VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-03-2009 , 02:46 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
HÃY XÉ LÒNG



Một vị ẩn tu sống đơn độc trên ngọn núi cao. Ngày đêm ông ăn chay cầu nguyện. Ông ăn chay rất nghiêm ngặt và cầu nguyện rất tha thiết. Ðể thưởng công, Chúa cho xuất hiện một ngôi sao trên đầu núi. Khi ông ăn chay và cầu nguyện ít, ngôi sao mờ đi. Khi ông ăn chay nhiều và cầu nguyện nhiều thì ngôi sao càng sáng lên.


Một hôm ông muốn leo lên đỉnh cao nhất của ngọn núi. Khi ông chuẩn bị lên đường thì một bé gái trong làng đến thăm và ngỏ ý muốn đi cùng ông. Thày trò hăng hái lên đường. đường càng lên càng dốc dác khó đi. Mặt trời càng lúc càng nóng gắt. Cả hai thày trò ướt đẫm mồ hôi và cảm thấy khát nước. Nhưng không ai dám uống. Em bé không dám uống trước khi thày uống. Vị ẩn tu không dám uống vì sợ mất công phúc trước mặt Chúa. Nhưng nhìn thấy bé gái mỗi lúc mệt thêm, thày ẩn tu thấy thương, nên mở nước ra uống. Lúc ấy cô bé mới dám uống. Uống nước xong, cô bé mỉm cười rất tươi và cám ơn thày.

Thày ẩn tu len lén nhìn lên đầu núi. Thầy sợ ngôi sao biến mất vì thày đã không biết hãm mình. Nhưng lạ chưa, trên đầu núi thày thấy không phải một mà có đến hai ngôi sao xuất hiện. Thì ra, để thưởng công vì thày biết nghĩ đến người khác, Chúa đã cho xuất hiện một ngôi sao nữa, sáng không kém gì ngôi sao kia.

Mùa chay được mở đầu bằng nghi thức xức tro và một ngày ăn chay kiêng thịt Có lẽ có nhiều người thắc mắc tại sao ngày xưa người Do thái rắc đầy tro trên đầu, ngồi cả trên đống tro, mà ngày nay ta chỉ xức một chút ít tro, và tại sao ngày xưa ăn chay trong bốn mươi ngày, mà ngày nay chỉ còn ăn chay có 2 ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu tuần thánh ? Thưa vì Giáo hội muốn ta càng ngày càng đi vào tinh thần hơn là chỉ giữ hình thức bên ngoài.

Mục đích của Mùa Chay là giúp ta trở về với Chúa và với anh em bằng sám hối nhìn nhận tội lỗi của chính mình Việc xức tro, ăn chay, cầu nguyện, làm việc thiện, chỉ là những phương tiện.

Xức tro là để tỏ lòng sám hội Xức nhiều tro mà trong lòng không thật tình sám hối thì có ích gì. Ngày nay, Giáo hội chỉ dùng một chút tro tượng trưng để nhắc nhớ ta. Xức tro trên đầu không quan trọng bằng xức tro trong tâm hồn.

Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy tâm hồn mình đã ra hoen ố vì tội lỗi. Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rõ ta đã bôi tro trát trấu vào khuôn mặt Thiên chúa, làm lem luốc khuôn mặt Giáo hội, làm ô danh cho đạo thánh của Chúa.

Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rõ ta đã làm cho mối quan hệ với tha nhân bị vẩn đục vì những tham vọng, những ích kỷ, những nhỏ nhen của ta.

Hãy xức tro vào tâm hồn để lòng ta xót xa, đau đớn, hối hận vì những tội lỗi đã phạm.

Ăn chay không phải là một hình thức làm cho qua lần, chiếu lệ Ăn chay không phải chỉ là nhịn ăn một hai bữa cơm. Ăn chay có mục đích nhắc nhớ ta hãy biết hãm dẹp thân xác, hãm dẹp những tính mê tật xấu, hãm dẹp những gì làm mất lòng Chúa và làm phiền lòng anh em. Giáo hội giản lược việc ăn chay vào 2 ngày trong một năm, không phải vì coi nhẹ việc ăn chay, nhưng vì Giáo hội muốn tránh thái độ ăn chay hình thức, để tập trung vào việc ăn chay trong tâm hồn.

Nhịn ăn một bát cơm không bằng nhịn nói một lời có thể làm buồn lòng người khác. Nhịn ăn một miếng thịt không bằng nhịn đi một cử chỉ xúc phạm đến anh em. Nhịn một bữa cơm ngon không bằng nhường nhịn, tha thứ, làm hoà với nhau. Kềm chế cơn đói không bằng kềm chế cơn nghiện rượu, nghiện ma tuý, nghiện cờ bạc. Kềm chế cơn khát không bằng kềm chế dục vọng, tính tham lam, thói kiêu ngạo.

Chính vì thế mà tiên tri Dô-el đã kêu gọi dân chúng : "Hãy xé lòng chứ đừng xé áo" Người Do thái có tục lệ khi ăn chay, thống hối thì xé áo ra. Ðó là một hình thức biểu lộ sự thống hối. Ðiều quan trọng là có tâm hồn thực sự sám hối.

Xé áo không bằng xé lòng ra khỏi những tham lam, bất công. Xé áo không bằng xé lòng ra khỏi thói lười biếng, khô khan, nguội lạnh. Xé áo không bằng xé lòng ra khỏi những dính bén trần tục. Xé áo không bằng xé lòng ra khỏi thói gian dối, giả hình.

Chỉ khi thực sự xé lòng ra như thế, ta mới gạt bỏ được những chướng ngại ngăn cản ta đến với Chúa. Chỉ khi thực sự xé lòng ra như thế, ta mới đến gần Chúa, sống tình thân mật với Chúa, hưởng được tình yêu thương của Chúa.

Ðể ăn chay trong tinh thần và để thực sự hướng về tha nhân, nhiều nước trên thế giới đã biến việc ăn chay thành những hành động bác ái cụ thể Mỗi ngày trong mùa chay, họ bớt chi tiêu một chút, gửi tiền tiết kiệm giúp những nơi nghèo khổ, bị thiên tai. Nhờ thế, việc ăn chay của họ không còn là hình thức, nhưng là những hi sinh thực sự và trở nên những việc làm đầy tình bác ái huynh đệ.

Bây giờ thì chúng ta đã hiểu thế nào là ăn chay và sám hối đẹp lòng Chúa Mỗi người hãy tự đặt ra cho mình, cho gia đình mình một chương trình sống Mùa Chay. Ước gì mùa Chay năm nay sẽ là khởi điểm của một đời sống mới, giúp mỗi người chúng ta thực sự thay đổi đời sống, mến Chúa hơn, yêu người hơn.

Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con là kẻ tội lỗi. Amen.



TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-05-2009 , 01:59 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
CON ÐƯỜNG CHÚA ÐI


Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Ðức Giêsu long trọng vào thành Giêruxalem. Kết cục, Ðức Giêsu chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá. Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.


Ðám rước tưng bừng ngày Lễ Lá mời gọi ta cùng tiến bước theo Chúa.


Tiến bước theo Chúa để hiểu rằng hành trình không kết thúc tại cổng thành Giêruxalem với đám đông ngưỡng mộ, với cành lá và quần áo trải thảm đường đi, nhưng kết thúc trên Núi Sọ với thập giá, với những lời nhục mạ, với hai tội nhân đồng hành. Ðức Giêsu không xưng vương trước đám đông cuồng nhiệt nghênh đón, nhưng lại xưng vương trước mặt Philatô, khi tay đã bị trói, khi thân thể đã tan nát không còn hình tượng con người, khi đã mất hết uy tín, đứng trước vành móng ngựa như một phạm nhân. Danh hiệu là Vua chỉ được chính thức ghi bằng chữ viết khi Người bị treo trên thập giá.


Hành trình của Chúa là một hành trình gian khổ. Ðích điểm chỉ đạt tới sau khi đã từ bỏ tất cả, không phải chỉ là nhà cửa, y phục mà cả những người thân, cả thành công, cả danh dự, cả mạng sống.


Tiến bước theo Chúa để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa vung tay vung chân hoan hô Chúa, hôm sau đã vội vung tay vung chân kết án Chúa. Cũng đám đông ấy hôm trước vừa reo hò chúc tụng Chúa, hôm sau cũng vẫn reo hò, nhưng để buộc tội Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa chen lấn nhau để nghênh đón Chúa, hôm sau đã xúm đông xúm đỏ để hành hạ Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa cởi áo, chặt cành lá lót đường Chúa đi, hôm sau đã lột áo Chúa, chặt cành gai cuốn lên đầu Chúa.


Tiến bước theo Chúa để dứt khóat lựa chọn cho mình một con đường. Ðường vào Giêruxalem chỉ có một và rộng thênh thang. Mọi người đều tụ tập và cùng chung lối bước. Nhưng đường lên Núi Sọ chật hẹp và chia ra muôn ngả. Mỗi người đi theo con đường của mình. Ðường vào Giêruxalem đông vui và phấn khởi vì mọi người ca hát tưng bừng. Nhưng đường lên Núi Sọ thật buồn thảm, chỉ có tiếng roi vọt, tiếng than khóc, tiếng chửi rủa. Ðường vào Giêruxalem mọi người đều theo Chúa, mọi người đều là môn đệ Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ chỉ còn ít người theo Chúa. Có những người đã phản bội. Có những người đã trốn chạy. Có những người đã chối bỏ Thày. Ðường vào Giêruxalem có con lừa chở Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ Chúa phải vác thánh giá.


Ði theo Chúa trên đường vào Giêruxalem thì dễ dàng và vui vẻ. Nhưng theo Chúa trên con đường Núi Sọ mới thật chông gai.


Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ dễ dàng hoà nhập vào đoàn người cầm cành lá đón rước Chúa. Nhưng khi Chúa đi lên Núi Sọ, tôi sẽ rẽ sang đường nào ? Tôi sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa ? Tôi sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô ? Tôi sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ ? Tôi sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa ? Hay tôi cũng theo quân lính đánh đập Chúa ? Trước sau gì tôi cũng phải lựa chọn một con đường.

***

Lạy Chúa, xin cho con luôn tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi. Xin thêm sức cho con để con kiên trì theo Chúa trên đường lên Núi Sọ. Amen.


TGM. Ngô Quang Kiệt
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-06-2009 , 01:13 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
ĐIỀU CHÍNH YẾU NHẤT ĐỂ THEO CHÚA LÀ TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Nguyễn Chính Kết



1. «Vui mừng đi bán tất cả những gì mình có» trước tiên phải là một thái độ nội tâm.

Trong dụ ngôn này, để mua được kho báu hay viên ngọc quý, người mua phải «vui mừng đi bán tất cả những gì mình có» thì mới mua được kho báu hay viên ngọc ấy. Với dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn nói: để đạt được sự sống đời đời, con người phải sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì mình có thì mới xứng đáng với sự sống ấy. Đối với Thiên Chúa, thái độ nội tâm quan trọng hơn việc làm bên ngoài. Người Việt vẫn nói: «Thèm lòng chứ không thèm thịt». Đức Giêsu cũng nói: «Ta muốn tình yêu chứ không cần lễ vật» (Mt 9,13; 12,7). Đương nhiên ai có thái độ nội tâm thật sự, thì thái độ ấy tất nhiên phải thể hiện thành hành động khi cần hoặc khi có điều kiện thể hiện. Vậy điều chính yếu nhất để đạt được sự sống đời đời là thái độ sẵn sàng từ bỏ mọi sự, không chừa lại cho mình một thứ gì.

Thiên Chúa luôn đòi hỏi những ai theo Ngài một thái độ như vậy trong nội tâm. Một khi ta đã thật sự có thái độ ấy – thường được biểu lộ tự nhiên bằng những hành động cụ thể – thì Ngài không nhất thiết buộc ta phải tiếp tục từ bỏ thật sự bằng hành động. Ngài đã biết rõ lòng ta rồi! Trái lại, trong rất nhiều trường hợp, Ngài còn ban cho ta nhiều điều vượt khỏi tầm mơ ước của ta. Chính Đức Giêsu nói: «Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau» (Mc 10,29-30). Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn đòi hỏi ta phải có thái độ nội tâm là sẵn sàng từ bỏ mọi sự.



