VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Viet Long
Banned
Join Date: Feb 2006
Số Điểm: 1703
Old 07-17-2006 , 06:51 AM     Viet Long est dconnect  search   Quote  


D. Tám vạn bốn ngàn pháp môn?

Trong sách báo Phật giáo, chúng ta thường thấy cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉ tính đa dạng, đa phái của đạo Phật. Có nhiều người dùng cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉ các pháp môn, các truyền thống khác nhau trong đạo Phật, và cho rằng bất kỳ pháp môn nào, bất kỳ truyền thống nào rồi cũng đưa đến mục đích cuối cùng của giác ngộ giải thoát.

Theo sự hiểu biết thô thiển của chúng tôi, trong kinh điển nguyên thủy không thấy có cụm từ "84 ngàn pháp môn" này, mà chỉ có một đoạn văn do Ngài Trưởng Lão Ànanda trả lời ông Moggallàna người chăn bò, khi ông ấy hỏi Ngài lời dạy của đức Phật là gì, có tất cả là bao nhiêu pháp. Ngài đáp: "Trong 84 ngàn pháp, chính tôi được nghe đức Phật giảng 82 ngàn, còn 2 ngàn kia là do các vị tỳ khưu khác thuật lại" (Trưởng Lão Tăng Kệ, 1025, Tiểu Bộ).

Xin ghi nhận vài điểm sau đây:

1) Con số "84.000" hay cụm từ "tám mươi bốn ngàn" hay "tám vạn bốn ngàn" là một thành ngữ thường thấy trong nhiều bài kinh, như: 84.000 đại kiếp, 84.000 năm, 84.000 thị nữ, 84.000 cỗ xe, 84.000 con voi, 84.000 con bò, 84.000 chén bạc, 84.000 thước vải v.v. Đây chỉ là một thành ngữ phổ thông tại Ấn Độ trong thời đó, là cách nói tổng quát để chỉ một số lượng rất lớn, rất nhiều, không phải là một con số chính xác.

2) Chữ "pháp" (dhamma) trong câu trả lời của Ngài Ànanda có nghĩa là gì? Giáo sư K. R. Norman, dịch giả bản dịch Theragatha (Trưởng Lão Tăng Kệ) sang Anh ngữ, cho biết rằng ngài luận sư Buddhaghosa, trong Chú Giải Trưởng Lão Tăng Kệ, có giải thích "pháp" ở đây được hiểu như là "pháp uẩn" (dhammakhandha), nghĩa là đoạn văn về giáo pháp.

Trong quyển Saddhammasangaha (Diệu Pháp Yếu Lược) do Ngài Dhammakitti Mahàsàmi soạn ra tại Sri Lanka vào khoảng thế kỷ 13 DL, Ngài có giải thích về "Pháp Uẩn" như sau:

- Thế nào là có tám mươi bốn ngàn phần khi nói về Pháp Uẩn? Bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn. Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đến chủ đề. Trong những phần Kệ (gàthà), mỗi câu hỏi hay chất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một Pháp Uẩn. Trong tạng Vi Diệu Pháp, mỗi một phần chia chẻ gồm có một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻ theo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luật thì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (màtikà), có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phần không phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này, cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế, khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần (theo bản Việt dịch của Tỳ khưu Nguyệt Thiên Indacanda).

3) Cũng trong quyển Saddhammasangaha, Ngài Dhammakitti Mahàsàmi có đưa ra các con số thống kê về Tam Tạng kinh điển như sau:

a- Trong 84.000 pháp uẩn, Tạng Kinh có 21.000 pháp uẩn, Tạng Luật có 21.000 pháp uẩn, và Tạng Vi Diệu Pháp có 42.000 pháp uẩn.

Ngày nay, các con số này cũng thấy được trích dẫn trong nhiều tác phẩm Phật học. Đây có phải là con số chính xác và khả tín không? Đã có vị Tăng Ni học giả nào nghiên cứu tường tận để chứng minh các con số này, hay không?

b- Tam Tạng Pàli gồm có một ngàn một trăm tám mươi ba (1.183) tụng phẩm (bhànavàra).
c- Tam Tạng Pàli có số lượng từ là hai trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm năm mươi (295.750).
d- Tam Tạng Pàli có số lượng mẫu tự là chín triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn (9.464.000).

Về Tạng Kinh, Ngài liệt kê:

e- Trường Bộ có 34 bài kinh.
f- Trung Bộ có 152 bài kinh.
g- Tương Ưng Bộ có 7.762 bài kinh.
h- Tăng Chi Bộ có 9.557 bài kinh.

Ngoài ra, Ngài cũng có đưa ra các con số thống kê về các bộ Chú giải và Sớ giải:

i- Tất cả Chú Giải Tam Tạng do ngài Buddhaghosa giảng giải có số lượng tụng phẩm là một ngàn một trăm sáu mươi ba (1.163).
j- Tất cả Chú Giải Tam Tạng có số lượng từ là hai trăm chín chục ngàn bảy trăm năm mươi (290.750).
k- Tất cả Chú Giải Tam Tạng có số lượng mẫu tự là chín triệu ba trăm lẻ bốn ngàn (9.304.000).
l- Và Sớ Giải của Tam Tạng được giảng giải bởi các vị thầy giáo thọ về Sớ Giải có số lượng tụng phẩm là sáu trăm ba hai (632).
m- Sớ giải của Tam Tạng có số lượng từ là một trăm năm mươi tám ngàn (158.000).
n- Sớ giải của Tam Tạng có số lượng mẫu tự là năm triệu không trăm năm mươi sáu ngàn (5.056.000).

Ngày nay, các bộ Tam Tạng Pali, Chú Giải và Sớ Giải đã được số hóa từ các nguồn Sri Lanka, Myanmar và Thái Lan, và đã được phổ biến rộng rãi qua dạng đĩa CD-ROM. Chúng tôi không biết đã có những công trình nghiên cứu nào để minh chứng các con số thống kê nêu trên, bằng cách viết các chương trình vi tính để xử lý nguồn số hóa trên CD-ROM, hay không? Theo thiển ý, đó là đề tài rất thú vị và cũng rất quan trọng, đáng để cho các vị nghiên cứu sinh Phật học lưu tâm và thực hiện trong các bài luận văn hay luận án tốt nghiệp.
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-07-2006 , 11:47 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tùy Duyên Giáo Hóa

HỎI:

Tôi là người xuất gia đang hành đạo ở vùng sâu vùng xa. Có nhân duyên là các cháu học sinh hàng ngày đi học về thường ghé chùa và tôi thường khuyên dạy các cháu về hiếu nghĩa, đạo đức và nhất là vâng lời cha mẹ, thầy cô, chăm ngoan học hành. Tôi nghĩ mình đang góp phần làm điều lợi ích cho xã hội bởi trao truyền đạo đức cho các cháu là cần thiết. Thế nhưng một vài bậc phụ huynh không hài lòng, đã ngăn cấm không cho các cháu vào chùa. Tôi mong muốn các bậc phụ huynh nhận thức rằng việc các cháu được gần gũi môi trường đạo đức là điều cần thiết nhưng chưa biết làm sao!

ĐÁP:

Thiện tâm của cô muốn khuyên dạy các cháu về đạo đức, hiếu nghĩa, chăm ngoan là điều tốt song không phải bất cứ điều tốt đẹp nào cũng được cảm thông, chia sẻ và ủng hộ. Sở dĩ các bậc phụ huynh ở địa phương không hài lòng trước việc làm của cô, xét kỹ không phải không có nguyên nhân.

Trước hết, do họ không nhận thức đúng về chùa chiền là môi trường giáo dục, đạo đức, văn hóa và tâm linh mà chỉ biết đại khái là nơi thờ tự thánh thần nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cầu cúng, van vái. Mặt khác, người tu, theo họ dù hiền lành nhưng chỉ là những kẻ yếm thế, bi quan, sống nhờ lòng thương của bá tánh hoặc chuyên hành nghề cúng bái, xem quẻ, giải xăm. Đặc biệt là quan niệm thiển cận khi cho rằng, tuổi trẻ nếu “nhiễm” từ bi hỷ xả sẽ có khả năng thui chột ý thức phấn đấu, cạnh tranh, khó thành công trong cuộc sống và chẳng may các cháu “mê” chùa xin đi tu là điều tai họa. Nếu nhận thức về chùa chiền và tu hành phiến diện như vậy thì việc họ cấm đoán con cái không nên vào chùa chơi cũng là điều dễ hiểu.

Đó là quan niệm của những người không biết gì nhiều về Phật giáo. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều người dù tin Phật, có đi lễ chùa hoặc đã quy y nhưng chưa hiểu đạo nghĩ rằng, đến chùa khi về già mới thích hợp còn tuổi trẻ thì không nên hoặc giả các cháu còn nhỏ, ham vui nếu đến nơi tôn nghiêm lỡ có bề gì thất kính với thánh thần sẽ bị trách phạt… Do vậy, họ không an tâm khi các cháu đến chùa một mình.

Trên đây là những nguyên nhân cơ bản, khá phổ biến dẫn đến việc những bậc phụ huynh cấm cản các em nhỏ đến chùa tham quan, vui chơi, học tập. Để khắc phục tình trạng này, trước hết cô cần kiện toàn nhân cách và chùa chiền bằng cách tu học, hành đạo đúng Chánh pháp. Điều này sẽ giúp mọi người dần hiểu và nhận thức đúng đắn hơn về Phật giáo. Điều quan trọng là cô cần phát huy thuyết giảng, thường xuyên có những pháp thoại ngắn hoặc đọc một bản kinh hay một bài viết giáo lý trong sách báo Phật giáo trong những buổi lễ để hàng Phật tử và mọi người ngày càng hiểu biết giáo lý đúng đắn, sâu sắc hơn, nhất là nhận ra những giá trị đạo đức Phật giáo mà mọi người, mọi lứa tuổi cần phải tuân thủ, ứng dụng nhằm xây dựng bản thân, gia đình và xã hội tốt đẹp hơn.

Kế đến, cô cần thể hiện tâm nguyện “tất cả vì đàn em thân yêu” của mình qua những việc làm lợi ích thiết thực như kết hợp với Ban từ thiện chùa, chính quyền địa phương nỗ lực hơn nữa trong các hoạt động xã hội vì trẻ em. Cụ thể như: lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; hỗ trợ học phí, dụng cụ học tập cho học sinh nghèo; ủy lạo, thăm viếng các học sinh gặp khó khăn, hoạn nạn v.v… Bởi khi các bậc phụ huynh chưa hiểu được tâm nguyện giáo dục, lòng yêu trẻ, mong muốn thế hệ kế thừa không lãng quên cội nguồn của cô (qua các việc làm cụ thể) thì họ không thể cho các cháu gần gũi với người lạ được. Tâm hồn các cháu trong trắng, do vậy thận trọng với các môi trường giáo dục lạ có thể ảnh hưởng đến nhận thức con cái là điều cần làm đối với các bậc phụ huynh. Vì thế, khi chưa thiết lập được sự hiểu biết, cảm thông, động viên, hỗ trợ và tán thành của các bậc phụ huynh cũng như mọi người thì cô cũng không nên tùy tiện “lên lớp, giảng bài” cho các cháu, vì điều ấy không chừng lợi bất cập hại, có thể dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc.

Để giáo hóa chúng sanh thành công, cần phải nghiên cứu, tu tập, ứng dụng theo tinh thần Tứ nhiếp pháp. Bốn việc làm bố thí, ái ngữ, đồng sự và lợi hành cần được kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn mới có thể nhiếp hóa mọi người. Do vậy, nếu cô thực thi trọn vẹn những điều trên thì trong chừng mực nào đó cô sẽ được mọi người, nhất là những người chưa biết đạo tin hiểu, tín nhiệm và nể phục. Và nếu như “vì sự nghiệp giáo dục trẻ em” là hoài bão phụng sự chúng sanh của cô thì cứ theo phương thức này, trong tương lai cô sẽ được chính quyền địa phương cùng các ban ngành và mọi người hỗ trợ để cô được tham gia, dấn thân, phụng sự và thực thi tâm nguyện của mình.


Chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-14-2006 , 08:04 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Cúng Dường Thanh Tịnh

HỎI:

Con theo thầy tu học đã lâu, từ trước đến nay, mỗi khi con phát tâm cúng dường thì thầy cũng đều hoan hỷ thọ nhận. Chẳng biết vì sao thời gian gần đây, thầy từ chối không nhận bất cứ vật gì của con dâng cúng. Con rất buồn về điều ấy nhưng không biết làm sao, xin Tổ Tư vấn giúp con biết phải làm gì để được thầy thọ nhận cho con tạo phước?

ĐÁP:

Cúng dường Tam bảo là một trong những pháp tu quan trọng của hàng Phật tử tại gia. Chính nhờ tu tập bố thí và cúng dường mà phước báo của tự thân cùng gia đình sẽ được vun bồi, tăng trưởng. Vì thế, cúng dường và bố thí là những việc làm luôn được chư Tăng khuyến khích, tán thán. Chư Tăng là người đại diện cho Tam bảo, do vậy mọi việc cúng dường để phụng sự Tam bảo đều do quý Tăng Ni thọ nhận.

Đối với vấn đề cúng dường, có hai phương diện mà cả người cúng lẫn người nhận cần phải nhận thức rõ ràng để hành xử đúng Chánh pháp. Trước hết là cúng dường Tam bảo, tức tịnh tài và tịnh vật dâng cúng được sử dụng với mục đích duy nhất phụng sự Tam bảo. Nghĩa là mọi tài vật do thí chủ cúng dường chỉ chi dụng vào các Phật sự như: xây chùa, dựng tháp, tạo tượng, đúc chuông, ấn tống kinh sách, tiếp Tăng độ chúng v.v… Khi thí chủ hỷ cúng cho việc kiến tạo một hạng mục riêng biệt nào đó của Tam bảo thì chư Tăng cần trợ duyên cho thí chủ như nguyện. Trong một vài trường hợp chư Tăng có thể tùy duyên phương tiện “cân đối” cho phù hợp với tình hình thực tiễn của tự viện nhưng vẫn không ngoài việc phụng sự Tam bảo. Đối với việc Phật tử phát tâm cúng dường Tam bảo để tu tạo phước điền thì chư Tăng phải thay mặt Tam bảo thọ nhận, không có quyền khước từ.

Thứ đến là cúng dường cho cá nhân một vị Tăng, tức tài vật dâng cúng này vị Tăng được tùy nghi sử dụng trong đời sống hàng ngày để phục vụ tu tập, học hành, đi lại v.v… Trong trường hợp này, những vị Tăng sống thiểu dục, tri túc thì chỉ nhận vừa đủ và có quyền từ chối không nhận thêm. Thời Phật tại thế cho đến ngày nay, một Tỳ kheo đi khất thực nếu cảm thấy thực phẩm đã đủ cho bữa ăn thì có quyền đậy nắp bình bát, không nhận thêm nữa. Dù vậy, để cho hàng Phật tử được phước, chư Tăng cần thọ nhận tâm cúng dường (tấm lòng) đồng thời hướng dẫn thí chủ đến cúng dường chư vị khác hoặc cúng vào Tam bảo.

Tuy nhiên, có một vấn đề cực kỳ quan trọng mà hàng Phật tử khi phát tâm cúng dường cần lưu tâm, đó là phải cúng dường như pháp tức thanh tịnh cúng dường và cần tránh “tình cảm” cúng dường. Thanh tịnh cúng dường là tài vật và tâm cúng dường hoàn toàn trong sáng nhằm phụng sự Tam bảo để trang nghiêm phước báo, không hề móng khởi những tà niệm như cầu danh tiếng, để được ca ngợi hay bất cứ những ý niệm nào liên hệ đến vấn đề vun đắp tự ngã. Ngược lại với thanh tịnh cúng dường là “tình cảm” cúng dường, tức chỉ cúng dường cho thầy của tôi bởi tôi nể phục, tôi kính mến, tôi tôn thờ v.v… nói chung là liên hệ đến “tôi”. Đây chính là mấu chốt của vấn đề vui buồn và bất an thường xảy ra cho những ai không nhận thức đúng đắn và thực hành thanh tịnh cúng dường.

Vì thế, khi bạn cúng dường thầy mà không được thọ nhận thì bạn cần bình tâm quán sát để thấy điều đó là điều bình thường. Có thể thầy của bạn đang hành trì hạnh biết đủ nhưng không tiện nói. Nếu đúng như vậy thì bạn không nên buồn đồng thời phát tâm cúng dường lên Tam bảo số tịnh tài hay tịnh vật ấy và chắc chắn thầy sẽ thay mặt Tam bảo chứng minh, thọ nhận và hồi hướng phước đức cho bạn.

Ngược lại, nếu ngoài nguyên nhân trên thì bạn cần xem lại tâm niệm của mình trước, trong và sau khi cúng dường đã thật sự thanh tịnh như pháp hay chưa? Bởi thực chất của hạnh cúng dường là gieo trồng phước báo cho người cúng, làm cho bạn chứ không phải là để “giúp đỡ” thầy. Có thể bạn không cố ý nhưng nếu có chút biểu hiện của tự ngã trong cúng dường thì sự khước từ của thầy là một bài học nhằm thức tỉnh bạn đó. Vì thế, bạn cần quán sát sự việc một cách thấu đáo, xem mình nằm trong trường hợp nào để có cách hành xử thích hợp.

Đỉnh cao của bố thí và cúng dường là đạt đến “trình độ” ba la mật. Cho mà không thấy có người cho, của đem cho và người nhận (không chấp thủ, cái tôi vắng mặt) thì sự bố thí và cúng dường ấy đạt được vô lượng phước đức. Vì thế, chỉ cần tâm cúng dường của bạn thanh tịnh thì cúng dường thầy hay cúng dường Tam bảo, bạn cũng đều gặt hái được thật nhiều phước báo, hạnh phúc và an vui.

Chuyenphapluan.com
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-22-2006 , 08:59 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Thưa quý thính giả,

Trong thời gian qua chúng tôi nhận được thư của một thính giả, nguyên văn bức thư như sau:

Thưa ban biên tập,

Vào các ngày lễ như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan và lễ Rằm Tháng Giêng, tôi thấy các chùa thường có lễ phóng sinh tiếp ngay sau phần nghi thức lễ chính. Vậy xin vui lòng cho tôi biết ý nghĩa của việc phóng sinh và có phải phóng sanh sẽ làm giảm bớt nghiệp bệnh của mình hay được phước thật hay không? Có người nói rằng mua chim phóng sanh không có phước mà lại vô tình sát hại chim và bị những người buôn bán chim cá lợi dụng bắt nhiều thêm để bán thủ lợi, xin quý vị cho biết ý kiến.

Thưa quý thính giả,

Đạo Phật xuất hiện trên thế gian là từ thành quả tu hành của thái tử Tất Đạt Đa. Sau một quá trình thanh tịnh hóa tâm, thái tử bừng tỉnh, giác ngộ thành Phật. Phật là phiên âm của chữ Phạn “Buddha”, có nghĩa là “người tỉnh thức”. Từ ngữ Buddha dịch sang tiếng Trung Hoa là “giác giả ”, có nghĩa là “người giác ngộ”. Người Trung Hoa phiên âm chữ Buddha thành ra Phật Đà, hoặc Phật.

Do sự bừng tỉnh, giác ngộ này, đức Phật thấu suốt cội nguồn của thế giới hiện tượng tương đối, trực nhận được rằng tất cả các loài hữu tình chúng sinh cũng đều có đầy đủ trí huệ, giác tánh -- còn gọi là Phật tánh -- y như Ngài, cũng có khả năng thành Phật như Ngài. Cho nên tuyên ngôn đầu tiên của Ngài sau khi thành Phật là:
“Tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai”
và:
"Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành".
Từ ngữ chúng sinh ở đây không để chỉ riêng loài người, mà là bao gồm tất cả mọi loài sinh vật có cảm giác.

Đức Phật do tu chứng mà giác ngộ được những điều trên. Khoa học ngày nay dù không do tu chứng, nhưng nhờ những nghiên cứu, thí nghiệm, cũng đã xác nhận phát biểu của Ngài là có cơ sở thực tế, không phải là mê tín.

