VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-08-2018 , 06:41 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
VỊ ĐẠI ĐỨC VÀ BẦY CON NUÔI TRÊN ĐĨNH THIÊN CẦM .Trang nhà Quãng Đức.

Thạch Thảo

Mỗi đứa trẻ một hoàn cảnh, nhưng tất cả đều như cây cỏ thiếu ánh nắng, thiếu nước tưới nên cằn khô chai sạn, và chỉ biết đến tiếng cười khi được một tu sĩ Phật giáo đưa về ngôi nhà chung ở Thiên Cầm

Đại đức Thích Hạnh Nhẫn và một trong những đứa con nuôi của mình.
Ám ảnh vì đôi mắt bé thơ

Xuất gia từ nhỏ, cuộc sống của thầy Thích Hạnh Nhẫn gắn liền với câu kinh bài kệ. Không chỉ thấm nhuần giáo lý nhà Phật, năm 2001 thầy thi đậu thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm của học viện Phật giáo. Trong thời gian tu học ở thủ đô, đại đức Thích Hạnh Nhẫn thường xuyên hoằng pháp tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ. Sau mỗi chuyến đi, hình ảnh mà thầy mang theo là những câu chuyện, những mảnh đời đơn côi nghèo khó cần một bàn tay giúp đỡ.
Thầy nhớ lại: “Trong cơn mưa chiều tầm tã từ thành phố Hà Tĩnh về Cẩm Xuyên, tôi đã bắt gặp một cụ già đi nhặt ve chai cùng đứa trẻ chừng năm tuổi lững thững theo sau. Tôi dừng lại hỏi, thì ra bố mẹ bỏ đi từ khi cháu còn đỏ hỏn. Đứa bé ở với bà. Khuôn mặt, đôi mắt trong veo đó cứ ám ảnh tôi suốt chặng đường về”.
Năm 2006, sau khi tốt nghiệp, thầy không trở về quê hương Phan Thiết mà đến Hà Tĩnh.
Bức tranh hạnh phúc của đứa trẻ mồ côi
Chiều hôm trước nhận bằng, sáng hôm sau thầy Hạnh Nhẫn bắt xe đò từ Hà Nội chạy thẳng về Hà Tĩnh, và xin ở trong chùa Cầm Sơn, huyện Cẩm Xuyên. Sau khi sửa sang lại chùa, thầy Nhẫn bắt tay ngay vào việc đi tìm lại những mảnh đời đã bắt gặp trong những chuyến hoằng pháp trước đó.
Ngôi nhà trên đỉnh Thiên Cầm được dựng lên, nhưng không phải đứa trẻ mồ côi nào cũng hoan hỉ đón nhận tấm chân tình của nhà sư. Có nhiều em đang lấy gầm cầu làm nhà, quen với cuộc sống lang thang nên khi thầy ngỏ ý đưa về chùa cho ăn, cho ở, cho ngủ và được đến trường thì không tin đó là sự thật.
Thầy vui vẻ kể: “Có đứa còn nghi ngờ, có đứa thấy thầy là sợ, bỏ chạy vì nghĩ thầy lừa đảo! Thầy đã nghĩ ra cách mang cho các em vài cái kẹo hay bánh, sau đó mới trò chuyện với chúng”.
Bây giờ ngôi nhà chung của thầy đã có 22 thành viên, đứa lớn nhất thầy đang cho đi học trung cấp, nhỏ nhất mới năm tuổi. Nơi đó, vị tu sĩ chăm lo từ bữa cơm, giấc ngủ, tập vở để bọn trẻ được đủ đầy như bạn bè cùng trang lứa. “Chúng là những đứa trẻ thiệt thòi, kém may mắn nên rất dễ tổn thương, tuỳ từng đứa mà mình có cách cư xử khác nhau. Nhưng không vì thế mà nuông chiều. Đứa nào hư, không học thuộc bài thầy phạt buổi sáng chạy thể dục thêm một vòng nữa”, Thầy Hạnh Nhẫn cho biết.

Cảnh đầm ấm của mái nhà chung.
Những câu chuyện mà vị sư thầy kể về “bầy con” của mình khiến hành trình từ thành phố Hà Tĩnh xuống huyện Cẩm Xuyên như gần hơn. Tôi rất nóng lòng muốn tận mục sở thị ngôi nhà trên đỉnh Thiên Cầm. Xe vừa dừng dưới chân núi, những chỏm đầu trái đào ùa xuống ríu rít: “Con chào thầy! Con chào cô!” và ôm chầm lấy thầy. Đứa xách tay nải, đứa cầm quạt giấy giúp thầy, có đứa nhanh nhảu hỏi: “Thầy có mua quà cho tụi con không?”… mỗi đứa một câu làm thầy Hạnh Nhẫn không kịp trả lời. Không khí nhộn nhịp ấy cứ kéo dài mãi lên đến tận đỉnh núi.
Tranh thủ lúc những đứa trẻ đang ngồi tụng kinh, tôi đi vòng quanh chùa thì bắt gặp một cậu bé đang cặm cụi ngồi tô tô vẽ vẽ. Hỏi thì biết em tên Vũ Long, 11 tuổi, đến ngôi nhà chung này được hai năm và đang học lớp 2. Thấy tôi ngạc nhiên, Long kể: “Vì trước đây con không có cha mẹ, con không được đến trường. Về đây, thầy cho con đi học, con biết ước mơ. Con coi thầy như bông hoa hồng của con vậy”.
Tôi nhìn xuống bức tranh Long đang vẽ, đó chính là bãi biển Thiên Cầm, với ngọn núi đang nghiêng mình đón ánh nắng mặt trời, xa xa là vị sư thầy cùng 22 đứa trẻ đang vui đùa trên bãi cát.

Last edited by Rau Sam; 01-08-2018 at 06:44 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-08-2018 , 09:04 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Ni sư Tenzin Palmo (Trang Nha Quang Duc)
Nun Tenzin Palmo
***

Chọn cách ẩn tu trong một hang động hẻo lánh trên rặng núi Ky Mã Lạp Sơn, cách biệt với thế giới bên ngoài bởi những rặng núi tuyết phủ, ni sư Tenzin Palmo đã tu luyện tại đây trong suốt 12 năm. Ở đó ni sư đã phải chiến đấu với cái lạnh cắt da cắt thịt, với những thú hoang dã, với sự khan hiếm thực phẩm và tuyết lở.

Cuộc sống trên độ cao lạnh lẽo những tháng ngày sau đó với Tenzin cực kỳ khó khăn. Mùa hè thì còn có thể đi bộ ra suối lấy nước, nhưng khi mùa đông đến thì không ra ngoài hang được, phải nấu tuyết làm nước uống và sinh hoạt. Về thực phẩm, bà phải thu xếp để nhận các thực phẩm khô, dầu đốt, dầu ăn, muối đường và củi khô ở dưới núi đem lên vào mỗi mùa hè. Thêm vào đó, bà trồng thêm hoa màu ở một cái vườn nhỏ trước hang. Bà trồng rau cải và đậu peas nhưng bị chuột núi ăn mất chỉ chừa cho bà loại cải turnip và khoai tây mà thôi. Tenzin đã khám phá ra là loại cải turnip này rất tốt và bổ dưỡng. Bà thu hoạch nhiều để phơi khô dành cho mùa đông.

Tenzin vẫn ăn chay từ ngày gia nhập vào hàng ngũ tăng lữ Phật giáo. Thực đơn hàng ngày rất đơn giản, có thể nói ngày nào cũng như ngày nào trong suốt 12 năm. Mỗi bữa ăn gồm cơm, đậu lentil và rau cải turnip khô hoặc tươi, đôi khi thêm khoai tây. Trong suốt 12 năm, Tenzin đã ăn uống như thế, không có gì thay đổi, không có những thứ xa xỉ như bánh ngọt hay sôcôla.

Bên ngoài hang cư trú

Mỗi khi mùa đông đến, thời tiết cực kỳ lạnh, nhiệt độ dưới thung lũng là âm 35 độ, con nơi Tenzin ở lạnh hơn rất nhiều. Tuyết phủ dày đặc bao quanh hang động, tuy thế trong hang lại ấm hơn là căn nhà mà Tenzin ở 6 năm dưới thung lũng trước kia, bằng chứng là cốc nước trên bàn thờ ở đây không đông thành đá trong khi ở dưới kia lại đông đá. Tenzin chỉ nhóm lửa một lần vào mỗi trưa để nấu ăn. Điều này có nghĩa là khi mặt trời lặn, trong hang hoàn toàn không có một chút hơi ấm, thế mà Tenzin vẫn vượt qua được, bà bảo khi thực sự hành thiền, tự nhiên cơ thể phát nhiệt và trở nên ấm áp.

Trong hang tu của Tenzin không có ti vi, không máy nghe nhạc, không sách báo tiểu thuyết ngoại trừ kinh sách Phật giáo, ngay cả đến giường nằm cũng không có. Tenzin muốn cuộc sống càng đơn giản chừng nào càng tốt chừng nấy. Bà đã tập ngồi thiền mà không cần ngủ. Bà cho rằng trạng thái yên tịnh và cô quạnh trong hang động là nơi hoàn hảo nhất để thực hành tu tập.

Sống trong hang động hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài là một điều kỳ bí và thích thú đối với Tenzin. Phụ nữ thường hay nhút nhát sợ hãi và mất bình tĩnh khi thấy những con thú đi lảng vảng xung quanh, nhưng Tenzin chẳng bao giờ sợ bất cứ con thú nào, ngược lại, chúng cũng không sợ hãi bà. Trong suốt 12 năm sống trong hang động Tenzin cảm thấy yên bình hạnh phúc, tuy không ít lần bà phải đối diện với cái chết bởi những trận bão tuyết, tuyết lở và thiếu thực phẩm. Ví dụ như trận bão tuyết và tuyết lở kinh hoàng vào tháng 3/1979 kéo dài liên tục suốt một tuần làm 200 người dân Lahoul chết.

Trong trận bão tuyết ấy, Tenzin phải sống trong bóng tối vì tuyết phủ kín, bà không dám đốt đèn vì sợ không còn oxy để thở. Tenzin đã đối diện với cái chết, nhưng trong giây phút đó bà đã không nghĩ đến cái chết và tỏ ra sợ hãi, bà đã tự kiểm điểm lại bản thân, những việc làm tốt và không tốt và luôn cảm thấy hạnh phúc khi nghĩ rằng mình là một tu sĩ Phật giáo. Tenzin đã trải qua cơn bão tuyết kinh hoàng ấy khi mà những người dưới núi không ai nghĩ bà còn sống sót.

Lẽ ra Tenzin Palmo sẽ ở trong động tu suốt cuộc đời, nhưng vì một trục trặc nhỏ về giấy tờ di trú nên bà bị bắt buộc phải rời khỏi động tuyết để trở về với thế giới bên ngoài bởi chính quyền sở tại. Khi được tin bà ra khỏi động tu sau 12 năm dài ẩn tu, nhiều người đã tìm đến để có dịp tận mắt xem Tenzin giờ ra sao, kết quả tu hành của bà thế nào? Bà thành Phật chưa? Một người bạn Đức quen biết bà nhiều năm tên là Lia đang sinh sống ở Dharamsala cũng đến tìm gặp Tenzin. Lia kể về Tenzin Palmo như sau: “Khi tôi hỏi nhiều lần về sự chứng ngộ, Tenzin Palmo chỉ trả lời: “Một điều tôi có thể nói với bạn là – Tôi đã chẳng bao giờ nhàm chán”.

Và thế là Tenzin Palmo ra khỏi động tu, lúc ấy vào năm 1988 và bà bước sang tuổi 45. Theo như người ta kể, bà giã từ động tu, nơi mà đã ấp ủ bà suốt quãng tuổi thanh xuân một cách bình thản không tiếc, không thương, không buồn. Chính bà đã nói: “Chẳng có gì cả, phần lớn những gì tôi đối mặt ở đây đã qua đi. Thời gian ngưng lại, đặc biệt là ba năm cuối cùng qua đi như là có mấy tháng.” Sau 24 năm ở Ấn Độ, trong đầu bà lúc này hoàn toàn không có ý niệm đi đâu. Nhiều người quen ở khắp nơi trên thế giới đều biên thư hoặc đánh điện ngỏ ý mời bà đến đất nước của họ. Nhưng cuối cùng bà đã chọn về với gia đình một người bạn Hoa Kỳ ở Italy, thị trấn Assissi, tỉnh hạt Umbria.

Tenzin ở Assissi 5 năm. Trong thời gian này nhiều nơi ở châu Âu và châu Á, cả Phật giáo lẫn Thiên Chúa giáo đều mời bà đến diễn thuyết và dạy thiền. Vì thấy các nữ tu sĩ Phật giáo không có chốn tu hành, họ thường phải di chuyển từ trung tâm này đến trung tâm khác, không thuận tiện cho việc tu tập phát triển tâm linh, nên bà quyết định bắt tay vào việc thiết lập một nữ tu viện Phật giáo tại miền Bắc Ấn Độ. Bà đi diễn thuyết và cổ vũ khắp mọi nơi cho dự án này. Bà gặp đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Đức Giáo Hoàng. Bà cũng đã tham dự hội nghị Phật giáo do lời mời của đức Đạt Lai Lạt Ma tại Dharamsala và giúp tổ chức các hội nghị về nữ tu Phật giáo thế giới hàng năm tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ và Lâm Tỳ Ni, Nepal.

Tenzin Palmo là người có công lớn trong việc xây dựng nữ tu viện Phật giáo, bà nhiệt thành đi diễn thuyết xin tiền ủng hộ. Bà làm việc không mệt mỏi. Tài sản của bà chỉ vỏn vẹn gồm một cái túi ngủ, một vài quyển sách Phật giáo, một ít dụng cụ cá nhân, và ba bộ áo nhà tu. Bà từ chối không dùng tới số tiền quyên góp dành xây tu viện, ngay cả dùng vào chi phí di chuyển. Bà không ngần ngại đi khắp mọi nơi, đi xe, đi bộ, đi máy bay, chờ đợi nhiều giờ, có khi nhiều ngày để chuyển tiếp phương tiện, nhưng không bao giờ cau có, than phiền, ngoại trừ khi đụng tới vấn đề ăn mặn, bà nói mạnh và thẳng thừng lý do tại sao không nên ăn thịt chúng sinh.

Cuộc đời của ni sư Tenzin Palmo đã trở thành một huyền thoại thần kỳ. Bà trở thành thần tượng cho các nữ tu sĩ phương Tây, cả Phật giáo và các tôn giáo khác. Hiện tại với vai trò là ni sư trưởng của Phật giáo Tây Tạng, ni sư Tenzin vẫn ngày ngày tâm huyết với các dự án của mình. Bà nói rằng bà sẽ trở lại động tu nhưng bà sẽ không trở lại động tu cũ bởi sức khỏe hiện tại không cho phép bà sống ở độ cao như thế nữa. Đối với bà, động tu sắp tới mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ hơn là hiện thực, cũng có thể là một túp lều tranh ở một nơi yên tĩnh, không hẳn là ở thật xa. Nơi đó có thể là bất cứ đâu, có thể là phương Đông nơi bà có cảm nghĩ là sẽ viên tịch ở đó. Tất cả đều không quan trọng bởi đối với Tenzin bất cứ nơi đâu bà cũng đều coi là nhà.

Hồng Hà (Theo Pháp luật & Cuộc sống)
Tuấn CD Minh Hạnh st

Last edited by Rau Sam; 01-09-2018 at 01:36 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-15-2018 , 04:57 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NHỚ "THẦY MÙ CHÙA KIM ĐÀI" .( Trích trong Trang nhà Liểu Quán)

Người ta nói đám tang của thầy được tổ chức rất thầm lặng, không tàng lộng rình rang. Một đời người sống trong cảnh mù lòa đen tối, nhưng Thầy đã đi vào cõi "U Minh" bằng ánh sáng của chân tâm và chiếu rọi trong tâm thức của nhiều người..."
Người giữ chùa trong mưa bom bão đạn:

Chùa Kim Đài, một ngôi chùa cổ do thiền sư Đại Sum khai sơn vào năm 1748, tại thôn Châu Chữ, xã Thuỷ Bằng, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng 7km về hướng Tây Nam. Đây là vùng “sơn cùng thủy tận” của vùng đất Lâm Lộc dưới thời trị vì của các chúa và vua nhà Nguyễn.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp- Mỹ, chùa Kim Đài, nằm trong vùng căn cứ quan trọng của huyện Hương Trà và thành phố Huế nên để tồn tại được cho đến ngày hôm nay là cả một chặng đường dài đầy “mưu kế” của chư vị Tổ đức xưa. Và người có công lao lớn nhất trong việc gìn giữ ngôi chùa từ thời “mưa bom bão đạn” cho đến khi “hòa bình lập lại” là một vị thầy có hoàn cảnh rất đặc biệt.

Vị thầy mà từ trong những năm còn hành điệu cách đây đã hơn 20 năm chúng tôi đã được nghe nhiều người kể về “Thầy” như những câu chuyện trong giai thoại thiền môn xứ Huế, nên hồi đó, chúng tôi rất ao ước được tận mắt nhìn “Thầy”.

Tình cờ, một lần lâu lắm rồi, cách đây cũng đã hơn 10 năm trong một chuyến đi chơi núi, chúng tôi đi vào một ngôi chùa nhỏ nằm ẩn giữa cây rừng thâm u. Và trong ngôi nhà cấp 4 toành toàng, một vị thầy già dáng người lọm khọm, đang ngồi “nhìn” đăm đăm vào khoảng trời sâu thẳm.

Khi chúng tôi bước vào, thầy lên tiếng chào “A Di Đà Phật”. Tôi cũng đáp lễ chào theo “A Di Đà Phật, bạch thầy”. Và khi vị Đạo hữu đi cùng chúng tôi vái nói lời chào thầy thì thầy mừng rỡ “ôi! Thầy Thái, làm chi lâu năm rứa chừ mới lên thăm thầy mù chùa Kim Đài ni hè”. Tôi mới té ra đây chính là “Thầy mù chùa Kim Đài” có Pháp tự là Thích Từ Duyên mà tôi đã ao ước gặp thầy từ rất lâu hồi còn hành điệu.

Thầy ơi! "nhờ đui mới giữ được đạo nhà...":

Ấn tượng đầu tiên tôi gặp “Thầy” là trông thầy rất khác so với quý thầy đang tu hành trong những ngôi chùa Huế. “Thầy mù chùa Kim Đài” rất lùi xùi, khắc khổ, và trông rất ốm yếu. Thầy có một hoàng cảnh rất đặc biệt, thầy bị mù cả hai con mắt, nhưng lại sống có một mình trên một ngôi chùa núi vắng vẻ ít khách thập phương qua lại.

Nói chuyện với chúng tôi, thầy kể “khổ lắm thầy ơi, tui vâng lời quý Ôn dạy, chỉ có tui mù lòa lên đây ở mới không bị các bên liên quan đến cuộc chiến nghi ngờ “chỉ điểm” mới cho tui yên ở đây tu hành, giữ gìn duy trì ngôi chùa của chư Tổ đã dày công sáng lập lên. Nhớ cái ngày còn chiến tranh, vùng nầy là vùng “cách mạng” nên địch và ta cứ bắn nhau liên tục, ngày thì lính Pháp, lính Mỹ hành quân lùng sục, bọn chúng vô đây xì lô xì la dọa nạt, đòi bắt, đòi bắn tui không biết bao nhiêu lần, tui nói tui mù lòa không chộ chi hết, không biết chi hết, chỉ biết tụng kinh niệm Phật đừng bắn tui mà tội, thế là bọn chúng cho qua. Còn đêm đêm thì các chú bộ đội vào thăm, xin ngủ nhờ mình cũng phải đón tiếp nhưng run lắm, sợ mấy anh chàng “chỉ điểm” nói mình nuôi Việt Cộng thì Mỹ lên hắn bắn chết. Thực tình là chỉ có nhờ Phật nhờ Tổ gia hộ chứ thực ra tui nghĩ, sống trong vùng nầy hồi đó nếu không phải là Việt Cộng, không phải là lính Pháp, lính Mỹ thì mù cũng…bị bắn." rồi thầy cười nói như than thân "Thầy ơi! nhờ đui mới giữ được đạo nhà!!!”

Chúng tôi tò mò “vậy thầy mù lòa, mà dân làng ở đây hồi đó thì đi tản cư hết, thầy lấy chi mà ăn để sống”. Thầy nói “thì nhờ các Đạo hữu Phật tử ở dưới phố vài tuần bới cơm bới gạo lên giúp tui, với lại tui cũng phải tự lò mò trồng sắn, trồng khoai để ăn chứ, nói chung là cực lắm, nhưng nhớ lời quý Ôn dạy mà phải nghiến răng chịu đựng, tụng kinh tụng kệ cầu Phật cầu Tổ gia hộ để giữ gìn ngôi chùa”.