2. Điều chính yếu nhất là từ bỏ «cái tôi» của mình

Điều quan trọng nhất mà ta phải ưu tiên từ bỏ, không phải là những gì thuộc vật chất hay quyền lực – cho dù ta vẫn phải sẵn sàng từ bỏ bất kỳ lúc nào – cho bằng từ bỏ chính «cái tôi» của ta. Nếu ta chưa từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những gì ta đã từ bỏ, vẫn bị kể như chưa từ bỏ gì cả. Có từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những từ bỏ khác của ta mới có giá trị. Vì thế, với những kẻ muốn theo Đức Giêsu, muốn làm môn đệ Ngài, Ngài đưa ra những điều kiện thật rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24; Lc 9,23). Một người không từ bỏ chính mình, dù có chính thức mang danh theo Ngài, thì cũng chỉ là theo Ngài kiểu «hữu danh vô thực» mà thôi. Và việc từ bỏ chính mình phải được thể hiện bằng việc sẵn sàng chấp nhận «vác thập giá mình», nghĩa là sẵn sàng chấp nhận những thiệt hại, mất mát, đau khổ xảy đến với mình vì sự từ bỏ ấy.



3. Muốn biết ta đã từ bỏ chính mình chưa, thì hãy tự xét xem

Muốn biết ta đã từ bỏ chính mình, tức từ bỏ «cái tôi» của mình chưa, ta chỉ cần xét xem ta phản ứng thế nào trong một vài trường hợp điển hình sau đây:

– Khi có ai nói động chạm đến «cái tôi», đến lòng tự ái của ta, đến quyền lợi, quyền bính, danh dự của ta?

– Khi ta muốn một ai đó gọi ta bằng ông, bằng bố, bằng bác, mà họ lại gọi ta bằng chú, bằng anh, thậm chí bằng em? Ta muốn họ xưng là con, là cháu, mà họ lại xưng là tôi?

– Khi ta đưa ý kiến của ta ra, mà có ai đưa ý kiến ngược lại?

– Khi có ai muốn sửa một lỗi nào đó của ta làm thiệt hại đến việc chung, hay làm mọi người khó chịu?

Nếu phản ứng của ta là nổi giận lên ngay, tỏ vẻ khó chịu tức khắc, muốn ăn thua đủ, muốn “đì” người xúc phạm đến ta, hoặc tìm cách chống chế, chối phăng lầm lỗi mình, chẳng cần xét xem ta có thật sự lỗi lầm hay không… Phản ứng như vậy chứng tỏ ta còn đặt nặng «cái tôi» của mình quá mức, chưa từ bỏ mình chút nào cả, hoặc chưa từ bỏ được bao nhiêu. Con đường tâm linh của ta như thế mới chỉ chập chững những bước đầu tiên thôi; đích thánh thiện mà ta nhắm tới còn xa lắm, phải nói là “xa tít mù khơi”!



4. Nền tảng của việc theo Chúa, của sự thánh thiện

Trong đời sống Kitô hữu, rất nhiều khi ta không nhận chân ra được đâu là điều chính yếu, là điều cốt tủy, mặc dù lời Chúa nói lúc nào cũng cứ rõ rành rành! Vì không nhận ra điều chính yếu nên ta cứ lo thực hiện những điều tùy phụ vốn chẳng có giá trị gì trước mặt Chúa khi mà điều chính yếu Ngài yêu cầu ta thì ta chẳng quan tâm thực hiện. Điều kiện duy nhất mà Ngài buộc ta phải có để theo Ngài là «từ bỏ chính mình» và «vác thập giá mình», nhưng thử hỏi những người tự cho rằng mình đang theo Chúa đã thật sự coi điều này là chính yếu chưa, chứ đừng nói tới việc đã thực hiện được điều đó hay chưa! Khi ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình», thì mọi việc đạo đức của ta dù lớn lao đến đâu cũng chẳng có giá trị bao nhiêu. Vì lúc ấy ta làm mọi sự vì ta, chứ không phải vì Chúa hay vì tha nhân, mặc dù xem ra là như vậy. Rất có thể ta làm những việc có vẻ vị tha, tốt lành chỉ là để được khen ngợi, được nể phục, được thăng tiến bản thân, hoặc để Chúa trả công bội hậu sau này, v.v… chứ không phải vì yêu thương. Nếu ta chưa thật sự từ bỏ mình, thì hầu như mọi thứ tình yêu của ta chỉ là tình yêu vị kỷ: ta chỉ yêu bản thân mình mà thôi, nhưng lại yêu qua tha nhân chứ không phải yêu chính tha nhân… Ta cho ra tình yêu là để nó lại trở về với chính mình.

Tình yêu đích thực được định nghĩa bằng sự ra khỏi chính mình để đến với Chúa hay tha nhân. Nếu ta chưa từ bỏ mình, thì mọi sự ra khỏi chính mình chỉ là giả tạo bề ngoài chứ không có thực chất. Từ bỏ mình chính là điều kiện nền tảng của tình yêu chân thực. Không từ bỏ mình thì không bao giờ có tình yêu chân thực. Và chỉ có tình yêu chân thực mới làm cho các hành động của ta, dù nhỏ mọn nhất, trở nên có giá trị lớn lao. Không có tình yêu, thì việc làm của ta, dù vĩ đại đến đâu, cũng vô giá trị trước Thiên Chúa (x. 1Cr 13,3). Từ bỏ mình chính là nền tảng của tình yêu, và tình yêu chính là gốc rễ của sự thánh thiện. Sự thánh thiện không có một nền tảng nào khác ngoài tình yêu. Vì thánh thiện là giống như Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16).

Điều chính yếu mà Thiên Chúa muốn ta làm, ta lại không làm, mà cứ mải mê làm những điều tùy phụ, thì ta sẽ phải rất ngạc nhiên khi đến trước tòa Chúa. Ngài đã cảnh báo trước: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?” Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23). Chúng ta thử nghĩ xem: làm sao những người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng có thể sống hòa thuận được với nhau trên thiên đàng? Cho dù họ có giữ được đủ mọi lề luật, làm đủ mọi việc lành phúc đức ở trần gian này?

Để trồng lúa, điều quan trọng nhất không có không được, là ta phải có hạt lúa. Có hạt lúa rồi mới nói đến chuyện bón phân, tưới nước, làm cỏ… Nếu ta chỉ chăm lo chuyện bón phân, tưới nước, làm cỏ mà không hề nghĩ đến chuyện mua hạt giống, thì mọi sự ta làm dù chăm chỉ và tốn công tới đâu cũng vô ích. Vì thế, chúng ta cần phải đặt lại vấn đề cho đúng, kẻo việc giữ đạo của ta trở thành «xôi hỏng, bỏng không», chẳng được gì cả! Thiết tưởng điều căn bản nhất của việc giữ đạo, của việc theo Chúa, chính là «từ bỏ chính mình». Kẻ từ bỏ chính mình để sống yêu thương thật sự, thì dù không mang danh theo Chúa cũng là những người theo Chúa đích thực. Còn kẻ vẫn coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, thì dù có mang danh theo Chúa cách chính thức đến đâu, cũng chỉ là theo Chúa cách giả tạo mà thôi!


********

Dụ ngôn chiếc lưới của Đức Giêsu cho biết, ngày tận thế, những người gọi là theo Chúa sẽ bị tách ra làm hai: kẻ theo đích thực và kẻ chỉ theo Chúa cách giả danh. Tiêu chuẩn mấu chốt để phân biệt chính là sự «từ bỏ chính mình» mà Đức Giêsu đã đòi hỏi những ai theo Ngài phải có, như điều kiện tiên quyết và chính yếu. Vì thế, cần phải nhận ra việc từ bỏ mình là chính yếu và quan trọng đến thế nào, và biết ưu tiên thực hiện điều ấy trước tất cả những điều tốt lành khác.




Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-07-2009 , 05:28 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
THỨC TỈNH

Khổng Nhuận



Thức Tỉnh là một chủ đề được phát triển thành một loạt bài, dựa trên tư tưởng của linh mục dòng Tên Anthony De Mello. Ngài là một nhà Linh hướng, nhà trị liệu, vị Linh sư. Ngài luôn tỏ ra là một vị Linh hướng tuyệt vời, giới thiệu người ta đến với Thiên Chúa bằng con đường thực nghiệm tâm linh. Với một chút lý thuyết soi sáng cho phần thực hành mà chúng ta quen gọi là Linh thao.

Trước đây, chúng ta làm quen với những bài Nền tảng Sống Đời Kitô hữu. Sau đây chúng ta sẽ tiếp xúc với tư tưởng xoay quanh chủ đề Thức Tỉnh và thực tập ngay trong đời sống của mình qua những bài Linh Thao thực hành.

Chúc quý vị Khám Phá Ra Những Ánh Sáng của Thần Khí Thiên Chúa qua những bài lý thuyết và Cảm Nhận Được Sức Mạnh của Thần Khí Ngài qua những bài Linh Thao thực hành từng ngày, từng ngày…



Câu chuyện mở đầu: ĐẠI BÀNG GÀ

(Theo chuyện kể của linh mục Tony De Mello nhưng phóng tác phần kết rạng ngời hơn)

Có người nhặt được quả trứng đại bàng, đem bỏ vào ổ gà đang ấp trong chuồng. Chú đại bàng con nở ra và lớn lên cùng lứa với đàn gà con.

Cứ thế suốt đời đại bàng con chỉ làm những việc mà lũ gà vẫn làm, và cứ tưởng mình là một gà con chết tiệt. Nó cũng bới đất tìm sâu bọ, cũng kêu chíp chíp như anh em gà.

Một hôm, ngước nhìn trời cao, nó trông thấy một con chim tuyệt đẹp bay phía trên trong bầu trời lồng lộng thênh thang. Với dáng vẻ uy nghi dũng mãnh, cánh chim ấy nhẹ nhàng băng giữa cuồng phong, chỉ lâu lâu mới khẽ nhịp đôi cánh vàng mạnh mẽ của mình.

Đại bàng gà kinh hãi buột miệng: “Trời! Cái gì vậy?”.

Lũ bạn gà tranh nhau trả lời: “Đó là đại bàng - vua của các loài chim. Đại bàng thuộc trời cao, còn bọn mình thuộc về mặt đất. Bọn mình chỉ là một lũ gà vô danh tiểu tốt.”

Một buổi chiều man mát trong khu vườn xanh tươi, cả lũ gà đang tung tăng vui đùa, bỗng nhiên cả bọn láo nháo trốn chạy tán loạn. Đại bàng gà còn đang ngơ ngác, vút một cái, nó đã nằm gọn trong vòng tay của bác đại bàng. Mở mắt ra, nó đã thấy mình ở tuốt trên đỉnh núi chót vót, rung rinh trên cành cây bên bờ hồ.

Bác Đại bàng hỏi: Chú mày là gì?

Đại bàng gà trả lời với vẻ rất xác tín: Cháu là gà con.

Bác Đại bàng dứt khoát: Chú mày là đại bàng.

Đại bàng gà ngang bướng đốp chát: Không phải, từ bé, mọi người bảo cháu là gà. Có ai gọi cháu là đại bàng đâu.

Thôi được, thử nhìn xuống hồ nước mà xem, mặt mũi chú mày giống lũ gà con chết tiệt hay giống vẻ oai phong của ta.

Đại bàng gà nghiêng mình trên mặt hồ trong veo và cực kỳ ngạc nhiên, lần đầu tiên khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình: Thì ra cháu quả thật là đại bàng. Thế mà từ trước tới nay cháu cứ tưởng mình là tên gà con chết nhát.

Từ đó đại bàng gà tập sống đời đại bàng chính danh. Thời gian đầu tập bay quả là khó! Cả mấy tháng trời mới bay cao chừng vài thước, rồi tháng này qua tháng kia, nó đã bay cao hơn.. Cuối cùng nó vui sướng tung bay trên bầu trời thênh thang tự do bất tận.

Nhìn xuống mặt đất, nó bỗng thấy hàng ngàn chú đại bàng gà vẫn còn nhọc nhằn bươi đất tìm giun dế. Nó biết mình phải làm gì để giúp đỡ anh em mình thoát khỏi cảnh tù túng, chật hẹp, để tất cả đều vui hưởng trong khung trời bát ngát, lồng lộng hoan lạc bình an và hạnh phúc.
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-08-2009 , 11:34 AM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
BỮA TIỆC LY ... TÂM SỰ BUỒN



Giờ phút chia tay, giây phút biệt ly, đó là giờ phút quan trọng nhất của một đời người và nhất là của một con người sắp phải vĩnh viễn ra đi. Vì thế, Chúa Giêsu cũng đã chuẩn bị cho giờ phút đó. Ngài đã sai Phêrô và Gioan từ Bethania đến Giêrusalem để chuẩn bị cho Ngài ngày lễ Tiệc Ly. Đó là đêm cuối cùng Ngài sống chung với các môn đệ và Ngài cũng muốn tâm sự nhiều điều với các môn đệ mình.