Bản tin về Đại Hội Khoa Học ở Dublin, Ái Nhĩ Lan hồi tháng Chín năm 2005 thông báo rằng, theo kết quả thí nghiệm của bác sĩ Filippo Aureli, đồng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu về Nhân Chủng và Cổ Sinh Học của trường đại học Liverpool John Moores, thì có lẽ mối liên hệ giữa loài người và loài vật gần nhau hơn là những điều trước kia người ta đã tưởng. Trình bày kết quả công trình nghiên cứu từ các thú vật có lông, bác sĩ Aureli cho biết rằng ông thấy chúng biểu lộ cảm xúc y như loài người trong đời sống hằng ngày. Ông giải thích rằng trong khi nghiên cứu, ông đã thấy chúng có những hành động như kỳ cọ thân thể để được sạch sẽ, lo lắng khi cảm thấy có điều bất thường, nguy hiểm có thể xảy ra. Trong tình trạng bồn chồn, khắc khoải, chúng cũng cắn móng chân hoặc bứt lông như loài người cắn móng tay, bứt tóc khi thần kinh căng thẳng. Ông cho rằng khỉ và vượn là những loài phân biệt đối xử dựa theo tình cảm bằng hữu rất rõ ràng. Tùy theo mối liên hệ thân sơ mà chúng quyết định cách ứng xử với đối phương khác nhau theo từng trường hợp.

Nhiều nhà khoa học trải qua những năm tháng theo dõi đời sống của loài vật nhận thấy rằng không phải chúng là những sinh vật vô cảm, chỉ biết ăn rồi sinh đẻ, như những bộ máy chỉ cần cho nhiên liệu vào là sản xuất . Trái lại, đời sống của chúng đầy ắp những tình cảm, cũng sôi động yêu đương, đau khổ vì ghen tuông, vì sự chết chóc của con cái, vân vân. Một nhà nghiên cứu thú hoang kể lại rằng trong dịp theo dõi một đàn voi, ông chợt phát hiện một con voi lớn bỗng nhiên rời khỏi đàn, đứng lại, rống lên ai oán. Ông ta cố gắng tìm hiểu, thì phát hiện ra rằng con voi đó đang đứng bên cạnh một con voi nhỏ nằm dưới đất, có thể là con nó, dường như đã chết rồi. Theo dõi suốt hai ngày tiếp theo, ông thấy voi mẹ vẫn quanh quẩn bên voi con, và cả đàn voi thì cũng không đi xa, chỉ loanh quanh gần đó, như chờ đợi. Cho đến sáng ngày thứ ba, có lẽ voi mẹ đã nhận ra được thực tế chăng, hay là nhờ đồng loại thuyết phục, nên nó dùng vòi hất đất cát như muốn lấp xác con nó, rồi vừa rống lên thê thảm, vừa bước theo đàn ra đi.

Nhiều người trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến những biểu lộ tình cảm của loài vật. Chúng ta cũng đã được nghe kể về những con chó trung thành với chủ, bỏ ăn khi chủ đi xa, hoặc như tại địa phương kia, có con chó chiều chiều ra sân ga xe lửa đón chủ đi làm trở về. Một hôm, chủ bị bạo bệnh bất thình lình ở sở, được chở vào nhà thương rồi qua đời. Vì không có thân nhân lãnh xác nên bạn bè chôn cất ngay tại nghĩa địa gần nhà thương. Con chó vẫn như thường lệ, ngày ngày ra ga ngồi đón chủ hàng mấy tiếng đồng hồ, cho tới đêm tối lại lủi thủi một mình về nhà. Mọi người thấy lạ, đem đồ ăn cho mà nó không ăn. Mãi tới hai tuần lễ sau, nó gầy rạc rồi nằm lử ra ở sân ga mà chết. Dân chúng gần đó bèn xây một bức tượng của nó ngay tại sân ga để vinh danh tấm lòng trung thành của nó đối với chủ.

Có rất nhiều câu chuyện về lòng trung thành của loài vật nuôi trong nhà, được chủ âu yếm, săn sóc, đã đối đáp lại bằng những tấm chân tình. Ngay cả những con vật không được săn sóc, âu yếm, sự biểu lộ cảm xúc, lo âu của chúng nó cũng rất rõ ràng, thí dụ những người ở gần lò sát sinh, như lò heo Chánh Hưng, thường kể lại những câu chuyện thương tâm khi những con bò bị lôi vào lò mổ, có thể là do linh tính báo trước, hoặc do mùi đặc biệt nơi lò sát sinh, mà chúng thường trì lại, đôi khi khuỵu hai chân trước xuống như van lạy, nước mắt ứa ra từ cặp mắt bi thương, thống thiết. Có những bà nội trợ kể chuyện khi làm món ếch xào lăn phải lột da con ếch, thấy nó chắp hai chân trước như là người ta chắp tay lạy xin tha mạng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tuy loài vật không thể biểu lộ cảm xúc bằng ngôn từ của loài người, thay vào đó, chúng phát biểu bằng hành động.

Đức Phật là bậc Toàn Trí và Toàn Bi. Sau khi thành đạo, Ngài dùng tất cả quãng đời còn lại gần nửa thế kỷ để đi các nơi từ gần đến xa mà giáo hóa chúng sinh. Tựu trung, những lời dạy dỗ của Ngài đều nhằm mục tiêu phát triển lòng từ bi và trí tuệ nơi con người. Những lời dạy đó đã được chư đệ tử của Ngài thu thập và viết lại trong kinh tạng, nhờ vậy, chúng ta ngày nay tuy ra đời sau khi Phật diệt độ đã trên hai ngàn năm trăm năm, mà vẫn còn được thấm nhuần những lời dạy dỗ vàng ngọc của Ngài.

Về mặt Trí Tuệ, Ngài dạy các phương pháp thiền quán, giữ gìn giới hạnh, tu tập để sống tỉnh thức, hóa giải Tham Sân Si, thanh tịnh hóa tâm.

Về mặt Từ Bi, đức Phật dạy mở rộng lòng trắc ẩn, tăng trưởng tình thương đối với chúng sinh, không chỉ riêng đối với loài người, mà còn phải dàn trải tâm từ tới tất cả các chủng loại sinh vật, vốn cũng có giác quan cảm xúc, cũng biết đau đớn, thậm chí cũng biết ghen tuông, buồn vui, biết thương yêu cha mẹ con cái, đau khổ khi phải biệt ly nhau, y như con người.

Với hành trang tinh thần phong phú và cao quý đó trong tâm, chư Tăng Ni và các Phật tử thuần thành của nhà Phật đều siêng năng thực hành lời dạy này. Đó là nguồn gốc của tục lệ phóng sinh trong những dịp lễ lớn của nhà Phật, hành động đã trở thành một biểu tượng nói lên lòng tri ân sâu xa, như là một lễ vật tinh thần thiêng liêng dâng lên đức Phật, để tỏ lòng thành kính vâng theo những lời dạy của Ngài.

Vậy phóng sanh là gì?

Phóng sanh có nghĩa là giải thoát những sinh vật đang bị tù đày, giam hãm trong lồng chậu, nhà giam, đang bị tra tấn, đánh đập hoặc sắp bị giết, tức là hành động mang lại sự sống cho chúng sinh đang bị đe dọa đến tính mạng.

Bắt nguồn từ hai bộ kinh Phật giáo Bắc Tông là kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới và kinh Kim Quang Minh, tục lệ phóng sinh được phát triển mạnh ở Trung Hoa, truyền sang Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Trong kinh Phạm Võng, đức Phật dạy: “Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sanh và khuyên bảo người khác làm. Nếu thấy người đời sát sanh thì nên tìm cách cứu cho chúng được thoát khỏi nạn khổ.” Kinh Kim Quang Minh cũng kể lại những thí dụ về lòng từ bi cứu giúp chúng sinh khỏi chết.

Vào thời đại nhà Tùy bên Trung Hoa, đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai truyền giảng kinh Kim Quang Minh và kinh Pháp Hoa, phát động phong trào đào ao phóng sinh, tiết kiệm tiền để mua lương thực nuôi cá. Sự việc này mở đầu cho việc phóng sinh và đào ao phóng sanh ở Trung Hoa từ đó. Đến cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực truyền bá việc phóng sinh. Ngài đã để lại các bài thuyết giảng về ăn chay, về giới sát, về phóng sinh, cũng như về nghi thức phóng sinh trong tập "Trúc Song Tùy Bút", khuyên mọi người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích tôn trọng giới sát và tích cực phóng sinh.

Tục phóng sinh được phát khởi từ tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh. Phóng sinh cũng như ăn chay, chính là một phần của việc giữ giới không sát sinh, một trong năm giới cấm mà người Phật tử khi quy y Tam Bảo thường phát lên lời nguyện giữ gìn, không vi phạm.

Gần năm chục năm giáo hóa chúng sinh, đức Phật để lại rất nhiều lời dạy trong kinh tạng, nhưng tóm lại đều cô đọng trong mấy câu sau đây:
-- Không làm điều ác
-- Siêng làm việc thiện
-- Thanh tịnh hóa tâm
Không sát hại sinh vật, dù gián tiếp như ăn thịt động vật, hoặc trực tiếp như cầm dao giết con vật, là làm việc thiện một cách thụ động, nằm trong lời dạy thứ nhất “Không làm điều ác”
Phóng sinh cứu mạng sống, là làm việc thiện tích cực, nằm trong lời dạy thứ hai “Siêng làm việc thiện”

Đối với những người tu tập trên con đường Bồ Tát đạo thì ngoài những giới luật gọi là “chỉ trì”, là những giới “cấm không được làm”, còn phải giữ những giới gọi là “tác trì”, nghĩa là những giới “phải làm”, thí dụ nếu thấy có sự lâm nguy, đau khổ tới cho chúng sinh mà người tu theo Bồ Tát đạo lại khoanh tay đứng nhìn, không giúp kẻ khốn cùng, thì tức là đã phạm vào giới “tác trì”, tức là giới “phải làm”. Như thế theo tinh thần này, người Phật tử không những không sát hại sinh vật mà còn phải cứu sinh vật đang bị đe dọa đến tính mạng, đang bị giam giữ tù đầy trong lồng chậu, cứu cho chúng khỏi chết, nghĩa là giải thoát chúng, trả tự do cho chúng về với bầu trời sông nước, về với gia đình tổ ấm của chúng. Chính vì vậy, theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông, Giới Sát bao gồm cả việc phóng sinh.

Như vậy, phóng sinh là một việc làm rất tốt, rất đáng đươc ca ngợi. Tuy nhiên, nhà Phật có câu “tùy duyên, bất biến”. Bản chất của sự tu hành để tăng trưởng lòng từ bi là bất biến. Nhưng trong hành động thì cần tùy duyên, nghĩa là tùy trường hợp, tùy địa phương mà hành động, để vẫn có thể phù hợp với chân lý, đồng thời cũng hợp thời, hợp cảnh, kinh Phật gọi là khế lý và khế cơ.

Vào thời xa xưa, trong những dịp lễ có phóng sanh, các cụ mua cá cho bơi trong chậu nước hoặc mua cả dỏ cua đồng, loại cua nhỏ bằng ngón chân cái, đem lên chùa cúng rồi đem ra sông thả. Sau khi được thả, mấy con vật thường lặn ngay xuống nước.

Ngày nay thì khác. Chúng ta ở trong thành phố nên ít khi có được cá hoặc cua sống, cho nên chúng ta mua chim để thả. Những con chim bị bắt để bán cho người phóng sinh này thường phải chờ đợi một thời gian trước khi tới giờ phút được tháo cũi xổ lồng. Trong thời gian chờ đợi đó, chúng không được săn sóc chu đáo vì dường như không ai có bổn phận phải chăm lo cho mấy con chim trong lồng nằm chờ nơi góc sân kia được ăn uống no đủ.

Chúng tôi xin trình bày một trường hợp cụ thể về phóng sinh ngay tại một ngôi chùa ở quận Cam. Vì phải trải qua nhiều thời gian chờ đợi buổi lễ cầu an, cầu siêu nên chim đã chịu đói khát, lại phải chịu thân phận tù đày thêm cả buổi nữa ngay nơi chánh điện chùa. Cuối cùng, sau khi chấm dứt phần chót của lễ quy y cho chúng do vị ThượngToạ chủ lễ thì chim cũng được sổ lồng đấy, nhưng có một số đã quá yếu sức, lừ đừ, bay lên không nổi, chỉ là đà rồi rớt xuống, quờ quạng, tắt hơi.

Vậy thì chúng ta cần phải xét lại việc phóng sinh chim và thả cá. Chim bị bắt nhốt vào lồng, cá bị bắt thả trong chậu bán ngoài chợ là do người giăng lưới vây bắt vì nhu cầu tiêu thụ, để ăn hoặc để phóng sinh. Điều này có nghĩa là nếu không có nhu cầu mua chim cá thì chim cá sẽ không bị giăng lưới và nhốt vào lồng chậu. Qua sự kiện này chúng ta nhận thấy, vì muốn phóng sinh nhằm tạo phước mà người phóng sinh lại vô tình thúc đẩy những người khác giăng lưới bắt chim cá, đến nỗi tự họ lại mắc vào nghiệp sát sinh.

Ngoài ra, chim cá bán ngoài thị trường để cung ứng cho nhu cầu phóng sinh tại các đô thị thường là do người ta bắt ở các ao cá, vườn chim. Những sinh vật này có thể sẽ không thích ứng với hoàn cảnh mới. Hơn nữa, các giống chim, cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy. Cá sông không thể sống dưới biển và cá biển không thể sống dưới sông. Chỉ có những con chim bồ câu bị bắt để phóng sinh thì may ra ít khổ nhất, chúng chỉ bị tù túng mấy ngày, có thể là phải chịu đói khát, nhưng nếu sống sót cho đến lúc được phóng sinh mà còn đủ sức để bay thì cũng có nhiều cơ may có thể “trở về mái nhà xưa”, vì loài chim bồ câu vốn nhớ đường về, chúng sẽ có thể bay về với gia đình, sẽ được chủ nó cho ăn uống bồi bổ lại sau những ngày bị giam cầm tù tội và đói khát.

Trong tình hình như vậy, có nên phóng sinh hay không ? Chúng tôi nghĩ rằng điều này nên để quý vị tự định đoạt. Tuy nhiên, việc bắt, mua bán rồi thả, rồi bắt lại ..v..v..là không đúng với tinh thần phóng sinh. Phóng sinh chỉ có ý nghĩa khi chúng ta giải thoát được con vật trong hoàn cảnh ngẫu nhiên hay thả chúng sống trong một môi trường thích hợp, tạo cho chúng có cơ hội sống dài lâu hơn. Không nhất thiết phải mang chúng đến chùa mới phóng sinh được. Chỗ nào thích hợp thì thả chúng.

Thật ra việc phóng sinh ai cũng có thể làm, không nhất thiết phải có tiền (mua chim cá) mới thực hành được. Chỉ cần có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh, xem mọi loài chúng sinh đều bình đẳng, đều có quyền sống. Khi đi bộ trên đường thấy con giun đang giẫy giụa trước sức nóng mặt trời, chúng ta mang chúng vào nơi có đất ẩm, hay gặp con sên đang bò trên vỉa hè, chúng ta nhặt chúng đem vào bãi cỏ xanh mát. Hoặc là khi khởi tâm muốn phóng sinh, chúng ta rủ bạn bè, thân nhân, đi ăn một bữa cơm với rau đậu, như thế là chúng ta cũng đã có thể cứu dăm ba mạng tôm, cua, sò, cá, chim câu, vân vân, thế là cũng đã thực hiện hạnh phóng sinh rồi.

Theo quy luật nhân quả, mình có lòng muốn cho chúng sinh khỏi đau đớn, giải thoát chúng sinh, thì mình cũng sẽ được khỏi đau đớn, được giải thoát. Nhưng đó chỉ là kết quả tự nhiên của những hành động từ thiện, không phải mục tiêu của sự phóng sinh trong nhà Phật. Nhà Phật phóng sinh là vì lòng từ bi. Nói như thế không có nghĩa là hành động phóng sinh chỉ đem lại ít lợi ích. Thật ra việc phóng sinh đúng cách và với Tâm Vô Sở Cầu thì sẽ có kết quả vô cùng lớn lao, là vơi đi nghiệp sát đã vướng phải trong vô lượng kiếp.

Ban Biên Tập
*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-23-2006 , 09:13 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Nếu Phật đã dạy rằng, vạn vật từ Không mà có, vậy thì tại sao linh hồn sau khi chết lại không trở về Không, mà phải đi lang thang từ kiếp này sang kiếp khác? Và Nếu con người có linh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải thích vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo nên một người mới, con người mới này có xài chung một linh hồn với người donor hay không?

TRẢ LỜI:

Kính thưa quý vị,

Nếu nói rằng “vạn vật từ Không mà có” thì cũng không đúng với quan điểm của đạo Phật. Nhà Phật nói rằng: “Vạn pháp trong thế giới hiện tượng tương đối này đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi, cái này sanh thì cái kia sanh. Vì duyên với nhau mà sanh, cho nên khi “cái này diệt thì cái kia diệt", không có tự thể độc lập của riêng nó, mà sanh diệt tùy thuộc lẫn nhau, chỉ huyễn hiện liên tục, nên còn được phát biểu là : “Vạn pháp đương thể tức không, duyên hợp giả có”. “Có ”nhưng không phải là “thật có”, mà chỉ là “huyễn hiện”, nên gọi là “giả có”.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi dòng sinh mệnh đều từ Chân Tâm, vì một niệm vô minh bất giác khởi vọng mà lưu xuất, vốn là Chân Tâm (tịnh) chuyển thành Vọng Thức (nhiễm), -- nói gọn là Tâm và Thức – bắt đầu dòng sinh tử, rồi từ đó hành động tạo tác, gây nhân thọ quả thiện ác, hình thành nghiệp lực, bị nghiệp lực chi phối, cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử. Tâm mênh mông bằng hư không thì Thức cũng mênh mông bằng hư không. Có thể tạm dùng thí dụ cụ thể, dù không đúng hẳn nhưng sẽ giúp dễ hiểu, là ví Tâm với biển cả, Thức với bụi bậm rác rưởi lẫn trong nước biển. Biển rộng mênh mông tới đâu thì rác rưởi cũng trôi nổi tới đó. Chân Tâm là Bản Thể, thuộc bình diện tạm gọi là tuyệt đối. Thức chỉ là bình diện ô nhiễm của Tâm, còn gọi là thức tâm sinh diệt, thuộc về thế giới hiện tượng tương đối, huyễn hiện theo quy luật “duyên hợp giả có”, tính chất nó là vô thường.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi sinh vật đều do hai thành phần tạo nên, đó là phần tâm thức và phần vật chất, tức là cơ thể chúng sinh. Tâm và Vật duyên sanh trong đời sống. Tâm có thể ví như làn sóng điện và vật chất, thí dụ cơ thể con người, có thể ví như chiếc máy thu thanh.

Làn sóng dàn trải trên không gian, máy thu thanh vặn đúng tần số thì bắt được tín hiệu. Khi máy cũ, hư hỏng, không còn sử dụng được nữa, thì mua máy mới, lại tiếp tục vặn lên, bắt làn sóng điện, cũng giống như một sinh vật chấm dứt sự sống thì Thần Thức sẽ lại nhập vào một phôi thai khác để tiếp tục một đời sống mới, do nghiệp lực chi phối, tới tận khi nào tu hành cho tới cảnh mà đức Phật mô tả khi Ngài giác ngộ là:

"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đi tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gãy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục".

Cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm như tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, những hành động bất thiện, vân vân. Cây đòn dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh, căn nguyên xuất phát mọi dục vọng. Giác ngộ là phá vỡ được cây đòn dong vô minh bằng trí tuệ, là đã làm sập được căn nhà.