Sau gần 5 năm chúng tôi lên thăm “Thầy mù chùa Kim Đài” lần 2, vừa vào đến chùa, tôi vái chào “bạch thầy…!” thì thầy liên vui mừng nhận ra ngay “dạ thầy Trí Năng, lâu ngày dữ hi”. Tôi hoảng hồn, tại sao thầy mù, không thể thấy tôi, mà sau gần 5 năm thầy vẫn nhận ra, điều đó làm cho chúng tôi thật cảm động. Nhớ lại những câu chuyện "giai thoại thầy mù chùa Kim Đài” mọi người kể hồi còn hành điệu mà thương thầy quá. Nhìn thầy tay run run chế trà rồi pha trà mời chúng tôi uống mà cảm phục vô cùng.

Sáng lên trong tâm thức nhiều người:

Bặc đi khoảng gần 5 năm, vừa rồi nhân chuyến đi tìm lại dấu vết những ngôi tháp của chư Tổ xưa, chúng tôi ghé vào thăm Thầy thì được biết “Thầy mù chùa Kim Đài” đã về với Phật với Tổ từ ngày 26 tháng 9 năm ngoái (tức năm Kỷ Sửu-2009) một cách rất lặng lẽ. Người ta nói đám tang của thầy được tổ chức rất âm thầm, không tàng lộng rình rang...

Thế là, một đời người sống trong cảnh mù lòa đen tối, nhưng Thầy đã đi vào cõi "U Minh" bằng ánh sáng của chân tâm và chiếu rọi trong sau thẳm tâm thức của nhiều người. Nhìn ngôi chùa Kim Đài ngày nay đã sáng lên, quang rạng hơn lên, và đang có kế hoạch để đại trùng tu mà nhớ nao lòng vị thầy mù lòa kham khổ nhưng đầy nghị lực quá...

Thắp nén hương đảnh lễ thầy mà lòng thấy bồi hồi quá. Nhân cách của thầy là một minh chứng sống động về một người kiên trinh “hộ trì Đạo pháp”. Cuộc đời dù nghiệt ngã, chiến tranh dù có loạn lạc hiểm nguy, nhưng vì Phật, vì Tổ, vì Đạo Pháp thầy vẫn kham khổ chịu đựng vượt qua số phận nghiệt ngã để đứng vững trước sóng gió, kiên định giữ gìn ngôi phạm vũ, giữ gìn một tiểu mạch của mạng mạch đạo pháp. Nhân cách cao đẹp của Thầy đã làm tôi cảm động sâu sắc.

Nhận lời mời ngày 25 tháng 9 năm Canh Dần nhớ lên dự lễ giỗ đầu “Thầy mù chùa Kim Đài” từ Đại đức Thích Nguyên Đạt, vị đương kim Trú Trì chùa Kim Đài, nhưng rồi vẫn còn thiếu một chút duyên mà đành phải lỡ hẹn với “thầy mù”. Giờ ngồi viết muộn một vài dòng gọi là chút lòng thành tưởng niệm thầy. Nhớ mấy câu thơ của cụ Đồ Chiểu xưa "Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ..." mà bồi hồi nhớ thương thầy quá, "Thầy mù" ơi!

Last edited by Rau Sam; 01-15-2018 at 05:00 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-15-2018 , 06:08 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NHƯ NGỌN GIÓ LÀNH . Cao Huy Hòa.(Trích trong trang nhà Liểu Quán)

Tôi có duyên hạnh ngộ Thầy khi tôi đã bước qua thời trung niên và Thầy cũng không còn trẻ nữa. Nhưng Thầy vẫn rất nhanh nhẹn, đi xe Honda vẫn nhanh, đặc biệt Thầy vẫn đi dang nắng, và tôi không bao giờ thấy Thầy đội nón như những vị thầy đứng tuổi khác. Dáng Thầy ốm, cao, gặp ai cũng tươi cười, nhất là đối với những vị thân quen, Thầy chào thân mật, xởi lởi. Thế mà ai cũng biết Thầy đã bị ung thư khá lâu, Thầy đã sống chung với nó, vượt qua nó, ít ra cũng nhiều năm rồi. Như một phép lạ.
Có thể chuyện bài vở, viết lách làm cho tôi ban đầu được gần Thầy. Hồi đó, tôi chưa viết gì, trong khi Thầy đã cho tôi đọc những bài của Thầy về cảm nhận đạo Phật đôi chút mượt mà, và Thầy rất thích những sách, những bài của một người thân trong gia đình tôi. Tôi không ngờ, trong chuyện trò thân mật, ngoài chuyện đạo, Thầy nhớ biết bao nhiêu chuyện đời, chuyện xưa, chuyện học hành, thơ văn.

Ngoài cuộc sống tu hành, hoằng pháp, đã từ lâu, trước năm 1975, Thầy đóng góp công sức vào hoạt động y tế và từ thiện của giáo hội, một hoạt động có quan hệ với các y bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện Trung ương Huế. Thầy rất trân trọng bác sĩ giám đốc T.K.Kh, vì tinh thần phục vụ tận tụy bệnh nhân. Thầy cho tôi biết vị bác sĩ giám đốc đến với đạo Phật hết sức đặc biệt: Trong một lần đi nhận dụng cụ y tế và thuốc men ở Đà Nẵng (Thầy có cho tôi xem giấy báo nhận hàng), bác sĩ giám đốc và Thầy cùng đi trên một chiếc xe có tài xế lái. Chiến tranh lúc đó là ác liệt, đặc biệt ở địa bàn rừng núi. Trời đã chiều, khi xe đổ đèo Hải Vân thì đứt thắng, lao xuống dốc. Mọi người hốt hoảng, Thầy đề nghị bình tĩnh, nhất tâm niệm danh hiệu Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm. Sau đó, không ai biết gì nữa. Một hồi, mọi người lóp ngóp dậy, ai cũng an toàn, trong khi chiếc xe va vào triền núi. Khi hoàn hồn, chính vị bác sĩ đã kể lại: Ông cũng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng cả đời chưa bao giờ tin, chưa bao giờ niệm, cho nên cũng không nhớ đã niệm như thế nào. Thế rồi bác sĩ chỉ thấy ánh hào quang sáng lên, đến khi tỉnh lại thì nhận ra mình thoát nạn. Nhưng tai qua nạn khỏi thì nổi lo hiển nhiên đến, khi trời càng về chiều thì càng tăng: xe cộ lúc này đã vắng, e phải ở lại lưng đèo giữa đêm đầy bất an. Mọi người lại chỉ biết niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm. Như có phép mầu, một chiếc xe lên dốc từ phía Đà Nẵng, thấy xe bị nạn, đã chở những người trong đoàn về Đà Nẵng. Theo lời Thầy kể lại cho tôi, chính tài xế xe kia có linh tính thôi thúc phải lên đèo vào lúc trời đã chiều, thì ra gặp xe bị tai nạn.

Từ biến cố đó, bác sĩ giám đốc nguyện theo Phật và chính Thầy tổ chức lễ quy y cho bác sĩ tại một ngôi tổ đình lớn ở Huế. Như để thể hiện tâm Phật tại nơi làm việc, Bác sĩ đã cho trồng một cây bồ đề trong sân bệnh viện, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa tạo bóng mát. Chính từ thời bác sĩ T.K.Kh làm giám đốc, bệnh viện mới có bóng dáng quý ni cô giúp chăm sóc bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nghèo hoặc không nơi nương tựa, an ủi và động viên tinh thần cho những số phận không may. Quý ni cô đã được ngành y tế thời đó tổ chức các khóa học về điều dưỡng để thực hiện hạnh nguyện cứu khổ của mình.

Có ai ngờ rằng chỉ một câu niệm: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” đã làm chuyển biến tâm linh của bác sĩ giám đốc, làm cho người trí thức không biết gì về đạo Phật trở thành một Phật tử, để từ đó, người Phật tử giám đốc kia càng đem nhiều lợi lạc cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nghèo, về thể chất và tinh thần. Có điều chắc chắn bác sĩ đã có thiện nghiệp gặp được Thầy, để được niệm danh hiệu Bồ tát cứu khổ cứu nạn…

Lại cũng có người đã được may mắn gặp Thầy, ở cuối đời. Một bà từ nhỏ, tứ cố vô thân, ngoại hình không chút sáng sủa, không biết gốc gác như thế nào, không bà con quen biết, làm người giúp việc trong một gia đình công chức. Trãi qua bao biến động của thời cuộc, gia đình vào Sài Gòn, rồi phân ly, người mất đi vì già yếu, người phải đi tìm đất sống, bà cũng đi làm công, chuyển từ nhà này qua nhà nọ; nhưng chưa được mười năm thì đau ốm, tay chân chậm chạp, bơ vơ giữa đất Sài Gòn, cuối cùng, bà tìm đường ra Huế, may được một gia đình Phật tử cưu mang cho đến cuối đời. Gia đình này cũng có thiện duyên được gặp Thầy, được đi theo Thầy làm y tế và từ thiện, và thế là, qua gia đình này, Thầy đã quan tâm giúp đỡ, khám bệnh và liên hệ cơ quan từ thiện cấp xe lăn. Thầy nói với mọi người trong nhà: “Bà là mẹ của Thầy đó!”, và Thầy đã thể hiện như lời nói, nhất là Thầy đã chăm lo khi bà lâm chung, sau đó nhập liệm, hộ niệm, đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng và cũng đã cúng thất tuần cho bà chu đáo.

Thầy lo lắng nhiều cho xã hội trong khi chùa của Thầy đơn sơ, nội thất bình thường. Tôi chỉ chú ý bức ảnh khá to treo trên tường của một vị tỳ kheo toát lên tinh thần bất bạo động và đức vô úy trong những lúc gian nan. Bề ngoài Thầy có vẻ sống đơn giản, không chú trọng nhiều về hình thức, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Những buổi lễ tại chùa như Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo, Thầy cho thiết trí bàn thờ ngoài sân lộng lẫy, trang nghiêm, và Thầy chuẩn bị bài thuyết pháp rất kỷ lưỡng, in ấn rất đàng hoàng. Vào lúc đó, Thầy cho in giấy mời rất chỉnh và đẹp.

Từ duyên hạnh ngộ, tôi thường đến thăm Thầy, vấn an Thầy và bao giờ Thầy cũng vui vẻ, tươi cười, chuyện trò sảng khoái. Thỉnh thoảng Thầy điện thoại mời tôi về chùa, cũng chẳng có chuyện gì quan trọng. Tình cảm của thầy khiến tôi phải nán lại khá lâu, và lần nào Thầy cũng mời tôi ở lại dùng cơm, một điều tôi rất áy náy khi chùa của Thầy thì không mấy ai, đệ tử của Thầy thì đi học. Nhưng được thọ trai với Thầy thì rất vui, ngồi vào bàn chỉ có Thầy, tôi, và một chú đệ tử của Thầy. Thầy dùng bữa rất ít, chỉ thích trò chuyện. Có khi Thầy dành cho tôi ưu ái đặc biệt, như trong một lần cúng quá đường mùa an cư kiết hạ, Thầy mời tôi đến dự và cho tôi một dịp học tập “thâm nhập thực tế”. Thầy cẩn thận sắp cho tôi một vị trí riêng, và lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến đầy đủ cảnh chư tăng thọ trai trong chánh niệm, hơn thế nữa, được sống trong không khí trang nghiêm và thanh tịnh của buổi cúng quá đường, từ khi bắt đầu lễ cho đến khi kinh hành, tôi đi sau quý thầy, lễ Phật và hồi hướng công đức.

Thầy đặc biệt lo lắng việc học tập ngoài đời của đệ tử, hơn cả cha mẹ. Thầy ưu tư làm sao có được một đệ tử đỗ vào Đại học Y khoa để sau khi tốt nghiệp, sẽ làm việc cho các cơ sở khám chữa bệnh của Phật giáo. Mong ước này không thực hiện được, thì Thầy hạ xuống một bậc thấp hơn: không được đại học Y khoa, thì đỗ vào đại học nào khác cũng được, cho nên Thầy lo lắng sách vở, máy vi tính, cho đệ tử đi học luyện thi. Thầy tạo điều kiện về thời gian để cho đệ tử tập trung việc học; đến gần kỳ thi, Thầy tự làm những việc tạp dịch thay cho đệ tử.

Nhưng cuộc đời thật kỳ lạ: nếu đệ tử thầy nuôi không đáp ứng kỳ vọng của Thầy thì lại có một nữ sinh viên Y khoa gần ra trường, người Quảng Ngãi, nhỏ nhắn, vốn ở trong một gia đình không theo đạo Phật, có cơ duyên đi theo Thầy làm công tác y tế và từ thiện, cảm thương số phận của đồng bào nghèo, và cảm phục hạnh nguyện giúp đời của Thầy, đã trở thành đệ tử của Thầy, thường xuyên đến chùa, lạy Phật. Trong những năm cuối đời, những lúc Thầy trở bệnh, người Phật tử này đã luôn túc trực bên Thầy. Có lúc bệnh tình có vẻ thuyên giảm, Thầy nhờ cô đệ tử nhắn tin cho tôi. Vị thượng tọa nằm trên chiếc giường nhỏ, trong căn phòng hẹp, mái thấp, xung quanh chỉ thấy sách; không sao, Thầy vẫn cứ vui, cứ cười.

Cũng như thế, cuộc đời cũng có thừa trừ: chùa có ít chúng điệu, thì ngược lại, chùa có rất đông Phật tử. Những dịp chùa kỵ Tổ hoặc những dip đại lễ thì chùa rất đông vui, sân chùa trở nên chật với nhiều người, già trẻ lớn bé, đến từ nhiều địa bàn khác nhau, kể cả những bộ y phục nâu của các Phật tử từ Nghệ An. Thầy chu đáo đi qua tất cả các bàn, chào hỏi mọi người rất thân tình.

Thầy đã sống chung với bệnh cũng đã nhiều năm rồi, vẫn làm trụ trì ngôi chùa, vẫn điều hành cơ sở khám chữa bệnh từ thiện, vẫn không quản nắng mưa đi làm công tác thiện nguyện ở vùng sâu, vùng xa, vẫn có chức vụ trong Hội Chữ Thập Đỏ của Tỉnh, cũng như Thầy vẫn xuất hiện bên Gia đình Phật tử, kể chuyện Phật trong vòng dây thân ái của các em áo lam,… Đã đến lúc Thầy phải đoạn thân tứ đại để đi xa… Tôi đành bùi ngùi tiễn đưa Thầy, Thầy thân kính của tôi, nhưng tôi phải chiêm nghiệm lời Phật dạy, tất cả đều vô thường, Thầy chỉ là người đi trước. Cũng đã gần sáu năm Thầy đi xa, mỗi khi nhớ về Thầy, tươi cười dang nắng ban trưa, tôi cảm nhận một ngọn gió mát lành.

C.H.H

Last edited by Rau Sam; 01-15-2018 at 06:10 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-18-2018 , 05:01 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CÂU CHUYỆN THIỀN MÔN : DUYỆN XƯA NGHIỆP CỦ.

Giai thoại chốn Thiền môn .( Trang nhà Liểu Quán, Huế)

Câu chuyện xẩy ra ở một nhà giàu tại Trung Quốc ngày xưa. Truyền thống "Cải gia vi tự" (biến nhà thành chùa) bắt nguồn từ đấy.·

Một gia đình rất giàu sửa soạn nhà cửa đón dâu. Phú ông đang bận rộn với việc đám cưới thì gia nhân vào báo, có một vị sơn tăng đến khất thực hóa duyên. Vốn là người mộ đạo, phú ông vội vàng ra nghênh tiếp, mời Sư vào nhà, thỉnh ngồi ở ghế thượng khách.

Nhưng vị Sư chỉ chống tích trượng đứng cười ha hả. Lạ lùng trước cử chỉ nhà Sư, nhưng phú ông không dám nghĩ đấy là người cuồng. Bởi trông mọi dáng vẻ Ngài đều có tiên phong đạo cốt, phú ông quyết đấy không phải là người tầm thường giả bộ. Ngước nhìn đôi mắt sáng như sao của nhà Sư, phú ông bất giác rơi lệ quỳ mọp xuống:

- Bạch hòa thượng, đệ tử ngu dốt, nay có phước duyên được người chiếu cố, xin người từ bi dạy bảo!

- Hà hà. Chúng sinh mê muội, làm tội ác tày trời còn hí hửng đánh trống thổi kèn.

Trong khi nhà Sư nói vậy, thì từ nhà sau vọng lên tiếng lợn kêu thống thiết. Vị Sư tiếp:

- Con heo đó là cha ngươi ngày trước. Vì tham tiếc cái gia tài, ông đã tái sinh làm con heo sau chuồng nhà ngươi.

Phú ông đầm đìa nước mắt bạch:

- Bạch hòa thượng, quả đúng như vậy, cha con khi sắp chết cứ thao thức tiệc cái gia tài của cải một đời mồ hôi nước mắt này, và dặn đi dặn lại chúng con phải giữ gìn đừng hoang phí.

Nói rồi vội bảo gia nhân đình chỉ việc giết heo. Nhà sư lại nói tiếp:

- Còn đứa con gái nhà ngươi sắp cưới cho con ngươi là ai biết không?

- Bạch hòa thượng, đó là con gái nhà láng giềng của con. Hai trẻ có cảm tình với nhau từ nhỏ, nên khi chúng thành niên con cho chúng tác hợp thì có gì sai quấy.

- Hà hà. Mới bà bà cháu cháu đó, mà nay là vợ vợ chồng chồng. Than ôi chúng sanh có mắt như mù.

- Bạch hòa thượng, xin hòa thượng từ bi khai thị cho kẻ ngu muội. Con không được rõ thánh ý.

- Có gì là mờ mịt đâu, chỉ vì ngươi không thấy! Ðứa con gái kia là mẹ ngươi ngày trước. Do vì khi sắp chết, người lưu luyến đứa cháu nội không nỡ rời, nên thần thức đầu thai lại cõi đời để sống gần nó.

Phú ông nhẩm lại, thì quả nhiên cô gái thua cậu 4 tuổi, nghĩa là cô ra đời đúng lúc bà mẹ ông mất, lúc con trai ông lên bốn.

- Bạch hòa thượng quả như ngài nói, mẹ con khi mất đã cầm chặt lấy tay đứa cháu nội, bà rất yêu cháu vì nó là đứa cháu trai duy nhất. Nay sự tình đã vậy thì con không dám làm việc ác tày đình thế kia. Xin hòa thượng chứng minh cho con được thế phát xuất gia, biến nhà thành chùa.

Rạp trang hoàng cho tiệc cưới trong chốc lát được sửa lại thành đạo tràng. Phú ông cung thỉnh vị sư lên tòa thuyết pháp cho bá tánh đến dự và coi đám cưới. Nghe xong thời pháp, mọi người đều xin quy y tam bảo, từ bỏ sát sinh. Chú rể xin cha theo vị hòa thượng về núi tu hành, còn cô dâu nguyện trọn đời ở vậy phụng dưỡng cha mẹ cho đến khi hai thân khuất núi, rồi cô cũng xuất gia.

LỜI BÀN:

Khi còn nhỏ xa cha mẹ lớn lên đã quên mất mặt mày, huống nữa là đời trước với đời sau. Trong vòng luân hồi vô tận, chúng ta đã trải qua vô số đời sống trên mặt đất, và đã có dịp làm con cái của tất cả mọi chúng sinh. Do đó kinh Bồ tát giới cấm sát sinh và dâm dục là vậy. Sát sinh thì không khác gì giết cha mẹ của mình, còn dâm dục cũng đồng nghĩa như loạn luân. Bởi lẽ đó, suy nghĩ cho cùng thì ... chỉ còn nước vô chùa tu là thượng sách, khỏi mắc tội. Hay ít nhất, không vô chùa tu hãy làm như Thúy Kiều ở đoạn cuối:

Từ rày khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là.

Lan Ngọc (theo Chùa Hoằng Pháp)

Last edited by Rau Sam; 01-21-2018 at 07:45 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-21-2018 , 07:32 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
LÒNG TỪ BI CHỐN CỬA THIỀN

Giai thoại chốn Thiền môn. (Trang nhà Liểu Quán)

Tôi đến thăm Viện dưỡng lão chùa Tịnh Đức vào lúc xế chiều một ngày đầu tuần tháng năm. Lối vào chính điện chùa trong Viện rực rỡ cờ hoa đón chào Phật đản PL 2558 - Vesak 2014. Dạo quanh một vòng nơi ở của các cụ thấy vắng hoe. Thì ra đã đến bữa cơm tối, các cụ ở cả nhà ăn. Trên chùa sư bà Thích Nữ Diệu Thành đang niệm Phật, tiếng cầu kinh đều đặn cùng nhịp mõ. Không khí tĩnh lặng đến lạ thường.

Biết có khách, dẫu đang lo bữa cho mấy cụ bà ở viện, sư cô Liên Tu nghỉ tay, dành mấy phút tiếp khách. Tôi thưa với sư cô về việc muốn tìm hiểu hoạt động của Viện dưỡng lão, không biết có làm phiền Sư cô?

“Không có chi… mời anh vào thăm các cụ bà đang dùng bữa ở dưới...”. Sư cô nói.

[Cuộc đời bất hạnnh giờ đã bớt quạnh hiu.]