Trước giờ phút tử biệt, Ngài cảm thấy thương các môn đệ, những con người đã từng sát cánh với Ngài cũng như đã từng chia xẻ với Ngài tất cả những vui buồn sướng khổ của cuộc đời, nên Ngài muốn để lại những lời trăn trối, những lời dặn dò, những lời di chúc của một người cha đối với con, của một người thầy đối với trò, của một người bạn đối với bạn như một kim chỉ nam để hướng dẫn đời họ khi Ngài khuất bóng. Đồng thời Ngài cũng muốn có thêm sự can đảm, sự an ủi và sức mạnh từ buổi hiện diện cuối cùng nầy với các bạn Ngài trước giờ phút lên đường chịu tử nạn.

Nhưng quả thật, không may cho Ngài, và chính Ngài cũng không thể ngờ được điều đó lại có thể xảy ra là: trong bữa tiệc ly đó, một cuộc tranh cãi nổi lên giữa họ để xem ai là người lớn nhất trong số họ. Buổi tiệc mà Ngài đã chuẩn bị từ lâu lại bắt đầu bằng một cuộc cãi vã về một điều rất xa lạ với tinh thần của Ngài. Ngày cuối cùng của cuộc đời Ngài chung sống với họ, Ngài phải chứng kiến cảnh các môn đệ Ngài tranh nhau chỗ nhất, nên buổi chiều hôm đó là một buổi chiều thương đau và buồn chán nhất đối với Chúa Giêsu.

Các môn đệ Ngài đã cho Ngài cảm giác nầy: cả cuộc đời của Ngài chỉ là một sự thất bại. Suốt bao nhiêu năm trời chung sống và thọ giáo với Chúa, các môn đệ Ngài cũng không có gì khác hơn những người khác. Thì ra, họ cũng chỉ theo Ngài để đi tìm một chỗ đứng quan trọng mà thôi. Ngài đã không hoàn thành được gì nơi họ và rồi ngày mai mọi ước vọng của họ đều sẽ tiêu tan, mọi sự thảy đều chấm dứt.

Với tâm trạng buồn sầu và chán nản đó, bấy giờ Chúa nói với các môn đệ Ngài rằng: Nếu các con muốn làm lớn hãy trở nên người rốt hết, trở nên người đầy tớ hầu hạ rửa chân cho các người khác. Và để nêu cao gương đó, Chúa Giêsu đã đi rửa chân cho các môn đệ và cũng rửa chân cho cả Giuđa nữa.

Sự hạ mình phục vụ là một phần của tình yêu Kitô giáo. Không phải khi chúng ta nói với người khác rằng tôi yêu anh hay tôi yêu chị, thế là người ta sẽ tin rằng mình thật sự yêu họ. Không phải thế. Nhưng chính khi chúng ta phục vụ họ, chúng ta biểu lộ bằng chính hành động, bằng chính những hy sinh của chúng ta, dẫu cho chúng ta không cần phải nói, họ cũng biết rằng mình thật sự yêu họ. Vì thế, tình yêu Kitô giáo hoàn toàn khác biệt với tất cả những loại tình yêu khác. Cái mà người ta gọi là tình yêu, hãy coi chừng, đó có thật sự là tình yêu hay không, hay đó chỉ là một tham vọng muốn chiếm hữu hay lợi dụng người khác cho những nhu cầu ích kỷ của họ.

Tình yêu Kitô giáo luôn chứa đầy sự khiêm tốn tận căn bản. Vì thế, khi chúng ta phục vụ, chúng ta không hề có sự khoe khoang, cũng không hề có một hậu ý đi tìm cho chính mình một chỗ đứng quan trọng nào cả.. Nếu thiếu điều đó, tình yêu Kitô giáo sẽ chết đi hoặc sẽ không còn phải là tình yêu Kitô giáo thật sự nữa.

Một điểm quan trọng khác mà chúng ta cũng cần chú ý cách đặc biệt trong bữa Tiệc Ly, đó là Bí Tích Thánh Thể – Bí Tích của Tình Yêu.

Chúng ta biết rằng một món quà càng trở nên có giá trị hơn, càng khiến cho người ta quí mến hơn, khi người cho đặt hết tâm tình mình vào món quà đó. Do đó, chúng ta thường có câu: Cách cho thì quí hơn là của cho. Vì thế, những món quà của người nghèo dẫu nó không đắt tiền bằng những món quà của người giàu, nhưng nó quí giá bỡi họ đã đặt hết tâm tình vào trong đó. Đó cũng là lý do tại sao Chúa Giêsu đã lên tiếng ca tụng món quà của bà góa dẫu chỉ một đồng xu thôi cũng đáng giá hơn ngàn lần những món quà kếch sù của những người giàu có trong phúc âm.

Trong những ngày đặc biệt, chúng ta thường trao tặng quà cho nhau. Món quà tự nó không phải là quí giá nhưng nó là biểu tượng của tình yêu chúng ta trao tặng cho họ. Nó nói lên một phần nào tâm tình quí mến, tâm tình biết ơn chúng ta muốn trao gởi cho họ. Chắc chắn người nhận sẽ cảm thấy vui thích nhiều không phải vì món quà cho bằng chính tâm tình chúng ta gói trọn vào đó.

Ở đây cũng vậy, trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một món quà vô giá chính là bí tích Thánh Thể, bí tích của Tình Yêu. Trong bí tích Thánh Thể, không những Ngài đã đặt hết tình yêu mà Ngài còn đặt trọn cả linh hồn và thân xác Ngài vào trong đó nữa. Ở đây món quà và người cho chỉ là một. Điều đó không ai có thể làm được ngoại trừ một mình Thiên Chúa.

Tình yêu đòi trở nên một, một xương, một thịt, một linh hồn, một thân xác, một hơi thở, một nhịp sống. Đó chính là lý do đã khiến Chúa Giêsu lập nên bí tích Thánh Thể, bí tích Tình Yêu để Ngài cũng được trở nên một với mỗi người chúng ta.

Tình yêu Kitô giáo là thế đấy. Tình yêu đó không còn biên giới, không còn khoảng cách giữa người với người nữa. Nó biến chúng ta trở nên một trong Đức Kitô. Vì thế, khi chúng ta sống và phục vụ cho những người anh em của chúng ta là chúng ta sống và phục vụ cho chính chúng ta vậy.


Lm. levanquang
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-09-2009 , 01:56 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
BIẾT THÂM SÂU VỀ CHÚA



Muốn có sự hiểu biết tự nhiên về Chúa, phải biết nội tâm sâu xa của Ngài. Để có sự hiểu biết này, chúng ta phải cầu xin Chúa ban ơn. Ơn này không phải là một sự gì đó, nhưng là chính Chúa Thánh Thần, cũng là Thần Khí của Đức Giêsu. Thánh Thần là chìa khoá mở ra cho chúng ta nội tâm của Đức Giêsu.

Cũng chính Thánh Thần ấy đã được ban cho ta trong bí tích Rửa tội và các bí tích khác, để ta có thể biết Đức Giêsu. Và đừng quên rằng Thánh Thần cũng cư ngụ nơi các anh chị em ta. Vậy chính khi hiệp thông với các anh chị em, với Giáo Hội, mà chúng ta biết thâm sâu về Đức Giêsu.

Trở nên Đức Kitô

Cuộc đời của Đức Giêsu sắp mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai. Thiên Chúa hằng hữu đã hạ cố xuống trần gian, sống nghèo hèn, khiêm nhường, lệ thuộc. Nhưng Ngài đã thể hiện chi tiết những tính cách đó như thế nào trong cuộc đời làm người, vì Ngài đã sống cuộc đời một con người ?

Có gì khác biệt giữa Đức Giêsu và chúng ta ? Có hai khác biệt. Khác biệt thứ nhất : Đức Giêsu là Thiên Chúa, và vẫn là Thiên Chúa lúc đầu thai làm người. Ngài đầu thai bởi Chúa Thánh Thần tức bởi Thiên Chúa. Còn chúng ta chỉ là con người. Nhưng chúng ta lại có một ơn gọi cao quý là : Chúa thế nào thì chúng ta phải trở nên như vậy. Chúng ta phải trở nên Chúa, phải được thần hoá.

Chúng ta có thể được thần hoá sao ? Được lắm. Vì nếu chúng ta không thể được thần hoá, thì Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa, sẽ không là một con người. Chúng ta phải suy nghĩ kỹ điều này. Đức Giêsu không giống như một thiên thạch từ trời rơi xuống. Ngài đã đầu thai làm người. Và nếu có một con người là Thiên Chúa, thì mọi người đều có thể trở nên Thiên Chúa. Nếu không, người ta phải kết luận Đức Giêsu không là một con người, không thuộc dòng giống nhân loại. Nhưng Ngài đích thực thuộc dòng giống nhân loại, là một con người hoàn toàn. Ngài không phải là một con người trở thành Thiên Chúa, không được thần hoá, nhưng từ đời đời là Thiên Chúa. Còn ta, ta phải trở thành Thiên Chúa. Chúng ta đang trên đường trở thành Kitô.

Quả vậy, ơn gọi của ta là trở thành Kitô. Kiểu nói “trở thành Kitô” là của Teilhard de Chardin trong các tác phẩm của cha. Mỗi hành vi tự do của ta, trừ những hành vi tội lỗi, được ta thực hiện với sự cộng tác của Đức Kitô, đều làm cho ta trở thành Kitô.

Khác biệt thứ hai : Đức Kitô tự thân là Thiên Chúa, không cần một trung gian nào, còn chúng ta trở thành Thiên Chúa là nhờ Ngài. Đây cũng là điều ta cần hiểu rõ và lưu ý, nếu không, việc giáo dục đức tin của ta sẽ chỉ ở mức sơ đẳng.

Có thể coi Đức Kitô như một thứ quang phổ của Thiên Chúa. Cũng như quang phổ làm phân tán ánh sáng mặt trời, từ ánh sáng trắng trở thành ánh sáng gồm bẩy mầu sắc, cũng vậy Đức Kitô làm phân tán ánh sáng của Thiên Chúa thành những “mầu sắc” khác nhau, là những hành vi nhân loại, lời nói nhân loại, cử chỉ nhân loại, suy tư nhân loại, thể hiện nơi Đức Giêsu, như thấy trong Tin mừng. Ánh sáng của Thiên Chúa chói lọi, không thể nhìn thẳng vào đó, cũng như không thể nhìn thẳng vào mặt trời. Chúng ta chỉ có thể thấy được Thiên Chúa, ánh sáng trắng của Thiên Chúa, qua quang phổ là Đức Giêsu. Vì vậy mà Chúa nói: “Ai thấy tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9)

LM TĐQ
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-09-2009 , 02:02 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
Cuộc đời bà Blaquière là chuỗi ngày đắm chìm trong sự kết hợp với THIÊN CHÚA. Đối với bà, cầu nguyện là hơi thở cuộc sống, là thưa chuyện thân tình với Chúa, đơn sơ giản dị như đứa con nói chuyện với Cha mình. Theo giòng thời gian, từ thưa chuyện với Chúa, cầu nguyện trở thành lắng nghe tiếng Chúa. THIÊN CHÚA luôn luôn đi bước trước. Chính Ngài tìm kiếm và mời gọi con người đáp lại Tình Ngài yêu thương.

Kinh nghiệm này thay đổi tận gốc rễ cuộc sống thiêng liêng của bà Blaquière. Bà giải thích: ”Đối với tôi, điều quan trọng là tư thế sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa, giống như cậu bé Samuel trong Cựu Ước: ”Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”. Bí thuật đời sống thiêng liêng là phải thính tai, để nghe được tiếng Chúa nói trong tâm lòng mỗi người. Thánh vịnh 40 nói: ”Chúa đã mở tai tôi”.