Nếu chưa giác ngộ mà vì một lý do nào đó, căn nhà đổ nát, có nghĩa là phần vật chất, tức cơ thể của sinh vật chết đi, Thần Thức sẽ bị cuốn hút bởi cận tử nghiệp, là chập tư tưởng cuối cùng, hội nhập nhân duyên quan hệ với cha mẹ tương lai mà đầu thai, bắt đầu một đời sống mới. Như thế, vì chịu sự chi phối của nghiệp báo, cho nên Thần Thức không thể tự do “trở về Không” được. Muốn “sinh tử tự tại” để có thể “tùy Nguyện mà thọ sanh” như các vị bồ tát đầu thai vào cõi nhân gian để hoàn thành nguyện ước cứu độ chúng sanh, thì bản thân con người phải tu hành cho tới “Tâm tịnh tội tiêu”. Tội đây chính là những điều mình đã tạo tác trong quá khứ, chính là nghiệp báo vậy.

Đạo Phật không cho rằng “có một linh hồn trường tồn bất biến đi trong cõi u minh hoặc đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác”, mà chỉ có cái “Thần Thức”, bị dòng nghiệp lực cuốn đi đầu thai vào cái lúc chấm dứt mỗi kiếp sống, hoặc sau khi chết một thời gian ngắn, khi nghiệp và duyên hội đủ điều kiện để đầu thai mà thôi.

Thưa quý thính giả,

Câu hỏi tiếp như sau:

- Nếu con người có linh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải thích vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo nên một người mới, con người mới này có xài chung một linh hồn với người donor hay không?

Kính thưa quý vị,

Như trên chúng tôi đã thưa rằng Phật giáo không chấp nhận sự kiện “có một linh hồn trường tồn bất biến” mà mỗi sinh vật đều đươc hình thành bởi hai nguyên tố là phần tâm thức và phần thể xác.

Giáo lý của nhà Phật dạy rằng các loài sinh vật có tới 4 cách sanh sản, đó là:

- Thai sanh, là sanh sản bằng bào thai, như người và một số loài vật
- Noãn sanh, là sanh sản bằng trứng, như gà, vịt, chim, ... vân vân.
- Thấp sanh, là sanh sản bằng sự ẩm ướt, như các loại côn trùng, mốc vân vân...
- Hóa sanh, như một số loài sâu, thí dụ con tằm hóa ra con nhộng, rồi hóa ra con ngài mà bay đi, vân vân. . .

Tất cả những loài này đều không có ai đem linh hồn phân phát cho mầm sống, mà chính là Thần Thức đã hội nhập ngay vào sinh vật để sử dụng cái cơ thể vật chất mới được hình thành. Cơ thể vật chất đó sẽ là công cụ để phần Thức sử dụng trong suốt cuộc đời, cho đến khi cái chết xảy đến, thì Thức sẽ từ bỏ cái công cụ để -- nay được gọi là Thần Thức -- gá vào một phôi thai nào đó vừa mới thành hình, tùy theo nghiệp lực của dòng sinh tử và nhân duyên từ quá khứ đối với cặp cha mẹ đưa đẩy.

Giáo lý nhà Phật không nói đến chuyện cloning, vì vào thời đức Phật còn tại thế thì chuyện này chưa xảy ra. Nhưng chiếu theo pháp Tứ Y mà đức Phật đã dạy, có câu “Y nghĩa, bất y ngữ”, chúng ta có thể nương theo sự hiểu biết về Phật pháp mà suy luận. Như vậy, để trả lời câu hỏi của vị thính giả này, chúng tôi có thể thưa như sau:

- Theo quan điểm của nhà Phật thì cloning thuộc về nhóm “thấp sanh”, vì phôi thai không được hình thành qua sự gần gũi của cha mẹ như là người bình thường thuộc dạng thai sanh. Sự sống của phôi thai là nhờ ở khoa học kỹ thuật, kết hợp hài hòa những điều kiện về ấm áp và ẩm ướt, cùng với sự kích thích khiến cho phôi thai phát triển, tương tự cách sinh trưởng của các nhóm côn trùng, mốc meo, vân…vân.

Cũng như ba loại sinh khác, phôi thai do cloning này cũng có Thần Thức của một dòng sinh mạng, thí dụ từ một sinh vật mới chết, nhập vào. Kể từ giây phút đó, Thần Thức là phần tâm linh của sinh vật mới được cloning này. Tất cả mọi hành vi tạo tác sau này của sinh vật đó, về mặt tâm thức, đều không liên quan gì tới người donor. Không có chuyện “xài chung một linh hồn với người dono”
Tóm lại, chúng tôi vừa mới trình bày vấn đề thành tố của một sinh vật, đứng trên lập trường thuần lý, chiếu theo quan điểm của nhà Phật, gồm có hai phần : phần vật chất là thể xác và phần phi vật chất là tâm linh. Như vậy một sinh vật do cloning cũng sẽ sinh hoạt như một người bình thường, có phần vật chất và phần tâm linh riêng biệt, như bất cứ một người bình thường nào, cũng có tâm hồn, có sự suy tư riêng biệt.

Tuy nhiên, mục tiêu của đạo Phật là diệt khổ, nên trước mỗi vấn đề, người Phật tử đều cân nhắc kỹ càng, để tránh tạo nên nỗi đau khổ cho chúng sinh.

Trước mắt, chúng ta thấy một người được sanh ra từ cloning dường như không có gì khác với người thường. Nhưng vì bản thân sự kiện cloning nó đã có những sự khác thường đối với đồng loại sinh trưởng bình thường, cho nên chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn đề tâm sinh lý và môi trường xã hội đối với sinh vật ra đời một cách khác thường là cloning, liệu sau này có vì thế mà sinh ra điều gì đáng tiếc cho kiếp người do cloning chăng.

Trong quá trình cloning, người ta lấy một nhân tố di truyền từ một tế bào của donor đem đặt vào một trứng đã được rút nhân tố di truyền ra. Nếu là sinh sản theo thường lệ thì sự kết hợp của hai nhân tố này trong cái trứng của người đàn bà sẽ quyết định sự giống hay khác nhau về hình thể của đứa bé đối với cả cha và mẹ hoặc dòng họ của bên nội và bên ngoại, theo di truyền. Nhưng khi cloning, nhân tố di truyền của người mẹ trong cái trứng đã được lấy ra, chỉ có độc nhất một nhân tố của donor được đặt vào trong trứng, nên phôi thai chỉ tăng trưởng từ một nhân tố di truyền gốc, vì thế sau này cơ thể vật chất của nó sẽ giống y hệt người donor.

Cơ thể trông thì giống hệt, nhưng sự hình thành đã không bình thường, chúng ta cũng chưa có đủ thời gian và dữ kiện để chứng minh rằng cơ thể đó sẽ phát triển bình thường. Trong khoảng thời gian gần một trăm năm của đời người, chưa thể biết sẽ có những biến chuyển nào xẩy tới cho kẻ ra đời do cloning. Đấy là nói riêng về vấn đề cơ thể vật chất.

Về mặt tinh thần, tuy con người đó có một Thần Thức mang theo nghiệp lực gá vào cơ thể để hoạt động, thì nghiệp quá khứ là của dòng nghiệp đó, nhưng do sự ra đời bất thường, những va chạm trong đời sống do mặc cảm về sự bất thường này có thể xảy ra, sẽ gây nên đau khổ cho người đó và nếu như vì mặc cảm quá sâu sắc, hắn có thể gây nên những nhân ác mới, như những người vốn mang mặc cảm đã gây nên nhiều tội ác trong lịch sử của nhân loại, thí dụ Hitler, vân vân. Từ những điều ác mới gây ra do mặc cảm vì sự ra đời bất thường, dòng nghiệp lực của hắn sẽ trở thành xấu đi. Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng là một điều đáng tiếc.

Ngoài ra, theo nhận xét của những nhà xã hội học, trẻ em mồ côi, hoặc xuất thân từ những gia đình đổ vỡ, thường dễ nảy sinh mặc cảm cô đơn. Từ mặc cảm, các em có thể phát sinh những phản ứng tiêu cực, dù trên thực tế, mọi người chung quanh đối xử với các em rất bình thường. Qua suy nghĩ đó, chúng ta có thể dự đoán về đời sống tinh thần của một em bé cloning trong lòng xã hội. Thí dụ có một chuyện xảy ra trong lớp học, một em bé bình thường có thể phát biểu một câu bất thường, cả lớp không thấy có gì lạ, chỉ cho là em bé đó đang có chuyện gì không vui nên phản ứng thế chăng. Nhưng nếu là một em bé cloning, thì mọi người có thể phát sinh ngay một dấu hỏi trong đầu: “Liệu có phải vì nó là đứa bé cloning nên mới sinh ra chuyện này chăng?”. Lại có thể không ai nghĩ gì, nhưng chỉ tình cờ thôi, một tia nhìn lơ đãng của bạn trong lớp cũng có thể khiến cho em bé cloning vốn đã có mặc cảm, phát sinh ra những tư tưởng tiêu cực.

Chuyện kỳ thị chủng tộc, mầu da, vân vân, đã xảy ra và vì thế đã bùng nổ những cuộc đấu tranh dữ dội, đó là vì nạn nhân là một đám đông. Nhưng các em bé từ cloning mà bị kỳ thị, hoặc có cảm giác bị kỳ thị, thì nỗi đau khổ và phản ứng chống đối trong cô đơn sẽ có thể là rất tệ hại và đáng thương biết mấy. Những điều này khi xảy ra sẽ thành nghiệp nhân mới tạo trong kiếp này của dòng sinh mệnh, chứ không phải là nghiệp nhân mà Thần Thức khi gá vào sinh vật cloning đã mang theo từ kiếp trước. Như thế là chúng ta đã góp phần tạo nên nỗi thống khổ cho chúng sinh.

Cloning con người là một vấn đề quá mới mẻ nên chúng ta cũng chưa biết rằng khi các em bé đó lớn lên, những vấn đề khác về cơ thể có diễn tiến bình thường như một người do thai sanh không. Nếu thí dụ qua một vài thế hệ cloning, cơ thể con người vì đã được cấu tạo một cách bất thường, có thể thiếu hoặc dư chất gì đó, mà biến đổi như những trái cây được tháp giống, tuy trông vẫn giống trái nguyên thủy, nhưng hình thể to lớn bội phần. Côn trùng là loài thấp sinh vẫn bình thường sinh trưởng từ thời cổ đại là vì chúng “thấp sanh” một cách thiên nhiên. Cloning là thấp sanh nhân tạo, sự kiện khác nhau này có nảy sinh vấn đề gì gây nên tai hại là điều các nhà khoa học chưa thể bảo đảm một cách chắc chắn.

Vấn đề hiện nay đang làm nhức nhối lương tâm của loài người là nạn nghèo khổ, thất học, thiếu ăn, thiếu nước, chiến tranh, vân vân, và nhất là nạn nhân mãn, phá thai, tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là tại Phi Châu. Nếu thay vì nghiên cứu để sinh sản ra người do cloning, hãy dùng khả năng khoa học để nghiên cứu phương cách giải quyết những vấn nạn kể trên, khiến cho toàn thể nhân loại đều được sống một cuộc đời đáng sống, có lẽ còn là việc cấp thiết hơn nhiều.

Chúng tôi xin trích một mẩu tin của đài BBC trong tháng 9 năm 2005:

“Ngồi trong trung tâm nhận đồ ăn của Mauritania, Phi Châu, em bé Mohamed Nour’s - một tuổi – có cái bụng chướng to nhưng không phải là vì chứa thức ăn và xương khớp cổ tay của em thì nhô ra coi còn lớn hơn cả cánh tay em nữa. Ấy vậy mà mẹ em vẫn quả quyết một cách hãnh diện:

- Tôi vẫn cho cháu ăn uống đầy đủ, tôi ăn gì thì nó ăn nấy, mỗi ngày một lần. Mới hôm qua chúng tôi đã ăn cháo yến mạch, còn ngày hôm trước và kể cả 3 ngày hôm trước nữa thì chúng tôi ăn cháo bột mì.

Em bé Mohamed Nour’s này cũng chưa phải là những người dân khốn khổ ở khu vực Đông Nam của Mauritania, phần đất đã lãnh nhận trận mất mùa thê thảm, giết chết hàng ngàn người ở Niger.

Suy dinh dưỡng triền miên là vấn đề lớn nhất ở những vùng như địa phương này. Nó không thuộc loại đói đến chết lăn ngay ra, nhưng nó ẩn tàng trong những bữa ăn thiếu thốn. Các cháu thiếu hầu như tất cả các loại sinh tố và khoáng chất cần thiết để một đứa trẻ có thể tăng trưởng cơ thể và tinh thần một cách bình thường. Tỷ lệ tử vong của nạn suy dinh dưỡng triền miên là cứ 1000 em thì có 109 em bị chết trong tuổi ấu niên, trong khi ở Tây Ban Nha, trong số 1000 em, chỉ có 3 em chết non.

Các bà mẹ không nhìn thấy sự nguy hiểm đang rình rập các cháu bé suy dinh dưỡng, vì sự nguy hiểm cứ lùi lũi tiến đến một cách yên lặng. Dù có thấy con mình gầy rạc, nhưng nó không ốm lăn ra, thế là họ yên chí rằng chúng khỏe mạnh rồi. Nhưng thật ra thì đứa bé đang mất dần sức sống và từ từ lăn xuống huyệt mộ.

Thưa quý thính giả,

Trong một thế giới mà sự ngu dốt, nghèo khổ, đói khát còn tràn ngập, có lẽ Phật tử chúng ta cũng thấy cần dành thì giờ, tiền bạc và những bộ óc thông minh để tìm cách cải tiến về nhiều mặt khác, ngõ hầu làm giảm bớt nghèo khổ, tăng trưởng mức sống thì như thế có lẽ lại phục vụ hữu hiệu cho loài người hơn là chuyện cloning.

Ban Biên Tập TVHS

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 08-24-2006 , 11:42 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
03 Xin cho biết quan niệm của đức Phật với nữ giới như thế nào? Vì trong kinh sách chúng tôi vẫn chưa tìm ra được chỗ nào nói rõ về vấn đề này.

TRẢ LỜI CỦA BAN TƯ VẤN TẠP CHÍ GIÁC NGỘ:

Đức Phật nhiều lần cố tình tránh né phụ nữ vì không ít lần họ đã khuấy nhiễu, cản trở việc hoằng hóa. Chuyện nàng Sundarì bị một số ngoại đạo thúc giục đóng vai một tín nữ ngưỡng mộ, hoặc Cincà giả vờ mang thai để hạuy tín của Ngài trước chúng hội, hoặc những phiền phức xảy ra của một số phụ nữ trong gia tộc Thích Ca, rồi chuyện của bà vương phi Yasodhara và bà dưỡng mẫu Mahàpajàpati khóc lóc than thở xin được thành lập giáo hội Tỳ Kheo ni… và nhiều chuyện động trời khác nữa. Đầy dẫy trong kinh tạng những lời phán xét của đức Phật về tính gian xảo, ích kỷ, che dấu, môi mép, mưu mẹo, không trung thành… của đàn bà. Thế nhưng họ có sức quyến rũ lạ thường đối với đàn ông, dù đó là bậc hiền triết cũng khó mà kiềm chế không cho dục vọng sinh khởi.

“ Này các Tỳ Kheo, ta không thấy một hình sắc nào làm say đắm tâm trí của đàn ông như hình sắc của đàn bà. Ta không thấy một âm thanh, mùi hương, vị, xúc nào làm say đắm tâm trí đàn ông như âm thanh, mùi hương, vị, xúc của đàn bà ( Tăng Chi Bộ).

Người đời cũng chua chát than vãn: “ Dùng lửa để thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông” quả thật không sai tí nào. Nhưng với một Thầy Tỳ Kheo chưa phá trừ kiết sử làm thế nào để chế ngự đây? Năm thứ 13 sau khi Phật thành đạo, chính phụ nữ là đối tượng để các thầy Tỳ Kheo đầu tiên phá hạnh thanh tịnh và Phật phải chế giới. Những “ sương phụ” Tỳ Kheo đã ruồng bắt những đức ông chồng trốn đi xuất gia bằng những trò tinh ma quỷ quyệt. Những thiếu nữ đa tình thuộc cấp thấp đã chết mê chết mệt trước những vị xuất gia trẻ đẹp, đạo hạnh ôm bình bát lang thang một mình. Giới luật vì thế ngày mỗi khắc khe, đức Phật cẩn thận khuyên các thầy Tỳ Kheo trẻ phải tâm niệm như đang gánh bó rơm khô trên vai mà phụ nữ là hầm lửa đang cháy phừng phựt, không được khinh suất lại gần. Phải tránh xa họ ra, đừng vì chút lợi dưỡng mà để họ phá sạch Thất Thánh tài thì coi như con đường giải thoát vô phần. Thầy A Nan cũng là một nan nhân của những phụ nữ ướt át tình cảm. Chuyện nàng Ma Đăng Già đã làm cho thầy quá khiếp đảm và luôn ở thế phòng ngự. Lúc Phật sắp nhập diệt, thầy A Nan đã đề cập đến vấn đề này với niềm thao thức cho các vị xuất gia sau này khi phải tiếp xúc với phụ nữ.

“ Này A Nan, không nên nhìn họ.
- Song nếu chúng con phải đối diện thì làm thế nào?
- Đừng bắt chuyện với họ.
- Nhưng nếu họ nói chuyện với chúng con thì sao?
- Chỉ nên nói vài lời và luôn tỉnh thức để phòng hộ tâm ý.

Nếu chỉ vì thế mà chúng ta kết luận rằng đức Phật ghét phụ nữ là sai lầm.

Ngay cả phương diện đạo đức của họ đức Phật cũng chưa bao giờ khẳng định là yếu kém tuyệt đối. Đại vương Pasenadi thất vọng vì hoàng hậu Mallikà đã sinh ra một công chúa thay vì một hoàng tử như hằng mong ước. Đức Phật an ủi bằng cách nói rằng một người nữ nếu thông minh và đức hạnh, biết tôn kính cha mẹ, trung thành tận tụy với chồng thì còn đáng quý hơn một nam nhi. Ngài còn khen ngợi gia chủ Nakulapità ở vùng Sumsumàragiri có được người vợ hiền như bà mẹ Nakula, khi ông lâm chung vì trọng bệnh, bà đã hứa với ông rằng bà sẽ nuôi nấng gia đình, giáo dục các con và sống hợp với đạo đức. Rồi đức Phật hết lời khen ngợi bà phu nhân Visakha đã bao dung không quở trách đứa nô tỳ bỏ quên chiếc áo choàng bạch điệp trong tinh xávà còn cảm ơn cô ấy đã giúp bà có cơ hội phát tâm cúng dường cho chư Tăng. Chính đức Phật công nhận Cù Đáp Ma Gầy là một vị Ni trì giới đệ nhất, đã từng dũng cảm vượt qua những cơn tai biến khủng khiếp trong đời: con đứa bị sói tha đứa bị nước cuốn, chồng thì bị rắn cắn, cha mẹ thì chết trong hỏa hoạn….

Đức Phật đã công khai xác nhận phụ nữ có khả năng chứng Niết Bàn, và thực chất thì khắp trong kinh tạng nói đến vô số các vị Tỳ Kheo ni và nữ đệ tử tại gia dự vào các quả vị Thánh. Dù hiện kiếp quả vị Vô thượng Bồ Đề không có phần của họ, nhưng không ít vị Ni vừa xuất gia tu tập đã nhanh chóng tiến đến quả vị cao nhất của bậc Thánh, A La Hán, bỏ xa nhiều thầy Tỳ Kheo công phu lâu năm.

Trong kinh tạng Palì, tất cả những câu chuyện kể những cuộc hội kiến giữa đức Phật và phụ nữ đều chứng tỏ Ngài xem họ bình đẳng với nam giới. Sự kiện một số nữ nhân ác hạnh hay tranh cãi và một số nữ nhân đã lôi cuốn các thầy Tỳ Kheo ra khỏi chánh đạo, vẫn không cản trở Ngài công nhận rằng: “ Nữ giới có khả năng đạt kiến thức cao và nhiều nữ nhân còn vượt hẳn nam nhi về lòng nhân từ và tận tụy hy sinh”. Ngài cũng biết rằng thông thường chính phụ nữ quyết định bầu không khí mộ đạo trong gia đình và dạy bảo con cháu các nguyên tắc đạo đức. Thực tế cho thấy có nhiều phụ nữ trong số người hộ trì Phật Pháp phần lớn là do đức Phật đã công nhận nữ giới có ý thức trách nhiệm và đầy đủ khả năng giải thoát mà các ngoại đạo sư đương thời kịch liệt phản đối.