Viện dưỡng lão chùa Tịnh Đức chung đường với Học viện Phật giáo Huế trên con đường thảm bê tông ở ngã ba đường Minh Mạng lên lăng Khải Định, được thành lập năm 1996, do sư bà Diệu Thành khởi xướng. Ba năm sau khi Viện dưỡng lão được hình thành đi vào hoạt động, chùa mới được xây trong khuôn viên để các cụ bà được nuôi dưỡng ở đây dễ có điều kiện tu tập, an dưỡng tuổi già, giảm bớt nỗi cô đơn, lạnh lẽo.

Nhớ ngày đầu thành lập viện, sư bà Diệu Thành đã đi khắp nơi tập hợp được 16 cụ bà không nơi nương tựa, sống cù bơ, cù bất đưa về viện nuôi dưỡng. Con số đó dần tăng theo năm tháng lên đến 40 cụ bà. Kể từ dạo đó đến nay đã có 28 cụ qua đời. Không chỉ là ngày giỗ chạp mà cả ngày thường các cụ vẫn ấm lòng bởi được ngày đêm nhang khói. Tuổi già, bệnh tật, nhiều người trong số đó không biết ngay cả tên mình, nói chi đến quê quán.

Cụ bà Nguyễn Thị Tịnh, quê Quảng Trị, năm 1975 dắt đứa con nhỏ chạy loạn, không may cả hai mẹ con trúng đạn, thất lạc nhau từ đó. Bà đi lang thang, sống kiếp tha hương bất định. Được viện đưa về cưu mang nuôi dưỡng. Người con mất mẹ lớn lên đau đáu đi tìm trong vô vọng. Rồi một ngày bất chợt, hai mẹ con nhận ra nhau ở viện dưỡng lão này. Ngày trở về với con, bà Tịnh khóc hết nước mắt: Về được với con là quý hóa rồi, nhưng bỏ viện mà đi thì lòng dạ chẳng đành. Cúi đầu xin bái tạ ơn đức Phật, ơn tấm lòng đức độ, cứu nhân độ thế của chùa Tịnh Đức”.

Cụ bà Nguyễn Thị Thương, bị bệnh thận nặng, lại ngã gãy tay, đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế, tốn hàng chục triệu đồng, viện vẫn lo chu tất. “Mệ Lan, mệ Chanh, mệ Chắt…từ khi vào đây tinh thần, sức khỏe được cải thiện lên rất nhiều”, sư cô Liên Tu nói. Tôi thấy trên gương mặt các mệ lộ rõ niềm vui. Cảm giác có gia đình chính là ngọn lửa sưởi ấm các mệ. Nhìn các mệ trên tay lần tràng hạt, dọn dẹp lại chiếc giường nằm ngăn nắp sạch sẽ, lòng tôi trào dâng niềm cảm phục tấm lòng từ bi của sư bà, sư cô và các chị phục vụ từ tâm như chị Vân, chị Thúy… cho các mệ như người thân của chính mình.

Tạm biệt Viện dưỡng lão chùa Tịnh Đức để lại đằng sau tiếng kinh cầu và cả những mảnh đời khổ đau đang được cưu mang, tôi trở lại đường về đang rợp cờ hoa đón mừng Phật đản. Lòng bỗng nhớ về triết lý nhà Phật:

“Dù xây chín bậc phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người”.

Last edited by Rau Sam; 01-21-2018 at 07:43 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-21-2018 , 07:40 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GƯƠNG HIẾU ĐẠO CỦA CÁC BẬC TỔ SƯ XỨ THUẬN HÓA.

Giai thoại chốn Thiền môn (Trang nhà Liểu Quán ,Huế)

Trong những lần đến với thiền môn, đến với những bậc xuất gia tu hành, chúng ta sẽ nghe được lời dạy như sau về công việc của một người tìm đạo và học đạo: “Phàm người xuất gia là cất bước đến chân trời cao rộng, tâm và hình đều khác kẻ tục, làm rạng rỡ dòng giống của Phật, khiến ma quân phải rúng động, làm vậy để báo đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi, nếu không như vậy chỉ lạm dự vào hàng đệ tử Phật mà thôi”(1).
Lời dạy trong Quy Sơn cảnh sách trên vẫn luôn là lời dạy mà chư vị Tổ sư giáo huấn hàng đệ tử hậu học của mình, và là kim chỉ nam cho tất cả hàng đệ tử Phật từ xưa đến nay. Nên người xuất gia ngoài việc tìm đạo giải thoát, giải thoát cho mình và cho tất cả mọi người thì nhiệm vụ của người tu hành còn nhằm báo đáp tứ trọng ân, trong đó có ân sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ.

Tuy nhiên, xã hội đã có lúc, có người lại cho rằng người xuất gia là những người lánh nạn, và có quan niệm rằng họ là những người con bất hiếu đối với ông bà, cha mẹ. Vì đâu đó vẫn có khái niệm lập thân, tề gia của một cuộc đời con người. Vẫn cho rằng người con có hiếu thì ngoài bổn phận nuôi dưỡng cha mẹ, phải còn lo gây dựng gia đình, phải dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường để tiếp tục hương hoả của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Nhưng họ đâu biết rằng xuất gia là một việc làm cao cả nhất, chí hiếu nhất của một người con...

Chúng ta hãy cùng lắng nghe bức tâm thư sau đây của một vị Tổ sư, để thấy rằng hành động xuất gia của Ngài là chí hiếu biết bao. Tổ sư Phái Tào Động, Ngài Động Lương Sơn Giới (807-869), trước khi quyết chí xuất gia, ruỗi theo đường thiền, Ngài viết thư gửi cha mẹ như sau:

“ Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân. Muôn loài sinh trưởng cũng nhờ đất trời che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, tất cả đều nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức chở che. Song, mà tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc về vô thường, chia lìa sanh diệt. Tuy ân bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm. Nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng thì trọn khó đáp đền. Dùng máu thịt để dâng hiến cũng không bền chắc. Trong Hiếu kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để hiến cúng cha mẹ vẫn là bất hiếu, vì sẽ đưa nhau vào trầm luân, chịu muôn kiếp luân hồi. Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ thì đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng song ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ, đáp ơn cha mẹ nghìn đời, đền ơn từ thân muôn kiếp. Bốn ân ba cõi thảy đều đáp đền. Khi có một người con xuất gia đắc đạo thì chín họ đều được sinh lên cõi trời”. Con nguyện bỏ thân mạng đời này thệ chẳng tiếc nuối, đem căn trần muôn kiếp, chóng tỏ sáng Bát-nhã.

Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trong mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và Thánh mẫu Ma Da hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật...Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong”(2)

Cũng vậy, chư Tổ tại xứ Thuận Hoá xưa cho đến nay, cũng đã noi gương đại hiếu của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, hạnh hiếu của lịch đại Tổ sư, các ngài đã bằng lời dạy hoặc bằng hành động của mình đã làm sáng ngời đức tánh hiếu đạo mà hàng hậu thế mãi mãi còn kính ghi.

Lần theo sử cũ, tích xưa, những tấm gương hiếu đạo của các vị Tổ sư đất Thuận Hoá đã được các sử gia ghi lại và Thiền môn, Phật tử cũng như dân chúng khắp nơi vẫn mãi lưu truyền.


Tổ sư Liễu Quán.

Ở xứ Huế ngày nay vẫn còn truyền tụng mãi hiếu đạo của vị Tổ sư Khai sáng Thiền phái Liễu Quán. Đó là Ngài huý Thiệt Diệu, hiệu Liễu Quán. Ngài họ Lê, người làng Bạc Mã ở huyện Đồng Xuân, Phú Yên. Ngài sinh vào năm Cảnh Trị thứ 5, tức năm Đinh Mùi (1667). Năm Ngài lên 6 tuổi thì mẹ Ngài qua đời và sau đó Ngài xin phép thân phụ xuất gia ở chùa Hội Tôn, 7 năm sau một mất mát lớn lại đến với Ngài, đó là Hoà thượng bổn sư của Ngài viên tịch. Ngài lại xin phép thân phụ trèo đèo lội suốt tìm ra đất Thuận Hóa để học đạo. Mới ra tu học ở Hàm Long được một thời gian thì đến năm Tân Mùi (1691), Ngài lại vượt qua núi cao sông hiểm, cây rừng rậm rạp, tê tượng hùm beo, một thân một mình để trở về đất Phú Yên phụng dưỡng cha già khi thân phụ Ngài lâm trọng bịnh. Ngài miệt mài sớm tối chăm nom, săn sóc cơm cháo, tất cả đều tự tay Ngài lo liệu, đến năm Ất Mùi (1695) khi thân phụ Ngài qua đời thì Ngài lo việc Tang lễ ma chay, để cầu nguyện cho thân phụ được tiêu diêu Tịnh cảnh, sau đó Ngài mới lặn lội trở ra Hàm Long để tiếp tục tu học. Như vậy, với một vị xuất gia như Ngài, là người về sau đã chứng đạo và Khai sơn Tổ đình Thuyền Tôn, lại khai sáng, biệt xuất cả một dòng Thiền, nhưng với Ngài bổn phận làm con đã được Ngài lo liệu một cách chu toàn, là tấm gương để hàng hậu học noi theo.

Cũng ở đất Hàm Long, đã có một vị Tổ sư xuất thân từ ngôi danh lam này, đó là ngài Tánh Thiên - Nhất Định, đệ tử chân truyền của ngài Đạo Minh - Phổ Tịnh.

Ngài Nhất Định người họ Nguyễn, ở làng Trung Kiên, tổng Bích La, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Ngài đầu sư với ngài Phổ Tịnh, năm 19 tuổi Ngài được thế độ với Pháp huý Tánh Thiên, và sau đó được thọ cụ túc giới với Thiền sư Mật Hoằng chùa Thiên Mụ, năm 30 tuổi đắc pháp Đại sư. Đến năm 1816, khi Bổn sư của Ngài viên tịch, Ngài lại kế thế trú trì chùa Báo Quốc, sau đó lại trú trì Linh Hựu Quán, sung chức Tăng cang chùa Giác Hoàng...

Nhưng với Ngài, việc tĩnh tu ở nơi thanh vắng là niềm ao ước bấy lâu, lại còn phụng dưỡng mẹ già, nên vào năm Qúy Mão (1843) Ngài đã xin nghỉ việc ở chốn chùa quan để hồi hưu chăm lo thân mẫu.

Ngài lại chống gậy đỡ mẹ già, một thân với tay nãi thiền trượng đến vùng đất Dương Xuân, lập nên An Dưỡng Am để tịnh tu và phụng dưỡng từ mẫu. Với thời bấy giờ, nơi đây còn là vùng sơn cước, là vùng rừng hoang u tịch, dân cư vẫn còn thưa thớt, cọp beo, thú dữ vẫn còn hoành hành nhưng trong một am tranh nhỏ bé vẫn có một bà mẹ già 80 tuổi và người con tuổi cũng đã lục tuần.

Ngài sớm tối tu tập thiền quán, lấy rau cỏ để độ qua ngày, lấy thiên nhiên muôn thú làm đạo bạn.


Tổ Nhất Định đi chợ mua cá về nuôi mẹ già (tranh Phượng Hồng)

Trong hoàn cảnh người con là một vị xuất gia, lại là một vị Tăng cang danh tiếng đương thời, nên mẹ Ngài cũng tuỳ thuận sớm hôm đạm bạc theo ngài. Nhưng do tuổi già sức yếu, lại gặp phải khí độc rừng thiêng nên sức khoẻ của mẹ Ngài cũng có lúc không chống lại nổi. Ở Huế, dân gian vẫn còn truyền tụng rằng, trong một lần mẹ Ngài bịnh nặng, thầy thuốc bảo rau trái không thể giúp bà qua khỏi, chỉ có cá thịt mới có thể giúp bà qua cơn nguy kịch. Lời nói ấy đã đến được tai Ngài, của một người con chí hiếu, nên Ngài lại chống gậy, lần mò về phía đồng bằng, đến chợ Bến Ngự để múa cá về nấu cháo, làm liều thuốc chữa bệnh cho mẹ. Nhờ vào lòng chí hiếu của Ngài mà sức khoẻ của thân mẫu đã dần dần hồi phục. Từ việc làm của Ngài, làm dân chúng dị nghị, tiếng đồn lại đến tai vua, vua lại cho người theo dõi để tìm hiểu thực hư, khi đã hiểu hành động của Ngài thì nhà vua và quan lại triều Nguyễn càng kính trọng Ngài hơn.

Do việc làm hiếu kính như vậy của Ngài đối với thân mẫu nên về sau nhà vua sắc phong thảo am của Ngài là “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự”, để ghi dấu một tấm gương tu hành, giới hạnh tinh nghiêm, hết lòng hiếu đạo với đấng mẹ hiền.

Còn nhiều, và rất nhiều những tấm gương hiếu đạo khác nữa mà hàng hậu tấn mãi mãi phải nghiêng mình. Vì như lời của Ngài Động Sơn Lương Giới, thì mỗi người xuất gia là một người có cách báo hiếu tốt nhất cho cha mẹ và bà con quyến thuộc. Trong thời cận hiện đại, ở Huế cũng đã có nhiều vị cao tăng thạc đức, những vị lãnh đạo tối cao trong Giáo hội, nhưng quý Ngài đã là những tấm gương về hiếu đạo, như Ngài Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, Ngài Phước Huệ-Ngộ Tánh, khai sơn Tổ đình Hải Đức, Ngài Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn, Ngài Giác Hạnh chùa Vạn phước...

Nói chung, bằng khẩu giáo hay thân giáo qúy Ngài đã luôn luôn đề cao tinh thần hiếu đạo, qua đó cho thấy không chỉ có những người ở đời, biết cung phụng cha mẹ bằng thức ngon vật lạ mới là báo hiếu. Mà chính những vị xuất trần thượng sĩ, những vị theo bước Như Lai là những người có cách báo hiếu trọn vẹn nhất, vì quý Ngài là những người báo hiếu cha mẹ bằng cả vật chất lẫn tinh thần. Đó là biết phụng dưỡng cha mẹ, biết đưa cha mẹ sớm vào đường chánh, đưa cha mẹ đến với giáo pháp giải thoát từ bi của đức Phật.

Last edited by Rau Sam; 01-21-2018 at 07:46 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-21-2018 , 07:52 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
BÀI HỌC TỪ BửA CƠM CHIỀU.

Chuyện xảy ra cách đây cũng gần mươi năm. Hôm ấy, vào một chiều của những ngày hạ oi nồng nhất xứ Huế, tôi cùng với Vũ, bạn tôi ở Nghệ An vào, đến Từ Đàm để vấn an Hoà thượng, tiện thể thăm hai vị Thượng toạ từ Nha Trang về và Sài Gòn ra. Đến Từ Đàm, chúng tôi vừa xuống xe thì thấy chùa đang dùng tiểu thực (cơm chiều)...
Điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên là trong bữa ăn này, Hoà thượng cùng ngồi chung với quý Thầy và chúng điệu ở một cái bàn dài được phân thành hai dãy ghế: trên hết là Hoà thượng, thứ đến là quý Thượng toạ, rồi quý Thầy trẻ và tiếp nữa là chúng điệu; phân thành hai hàng như vậy.

Chúng tôi đến chào và hỏi thăm sức khoẻ Hoà thượng cùng đại chúng. Hoà thượng đáp lại chúng tôi bằng lối hỏi thăm lịch sự và chúng tôi được quý điệu bưng ghế mời ngồi.

Sau khi dùng cơm xong, Hoà thượng hỏi thăm chúng tôi về tình hình tu học của các Phật tử xứ Nghệ rồi Ngài kể chuyện xưa cho cả đại chúng nghe. Hôm đó Hoà thượng kể về thời Ngài còn làm điệu, đi học, rồi sau đó ra đi hành đạo. Khi trời bắt đầu nhá nhem tối, nhận thấy Hoà thượng đã tạm ngưng chuyện, thì Vũ liền tranh thủ hỏi chuyện:

– Kính bạch Ôn! Con có một điều thắc mắc mà mấy lâu ni chưa giải tỏa được, xin Ôn hoan hỷ cho phép con được hỏi.

– Không răng hết. Cứ hỏi đi.

– Kính bạch Ôn! Từ khi được Ôn quy y đến chừ, con rất sung sướng. Con thấy những lời Phật dạy rất thực tế và rất nhân bản, hễ ai chịu khó thực tập cũng đều được an lạc cả. Nhưng khổ nỗi là do bạc phước, mà con đã phải sinh ra ở vùng thiếu ánh sáng Phật pháp: chùa thì nhiều mà Thầy thì không có. Lắm khi có những cái thắc mắc mà con không biết tìm mô ra một bậc minh sư để hướng dẫn. Kính bạch Ôn! Nhất là hiện chừ con có một người bạn, do khác tôn giáo, nên tình bạn của tụi con hay có những bất hoà khí. Kính bạch Ôn, Ôn có cách chi giúp cho con sống với, con thiệt là khổ.

Hoà thượng cười hỏi:

– Răng? Khổ chuyện chi rứa, nói Ôn nghe coi.

Vũ thưa:

– Kính bạch Ôn, con có một người bạn, là người theo ngoại giáo. Nhưng nhờ học rộng, nên bạn ấy biết khá nhiều triết thuyết của các tôn giáo. Do học rộng nên nhiều khi bạn ấy đem cái học đó hỏi con, vặn con để dồn cho con vào thế bí. Có lần con đang lễ Phật, thì bạn đứng một bên hỏi: “Bạn đang lạy ai rứa?” Con nói: “Mình đang lạy Phật”. Bạn ấy hỏi lại: “Lịch sử của Phật ra răng bạn biết không?” Con nói: “Lịch sử Phật, do mới quy y, còn ít học, nên mình chưa biết nhiều lắm. Chỉ biết Ngài trước đây là thái tử, sau vì nhận thấy cung vàng điện ngọc chỉ là hạnh phúc giả tạm nên Ngài từ bỏ mà xuất gia rồi sau đó thành Phật, hiệu là Thích-ca-mâu-ni”. Khi đó bạn ấy nói với con: “Chuyện nớ thì có ai mà không biết! Nhưng chuyện mình muốn hỏi là: Phật Thích-ca con của ai, thuộc dòng họ mô, rồi dòng họ đó có mấy người, tên chi, cả thảy bao nhiêu đời vua?…”. Kính bạch Ôn, khi nghe bạn nói rứa, con liền khựng lại. Vì con có học phổ hệ truyền thừa của dòng họ Phật mô mà con biết! Nên con không làm răng mà trả lời được cả. Khi đó bạn ấy nói với con: “Thái tử Tất-đạt-đa là con Tịnh Phạn, thuộc dòng họ Thích-ca, một nhánh của Kiều-tất-la, ở nước Ca-tỳ-la-vệ…". Bạn ấy kể cả một phổ hệ truyền thừa của đức Phật dài lắm, nhưng chừ thì con không nhớ hết. Rồi bạn ấy nói tiếp: "Mình nghĩ bạn theo tôn giáo như rứa chỉ là hùa theo mà thôi, chớ chưa sáng suốt lắm. Theo mình, muốn theo một tín ngưỡng, thì ít ra trước hết bạn cũng nên nắm vững ngọn ngành gốc gác của vị giáo chủ mà mình tôn thờ đó, coi thử ra răng rồi mới theo. Nhưng thôi, chuyện nớ không quan trọng. Điều quan trọng là, như bạn thấy đó: Phật Thích-ca dù con ai, thuộc dòng họ mô, trải qua mấy đời... và Ngài có trí tuệ siêu phàm đến mấy đi nữa, thì cũng chỉ là ngọn mà thôi, còn đấng Sáng tạo mới là gốc. Vì Phật sinh sau, là hậu duệ của đấng Sáng tạo, nên đạo của Ngài có chi đi nữa thì cũng chỉ là Đạo ngọn mà thôi, còn đạo của đấng Tạo hoá mới là Đạo gốc”. Kính bạch Ôn, khi nghe nói rứa, mặc dù con không đồng ý, nhưng vì còn sơ cơ, ít học, nên con không biết làm răng mà đáp lại được cả. Xin Ôn dạy để cho con được hiểu.

Nghe xong, Hoà thượng cười, đoạn đưa tay bưng tách trà uống, rồi nói tiếu với đại chúng:

– Chà, trường hợp ni của anh Vũ mới khó giải quyết chớ! Chắc ở đây mấy Thầy mấy Chú có học cả rồi, giỏi hơn tui nhiều, nên chừ mấy vị trả lời anh Vũ giúp tui với (cười). Đó, chừ mấy Thầy mấy Chú ra đi giảng, làm giảng sư, gặp trường hợp như ri, mấy vị trả lời răng đây?

Hoà thượng nói xong, cười đôn hậu. Đại chúng nghe hỏi thế, im lặng, không ai dám nêu ý kiến. Thấy không ai lên tiếng, Hoà thượng tiếp:

– Răng? Răng không nghe ai nói chi cả? Nói đi chớ. Nói trước đi rồi tui nói sau. Chừ gặp trường hợp như rứa, trả lời răng đây? Mấy vị nói đi, tui nghe coi thử!
Nghe Hoà thượng nói thế, Thượng toạ T.H đỡ thay đại chúng:

– Kính bạch Ôn, anh Vũ hỏi Ôn vấn đề ni, tụi con cũng thấy rất mới. Nên xin Ôn chỉ dạy cho tụi con để tụi con được học.