Khi có người tò mò muốn biết thái độ lắng nghe tiếng Chúa chỉ xảy ra trong lúc cầu nguyện hay đó là thái độ liên tục diễn ra mọi lúc trong cuộc sống, bà Blaquière ngạc nhiên và hỏi vặn lại:

- Tại sao lại phân biệt hai thái độ trong cùng cuộc sống? Hai thái độ này không tách rời nhau mà là thái độ duy nhất. Điều quan trọng không phải là cầu nguyện, nhưng là yêu mến, là sống thân tình với Chúa. Tâm tình này diễn ra trong mọi lúc cuộc sống. Dĩ nhiên nó cô động hơn trong những giây phút đặc biệt con người dành riêng để lắng nghe tiếng Chúa và yêu mến Ngài.

Khi cầu nguyện, nên thinh lặng để nghe tiếng Chúa. Phải dành cho Ngài trọn chỗ đứng, thay vì làm cho Ngài bị ngộp thở vì những kể lể dài dòng của chúng ta. Nhất là đừng bao giờ ”chộp bắt” hoặc ”nắm giữ” Chúa Thánh Linh. Tôi nhớ lời vị Linh Mục nói với tôi: ”Người ta không thể nào nắm lấy Chúa Thánh Linh. Ngài như con chim chỉ biết bay không ngừng nghỉ”. Câu nói giải thích thái độ tín hữu phải có khi cầu nguyện. Cầu nguyện là thờ lạy Chúa, là để cho Ngài giữ địa vị Ngài là THIÊN CHÚA. Vậy thì làm thế nào để có thể thông hiệp với Chúa Thánh Linh, Đấng là khách trọ hiền lương của tâm hồn và là Vị Thầy thiêng liêng uốn nắn những gì cứng cỏi nơi chúng ta? Thưa không phải bằng ngôn từ, nhưng bằng thái độ thinh lặng nội tâm sâu xa. Chính vì cầu nguyện là lắng nghe ước muốn THIÊN CHÚA, nên phải để Chúa Thánh Linh cầu nguyện trong chúng ta. Ngài sẽ trợ giúp sự yếu đuối của chúng ta.


Georgette Blaquière
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-09-2009 , 08:16 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
NHÌN LÊN THẬP GIÁ


“Chúa Giêsu bảo họ: ‘Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết Tôi Hằng Hữu.’” (Ga 8,21-30)


Suy niệm: Không có một cứu cánh cao thượng để hướng nhìn, người ta sẽ luẩn quẩn với những điều thiển cận – và cuối cùng là bế tắc, vong thân. Như vụ bán độ của các cầu thủ bóng đá ở Sea Games 23 năm trước giờ đây còn để lại hậu quả thật chua xót trong cuộc đời của những chàng trai vốn giàu tài năng nhưng lại nghèo lý tưởng.

Giới lãnh đạo Do Thái đương thời với Đức Giêsu cũng đã bám giữ cái nhìn thiển cận một cách thật đáng tiếc. Vì sợ Đức Giêsu đá đổ nồi cơm của mình, sợ Người lật nhào chiếc ghế của mình, nên họ không nhận ra Người là Đấng Giải Phóng đích thực. Tệ hại nhất là họ đã loại trừ Người bằng cách đẩy Người tới cái chết thập giá. Nhưng Thiên Chúa đã ‘dĩ độc trị độc’; trong tình yêu và quyền năng của Ngài, Thiên Chúa đã biến điều tệ hại nhất ấy thành điều tốt lành nhất: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết Tôi Hằng Hữu.” Như xưa ai nhìn lên rắn đồng thì được sống, ngày nay ai nhìn lên thập giá Đức Kitô sẽ nhận được ơn cứu độ trào tuôn. Từ đây, thập giá Đức Kitô sẽ là cứu cánh tuyệt đỉnh mời gọi mọi người hướng nhìn.


Mời Bạn: Tạm quên đi những ồn ào náo nhiệt của cuộc sống để trầm lắng tâm hồn và chiêm ngắm mầu nhiệm Tình Yêu hiến tế của Đấng Chịu Đóng Đinh.

Chia sẻ: Bạn thường thấy gì và nghĩ gì khi nhìn Thánh Giá Chúa Kitô?

Sống Lời Chúa: Mỗi khi gặp khó khăn, thử thách, chán chường, thất vọng trong cuộc đời, bạn nhìn lên Thánh Giá để tìm lại nghị lực và đốt nóng lại tình yêu.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết vì yêu con. Xin cho con biết sống qui hướng trọn vẹn về Chúa, và đời con chỉ thuộc về Chúa mà thôi. Amen.


MỘT PHÚT SUY NIỆM
http://www.catholicvn.net/suyniem/su.../thang3-07.htm
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-11-2009 , 12:17 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
NGÔI MỘ TRỐNG - DẤU CHỈ PHỤC SINH

Con người ở đời thường khởi sự bằng cái "có" : có địa vị, có quyền thế, có bằng cấp, có tiền của, có sức mạnh, có tài năng. Nhưng Thiên Chúa lại thường khởi sự bằng cái không. Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa khởi sự từ cái hoang vu trống rỗng, không không "Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, tối tăm bao trùm vực thẳm và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên nước" ( St 1, 1 - 2 ).

Cái hoang vu trống rỗng của "ngày thứ nhất" trong công trình sáng tạo trời đất sẽ lại xuất hiện trong một "ngày thứ nhất" khác: "Ngày Chúa Ki-tô sống lại từ cõi chết". Ðó là cái hoang vu trống rỗng của Ngôi Mộ Trống mà Ma-ri-a Mác-đa-la đã chứng kiến và đau buồn thốt lên "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi rồi", Phê-rô ngạc nhiên trong hoài nghi, Gio-an đã thấy và đã tin.

Tất cả được khởi đầu bởi một sự kiện lạ lùng. Các phụ nữ ra mồ thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ. sau đó Phê-rô, Gio-an không còn thấy xác Ðức Giê-su trong ngôi mộ mở toang. Có lẽ lúc này Phi-la-tô còn đang ngủ, các Thượng Tế, Kinh Sư, Kỳ Mục cũng thế. Họ ngủ thật say, sung sướng vì đã dẹp yên được một chướng ngại từng làm họ ghen tức, mất ăn mất ngủ. Mọi sự đã được giải quyết đúng như sự sắp đặt khéo léo của họ. Cái tên Giê-su rồi sẽ bị quên lãng, chẳng còn ai nhắc tới. Tảng đá to đã niêm phong cửa mộ. Giê-su Na-da-rét đã đi vào lòng đất lạnh.

Ðối với những người vẫn thương mến Chúa Giê-su thì kể như đã hết, không còn gì ngoài những kỷ niệm xót xa chua chát. Một thực tế phủ phàng trĩu nặng nổi âu lo sợ hải. Niềm hy vọng lớn lao xưa đã bị chôn vùi cùng với Giê-su Na-da-rét. Sáng nay, mấy chị em phụ nữ ra mộ thì cũng chỉ có mục đích là ướp lại cái xác không hồn chưa kịp thối rữa. Họ đi tìm một cái xác, một kẻ chết nhưng họ đã đối diện với Ngôi Mộ Trống. Ma-ri-a Mác-đa-la đau khổ thốt lên "người ta đã đánh cắp xác Chúa tôi rồi". Các Thiên Thần hiện ra cắt nghĩa Chúa đã sống lại. Không biết các bà đã tin hay chưa, họ vội chạy về báo tin cho các Tông Ðồ. Phản ứng của Phê-rô là thinh lặng, Ông đang phân vân. Nếu có kẻ lấy trộm xác Thầy thì tại sao kẻ gian lại mất công xếp đặt khăn liệm và các dây vải cách thứ tự và gọn gàng như thế ? Ông vẫn còn bàng hoàng về những lỗi lầm chối Thầy với niềm ăn năn thống hối, Ông chưa hiều sống lại nghĩa là gì. Còn Gioan Ông đã thấy và đã tin. Ông đã thấy gì ? thấy các dấu chỉ lạ lùng của Ngôi Mộ Trống, khăn liệm và các thứ dây được xếp gọn gàng. Chính bởi Gio-an đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giê-su cho La-da-rô sống lại, khi La-da-rô được Chúa cho sống lại, ông ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng. Gio-an nhớ lại lời Chúa Giê-su: Ngài phải chịu đau khổ trước khi bước vào vinh quang. Nhờ ghi nhớ Lời Chúa mà đức tin đã đến với Gio-an sớm hơn Phê-rô.

Trước mọi phản ứng đó, Ðức Ki-tô Phục Sinh đã biểu lộ một sự chiến thắng âm thầm, không rình rang giữa tiếng kèn trống, reo hò của toàn dân. Ðức Ki-tô đã chiến thắng tử thần, thân thể bằng xương bằng thịt của Ngài hôm nay đã được "Thần Khí Hoá" và từ đây Người sống hoàn toàn bởi Thần Khí, vì chỉ "Thần Khí mới làm cho sống, còn xác thịt thì có ích gì" ( Ga 6, 36 ).

Ðức Ki-tô đã sống lại thật trong vinh quang. Ngài không mặc lấy một thân xác khác, thân xác Phục Sinh của Ngài vẫn chính là thân xác trước đây chịu khổ hình, chết thập giá, nay thân xác đó được biến đổi, thân xác tâm linh không hư nát. Sự Phục Sinh của Ðức Ki-tô không chỉ là phục hồi sự sống như trước mà còn chuyển qua thể thức hiện hữu mới. Thân xác của Ngài được Thần Khí hóa không bị vật chất cản trở. Ðấng Phục Sinh đã nhiều lần hiện ra với các Tông Ðồ để cũng cố đức tin cho họ chuẩn bị tâm hồn các ông đón nhận Chúa Thánh Thần, trở nên chứng nhân rao truyền sự chết và sống lại của Con Thiên Chúa

Ngày nay nếu muốn làm chứng cho Ðức Ki-tô Phục Sinh, chúng ta cũng cần khởi đi từ Ngôi Mộ Trống như các Tông Ðồ ngày xưa. Nói theo ngôn ngữ tu đức thì chúng ta trở về với đời sống thanh bạch, đó là đời sống trong sạch, ngay lành và có tinh thần nghèo khó.

Thế giới hôm nay không thiếu những dấu chỉ của Ðấng Phục Sinh. Nhưng người ta không nhận thấy được Ngài vì thiếu tâm hồn ngay thẳng trong sạch "Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa" ( Mt 5, 8 ). Nói khác đi, mỗi tâm hồn chúng ta là một ngôi mộ trống. Ngôi Mộ Trống là ngôi mộ không còn xác Chúa nhưng còn dấu chỉ Ðấng Phục Sinh, đó là khăn liệm và khăn che mặt. Tất cả những gì nhân loại dùng để trói buộc Chúa Giê-su, che mặt Người, cần phải cởi ra và xếp gọn một bên. Gio-an đã đi vào Ngôi Mộ Trống, Ông nhìn với cặp mắt trong sạch nên đã thấy và đã tin. Ông không thấy Chúa, nhưng thấy dấu chỉ của Phục Sinh, dầu vậy ông vẫn tin. Chúng ta không thấy Chúa mà vẫn tin vì "Phúc cho ai không thấy mà tin" ( Ga 20, 29 ). Chúng ta không thấy Chúa nhưng chúng ta thấy Ngôi Mộ Trống là cái thế giới bao la đầy dấu chỉ sự hiện diện của Người. Ta cũng có thể thấy Chúa trong trong tâm hồn khiêm nhu, tự hạ, quên mình, trong sự bình an thanh thản của nội tâm. đó là những dấu chỉ mà Ðấng Phục Sinh ban tặng.

Không có Phục Sinh, đức tin chúng ta chỉ là hảo huyền, cuộc sống chúng ta có ý nghĩa gì nếu không có gì sau hết, nếu tất cả chỉ dừng lại ở đời này ? Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự Phục Sinh, rất nhiều những cuộc vượt qua nho nhỏ trong đời sống hướng tới Phục Sinh. Khi một tình bạn, một tình yêu bị tan vỡ, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự Phục Sinh sao ? Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường...

Như mùa xuân sau đông tàn, Phục Sinh mãi mãi vọt lên trong đời sống chúng ta những chồi lộc ân sủng, những sức sống tươi trẻ. Tin vào Ðấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.

(Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN)

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chiến thắng sự chết bằng chính sự phục sinh của Ngài. Xin cho con cảm nhận được niềm vui "ơn phục sinh" và luôn nhận ra Chúa Phục Sinh đang hiện diện giữa cuộc sống của con hôm nay để mai này con cũng được phục sinh với Ngài, Amen .
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-13-2009 , 08:42 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
BIẾT ƠN CHÚA

Chúa Giêsu kể dụ ngôn "Thợ Làm Vườn Nho," nói về một ông chủ đi kêu thợ đến làm vườn nhà mình vào những giờ khác nhau, nhưng cuối cùng ai cũng được trả lương bằng nhau, từ kẻ nhập cuộc lúc 5 giờ chiều cho đến người làm từ 6 giờ sáng.