Vì lý do này, nữ giới rất xúc động và bày tỏ niềm tri ân sâu sắc đối với đức Phật.

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 09-21-2006 , 09:48 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Thế Nào Là Bồ Ðề Tâm,
Phát Bồ Ðề Tâm và Ðại Bi Tâm

(Trả Lời Câu Hỏi Của Ðạo Hữu Từ Hỷ (San Jose)

Bồ Ðề Tâm là tâm hoàn toàn giác ngộ. Nói giác ngộ, chính là giác ngộ cái tánh chân thật, vốn thanh tịnh, sáng suốt, không phiền não của chính bản thân mình. Phát Bồ Ðề Tâm là sự lập chí nguyện để giác ngộ lại bản tánh chân thật đó.

Phát Bồ đề Tâm bao hàm hai tính chất mà thành ngữ Phật học thường hay nói là "Thượng Cầu Phật Ðạo, Hạ Hóa Chúng Sinh", tức là phát thệ nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Theo ngài Thật Hiền trong bài văn Khuyến Phát Bồ Ðề Tâm thì tâm nguyện vốn có nhiều nhưng vắn tắt có ba điều căn bản là:

Thứ Nhất: Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát sinh tử, vì chứng Bồ đề. Ngước lên mà mong cầu Phật đạo, nhìn xuống mà hóa độ chúng sinh, nghe Phật đạo lâu xa cũng không thoái chí khiếp sợ, xét chúng sinh khó độ mà không chán nản mệt mỏi.

Thứ Hai: Chúng sinh giới hết, nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành, nguyện ta mới thành.

Thứ Ba: Biết tự tánh là chúng sinh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện thành tựu, không thấy một pháp nào ngoài tâm mà có, đem cái tâm vô tướng, phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy có, thấy được.

Việc phát tâm nguyện chưa đủ, người Phát Bồ Ðề Tâm còn phải nỗ lực thực hành Bồ Ðề Tâm Hạnh, nghĩa là mỗi lời nói, mỗi hành động và mỗi ý niệm đều phải hướng về chúng sinh, vì lợi ích và an nguy của chúng sinh, để mà giữ giới (không làm điều ác), tích cực cứu giúp chúng sinh (chuyên làm điều lành) và thanh lọc tâm ý, để từng bước tiến dần đến quả Phật. Ðạo Phật quan niệm rằng sát sinh, tức là giết hại chúng sinh hữu tình, là ác nhất. Cho nên giới cấm đầu tiên của đạo Phật là "Cấm Sát Sanh", dù trực tiếp hay gián tiếp. Phát Bồ Ðề Tâm, tức là đã phát nguyện cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ, đem đến cho họ niềm an vui hạnh phúc, ngay như một con kiến chúng ta cũng không nỡ giết lẽ nào chúng ta cắt, xẻ, bằm, xay, nướng, luộc, và quay chúng sinh, gà vịt, heo, bò, tôm, cua, cá trong lửa nóng, nước sôi.

Ðã Phát Bồ Ðề Tâm, chúng ta phải luôn luôn nhớ lời Phật dạy rằng, tất cả các chúng sinh hữu tình đều luôn luôn trải qua những vòng luân hồi, qua nhiều dạng thể khác nhau, nên (người đã phát Bồ Ðề Tâm) xem mọi chúng sinh như đứa con độc nhất của mình, không thể mê đắm trong việc ăn thịt. Ðã Phát Bồ Ðề Tâm, chúng ta phải biết rằng, thể tính của Bồ tát đạo là lòng đại từ bi, vì nếu không có nó thì không phải là Bồ tát. Do đó, những ai xem những người khác như chính mình và có tâm từ bi làm lợi ích cho người khác như cho chính mình, thì người ấy không thể làm đau và không thể ăn thịt chúng sinh.

Sự khác biệt giữa Phát Bồ Ðề Tâm và hành Bồ Ðề Tâm Hạnh, có thể ví như một người muốn đi và một người đang đi. Phát Bồ Ðề Tâm chỉ là bước đầu, là bước căn bản thiết yếu cần có. Tuy nhiên nó (Phát Bồ Ðề Tâm) thuộc phạm trù tâm, nên tự nó đã nảy mầm gieo giống tốt lành. Khi một ý niệm lành khởi lên trong tâm muốn cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ đau, mấm mồng nhân hạt và công đức của người này vẫn tiếp tục mãi mãi tăng trưởng. Lẽ dĩ nhiên thực hành Bồ Ðề Tâm Hạnh mới là điều quan trọng vì là nguồn gốc của tất cả công đức.

Bồ Ðề Tâm là tâm giác ngộ giải thoát còn Ðại Bi Tâm là lòng thương xót lớn lao đối với nỗi đau khổ của chúng sinh. Hai đức hạnh lớn của người Phát Tâm Bồ Ðề là Trí và Bi. Trên thì rèn luyện trí tuệ để cầu sự giác ngộ, dưới thì mở rộng lòng từ bi để cứu độc chúng sinh.

Ban Biên Tập TVHS

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 09-22-2006 , 08:03 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Nghĩa Thâm Diệu Của Từ "Phật" Qua Cách Dịch Của Ngài Huyền Trang

Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của chữ "Phật". (Thư hỏi của đạo hữu Giác Tâm Nguyễn Văn Hoa)

Ðáp: Từ Phật là một từ mới trong số 24.000 từ mà ngài Huyền Trang đã tạo ra cho ngôn ngữ Phật Giáo Trung Hoa từ cuối thế kỷ thứ 6 từ Phạn ngữ Buddhã ra là "Phật Ðà', viết tắt là "Phật", hai nhà ngôn ngữ học Trung Hoa ở Thượng Hải dựa theo phương pháp Tây dịch phiên âm Buddhã ra "Bột Ðà" mà theo âm ngữ Tây phương thì Bột Ðà nghe na ná như Buddhã vì cùng có âm B và Bột Ðà có vè tân tiến hơn là Phật Ðà.

Ðối với người Việt chúng ta ngày nay, ngoại trừ lớp cao niên còn quen thuộc với chữ Hán, nhiều người nhất là lớp trẻ đã đọc và viết theo vần La Tinh không biết chữ Phật viết theo lối chữ Hán như thế nào. Từ Phật, theo cách viết chữ Hán, gồm có hai vế: bên trái là bộ "Nhân", bên phải là chữ "Phất".

Dùng pháp chiết tự để dẫn giải, bộ Nhân ở bên trái có nghĩa là "Người".

Chữ Phất ở vế thứ hai, có nghĩa là "Không", là chẳng được; theo thuật ngữ Phật giáo đó là Tánh Không.

Ghép cả hai vế lại với nhau, Phật nghĩa là Người Ngộ Tánh Không.

Diễn giải một cách toàn diện hơn bao gồm cả hai vế, khi nhìn thấy danh từ "Phật", nó nhắc nhở người Phật tử, hay những ai biết chữ Hán, những điều nhận thức rất căn cốt và thâm diệu sau đây:

- Phật là một con người như tất cả mọi người.

- Vì cũng là con người cho nên Phật với chúng ta đều bình đẳng.

- Phật không phải là Tiên, Thánh hay Thần và nhất thiết không phải là một Thượng Ðế "Toàn Năng" như của bất kỳ tôn giáo độc thần nào có quyền ban ơn giáng họa mà người ta gán cho Thượng Ðế này.

- Mỗi người và mọi người đều có khả năng thành Phật, chứ Phật chẳng dành riêng cho ai.

- Muốn thành Phật thì phải tu hành và ngộ được Tánh Không, chưa ngộ Tánh Không thì chưa thành Phật.

- Tánh Không phải tu hành mới đạt được chứ không thể cầu xin hay do ai ban cho.

- Tánh Không là Phật Tánh.

Ðến đây quý độc giả có thể đã hết sức khâm phục ngài Huyền Trang vì sự uyên thâm Phật pháp, tính sáng tạo và sự liễu đạo của ngài, vì chỉ trong một từ với hai vế đơn giản ngài đã dạy cho chúng ta không biết bao nhiêu điều bổ ích, hiểu một cách sâu sắc về đạo Phật và không thể hiểu lầm đạo Phật với các tôn giáo khác.

Ban Biên Tập TVHS

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 09-24-2006 , 11:00 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
PHÁP DANH BẮT ĐẦU BẰNG HỌ THÍCH CÓ Ở VIỆT NAM TỪ BAO GIỜ?

Kính thưa quí vị

Chúng tôi là một nhóm email thường trao đổi nhau về những kinh sách và lời Phật dạy. Hầu hết anh chị em trong nhóm đều là Phật tử\. Chúng tôi có cái thắc ma('c mà không ai giải đáp được, đó là Pháp danh bắt đầu bằng họ của Đức Thế Tôn như HT Thích Thanh Từ, TS Thích Nhất Hạnh, HT Thích Minh Châu\... có ở Viết Nam từ hồi thế kỷ nàọ?

Thí dụ vua Trần Nhân Tôn khi quí y thì được gọi là Điều Ngự Giác Hoàng và tự xưng là Trúc Lâm Đầu Đà.. Vậy thì vào lúc đ1o đã có pháp danh Thích \... hay chưả

Kính mong Ông từ bi giải đáp giùm cho anh chị em chúng tôi đuợc học hỏi và không còn cải nhau nửạ

Kinh tho

HCD



--------------------------------------------------------------------------------

From: LeCongDa@a...
Date: Thu, 1 May 2003 03:30:53 EDT
Subject: Re: [vn-buddhism] Xin giải đáp giùm
To: vn-buđhism@yahoogroups.com
CC: tamdieu@yahoọcom


KG DH HCD
Thưa Qúy DH;

Thấy một thắc mắc của DH vừa nêu lên, xin được gởi đến một vài chia xẻ:

Như DH biê't, Phật Giáo Việt Nam theo truyền thống Bắc tông, chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi PG Trung quốc, thế nên việc lấy họ Thích làm pháp danh cũng là do PG Trung quốc truyền sang.

Người đầu tiên trong lịch sử PG Trung Quốc sử dụng pháp danh họ Thích là ngài Ðạo An (312-385), một danh tăng lỗi lạc thời Ðông Tấn. Trung Quốc sau thời Tam Quốc thì xảy ra loạn lạc, các dân tộc thiểu số ở phương Bắc (Trung Hoa gọi là Hung Nô hay rợ Hồ) tràn vào chiếm cứ phương Bắc, chia ra làm 16 nước đánh lẫn nhaụ Ngài Ðạo An là đại đệ tử của ngài Trúc Phật Ðồ Trừng, một vị đại tăng người Ấn Ðộ vào Trung Quốc truyền giáo, do tình trạng chiến tranh đã phải rời bỏ quê hương Hà Bắc (nhà Hậu Triệu) dẫn đồ chúng khoảng 500 người chạy về thành Tương Dương lánh nạn và tu tập tại đâỵ Vào thời điểm này thì PG đã phát triển mạnh mẽ tại Trung Quốc, các vua chúa Trung Quốc nói chung đều rất sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là vua Phù Kiên (nhà Tiền Tần) hùng mạnh nhất trong số 16 nước này vì hâm mộ danh tiếng của Ngài, đã đích thân mang 100 ngàn quân đánh chiếm thành Tương Dương để cung thỉnh Ngài về làm quốc sự

Suốt đời Ngài chỉ lo hoằng dương chánh pháp, đệ tử theo học có đến hàng ngàn người, đều đuợc Ngài ban cho pháp danh mở đầu bằng họ Thích, vì tự xem mình như là những trưởng tử của Như Lai (Thích tử), nên Ngài cũng có tên là Thích Ðạo An. Trước Ngài, pháp danh của các Tăng sĩ đều lấy tên quốc gia hay tên của thầy mình để làm họ, ví dụ như sư phụ của Ngài là Trúc Phật Ðồ Trừng (người nước Thiên Trúc) hay Chi Lương Khương (người nước Nhục Chi). Ban đầu pháp danh của Ngài lấy theo họ của Thầy là Trúc Ðạo An, sau này mới đổi lại là Thích Ðạo An. Nhắc đến Ngài Ðạo An ta cũng nên biết rằng Ngài đã đào tạo nên những môn đệ rất lừng danh, trong đó có Ngài Tuệ Viễn (hay còn gọi là Huệ Viễn), được coi như là sơ tổ của pháp môn Tịnh Ðộ Tông tại Trung Quốc.

Không có một sử liệu nào nó rõ tăng sĩ VN dùng pháp danh họ Thích từ lúc nào, nhưng có thể là từ lúc phái Lâm Tế được truyền vào VN vì căn cứ vào các bản văn cổ của thời Lê còn lưu lại (bài tựa Thiền Uyển Tập Anh, Thiền Tông Bản Hạnh), các tăng sĩ tác giả (phái Lâm Tế) đều ký tên là Thích tử.

Hy vọng đã giải đáp được phần nào thắc mắc của DH.

Tâm Hà Lê Công Ða

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 09-26-2006 , 04:59 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Công Ðức Và Phước Ðức

Kính thưa anh chị,

Chúng em thỉnh thoảng có dịp trực tiếp thường nghe quý Thầy khen thưởng Phật tử khi có dịp cúng dường Tam Bảo hay giúp đở bạn đạo nghèo khổ. Có lúc dùng danh từ Công đức, có lúc dùng danh từ Phước đức. Vậy công đức và phước đức khác nhau như thế nào ? tuy 2 từ khác nhau nhưng dụng theo nghĩa Ðạo thì chỉ có một ? Chúng em còn nhớ anh chị trả lời qua thư về '' thực hành Bồ Ðề Tâm Hạnh'' đây là căn bản thiết yếu, là nguồn gốc của Công Ðức. ! Còn nguồn gốc cuả phước đức ? Theo như chúng em học và hiểu thì '' công đức tức là khi ta bố thí hay cúng dường Tam Bảo mà Tâm thức không khởi động niệm ưa thích, tự mản, tự đắc ( theo ý thích tư tưởng phàm ngả tình cảm ) . Tức Tâm vô trụ, vô chấp, vô ngả khi tâm thức duyên theo pháp cảnh và biết cách sử dụng Tâm hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều đồng thành Phật Ðạo " [ Trí Ðạo ] Còn ngược lại Tâm trụ chấp theo Ngả Thức Phàm phu ( chúng sanh tánh ) tức làm phước thiện mà còn dính ái nhiểm theo pháp thì gọi là phước đức. [ Thiện Ðạo ] Nếu chúng em hiểu sai kính mong quý anh chị điều chỉnh và giải đáp một cách thoả đáng.

Công đức và phước đức ảnh hưởng theo nghiệp báo như thế nào ?.

Kính mong anh chị tận lực giải đáp chỉ bầy cho chúng em được hiểu tường. Chân thành cám ơn anh chị .

Kính thư,
Chúng em

Thưa đạo hữu,
Phúc Ðức, người miền Nam gọi là Phước Ðức có nghĩa là làm những điều thiện, điều lành để giúp đỡ người khác và đem lại phúc lành về sau cho bản thân mình. Theo luật Nhân Quả thì có nhân phúc đức và quả phúc đức. Nhân phúc đức là những việc làm thiện, từ ý nghĩ đến lời nói và hành động, còn quả phúc đức, là kết quả do nhân phúc đức, hưởng được sự sung sướng an lạc. Còn Công Ðức, theo tự điển Phật học Việt Nam giải thích thì đồng nghĩa với Phước Ðức, Công Ðức là công việc Phước Ðức. Tuy nhiên theo chúng tôi nghĩ, Công Ðức có nghĩa là công phu tu hành, tức là nỗ lực chuyên cần tu tập, thí dụ như nỗ lực tham thiền, tụng kinh, niệm Phật hay trì chú với mục đích thanh tịnh tâm, gạn lọc tâm ô nhiễm do bởi tham, sân, si, vọng tưởng phiền não điên đảo. Lẽ dĩ nhiên, nhân Công Ðức này là nhân giống Bồ Ðề, là nhân vô lậu hay còn gọi là nhân vô vi thì chắc chắn sẽ ra quả vô vi, quả vô lậu, tức đạt quả vị Vô Thượng Bồ đề. Còn nhân Phúc Ðức, là nhân hữu lậu như làm lành thì sẽ gặt quả lành, bố thí nhiều tiền của kiếp này thì kiếp sau sẽ giầu sang phú quý... vân..vân...

Ngày xưa, vua Lương Vũ Ðế bên Trung Hoa hỏi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma rằng: "- Trẫm từ khi lên ngôi vua đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy trẫm có công đức gì không? Tổ Bồ Ðế Ðạt Ma trả lời: "-Ðều không có công đức". Vua hỏi tiếp: "-Tại sao lại không có công đức". Tổ đáp: "-Bởi vì những việc vua làm đều là nhân "hữu lậu" (nhân phiền não, nhân sinh tử luân hồi) nên chỉ có những quả nhỏ hữu lậu trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có, nhưng không phải là thật." Vua lại hỏi tiếp: "- Vậy công đức chân thật là gì?" Tổ đáp: "- Tâm phải được thanh tịnh hoàn toàn, thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới được gọi là công đức và công đức này không thể lấy việc thế gian như xây chùa, chép kinh, độ tăng mà cầu được."

Hy vọng lời giải đáp trên cùng với lời dạy của Tổ Bồ đề Ðạt ma sẽ giúp đạo hữu hiểu ràng thế nào là công đức. Hãy làm tất cả các việc phúc đức đồng thời nỗ lực tu tập thanh tịnh hóa thân tâm. Ðó là lời khuyên của chúng tôi. Cầu chúc đạo hữu thân tâm thường an lạc và đạt được Trí Vô Thượng Bồ Ðề.


Tâm Diệu
Ban Biên Tập

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-03-2006 , 01:10 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
XIN CHỈ CHỖ TU


Kính chào các đạo hữu,

Tôi đọc các bài trong đây đã lâu, nhưng hôm nay tôi mới đăng ký vì tôi có câu hỏi cần nhờ các đạo hữu giúp. Tôi năm nay đã trên năm chục tuổi, có đọc một số sách Phật giáo, thiền, thí dụ sách của thầy Thanh Từ, thầy Nhất Hạnh, NgàI Đạt Lai Lạt Ma và mấy cuốn của các sư Tây Tạng, sách của vài sư Mỹ, cả thiền ông Tám (tôi đọc cho biết, không theo ông này). TôI cũng có đọc một ít sách lý thuyềt khác nữa, cũng về đạo Phật. Tôi cũng hiểu chút ít về chân tâm, bản thể, ngộ v.v...

Vấn đề của tôi là tôi rất muốn tu để thoát ly vòng sinh tử, vì tôi biết rằng đọc sách xuông thì không đi tới đâu. Nhưng tôi không có cơ duyên với pháp môn niệm Phật, nên không thử. Tôi có thử ngồi thiền, nhưng cũng không đi tới đâụ Tôi thiết tha muốn tu. Nhưng không biết thực hành cách nàọ Tôi có thử pháp môn thở, thấy cũng giảm bớt vọng động, nhưng rồi sẽ tới đâụ Nếu chỉ giảm vọng động thì các đạo khác họ cũng đều có các phương pháp tĩnh tâm, nhưng rồi sẽ tới đâu? Tôi muốn tìm một nơi để tu hành một cách nghiêm túc, mà không biết đi đâụ TôI không muốn vào chùa để kéo dài cuộc đờI đi làm thầy cúng, vì tôi đả đến thăm thú các chùa, tôi sẽ không thể tu một cách tích cực trong khi chùa luôn luôn có những chương trình phát triển. Ở nhà thì tu cách nào cho nó có kết quả, không bị chuyện đời lôi kéọ

Tôi thành khẩn xin với các đạo hữu chỉ giúp cho tôi một nơi nào ở bên Mỹ này mà có tu Thiền một cách serious, thống thiết với chuyện sanh tử, xin giúp tôi. Xin chắp tay cúi đầu cảm tạ,

Nay kính,
An Thiện

Kính thưa đạo hữu An Thiện
Trân trọng kính mời đạo hữu vào đọc trang web Thiền Thất Trúc Vàng
http://thienthat.tripod.com/index.html (font chữ VPS) nơi đây Thượng Tọa Thích Phụng Sơn đã sáng lập Dòng Từ Bi ở Vista, tự viện giữa đường Quận Cam và San Diego tại Californiạ Nếu đạo hữu có thể tới tự viện này ở vài tuần vấn pháp thì sẽ lợi ích nhiềụ Tôi không giao du rộng, nên quen biết hạn chế, không dám chỉ những chỗ chưa tuyệt đối tin cậy.