Hoà thượng quở:

– Tui đã nói là, chừ các vị đóng vai giảng sư, ra đi giảng đạo, rứa mà cứ bắt tui nói trước là răng? Cứ nói đi đã, tui coi có trúng không, rồi tui nói sau. Có nói ra thì tui mới biết sai rồi sửa cho mà nhớ. Chớ còn bắt tui nói ra, thì ngay từ đầu, tự tui trả lời cho rồi, còn hỏi các vị làm chi nữa. Cứ nói ra, sai thì sửa, chớ ngại cái chi! Chừ hỏi không nói, để mai mốt ra đi giảng, người ta hỏi cho như rứa rồi chỉ biết lặng thinh là xong à?

Nghe đến đó, Thầy Q.H mạnh dạn:

– Kính bạch Ôn, nghe Ôn dạy như rứa nên con cũng xin được phép trả lời câu hỏi của anh Vũ. Bạch Ôn, con sẽ đem ý nghĩa của Phật dạy trong Kinh Pháp Cú mà trả lời với người bạn của anh Vũ như ri: Anh nói, anh theo đấng Sáng tạo đúng, vì là gốc, còn tui theo Phật sai, vì Ngài là ngọn; điều nớ có quan trọng chi! Vì như đức Phật có dạy: “Không ai làm cho anh cao thượng, không ai làm cho anh thấp hèn. Chỉ có hành động của anh làm cho anh cao thượng hay thấp hèn mà thôi”. Như rứa, gốc hay ngọn cũng không có chi quan trọng! Miễn là tui thấy người mô ở đời mà tui cho là có trí tuệ, có đức hạnh cao thượng, thì tui theo, rứa thôi! Bạch Ôn, con sẽ trả lời như rứa!

Thầy Q.H nói vừa xong, Hoà thượng hỏi lại:

– Như rứa là Ba Mẹ của Thầy ở trong nhà thiếu trí tuệ, thiếu đức hạnh, thì Thầy không theo? Còn người hàng xóm có trí tuệ, có đức hạnh, thì Thầy theo?

Cả đại chúng nghe Hoà thượng hỏi lại như thế thì cười. Một lát sau, không thấy Thầy Q.H nói thêm gì nữa, Hoà thượng hỏi:

– Răng? Thầy Q.H nói tiếp đi. Tui hỏi lại như rứa là chịu thôi à? Không còn cách chi khác à? Thôi, thầy Q.H chịu thì thôi, thì thầy khác?

Bấy giờ không ai dám nói gì thêm. Ít lâu sau, cả đại chúng cùng thỉnh xin ý kiến Hoà thượng. Hoà thượng dạy:

– Theo Nhân minh dạy, muốn phá tôn chỉ của người khác mà mình thấy nó không đúng với sự thật hiện kiến, thì có nhiều cách để phá. Nhưng phá cách chi đi nữa cũng không ra ngoài hai lối chính, là Lập lượng phá và Hiển quá phá. Lập lượng phá là lập một tôn chỉ để phá, như câu trả lời của Thầy Q.K vừa rồi cũng là một cách lập lượng phá. Nhưng lập lượng của Thầy không vững nên bị tui phá. Đó gọi là Tợ năng phá, tức phá tôn chỉ bị sai. Rứa thì muốn phá tôn chỉ trong câu hỏi của người bạn anh Vũ, phải dùng cách chi đây? Phải dùng cách thứ hai: là Hiển quá phá. Tức chỉ cái lỗi của anh ta mà phá. Cách phá ni thì cũng đã bao gồm cả cách tê rồi, tức là đã bao gồm cả Lập lượng phá. Rứa thì chừ trong trường hợp ni, muốn hiển cái quá của người ta thì hiển cách răng, các vị có biết không? Cái quá đó nằm chỗ mô? Ở chỗ: chấp có nguyên nhân đầu tiên. Với mục đích nhằm tôn vinh đấng giáo chủ của mình, thay vì anh ta nói (lập tôn) "Đấng sáng tạo sinh ra mọi loài mọi vật", nhưng sợ bạn mình (anh Vũ là Phật tử), không chấp nhận sẽ bác bỏ, nên anh ta nói bằng một lối khác "Đấng sáng tạo là gốc". Chứ thật ra trong cách nói nớ bị lỗi "chấp có nguyên nhân đầu tiên", mà Phật tử mình không thấy. Sở dĩ không thấy là vì không học Nhân minh, hoặc vì có học Nhân minh mà do không kỹ nên khó thấy được. Lỗi ni, Nhân minh gọi là lỗi do dự. Nghĩa là tôn chỉ mù mờ: mặc dù nói ra như ri, nhưng trong thâm ý của anh ta vẫn nhằm hướng đến một ý nghĩa khác. Cho nên, nếu có học kỹ Nhân minh thì mới thấy được Tôn "chấp có nguyên nhân đầu tiên" trong cái lỗi nớ! Mà chấp có nguyên nhân đầu tiên là trái ngược với sự thật hiện kiến của pháp Duyên khởi rồi! Cái lỗi như rứa thì cứ nhằm cái lỗi nớ mà phá! Mấy vị học bốn cách trả lời của Phật rồi hí? Rứa thì chừ trong trường hợp ni, dùng cách trả lời mô để phá đây? Cách thứ nhất được không? Không. Cách thứ hai? Cũng không. Còn cách thư ba và cách thư tư. Cách thứ tư: im lặng đáp (xả trí ký) được không? Cũng không. Trường hợp ni mà im lặng, chẳng những không phá được cái kiến chấp của họ, mà còn bị người ta cho mình nhu nhược, nên không thể im lặng. Rứa thì chừ chỉ còn cách thứ ba là hỏi ngược trở lại (tức phản vấn ký). Chừ mấy Thầy nghe tui phản vấn để phá thử coi hỉ? Tui sẽ nói với anh ta như ri: Anh nói, đấng sáng tạo là gốc, còn Phật là ngọn, mà mặt mũi của các vị nớ ra răng, anh có biết không? Nhưng chuyện nớ cũng không quan trọng lắm. Mà hiện chừ anh có thấy những người bất lương, làm việc phi nghĩa chuyên gây nhức nhối xã hội không? Những người nớ ai sinh ra? Và khi sinh những người nớ ra, người sinh có biết mình sinh không, hay không biết mình sinh? Nếu không biết mà sinh thì người sinh nớ là người ra răng? Lẽ dĩ nhiên là không có trí! Còn nếu biết mà vẫn cứ sinh thì người sinh nớ là người thiếu tình thương! Không lẽ nói rằng, đấng sáng tạo khi sinh con người ra, chỉ toàn là lương thiện; nhưng sở dĩ hiện chừ có những người bất lương như rứa, là do môi trường xấu xung quanh tạo ra! Nếu rứa thì môi trường xấu nớ do ai sinh? Nếu không do đấng sáng tạo sinh thì có người khác sinh! Mà môi trường do đấng sáng tạo sinh, thì khi sinh, đấng sáng tạo sinh mấy môi trường? Nếu chỉ một môi trường thì môi trường đó phải là môi trường tốt, mà không có môi trường xấu, vì đấng sáng tạo là người có lòng Bác ái! Đằng ni có môi trường xấu, rứa thì môi trường xấu nớ ai sinh? Nếu đấng sáng tạo không sinh thì có người khác sinh! Như rứa thì đâu có thể nói đấng sáng tạo là vị toàn năng! Còn nếu nói đấng sáng tạo khi sinh ra con người, chỉ có duy nhất một môi trường thánh thiện thôi; nhưng sở dĩ hiện chừ có những môi trường tốt xấu sai khác như rứa, là do đấng sáng tạo đã dành cho con người một phép tự do lựa chọn? Nếu rứa thì đấng sáng tạo cũng không khác chi một người cha khi đã biết con mình có đứa thông minh, có đứa thiếu hiểu biết, mà vẫn cứ để cho chúng lựa chọn những điều xấu, không ngăn cản! Như rứa thì đấng sáng tạo có phải là người có lòng Bác ái không?



Nói đến đây, Hoà thượng cười. Cả chúng cùng cười. Đoạn Hoà thượng nói tiếp:

– Răng? Mấy vị thấy tui trả lời rứa được không? Coi thử có chỗ mô bị lỗi không?... Chắc không hí? Cách trả lời ni, Nhân minh gọi là Phản vấn ký (đáp bằng cách hỏi ngược lại). Tức khi thấy câu hỏi của đối phương bị lỗi thì nhằm cái lỗi của họ mà hỏi lại. Đức Phật xưa, khi thuyết pháp, đối với những người tà kiến chấp thủ, Ngài cũng hay dùng cách ni để đưa họ về chánh kiến. Nhưng những trường hợp như ri bất dĩ lắm thì đức Phật và chư Tổ mới dùng đến. Và cũng đừng thấy rứa mà tưởng dễ mô nghe! Học Nhân minh rồi, mà nếu không học kỹ thì đến khi gặp trường hợp tương tự cũng khó mà ứng phó đó.

– Răng Vũ? Giải toả được thắc mắc chưa? Hoà thượng hỏi.

– Dạ, bạch Ôn dạ rồi. Ôn dạy như ri thì cứng lí quá. Ước chi con được ở gần Ôn để mỗi lần thắc mắc, lên hầu chuyện Ôn thì hay quá. Kính bạch Ôn, con còn nhiều nghi vấn muốn hỏi lắm, nhưng vì sợ Ôn mệt. Vả lại trời cũng đã tối rồi mà con phải về nhà chuẩn bị nhiều thứ để ngày mai còn phải đi công tác nữa.

Vũ và tôi vái Hoà thượng rồi chào quý Thầy để ra về. Trên đường đi, Vũ hỏi tôi:

– Răng? Anh thấy Ôn dạy ra răng?

Tôi nói:

– Câu ni đáng lý anh để tui hỏi anh mới phải. Ôn đối với tụi tui ở đây mà lạ chi. Bởi tụi tui thường gần gũi Ôn và được Ôn dạy cho nghe rất nhiều chuyện, nhất là những kinh nghiệm trong việc tu tập, hoằng hóa. Vũ chưa biết đó thôi. Không những chừ, mà hồi còn trẻ, Ôn đã nổi tiếng với tài biện luận như rứa rồi. Một phần nhờ chuyên tâm đào sâu Kinh, Luật, Luận, đặc biệt là về Pháp tướng Duy thức học, một phần nhờ tài ăn nói, mà Ôn rất thạo trong cách lý luận. Gần đây, tui cũng được chứng kiến Ôn trả lời phỏng vấn cho các vị Thông tấn xã Mỹ như ri:

Một phóng viên Mỹ hỏi Ôn:

– Xin Hòa thượng cho biết Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt Nam khác nhau ở chỗ nào về tổ chức cũng như nội dung tu hành?
Ôn trả lời:

– Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là tôi, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng là tôi. Trước tháng 11-1981 là Giáo hội Phật giáo Thống nhất, sau tháng 11-1981 là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Về nội dung tu hành thì giới luật Phật chế định rất nhiều, nhưng Tăng Ni Phật tử Việt Nam tu hành được 5 điều sau đây cũng thật là khó:

Một là không sát sinh. Từ bỏ sát sinh tức cứu sinh. Giữ được giới này sẽ không có chiến tranh, sẽ cân bằng được sinh thái, sẽ bảo về được hòa bình.

Hai là không trộm cắp. Từ bỏ trộm cắp tức bố thí. Giữ được giới này sẽ không có tham nhũng, sẽ không có cảnh giết người cướp của...

Ba là không tà dâm. Từ bỏ tà dâm tức giữ được phẩm hạnh. Giữ được giới này không sợ nhiễm HIV/ AIDS...

Bốn là không nói dối. Từ bỏ nói dối tức là nói lời thành thật, nói lời hòa nhã, nói lời ái kính...

Năm là không uống rượu. Từ bỏ uống rượu, gia đình sẽ ấm êm. Xã hội sẽ càng yên vui, văn minh và tốt đẹp hơn...

Tóm lại, yêu cầu của đạo Phật về mặt Giới luật là tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành và giữ tâm ý trong sạch; tất cả những việc gì có hại đến thân tâm của mình, gia đình và quốc gia, xã hội, nhân loại đều nằm trong phạm vi cấm đoán của Năm giới và Mười thiện. Làm điều ác là phạm giới, không làm điều thiện cũng phạm giới.

– Ngài nghĩ thế nào về cuộc chiến tranh vừa qua? Bản thân Ngài có căm ghét nước Mỹ và người Mỹ không?

– Đối với tôi, cái gì đã qua là thuộc về dĩ vãng. Tôi cho rằng chính phủ Mỹ đã sai lầm, còn nhân dân Mỹ không hề có tội lỗi gì trong cuộc chiến tranh đó. Đức Phật dạy rằng: Lấy oán trả oán thì oán càng chất chồng; lấy ân trả oán thì oán sẽ tiêu tan. Vì vậy, phải bỏ qua chuyện cũ để cùng nhau hướng về tương lai.

– Ngài có cho rằng, liệu tương lai Phật giáo với Cộng sản có ngồi chung với nhau không?

– Anh hỏi chuyện đó với tôi thì cũng như không. Tôi một ngày hai thời lo việc trì kinh niệm Phật mà còn tự thấy mình chưa kham nữa, thì hơi đâu để tâm đi lo chuyện đó cho mệt! Thế thì trước đây anh có ngờ rằng Nga và Mỹ bắt tay nhau không?

Vũ biết không, khi họ đặt với Ôn những câu như rứa, tụi tui đứng một bên nghe mà khiếp vía. Nhưng không ngờ Ôn lại trả lời hay không tưởng nổi. Hễ mỗi lần Ôn tiếp chuyện như rứa, thì sau khi khách ra về, tui thấy trên môi của mọi người được chứng kiến, ai cũng đều nở nụ cười hoan hỷ. Mấy thầy mấy cô sau những lần giúp Ôn trà nước tiếp khách như rứa cũng đều trầm trồ khen ngợi: "Ôn mình là rứa đó"!

Vũ nghe tôi kể mà không ngớt lời tán dương trí tuệ của Hoà thượng sao mà uyên thâm đến thế. Cứ mong luôn được tiếp xúc hầu cận.

Hai chúng tôi bàn chuyện say sưa xung quanh việc sử dụng Nhân minh của Hoà thượng như thế, cho đến nỗi về đến nhà lúc nào không hay.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 02:57 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NGHIỆM LỜI PHẬT QUA 1 CÂU NÓI CỦA DÂN GIAN.

(Trích trong Giai thoại chốn Thiền môn .Trang nhà Liểu Quán Huế.)

“Ăn mày là ai, ăn mày là TA, đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”, nghe lâu rồi và cũng có hiểu nhưng chưa sâu sắc như sau này, lúc đã có duyên học Phật một chút mới thấy câu ấy mênh mang ý tứ, hàm ẩn nhiều, ý nghĩa giáo dục theo tinh thần con nhà Phật rất cao.
Ăn mày, hạng người tột cùng của xã hội, bị người đời nhiều lúc rẻ khinh, người ta dùng chữ “ăn mày” để chỉ điểm cuối cùng của giá trị làm người, trong nhiều trường hợp. Nhưng tại sao “..ăn mày là ta”?, ta – tất cả, lẽ nào tất cả là ăn mày, một “nghề nghiệp” đáng sợ?

Quả thực, nếu xét theo văn chương thuần túy thì đấy cũng là bước “khái quát” bạo liệt khác thường, nhưng ngẫm kỹ thì cũng hiểu được theo lẽ thông thường vì nội dung câu đã gói trọn vẹn ý tứ cần phát đi: “đói cơm rách áo” tất “hóa ra ăn mày”, logic chặt chẽ. Thì ra, mấy chữ thôi, mà nội dung thực trọn vẹn đủ đầy: ăn mày, tình trạng khốn quẫn cuối cùng chỉ sự khánh kiệt về tài sản, mà trong cuộc đời cạnh tranh, được mất, vô thường, mọi cái đều có thể, “đói cơm rách áo” lẽ nào miễn trừ ta, nên “thành ra ăn mày” đáng sợ mà không khó hiểu lắm, lẽ vô thường.

Trong một câu không hề có trong kinh điển nhà Phật, lại mang trong mình ý tứ sâu sắc của lời Phật dạy: không được khinh rẻ người ăn mày, cũng đồng kiếp con người, họ cũng như ta – được sinh vào cõi người, chỉ vì phước phạn mỏng do duyên nghiệp mà chịu cảnh như thế. Họ cũng luân hồi hay giải thoát nếu có công hạnh tu tập, như mọi chúng sinh. Dưới mắt Phật, nhân gian không có ai đáng khinh rẻ, côn trùng cây cỏ còn trân trọng nói chi con người? Ăn mày, thang bậc cuối cùng, về khả năng, ai cũng có thể vẽ “cõi” ấy nếu không gây dựng công đức, không có phước báu tốt.

Giả thuyết: có một ông chủ nọ giàu có tiền muôn bạc vạn, vinh hoa phú quý, do nhiều nhân duyên, làm ăn thất bát, tai họa liên miên, phút chốc trắng tay, lây lất mãi rồi cuối cùng người ta thấy ông tiều tụy làm thân ăn mày! Chuyện này có hoang đường và phi lý hay không? Không, về khả năng là có, xác suất cao, nhất là trong “cơ chế thị trường” khốc liệt bây giờ, sáng dậy mở mắt trúng quả đậm thành tỉ phú, tối nghe cuộc điện thoại hay một tin nhắn, một email cho biết thương vụ làm ăn thất bại, thành ra bần hàn là thường.

Xem thời sự trên ti vi, đọc nhật báo hay cà phê sang quán cóc, chẳng lẽ không nghe chuyện bể dâu giàu – nghèo thay đổi như chong chóng đó sao?

Đời là vậy, song lý luận nhà Phật phân tích rõ hơn, khúc triết hơn nhiều: lẽ vô thường, nhân quả, phước báu…có hết trong ấy, sự được mất, thấp cao của phận người. Hưởng phước giàu sang mà không gìn giữ, không thi ân bố đức làm việc nghĩa, không từ thiện, cúng dường, không tu tập.. thì sự giàu sang không bền ngay ở đời ta, lại còn đời con, đời cháu, chắt…Ông nội là đại điền chủ, cháu hay xe ôm, hay bán vé số chẳng lẽ không có hay sao? Ngược lại, ông nội thân ở đợ nhà giàu, biết tằn tiện gìn giữ chắt chiu và tu tâm, tu khẩu, tu ý.. Đời con đời cháu thành phú gia, chẳng lẽ cũng không có sao? Đấy, triết lý nhà Phật nào phải thô vụng, mê tín như một số người nghĩ, mà biện chứng, khoa học, xét sự vật hiện tượng trong sự vận động liên tục như thế đấy.

Chưa hết, câu ấy còn mênh mang lắm: ta nhìn vào tha nhân, người ăn mày đói khổ, lạnh lẽo, bị rẻ khinh ngoài đường, lẽ nào không thể quán tưởng mà có lợi cho sự tu tập của chính mình, “ăn mày là ta” chính là lời nhắc nhở nghiêm khắc, chỉ cho thấy lẽ thật: anh chị không lo làm ăn, tu tập mà ăn ở thất đức, gây oán chuốc thù, hoang phí, phạm pháp…chẳng lâu đâu, thành ra ăn mày. Chẳng lẽ phương pháp nhìn tha nhân mà sửa mình không hiệu nghiệm lắm sao?

“Phát hiện” – tạm mạo nhận vậy - thấy ý Phật trong câu dân gian dung dị, trong lòng thú vị lắm. Câu ấy gom thu nhân sinh lại làm một, “gói” trong kiếp ăn mày mà cảnh tỉnh, nhắc nhở, đồng thời kêu gọi tình thương yêu con người, cho thấy sự luân hồi, vận động, tương tác.. rất biện chứng trong cõi người, cõi đời. Ít có câu dân gian nào mà hàm chứa sâu xa lời Phật nhiều đến thế, sâu đến thế. Nương theo đấy mà tu, nghĩ cũng hữu lý lắm…

Nguyễn Thành Công: nguồn: phatgiao.org.vn
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 03:08 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CHÙA TỪ HIẾU.

(Trích trong Giai thoại chốn Thiền môn .Trang nhà Liểu Quán Huế.)

Ở Huế, có đến hàng trăm ngôi chùa cổ nối tiếng, mỗi ngôi chùa có mỗi trang sử xuất xứ đặt trưng riêng biệt, có chùa thì gắn liền với nhiều câu chuyện giai thoại thiền môn thần bí, có chùa thì gắn liền với những sự tích răn đời dạy người...và Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa có nhiều nét riêng nhất.

Chùa Từ Hiếu nằm giữa một rừng thông rộng lớn bao la xanh tươi bát ngát thuộc vùng núi Dương Xuân, xã Thuỷ Xuân thành phố Huế. Chùa thành lập năm 1842, ban đầu là một thảo am có tên là am An Dưỡng do Tổ sư Nhất Định huý Tánh Thiên (1784-1847) thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 39 sáng lập nên.