Nghe qua dụ ngôn, không ít người cảm thấy ưng ức: tại sao Chúa có vẻ thiên vị, quá nhân ái với người này và chỉ công bình với người kia? Giả như Chúa công bình với hết mọi người thì chắc là không ai thắc mắc. Mấy anh làm full time thì trả cho lương full time; mấy anh làm part time thì cứ tính giờ trả tiền thì êm thôi. Với lại mấy anh làm nhiều giờ tất có kinh nghiệm hơn những người làm ít, cứ trả thêm cho người có nhiều experience một tí thì đâu có sinh so sánh ganh tị thế kia.

Lối cư xử của Chúa quả không giống ai! Chẳng trách gì có người không ưa Chúa, và rồi họ ghen ghét, vu cáo, sỉ nhục, đóng đinh, giết chết.

Nhưng phải chăng vì Chúa đã làm sai? Ngài phải bước theo tiêu chuẩn và ý muốn của con người hay con người phải sống theo tinh thần và quyết định của Tạo Hoá? Phải chăng cái chết của Chúa là do Ngài làm trái ý người ta hay người ta đi xa đường lối của Thiên Chúa?

Một nhà tư tưởng đã trả lời: tại vì con người và cũng tại vì Chúa. Tại con người quá hẹp hòi ích kỷ và tại Chúa quá nhân ái từ tâm.

Vì hẹp hòi ích kỷ nên con người không muốn kẻ khác hơn mình. Bao xúc phạm nhân phẩm, tổn thương tình người, xào xáo phân ly cũng phát xuất từ tính chất ghen tuông, tiểu tâm và đố kỵ đó.

Kinh Thánh ghi nhận không ít những tình trạng như thế. Các luật sĩ biệt phái đã bất bình uất ức khi thấy Chúa Giêsu ngồi ăn với những người thu thuế. Họ cũng càm ràm khó chịu khi thấy Chúa xử sự khoan dung với người phụ nữ tội lỗi nhất trong châu thành. Chưa hết, mười hai tông đồ thân tín của Ðức Kitô cũng không tránh khỏi tâm địa con người. Bỏ tất cả mọi sự theo Chúa, bất chấp nắng mưa, cực nhọc, túng thiếu. Ăn ở với nhau rất đề huề. Bỗng, một người đàn bà đến xin cho hai ông Gioan và Giacôbê được ngồi hai bên tả hữu Chúa khi Ngài khải hoàn vinh quang.

Thế là sinh chuyện. Mười ông còn lại phẫn uất với anh em con nhà Giêbêđê khiến Chúa Giêsu phải ra tay can thiệp, dạy các ông bài học khiêm nhường, yêu thương, và quên mình vì người khác.

Dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng" cũng là một minh hoạ cho bản chất ích kỷ nơi con người. Ðứa em ăn chơi phung phí, phá tan sản nghiệp, giao du với đàng *******, làm bại hoại gia phong, nhưng dường như người anh không bận tâm. Nó đi bụi đời, sống chết mặc nó! Ðời mình cứ êm trôi.

Bỗng nhiên, đứa em trở về. Ðược đón tiếp linh đình. Anh phẫn uất. Nỗi bất bình gia tăng đến mức anh cắt đứt quan hệ cha con, anh em. Anh tuyên bố: "Thằng con của ông." "Ông" chứ không phải "cha," "con của ông" chứ chẳng còn "em của tôi" nữa. Tình người bị cắt đứt.

Khi tình người bị cắt đứt, người ta đâu còn nghĩ đến chuyện thương nhau: lo cho nhau khi gặp rủi ro, mừng với nhau khi được may mắn. Thiếu tình người nên kẻ làm vườn từ sáng sớm không sao hình dung được hoàn cảnh thê lương của người thất nghiệp hay thiếu việc. Không hiểu được tâm trạng lo lắng của người phải kiếm miếng ăn cho vợ con. Không chia sẻ được niềm vui của những gia đình có bữa cơm chiều hân hoan đầm ấm.

Nhưng tại sao người ta lại thiếu "tình người" như thế? .................................................. .................................................. .................................................. .................................................. .................................................. .................................................. .................................................. .................................................. .............................................


http://www.ttmhcg.com/tinmung/atn25.html
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-17-2009 , 12:39 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
GHEN TUÔNG

Vũ Hồng



Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

(Câu 2365-66. Truyện Kiều- Nguyễn Du)



Ghen tuông là chuyện thường tình của người ta, đúng như vậy. Ai không biết ghen mới là bất bình thường. Mà ghen tuông không chỉ có trong giới đàn bà, mà là chung của mọi người.



Chữ Ghen thường nói đến trong lãnh vực tình ái, còn trong tình bạn, tình anh chị em, đồng nghiệp không chỉ Ghen mà còn dùng chữ Ganh nữa.

Ở đời, không ai muốn thua kém ai, có câu: “Thua trời một vạn, không bằng thua bạn một ly.” Cho nên trong bất cứ lãnh vực sinh hoạt nào của xã hội như, khoa học, thể thao, văn hóa, nghệ thuật, thương mại, y tế, ngay cả địa vị, tài năng, sắc đẹp, v.v. đều có sự ganh đua để cố gắng vươn lên.

Về mặt cá nhân sự ganh đua luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Tích cực thì cùng nhau thăng tiến, nhưng tiêu cực đến ganh tị, ghen tức, thậm chí dùng âm mưu độc ác để hại người, thì đã trở thành tội ác rồi.

Chuyện ganh ghét cá nhân cũng như trong sinh hoạt xã hội vẫn nhan nhản khắp nơi. Không phải trong thời đại này mà mọi thời, vì nó là hoa trái sự dữ, nó đã có từ lúc tổ tông loài người bị ra khỏi vườn Eden.



MỘT ÍT SỰ VIỆC TRONG THÁNH KINH

Sau khi con người bỏ Thiên Chúa, thì lòng yêu mến nhau đã bị thương tổn nặng nề (Rm 3: 10tt), và sự ganh ghét xâm nhập vào thế gian. Khởi đầu là việc ghen tuông của Cain với em mình là Abel, cả hai là con trai của tổ tông Adam. Kinh thánh nói: “Cain, lễ vật của nó, Yavê Thiên Chúa không ngó đến. Cain tức tối lắm. Nó sầm mặt xuống.” (Kn 4: 5). Nhưng sự ghen tức của Cain đã không ngưng tại đó nên đã gây nên tội ác: “Cain nói với em nó: ‘Ta hãy ra đồng đi!’ Và xảy ra là khi hai anh em ở ngoài đồng, thì Cain xông vào mà giết em mình.” (Kn 4: 8).

Rồi đến vụ bà Saray vợ của tổ phụ Abraham, Saray đã ghen tức với Hagar, người nữ tỳ mà bà đã hiến tặng cho Abram. Hagar có thai làm bà nổi ghen, và nói với Abram: “Tôi đặt con thị tì của tôi vào lòng ông. Mà khi nó thấy nó có thai, thì tôi chẳng còn ra cái thá gì trước mặt nó.” Và Saray đã hành hạ nàng, và Hagar đã bỏ Saray mà trốn đi. (Kn 16: 1tt).

Sau đó đến vụ Yuse con trai của Giacóp. Yuse được cha thương hơn các anh, nên các anh đem lòng thù ghét. Thánh kinh nói: “Họ không thể nói với Yuse một lời hòa nhã”, sự ghen ghét đó suýt dẫn đến nguy hại tính mạng của Yuse, khi Yuse đi gặp các anh ở nơi chăn cừu vùng Đôtan. (Kn 37: 1-28).

Tiếp theo nữa là vụ ghen tức của vua Saul đối với Đavit, sau khi Đavit đã giết được tên tướng giặc Philitin là Gôlyat, thì Saul nổi ghen; và Kinh thánh đã mô tả sự ghen tức của Saul như sau: “Đavit đang đưa tay gảy đàn như thường ngày; và cây giáo thì sẵn nơi tay Saul. Saul mới vung cây giáo lên và nói: ‘Ta phải đâm Đavit cắm vào tường mới được!’ Nhưng Đavit tránh được hai lần.” (Sm 18: 11).



Trong Kinh thánh Tân Ước, cũng có việc ghen tuông giữa các môn đệ Đức Giêsu: Khi Gioan và Giacôbê được mẹ dẫn đến gặp Đức Giêsu để xin địa vị cho hai con mình, một ngồi bên tả một ngồi bên hữu Đức Giêsu trong vinh quang Nước của Ngài, các tông đồ khác nghe được thì ghen tức lắm. Kinh thánh nói: “Mười người kia nghe được thì phẫn uất với hai anh em.” (Mt 20: 24).

Đó là trong Thánh Kinh; Còn trong lịch sử loài người, việc ghen tuông giữa anh em trong nhà, hoặc đoạt ngôi xoán vị trong các triều đại, đến độ tàn sát lẫn nhau thì chúng ta đã được thấy trong cuộc đời hoặc qua sách vở báo chí.



YÊU VÀ GHEN

Tuần tĩnh tâm mùa chay mới đây tại một xứ đạo VN, Lm giảng thuyết qua bài Kinh thánh nói về Thiên Chúa yêu dân Israel đến nỗi phẫn ghen khi dân bỏ Ngài mà thờ ngẫu tượng bò vàng. Lm có nói đến vấn để ghen. Ngài nói: “Có yêu thì mới ghen, yêu càng mãnh liệt thì ghen càng mãnh liệt. Rồi Lm ví chất cay của ớt trong tô bún bò Huế, cay nhiều thì ăn càng đậm đà. . .”

Yêu nhiều ghen nhiều. Nói về tình yêu Thiên Chúa với loài người thì qúa đúng, bởi vì Thiên Chúa là nguồn tình yêu, vì yêu Ngài muốn cho tất cả sinh linh do Ngài dựng nên được hưởng hạnh phúc đời này và đời sau. Hạnh phúc ấy được ban phát tự Ngài trong Ngài và bởi Ngài. Nhưng nhiều phen Israel đã bỏ Yavê, mà đi lưu luyến bái lạy các thần tượng khác, mà Kinh thánh Cựu Ước thường gọi là ngoại tình, như đã viết trong bài ca của Môsê: “Chúng làm Ngài phẫn ghen với thần lạ mặt, bằng những đồ nhờm tởm chúng chọc tức Ngài.” (xem Tl 32: 16 & Ds 25: 11).

Sự ghen của Giavê là qúa yêu, bản chất Yêu của Thiên Chúa không hề có sự ghét, không có sự làm hại người yêu. Vì yêu Thiên Chúa không muốn cho những hình ảnh của Ngài là chúng ta, phải suy vong trong tối tăm. Sự sống của chúng ta là hơi thở của Ngài không thể bị hủy hoại trong tay qủi dữ. Nên Ngài nôn nóng kéo kẻ Ngài thương trở về. Ngôn sứ Hôsê diễn tả sự phẫn ghen của Thiên Chúa Yavê với Israel như thế này:

“Qủa thế, nó đã không còn là vợ Ta, và Ta không còn là chồng nó . . . nó đã chạy theo các tình lang của nó; còn Ta, nó đã quên Ta. Cho nên này Ta đã dụ dỗ nó, đem nó vào sa mạc, và kề lòng, Ta nói khó với nó . . .” (Hs 2: 4-16)



Còn nói về tình yêu con người thì không thể so sánh với tình yêu Thiên Chúa, vì chúng ta là tạo vật mỏng dòn, hạn hẹp thiếu thốn, thiếu thốn đến độ lắm khi mình muốn yêu chính mình, lo cho bản thân mình được đầy đủ, mà cũng còn khó vô cùng. Cho nên phải có sự hợp quần thành gia đình, thành làng xã, thành cộng đồng, thành quốc gia để cậy nhờ lẫn nhau, để nâng đỡ lẫn nhau; tuy thế cũng chỉ tương đối thôi. Bởi vì, ngoài Thiên Chúa, không ai có thể là nguồn ban phát sự sống và lòng yêu thương cho ai một cách nhưng không. (Is 55: 1). Bởi vì con người chúng ta, càng sống càng thấy mỏng dòn trước thời gian tuổi tác, không ai có thể giải quyết được những khó khăn cho ai, không ai có thể đau giùm cái đau của ai, không ai có thể buồn hộ cái buồn của người khác, không ai có thể bệnh thế cho người mình thương, và còn một thê thảm nữa, là không ai thể chết thế cho ai, mà chỉ tự mình cô đơn đi về cõi vĩnh hằng. Suy nghĩ như thế, nếu chúng ta không có một niềm hy vọng vào Chúa Kitô thì chúng ta là người khốn khổ nhất thế giới. Suy nghĩ như thế, chúng ta mới thấy sự ghen của Thiên Chúa vì yêu thương ta đến tột độ khác với sự ghen của con người thường biết bao.