TT Phụng Sơn năm nay xấp xỉ 60 tuổi, đã từng dự nhiều pháp hội của Krishnamurti, đã thọ các giáo pháp Tây Tạng từ NgàI Karmapa đời 16, tham học tại nhiều Thiền đường Lâm Tế và Tào Động tại Hoa Kỳ và Tokyo, nhưng cuối cùng đã chọn về quy chỉ nơi Tào Động Nhật Bản. Hiện nay TT Phụng Sơn dạy nhiều pháp môn khác nhau (Thiền, Mật, Tịnh) tùy nhân duyên và sở thích người đến, nhưng tôi nghĩ có pháp Đại Thủ Ấn mà TT Phụng Sơn truyền dạy có thể giúp người học mau chóng trực nhận bản tâm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng đạo hữu.

Cư sĩ Nguyên Giác PTH

=======

Kính đạo hữu,

Chúng tôi xin giới thiệu với đạo hữu một tu viện Hoa Kỳ ở miền cực Bắc tiểu bang California. Tu viện này được xem như là Tổ Đình Tông Tào Động Hoa Kỳ do Sư Bà Jiyu-Kennett sáng lập. Mặc dầu được du nhập vào Hoa Kỳ từ Tào Động Nhật Bản nhưng nơi đây cóvài nét đặc biệt như là muốn gia nhập tu viện để trở thành tu sĩ. phải sống đời độc thân, không được lập gia đình, và phải ăn chay trường. Nghi lễ Phật Giaõo có âm nhạc hoà âm với âm hưởng nhạc Tây Phương. Đa phần các thầy cô thường trú tại tu viện là người Hoa Kỳ và thường là đã tốt nghiệp đại học, cao học hay tiến sĩ ngoài đời.

Tôi xin trích dẫn một đoạn nói về tu viện này để đạo hữu có một chút khái niệm. Nếu đạo hữu thích và muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc với tu viện. Quý thầy cô người Hoa Kỳ rất dễ thưong và sẽ từ bi giúp đạo hữu đạt thành ý muốn. Theo thiển nghĩ của chúng tôi, đạo hữu nên ghi danh tham dự một khóa tu ngắn hạn mà nơi đây thường xuyên tổ chức cho giới cư sĩ.

Thư từ xin gửi về:
Shasta Abbey
Attn: Guest Master,
3724 Summit Drive,
Mt. Shasta, CA 96067-9102
USA;
Telephone (530) 926-4208;
Fax (530) 926-0428.
E-mail: E-mail: shastaabbey@obcon.org

Rât chân thành ca ngợi ý muốn xuất gia của đạo hữu và xin cầu chúc đạo hữu sớm lên đường tìm Ánh Đạo Vàng.

Kính

Tịnh Thủy

Thưa các đạo hữu,

Sự chân thành, nồng nhiệt tầm đạo của đ/h An Thiện quả đã làm cho chúng ta cảm động, nhiều đ/h đã tích cực góp ý kiến với đ/h An Thiện.

Do cái tinh thần tích cực chung đó mà tôi cũng khởi tâm muốn đóng góp chút kinh nghiệm bản thân, thực tế, với đ/h An Thiện, gọi là chút ý kiến nhỏ, thật tình không dám đánh trống qua cửa nhà sấm là các đạo hữu, những cây cổ thụ trong các diễn đàn này.

Đạo hữu Tịnh Thủy giới thiệu tu viện Shasta, nên nhân đây tôi xin thưa rằng bản thân tôi có lưu ngụ tại tu viện này hai lần, mỗi lần khoảng chừng gần một tháng.

Đọc thư đạo hữu An Thiện tôi thấm được lòng nhiệt thành thôi thúc, nên tôi cũng xin đem tấm lòng chân thành kể lại những điều mắt thấy, tai nghe, và bản thân kinh nghiệm tại tu viện nàî

Tu viện tọa lạc trên một khoảng đất rộng 20 mẫu rừng thông, trên sườn núi Shasta, cực bắc tiểu bang California, giáp ranh Origon, trên độ cao 4000 feet, gồm khu nhà tăng ni và khu cư sĩ riêng biệt. Khu tăng ni thì tôi không được vào coi, theo như hình ảnh cho thấy thì đời sống tu hành của họ đạm bạc, gọn gàng, cũng như những thiền viện cổ xưa bên Nhật, hoặc bên Tầu, với cái giường dài thoòng, chia ra cho mỗi người một khúc, chạy theo giường là cái tủ dài, cũng chia ra theo với cái giường, coi như đầu giường, để đựng quần áo cá nhân, mà thôi.

Khu cư sĩ là một căn nhà dài, chia ra làm hai khu Nam và Nữ, giữa là phòng uống trà. Mỗi bên chạy dài hai dẫy phòng cho cư sĩ ở, có người thường trú quanh năm, có người chỉ lưu lại trong khoảng thời gian mỗi khóa retreat, thường là một hoặc hai tuần. Ngoài ra, ai muốn ở lâu mau, tùy ý, chỉ cần liên lạc với tu viện để sắp xếp.

Bản thân tôi thường nghĩ rằng chê hay khen quá độ làm sai lạc sự thật cũng đều là vọng ngữ, cho nên tôi xin một lần nữa thưa rằng tôi chỉ nói đúng sự thật mà thôi. Sự thật là sau khi sống với các vị tu sĩ trên đó mấy tháng trời, tôi cảm động xác nhận rằng họ là những người tràn ngập lòng từ bi, mọi người cư xử với nhau rất bình đẳng.

Trong hai lần lưu ngụ trên đó, tôi đều thấy các sư thường trú gồm khoảng gần 30 vị, và cư sĩ thường trú chừng 20 vị, có một lần gặp kỳ retreat, tôi thấy cư sĩ từ các nơi xa đến, đông cỡ gần một trăm vị

Tu viện đặt sự hành trì lên rất cao. Phần lớn thời gian dành cho tọa thiền, thiền hành, và working meditation, cũng chỉ là làm những việc thường ngày trong tu viện, mục tiêu để luôn luôn giữ được sự tỉnh giác. Mọi người đều rất tôn trọng sự tu hành của người khác, và giúp đỡ nhau tối đa. Trong một lần tôi ở trên đó, một hôm tôi bị xoắn bắp thịt lưng, đau quá, vậy mà thấy tôi không đi được, suốt mấy ngày trời, mọi người dìu tôi lên thiền đường, xa cỡ 100 mét, để tôi không bị gián đoạn tọa thiền. Mà nào đã xong, tôi đau quá, không ngồi được, các sư và bạn đạo lại sắp xếp, dìu tôi nằm xuống để tâm tọạ

Mỗi ngày dùng bữa ba lần, ăn trong hoàn toàn yên lặng, có cử hành tam đề, ngũ quán. Tuy ăn chay lacto ovo, tức là có trứng và sữa (vì hầu hết cư sĩ đều là người Mỹ, mới tập ăn chay theo đạo Phật), nhưng các sư nấu thêm đồ ăn không có trứng và sữa cho người kiêng kỹ.

Các sư rất từ bi, săn sóc người già, bệnh, không phân biệt giầu nghèo, và tiền góp để đến ở là tùy hỉ, tự động bỏ vào cái hộp đề là Begging Bowl, không cần phải đưa cho tu viện, tránh người nghèo tủi thân, đó là lần thứ nhì tôi lên thì đã cải tiến như vậy, còn lần thứ nhất (năm 1992) thì tu viện thu mỗi tháng 300 dollars tổng cộng chi phí ăn ở.Nếu cư sĩ đã thường trú hai năm, muốn xuất gia, sẽ được tiếp đón nồng nhiệt vào tăng đoàn.

Trong hai lần ở trên tu viện Shasta, dù tôi là người VN độc nhất, xa lạ, nhưng tôi cảm nhận cách tu viện đối xử với tôi hoàn toàn đầy từ bi và bình đẳng.

Tu viện có một nghĩa địa chôn chó mèo v.v..., khắp khu chung quanh đem chôn xác pet của họ, rồi họ tới thăm mộ, nghe các sư giảng về từ bi, bình đẳng của đạo Phật đối với sentient beings, có một số chuyển qua đạo Phật luôn.

Tôi viết nhiều quá, mà lại không có mạch lạc, nhớ đâu viết đó, rườm mắt các đạo hữu rồi. Nếu đạo hữu nào cảm thấy muốn hỏi thêm, xin tựnhiên, biết gì, tôi xin nói.

Kính,

Dân Việt

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-04-2006 , 02:33 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tôi đọc kinh thấy có đề cập đến Biên Kiến và Sở tri chướng , tôi có tra tự điển và một số tài liệu nhưng hiểu chưa rõ vậy, xin giải thích cho tôi biết rõ về hai từ nầy?.
TRẢ LỜI

1/ - Biên kiến là một trong năm ác kiến, gồm có: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, giới cấm thủ kiến, Kiến thủ kiến .

Theo như đạo hữu hỏi trong thư, chúng tôi xin trích đoạn "Những Mộng Đàm về Phật Giáo Thiền Tông" của Quốc sư Mộng Sơn do Huỳnh Kim Quang dịch, (Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới ấn hành) nhằm nói rõ biên kiến như sau:

"Người chưa giác ngộ nghĩ rằng những niềm tin mà họ tưởng là thật, chính là căn nguyên, do đó, một khi họ đặt niềm tin vào bất cứ giáo nghĩa của trường phái nào, họ đều bác bỏ tất cả các trường phái khác. Một khi họ đặt niềm tin vào một người nào đó như là bậc đạo sư của họ, họ nghĩ rằng giáo nghĩa của mọi người khác đều là thấp kém, và ngay cả từ chối nghe bất cứ điều gì khác.

Những người như vậy là những kẻ khờ dại nhất trong những người khờ dại .

Cũng có người ôm giữ mãi do dự và không quyết đoán, bởi vì những giáo nghĩa của nhiều trường phái và các vị đạo sư khác biệt nhau .

Thức ăn có nhiều mùi vị; cái nào có thể được xác định như là tinh chất? Như thể chất của con người khác nhau, vị giác của họ cũng vậy . Một số người thì thích ngọt bùi; một số người khác thì ưa thức ăn cay . Nếu các ngài nói rằng mùi vị mà các ngài thích là mùi vị tinh chất và phần còn lại là vô dụng, các ngài chính thật là kẻ khờ dại .

Như thế, theo giáo lý đạo Phật thì: bởi vì các ý thú tự nhiên của con người khác biệt nhau, có thể là, một giáo nghĩa đặc biệt nào đó, là giá trị đặc thù đối với một cá nhân nào đó được ban cho, nhưng nó trở thành sai lầm nếu người ta chấp chặt lấy nó như là điều duy nhất và chân lý duy nhất, để loại bỏ tất cả những giáo nghĩa khác ..."... (Trang 152)

Trong Kinh Tăng Chi (Anguttara Nikaya) có một kinh gọi là Kinh Kamala. Đức Phật có nói với một Bà La Môn khi đến hỏi Phật :"Đừng tin tưởng một điều gì vì phong văn . Đừng tin tưởng điều gì vì nó là tập quán lưu truyền. Đừng tin tưởng điều gì vì được nhiều người nói đi nhắc lại . Đừng tin tưởng điều gì vì là bút tích của thánh nhân. Đừng tin tưởng những thói quen đã có từ lâu khiến ta cho là đúng. Đừng tin tưởng một điều gì do ta tưởng tượng nhưng lại nghĩ rằng do một vị thần linh đã khai thị cho ta . Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì do các thầy có uy tín dạy . Chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng, đồng thời có lợi cho mình và kẻ khác. Chỉ có điều đó mới làm cho con người và cuộc đời được thăng hoa . "

2/ Sở Tri Chướng: Sở Tri Crướng (chỗ biết là chướng ngại), cũng còn gọi là Trí Chướng (Trí khôn là chướng ngại: Sự chấp nệ chỗ biết, chỗ chứng của mình ngăn bít cái Tánh Trí Huệ ....) là tất cả những điều hiểu biết do tâm ý thức, dù được cho là đúng, hoặc sai, đều thuộc phạm vi nhị biên , tương đối, không phải là bổn tâm thanh tịnh bất nhị, nếu còn giữ lại một mảy may tri kiến nào thì đều là còn có sở trụ, tâm còn bị vướng mắc, chưa giải thoát. Trong kinh Kim Cang ,đức Phật dạy :"...Pháp còn phải xả bỏ, huống là phi pháp", là nghĩa này vậỵ

Hòa thượng Thích Hành Trụ giảng rằng:

- "Sở tri chướng" cũng gọi là Trí chướng, bởi ngu si mê ám, không hiểu thấu được sự tướng và thực tánh của các pháp, nên bảo là Trí chướng. Cái chướng này do bệnh "Pháp chấp" sanh ra ...(A Di Ðà Sớ Sao, trang 246)

Hòa thượng Thích Duy Lực giảng rằng:

- "Sở tri chướng" : Tri kiến do bộ óc nhận thức được đều làm chướng ngại sự kiến tánh . (Danh Từ Thiền Học Chú Giải, trang 43)

Chúng tôi thiết nghĩ , chúng ta đang sống trong thế giới tương đối, có quy luật, có đúng, có sai, chúng ta cần có "sở tri" để biết đúng mà làm, biết sai mà tránh. Chỉ khi nào chúng ta giác ngộ lại bản thể chân tâm tuyệt đối (chư Tổ dùng chữ "tạm nói" để chỉ cái chuyện "tuyệt đối" này, vì có nói ra được là có "năng, sở" có đối đãi, làm sao mà mô tả "tuyệt đối", chư Tổ gọi tình trạng này là"gãi ngứa qua giầy"), thì lúc đó chúng ta đã" tuyệt kiến văn", đã bừng tỉnh khỏi cơn mê mụ của "kiến, văn, giác, tri" này, lúc đó chắc chắn chúng ta hết sở tri chướng, đạo hữu ạ.

Tất cả chúng ta đều đang sống trong đời sống tương đối, đều đang ôm trong tâm đủ loại sở tri, chướng nhiều hay ít thì tùy người, không ai không bị sở tri chướng ngại đâu, chỉ có khác nhau ở sự chấp trước, người chấp chặt vào điều mình biết (sở tri) quá, thì bị cái "sở tri" nó "chướng" ngại nhiều . Buông xả bớt, thì cuộc đời nhẹ nhàng, trong đạo, ngoài đời đều nhẹ bớt mà thôi, đạo hữu ạ .

Chư Tổ nói rằng còn để trong tâm một chữ "tri", là còn cái cửa tai họa, không giải thoát , vì còn bị "sở tri" chướng ngại . Cho nên thôi thì đạo hữu và tôi, chúng ta cứ buông xả bớt cái " sở tri" nào có thể buông xả được, cho nó nhẹ bớt được tí nào hay tí ấy, gọi là " kiến dọn lâu cũng sạch tổ", hy vọng sở tri chướng sẽ giảm dần, cho đến khi nào tu hành tinh tấn đến bừng tỉnh khỏi cơn mê, sẽ chấm dứt sở tri chướng. Và ngay cả chấp vào Sở Tri cũng là chuyện phải xảy ra, chỉ khi nào chấp "chặt" thì mới trở thành Chướng

Vậy làm cách nào để bỏ được thói quen chấp "chặt"?

Có hai vấn đề đặt ra :

1- Về tu hành, nếu muốn giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, mà trong tâm còn lại một niệm "biết" (tri), thì theo chư Tổ Thiền Tông, cũng còn là cửa tai họa, còn là " sở tri chướng", còn lưu lạc, luân hồi trong đời sống nhị biên, tương đối .

2- Về đời sống hàng ngày, tương đối, thì đã gọi là "tương đối", mọi người cư xử với nhau tuỳ theo " vọng tâm sinh diệt nhị biên", có người thiện tâm, có người ác tâm, người muốn chuyển hóa dòng nghiệp lực, hoặc vâng lời dậy dỗ của gia đình, trường học, tôn giáo, thì "tu tâm", tự mình cải hóa dần, từ tâm ác chuyển thành tâm thiện, đó là đời sống tương đối, đời sống đầy ắp sở tri, đạo hữu ạ .Vấn đề tình yêu khác tôn giáo cũng như khác chính kiến, khác giai cấp, là những vấn đề muôn thuở . Nên để đương sự tuỳ theo tâm họ mà giải quyết vấn đề. Niềm tin chính của chúng ta, những người theo đạo Phật, là tin sâu nhân quả . Nếu hai người yêu nhau quá, không thể bỏ nhau, là họ đã có nhân duyên với nhau từ những kiếp trước.Nếu họ dùng tâm từ bi và tình yêu để xử với nhau, họ sẽ không làm cho nhau đau khổ đâu . Cổ nhân có cái thí dụ rằng mỗi người đều có hai tay . Nhưng khi đứng cạnh nhau, mỗi người phải tự đưa một tay về phía sau, thì đứng cạnh nhau mới thoải mái . Người Việt Nam chúng ta có từ ngữ " tế nhị" nếu mọi người đều hành xử tế nhị thì cuộc đời sẽ bớt nhiều đau khổ, đạo hữu ạ .Sống chung, mọi người đều phải nhường nhịn bớt, thì mọi sự sẽ trở nên tương đối ổn định, đời sống tương đối mà .

Trên đây là những lý thuyết, nhưng nếu ai đem lý thuyết ứng dụng được vào đời sống hàng ngày thì người ấy sẽ tránh được nhiều phiền não và có được hạnh phúc. Có một câu nói của một tác giả nào đó mà chúng tôi không nhớ rõ tên. Tác giả viết rằng: "Nếu đời cho ta một trái chanh, thì ta pha thêm nước và thêm một ít đường vào rồi hãy uống cho đỡ chua". Đúng như vậy, nếu chúng ta muốn bớt chấp trước, thì chúng ta nghe theo những lời khuyên này . Còn nếu chúng ta cứ nhất định phải " ăn quả chanh nguyên chất", thì cũng đành tùy duyên vậy .

(Ban Biên Tập TVHS)

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-06-2006 , 02:57 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
THẬP NHỊ BỘ KINH LÀ GÌ?

HỎI: Tôi đọc kinh sách Phật thường nghe nói tới “Thập Nhị Bộ Kinh “ tức “mười hai bộ kinh”. Vậy xin hỏi mười hai bộ kinh là gì? Có phải là các bộ kinh Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ không … ?


ĐÁP: Thập Nhị Bộ Kinh là 12 chủng loại của tất cả các kinh điển mà đức Phật đã thuyết. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn cũng như Luận Trí Độ, Mười Hai Bộ Kinh là: Tu Đa La, Kỳ Dạ, Thọ Ký, Dà Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, A Ba Đà Na, Y Đế Mục Đà Na, Xà Đà Dà, Tỳ Phật Lượt, A Phù Đà Đạt Ma và Ưu Bà Đề Xá.