Ngài người họ Nguyễn, làng Trung Kiên cách cựu dinh Ái Tử nổi danh câu hò nặng tình mẫu tử “mẹ thương con ra ngồi cấu Ái Tử” chừng 3km thuộc tổng Bích La huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (Quảng Trị). Ngài nguyên là Tăng Cang chùa Giác Hoàng trong cung vua, sau cáo lão về rừng dựng am nuôi dưỡng mẹ già 80 tuổi và tu hành thanh tịnh. Cuộc đời tu hành phạm hạnh của Ngài gắn liền với sự ra đời cái tên chùa Từ Hiếu.

Bắt đầu từ một câu chuyện chấn động “thiên triều” dưới thời vua Tự Đức (1848-1883)-một ông vua nổi danh hiếu thuận với phụ vương Thiệu Trị (1841-1847) và hoàng hậu Từ Dũ. Câu chuyện thiền môn xứ Thuận Hoá xưa kể rằng Tổ sư Nhất Định từ ngày về rừng lập am An Dưỡng tu hành có đem theo mẹ già để chăm lo nuôi dưỡng. Mẹ ngài do tuổi cao sức yếu lại còn thường xuyên ốm nặng, các thầy thuốc đến khám đều khuyên Tổ sư nên bồi dưỡng mẹ bằng cá thịt thì bà mới có cơ may phục hồi thể trạng. Vì vậy, hàng ngày Tổ sư Nhất Định chống thiền trượng xuống chợ Bến Ngự mua cá tươi về nấu cháo nuôi mẹ. Người đời thấy vậy đã có nhiều lời đàm tiếu, họ bàn tán với nhau rằng Hoà Thượng “ăn mặn” (thịt cá) bất tịnh, nhưng Tổ cứ mặc nhiên.

Có lẽ, trong dòng máu tâm linh của Ngài đã thấm sâu câu hò xứ sở tình mẫu tử thiêng liên; thêm vào đó là tâm thức Tổ đã được tu tập với muôn vàng pháp môn của nhà Phật: trong đó có Đạo Hiếu: “phụ mẫu tại đường như Phật tại thế” vì vậy mà Ngài đã luôn tâm niệm miễn sao tự mình giữ được Phật tính thanh tịnh trong mình, ăn uống chẳng qua là phương tiện, huống nữa đây là một công việc báo hiếu mẹ già tuổi cao sức yếu. Câu chuyện đồn động đến thiên triều vua Tự Đức, nhà vua bèn sai binh lính ngày đêm túc trực canh gác xung quanh vườn chùa xem sự việc thực hư thế nào. Quả nhiên binh lính tận mắt chứng kiến Thiền sư xách đãy cá vào chùa, họ theo dõi, mới hay, Thiền sư nấu cá cho mẹ, còn mình thì tự ra vườn lặt lấy những cộng rau khoai lang vàng úa đem vào luộc ăn. Vua Tự Đức nghe thế rất chạnh lòng thương cảm đức hiếu thảo của sư trong am tranh tận chốn thâm sơn cùng cốc.

Mãi đến khi Tổ sư viên tịch (1847), môn đệ và thiện tín cùng hoàng tộc, quan tướng quý phái các giám quan, cung giám ... trong triều đình nhờ vào đức hiếu thảo của Tổ sư mà được hoá duyên, họ xem việc thờ cúng Tổ sư như là những người con báo hiếu với người Cha tinh thần mà bèn cùng nhau chung sức quyên góp tiền của, làm mới ngôi chùa với nhiều công trình to lớn trang nghiêm. Sau khi xây dựng xong, tâu lên vua Tự Đức, vua liền nhớ chuyện xưa sắc từ cho chùa danh hiệu “Từ Hiếu Tự” lại cấp thêm 700 quan tiền để tỏ lòng khuyến khích. Nhân đó, các thái giám Dương Oai, Đặng Tín, Đỗ Thi bèn cùng nhau cậy nhờ Hiệp Biện Đại học sĩ Nguyễn Đăng Giai (người đã thọ tại gia bồ tát giới với Tổ) soạn lời vàng thống thiết tạc vào bia đá để lưu lại cho hậu thế noi gương, văn bia khắc vào ngày tốt tháng đầu mùa hè năm Tự Đức thứ 2 (1849).

Ngày nay, kẻ hậu thế noi gương đức hiếu, mày mò từng câu chữ trên bia đá lời vàng, chợt bàng hoàng với ý nghĩa sâu xa của hai chữ Từ Hiếu: “Ôi, Từ là đức lớn của Phật, không Từ thì lấy gì mà độ tứ chúng và cứu muôn loài?Hiếu là hạnh lớn của Phật, không Hiếu thì lấy gì mà chở che đất trời, thấu suốt được cõi u minh? (...) Từ để dạy thiên hạ cái đạo làm cha, Hiếu để dạy thiên hạ cái đạo làm con. Từ Hiếu là vậy đó, hai đức hạnh ấy không riêng gì đạo Nho mà đạo Thích cũng muốn đạt tới, không riêng gì chùa nầy lấy Từ Hiếu làm tên mà mọi ngôi chùa trong thiên hạ đều có thể lấy làm tên được cả. Không riêng gì đạo Thích lấy chữ Hiếu làm khuôn phép tu hành hoằng dương cháng pháp mà trong thiên hạ đạo Nho cũng có thể lấy đó làm gương soi cho mọi người...Huống chi chùa nầy thiền tăng Nhất Định đã từng lấy Từ để giáo hoá chúng sanh, khiến phần lớn trong giới đàn việt có thể bước lên cửa không của Phật mà chứng ngộ được tánh tì lô thì chẳng phải do chữ Từ hay sao? Các ông cung giám thường lấy Hiếu để thờ phụng bậc sư trưởng, làm được công đức trang nghiêm nầy lại có thể nương vào hương hoả của tiền nhan để làm bến bờ cho mai hậu, ấy chẳng phải do chữ Hiếu hay sao?".

Lời bia càng đọc càng thấy thâm thuý cái ý nghĩa lớn lao, cao xa, đúng đắn, sâu sắc của hai chữ Từ Hiếu. Thì ra, những mãnh đời bất hạnh không được làm cha làm mẹ như các giám quan, cung giám trong triều đã cùng nhau tìm ra lối thoát tâm linh, gây dựng ngôi Tam Bảo để có nơi nương tựa tinh thần, đồng thời chuyện hậu sự cũng đã có đàn na tín thí ghi ân mà hương khói cho họ đấy cũng là một việc hiếu vậy.

Qua câu chuện báo hiếu của Tổ sư Nhất Định và lời văn bia sâu sắc của hai chữ Từ Hiếu cũng như quan niệm đúng đắn về chữ Hiếu của các giám quan mới thấy được cái dụng công dụng ý của tiền nhơn. Bia viết tiếp: Tuy sáu năm thành đạo, ngài Nhất Định chưa dám sánh với Đại Hùng Sư; mười khoảnh trải vàng, kẻ đàn na chưa dám nghĩ là Cấp Cô Độc nhưng rạng rỡ một nhà Từ Hiếu, lẫy lừng muôn thủa tôn phong.

Như vậy, từ khi khai sơn, dựng chùa cho đến trùng tu cửa Phật là nhằm để lưu truyền phước đức cho con cháu đời sau và cũng để hoằng dương đạo pháp, ngoài ý nghĩa ấy, điều đặt biệt đối với chùa Từ Hiếu nữa là nơi gửi gắm tâm linh cho những con người goá bụa cô đơn cô quả. Cho nên, chùa Từ Hiếu, ngày nay và ý nghĩa hai chữ Từ Hiếu mà vua Tự Đức ban cho ngoài ý nghĩa là nơi thờ Phật phụng Tăng, một danh lam thắng cảnh của đất Thần Kinh còn là một chứng tích của lòng Từ và đạo Hiếu của nhà Phật giúp chúng ta luôn suy nghĩ về những con người ở đời mà bất hạnh thiếu đi hai tiếng mẹ cha, và càng bất hạnh hơn cho những ai có được cái vinh hạnh ấy, có cha có mẹ mà không biết phụng dưỡng báo đáp thâm ân sinh thành dưỡng dục.

Chuyện Hiếu Đạo của Tổ sư Nhất Định đã mãi lan truyền trong chốn thiền môn xứ Huế từ xưa cho đến nay và đã thấm sâu vào trong đời sống văn hoá của người dân xứ Huế. Người viết thiết tưởng nhắc lại chuyện cũ người xưa là để khuyên răn người đời cần hiểu đúng đắn và luôn tôn trọng, giữ gìn gia sản văn hoá của tiền nhân thì xã hội sẽ bớt đi nhiều đau khổ!
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 03:15 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ (Nguồn: Tịnh Tâm.org)

GIEO NHÂN XẤU ÁC, QUẢ BÁO HIỆN TIỀN.

Ngày 21/5/1982, báo Đài Loan đăng một tin chấn động lòng người.

Chuyện thế này: Một thiếu nữ 19 tuổi tên Ly bị xe tông hôn mê bất tỉnh, sau đó thành người thực vật. Ba mẹ Ly đã dốc hết tài sản, thậm chí phải cầm cố mọi thứ để chữa bệnh cho con, nhưng vô phương vực lại sức khỏe cho cô.

Vì chăm sóc con gái bị tai nạn tàn khốc giày vò, mẫu thân cô ly hoàn toàn đuối sức. Bởi bà vốn bị bệnh tim nên hay ngất xỉu, chính bà cũng vô phương chăm sóc bản thân nên cuối cùng chỉ có ông Hanh (là phụ thân cô Ly) gánh hết mọi việc chăm sóc con gái. Ông phải luôn túc trực kề cạnh con, cứ nửa giờ giờ thì rút đàm một lần và độ một tiếng là phải trở mình cho con, giúp Ly đại tiểu tiện, phải lau dọn vệ sinh nhiều lần, vô cùng vất vả…

Xem như kể từ đó, suốt đời ông Hanh phải chăm sóc, lau dọn tiểu dãi, tẩy rửa vệ sinh cho con gái, mãi mãi không có cơ hội để nghỉ ngơi.

Xét về nỗi nhọc nhằn thân xác cộng với niềm đau tinh thần, nếu ví những thống khổ nặng nề này tựa quá sức chịu đựng. Nhưng vì sao họ lại gặp chuyện bất hạnh như thế?

Nguyên do là vào năm 1958, ông Hanh từng lái xe hơi đụng một phụ nữ nghèo họ Trần chết thảm khiến 7 đứa con thơ dại của bà chịu cảnh mồ côi. Sau đó, nhờ ông Hanh khéo léo giỏi tìm đường thoát cho mình nên ông không hề bị pháp luật trị tội, án kia còn được xử hòa. Thậm chí ông Hanh còn không phải chịu bồi thường hay chịu trach nhiệm gì với gia đình nạn nhân.

Ông Hanh cư xử rất vô tình, không hề tội nghiệp, không hề biết quan tâm chăm sóc cho đám trẻ mồ côi đáng thương kia. Ông đã khiến chúng lâm vào đường cùng, gặp phải cảnh bất hạnh cực lớn trong nhân gian. Hành động này từng khơi dậy mối căm phẫn của nhiều người.

Nhưng 5 năm sau, (1963) con gái ông Hanh đang học cao trung, bị xe đụng bất tỉnh hôn mê. Sau đó dù cho vợ chồng ông Hanh đã chữa khắp nơi, mời danh y trong nước, dùng đủ thuốc bí truyền, kể cả thỉnh các đạo sĩ pháp lực cao cường, các phù thủy trên núi cao đến lên đồng, làm phép….Vì quá thương con, họ đã bỏ ra số ngân khoản kếch sù đưa con qua Mỹ để chữa bệnh, nhưng tất cả đều vô hiệu.

Đến năm 1983 đã hơn 20 năm trôi qua, cô Ly vẫn chưa tỉnh lại, do vậy mà cha mẹ cô và người nhà vẫn tiếp tục thọ khổ, bị buồn đau giày vò nung nấu triền miên trong cõi nhân gian.

Rõ ràng cha cô Ly, ông Hanh – sau khi gây án xong dù ông được bình an thoát lưới pháp luật thế gian, không hề bị trừng phạt gì. Song ông không thể thoát khỏi sự trừng phạt của luật Nhân Quả, nên phải lãnh số mệnh bi thảm sau đó. Báo ứng đáng sợ hiện tiền, khiến mọi người ai nhìn thấy gương của ông mà đề cao cảnh giác.

Nhân đây, bút giả xin nhắn gởi đến các bằng hữu lái xe, dù là lái xe hơi hay xế nổ phải hết sức cẩn thận. Ngàn vạn lần chớ nên phóng nhanh giành đường vượt ẩu, tạo lỗi sơ suất nhất thời. Quý vị cần tuân thủ triệt để luật giao thông và phải biết quý trọng mạng người, đừng gây tổn hại cho bất kỳ ai. Hãy cẩn thận để bản thân khỏi bị luật Nhân Quả đáng sợ trừng trị.

Hãy nghĩ kỹ xem, nếu như tài xế lái xe không cẩn thận, gây tổn hại cho cha mẹ, con cái hoặc người thân yêu của chúng ta; thì tất nhiên chúng ta sẽ cảm thấy vạn phần thống khổ, sẽ căm hận và phẫn nộ vô cùng. Bởi vậy, những gì mình không muốn thì chớ làm cho người khác như thế. Hi vọng ai ai cũng đều nhớ và biết đặt mình vào hoàn cảnh của người để hiểu và cảm thông tận cùng. Phải biết quý trọng sinh mạng và triệt để giữ gìn an toàn cho mọi người. Có thế mới không tạo ra cảnh bất hạnh.

Nếu như không cẩn thận, không biết trân quý mạng sống của kẻ khác thì “hại người chính là tự hại mình”. Trong tương lai một khi báo ứng đáng sợ ập đến, lúc đó có hối hận thì cũng không kịp, được sự phải gánh lấy hậu quả cực kỳ thống khổ. (trích những truyện có thật)

LUẬT NHÂN QUẢ: AI LÀM NGƯỜI ẤY CHỊU.

Nhiều người thắc mắc cho rằng cha mẹ làm ác thì có lý nào con cháu phải hứng chịu những hành động ác đó? Như vậy há chẳng phải luật Nhân Quả không công bằng hay sao? Kỳ thật, cái gọi là “tai họa cho con cháu” cũng chỉ là một câu nói theo thói quen, tập quán, chỉ là một hiện tưởng ngoài mặt, chứ phía sau nó còn ẩn chứa một đạo lý rất sâu.

Trong kinh Xuất Diệu Đức Phật dạy: “Mình tạo tội thì tự mình chịu ai ương, không ai có thể thay thế mình được”. Câu này Đức Thế Tôn muốn nói với chúng ta, “tự làm tự chịu” là nguyên lý về nhân quả, không có chuyện mình làm ác mà con cháu phải chịu ác báo thay. Sở dĩ có hiện tượng “tai họa cho con cháu”, nguyên nhân chính là do “Cùng nghiệp đi với nhau, cộng nghiệp chiêu cảm lẫn nhau, quả báo đời sau chuyển thành quả báo hiện tại”.
Cái gọi là “cùng nghiệp đi với nhau” là chỉ cho những người trong đời quá khứ đã tạo các nghiệp thiện, ác giống nhau, cho nên mới có xu hướng làm quyến thuộc họ hàng với nhau. Ví dụ đời trước có hai người cùng khuyên mọi người tu bố thí, nên đời này làm cha con lẫn nhau, người cha kiếm ra thật nhiều tiền, người con sinh trong gia đình ấy, cùng nhau hưởng phước báo giàu sang.

Cái gọi là “cộng nghiệp chiêu cảm lẫn nhau” là chỉ cho tất cả cộng đồng cùng tham gia trong đời trước, là những người cùng tạo nghiệp thiện hoặc ác, cho nên có xu hướng làm quyến thuộc họ hàng với nhau. Ví dụ trong đời trước, hai cha con cùng nhau đi ăn trộm, đời này quả báo người cha phải đi ăn xin, người con sinh làm con của người ăn xin đó, cho nên hai người phải chịu quả báo bần cùng, đói rách.

Cái gọi là “quả báo đời sau chuyển thành quả báo hiện tại” : Vốn ác báo đó đến đời sau mới chịu, nhưng do trong cuộc sống gặp được những duyên thích hợp, làm cho ác báo đó sớm thành thục. Vì thế đời này phải chịu luôn ác báo; có người đáng lẽ phải đến tuổi già mới thọ ác báo nhưng cũng do duyên mà phải thọ ác báo ngay khi tuổi còn trẻ. Là do duyên đã chín muồi.

Rất nhiều bằng chứng sống trong xã hội, người tạo nghiệp sát nhưng chưa thấy họ chịu ác báo, là do phước báo của họ chưa hết, với lại duyên chưa đủ để ác báo thành thục. Lúc này , sẽ xảy ra những khả năng:

* Sau khi những người làm ông bà cha mẹ tạo nghiệp sát sinh, con cháu sinh ra có đứa tàn tật, dị hình, bệnh hoạn, chết yểu…đây là quả báo của việc sát sinh do chính những đứa con đó đã tạo trong kiếp trước của nó. Bởi vì do “cùng nghiệp thì đi với nhau, cộng nghiệp nên chiêu cảm lẫn nhau”. Đáng lẽ ác báo của những đứa con, đứa cháu này đến đời sau mới xuất hiện, nhưng do nó có cùng nghiệp giống với những người sẽ làm cha mẹ ông bà nó nên nó đầu thai vào làm con cái hay cháu. Lúc này con cháu gặp những ác báo chính là do ác báo của bản thân nó đã thành thục, chứ chẳng phải chúng chịu tội thay cho tổ tiên, cha mẹ. Còn cha mẹ ông bà nó tạo nghiệp sát sinh thì có thể sẽ tự chịu trong kiếp này hoặc kiếp sau.

* Sau khi sinh con cháu rồi chúng ta mới tạo ác nghiệp: Nếu nó là đứa phước mỏng, vả lại đời trước nó đã tạo nghiệp sát sinh, mà bây giờ chúng ta lại tạo nghiệp ác, khiến cho quả báo sát sinh của con cháu chúng ta đến sớm hơn; đáng lẽ với việc ác đó đời sau nó mới thọ ác báo, nhưng gặp duyên sát sinh của cha mẹ, do vậy mà ngay đời này nó phải hứng chịu ác báo nhiều bệnh tật, chết yểu hay gặp chuyện bất trắc.

Chuyện con cháu chịu ác báo chỉ là “quả báo đời sau chuyển thành quả báo hiện tại” mà thôi, nhưng chính vẫn là “tự làm, tự chịu”, điều này cho thấy Luật Nhân Quả rất công bằng.

Last edited by Rau Sam; 01-23-2018 at 03:19 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 03:22 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
GƯƠNG NHÂN QUẢ: QUẢ BÁO HIỆN TIỀN

Minh An xin phép kể một câu chuyện Nhân Quả Hiện tiền trên thế gian mà Chính Minh An và các Phật tử đều biết đến:

Có một vị Phật tử nam đã lớn tuổi, năm đó ông cụ cũng khoảng ngoài 70 tuổi. Ông cụ thường chở vợ đến chùa để làm công quả và tu tập (Tụng Kinh), nhưng ông cụ chỉ ngồi ở ngoài sân chùa để trò truyện với các bạn Phật tử (những người bạn Phật tử này cũng là những vị trong hàng ngũ quân đội của chế độ VNCH), nên chuyện của họ nói không bao giờ hết.

Ông cụ thường kể chuyện cho mọi người nghe về một thời vàng son, oanh liệt của mình trên các trận chiến cũng như trong sự ăn chơi và sinh hoạt cuối tuần của ông cụ. Ông cụ thường kể rằng mình thích ăn tôm hùm, con nào càng mạnh và còn nguyên càng thì ông cụ mới mua. Hàng tuần ông thường mua và mỗi lần mua đều cả chục con để đãi bạn bè. Và thói quen ấy cứ tiếp diễn trong suốt thời gian ông còn trẻ cho đến thời điểm đó.

Một hôm ông cụ bị stroke (tắc nghẽn mạch máu) và té mê man, bất tỉnh nhân sự. Trong lúc mê man ông cụ thấy rất nhiều, có cả hàng trăm con tôm hùm thân hình to lớn gấp hàng trăm lần thân thể ông cụ, rượt đuổi và dùng càng xâu xé thân thể của ông. Ông cụ đau đớn vô cùng và cố gắng bỏ chạy, nhưng không thể chạy được. Cứ thế tan xương nát thịt, rồi lại thấy mình sống lại để cứ thế bị đuổi rượt và bị xâu xé thân thể, đau đớn khôn cùng. Có con lấy càng cắt đầu ông cụ, có con cắt tay, vặn chân, bẻ tay giống như lúc ông từng bẻ những càng tôm để ăn không khác. Ông cụ rất đau đớn và tìm cách chạy trốn, nhưng không thể chạy đi xa được. Cứ chết đi sống lại cả trăm ngàn lần như vậy (thời gian này là thời gian ông cụ đang hôn mê trên giường ở bệnh viện).