GHEN CỦA CON NGƯỜI

Về con người, nhân gian thường nói: Có yêu thì mới ghen. Cũng đúng thôi. Nhưng trong tiếng Việt, chữ Ghen/Ganh lại thường đi với chữ Ghét, hoặc chữ Tị, hoặc chữ Tức. Nên đã ghép thành từ ngữ Ghen-ghét, Ganh-tị, Ghen-tức. Chưa hề được nghe hai chữ Ghen-yêu. Và thực tế thì chữ nghĩa nó là như vậy.

Mặt khác trong Thánh kinh, thư Corinthô lại nói tình Yêu đích thực và Ghen không thể đi đôi với nhau:

“Lòng Yêu Mến thì khoan dung nhân hậu;
Lòng Yêu Mến không ghen tuông;
Lòng Yêu Mến không ba hoa . . . “ (IC 13: 4).


Lòng Mến đích thật chỉ có nơi một mình Thiên Chúa mà thôi. Cho nên cái ghen của Thiên Chúa là Ghen Yêu, không có sự ghen ghét, ghen tức như con người. Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, nên quyền hành của Ngài là để yêu mến, Thánh vịnh nói:

“Lòng thương của Thiên Chúa trên hết mọi công việc của Ngài.” (Tv 145:9). Kinh thánh Tân Ước còn minh xác rõ ràng hơn: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con Một, để ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi.” (Yn 3: 16.)



LÒNG GHEN CỦA THIÊN CHÚA

Những chuyện ghen tuông xảy ra trong nhân gian, không nên và không thể ý kiến, vì không ai có khả năng soi sáng cho ai, chỉ có Thiên Chúa mới thấu hiểu lòng dạ từng người, và chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng lo cho họ.

Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới chữa lành những vết thương lòng chúng ta, mới gánh được những bệnh hoạn đau khổ của chúng ta, mới làm mới lại cuộc tình của chúng ta với nhau và với Ngài. (Is 53: 4). Và cuối cùng tình yêu của Thiên Chúa trong sự Phục sinh của Con Ngài sẽ làm cho chúng ta sống lại từ cõi chết.

Và vì thế, vì yêu chúng ta qúa đỗi đến nỗi phẫn ghen khi thấy chúng ta sa vào tay thần dữ, nên đã quyết tâm bằng mọi cách kéo chúng ta về lại trong hạnh phúc của Ngài.

Thiên Chúa yêu mến chúng ta, chúng ta lỗi phạm chúng ta phản bội tình yêu của Ngài, Ngài không phạt chúng ta như tội chúng ta đáng, mà lại dồn tất cả hình phạt vào con yêu dấu của Ngài, Đức Giêsu Kitô. Và Cha đã treo Con lên thập giá, để chết thay cho tôi cho mọi người. “Đức Giêsu Kitô, Đấng không hề biết tội, thì vì ta, Thiên Chúa đã cho làm thành sự tội.” (2Cor 5: 21). Và Thần Khí Thiên Chúa đã cho Gioan tẩy giả nhìn ra tình yêu lạ lùng này, ông đã phải hô lên khi Đức Giêsu đến với ông: “Đây là Chiên của Thiên Chúa, Đấng gánh tội, xóa tội trần gian.” (Yn 1: 29).



Lạy Chúa Kitô Giêsu! Khi con gặp khốn khó trong tâm hồn, con gặp ghen tức trong cuộc đời, trong gia đình, xin Thánh Tâm Chúa cho con, chỉ có một hướng nhìn, không nhìn vào lỗi phải của nhau, mà nhìn vào Chúa bị đóng đinh trên Thập Giá, nơi đó tình yêu từ Trái Tim bị đâm thâu sẽ cho đời con một hướng đi, tâm hồn con cách giải quyết, dù có đau khổ, nhưng trong tha thứ, trong bình an của lòng Yêu Mến, và trong sự sống và sự phục sinh của Chúa. Amen.
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-22-2009 , 11:11 AM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
1 Phút Suy Niệm


"Ai trong hai người sẽ cảm mến ông chủ hơn?" Luca 7:42

Hình ảnh bữa tiệc đuợc diễn ra do sự sắp xếp của người mời. Hôm nay Chúa Giêsu được mời đến tham dự một bữa tiệc và ngoài sự dự liệu của chủ nhân một người ‘không mời mà đến’. Chính vì sự xuất hiện của người nầy đã làm cho bầu khí phòng tiệc nực mùi thơm đi kèm với những thì thầm của thực khách. Vị khách ‘không được mời mà đến’ đã làm thay đổi bầu khí của bữa tiệc qua những việc làm của mình. Vị khách đó là một người nổi tiếng trong thành ai cũng biết ‘nàng’.

Chúa Giêsu ung dung trong cách cư xử vì thực khách đang chờ phản ứng của Ngài. Bầu khí của căn phòng đã trở nên ngột ngạt không phải do mùi dầu thơm xức chân Chúa của ‘nàng’ nhưng thái độ im lặng của Chúa Giêsu đã làm cho ‘chủ nhân’ và có lẽ cả những thực khách cảm thấy ‘ngột ngạt trái tim’. Chính vì thế Chúa Giêsu đã phải lên tiếng….. bằng một dụ ngôn…

Người ta biết quá nhiều về người phụ nữ đang ngồi dưới chân Chúa: lấy dầu thơm rửa chân, lấy tóc mình mà lau chân Ngài đi kèm với những giọt lệ thống hối và với một trái tim đang cần đến sự tha thứ và lòng thương xót của Chúa. Người ta biết người phụ nữ nầy hay gặp nàng ở đâu đó riêng tư…. Nhưng hôm nay, nàng lại xuất hiện cách ‘Công Khai’ không phải với nghề nghiệp của nàng như người ta cảm nghĩ trong tư tưởng…

Lời Nguyện:

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm tư của chúng con quan niệm về người khác. Xin ban cho chúng con một trái tim biết cảm thông với những lỗi lầm của anh chị em. Nói một cách khác là không đồng lõa với tha nhân trong sự dữ hay tội lỗi nhưng cảm nhận được rằng anh chị em của chúng con cần được những bàn tay và trái tim yêu thương để họ có cơ hội để trở về hay bắt đầu lại cuộc đời.


Lm. Francis Lý Văn Ca
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-22-2009 , 11:12 AM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
Người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ và đã yêu mến Chúa nhiều

36 Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn.37 Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.38 Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

39 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi! "40 Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: "Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông! " Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói."41 Đức Giê-su nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục.42 Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn? "43 Ông Si-môn đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn." Đức Giê-su bảo: "Ông xét đúng lắm."

44 Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau.45 Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi.46 Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.47 Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít."48 Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi."49 Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội? "50 Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."



Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-26-2009 , 01:24 AM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
1. Khiêm nhường


Nếu phải kể ra những điều chúng ta cần học hỏi nơi Chúa Giêsu, thì hẳn là nhiều lắm. Tuy nhiên, cái khó là phải bắt đầu từ đâu? May thay chính Chúa Giêsu đã chỉ rõ cho chúng ta bài học đầu tiên và cần thiết nhất, đó là lòng khiêm tốn, đức từ bi và nhân hậu. Chính Người đã nói: Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.

Khi xây một căn nhà, thì trước hết chúng ta phải làm nền, phải xuống móng. Nền móng càng sâu, càng chắc thì ngôi nhà càng có thể xây lên cao. Nền móng đâu có phải được làm bằng những vật liệu quí giá và đẹp đẽ, nó chỉ là đá cát, đôi khi cả xà bần, gạch vụn được nện sâu và nện thật chắc. Nó là cái phải không phải để khoe khoang, nhưng luôn bị chôn vùi, bị che đậy và bị người ta chà đạp lên trên. Quả thế, khi chúng ta bước vào bên trong một tòa lâu đài, một hoàng cung hay một ngôi nhà tầm thường nào cũng vậy, chẳng ai để ý đến cái nền, chẳng ai thắc mắ xem nó được làm bằng gì, và chứa đựng những cái chi ở bên trong, nhưng chúng ta sẽ dẫm bước lên nó mà đi.

Con người xét về phương diện cá nhân cũng như tập thể, cũng là một công trình xây dựng, mà nền móng phải là lòng khiêm tốn. Không có nền móng này, không sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ bị sụp đổ, bởi vì ai nâng mình lên, thì sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xống, thì sẽ được nâng lên. Hơn thế nữa, trong lời kinh Ngợi Khen, Mẹ Maria đã xác quyết: Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhau.

Lão Tử ngày xưa cũng đã nói: Giàu sang mà kiêu căng là tự rước lấy họa vào thân. Kẻ tự cao tự đại giống như kẻ nhón gót chân để cao hơn người, xoạc chân ra để lớn hơn người. Như vậy sẽ chẳng thể đứng vững và tiến bước. Trái lại bậc thánh nhân cho đến ngày cùng, vẫn không cho mình là lớn, nên mới thành được việc to.

Lịch sử cho chúng ta đầy rẫy những mẫu gương về những cá nhân cũng những tập thể, đặc biệt là những đế quốc hùng mạnh, nhưng kiêu căng, đã bị sụp đổ như thế nào. Những con người như Néron, Napoléon, Hitler…Nhưng đế quốc như Rôma, Mông Cổ…ngày xưa đã thảm bại ra sao, thì ai cũng đều biết. Sự tự cao tự đại thường đi đôi với lòng tạn bạo và bất nhân. Bởi vì kẻ kiêu căng thường bắt mọi người phải khuất phục mình, làm nô lệ cho mình và không ngần ngại dùng bạo lực để đàn áp, chế ngự và tiêu diệt những ai không chịu khuất phục.

Thế nhưng, Chúa Giêsu thì khác. Người đã dạy chúng ta: Ai muốn làm đầu, thì phải trở nên rốt hết và hầu hạ mọi người. Chính Người, trong suốt cả cuộc đời, đã sống khiêm nhu và trong giờ từ biệt các môn đệ, để ra đi chịu chết, Người đã không ngần ngại quì xuống rửa chân cho các ông, để nêu gương khiêm nhường, dồng thời kèm theo đó là bài học bác ái yêu thương, như lời Người đã phán: Con người đến không phải để được hầu hạ, nhưng đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.

Xưa nay trong Hội Thánh vãn có thói quen đề cao đức khiêm nhường. Nhưng đức khiêm nhường ấy thường được ghép đôi với sự vâng phục. Như vậy xem ra khiêm nhường chỉ là nhân đức của kẻ bề dưới. Trong khi đó, Chúa Giêsu đã liên kết đức khiêm nhương với lòng bác ái và tinh thần phục vụ. Người coi đó là đức tính của người lãnh đạo, của bậc bề trên. Bởi vì chỉ kẻ khiêm nhường mới có khả năng yêu thương thực sự. Và chỉ kẻ yêu thương thực sự mới thích phục vụ người khác.

Như thế, khiêm nhương không phải là thái độ của kẻ hèn nhát, sẵn sàng chịu khuất phục, nhưng là đức tính của bậc anh hùng, của người đã làm chủ được bản thân mình.
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 04-26-2009 , 01:25 AM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 05-01-2009 , 03:43 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
4. Ai là người mở mắt?


Ba chương 11, 12 và 13 của thánh Matthêu xoay chung quanh các chủ đề ‘dấu kín’ và ‘tỏ bày’. Chúa tỏ bày một giáo huấn và tự tỏ bày chính mình. Giáo huấn không phải là hoàn toàn mới lạ vì dân Do thái đã được Thiên Chúa dậy dỗ nhiều. Nhưng Đức Kitô mở những viễn ảnh mới cho những chân lý cũ và có được điều ấy là vì Ngài liên kết những chân lý ấy với con người của Ngài.