Tu Đa La Kinh là khế kinh trường hàng thường bắt đầu câu: ““ như thị ngã văn nhẫn đến câu hoan hỷ phụng hành”.
Kỳ Dạ Kinh là kinh Phật giảng nói bằng thể kệ tụng gọi là trùng tụng.
Thọ Ký Kinh là loại kinh Đức Như Lai thọ ký cho các hàng trời người sẽ làm Phật.
Dà Đà Kinh là kệ câu khởi
Ưu Đà Na Kinh là kinh tự thuyết
Ni Đà Na Kinh là kinh nhân duyên
A Ba Đà Na Kinh là những thí dụ trong luật nói.
Y Đế Mục Đa Dà Kinh là loại kinh bổn sự
Xà Đà Dà Kinh là loại kinh bổn sanh
Tỳ Phật Lược Kinh là loại kinh phương quảng nghĩa lý rộng lớn, thuộc về Đại Thừa Phương Đẳng.
A Phù Đà Đạt Ma Kinh (A Tì Đạt Ma) hay còn gọi là Vị Tằng Hữu kinh (chưa từng có), ghi về Phật Bồ Tát thị hiện vô số thần lực bất khả tư nghị.
Ưu Bà Đề Xá là loại kinh luận nghị

Trong 12 bộ này ba bộ Tu Đa La, Kỳ Dạ và Dà Đà là thể tài trong kinh văn, còn chín bộ khác được đặt tên theo từng loại sự việc được ghi trong kinh.

(Tâm Diệu)

(Ban Biên Tập TVHS)

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-10-2006 , 11:27 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Tôi là một Phật tử lớn tuổi ở Việt Nam thỉnh thoảng đi chùa, được biết hiện nay có ít nhất một ngôi chùa đang có khuynh hướng thay thế chữ Phật bằng chữ Bụt. Thay vì lâu nay khi bạn đạo gặp nhau hay khi gặp quý Thầy thường nói "A Di Đà Phật" hay "Mô Phật" thì nay đổi lại thành "A Di Đà Bụt" hay "Mô Bụt". Tôi thấy kỳ quá. Chữ Phật lâu nay đã thấm vào dòng máu người con Phật mắc chi phải đổi. Vậy xin hỏi ban biên tập sự khác biệt giữa hai chữ Phật và chữ Bụt và có nên thay thế chữ Phật bằng chữ Bụt như Bụt tử, Bụt giáo, Giáo hội Bụt giáo Việt Nam, Mô Bụt không?

TRẢ LỜI: Thật ra chữ Bụt đã được Thầy Nhất Hạnh khởi xướng dùng từ hơn ba mươi năm nay ở các chùa thuộc hệ thống Làng Mai, Pháp Quốc và đã được vận động trên báo chí ở hải ngoại sau đó (Tạp Chí gần Thế Kỷ 21 số 123). Gần hai năm nay từ này đã theo Thầy trở về Việt Nam. Thay vì trực tiếp trả lời quý đạo hữu ở Việt Nam, Ban biên tập chúng tôi sao lục lại 4 nhận định về việc này đã có từ trước đây: (1) Thượng Toạ Tiến sĩ Thích Trí Hoằng hiện là Viện chủ chùa Hải Ấn, bang Connecticut, (2) Hoà Thượng Thích Thanh Từ (3) Cư sĩ Phan Mạnh Lương, chủ bút Tạp Chí Giao Điểm, Hoa Kỳ và (4) Sư Cô Chân Không, Làng Mai, Pháp.


Thượng Toạ Thích Trí Hoằng Viện chủ chùa Hải Ấn, bang Connecticut.

"... Trong chiều hướng đó, ngày nay cũng có vài vị cố gắng thay đổi danh hiệu các vị Phật và Bồ Tát với ý nghĩ làm như thế nghi lễ có tính cách Việt Nam hơn. Ví dụ sự thay đổi cách niệm Phật: Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni, hoặc là Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm v.v… thay vì niệm theo lối cũ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu ni Phật hay là Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.. Đây là một nỗ lực đáng quý trong ý hướng làm mới đạo Phật. Trên phương diện ý hướng là thế, nhưng trên thực tế sự thay đổi này tạo nhiều trở ngại cho sự hành trì. Vì cả trên phương diện lý thuyết cũng như thực hành các luận cứ này không có cơ sở chắc chắn. Vì ngày nay các tiêu chuẩn ấn định cho nhân danh và địa danh vẫn đặt căn bản trên ngôn ngữ gốc. Những thay đổi này chỉ là những thay đổi trên hình thức, trên danh từ do đó đã trở ngại rất nhiều cho sự tu tập. Có cần thiết chăng là sự thay đổi pháp môn tu tập cho hợp với căn cơ của mình.

Trong khi chúng ta niệm một danh hiệu hay gọi một danh xưng, lâu ngày danh hiệu đó quan hệ mật thiết với chúng ta không những trên phương diện lý trí mà cả trên phương diện tình cảm. Mỗi âm thanh phát lên là cả một thế giới hiển hiện. Ví dụ danh từ “cha mẹ” thay đổi theo từng vùng: ba má, bố đẻ, thầy mợ, cha mạ, ba mẹ v.v… Tuy nhiên đứa con thuộc vùng nào thì dùng tiếng vùng đó, tiếng địa phương đó đã thấm thía vào máu thịt cho nên khi gọi lên danh từ đó cũng gọi lên tất cả nghĩa tình thắm thiết. Vì thế khi thay đổi tên gọi chúng ta sẽ cảm thấy xa lạ ngay. Ví dụ bắt người miền Nam phải gọi cha mẹ là “bố đẻ” thì quả là khó khăn vô cùng, và ngược lại người Bắc phải gọi cha mẹ bằng “ba má” thì khó khăn cũng không kém. Hoặc có người nhân danh chính thống để bắt mọi người phải gọi cha mẹ bằng “bố cái” theo danh xưng cổ “Bố Cái Đại Vương” thì quả là một khó khăn lớn cho nhân dân cả nước.

Đối với việc niệm Phật cũng thế, nếu chúng ta thay đổi tên gọi của Phật chúng ta đã đánh mất đi cả thế giới tình cảm tâm linh gắn bó với danh xưng đó. Hơn nữa tại ba miền vấn đề danh xưng đã thống nhất rồi, đều dùng danh từ Phật, còn chữ Bụt chỉ là tiếng cổ còn sót lại trong văn chương bình dân mà thôi. Có những danh từ cổ ngày nay chúng ta không còn dùng nữa. Nếu có những cảm hứng cá nhân trong việc sử dụng một vài danh từ cổ, thì đó chỉ là trường hợp riêng tư. Ví dụ: có người vẫn thích dùng từ “Thăng Long” thay vì Hà Nội, không phải vì thế danh xưng Hà Nội trở thành sai lầm và bị thay đổi đi. Chúng ta không thể lấy cảm hứng cá nhân làm tiêu chuẩn chung cho mọi người.

Thiết tưởng cứu cánh của sự tu tập đặt ở sự chuyển hóa nội tâm. Còn tất cả những danh xưng, hình tướng chỉ là phương tiện. Phương tiện nào đạt đuợc sự tinh hóa nội tâm đều là phương tiện tốt. Chúng ta không nên quá câu nệ vào phương tiện mà quên cứu cánh.

Đối với đức Phật chúng ta gọi Ngài thế nào cũng được, miễn là chúng ta có sự tôn kính. Cũng như đối với cha mẹ, chúng ta gọi bằng danh xưng gì cũng được, miễn là có lòng hiếu nghĩa. Trước khi đức Thích Ca giáng trần, trong quá khứ có rất nhiều vị giác ngộ, mà không hề biết đến tên đức Phật.

Do đó “Sư nói sư phải, vải nói vải hay” nếu cứ mãi chấp nê vào vấn đề danh từ, chúng ta sẽ rơi vào mê hồn trận của thế giới chữ nghĩa, đây là một chướng ngại lớn trong việc tu tập. Đức Phật gọi đó là sở trí chướng (chướng ngại do kiến thức). Chính vì thế, chủ trương của Thiền Tông là: “Bất lập ngôn ngữ văn tự, trực chỉ minh tâm kiến tánh lập địa thành Phật” (không thiết lập giáo thuyết trên căn bản văn tự chữ nghĩa, đi thẳng vào sự soi sáng nội tâm, nhìn rõ bản tánh để giác ngộ thành Phật tại chỗ). Các tông phái Phật Giáo khi dùng âm thanh ngôn ngữ trong việc hành trì đều ý thức rõ rằng đó chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh. (http://www.*******hoasen.org/conduongphattrientamlinh.htm#02)

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-12-2006 , 09:35 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Sau một thời gian tìm hiểu và học tập giáo pháp, tôi phát tâm quy y Tam bảo. Chỉ có điều vị thầy hướng đạo, khai mở tuệ giác cho tôi mà tôi muốn quy y, nương tựa tinh thần lại ở rất xa. Vì điều kiện sinh sống làm ăn nên không thể đến quy y trực tiếp với thầy tại chùa được, vậy tôi có thể "quy y từ xa" hay có cách nào tương đương không? Mới đây, một số bạn bè cho tôi biết đã quy y chư Sư qua Internet. Kính hỏi quý Báo, quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào? Xin được chỉ bày và cho chúng tôi những lời khuyên.

ĐÁP:

Trong thời đại số hóa, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, những thành tựu của khoa học và công nghệ đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực cuộc sống đưa đến nhiều tiện ích, nhanh chóng và tiết kiệm. Giờ đây, các hoạt động có tính chất "từ xa" không còn xa lạ đối với mọi người. Từ mua bán, học tập, dạy dỗ, họp hành, cho đến trị liệu v.v và v.v đều có thể thực hiện được từ xa.

Riêng vấn đề "quy y từ xa" là một ảo kiến thật bất ngờ và khôi hài. Sở dĩ gọi là ảo kiến chứ không phải sáng kiến vì tính chất hư ảo, tà kiến, phá lệ của nó và hoàn toàn phi kinh điển. Bất ngờ là vì hoàn toàn mới mẻ, chưa từng có trong Phật giáo bao giờ. Khôi hài bởi ứng dụng công nghệ cao một cách lố bịch và khập khiễng vào một lĩnh vực rất cần sự đối diện, tiếp xúc và trao truyền trực tiếp.

Trong thế giới ảo (Internet), trao đổi thông tin là sự thật. Nhưng pháp thức quy y của Phật giáo thì không đơn thuần chỉ trao đổi thông tin mà là sự thành tâm đối trước Tam bảo phát nguyện quay về nương tựa Ba ngôi báu trong sự hiện diện và chứng minh của Phật, Pháp và Tăng đồng thời tiếp nhận từ chư Tăng năm giới quý báu để hoàn thiện tự thân.

Quy y Tam bảo là một bước ngoặt rất quan trọng của một đời người. Quyết định bỏ tà quy chánh, sống theo ánh sáng Tam bảo được thể hiện bằng hành động cụ thể. Đích thân người quy y thành tâm quy kính trước Phật, Pháp, Tăng dũng mãnh phát thệ nguyện trở về sống trong chánh pháp. Sự trang nghiêm của buổi lễ cùng với niềm xúc động mãnh liệt tràn ngập thân tâm của người quy y là dấu hiệu cho thấy pháp quy y thành tựu. Sau khi quy y, người Phật tử cảm nhận được một nguồn năng lượng mới từ Tam bảo truyền vào thân tâm, khiến họ hân hoan, tịnh tín và bình an… Kinh nghiệm nội tại này là một dấu ấn đậm nét, khó phai mờ trong tâm thức đồng thời có khả năng hộ trì người Phật tử giữ vững niềm tin, nỗ lực tu học.

Khi "quy y từ xa" qua Internet, thì đối trước chúng ta là màn hình máy vi tính: Không Phật, không Pháp cũng không Tăng; không kính lễ, không hoa hương, không trang nghiêm, hoàn toàn nhạt nhẽo, vô vị và bất kính. Dù nghe được tiếng nói nhưng những âm thanh ấy chỉ là một phần rất nhỏ của pháp thức quy y, chưa đủ các yếu tố cần để tạo ra sự rung động, giao cảm với Tam bảo như quy y đúng Chánh pháp. Nếu đối trước Tam bảo phát nguyện quy y thì gọi là quy y Tam bảo, còn trong trường hợp đối trước máy vi tính quy y này chẳng lẽ gọi là Quy y máy vi tính sao? Sự phá lệ (quy y từ xa) này nếu không kịp thời ngăn chặn thì sẽ dẫn đến di họa phá vỡ các định pháp có tính truyền thống trong Phật giáo. Mặt khác, rồi đây ai dám chắc là không có chuyện quy y qua điện thoại, quy y qua video, VCD… và vô vàn cách quy y nhảm nhí, phi pháp khác?

Vì thế, pháp quy y chỉ được thực hành trực tiếp và tất nhiên không thể "quy y từ xa" đồng thời cũng không có pháp quy y nào tương đương, có tính cách gián tiếp được. Ngay cả trường hợp quy y khi tuổi còn nhỏ (chưa ý thức được ý nghĩa quy y) thì cha mẹ phải đích thân mang đứa trẻ đến đối trước Tam bảo thành tâm kính lễ thì pháp quy y mới thành tựu. Tất cả những trường hợp đã đăng ký tên tuổi nhưng vắng mặt tại buổi lễ quy y (quy y hàm thụ) hoặc "nghe quy y" qua trực tuyến (online) đều đồng nghĩa với chưa quy y.

Ai cũng muốn quy y làm đệ tử của vị minh sư mà mình kính ngưỡng. Trong trường hợp không đủ duyên lành để gặp thầy thì ta có thể quy y Tam bảo tại ngôi chùa gần nhất rồi sau đó học pháp "từ xa" nơi vị thầy quý kính của mình. Đạo Phật là đạo trí tuệ, do đó sử dụng phương tiện cũng phải có trí tuệ mới đem đến an vui và lợi ích đích thực. (Ban TV TC GN)

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-16-2006 , 03:45 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Xin cho biết ý nghĩa chữ KINH trong đạo Phật

TRẢ LỜI: Kinh: Nghĩa đen là sợi tơ thẳng, xuyên suốt. Sách Phật gọi là kinh, vì chúng có tác dụng xuyên suốt lời dạy của Phật, giữ vững không để mất đạo lý của Phật dạy, trên thì phù hợp với đạo lý, dưới thì phù hợp với trình độ người nghe.

Kinh Phật sở dĩ gọi là khế kinh, vì chúng khế hợp với đạo lý do Phật dạy, đồng thời cũng khế hợp với căn cơ người nghe.

Kinh Phật thường bắt đầu bằng các chữ "Như thị ngã văn" (như vậy tôi nghe). Tôi ở đây, chỉ ông A Nan, người trực tiếp nghe lời Phật và thuật lại. Câu ấy xác nhận lời trong kinh chính là lời Phật nói.

Ba tạng kinh điển gồm có: Kinh tạng, ghi lại những lời Phật dạy; Luật tạng, ghi lại những giới luật làm khuôn phép sinh hoạt và tu học cho tu sĩ; Luận tạng, gồm các bộ luận do các luận sư, đệ tử Phật trình bày, giải thích một cách có hệ thống và theo chiều sâu giáo lý đạo Phật.

Các bài thuyết pháp của đức Phật được sưu tập lại là Kinh. Toàn bộ Kinh Phật hợp lại thành Tạng Kinh (S. Sutrapitaka).

Đó là sơ qua về nghĩa chữ KINH. Muốn biết thêm chi tiết xin đọc thêm hai bài giảng về ý nghĩa chữ KINH của Tỳ kheo Thích Nhật Từ và Thích Hằng Trường:


Ý Nghĩa của Chữ "Kinh"
Thích Nhật Từ

Trong suốt cuộc đời hoằng pháp, đức Phật không hề viết sách. Tất cả kim ngôn hay lời dạy của Ngài được truyền thừa lại nhờ vào truyền thống tụng đọc thuộc lòng, của các vị đệ tử Ngài, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, về sau mới được ghi chép lại thành dạng văn bản, gọi là Kinh.

Các nhà Phật học truyền thống Trung Quốc giải thích rằng Kinh là "khế hợp." Khế ở đây bao gồm hai phạm trù khế lý và khế cơ. Khế lý là nội dung ý nghĩa của những lời giảng dạy phải được đặt trên nền tảng Trung đạo, không thiên lệch vào sự chấp mắc nào. Khế cơ là sự thể hợp với từng căn cơ đối tượng. Khế lý và khế cơ có giá trị xuyên suốt thời gian và không gian. Theo nghĩa này, Kinh là chân lý siêu tuyệt của các chân lý mặc ước và công ước.

Tác giả của Luận Phật Địa còn đi xa hơn, khi giải thích: "Khế là phù hợp với tinh thần giáo lý mầu nhiệm của các đức Phật trong ba thời, đồng thời còn đáp ứng một cách sát sao với sự lãnh hội của đương cơ tiếp nhận giáo pháp ấy." Theo đó, sự khế lý mà thiếu khế cơ hay khế cơ mà không khế lý thì chẳng được gọi là Kinh.

Các nhà chú sớ Kinh điển của Trung Quốc không dừng lại tại đó, còn đi sâu vào việc khai thác sự đa dạng về ý nghĩa của Kinh. Theo các nhà sớ giải, Kinh gồm có năm nghĩa: (1) pháp bổn, (2) vi phát hay xuất sanh, (3) tuyền dũng, (4) thằng mặc, (5) kết man, (6) hiển thị. Các cách định nghĩa chữ Kinh như vừa nêu tuy có phần phong phú, đa dạng, nhưng đã đi quá ý nghĩa từ nguyên của chữ Kinh trong Phật giáo, thời kỳ nguyên thủy.

Trong đạo Phật, ý nghĩa chữ Kinh ban đầu rất đơn giản. Kinh, tiếng Sanskrit viết là sūtra, và tiếng Pali viết là sutta, chỉ có nghĩa chính là những lời giảng dạy của đức Phật về đạo đức, chân lý và giải thoát. Nó liên hệ đến sự nghe, nghe những lời dạy của đức Phật. Nói cách khác, Kinh là những lời dạy của Phật hay của các vị Bồ-tát, A-la-hán. Trong ý nghĩa rộng hơn, chữ Kinh còn ám chỉ cho (1) các thể loại văn học Phật giáo, hay (2) Tạng Kinh (Sutta Piṭaka), hay chỉ chung cho (3) Ba kho tàng văn học Phật giáo (Kinh, Luật, Luận). Kinh là sách ghi chép những lời dạy về chánh pháp, những phương thức hành trì hay các pháp môn được đức Phật và các vị thánh đệ tử của ngài giảng dạy.

Các vị thánh đệ tử đầu tiên của đức Phật là nhóm năm anh em Kiều-trần-như, mười vị đệ tử lớn và 1250 vị tỳ-kheo đều có nhiều cuộc đối đáp về đạo lý và con đường tu tập với các người theo Bà-la-môn giáo và các tôn giáo bấy giờ. Các pháp thoại mang tính cách xiển dương và truyền bá đạo pháp như vậy, có giá trị tương đương với lời Phật dạy trong nhiều trường hợp cụ thể. Nên các pháp thoại đó cũng được xem là kinh, tức một dạng khác của lời Phật dạy. Các bài Kinh loại này có mặt khắp trong các Kinh điển Phật giáo của Nguyên Thuỷ và Đại thừa.

Như vậy, "Kinh" chỉ chung cho các lời dạy đạo lý hoặc là các pháp thoại do đức Phật nói cho các hàng đệ tử hoặc người khác, hoặc các pháp thoại của các vị thánh tăng đối đáp với nhau hay đối với người ngoại đạo. Ý nghĩa ban đầu của Kinh chỉ đơn giản có thế, dù dưới dạng truyền khẩu hay được biên tập thành văn bản về sau.