Đến lúc ông cụ quá đau đớn và sợ hãi, không còn cách nào khác ông vội quỳ xuống tỏ sự hối hận của mình trước mặt những con tôm hùm kia, van xin sám lỗi và hứa nguyện nếu được thân người ông sẽ chuyên cần tụng kinh để hồi hướng cho những con tôm đã chết. Vì ông chỉ có thể nhớ là tụng kinh chứ không thể nhớ ra câu niệm Phật, cũng vừa ngay lúc ông quỳ xuống cầu xin sám hối tha mạng thì chính là lúc đó ông hoàn hồn tỉnh lại trên giường ở bệnh viện.

Ông kể, lúc đó phân tiểu đã ra đầy cả quần và ướt cả áo. Người vợ thấy ông tỉnh lại thì mừng vui vô hạn, nhưng ông nói đưa điện thoại để ông gọi cho Ni Sư trụ trì chùa ông thường đi. Trong lúc gọi điện thoại, ông rất khẩn thiết xin Ni Sư trụ trì giúp ông truyền trao Tam Quy và Ngũ giới và phát nguyện ăn chay trường. Lúc đó vào khoảng 2 – 3 giờ sáng, ông cụ và vợ vội vã đến chùa và nhận thọ Tam Quy và Ngũ giới ngay sau đó.

Ông nức nở khóc lóc và trình bạch mọi sự việc trong lúc ông đang mê man cho Ni Sư Trụ trì nghe (Một người đàn ông oai phong từng với chức vụ Đại tá, hiên ngang oai hùng trong các chiến trận, không hề sợ súng đạn mà bây giờ trước Tam Bảo phải quỳ khóc cầu khẩn, sám hối tội xưa) thì đủ hiểu khi nghiệp lực đến để đòi nợ thì không kể một ai cũng phải nhận chịu, dù lực sĩ hay tướng cướp, can cường, lì lợm, cứng đầu đến đâu cũng phải cúi đầu nhận lãnh nghiệp quả của mình gây ra, những nhân ác nào đã làm thì tự mình phải chịu trả quả.

Từ đó về sau ông cụ trở nên rất chuyên tu niệm Phật cầu sám hối những tội nghiệp đã gây ra từ lúc còn trẻ, ông cũng đã phát nguyện trường chay đến cho đến cuối cuộc đời. Khi đến chùa ông cụ chỉ một lòng niệm Phật, ở nhà cũng không dứt câu niệm Phật, không còn ngồi nói chuyện như xưa nữa. Nhiều bạn ông tưởng rằng sau cơn bệnh ông bị khủng khoảng tinh thần và giống như người bị bệnh Tâm thần, ít ăn , ít nói, lúc nào cũng cầm tràng hạt trong tay niệm Phật. Cho đến một ngày ông cụ dọn qua tiểu bang khác và từ trần ở đó, gia đình cụ cho biết ông ra đi rất thanh thản, trên tay vẫn còn cầm chuỗi trang niệm Phật và vẻ mặt thật tươi lại còn có mùi thơm kỳ diệu phát ra.

Cũng từ câu chuyện này người kể kính mong qúy Liên Hữu hãy xem đó làm gương để cùng nhau tinh tấn dõng mãnh tu tập với TÍN - HẠNH - NGUYỆN bất thoái nhé.

Kính thuật: Phật tử Minh An – USA (tuvienhuequang)

NHÂN QUẢ BÁO ỨNG TƠ HÀO KHÔNG SAI, MỘT MẢY LÔNG BỤI TRẦN CŨNG KHÔNG THOÁT. NGHIỆP THIỆN ÁC LUÔN THEO TA NHƯ BÓNG THEO HÌNH.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 03:36 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
SÁT SANH VÀ QUẢ BÁO HIỆN TIỀN. (Tác gỉả : HỬU MINH.)


Tôi sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, nơi có bãi biển nổi tiếng dài và đẹp. Nhà tôi không cách xa biển là bao nên thuở bé tôi thường hay xuống biển bơi lội vẫy vùng mỗi ngày, vì thế nên tôi bơi lội rất giỏi. Cũng nhờ bơi giỏi nên tôi thường lặn ngụp dưới làn nước sâu để đâm cá hay cua ghẹ thường xuyên.


Từ thói quen giết vật như thế đã huân tập cho tôi tập khí sát sanh từ thời niên thiếu mà chính tôi chẳng hay vì xung quanh tôi bạn bè hay người lớn ai cũng đều như thế.

Mỗi lần theo gia đình về quê tôi thấy các trẻ chăn trâu câu cá vui quá nên rất ham thích và cũng vào nhập hội câu chung. Ở nhà mỗi khi thấy bầy kiến lửa ở góc sân là tôi đốt đèn cầy, kế đó nhễu xuống khiến đàn kiến chết quăn chân cẳng. Nếu không đốt đèn cầy thì cũng lấy thau hứng nước cho đầy, rồi đổ cho ngập tổ kiến. Nhìn thấy đàn kiến lửa bị ngập nước mà vẫn bò qua lại dưới nước được tôi lại càng thấy thích thú. Có lẽ đó là cái nhân khiến giờ đây tôi phải trả quả báo về tim mạch, hơi thở của tôi hệt như người chết đuối hụt hơi, đang lặn ngụp vùng vẫy dưới nước.

Có một thời gian khoảng hơn năm tôi ở Phi Luật Tân, nhà ở gần mép biển nên tôi hay theo đám bạn cùng lứa xuống biển bắt hải sản về cải thiện bữa ăn. Lần sát sanh nhiều nhất là đi săn chình. Loài cá chình con chưa lớn nên không sống ở vùng nước sâu mà chỉ hay đào lỗ sống ở vùng nước cạn và đương nhiên đã trở thành món mồi ngon cho đám "sát thủ" tụi tôi lúc bấy giờ. Buổi trưa là lúc thủy triều hạ nên cả đám xách xô đi săn chình.

Chúng tôi mỗi đứa xách 1 cái xô, cầm theo 1 cây xiên, trên đầu gắn cây sắt đã được mài nhọn dùng để đâm chình. Vì nước cạn chỉ cao đến đầu gối nên rất dễ thấy các lỗ cát nơi chình con ở. Thế là chúng tôi chỉ việc đâm xiên xuống lỗ là hầu như trúng con mồi. Chỉ một buổi trưa là xô đầy ắp chình, đem về nấu cháo chình ăn mấy ngày mới hết. Lúc ấy tôi đơn giản nghĩ đó chỉ là một bữa ăn ngon, chẳng ngờ sau này tôi phải bị quả báo.

Rời Phi Luật Tân tôi đến Mỹ định cư tại tiểu bang Washington khi tôi khoảng 14 - 15 tuổi không người thân và gia đình. Vì còn nhỏ ở lứa tuổi vị thành niên nên tôi được ở chung nhà với gia đình bảo trợ. Nhà ông bảo trợ có một chiếc tàu lớn gồm 3 phòng ngủ. Mùa hè ông hay kéo tàu ra hồ lớn để câu cá và mọi người cũng theo ông đi câu. Thế là nghiệp sát cá từ bên nhà, sang Mỹ tôi lại tiếp tục sát cá. Có một hôm đi câu cá trê, loài cá này có sở thích là ban đêm mới bơi ra đi tìm thức ăn, ban ngày thì đi đâu mất.

Đêm ấy đang chờ câu tự dưng tôi buồn ngủ quá nên ngủ quên trên tàu. Buổi sáng hôm sau lúc tôi thức dậy nhìn quanh sàn tàu thấy la liệt thùng nhựa đựng cá cỡ lớn, bên trong chứa rất nhiều cá trê. Nghe mọi người kể lại đêm hôm trước trúng lớn vì cá đi ăn đêm rất nhiều. Ai cũng được cá cắn câu nên giựt cần liên hồi. Nghe vậy tôi cứ chậc lưỡi hít hà vì tiếc rẽ không chịu ráng thức để câu. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình vô cùng may mắn, nhờ bị ngủ quên chứ nếu không nghiệp sát của tôi cứ thế lại chồng chất nhiều thêm.

Vào trung học, những lúc rảnh rỗi chúng bạn rủ tôi đi mua súng hơi bắn chim. Vậy là tôi cũng đi mua cây súng mạnh nhất hồi ấy để vào rừng bắn chim. Vì súng mạnh nên chim đậu cao và xa cách mấy cũng bị tôi bắn trúng. Vài tháng sau đứa bạn thiếu tiền lén cầm cây súng đi bán khiến tôi cứ hậm hực vì tiếc cây súng tốt. Sau này tôi mới thấy đó lại là một điều may mắn, nếu không tôi đã tiếp tục sát sanh không biết đến bao giờ mới dừng lại.

Khi học hết phổ thông, muốn học tiếp lên đại học nhưng tôi không có tiền nên khi ấy nghe nói đi đánh bắt hải sản ở tiểu bang Alaska kiếm rất nhiều tiền, ước mong muốn kiếm tiền nhanh để được học đại học đã thôi thúc tôi lên đường. Tôi được đưa lên một chiếc thuyền để làm và đóng gói cua nước mặn. Chiếc thuyền tôi làm rất lớn, họ chuyên đi vòng vòng trên biển Bearing Sea (giữa Liên Xô và tiểu bang Alaska của Mỹ) để mua lại cua từ những thuyền nhỏ hơn chuyên đánh bắt cua ngay trên biển.

Loài cua sống ở vùng nước mặn và lạnh này rất to, thịt rất ngon nên bán rất nhiều tiền. Mỗi con cua trung bình ước lượng khoảng 1,5 kg trở lên. Con nào nhỏ không đủ cỡ là phải quăng lại xuống biển, và chỉ được bắt cua đực, không được bắt cua cái để còn sinh đẻ. Nếu làm trái luật sẽ bị phạt nặng. Người Nhật rất thích ăn loại cua này nên họ cử người từ bên Nhật sang để trông coi và mua ngay sau khi những nhân viên làm việc trên tàu như tôi đã thịt cua và sắp xếp ngăn nắp vào thùng. Mọi công việc từ mua cua, giết cua, sắp xếp vào thùng cho đến lúc bán đều xảy ra ngay trên biển.

Sau 1 năm làm việc tôi cầm hơn 20 nghìn đô trở về, mua 1 chiếc xe và đi học lại. Năm đó tôi tròn 20 tuổi. Khi ấy tôi nào có biết đến Phật pháp là gì, Phật A Di Đà là ai, chùa chiền cũng không biết ở đâu để tìm đến nên cứ vô tư mà tạo nghiệp. Giờ nghĩ lại tôi mới thấy vô cùng hổ thẹn và tội lỗi ngập tràn. Đó là lần sát sanh nhiều nhất trong đời tôi và cũng là điều tôi ân hận nhất trong cuộc đời. Nếu ước tính có lẽ đã có cả nghìn chú cua không may bị tôi làm thịt để xuất khẩu sang Nhật.

Sau 1 năm làm việc tại tiểu bang Alaska, tôi về lại tiểu bang cũ Washington. Ban ngày đi học, buổi tối tôi đi làm thêm bán thời gian tại một nhà hàng ăn uống hải sản để trang trải chi phí ăn học và thuê nhà. Nơi tôi làm việc là một nhà hàng sang trọng nằm bán phần trên biển. Phần lớn thực khách là giới thượng lưu. Tàu thuyền chạy trên biển có thể ghé sát nhà hàng rồi neo lại để vào ăn uống bên trong. Nhìn bãi đậu xe của nhà hàng là người ta có thể đoán ra những người ngồi bên trong nhà hàng thuộc tầng lớp nào. Nhân viên bên trong nhà hàng là những người được tuyển chọn kỹ càng, có học vấn và kỹ năng giao tiếp khá, vô cùng lịch sự. Phần lớn họ là giáo viên đi làm thêm ngoài giờ để tăng thu nhập vì tiền tip (boa) mỗi đêm khá nhiều.
Tôi làm ở khâu hậu cần, tức nấu bếp nên có thêm nhiều cơ hội để tiếp tục... sát sanh. Thực đơn nhà hàng đa số là hải sản trong đó có tôm hùm và cua vua Alaska (king crab). Ai muốn ăn thịt bò cũng có vì đã được nhà hàng nhập từ nơi khác về. Loại hảo hạng được cắt, cân từng miếng rất đẹp và hấp dẫn. Là dân nấu bếp nên một trong các quyền lợi là được ăn miễn phí. Thích món nào là tôi lôi ra “chén". Có khi muốn ăn những thứ không có trên menu thì cả đám thợ nấu chúng tôi tự chế, rồi lôi soong chảo ra tự biên tự diễn. Một trong các món ăn của thực khách ở đây đòi hỏi sự tươi sống là món hào. Món này chỉ khi có khách gọi mới lấy hào ra làm chứ không được làm trước.

Mỗi đĩa gồm có 7 con hào lớn, tôi phải dùng dao chuyên dụng nạy nửa vỏ hào ra bỏ đi, nửa còn lại dính vào con hào. Sau đó dùng dao mỏng cắt đi phần nối liền giữa thịt hào và vỏ hào để không bị dính. Giai đoạn cuối là vắt chanh vào phần thịt hào và khách cứ thế mà húp hào sống. Mỗi lần vắt chanh vào là tôi thấy con hào co rúm lại vì đau rát sau khi bị cắt lìa. Giờ đây nghĩ lại và tưởng tượng chính tôi là những chú hào đáng thương kia mà tôi cảm thấy xót xa tận cõi lòng. Tội nghiệp này không biết tôi phải chịu đầu thai làm thân súc sanh để bị bắt, bị giết không biết đến bao kiếp mới trả hết được món nợ sinh mạng?

Trong đời tôi tất cả loài vật sống ở trên trời, dưới nước, hay trên cạn tôi đều đã giết cả. Giả như lúc trước đưa số mạng của tôi cho nhà tướng số học, chắc chắn tôi sẽ được biết tôi là người yểu mệnh, mạng chẳng thể trường thọ. May nhờ chút phước thừa từ tiền kiếp sót lại nên bây giờ tôi biết được Phật pháp, biết pháp môn Tịnh độ để tu. Cũng nhờ biết Phật pháp mà tôi mới biết thương các loài vật, không ăn thịt và giữ giới sát. Có lẽ nhờ đó nên mạng sống của tôi mới kéo dài đến bây giờ, bằng không tôi đã phải ra đi từ lâu. Từ nhỏ đến lớn tôi sát sanh quá nhiều, từ muỗi mòng, kiến, chuồn chuồn, thằn lằn, chim, cua, cá... tôi đều không từ nên bây giờ trong người đủ thứ bệnh.

Tôi ra vào bệnh viện để mổ hết 2 lần vì căn bệnh hernia. Hernia là chứng bệnh tạm gọi là bị rách cơ thịt. Các nơi trên cơ thể có cơ mỏng như vùng bụng, rốn, háng có nguy cơ bị bệnh này nhiều hơn các nơi khác. Khi bị rách cơ thịt, ruột trong cơ thể bị đẩy ra ngoài, chạm vào da rất đau. Ngày nay nhờ ngành y khoa tiến bộ nên có thể điều trị căn bệnh đó một cách dễ dàng. Khi vào bệnh viện, bác sĩ sẽ mổ nơi bị hernia ra, sau đó bỏ một miếng vá đặc biệt bên dưới da và khâu lại tựa như chiếc áo rách phải dùng một miếng vải khác vá chồng lên để áo không bị rách thêm vậy.

Có 1 chứng bệnh này rất lạ, tôi bị từ năm lên 15 tuổi cho đến khi ngoài 40 mà bác sĩ mãi không tìm ra. Mỗi lần vào nhà vệ sinh đại tiện là máu tươi đỏ ối cứ tuôn ra ngoài rất nhiều, mỗi tuần ít nhất một lần. Ở lứa tuổi thiếu niên nên khi bị như thế tôi hoang mang vô cùng. Đi bác sĩ cho uống thuốc hay thoa thuốc gì cũng không hết. Cứ thế từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác bệnh lạ cứ kéo dài. Tôi thăm hết bác sĩ Ta đến bác sĩ Tây, dùng thuốc Tây sang thuốc Bắc mà không thấy "xi nhê" gì cả. Có bác sĩ bảo là mạch máu bị vỡ, có bác sĩ bảo do rách màng da, đọc báo thì nói rằng đó là triệu chứng đầu tiên của ung thư ruột...

Thời gian đầu tôi lo lắng nhiều lắm, nhưng sau nhiều năm như thế tôi cũng quen dần và tập "sống chung với lũ". Cho đến thời gian gần đây tôi mới chợt nhận ra các triệu chứng ấy bỗng dưng không chữa lại lành một cách thần kỳ. Tôi nghĩ có lẽ một phần là nhờ công đức giữ giới sát, ăn chay, sám hối, niệm Phật, hồi hướng công đức cho hết thảy chúng sinh. Phần khác có thể liên quan đến chuyện mẫu thân của tôi bị bệnh nặng mà căn bệnh trầm kha của tôi tự nhiên khỏi hẳn.

Đầu năm 2009 được tin thân mẫu bên nhà bệnh nặng có thể không qua khỏi tôi vội vàng quay về để thăm hỏi bệnh tình. Mẫu thân tôi bị ung thư bướu cổ, bác sĩ phát hiện ra từ năm 1997 và phải mổ hết đôi lần. Nhưng không may là mổ xong bướu này thì bướu khác mọc lên. Uống thuốc mỗi ngày chỉ làm cho bớt đau và khối u mọc chậm lại chứ không bao giờ hết.

Từ Mỹ về đến nhà, nhìn mẫu thân mà tôi xém chút nhìn không ra đó chính là mẹ ruột của mình. Ngày trước cụ có da có thịt lắm, nhưng lần cuối nhìn lại mẫu thân thì như chỉ còn da bọc xương giống người lâu ngày bị bỏ đói. Trước khi bay về Việt Nam một ngày, tôi đã tìm địa chỉ các Ban Hộ niệm (BHN) tại địa phương và liên lạc trước để nhờ họ đến hộ niệm cho mẫu thân. May mắn thay tôi tìm được BHN Thanh Liên tại Nha Trang và chị trưởng ban cũng nhiệt tình nhận lời đến hộ niệm.

Từ ngày biết đến Phật pháp và pháp môn Tịnh độ tôi thường hay gọi điện thoại và gửi thư về cho mẫu thân, nhắc nhở cụ niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng tiếc rằng thiện căn, phước đức của cụ còn ít quá nên cụ niệm Phật có lẽ không được là bao. Tôi nhớ ngày còn nhỏ tôi thường hay quấn quít bên mẫu thân và thấy cụ cắt cổ gà, làm thịt tại nhà đôi lần. Có lần cụ cắt tiết con gà xong, bỏ vào nồi đậy lại. Vậy mà một tiếng sau, khi đổ nước sôi vào để làm lông thì bỗng dưng nắp nồi bật tung lên, kế đó con gà vùng dậy, đầu ngật ngưỡng tung chạy ra ngoài làm mọi người phải rượt theo bắt và giết lần nữa. Có thể vì mang những nghiệp như thế nên giờ cụ đã bị ung thư bướu cổ. Cục bướu của cụ rất to, cỡ bằng trái bưởi nhìn rất kinh sợ. Máu rỉ ra từ nơi bướu đóng cứng thành cục.

Những tháng cuối cùng của đời cụ máu cứ rỉ ra từng giọt từ bướu khiến người trong nhà phải may một cái bao vải đặc biệt để thấm máu, đeo vào cổ mẫu thân. Vài tiếng là phải thay bao vải một lần. Cảnh vật ấy khiến tôi liên tưởng đến con gà năm xưa bị mẫu thân cắt tiết, máu chảy ra từng giọt rớt xuống chiếc tô hứng bên dưới.

Tôi có người em trai đã có gia đình và 3 đứa con trai. Nhà tôi có truyền thống thờ Phật từ hồi thân phụ tôi còn sống. Ông cụ tạo dựng một bàn thờ Quan Thế Âm Bồ-tát rất lớn và trang nghiêm nhất nhì trong thành phố thời bấy giờ. Thân phụ tôi bỏ công đi sưu tầm các lư đồng chạm trổ rất đẹp và công phu từ các bàn tay nghệ nhân khéo léo về để trang nghiêm nơi thờ phượng. Thỉnh thoảng tôi thấy ông cụ tụng kinh vào những ngày rằm lớn. Còn mẫu thân của tôi cũng là một Phật tử thuần thành và rất thích đi chùa làm công quả.

Bàn thờ trong nhà tôi rất lớn và nghiêm trang đến độ sau này khi anh rể tôi trong lần về thăm nhà, anh em ngồi nói chuyện vui với nhau thì được nghe anh kể lại, hồi ấy anh "kết" chị tôi nhưng khi đến nhà không dám vào. Anh nói hồi đó vừa mới bước vào cửa là thấy ngay bàn thờ Phật lớn quá làm anh "khiếp" nên không dám bước tiếp. Dưới nơi thờ phượng có một tủ gỗ đựng nhiều kinh sách Phật. Thời ấy trong nhà tôi sách thiếu nhi không có nên không có gì để đọc, thế là tôi cứ lôi mấy cuốn sách mỏng nói về nhân quả, đời là bể khổ ra xem. Không ngờ những điều đã đọc ngày xưa ấy lại gieo vào tâm tôi những hạt giống tốt cho dù tôi đi đến tận phương trời nào.