Mục đích của Ngài là hướng dẫn các tâm trí khám ra bản tính con Thiên Chúa của Ngài. Vì vậy ở đây chân lý không phải là sự khám phá của trí khôn sau những cố gắng học hỏi cho bằng là một cuộc gặp gỡ của toàn thể con người đáp lại một sự sẵn sàng thâm sâu. Chúa Giêsu chúc tụng Cha Ngài vì Chân Lý được tỏ ra như một cuộc gặp gỡ cho những ai có tâm trí không chất chứa và tấm lòng sẵn sàng đón nhận. Đáng lẽ những kẻ đầu tiên đón nhận ra Chúa Giêsu là Đức Kitô của Thiên Chúa phải là các vị tiến sĩ luật pháp, vì Lề Luật và các tiên tri loan báo Đức Kitô.

Rủi thay, cái học tinh thần quá họ chất chứa nặng nề những lý luận tinh tế, những ý niệm trí thức, những tranh luận diễn giải. Mọi thứ ấy sinh ra tri thức tự mãn và bởi nó sinh ra kiêu ngạo. Vô tình họ đã dựng nên trước tâm trí một bức màn chắn. Trên đó họ thích thú nhìn ngắm hình dáng chính mình và do đó không còn có thể nhận ra lối Chúa đi qua, ở bên kia bức màn. Ý thích của Chúa Cha không phải là muốn các người khôn ngoan và tài khéo dựng nên một màn chắn trước họ, điều này thật tai hại, nhưng là muốn cho các người hèn kém và nhỏ bé có khả năng nhận diện Đấng yêu mến và giải thoát họ.


1) Cho người ‘nhỏ bé’ Chúa ban khả năng nhận biết Chúa Cha qua Chúa Giêsu. Qua các lời nói, việc làm và con người Chúa Giêsu, họ thấy được rằng giữa Đấng tỏ lộ trước mắt họ và Thiên Chúa có một tương quan đặc biệt tạo bằng gắn bó mật thiết và sanh thành như Cha với Con. Tư tưởng Do thái không quan niệm Thiên Chúa như là Cha, nhưng chỉ theo nghĩa Thiên Chúa tốt lành, chăm sóc và tạo thành. Quan niệm Thiên Chúa là Cha đến mức độ con người mang tên Giêsu lại là con đồng bản tính với Ngài, quả thật quá đáng và phạm thượng. Thực ra, mặc khải một việc như thế vượt quá những khả năng nhân loại, đó là một ơn Thiên Chúa ban. Những kẻ được lãnh nhận ơn ấy là các tâm trí hèn kém, đơn giản, cởi mở, ‘nhỏ bé’.

2) Đức Giêsu mà Chúa Cha dùng làm trung gian để tự biểu lộ, Người là ai? Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Chúa Giêsu sống tận cùng mầu nhiệm nhập thể. Đến chia sẻ thân phận làm người. Người muốn xuống tận kinh nghiệm nhân loại của kẻ hèn kém, nhỏ bé nhất và kẻ ấy phải có được một lối đi đến Người. Hơn nữa, vì những kẻ sẵn sàng đón nhận Chân lý, nhất là những tâm trí giản đơn và tình nguyện, vì những kẻ dễ dàng cảm nhận nhu cầu đến Chúa Cha nhiều nhất (ngay cả qua những thái độ phản kháng tiêu cực) là những kẻ nhỏ bé và nghèo hèn nhất, cho nên Chúa Giêsu thích mặc khải Chúa Cha cho những kẻ nhỏ bé và nghèo hèn.



CÁC BÀI SUY NIỆM
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 05-04-2009 , 01:39 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
8. Hiền lành


Ngài sẽ chẳng bẻ gãy cây sậy đã dập nát, cũng chẳng thổi tắt tim đèn còn khói. Đó là những lời tiên tri Isaia đã loan báo về Đấng Cứu Thế, qua đó chúng ta thấy được khuôn mặt của Ngài. Một khuôn mặt hiền hòa khả ái.

Thực vậy, Ngài đã không đến trong sấm chớp mưa dông, nhưng đến trong một đêm đông lạnh giá. Ngài không phải là một vị tướng lãnh oai hùng trong chiến trận, nhưng là một người cha giàu lòng thương xót.

Khí giới của Ngài không phải là gươm giáo và súng đạn, nhưng là giới luật yêu thương. Đúng thế, Ngài đã xác quyết:

- Thầy truyền cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau.

Và Ngài còn nhấn mạnh hơn nữa:

- Nếu ai tát má bên phải của con, thì hãy đưa cả má bên trái cho nó nữa.

Đồng thời, Ngài đã khuyến khích chúng ta hãy noi gương bắt chước Ngài. Thế nhưng noi gương bắt chước Ngài ở điểm nào, nếu không phải như Ngài đã khẳng định:

- Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhưỡng trong lòng.

Ngài là Thiên Chúa quyền năng, thế mà đã trở nên như một con chiên hiền lành trước người thợ xén lông.. Vì thế, hiền lành chính nhân đức của người mạnh và phải có bản lãnh mới kiềm chế nổi sự nóng giận của mình. Vậy nhân đức hiền lành nắm giữ vai trò nào trong cuộc sống mỗi người chúng ta?

Kinh nghiệm cho thấy: chúng ta không thể nào sống cô độc lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi, hay như một pháo đài biệt lập. Trái lại, chúng ta sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền, vì nhân vô thập toàn, ai cũng có những sai lỗi, khuyết điểm của mình. Hơn thế nữa, bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng.

Bởi đó, chúng ta cần phải biết quên đi và tha thứ, nhường nhịn và chịu đựng, vì một sự nhịn là chín sự lành.

Chính sự hiền lành sẽ tạo nên trong gia đình một bầu khí hòa thuận và êm ấm:

- Chồng giận thì vợ bớt lời,

Cơm sôi nhỏ lửa, chẳng đời nào khê.

Chính sự hịền lành sẽ bắc được một nhịp cầu cảm thông và sẽ tạo được những mối liên hệ tốt ngoài xã hội giữa chúng ta với nhau, bởi vì:

- Già néo thì đứt giây.

- Bên thẳng thì bên phải chùng,

Cả hai đều thẳng, thì cùng đứt dây.

Kinh nghiệm cũng cho thấy những đổ vỡ xảy ra phần lớn chỉ vì sự nóng giận, nhiều khi rất vô lý của chúng ta.

Thực vậy, quan sát một con sư tử mắc bẫy. Bẫy chỉ là những sợi dây. Thế nhưng, nếu con sư tử càng lồng gầm gừ, càng dãy dụa thì những sợi dây lại càng xiết chặt. Còn nếu nó bình tĩnh, dùng hàm răng nhọn hoắt mà cắn dần những sợi dây, thì chẳng mấy chốc, nó sẽ được giải thóat.

Bởi đó, người ta thường bảo:

- Giận quá thì mất khôn.

Sự nóng giận là như dầu đổ vào lửa, làm cho lửa bùng cháy lên. Trong khi đó, sự hiền lành là như thùng nước dập tắt ngọn lửa. Đúng thế, sự hiền lành bao giờ cũng xoa dịu, cũng hàn gắn. Một thanh sắt nóng đỏ, nếu đem ngâm trong nước, nó sẽ nguội ngay lập tức.

Để kết luận, tôi xin kể lại mẫu gương của thánh Phanxicô Salêsiô. Thời còn trai trẻ, ngài là một người có tính nóng như lửa đốt, hơi một chút là nổi sùng, hơi một chút là quát tháo. Phải mất hơn hai mươi năm tập luyện. ngài mới trở thành một vị thánh hiền dịu và dễ thương.

Ngày kia, có một người đang tức giận đối với ngài. Ông ta xua bày chó sang tòa giám mục để chúng sủa vang. Còn ông ta và đám gia nhân thì bước vào phòng ngài và chửi bới om xòm. Chính ông ta đã nhổ nước miếng vào mặt ngài. Thế nhưng, ngài vẫn yên lặng, bình tĩnh rút khăn ra lau. Chính thái độ hiền hòa khả ái này đã cảm hóa được ông ta, khiến ông ta sám hối và quay trở về cùng Chúa.

Như vậy, hiền lành không phải là hèn nhát, nhưng là anh hùng. Kẻ khác đánh chúng ta và chúng ta đánh trả lại, thì đó chỉ lả phản ứng thông thường của loài vật. Trái lại, kẻ khác đánh chúng ta mà chúng ta vẫn tha thứ, vẫn cầu nguyện cho họ, thì đó mới là thái độ anh hùng, xứng đáng với địa vị của con người.

Hơn thế nữa. sự hiển lành còn là một phương tiện hữu hiệu nhất để cảm hóa người khác, bởi vì chỉ với một giọt mật, người ta có thể bắt được nhiều ruồi hơn cả một thùng dấm chua.


CÁC BÀI SUY NIỆM
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 05-12-2009 , 09:39 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
12.Số không


Truyện Tây Du Ký kể lại cuộc hành trình của thầy trò Đường Tam Tạng đi Tây Trúc thỉnh kinh, đem về phổ biến cho dân gian.

Trên cuộc ra đi đầy gian nan thử thách của thầy Tam Tạng, không chỉ là núi rừng hiểm trở với yêu ma quỷ quái, mà còn là những tật xấu của ba người đồ đệ thân tín. Tôn Ngộ Không, Trư Bát giới và Sa Tăng, ba tên này chính là ba nết xấu mà thiền sư họ Đường cũng như bao người khác phải vượt qua để đạt chánh quả. Đó là tính kiêu căng, lòng ham vật dục và sự lười biếng.

Trên cuộc hành trình về quê trời, mỗi người tín hữu cũng phải vượt qua bao gian nan thử thách, phải chiến đấu với những cơn cám dỗ triền miên. Thấu hiểu nỗi truân chuyên của con người, hôm nay Đức Giêsu đã kêu gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.

Hãy đến với Người, tất cả những ai đang phải “Bán lưng cho trời, bán mặt cho đất”, những ai “đầu tắt mặt tối” để kiếm sống, những ai “thấp cổ bé miệng”, Người sẽ ủi an bổ sức, sẽ cho họ được an dưỡng nghỉ ngơi.

Hãy đến với Người, tất cả những ai đang mang gánh nặng của quá khứ tội lỗi, của hiện tại yếu hèn, của tương lai chông chênh, Người sẽ xoa dịu vỗ về, sẽ ban cho họ sự bình an thanh thản.

Đức Giêsu còn tha thiết mời gọi: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi… Vì ách của tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”. Nếu bất ngờ chúng ta bị một “cái ách giữa đàng mà quàng vào cổ” thì thật là gay go. Nhưng nếu chúng ta tình nguyện đón nhận cái ách của Đức Giêsu, là thánh giá bổn phận hằng ngày, thì cái ách kia sẽ trở nên êm ái, và gánh kia sẽ ra nhẹ nhàng. Vì chính con đường chúng ta đang tiến bước là con đường tình yêu, hành trình mà chúng ta đi tới là hành trình Nước Trời.

Chính trong tình yêu mà chúng ta cảm thấy bình an giữa cơn giông tố, niềm hân hoan trong lúc khổ đau.Chính trong tình yêu mà cái ách sần sùi trở nên êm ái, và cái gánh nặng nề hóa ra nhẹ nhàng.

Thánh Augustinô nói: “Nơi đâu có tình yêu thì không có vất vả, mà nếu như có vất vả thì người ta cũng yêu cả nỗi vất vả ấy”.Để có được thanh thản giữa bao lo toan của cuộc sống, để có được bình an giữa muôn bão tố cuộc đời, để có được thư thái giữa bao gánh nặng chồng chất, chúng ta hãy học nơi Thầy Giêsu: “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Kẻ Kiêu ngạo phô trương, cậy mình khôn ngoan tài đức, nên chẳng mấy ai ưa, mà Thiên Chúa cũng khinh chê loại bỏ. Còn người hiền hậu khiêm tốn nhận mình bé mọn, chỉ biết cậy dựa vào Chúa, nên được mọi người quí mến, mà Thiên Chúa lại yêu thương và ban cho Nước Trời. Đức Giêsu nói: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn”. Một ly nước đầy không thể đổ thêm thứ gì vào đó. Cũng vậy, một kẻ chất đầy kiêu căng tự mãn thì không còn chỗ cho Thiên Chúa dạy dỗ và ban ơn. Chỉ có những tâm hồn nhận mình bé mọn, nhận mình là con số không, là trống rỗng thì lại có đủ chỗ cho Đấng vô cùng.