Mặt khác, “Kinh” là một khái niệm bao quát, chỉ chung các lời dạy của Phật về đạo đức (dhamma) hay con đường tu tập và những phép tắc (vinaya) liên hệ đến đời sống của cộng đồng tu sĩ sống dưới sự bảo hộ và hướng dẫn của Phật. Nó hoàn toàn không mang các ý nghĩa như "pháp bổn," "vi phát," "dũng tuyền," "kết man," "xuất sanh," " hiển thị " hay ý nghĩa "khế cơ" như các nhà sớ giải Trung Quốc đã phát triển về sau. Nói như vậy không có nghĩa phủ định tính chất khế cơ trong lời Phật dạy. Chỉ có con người ứng dụng kinh, giảng dạy Kinh có khế cơ hay không mà thôi. Nói cách khác tính khế cơ tùy thuộc rất nhiều vào vị pháp sư qua sự trình bày pháp thoại đến với quần chúng thính giả hơn là bản thân của pháp thoại đó được biểu hiện dưới hình thức lời nói hay văn tự. Văn tự hay ngôn ngữ có giới hạn, không thể làm chức năng xứng hợp như chính con người của đức Phật và các vị đệ tử thánh của Ngài. Ý nghĩa thâm sâu của Kinh nếu không được vị pháp sư trình bày một cách sáng sủa, chính xác và hợp đối tượng thì người nghe có thể rơi vào các tình trạng ngộ nhận, thoái thất đạo tâm và như vậy là mất hết khế cơ. Đặc tính khế cơ tùy thuộc rất nhiều vào người giảng đạo và người nghe. Thuyết giảng pháp thoại mà không nắm bắt được đối tượng nghe pháp sẽ có thể dẫn đến tình trạng làm suy thoái đức tin chánh pháp của người nghe. Ngược lại thuyết pháp phù hợp đối tượng, làm cho đối tượng thấm nhuần lợi ích và an lạc thì sự thuyết pháp đó đã thành tựu ý nghĩa khế cơ rồi. Như vậy lợi ích hay tác hại của một buổi pháp thoại đối với người nghe tùy thuộc rất nhiều vào phương tiện giảng dạy và phong cách trình bày của vị pháp sư, chứ không phải là bản thân của Kinh điển văn tự.

Nói tóm lại, chữ Kinh trong Phật giáo được dùng để chỉ cho lời Phật dạy dưới hình thức văn tự hay truyền khẩu, có giá trị hướng thượng, phát triển đạo đức, nuôi lớn thiền định, phát sanh trí tuệ, giúp cho người đọc tụng đạt được an lạc và hạnh phúc. Kinh điển là ngón tay để chỉ cho chúng sanh thấy được mặt trăng, là chiếc bè để đưa người sang sông giải thoát. Bản thân Kinh điển không phải là mặt trăng và cũng không phải là bờ giải thoát. Mặt trăng ở đây ám chỉ cho chân tâm, Phật tánh và Niết-bàn. Người đọc tụng và thọ trì cần nương vào lời Kinh để nhận ra được chân tâm, Phật tánh của mình, cũng như nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng và nương vào thuyền để sang được bờ bên kia. Sau khi thấy được trăng cần phải biết quên ngón tay. Sau khi qua được bờ rồi, nên thả thuyền xuống sông để nó có thể giúp được nhiều người khác muốn sang sông. Đừng có thái độ chấp thủ và tôn thờ ngón tay đã giúp ta thấy được mặt trăng, cũng như chiếc bè đã giúp ta qua được bờ bên kia!

Tỳ Kheo Thích Nhật Từ
http://www.*******hoasen.org/kinhtunghangngay-ynghiatungkinh.htm

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-23-2006 , 03:14 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Hỏi: Quan điểm về Nghiệp của Phật giáo có sự khác biệt như thế nào so với quan điểm Số mạng của Nho giáo?

Đáp : Mỗi cá nhân có một cấu trúc tâm sinh lý, hoàn cảnh và điều kiện sống hoàn toàn khác nhau. Cùng là con người, nhưng giữa họ có sự bất đồng rõ rệt giữa giàu nghèo, xấu đẹp, khỏe mạnh và đau yếu, trường thọ và chết yểu, thành công và thất bại, hạnh phúc và khổ đau... Đây là những nghi vấn ngàn đời mà từ lâu các hệ tư tưởng triết học, tôn giáo đã cố công đi tìm lời giải đáp. Ở đây, Phật giáo giải thích căn nguyên của sự dị biệt đó bằng thuyết Nghiệp hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo.

Theo quan điểm của Nho giáo, khái niệm Số mạng được dẫn xuất từ lý thuyết Thiên mệnh, tức là mệnh trời. Căn cứ vào lý thuyết Thiên mệnh, thì Trời được xem như một quan tòa công minh, cầm cân nảy mực phán xét mọi việc. Trời quyết định mọi sự thành công hay thất bại trong đời sống của con người. Điều này, trong tác phẩm Luận ngữ, thiên Nhan Uyên, Khổng Tử cho rằng: “Sống chết có số mạng, giàu sang tại Trời” (Tử sanh hữu mạng, phú quí tại Thiên) Con người không thể cãi lại mệnh Trời, "Trời kêu ai người nấy dạ”. Mọi cố gắng của con người không ngoài ý Trời. Chính ngay bản thân mình, Khổng Tử cũng thừa nhận: "Năm ta mười lăm tuổi chỉ để tâm vào việc học, năm ba mươi tuổi đã đủ lực mà lập thân, năm bốn mươi tuổi tâm trí đã đủ sáng suốt, năm năm mươi tuổi, ta hiểu được mệnh trời...” (Ngô thập hữu ngũ, nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri Thiên mệnh"... Luận ngữ, thiên Vi Chính). Có thể nói, theo quan niệm của Nho giáo thì con người cần phải đặt hết mọi niềm tin vào ý chí của Trời. Cũng theo Khổng Tử thì việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện để trở thành con người hoàn thiện: “Không hiểu mệnh trời, không xứng đáng là người quân tử” (Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dã - Luận ngữ, thiên Nghiêu Viết).

Như vậy, quan điểm về Thiên mệnh xét đến cùng thì luôn mang tính chất tiêu cực, thụ động, cứng nhắc; triệt tiêu mọi nỗ lực chuyển hóa, hướng thiện của con người. Con người khi mới sinh ra thì đã có một số mệnh an bài và được định đoạt bởi ý chí của một đấng siêu nhiên. Một khi đã đặt trọn niềm tin của mình vào đấng siêu nhiên, vào số phận, số mạng thì con người đành phải chấp nhận xuôi tay, giao phó toàn bộ đời mình cho một đấng quyền năng quyết định.

Trái với những quan điểm đó, Phật giáo không chủ trương và không chấp nhận số mệnh. Con người hiện hữu trong dòng sống sinh động với các đặc tính khác nhau là kết quả của Nghiệp được tạo tác bởi chính họ trong hiện tại và quá khứ. "Con người là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự Nghiệp...” (Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt - Trung Bộ III ).

Nghiệp là hành động có tác ý, hay hành động phát sinh từ tâm được thể hiện qua hành động (Thân nghiệp), ngôn ngữ (Khẩu nghiệp) và tư duy (Ý nghiệp). Nghiệp lực là sức mạnh của Nghiệp, là động lực thúc đẩy, dẫn dắt để hình thành một thân phận chúng sanh. Nghiệp do mình tạo ra rồi trở lại chi phối chính mình. Nghiệp có nhiều loại, mỗi loại có một tính chất và công năng khác nhau. Hai loại Nghiệp chính thường được đề cập là Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp. Dẫn nghiệp là Nghiệp do con người tạo ra trong đời sống hiện tại hay quá khứ thông qua thân, khẩu và ý hoặc thiện hoặc ác, để rồi chính Nghiệp này dẫn dắt con người ấy sanh vào một trong sáu nẻo của Lục đạo (Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục ). Tuy nhiên, cùng là người nhưng có người khỏe mạnh, người lại ốm đau; người đẹp, kẻ xấu; người này sang trọng, người kia lại nghèo hèn và tất cả những sai biệt ấy là quả báo của Mãn nghiệp.

Con người tạo ra Nghiệp và sẽ không thể và không bao giờ trốn thoát được những Nghiệp do mình gây tạo ra. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, quan điểm về Nghiệp của Phật giáo không giống như Định mệnh hay Số mệnh. Điểm khác nhau cơ bản giữa Nghiệp và Số mệnh ở chỗ, Nghiệp do chính con người tạo tác, có tính chất duyên sinh, bất định tính và vô ngã nên Nghiệp có thể chuyển hoá được. Do đó, con người có thể thay đổi, chuyển hóa Nghiệp báo của chính mình từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện hoặc ngược lại.

Năng lực chuyển hóa Mãn nghiệp trở thành tốt hơn hoặc xấu đi được gọi là Năng tiêu nghiệp. Tác dụng của Năng tiêu nghiệp trong đời sống hiện tại rất lớn. Một người có tư chất thông minh và cơ thể khỏe mạnh là kết quả của Mãn nghiệp. Thế nhưng, người ấy không lo học tập, rèn luyện thân thể lại còn sống buông thả, đắm say tửu sắc, ma túy... Kết quả từ chỗ khỏe mạnh anh ta trở nên ốm yếu, tiều tụy; từ chỗ thông minh thành ra ngu đần, thác loạn. Năng tiêu nghiệp đã làm tiêu hủy Nghiệp tốt của người này. Ngược lại, một người với quả báo Mãn nghiệp có cơ thể ốm yếu, tật bệnh nhưng nhờ biết giữ gìn sức khỏe, luyện tập dưỡng sinh, ăn uống điều độ, làm việc giờ giấc, thì không những khỏe mạnh, chiến thắng bệnh tật, thậm chí còn trường thọ. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ có một phần ba lá phổi mà vẫn làm việc bình thường; Stephen William Hawking - nhà vật lý vĩ đại người Anh của thế kỷ này - tuy bị liệt toàn thân chỉ còn ba ngón tay nhưng vẫn liên tục đưa ra nhiều phát minh quan trọng.... là những thí dụ điển hình của Năng tiêu nghiệp theo hướng tích cực.

Đối với Dẫn nghiệp, một loại Nghiệp có cường độ mạnh trong việc quyết định hướng tái sanh nhưng vẫn chuyển hóa được. Trong sách Đồng Mông Chỉ Quán, ngài Trí Giả đại sư có kể chuyện một Sa di yểu mạng nhưng nhờ cứu sống một đàn kiến nên được chuyển Nghiệp. Đáng lẽ, vị Sa di này phải chết trong vòng một tuần lễ lại được sống an ổn, trường thọ. Năng lực chi phối Dẫn nghiệp là Năng hủy nghiệp. Một người thọ mạng vẫn còn, nghiệp lực của Dẫn nghiệp (Tái sanh nghiệp) vẫn còn nhưng vì người này trong đời trước hoặc ngay trong đời này đã tạo ra những Nghiệp cực mạnh, có khả năng tiêu hủy đời sống của họ, khiến họ có thể mất mạng như thường. Đó là những trường hợp đột tử, bất đắc kỳ tử, tai nạn... Đây không phải là số mệnh,định mệnh hay tới số, tận số. Phật giáo gọi là Nghiệp, tác động của Năng hủy nghiệp đã tiêu hủy một Dẫn nghiệp được tạo ra trước đó, chấm dứt một đời sống. Năng hủy nghiệp trong trường hợp này giống như cơn gió thổi tắt đèn trong khi đèn vẫn còn dầu và tim đèn.

Tựu trung, Nghiệp theo Phật giáo là một cơ chế vận hành của đời sống được khám phá bởi tuệ giác của Đức Phật chứ không phải một tín ngưỡng vu vơ, siêu hình và hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo. Nghiệp tuy có năng lực mạnh mẽ, chi phối và quyết định đời sống của chúng sanh trong hiện tại và tương lai nhưng Nghiệp có thể chuyển hóa và thay đổi được thông qua nỗ lực tu tập của cá nhân, chứ không cứng nhắc, tiêu cực như Số mệnh. Thuyết Nghiệp rất tích cực, khoa học và công bằng. Nó tôn vinh trách nhiệm và giá trị con người, thúc đẩy con người hướng thiện, sống đạo đức, theo lẽ phải. Thuyết Nghiệp khích lệ con người hành động và tiến bộ, hoàn toàn vắng mặt bóng dáng tiêu cực, yếm thế. (Ban Tư Vấn TC. Giác Ngộ)


www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-26-2006 , 02:06 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Một người đang theo tôn giáo khác, nếu muốn học Phật pháp thì có gì trở ngại hay không? Và Muốn tu tập theo Phật giáo, có cần phải bỏ tôn giáo của mình, chuyển qua đạo Phật không?

Thưa quý vị,

Bất cứ ai, dù đang theo tôn giáo nào hoặc không theo tôn giáo nào, mà muốn học Phật pháp, đều không có gì trở ngại cả. Phật giáo không phải là một tôn giáo mê tín, mà là một hệ thống giáo dục dựa trên quy luật nhân quả để chuyển hóa con người từ xấu thành tốt, “không làm điều xấu ác, siêng làm điều tốt lành”. Sau giai đoạn chuyển xấu thành tốt, con người trở nên hoàn thiện, thì sẽ có những thiện quả tạo thành duyên lành cho đương sự bước vào bước tu tập thứ hai là “tự thanh tịnh tâm ý”, hoàn toàn rũ bỏ Tham Sân Si, chuyển từ mê lầm sang giác ngộ, tỉnh thức, giải thoát khỏi vòng sinh tử, khai phóng tâm linh bất sinh bất diệt.

Nhà Phật rất hoan nghênh bất cứ ai muốn tìm hiểu Phật pháp và nghiên cứu Tam Tạng kinh, luật, luận, trong kho tàng kinh điển của đạo Phật. Có nhiều học giả thâm hiểu giáo lý nhà Phật, - trong số đó có những người Tây Phương, - viết sách luận giải về đạo Phật, là những người thuộc các tôn giáo khác, không phải là Phật tử. Nhiều kinh sách nhà Phật đã được dịch ra tiếng Anh bởi những học giả vốn là tín đồ các tôn giáo khác, đọc kinh sách Phật giáo vì tò mò, hoặc có trường hợp đọc với mục đích tìm những điểm không ưng ý để chỉ trích. Nhưng sau khi tiến sâu vào tư tưởng nhà Phật, họ cảm nhận được tinh thần khai phóng, từ bi, bình đẳng, nên trong lòng họ có sự chuyển hóa, tăng trưởng thiện cảm đối với đạo Phật. Khởi đầu là tìm hiểu phần lý thuyết, dần dần họ bước vào phần thực hành các phương pháp luyện tâm qua thiền quán Phật giáo, thấy được an lạc. Càng đi sâu vào tư tưởng uyên áo của đạo Phật, họ càng thấy tâm hồn được tự tại, giải thoát.

Một số người tìm tòi nghiên cứu kinh sách nhà Phật không vì thiện ý, nhưng cuối cùng lại trở thành những tu sĩ đáng kính, có công lớn trong việc hoằng truyền Phật pháp tại các quốc gia Tây Phương. Ngày nay, nếu chúng ta vào một tiệm sách online, thí dụ Amazon.com, click vào chữ Buddhism, chúng ta sẽ thấy xuất hiện gần bốn chục ngàn tựa sách Phật giáo, hầu hết đều do người Tây Phương viết.

Câu hỏi thứ hai:

- Muốn tu tập theo Phật giáo, có cần phải bỏ tôn giáo của mình, chuyển qua đạo Phật không?

Thưa quý thính giả,

Ðiểm son của đạo Phật là tinh thần tôn trọng đời sống nội tâm và sinh mạng muôn loài. Tôn giáo, tín ngưỡng, là vấn đề rất tế nhị, có những ràng buộc tình cảm sâu xa đối với quá khứ và thân quyến của đương sự. Cho nên người Phật tử không thuyết phục người khác bỏ tôn giáo của họ để theo đạo Phật. Ðức Phật là bậc Giác Ngộ. Ðạo Phật là đạo Giác Ngộ. Giác thì không mê, cho nên người Phật tử không muốn ai bước vào đạo Phật bằng con đường mê tín. Những người từ đạo khác chuyển qua đạo Phật, phần lớn là do họ nghiên cứu kinh điển thâm sâu, hiểu được phần cốt tủy, tự ý đi tìm các vị tu sĩ để làm thủ tục gia nhập cộng đồng Phật tử. Cũng có những trường hợp không cần thủ tục gì cả, người muốn thực hiện những bước tu tập của đạo Phật cứ tự nhiên y theo lời dạy của đức Thế Tôn: “Không làm điều xấu ác, siêng làm điều thiện lành và tự thanh tịnh hóa tâm”, không để cho tâm hồn bị dính mắc vào bất cứ một giáo điều, một hình ảnh nào cả, như thế cũng xứng đáng là một Phật tử đúng nghĩa rồi.

Có rất nhiều thí dụ về thái độ tôn trọng các tôn giáo khác của người Phật tử. Chúng tôi xin đơn cử vài trường hợp, như vua A Dục, trị vì xứ Maurya, miền Bắc Ấn Ðộ từ năm 272 đến năm 236 trước công nguyên, mất năm 231. Ông là một Phật tử thuần thành, đã ứng dụng lời dậy của đức Phật vào việc trị nước, đem lại thanh bình cho toàn xứ Ấn Ðộ thời đó. Quan điểm của ông là làm sao cho dân chúng có một đời sống hạnh phúc, gồm tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, tôn trọng sự thật. Ông cũng là người cổ võ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật để cúng tế. Trong một trụ đá kỷ niệm, có khắc lời ông như sau:

- “Ta không nên chỉ đề cao tôn giáo của mình mà chê bai các tôn giáo của người khác, mà nên tôn trọng những điều hay của các tôn giáo khác nữa. Hành xử như thế, ta sẽ giúp cho nếp sống đạo của ta tăng trưởng và đồng thời cũng giúp những người thuộc các tôn giáo khác sống đạo. Nếu làm ngược lại, là chúng ta tự chôn vùi tôn giáo của mình và cũng làm hại những tôn giáo khác. Bất cứ ai tôn vinh tôn giáo mình trong khi chỉ trích các tôn giáo khác, mà nghĩ rằng: “Tôi ngợi ca, thờ phượng tôn giáo của tôi”, thật ra là làm thương tổn sâu xa cho tôn giáo của chính họ. Cho nên, sống hài hòa với nhau thì tốt hơn. Hãy lắng nghe, lắng nghe với thiện ý những học thuyết của các tôn giáo khác”.

Tiến sĩ Malasekara cũng nói :

- “Không bao giờ có chuyện đạo Phật truyền giáo bằng cách ép buộc những người không thích phải tin theo mình, lại càng không dùng các thủ đoạn gây áp lực, hoặc nịnh nọt tâng bốc, hoặc dối trá lừa phỉnh, để đạt được thắng lợi trong sự hoán chuyển tư tưởng người khác. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ tranh đua để giành người cải đạo như ở nơi chợ búa”.

Ðạo Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, người thì cho rằng đạo Phật chỉ lo cúng đám làm chay cho người chết, kẻ lại nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp với các bậc tu sĩ ở ẩn. Với mục đích trình bày sự trong sáng của đạo Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp trích dịch từ cuốn “What the Buddha Taught”, do hòa thượng Walpola Rahula giảng:

...”... Có một số người cho là đạo Phật quá cao siêu, một đường lối tu quá nghiêm túc, khắc khổ, khiến cho những người dân bình thường sống trong thế giới ngày nay không thể kham nổi. Như thế, nếu muốn thực hành giáo pháp, muốn làm một Phật tử chân chính, người ta phải rút lui vào các tu viện, hoặc những nơi vắng vẻ.

Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm rất đáng tiếc, do thiếu hiểu biết về giáo lý nhà Phật. Người ta thường vội vã có những kết luận sai lầm như thế, sau khi nghe một vài mẩu chuyện, hoặc tình cờ đọc một cuốn sách, mà vì thiếu sự tìm hiểu rộng rãi, tác giả đã viết về đạo Phật một cách phiến diện.

Giáo lý của nhà Phật không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ trong tu viện, mà là của tất cả mọi người, kể cả những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Tuân theo Bát Chánh Ðạo là sống trong tinh thần Phật giáo. Dù là tu sĩ hay cư sĩ, mọi người đều có thể áp dụng nguyên tác này vào cuộc đời, không phân biệt.

Ðại đa số dân chúng trên thế giới không thể trở thành tu sĩ, hay rút lui vào các hang động hoặc rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vậy nếu những người này mà không ứng dụng được lời dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày của họ thì dù những lời dạy ấy có cao siêu, tinh khiết đến đâu đi nữa, đối với họ cũng là vô dụng. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu đúng tinh thần của giáo pháp, -- không phải chỉ hiểu theo từ ngữ -- thì chắc chắn bạn có thể thực hành Phật pháp trong khi vẫn sống cuộc đời bình thường.