Tuy gia đình tôi thờ phượng sớm hôm nhang đèn như thế, nhưng em trai của tôi lại không tin Tam bảo. Chỉ được một điều là mỗi năm vào dịp Tết em trai tôi cũng chịu khó đem hết đồ đồng, lư hương trên bàn thờ xuống đánh bóng lại cho mới để đón Xuân. Ngoài ra hễ nói chuyện Phật pháp hay bảo tu hành thì tuyệt nhiên không chịu. Mỗi lần gọi điện thoại về tôi gắng khuyên mẫu thân niệm Phật để sau này được về với Phật, em trai tôi có vẻ không bằng lòng. Em trai tôi bảo gọi điện về nói chuyện gì quan trọng hay hữu ích thì nói, chứ nói làm gì ba thứ chuyện Phật pháp.

Còn em dâu của tôi vốn sanh ra trong một gia đình ngoại đạo. Ấy vậy mà sau này không hiểu sao về làm dâu nhà tôi cô ấy chuyển tâm quay sang quy y Phật. Hài hước thay khi trong gia đình tôi có sự đổi ngôi như thế. Ngày trước lúc mẫu thân tôi còn khỏe, cụ lén lên chùa nhờ các thầy đặt pháp danh và quy y Tam Bảo vắng mặt cho cậu em trai của tôi. Mãi đến sau này em trai tôi lục lọi trong tủ, tìm thấy tấm giấy quy y có ghi tên của nó trên ấy, thế là em trai tôi có vẻ không hài lòng và gặng hỏi mọi người ai đã làm điều ấy.

Trong những lần tôi về thăm nhà trước kia, những câu chuyện tán gẫu giữa hai anh em với nhau giúp cho tôi thấy dường như tâm ý của em trai tôi chỉ thích hai thứ đó là: xe mô-tô và tiền bạc. Biết được điều này nên khi hay tin bệnh tình mẫu thân đã đến lúc nguy kịch phải thở ôxy, tôi xin phép sở làm nghỉ 3 tuần để về Việt Nam và đem theo khá nhiều tiền làm lộ phí. Biết tính em trai nên từ Mỹ về đến nhà, sau khi thăm hỏi bệnh tình thân mẫu xong tôi biết nếu cho mời BHN đến nhà để niệm Phật cho mẫu thân thế nào cũng bị làm khó dễ, tôi đã tương kế tựu kế bằng cách bỏ ra ít tiền "hối lộ" cho em trai để mua một chiếc TV đời mới và đưa thêm một số tiền nữa cho cô em dâu để mua hàng hóa buôn bán, vì lúc ấy cô em dâu mới mở shop bán quần áo và đồ dùng trẻ con.

Sau đó chị trưởng BHN đến nhà, khai thị hộ niệm cho mẫu thân. Em trai tôi có vẻ không vui vì ngày nào cũng phải canh dắt xe cộ của các chị trong BHN đến nhà trợ niệm cho mẫu thân, nhưng nhờ có "thủ tục đầu tiên" nên chỉ nghe em trai tôi càm ràm đôi câu chứ không phản đối. Nhìn bệnh tình của mẫu thân tôi biết do nghiệp sát trong quá khứ nay quả đã đến lúc chín mùi. Tôi đề nghị với chị trưởng BHN mua vật phóng sanh, hồi hướng công đức ấy cho tất cả oán thân trái chủ của mẫu thân để giảm bớt sát nghiệp.

Có một điều tôi nhận thấy lạ là tuy mẫu thân rất ốm chỉ còn da bọc xương, nhưng sức ăn của cụ gấp ba lần người bình thường. Cứ hai tiếng đồng hồ lại ăn một lần. Nếu không ăn thì người nhà phải pha sữa uống. Mỗi ngày mẫu thân phải uống thuốc giảm đau và các cơn đau dường như kéo đến vào ban đêm làm cụ đau đớn rên la, có khi vừa ôm cổ vừa đi vừa rên la lúc giữa đêm. Sau mấy hôm nằm cạnh mẫu thân và chứng kiến các hiện tượng như thế tôi biết mẫu thân đang bị oan gia trái chủ hành hạ. Sức ăn của mẫu thân không phải của một người già đã 76 tuổi ăn, mà chỉ có thể là oan gia ăn để có sức đêm đến hành hạ mẫu thân như thế.

Một đêm thấy mẫu thân đang nằm rên la vì đau, tôi đến sát bên giường cụ, một tay chạm nhẹ vào khối u nơi cổ mẫu thân, tay kia chắp lại, mắt nhắm nghiền và không hiểu sao trong đầu tôi bắt đầu "nói chuyện" với khối u, nói bằng tâm thức chứ không phải bằng lời. Tôi nói rằng: "Thưa quý vị oan gia trái chủ trên thân mẹ tôi, xin quý vị hãy khoan dung tha thứ cho lỗi lầm của mẹ tôi. Vì vô minh nên trước kia mẹ tôi đã làm tổn hại đến quý vị. Nay tôi xin thành tâm sám hối thay thế cho mẹ tôi. Tất cả công đức lành tôi xin hồi hướng đến cho quý vị để quý vị vãng sanh về thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà. Giờ đây tôi xin niệm chú Vãng sanh để tất cả quý vị có thể về với Phật".

Và lúc ấy tôi đã nhiếp tâm vào từng câu thần chú phát ra từ trong tâm tưởng, cùng lúc quán tưởng từng con vi trùng từ nơi cổ mẫu thân đang ngự trên hoa sen bay về phía Phật A Di Đà. Sau này nghĩ lại tôi thấy hơi lạ, vì bình thường tôi chỉ niệm Phật trong các thời công phu, không niệm thêm bất cứ chú gì cả. Ấy vậy mà không hiểu vì sao lúc ấy tôi không niệm Phật, mà lại niệm chú. Tôi đã niệm một lúc lâu như thế, rồi tôi thấy mẫu thân nằm im, không rên la nữa nên tôi bèn mở mắt ra và hỏi mẫu thân có còn thấy đau nữa không? Mẫu thân trả lời rằng: Không!

Sau đó tôi dùng hết số tiền còn lại vào việc phóng sanh và được chia làm 2 đợt. Buổi sáng hôm ấy tôi cùng các chị trong BHN ra chợ mua các loài thủy tộc để phóng sanh. Nào cá to, cá nhỏ, ốc lớn, ốc bé, cua... mua rất nhiều. Chị trưởng BHN đã quen thuộc với việc làm này nên các thân chủ bán cá đều quen mặt biết tên. Sau khi mua vật phóng sanh xong, cả nhóm đem hết các túi, thùng đựng cá ra để tràn lan phía ngoài chợ. Không biết từ đâu có 2 chiếc xe jeep của ban trật tự đô thị lù lù xuất hiện và dừng lại ngay trước cả nhóm. Tôi nghĩ thầm chắc là rắc rối to rồi, vì chúng tôi để đồ nhiều quá, chiếm ra gần hết ngoài đường vào chợ, xe cộ không đi được và sẽ bị ban đô thị "hốt" hết.

Nhìn vẻ mặt hầm hầm của anh trật tự viên tôi cũng hơi ngán. Anh ta hỏi lớn rằng: "Tất cả đồ để dưới đất này của ai, tại sao lại để ra hết ngoài đường?" Sau khi nghe nhóm giải thích là mua vật về phóng sanh và đang chờ xe đến để chở đi thì anh ta tỏ ra dễ dãi rồi bỏ đi mà không nói thêm một lời nào. Tôi mừng hết chỗ nói vì đã không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Trong khi chúng tôi còn đang loay hoay chưa biết gọi xe đến có được không thì trong chợ bỗng dưng có một anh mon men lại gần và tự giới thiệu anh ta là tài xế xe tải, chuyên chở các loại thủy sản để bán cho các chủ sạp trong chợ. Thấy mọi người mua nhiều để phóng sanh, anh tình nguyện chở hết các loài vật đi phóng sanh mà không lấy tiền. Không chỉ lần này mà bất cứ lúc nào mua nhiều như thế anh cũng sẽ tình nguyện giúp. Đúng là chuyện lạ có thật. Thế là cả hai lần phóng sanh anh ấy đều tận tình đem xe tải đến giúp.

Đường đến nơi phóng sanh cũng hơi xa và phải đi ngang một đoạn đường tư nhân. Đoạn đường này có một cây sắt chắn ngang giống như hàng rào bảo vệ mỗi khi có xe lửa đi qua để không cho người lạ vào khu vực ấy. Khi đến đây cả nhóm đều phải dừng lại và dáo dác tìm xem có ai có thể ra giúp được không. Hỏi ra thì được biết người chủ khu vực (người duy nhất có chìa khóa để mở khóa cây sắt chắn ngang) đang đi vắng không có nhà. Thế là cả bọn nhìn nhau không biết tính sao vì đường đi xa, địa điểm phóng sanh cũng không còn lâu nữa. Lúc ấy dường như có phép lạ khi từ đằng xa có bóng một chiếc xe Honda đang rẽ vào con đường cả nhóm đang chờ. Hóa ra đó chính là người chủ khu vực đã về, tựa như có "người" bảo ông phải về đúng vào lúc này vậy.

Sau khi người chủ khu vực biết rõ nguyện vọng của nhóm, chú liền hoan hỉ mở cổng cho cả bọn đi qua và cười rất tươi. Phải mất khoảng gần tiếng đồng hồ cả nhóm mới khiêng hết các loài vật từ xe xuống để phóng sanh xuống con sông như đã định trước. Mọi người ai cũng mệt vì trưa nắng nhưng lòng lại vui vì biết rằng đã cứu được rất nhiều sanh mạng thoát khỏi cảnh bị dao thớt chặt chém. Suốt thời gian tôi ở Việt Nam gần 3 tuần ngày nào BHN cũng đến để trợ duyên cho mẫu thân niệm Phật.

Ngoài thời niệm Phật chung với BHN ra, tôi cũng cố gắng khai thị thêm và niệm Phật chung với mẫu thân được thêm đôi tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong phòng nghỉ của mẫu thân tôi dọn hết đồ đạc ra ngoài chỉ chừa lại cái giường nằm. Trên bốn bức tường đều có hình Phật A Di Đà đang đưa tay tiếp dẫn để mẫu thân có thể nhìn thấy Phật khắp nơi. Cẩn thận hơn mỗi ngày tôi đều dặn dò mẫu thân chỉ đi theo Phật A Di Đà mà thôi. Tôi thường hỏi mẫu thân duy nhất một câu mỗi ngày là: “Phật A Di Đà màu gì, tướng mạo ra sao?” Mẫu thân cũng chịu khó trả lời rằng: “Phật A Di Đà mặc áo đỏ, nền vàng, tay trái cầm hoa sen, tay phải duỗi xuống.” Đó chính là tấm hình Phật được treo trong phòng mẫu thân trên 4 vách tường. Niệm Phật nhiều như thế được vài hôm bỗng dưng mẫu thân sanh ra giải đãi không muốn niệm Phật nhiều như trước nữa. Cụ bắt đầu niệm Phật với tâm trạng uể oải, gượng gạo và vì để tôi vui lòng, chứ không phải là tự bản thân mẫu thân thích niệm Phật.

Thủa còn chưa thành thân với phụ thân tôi, mẫu thân thường đến chùa và thích nghe pháp của các thầy giảng. Chính mẫu thân là người đã tập cho tôi có sở thích nghe pháp trong những lần về thăm nhà và thường đưa các đĩa cassette (khi ấy chưa có đĩa CD như bây giờ) bên trong là các bài giảng của nhiều vị pháp sư để tôi đem về Mỹ nghe. Nhưng tiếc rằng mẫu thân chỉ biết tu phước hữu lậu chứ chưa biết tu phước vô lậu. Bởi tâm mong muốn lành bệnh của mẫu thân dường như lớn hơn tâm vãng sanh.

Mặc dù tôi đã hết lời giảng giải, và BHN cũng giải thích cho mẫu thân biết rằng khi một chiếc áo đã quá cũ và rách nát, dù có vá lại nhiều lần để mặc nhưng cuối cùng cũng đến lúc phải bỏ đi chứ không thể lành mãi được. Thân người cũng thế mà thôi. Ở tuổi ngoài thất thập cổ lai hy, đời người như ngọn đèn treo trước gió, làm sao đèn cháy mãi cháy lâu được? Suốt thời gian ở gần mẫu thân, tôi cố gắng làm hết mọi việc thiện và hồi hướng tất cả công đức cho mẫu thân. Mỗi đêm trước bàn thờ Phật tôi thành tâm nguyện cầu cho mẫu thân được vãng sanh, càng sớm càng tốt.

Hết tiền phóng sanh tôi xem lại bản thân mình có thể làm gì được hơn nữa để tạo thêm công đức cho mẫu thân sớm được về với Phật. Tôi đã không ngại ngần lên chùa thỉnh thầy cho tôi được xuống tóc và xin nguyện đem công đức ấy hồi hướng cho mẫu thân. Sau khi tôi xin thầy cho xuống tóc, suốt mấy ngày liền sau đó tôi cảm nhận phía trên đỉnh đầu rất nóng. Một cảm giác nóng từ bên trong tỏa ra chứ không phải do cái nóng bên ngoài của tiết trời tháng Ba tạo thành. Hơi nóng dường như nóng hơn bao giờ hết mỗi khi tôi ngồi tĩnh tọa niệm Phật. Điều này cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao, nhưng tôi đoán có thể do mới cạo tóc, lại đi dưới trời nắng nóng bên nhà nên bị như thế cũng nên?

Có một lần tôi đang ngồi niệm Phật cùng BHN Thanh Liên trong phòng mẫu thân, mắt tôi hướng lên nhìn hình Phật A Di Đà thì bỗng thấy có điều gì đó khiến tôi phải chú ý. Kế đó tôi thấy vầng hào quang màu vàng xung quanh Phật cứ lớn dần và tỏa sáng rực rỡ. Trong lúc ấy mọi người xung quanh còn đang niệm Phật và không thấy ai khác có cử chỉ gì lạ. Vì vậy tôi cũng tiếp tục niệm Phật và không nói gì. Cuối buổi hộ niệm không ngờ chị trưởng BHN tự động tiết lộ rằng chị thấy hào quang của Phật tỏa ra rất sáng trong lúc niệm hồng danh Phật. Như vậy là chỉ có tôi và chị trưởng BHN nhìn thấy được điềm lành ấy, ngoài ra không còn ai khác nhận ra điều đó. Nghe chị nói tôi cũng chỉ mỉm cười nhưng không nói thêm điều gì và im lặng cho đến tận bây giờ. Qua đó chúng ta biết rằng chư Phật đã phóng quang hộ trì suốt buổi hộ niệm mà mắt phàm chúng ta không nhìn thấy được.

Sau thời gian ba tuần ở bên cạnh thân mẫu, ngày ngày cùng BHN niệm Phật, dường như sức khỏe của mẫu thân có phần tốt hơn chứ không thấy có triệu chứng vãng sanh, tôi lên đường trở về lại Mỹ và cẩn thận ghi lại tên và số điện thoại của các chị trong BHN cho cô em dâu, dặn dò khi có chuyện xảy ra với mẫu thân mà không có BHN ở cạnh bên thì hãy gọi cho BHN. Tôi cũng dặn em trai như thế vì bình thường em trai tôi hay nghĩ rằng còn nước còn tát. Tôi bảo em trai rằng đúng vậy, nếu trong ao còn cá thì mới còn tát, chứ nếu trong ao đã không còn cá thì có tát nhiều cũng chẳng thu được lợi ích gì. Mẫu thân đã lớn tuổi, nếu đã đến lúc ra đi thì hãy để mẫu thân đi chứ đừng nên đưa mẫu thân vào bệnh viện làm gì nữa.

Khoảng một tháng sau đó nghe người nhà nói lại mẫu thân không còn ham thích niệm Phật cùng BHN nữa nên các chị trong BHN cũng không còn đến nhà để trợ niệm cho mẫu thân. Nghe đến đây tôi chỉ biết thở dài. Âu cũng là phước phần của mẫu thân như thế, dẫu cho tôi đã cố gắng tận lực. Nhưng hàng tháng tôi vẫn gửi tịnh tài về cho chị trưởng BHN làm lễ phóng sanh hồi hướng công đức cho cụ hầu giảm bớt được tội nghiệp của mẫu thân được phần nào hay phần nấy.

Trước khi về lại Mỹ, tôi có ghé thăm một người bà (chị của ông nội tôi) đã quá già yếu. Bà đã nằm một chỗ trên giường và rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Mọi chuyện vệ sinh cá nhân đều phải có người giúp chứ bà không còn làm chủ được bản thân nữa. Đến nhà thăm bà , tôi cũng cảm thương bà nên dù biết rằng khó có thể nói gì cho bà hiểu được vào lúc này, nhưng tôi nghĩ dù chỉ còn một tia hy vọng cũng phải cố gắng.

Sau khi treo tấm hình Phật A Di Đà lớn bằng người thật nơi cuối giường để khi bà tỉnh có thể nhìn thấy, tôi còn để gần bên chỗ bà nằm một máy niệm Phật với hy vọng trước lúc lâm chung nếu bà nghe được danh hiệu Phật thì không phải rơi vào ba đường dữ như lời ngài Địa Tạng đã dạy. Sau đó tôi thử khai thị cho bà, nhưng phải nói thật lớn tiếng vì bà bị thêm chứng nặng tai. Trong thời gian khai thị có lúc bà có thể mở mắt ra nhìn và nói được vài câu, mắt hướng về phía hình Phật A Di Đà như có vẻ hiểu. Được vài phút như thế bà lại rơi vào hôn mê, nhưng tôi vẫn cứ đứng kề bên tiếp tục khai thị cho bà về nguyện lực thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, sau đó mới ra về.

Vài tháng sau tôi nghe nói bà ra đi, nhưng trước khi bà ra đi may mắn thay cô em dâu của tôi thuyết phục được con cháu trong gia đình bà cho mời BHN Thanh Liên đến để trợ niệm cho bà. Không ngờ cô em dâu còn nhớ lời tôi dặn khi hữu sự hãy gọi điện cho BHN đến để hộ niệm. Thật không uổng công tôi cẩn thận ghi lại số điện thoại của các chị trong BHN vào sổ tay của cô ấy. Qua điện thoại, cô em dâu líu lo kể về sự lạ kỳ trong ngày bà tôi ra đi. Đúng ra là khi nhận một ca hộ niệm nếu BHN thấy người lâm chung đã rơi vào hôn mê không còn tỉnh táo là họ sẽ không nhận lời hộ niệm. Nhưng có lẽ do trước khi rời Việt Nam tôi có kể cho chị trưởng BHN về trường hợp của bà, nên chị có vẻ thông cảm và sau này vì nể tình mà đến nhà hộ niệm cho bà.

Ngày bà ra đi ngoài thoại tướng mềm mại, cây cối trong nhà bỗng dưng trổ hoa dù cây mua về đã mấy năm rồi nhưng chưa từng ra hoa lần nào. Chim chóc từ đâu bỗng bay về đậu lại rất nhiều trên mái nhà. Sau này tôi có đem điều này hỏi ý kiến cư sĩ Diệu Âm nhân dịp chú đến chùa Phật Quốc tại tiểu bang Washington, Hoa Kỳ để giới thiệu pháp môn Hộ Niệm thì được chú ấy xác nhận rằng, căn cứ vào các điềm lành ấy có khả năng bà đã được vãng sanh.

Trở về Mỹ được 3- 4 tháng tôi được hay tin một ngày nọ cái bướu to trên cổ mẫu thân bỗng dưng vỡ và máu đen hôi thối chảy ra rất nhiều. Nghe đâu nhiều đến cả nửa xô nhỏ dùng để đựng nước lau nhà. Như thế là oan gia trái chủ đã rời khỏi thân thể của mẫu thân và cũng kể từ đó mẫu thân đã ăn ít lại, giống như chế độ ăn của người cao niên chứ không còn ăn nhiều như lúc trước nữa.

Cuối năm ấy, vào lúc giữa đêm mọi người trong gia đình tôi đang ngủ thì nhận được điện thoại từ bên Việt Nam báo tin mẫu thân tôi đã ra đi. Nhưng cũng may là trước đó vài tiếng đồng hồ cô em dâu đã gọi cho BHN đến để trợ niệm cho mẫu thân từ lúc hấp hối và 8 tiếng sau đó. Thoại tướng tương đối tốt khi chân tay mẫu thân đều mềm mại. Tuy rằng mẫu thân không ra đi trong lúc tôi còn ở Việt Nam như lời nguyện, nhưng có một điều ứng nghiệm là tôi còn nguyện thêm cho mẫu thân được ra đi vào ban ngày và có đầy đủ thiện hữu trí thức cạnh bên hộ niệm. Quả thật mẫu thân đã không ra đi vào ban đêm mà đi vào ban ngày nên hầu như BHN đến nhà đầy đủ để trợ duyên cho cụ.

Chuyện mẫu thân của tôi có lẽ đã đến hồi kết thúc, nhưng tôi muốn nói thêm rằng: có lẽ nương nhờ chút công đức phóng sanh ngày ấy cho mẫu thân mà tôi cũng được hưởng phước lây, bởi căn bệnh lạ tôi phải chịu đựng 25 năm qua bỗng dưng ra đi không nói lời từ biệt.

