Bà Tra và Tán Ni, chấp tất cả vạn vật đều có tri giác (biết)." (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ 6-7, Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Hòa Thương Thiện Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế tái xuất bản năm 1987, Bài thứ 16: Mười Món Ma Về Thức Ấm, phân đoạn 4, chấp cỏ cây cũng đều biết, trang 252).

Bản dịch Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Thích duy Lực dịch như sau:

"4- Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên thông, nếu ở nơi sở tri, kiến lập tri giải, cho các loài cây cỏ mười phương đều gọi là hữu tình, với người chẳng khác ; cây cỏ làm người, người chết rồi lại thành cây cỏ, cho đến loài vô tình đều có sự giác tri, hữu tình vô tình chẳng có phân biệt, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào cái chấp "Tri vô tri", làm bạn với hai thứ ngoại đạo Bà Tra và Tiện Ni, chấp tất cả đều có sự giác tri, mê lầm tánh Bồ Ðề, lạc mất tri kiến Phật. Ấy gọi là lập cái tâm viên tri, thành cái quả hư vọng, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống Ðiên Ðảo Tri thứ tư." (Kinh Lăng Nghiêm, Từ ân Thiền đường xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 253).

Ngoài ra, bản dịch của cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám cũng tương tự.

3- Như thế, trên đây đã trả lời rõ ràng về cây cỏ, cũng đồng thời trả lời luôn về một câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được một vị thầy lập lại và đồng ý bia đá cũng biết đau: "làm sao em biết bia đá không đau?" Vâng thưa! biết chứ, Phật dạy rồi. Bia đá không biết đau, chúng là vô tình chúng sinh, là vô tri giác. Thưa thầy!

Tâm Diệu

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 07-04-2006 , 10:07 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI:

Hoa Vô ưu có phải là hoa Ưu đàm không? Nếu không phải thì tại sao Thái tử Tất Đạt Đa hạ sinh dưới cội Vô ưu nhưng khi nói về Đản sanh của Phật thì lấy biểu tượng hoa Ưu đàm?

ĐÁP:

Vô ưu, Phạn ngữ Asoka, Hán ngữ phiên âm A du ca, A thúc ca, A thuật ca… dịch nghĩa là Vô ưu hoa (hoa không ưu tư phiền muộn). Vô ưu là loại hoa thân mộc, trổ hoa vào mùa Xuân, mọc rất phổ biến ở xứ Thiên Trúc. Khi hoa nở, đóa lớn, sắc đẹp, hương thơm, ong bướm hút mật không biết chán. Phụ nữ Ấn Độ rất ái mộ và tôn kính cây hoa này. Theo thần thoại Ramayana, nàng Sita khi bị ác thần Ravana nhiễu hại đã trốn dưới cây Vô ưu và kháng cự thành công. Vì thế, hoa Vô ưu rất được phụ nữ Ấn tôn trọng và là loại hoa quý để dâng cúng thần Siva. Tương truyền, loài cây này cũng cảm nhận được tình cảm của con người nên được phụ nữ chăm sóc thì hoa mau trổ và rất nhiều.

Tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni, hoa Vô ưu được trồng rất nhiều. Hoàng hậu Ma Da cùng đoàn tùy tùng xa giá rời Ca Tỳ La Vệ trở về quê ngoại để sanh con đầu lòng, theo tập tục Ấn Độ thời bấy giờ. Khi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni, Hoàng hậu ra lệnh dừng lại để Người vào lâm viên nghỉ ngơi, đi dạo và ngoạn cảnh. Khi đi đến dưới cây Vô ưu, thấy hoa nở rộ, ngào ngạt hương thơm bèn đưa tay vin cành hoa Vô ưu, liền khi đó hạ sanh Thái tử.

Ưu đàm cũng là một loại cây có hoa nhưng là loại cây thiêng (linh thọ). Theo Phật giáo, hoa Ưu đàm nở là một điềm lành. Ưu đàm, Phạn ngữ Udumbara, Hán ngữ phiên âm thành Ưu đàm ba la, Ưu đàm bà la, Ô đàm bạt la, Ô đàm bát la, Uất đàm v.v… Hoa Ưu đàm có tên Ưu đàm bát hoa hay Ưu bát hoa gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là Linh thụy hoa, Thuỵ ứng hoa, Không khởi hoa. Theo Từ điển Phật học Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, thì: "Cây Ưu đàm không thuộc loại hoa quả, mọc ở các nơi như núi Himalaya, cao nguyên Đê-can và nước Xây-lan v.v… Thân cây cao hơn một trượng, lá có hai thứ: một thứ phẳng trơn, một thứ thô nhám, cả hai thứ đều dài khoảng 4,5 tấc nhọn đầu. Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu trong đài hoa, nên thường nhầm là loại cây không hoa. Hoa xếp như nắm tay hoặc như ngón tay cái, thành chùm hơn chục đóa, ăn được nhưng vị không ngon". Sách Huyền Lâm Ứng Nghĩa, quyển 21 mô tả về Ưu đàm "Lá cây hoa này tựa như lá cây lê, quả to bằng nắm tay, vị ngọt, có hoa nhưng ít xuất hiện, khó trồng". Đặc biệt, hoa Ưu Đàm có mùi thơm xông khắp vô lượng thế giới (Vô Lượng Thọ kinh). Cứ vào các đặc điểm được mô tả về thân, lá, hoa và quả của Ưu đàm và Vô ưu thì chắc chắn Ưu đàm và Vô ưu là hai loại cây hoa hoàn toàn khác biệt nhau.

Đúng là Thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra dưới cội Vô ưu. Tuy nhiên, khi nói về Phật đản sanh lại lấy hoa Ưu đàm làm biểu tượng là do một nguyên nhân khác. Hoa Ưu đàm, theo quan niệm của Phật giáo là một loài hoa linh thiêng, cực kỳ quý hiếm "ba ngàn năm mới nở một lần" nên mang ý nghĩa hy hữu, hiếm có, khó gặp. Mặt khác, hoa Ưu đàm nở là điềm lành báo hiệu Đức Phật ra đời hay có bậc Luân Vương xuất thế, vì lẽ ấy mà hoa Ưu đàm được gọi là hoa Linh thụy. Theo Pháp Hoa văn cú: "Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời". Do các đặc điểm này, hoa Ưu đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế hy hữu của Đức Thế Tôn trong văn học và kinh điển Phật giáo.

Như vậy, Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh dưới cội Vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni là một sự thật lịch sử. Còn việc dùng hoa Ưu đàm làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của một bậc Giác ngộ là một chuyện khác. Vì thế, khi bàn đến Đản sanh của Phật Thích Ca thì hoa Vô ưu được xem như một chứng tích, gắn liền với một sự kiện lịch sử cụ thể còn hoa Ưu đàm là ảnh dụ của sự kiện lịch sử vĩ đại và hy hữu ấy. Dẫu chắc chắn rằng Ưu đàm đã khai hoa vào dịp ấy nhưng không phải nơi vuờn Lâm Tỳ Ni. Do vậy, hoa Vô ưu nở vào mùa Xuân mỗi năm là chuyện bình thường nhưng nói đến hoa Ưu đàm nở, tự khắc ta liên tưởng đến đại sự nhân duyên, một vị Phật đản sanh, Bậc Giác ngộ xuất thế.


www.chuyenphapluan.com
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 12:45 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.