Có thể có một số người cảm thấy nếu ở ẩn tại một nơi xa xôi vắng vẻ, chấm dứt các hoạt động xã hội, thì sự hành trì Phật pháp sẽ dễ dàng và thoải mái hơn. Nhưng lại cũng có thể có người thấy rằng đời sống ẩn dật đó thật là tẻ nhạt, khiến cho cả tâm hồn và thể xác của họ đều uể oải, không thể giúp cho cuộc sống tinh thần và nội tâm của họ được thăng hoa.

Sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là phải xa lánh hẳn thế gian. Tôn giả Sariputta, một đại đệ tử của Phật nói rằng, một người có thể tu khổ hạnh trong rừng nhưng tâm vẫn đầy những tư tưởng ô nhiễm, bất tịnh, trong khi một người khác có thể sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành khổ hạnh, mà tâm lại thanh tịnh, trong sáng. Ngài nói, so sánh giữa hai người ấy, thì người sống cuộc đời thanh tịnh nơi làng mạc, thành thị, lại cao cả và giá trị hơn người kia rất nhiều.

Dường như đối với một số người thì sự lui về ẩn tu trong một nơi vắng vẻ, không bị quấy nhiễu phiền phức, sẽ cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu có thể thực hành Phật pháp tại nơi ồn náo, sống giữa đồng loại để giúp đỡ và phục vụ họ, thì lại càng can đảm và đáng khuyến khích hơn. Trong vài trường hợp, người ta có thể sống ẩn dật để tịnh tu một thời gian cho đời sống nội tâm thêm sâu sắc, đạo lực thêm bền chắc, ngõ hầu trau giồi cho nhân cách tăng trưởng, thêm khả năng để sau này giúp đỡ mọi người.

Mặc dầu vậy, nếu có người nào mà lại đem cả cuộc đời dành cho sự sống trong cô độc, chỉ nghĩ đến hạnh phúc và "cứu rỗi" cho riêng mình, không quan tâm đến đồng loại, thì điều này chắc chắn không phù hợp với lời dạy của đức Phật, vốn đặt nền tảng trên tình thương, lòng trắc ẩn và sự phục vụ tha nhân.

Kinh Sigala đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng quyến thuộc, như sau:

Có một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt về sáu Phương là Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để sì sụp lễ lạy.

Ðức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương có nghĩa khác. Phật pháp dạy rằng Phương Ðông là cha mẹ, Phương Nam là thầy dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ tôn kính có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Ðạo Phật coi sáu nhóm người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được tôn kính.

Nhưng làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?

Ðức Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:

- Thứ nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha mẹ là Trời. Từ ngữ “Trời” để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất, theo tư tưởng Ấn Ðộ. Cho nên ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.

Về phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái, phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo, tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.

- Thứ hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành. Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho trò.

- Thứ ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang. (Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của những con người bình thường). Về phía người vợ, phải tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè, thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn khéo và hoạt bát trong công việc.

- Thứ tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng: Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn cảnh khó khăn.

- Thứ năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc người làm công, phải lượng sức của người ta để mà giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta. Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn gian nói dối và phải tận tụy trong công việc

- Thứ sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật chất của tu sĩ,người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ đi trên chánh đạo, không lọt vào tà đạo.

Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống của một người Phật tử ...”...

www.*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-29-2006 , 09:17 PM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
PHẬT GIÁO LÀ DUY VẬT QUA CÁI NHÌN BÁT NHÃ BA LA MẬT

26 Tôi đọc sách Bát Nhã Ba La Mật kinh trực chỉ đề cương của Hoà thượng Thích Từ Thông, ở phần cuối sách có đề mục: Phật giáo là duy vật qua cái nhìn Bát nhã ba la mật. Quan điểm này của tác giả làm tôi rất ngạc nhiên và gây nhiều tranh cãi vì theo thiển ý của tôi cảm nhận về giáo lý Phật Đà thì Phật giáo siêu việt cả duy tâm lẫn duy vật. Mong quý Báo giải thích cho tôi được rõ hơn về vấn đề này. (TT, thành phố Vinh, Nghệ An)


TRẢ LỜI: Trước hết chúng tôi ghi lại nơi đây phần trích đoạn (mầu xanh) bài tham luận của Hòa Thượng Thích Từ Thông đọc trong cuộc Hội thảo tại Viện Khoa Học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh do Viện Triết học Trung ương tổ chức. Sau đó là hai câu trả lời: Một của Cư sĩ Vajra ở Canada và một của Ban Tư Vấn Báo Giác Ngộ, Việt Nam.

BÁT NHÃ BA LA MẬT,MỘT TRONG NHỮNG HỆ TƯ TƯỞNG GIÁO LÝ
CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Bài tham luận của Hòa Thượng Thích Từ Thông đọc trong cuộc Hội thảo tại Viện Khoa Học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh do Viện Triết học Trung ương tổ chức.
….
IV. PHẬT GIÁO LÀ DUY VẬT QUA CÁI NHÌN BÁT NHÃ BA LA MẬT
Tôi xin đơn cử một thí dụ nhỏ nhoi. Dù nhỏ nhoi nhưng là giáo lý cơ bản của Phật giáo.

Qua cái nhìn Bát Nhã Ba La Mật Phật nói: ....NGŨ UẨN GIAI KHÔNG"...
Dưới mắt người Phật giáo có học Phật, người ta có thể cho Đức Phật là nhà triết học duy vật ở thời đại 25 thế kỷ trước. Bởi vì trong bốn chữ NGŨ UẨN GIAI KHÔNG: ta thấy Đức Phật dạy cho các đệ tử:

1.Một hiện tượng vật thể nào ra đời cũng từ một hiện tượng hoặc nhiều hiện tượng khác kết hợp mà thành.

2.Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại khách quan. Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn trong quá trình vận động không ngừng. Sự vật này diệt đi, sanh lại sự vật khác, không có cùng tận.

3. Phủ định NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, có nghĩa là đánh đổ 3 lần rưỡi về tâm vương, tâm sở ở phía gọi là TÂM. Về vật chất chỉ phủ định có một lần rưỡi thôi
Thế thì dựa vào đâu mà người ta bảo đức Phật chủ trương DUY TÂM? Tại sao không nói Phật là nhà DUY VẬT hai mươi lăm thế kỷ trước?

Đành rằng trong kinh điển Phật rõ ràng có nói: "NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO"
Nhưng không phải vì vậy mà ai muốn phê phán chê trách kiểu nào cũng được. Cái chữ TÂM trong Phật giáo có:

- Nhục đoàn tâm
- Duyên lự tâm
- Chơn tâm
- Vọng tâm
- Tích tập tâm
- Tập khởi tâm
- Tích tụ tinh yếu tâm
- Tâm vương
- Tâm sở

DUY TÂM là thứ triết lý siêu hình. Mà siêu hình đồng nghĩa với hoang đường, viễn vông, không tư, hư tưởng. Những người Phật giáo có học giáo lý Phật, chúng tôi rất đồng ý về sự phê phán đó. Nhưng nếu ai đó, bảo rằng giáo lý đạo Phật là duy tâm siêu hình, thì xin lựa dùm trong các thứ TÂM vừa nêu, Phật giáo DUY thứ TÂM nào? Và giải thích vì sao nó đáng chê trách? ...."Như Lai thuyết chư tâm giai vi phi tâm thị danh vi tâm. Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc". Qua cái nhìn Bát Nhã Ba La Mật, Đức Phật đã phủ nhận cái tâm như thế đấy, mà bảo Đạo Phật DUY TÂM, vậy Phật đã DUY thứ TÂM nào?

V. ĐẠO PHẬT LÀ VÔ THẦN VỚI NHẬN THỨC BÁT NHÃ BA LA MẬT

Vì rằng vũ trụ quan của Phật giáo là TỨ ĐẠI DUYÊN SINH, Y THA KHỞI TÁNH.
Vì rằng nhân sinh quan của Phật giáo là NGŨ UẨN HỢP THÀNH
Con người tự định đoạt số phận của mình qua giáo lý NHÂN QUẢ LUÂN HỒI, trong kinh điển Phật ....."Kim sanh tiệm tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân"...

Qua cái nhìn Bát Nhã Ba La Mật: Quả VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC không phải địa vị dành riêng cho một Như Lai, hà huống có địa vị của một đấng "Thần linh" nào xen vào việc nội bộ của con người Phật giáo?

Tất cả giai vị, thấp nhất là Tu đà hoàn...cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật, đều không được xem là quả vị CHỨNG ĐẮC. Không một ai có quyền làm cái việc ban phúc giáng họa cho ai.

- "Tu Đà Hoàn danh vị nhập lưu nhi vô sở nhập, bất nhập sắc thanh hương vị xúc pháp thị danh Tu Đà Hòan”....
……
Trên đây là những tri kiến của người nhìn giáo lý Phật, qua lăng kính Bát Nhã Ba La Mật. Với tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi nêu ra đây, hy vọng được xem là những gợi ý. Là những điều gợi ý thôi, để các đồng chí có trách nhiệm ở Viện Triết Học Trung Ương nghiên cứu các triết học, trong đó có thứ triết học mà không triết học của Phật giáo. (Hòa Thượng Thích Từ Thông)
http://www.quangduc.com/kinhdien/251batnhabalamatkinh.html


CÂU TRẢ LỜI THỨ NHẤT:
Cư sĩ Vajra: (http://vnnews.net/forums/showthread.php?t=74480)

Nói Phật Pháp là Duy Vật là phỉ báng Chánh Pháp của Đức Phật đã dạy bởi vì Đức Phật dạy tất cả các hiện tượng sanh diệt đều là như mộng như huyễn.

Nói Phật Pháp là Duy Vật là Chấp Đoạn Diệt bởi vì tất cả các hiện tượng sanh diệt đều là Vô Thường.

Trong Kinh Đại Bảo Tích Đức Phật dạy trong thời Mạt Pháp có các chúng Ma hiện hình Tỳ Kheo lẫn vào trong Phật Pháp để mà phá hoại Chánh Pháp của Đức Phật.

Vạn Pháp Duy Tâm Tam Giới Duy Thức

Đây là câu trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy về tất cả mọi hiện tượng sanh diệt đều từ Tâm Vọng Tưởng Sanh Khởi (Tâm)

Ba cõi là do sự Phân Biệt Theo 8 Thức Sanh Diệt cho nên nói là Duy Thức.

Kinh Kim Cang nói là:

Quá Khứ Tâm chẳng thể được, hiện tại Tâm chẳng thể được, vị lai Tâm chẳng thể được.

Đây là nói Tâm Vọng Tưởng Sanh Diệt không có tự tánh, không có thật thể cho nên nói là Không Thể Được.

Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai là do Vọng Thức biến hiện rồi Phàm Phu lại Khởi Chấp duyên theo Niệm Vọng Tưởng cho nên Đức Phật mới nói là Tâm trong 3 đời chẳng thể được.

Chân Như hay là Chân Tâm là Tâm không duyên theo Vọng Tưởng Phân Biệt của 3 đời.

CÂU TRẢ LỜI THỨ HAI:
Ban Tư Vấn Báo Giác Ngộ, Saigon, Việt Nam (Nguồn: Báo Giác Ngộ 259)

Bát Nhã Ba La Mật kinh trực chỉ đề cương (BNBLMKTCĐC) là giáo án Trường Cao cấp Phật học (nay là Học viện Phật giáo) của HT.Thích Từ Thông. Tác giả là một trong những vị tôn túc có thẩm quyền về Đại thừa (Mahayana) của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Phật giáo là duy vật qua cái nhìn Bát nhã ba la mật là tiêu đề thuộc phần IV của tham luận Bát Nhã Ba La Mật, một trong những hệ tư tưởng giáo lý của Đại thừa Phật giáo Việt Nam, đọc trong cuộc Hội thảo tại Viện Khoa học xã hội TP.HCM, do Viện Triết học Việt Nam tổ chức, được in ở phần Phụ lục sách (Thích Từ Thông, BNBLMKTCĐC, NXB. TP.Hồ Chí Minh, 1999, tr.152).

Trước hết, chúng ta hãy xác định khái niệm chủ nghĩa duy vật. Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, "Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước và tinh thần, tư tưởng có sau, và điều đó có nghĩa là tính vĩnh viễn, tính vô hạn của nó trong thời gian và không gian. Coi ý thức là sản phẩm của vật chất …" (Từ điển Triết học, NXB Sự Thật, 1986, tr. 139 - 140); "bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh rằng, bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất" (Giáo trình triết học Mác-Lênin, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.169).

Đứng trên lập trường Duyên sanh và Y tha khởi, tuệ giác Bát nhã ba la mật "chiếu kiến" vạn pháp là KHÔNG (Sunyata), Ngũ uẩn giai không, vô tự tính, vô ngã tính. Bát nhã ba la mật đã phân tích và nhận thức thế giới khách quan đến cùng tột và nhận ra rằng mọi hiện tượng đều do Duyên sanh, vô tự tính, là KHÔNG. Điều này có nghĩa rằng, với Bát nhã ba la mật thì bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào ra đời cũng do nhiều sự vật, hiện tượng khác kết hợp mà thành (Duyên sanh). Cái này sở dĩ có, tất yếu phải dựa vào những cái khác (Y tha khởi). Mặt khác, dưới tuệ giác Bát nhã ba la mật thì thế giới khách quan luôn vận động, sanh diệt tương tục vô cùng vô tận. Sự vận động này có tính cách tự nhiên, không do bất kỳ ý chí của một đấng siêu nhiên nào chi phối, sanh tức diệt mà diệt cũng tức sanh, vì bản chất của thế giới tự nhiên là Duyên sanh, vô ngã nên chúng liên tục vận động trong tương hệ "trùng trùng duyên khởi". Nếu một nhà duy vật luận hay duy vật biện chứng khi nghiên cứu Bát nhã ba la mật thì chắc chắn phải thán phục tuệ giác của Đức Phật về phương diện nhận thức thế giới. Như vậy, ở một chừng mực nào đó, xét trên phương diện nhận thức thế giới khách quan, có thể xem chủ nghĩa duy vật có phần tương hợp với cái nhìn của Bát nhã ba la mật.

Mặt khác, quan điểm "Phật giáo là duy vật qua cái nhìn Bát nhã ba la mật" mà tác giả đưa ra, xét trong tinh thần chủ đạo của tham luận là để khẳng định rằng Phật giáo không phải duy tâm, dù là duy tâm siêu hình, chủ quan hay khách quan… Điều này thể hiện rõ trong phần XXXI của tác phẩm, Vấn đề sắc tâm qua cái nhìn của Bát nhã ba la mật: "Nhìn vấn đề SẮC TÂM qua nhận thức của Bát nhã, người ta có thể phê phán Đức Phật, nghiêng về bên VẬT, Ngài quả là người DUY VẬT thời xưa! Vì Ngài đã đánh đổ mạnh về ý niệm MÊ TÂM. Các thứ DUY TÂM siêu hình, duy tâm chủ quan, khách quan… hẳn là không có chỗ đứng trong nền giáo lý Phật" (Sđd, tr. 130).

Như đã trình bày, tuệ giác Bát nhã ba la mật chiếu kiến Ngũ uẩn giai KHÔNG thì rõ ràng cả Tâm lẫn Vật đều không còn chỗ đứng trong tuệ giác ấy. Với Bát nhã ba la mật thì Phật giáo lại càng xa lạ với duy vật theo các khái niệm về duy vật như đã nêu. Tuy nhiên, cứ theo cách luận giải của tác giả trong tham luận, khi so sánh về sự phủ định Ngũ uẩn giai không thì "phần TÂM bị phủ định đến ba lần rưỡi, còn phần VẬT chỉ phủ định có một lần rưỡi" (Sđd, tr 153), do đó, nếu gắng gượng nói duy thì duy vật nhiều hơn duy tâm. Theo chúng tôi, quan điểm "Phật giáo là duy vật qua cái nhìn Bát nhã ba la mật" của tác giả chỉ là một phương tiện trong vô vàn phương tiện nhằm mục tiêu gợi mở một sự liên hệ. Bởi lẽ, dưới tuệ giác Bát nhã ba la mật thì vạn pháp chỉ còn một thực tướng vô tướng, là KHÔNG. Quả thực, đây là một vấn đề mang tính học thuật chuyên sâu, chúng tôi chỉ làm thao tác gợi mở bước đầu và rất hoan hỷ khi nhận được sự quan tâm, chia sẻ của độc giả, ngõ hầu chúng ta có một cái nhìn toàn cục về vấn đề đã được nêu ra.

*******hoasen.org
NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 25302
Old 10-30-2006 , 11:07 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
HỎI:

Địa phương tôi có xảy ra hiện tượng lạ, một cụ ông tuổi Tỵ vừa mất, khi khâm liệm thì thấy một con rắn to nằm dưới giường, đến lúc đưa đám thì có một con rắn nữa nhỏ hơn nằm trên bàn vong. Mọi người phân vân không biết đây có phải sự hiển linh hay không? Có phải vì ông tuổi Tỵ hóa rắn hay vì nguyên nhân nào? Là Phật tử lâu năm nhưng tôi cũng không lý giải được hiện tượng này cho bà con an tâm, mong quý Báo giải thích.

ĐÁP:

Hiện tượng các loài động vật trong tự nhiên như rắn, rết và côn trùng vào nhà là chuyện rất bình thường. Thường thì những sinh vật này có khả năng nhận biết trước những biến đổi trong tự nhiên như các rung động địa chấn, thay đổi thời tiết đột ngột… rồi phản xạ theo bản năng tìm nơi trú ẩn. Vì thế, rắn rết chui vào gầm giường và nằm trên bàn thờ của một người tuổi Tỵ (tuổi con rắn) vừa mất là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, không hề có sự hiển linh hay hóa kiếp thành rắn (liên quan đến người tuổi Tỵ vừa mất) trong trường hợp này.

Đạo Phật chủ trương có luân hồi, tức một người sau khi chết đi, tùy theo nghiệp lực đã gây tạo sẽ tái sanh vào cảnh giới tương ứng trong lục đạo (trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục). Tuy vậy, cần phải có khoảng thời gian tối đa từ 1 đến 49 ngày (tùy nghiệp mỗi người) để thần thức tìm được cảnh giới tái sanh. Mặt khác, đối với những loài noãn sanh (sanh ra từ trứng) và thai sanh (sanh ra từ bào thai) thì thần thức cùng với tinh cha, huyết mẹ phải đủ duyên hòa hợp thì sự thọ thai mới hình thành, mầm sống mới xuất hiện và phải chờ thêm một thời gian nữa đến khi ra khỏi trứng hay bào thai thì sự sống độc lập của một chúng sanh mới thực sự bắt đầu.

Nói như thế để làm sáng tỏ vấn đề rằng, giả như nghiệp lực của một người phải tái sanh vào cảnh giới súc sanh (loài rắn chẳng hạn) thì phải trải qua một thời gian chứ không thể tức thời sau khi chết liền trở thành súc sanh được. Riêng về chuyện hiển linh, trong các kinh luận Phật giáo nêu rõ những đặc tính của thần thức (thân Trung ấm) như: di chuyển rất nhanh theo ý muốn, không bị chướng ngại với mọi vật cản (ngoại trừ tòa Kim cang của Phật và bào thai mà thần thức thọ sanh); nghe được rất xa; thấy biết rõ ràng mọi thứ, kể cả tâm niệm của người khác; có tình cảm buồn vui rõ rệt; ăn được mùi vị các thực phẩm (hương ấm) v.v… nhưng không thấy đề cập đến việc thần thức “hiển linh” thành một sự vật, hiện tượng cụ thể.

Do vậy, theo quan điểm Phật giáo, hiện tượng “lạ” kể trên chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, rất bình thường. Có thể tại thời điểm ấy ở địa phương, những ngôi nhà khác cũng có rắn tìm đến trú ẩn nhưng không ai lưu tâm. Vì thế, hàng Phật tử đối trước những hiện tượng khác lạ nảy sinh trong đời sống cần tỉnh giác, không nên suy luận theo khuynh hướng hoang đường, huyền hoặc dễ rơi vào tà kiến, mê tín mà cần phát huy tuệ giác để quán sát cuộc sống trong tinh thần chánh kiến.


www.chuyenphapluan.com
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 02:42 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.