Đức Giêsu đã làm gương trước khi dạy chúng ta hãy sống hiền lành và khiêm nhường;Là Thiên Chúa cao cả quyền năng, nhưng Người lại hạ mình xuống làm kiếp phàm nhân để yêu thương và cứu chuộc con người.

Người không lên án người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang mà còn cứu bà khỏi trận mưa đá hãi hùng.

Người không khiến lửa trời xuống đốt cả làng Samari theo đề nghị của hai môn đệ háo thắng.

Người ví mình như người cha nhân hậu tha thứ cho đứa con hoang đàng.

Người xem mình như mục tử nhân lành chăm sóc từng con chiên.

Người xin Cha tha thứ cho những kẻ lăng nhục, hành hạ và đóng đinh Người.

Tột đỉnh của sự hiền lành và khiêm nhường nơi Đức Giêsu chính là Người đã hạ mình, vâng lời cho đến chết, và chết trên cây thập giá. Chiều thập tự mây cứ thong thả bay, suối cứ lững lờ trôi. Và lời kinh cứ tiếp tục xuôi thời gian gởi vào cuộc đời: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Trong cõi lòng hiền lành và khiêm nhường bao giờ cũng gói trọn con tim bao dung độ lượng.
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 05-13-2009 , 09:12 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
13. Chướng ngại


Trên chuyến xe lửa tiến về Paris, một anh sinh viên trẻ ngồi bên cạnh một cụ già. Sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ già rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và từ từ chìm đắm trong việc cầu nguyện.

Anh sinh viên nhìn cụ già với vẻ khinh bỉ. Một lát sau anh nói: - Thưa ông, ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí à?

Cụ già thản nhiên đáp:

- Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?

Anh sinh viên cười ngạo nghễ rồi nói:

- Lúc còn con nít tôi có tin. Nhưng bây giờ khoa học đã mở mắt cho tôi và tôi không thể tin được nữa. Ông hãy quăng xâu chuỗi ấy đi và hãy học hỏi những khám phá mới, ông sẽ thấy những gì ông tin từ trước đến giờ đều là mê tín dị đoan.

Cụ già khiêm tốn hỏi:

- Cậu vừa nói về những khám phá khoa học mới. Cậu có thể giúp tôi hiểu được những khám phá ấy?

Anh sinh viên hăng hái trả lời:

- Được chứ. Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng ông những cuốn sách khoa học rồi ông sẽ thấy sự phong phú kỳ diệu của nó.

Cụ già rút trong túi ra một tấm danh thiếp và đưa cho anh sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, anh thanh niên tái mặt và lặng lẽ cúi đầu đi sang toa khác, bởi vì trên tấm danh thiếp có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris. Ông Louis Pasteur là một nhà bác học đã có nhiều phát minh trong lãnh vực hóa học và sinh vật học. Chính ông đã tìm ra thuốc chích ngừa bệnh chó dại. Dù thông thái như thế, nhưng ông vẫn khiêm tốn nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, vẫn nỗ lực tìm kiếm Chúa để sống gắn bó với Người. Vì thế ông đã nghe được tiếng Chúa và đón nhận được những mặc khải của Người.

Còn anh sinh viên kia khả năng và sự hiểu biết không được bao nhiêu, nhưng đã tỏ ra kiêu căng tự phụ về sự hiểu biết ấy. Sự kiêu căng của anh đã che khuất đi khuôn mặt của Thiên Chúa, đã làm át đi tiếng nói của Người trong tâm hồn anh. Chính vì thế anh đã không thể nhận ra dung mạo của Thiên Chúa, không nghe được tiếng nói của Người trong cuộc đời mình.

Thời đại hôm nay nền khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bực. Cuộc sốâng kinh tế của con người càng ngày càng phát triển. Người ta giàu có hơn, đầy đủ tiện nghi hơn. Nhưng tất cả những tiến bộ và phát triển ấy không đủ để phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa và niềm tin tôn giáo. Chỉ có điều là người ta quá tự hào về những thành quả khám phá của mình, tự hào về sự giàu sang của mình. Và sự tự hào ấy đã ngăn cản, đã che mờ đôi mắt làm họ không còn nhận ra được những mặc khải của Thiên Chúa cho họ.

Phần chúng ta thì sao? Chúng ta chọn thái độ của nhà bác học Louis Pateur hay của anh sinh viên trong câu chuyện trên?
Tam Dao
Platinum Member
Join Date: Nov 2008
Số Điểm: 4024
Old 05-15-2009 , 01:06 PM     Tam Dao est dconnect  search   Quote  
Quan Trọng Là Ý Hướng Ngay Thẳng


Trong một góc hè phố, có một người hành khất què cụt nằm co quắp. Chợt có một người đàn ông ăn mặc rất bảnh bao đi ngang qua. Người hành khất bèn cất tiếng khẩn khoản xin bố thí. Người đàn ông ăn mặc sang trọng liền dừng chân, xỏ tay vào túi áo, túi quần, nhưng ông tìm mãi mà chẳng được gì. Vừa lúng túng bối rối vừa thành kính ông ta phân trần với người hành khất:

- Này bác, tôi muốn biếu bác chút đỉnh, nhưng rất tiếc vì ra đi bất ngờ nên tôi không mang tiền theo. Xin bác thông cảm cho. Hẹn dịp khác khi di ngang qua đây tôi sẽ biếu bác chút ít.

Người hành khất mỉm cười trả lời:

- Cám ơn tấm lòng tốt và thiện ý của ông. Ông đã cho tôi nhiều hơn mọi của bố thí mà cho tới nay tôi đã nhận được. Bởi vì ông đã gọi tôi là bác. Thật chưa một lần trong đời tôi đã nhận được danh dự đó trên môi miệng của một người sang trọng nào cả. (LS 324).

Các bạn thân mến, chúng ta thường nghe nói: "Cách cho quý hơn của cho". Thật vậy, tuy người ăn mặc sang trọng trên đây đã không biếu tặng cho người hành khất một đồng xu nào cả, nhưng đối với người hành khất thì thiện ý và cử chỉ lịch thiệp của người khách qua đường đó đã là một quà tặng quý giá nhất rồi, quý hơn cả tiền bạc nữa.

Xét về chiều kích tình cảm của con người, tình yêu chân thành cần có hai yếu tố, tức là sự trìu mến và sự thiết thực của tình yêu. Bạn nghĩ gì về tình thương của một người quen mỗi lần gặp bạn đều tặng cho bạn những lời khen ngợi, những cái ôm hôn thật tha thiết, nhưng vừa khi bạn gặp khó khăn cần được giúp đỡ, người ấy liền biến đâu mất và có đủ lý do để trốn tránh? Ðó là thứ tình thương tuy có những cử chỉ trìu mến, nhưng lại trống rỗng, không thiết thực cũng không có hiệu lực gì.

Có những người quen khác thì ngược lại, họ sẵn sàng giúp bạn mỗi khi bạn cần được giúp đỡ cho dù phải hy sinh thời giờ, tiền bạc hoặc sức khỏe. Thế nhưng không bao giờ biết bày tỏ một tâm tình, một cử chỉ âu yếm trìu mến. Tư cách lạnh nhạt của họ làm bạn có cảm nghĩ là họ giúp bạn một cách bất đắc dĩ, là như thương yêu bạn một cách cưỡng ép vậy. Và có thể có lúc bạn thầm nghĩ rằng, thương như vậy, thà đừng thương thì hơn. Ðây là thứ tình thương tuy rất thiết thực nhưng lại thiếu vẻ trìu mến, không chút màu sắc và hương vị đậm đà của tình cảm.

Có thể nói được rằng trường hợp thứ hai này là thứ bệnh tình thương của xã hội tân tiến đầy hưởng thụ ngày nay. Ðó là căn nguyên các bệnh tâm lý, những khủng hoảng tinh thần của lớp tuổi trẻ con nhà giàu có, không thiếu thốn một thứ nhu cầu vật chất nào, nhưng lại thiếu nhu cầu căn bản nhất là tình thương của cha mẹ, là sự hiện diện với những cử chỉ yêu thương săn sóc của cha mẹ trong gia đình.

Thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại đã tìm cách nêu bật sự phối hợp mật thiết giữa lời nói và việc làm, giữa hai yếu tố căn bản của tình thương bằng kiểu nói tuy phóng đại, nhưng rất sâu sắc như sau:

"Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các Thiên Thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng.

Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.

Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi."

Vậy đức mến là gì đối với Phaolô? Bằng một ngôn ngữ rất cụ thể Phaolô quảng diễn thêm:

"Ðức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.

Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.

Ðức mến không bao giờ mất được. Còn ơn nói tiên tri cũng chỉ nhất thời và ơn nói các tiếng lạ, có ngày rồi cũng sẽ hết." (1Cor 13:1-8).

Trên đây là những nét phác họa tỷ mỹ tuyệt vời của đức mến, của tình thương chân thật phát sinh từ Thiên Chúa và được thể hiện trên bình diện nhân loại.

Bạn có biết đâu là thứ vi khuẩn tai hại có thể tiêu diệt hoặc làm băng hoại tình thương chân thật không? Chúa Giêsu trả lời cách thẳng thắn và với kiểu nói rất cụ thể như sau:

"Khi làm việc lành phúc đức, anh em hãy coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố thí đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi." (Mt 6:1,2,16).

Qua những lời cảnh tỉnh trên đây, Chúa Giêsu nêu bật tầm quan trọng của ý hướng ngay thẳng và tấm lòng chân thành trong mọi công việc chúng ta làm. Ý hướng đó làm cho công việc trở nên lớn lao hoặc ty tiện, trở nên có giá trị hoặc uổng công vô ích. Giá trị của con người không tùy thuộc vào công việc làm cho bằng vào tình thương thúc đẩy ta làm việc đó.

Trên thế giới hiện nay có biết bao nhiêu tổ chức từ thiện và công tác cứu trợ nhưng không phải tất cả đều chung quy về lý tưởng cao đẹp. Có nhiều công cuộc từ thiện được nảy sinh từ tình thương và nhắm mục đích giúp đỡ người nghèo khổ, thăng tiến nhân vị. Nhưng cũng không thiếu chi những người vụ lợi dùng những hình thức từ thiện đó để làm bàn đạp quảng cáo, mưu cầu tư lợi, hoặc tệ hại hơn nữa là lá bài của tham nhũng và gián tiếp bóc lột dân nghèo. Nói cách khác, bạn thử quan sát cái hôn đầy tình thương giữa hai người bạn thân và cái hôn xã giao của hai nhà chính trị!

Thật vậy, ý nghĩa đời sống và chủ ý của hành động là như cái mốc đo lường giá trị và sự cao cả của con người. Còn gì quan trọng hơn, cao quý hơn cho bằng ý nghĩa đời sống của mỗi người. Vì thế điều khẩn cấp bạn phải làm ngay, không thể chần chừ do dự là tìm kiếm ý nghĩa đời sống bạn, là kiểm điểm nội tâm bạn, là điều chỉnh lại ý hướng của bạn, là để cho Chúa Thánh Linh hướng dẫn bạn và thanh lọc tất cả những gì là hoa trái của lòng ích kỷ, tất cả những gì có thể làm nhơ bẩn, ăn mòn mất đi giá trị công việc và mọi sinh hoạt của bạn.

Bạn thử đưa mắt và trí thông minh tưởng tượng đến các phần tử của thánh gia tại Nazaret: Giuse, Maria và con trẻ Giêsu. Suốt 30 năm trời họ sống trong âm thầm lặng lẽ như mọi gia đình người Do Thái trong làng thời đó. Làm lụng, cầu nguyện, ăn nghỉ như mọi gia đình người Do Thái thời đó. Tầm thường đến nỗi dân làng đã phải ngẩn ngơ khi bỗng dưng thấy Chúa Giêsu trở nên khôn ngoan trong lời nói và quyền phép trong các việc làm. Họ nói với nhau:

"Ông ấy không phải là con bác thợ sao? Mẹ Ngài không phải là bà Maria... chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta ư? Bởi đâu ông ta được như thế?" (Mt 13:55).

Dưới bộ mặt tầm thường xem như không có gì khác biệt giữa mái gia đình của Giuse, Maria và Giêsu, và các gia đình khác trong làng, nhưng thực sự lại có điều gì thật khác biệt, thật cao cả! Các bạn thử đoán xem đó là điều gì? Là đặc điểm nào?



Mai An
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 05:57 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.