Hữu Minh.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 05:25 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Quả Báo Nhãn Tiền . (Tác giả:Gò Vấp)
January 11, 2015 .

Làm người phải có nền tảng luân thường đạo lý. Nhất là người Á Đông chúng ta. Luân thường đạo lý là Thờ Cha, Kính Mẹ, thương yêu mọi người, nhất là người ơn của mình. Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 điều mà con người tốt phải noi gương theo.

Nhất là người Việt chúng ta, sự quan trọng nhất là Quả báo do gieo Nhân. Đây không hẳn là từ đạo Phật mà dạy truyền cho chúng ta, nhưng đó là điều có thật.

Sau đây là những câu chuyện với hình ảnh là những việt kiều tai Hoa Kỳ, do tác giả chứng nhân kể lại trong sách hồi ký của họ.

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT:

Ngày xưa lúc chúng tôi còn học lớp Sixieme tại trường Taberd Sài Gòn, thầy giáo mà chúng tôi gọi là frère (sư huynh), thầy dạy giáo lý. Một vị tu sĩ đạo Công Giáo, làm nghề dạy học, tánh tình tốt không thua gì những thầy giáo đạo Khổng là xem học trò như con ruột.

Frère Vial thấy dư giờ, sợ học trò giởn hớt thì phiền lớp kế bên. Nên frère mói kể chuyện ma cho học trò teo gân mà quên phá lớp. Fr ère kề có một cặp vợ chồng, khi nào mưa to gió lớn thì người ta thấy đôi vợ chồng nầy hiện ra, đi vòng quanh trong nhà thờ. Chân mang lòi tói đi rổn rảng. Học trò nghe chuyện nầy teo “bu gì“ hết ráo. Học trò có hỏi frère nhà thờ đó là nhà thờ gì vậy? Frère không trả lời chỉ ừ hử mà thôi.

Hơn 40 năm trôi qua, khi đọc quyển Hồi Ký 2 của tác giả Huỳnh Văn Lang, ông tiết lộ câu chuyện đó ông cũng nghe lúc còn nhỏ, và nhà thờ đó là nhà thờ Huyện Sĩ Sài Gòn. Ngày xưa, Huyện Sĩ là người giàu nhất Đông Nam Á thời đó, ruộng vườn miệt Long An là của ông ta. Ông để đức lại cho hậu thế bằng cách xây nhà thờ mang tên ông là Huyện Sĩ. Xác 2 vợ chồng Huyện Sĩ được đặt trong 2 mã đúc mã bằng đá cẩm thạch, nằm trong bên trái nhà thờ. Hy vọng ngày kia hồn và xác sống dậy mà lên thiên đàng. Hai vong hồn mang lòi tói đi đau khổ quanh nhà thờ khi mưa to gió lớn chính là vợ chồng Huyện Sĩ nầy.

CÂU CHUYỆN THỨ NHÌ:

Vào thuở năm 1900 – 1920 lúc Sài Gòn dân chúng còn thô sơ, khuya về thường thắp đèn dầu loe loét, sau nầy mới xài đén “măng xông“, rồi đèn điện, đèn neon, đèn LED….

Một buôi sáng sớm, vợ chồng người Tây, đi tản bộ buổi sáng sớm. Vợ chồng thường thấy một sạp bán chuối, chợ Thị Nghè. Chồng thì lo treo chuối trên quầy, vợ thì lo quét sạp chờ bình minh lên thì có khách đến mua. Bên cạnh là đứa bé dể thương đang ngũ gà ngũ gật. Vợ chồng người Pháp sắp về Pháp vì đến tuổi hưu. Không con nên vợ chồng nầy bèn xin vợ chồng người Việt có sạp bán chuối ngoài vòng chợ Thị Nghè.

Ngần ngừ cả tuần, sau đó vợ chồng bán chuối nầy đồng ý cho đứa con trai của mình, cho cặp vợ chồng Tây đem con mình sang Pháp mà nuôi ăn học. Thời gian sau đứa bẻ học thành tài ra bác sĩ. Thay vì ở lại làm việc tại Paris, thì bác sĩ trẻ nầy về lại Việt Nam. Ông mở phòng mạch rất đắt khách vì tốt nghiệp bên Pháp là hiếm tại Việt Nam thời ấy.

Cuối tuần hay lễ nghĩ thì ông đến chợ Thị Nghè khám bệnh cho thuốc không tính tiền. Bác sĩ ấy làm phước lại cho dân Việt nghèo. Bác sĩ ấy là cha ruột của Trung Tướng Trần Văn Đôn sau nầy.

CÂU CHUYỆN THỨ BA:

Tại Hưng Yên hay tại ngoài Bắc Việt. Có một thầy giáo tuồi về hưu, thường đạp xe đạp về thôn quê. Ông dạy học không tính tiền cho trẻ nghèo. Đôi khi ông bỏ tiền túi mua sách cho học sinh nghèo không đủ tiền mua sách vở. Ông tích đức cho con cháu sau nầy.

Ông cụ già ấy chính là cha ruột của Thạc sĩ Vũ Quốc Thúc (Ông làm Khoa trưởng trường Luật Sài Gòn).

CÂU CHUYỆN THỨ TƯ:

Tại vùng cực Nam miền Nam Châu Đốc – Chắc Cà Đao – chẳng hạn. Có một điền chủ rất giàu, ông xây dựng trường học cho trẻ em nghèo trong vùng ông ta, ông xây cầu cho khách sang sông khòi cần chờ đò ngang. Tá điền nghèo khi thất thu lúa, ông thường xuất gạo cho và cho tiền khi bệnh hoạn, ốm đau.

Ông điền chủ giàu tích đức cho con cái đó là cha ruột của tì phú Nguyễn Tấn Đời sau nầy.

CÂU CHUYỆN THỨ NĂM:

Tại Phnom Penh, có một ông chủ hãng nước mắm. Nhân công người Miên rất nhiều. Ông trả lương rất hậu, khi gia đình nhân công người Miên nào bị bệnh thì ông cho tiền đi thầy thuốc. Tết ông cho tiền rất nhiều.

Khi về hưu, bán hãng nước mắm lại cho một người Hoa, khi từ giả thì gần như cả làng người Miên làm nhân công cho ông, đứng xếp hàng ứa nước mắt. Ông chủ hãng nước mắm tích đức cho con cháu ấy chính là ông nội của chúng tôi vậy.

CÂU CHUYỆN THỨ SÁU:

Vào buồi chiều sắp tắt nắng, vào ngày 30/4/1975. Một chiếc tàu nhò chở xăng trên sông Sài Gòn. Tàu ấy mang phù hiệu Shell. Trên Tàu có một anh chàng trung úy trẻ, rả ngũ vào giờ thứ 25. Cứu được gần 12 người Lính Thủy Quân Lục chiến đứng thất hồn tại bờ sông kho Năm Sài Gòn.

Tàu đó đông người, khi đến cửa sông Nhà Bè , thì thấy một chiếc chiến hạm nhỏ của Hải Quân VNCH. Chiếc tàu nầy hư máy một cách bí mật. Trên bong tàu có một số người đứng lố nhố, vẩy tay xin quá giang khi thấy tàu chạy ngang. Không tàu nào thèm ngừng chở những người giàu đứng trên bong đó.

Viên Trung Úy trẻ nầy bèn ra lệnh cho tàu ngừng lại, cho những người ấy quá giang tàu mình. Có khoảng 6 người được tàu Shell cứu đem lên. Họ nói là nếu về khuya thì họ rất sợ vì nghe thủy thù nói rầm rì là họ có đem va ly vàng nặng mang theo. Cứu họ là họ mừng hết sức. Anh trẻ ấy đang vận áo quần màu xám xanh dương nhạt, kiểu áo lãnh tụ thời đó, áo bốn túi …

Anh trẻ ấy là Dược Sĩ Mã Gia Minh, chồng của ca sĩ Hoàng Oanh hát tiếng Huế rất dể thương. Người sĩ quan trẻ cho tàu ngừng ấy chính là thằng Gò Vấp nầy vậy. Chiếc tàu mang tên Shell là do nhóm đại tá VNCH mua từ lâu. Đại tá ấy là Đại Tá Lý, vợ ông ta là người thân với vợ của kẻ nầy. Nên tàu đi ra khơi không sợ cướp bóc xảy ra.

Cho nên nếu có dịp làm đức thì cứ làm, đừng ngại ngần gì cả. Nếu mình không có tiền nhiều thì nên hiến máu cho người bệnh. Nếu có máu O + thì tốt nhất.

Dĩ nhiên trên cỏi đời nầy có nhiều người làm phước mà Gò Vấp không làm được, như cách đây không lâu, tại Santa Ana. Có một phụ nữ người Mỹ còn trẻ, tình nguyện hiến tặng 1 quả thận cho một anh sinh viên Việt Nam đang cần thận để sống. Thận được cho, cứu mạng anh sinh viên trẻ ấy. Mặc dầu 2 người chưa hề quen biết.

Khi Gò Vấp được 3 gia đình họ đạo Presbyterian Church bảo lảnh ra khỏi trại Indiantown Gap ở Pennsylvania Hoa Kỳ.

Ngày kia anh rời khỏi họ đạo, khi có đứa con trai đầu lòng … Gò Vấp bèn đặt First name của một gia đình sponsor chính trong họ đạo Presbyterian Church cho con trai anh ta, còn họ thì vẫn giữ như cũ. Rồi sau đó cho cả gia đình từ Santa Ana bay sang New Jersey mà thăm họ đạo ấy. Ông bà sponsor cảm động và cha xứ nhà thờ Presbyterian Church nói một câu cảm động: “Nhà thờ nầy bảo trợ nhiều cho gia đình Việt Nam, mà chỉ có gia đình Gò Vấp còn nhớ ơn, còn đặt tên gọi First name của ông bà sponsor cho con trai mình. Đó là một sự cám ơn tốt của người Việt.

Cho nên chuyện nhân quả có thật. Không phải giàu nứt vách mà xây Chùa hay nhà Thờ là được phước, mà chính tay mình cho người nghèo mới là tạo phước.

Kỳ sau sẽ nói đến tay giàu kinh khủng thời VNCH I, đó là Ông Huỳnh Văn Lang vậy. Ông viết sách rất nhiều. Từ một anh thợ hớt tóc tại Đà Lạt, theo phò Ngô Đình Nhu rồi giàu sang bốn biển. Nhà cửa 4- 5 biệt thự có cả biệt thự tại Pháp. Huỳnh Văn Lang là cánh tay mặt của ông Nhu Đảng Cần Lao… Nay về già, viết sách le lói, nhưng câu nhập đề quyển 1 của nhà văn Đỗ Tiến Đức (chủ báo Thời Luận Los Angeles) viết như sau (trang 14 – Quyển 1 Ký Ức Huỳnh Văn Lang): “Đến thăm cụ trong căn phòng “share“ (chung phần với nhau) trong khu mobile home, cụ vui vẻ “thuyết trình“ cách sắp đặt dù giang sơn chỉ có vài ba chục mét vuông. Cụ đi chợ và nấu ăn lấy…

Một lần tôi xúc động lặng người khi mời cụ ra tiệm ăn cơm tối, lúc ăn xong, cụ nói rất tự nhiên rằng: “Tôi có thề lấy những món ăn thừa nầy để ngày mai ăn được không?“

Than ôi! Với tiền rừng bạc biển hàng triệu đến chục triệu đô la Mỹ … nhà đẹp khắp nơi. Đà Lạt, Nha Trang … Pháp … Nay về già ở share phòng với một gia đình ở mobile home mà phòng chỉ rộng vài ba chục mét vuông. Nếu ông Huỳnh Văn Lang tạo được phước đức từ lúc trẻ thì về già ông dư sức có nhà đẹp gọi là Estate House, với vài ba cô y tá chăm soc sức khỏe riêng tại nhà.

Ngày xưa lúc cón quyền uy, ông ho một cái là có trăm người dạ rân. Đi du lịch ngoại quốc dể dàng còn hơn Gò Vấp đi Las Vegas đánh bài chơi chơi vậy.

Phước đức là từ đâu?

Ông Nguyễn Tấn Đời, tại Sài Gòn khi còn giàu, ông tích đức cho mai sau. Ông là ân nhân của trại cùi Quy Nhơn…và nhiều trại ho lao tại Sài Gòn.

Giờ 25 bị TT Nguyễn Văn Thiệu bắt vì tội trốn thuế. Thiệu bắt ông Đời ký 3 tờ giấy trắng tại khám Chí Hòa. Khi ông Đời được dân biểu Gia Nã Đại bảo lãnh từ trại Song Khla Thái Lan, qua Gia Nã Đại ông nhờ người truy cứu 3 tờ giấy ký trắng thì biết Nguyễn Văn Thiệu cho người điền đánh máy vào lấy hết sạch tiền của ông tại Thụy Sĩ.

Trắng tay. Nhưng phước đức thì còn nhiều. Ông mua một hotel cũ xa ngoại ô Montreal Canada, vợ chồng làm bồi rất cực khổ. Không dè phước báu xảy ra … Olympic Canada 1976 tại Montreal …họ cần xây nhiều sân vận động Olympic …, hotel của Nguyễn Tấn Đời cũ rích bán giá nào họ cũng mua luôn.

Có tiền ông mở tiệm ăn Nhật Shushi tại Florida. Thực khách muốn ăn tiệm ông thì phỉa phone đặt chổ trước 1 tuần. Đứa con gái tu ni cô, còn 2 con trai tốt nghiep kỹ sư điện tử electronics engineers … Lương kỷ sư làm sao so bì được với lương ông chủ tiệm ăn Nhật nổi tiếng tại Folrida. Ông Đời mất để lại 2 tiệm ăn Shushi rất danh tiếng tại Florida cho hai người con trai của ông.
Ông có y tá riêng tại nhà chăm sóc 24/24 cho ông bà Nguyễn Tấn Đời. Quả báo tốt là như vậy.

Gò Vấp
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 08:04 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Quỷ đói làm việc thiện tích phúc đức để được giải thoát
By Diệu Như - 08/10/2017

Rơi và đường quỷ, thống khổ trầm luân, nhưng hai quỷ đói này vẫn cố làm chút việc thiện tích âm đức để mong sớm ngày được thác sinh.

Có vị Lưu tiên sinh ở trong một ngôi chùa cũ dạy trẻ nhỏ đọc sách. Trong một đêm tối, trăng sáng mờ, ông nghe thấy tiếng xoạt xoạt ngoài cửa sổ. Từ chỗ hở nhìn ra ngoài chỗ tường vỡ thấp thoáng như có hai bóng người. Lưu tiên sinh vội vàng hô: “Có trộm!”. Chợt nghe bên kia tường có người nói nhẹ: “Chúng tôi không phải trộm cắp, là có việc đặc biệt tới cầu ông”. Lưu tiên sinh kinh hoàng hỏi: “Cầu tôi làm cái gì?”.

Ngoài tường có thanh âm đáp lại: “Nguyên vì chúng tôi kiếp trước tạo ác ngiệp, chết rồi giáng vào ngả ngạ quỷ (quỷ đói), đến giờ cũng gần trăm năm rồi. Mỗi khi chúng tôi nghe mùi thức ăn từ nhà bếp của chùa bay ra thì cơn đói nổi lên như thiêu đốt. Chúng tôi lẳng lặng quan sát thấy ông là một người có tâm từ bi do vậy cầu ông ban cho một ít cơm nguội canh lạnh, giải thoát nỗi đói khát có được chăng?”.

Lưu tiên sinh nói: “Trong nhà Phật thường làm nghi thức sám hối, công đức này đủ để cứu đói cho ngạ quỷ. Các vị vì sao không hướng đến hòa thượng trong chùa xin siêu độ?”.

Ngạ quỷ đáp lại:

“Quỷ mà có thể gặp được siêu độ, ấy cũng là kiếp trước đã có gieo nhân Thiện. Như hai chúng tôi, kiếp trước bận bận rộn rộn luồn lách con đường quan lộ. Nhìn ai quyền lực lớn, chúng tôi liền liên kết, ỷ nhờ người ta. Nếu là người thế lực đã lụn bại, chúng tôi liền trở mặt không nhận người, xem như người lạ. Chúng tôi chưa từng làm vài việc tốt giúp đỡ người khác, cũng không có gieo nhân Thiện nên bây giờ làm quỷ đói. Làm sao có thể gặp được thiện duyên mà được siêu độ chứ?

May mắn thay chúng tôi lúc đó tuy được tiền tài bất nghĩa nhưng chưa từng tham lam với bạn hữu cũ, với người đói khổ hay cô quả, và cũng có quyên tặng chút ít. Do vậy bây giờ được chút thương tiếc, ăn được chút cơm lạnh. Nếu không như vậy thì sẽ giống như mẹ của ông Mục Kiền Liên, bị bắt vào đại địa ngục, rồi thức ăn được đưa đến miệng là cháy thành than, dù cho có lực đại thần thông của Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể làm gì được với nghiệp lực này vậy”.

Lưu tiên sinh nghe xong trong lòng thương xót rồi đáp ứng thỉnh cầu của họ. Ngạ quỷ cảm tạ không ngừng rồi rơi nước mắt than vãn mà đi.

Từ đó Lưu tiên sinh mỗi ngày đem cơm lạnh canh nguội vẩy ra ngoài tường. Những ngạ quỷ đó cũng giống như cảm ứng được mà đến dùng nhưng mà người khác nhìn không thấy hình tích gì, cũng nghe không thấy.

Rồi qua hơn một năm, một đêm đột nhiên nghe thấy ngoài tường có tiếng kêu: “Lưu tiên sinh! Được ngài khoản đãi thời gian dài, hôm nay chúng tôi tới cáo biệt đây!”.

Lưu tiên sinh kinh hoàng hỏi: “Các vị muốn đi đâu?”.

Qủy đáp: “Hai chúng tôi không có cách nào cầu được siêu thoát, chỉ có thể làm chút việc tốt mà có thể mong cầu tự cải biến. Trong mảng rừng này, muông thú có rất nhiều, có người muốn đến bắn chúng, chúng tôi liền làm chúng sợ khiến chúng chạy mất. Có người muốn đặt lưới mò bắt cá trong hồ, hai chúng tôi liền đuổi chúng đi. Chính vì niệm thiện tâm này đã cảm động thần linh, đã xá miễn tội nghiệp cho hai chúng tôi. Hôm nay đã được thoát ly ngả quỷ và chuyển thế thác sinh rồi!”

Về sau, Lưu tiên sinh thường đem câu chuyện này kể cho mọi người nghe và nói: “Họ phải làm kiếp quỷ đói trầm luân, nhưng vẫn có thể dùng tâm sức nhỏ bé của mình mà cứu động vật; còn con người chúng ta đối với rất nhiều việc tốt vì sao cuối cùng thoái thác, nói bản thân không đủ sức để làm vậy?”.

(Câu chuyện trích từ Duyệt vi thảo đường bút ký)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 256
Old 01-23-2018 , 08:30 AM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
QUẢ BÁO NHÃN TIỀN VÌ LÒNG THAM.(Trích trong ĐẠO PHẬT NGÀY NAY.com)

( 14/12/2017 15:45:00 Lương y Phan Văn Sang)

Khi chúng ta nhìn thấy ai đó gieo hạt dưa thì tự biết rằng sẽ cho họ quả ngọt, hoặc nếu họ gieo hạt ớt thì dù chưa đến kỳ trái chín ta cũng đã biết người đó sẽ thu về quả cay, ngay tự thân ta tạo ra kết quả cũng không ngoại lệ !

Phật xưa đã dạy: “NHÂN 因 và QUẢ 果 là lẽ tự nhiên. Nhân Quả không phải Phật chế, Nhân Quả không do Thượng đế tạo ra”
Dù người có tôn giáo hay không theo một tôn giáo nào, vẫn tin rằng hễ làm lành thì kết quả lành, làm xấu thì nhận quả xấu. Ngày nay đến các chùa, hoặc trên băng đĩa những lời ấy chư Tăng đã nhắc đi nhắc lại hoài qua những thời thuyết giảng!
Trên thế giới xưa nay tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để ghi chép lại những chuyện Nhân Quả báo ứng để cho người đời xem đó mà làm lành lánh dữ, nhưng trước mắt cái lợi thu về quá lớn đã làm cho họ mờ mắt để đến khi quả báo đã tới thì họ đành chấp nhận chứ cái lợi kia nhất quyét không buông ! Bỡi vô minh nên cũng không biết rằng “Tự ta gieo tai hoạ cho ta”
Thế nên Phật còn dạy “ Người trí sợ Nhân, kẻ ngu Sợ Quả !”Bỡi người có trí hiểu biết đâu có gây cái Nhân, mà không gây cái Nhân thì làm gì có cái Quả. Sau đây là câu chuyện Quả báo tôi biết được mà ghi ra để mọi người đọc và suy gẫm.
Mấy mươi năm định cư nước ngoài, bác cư sĩ nọ một đời tín tâm quy y theo Phật, ngoài tụng Kinh niệm Phật, bác thường xuyên phát tâm hoan hỷ cúng dường Tam Bảo, gặp ai khó khăn bác cũng giúp nên con cháu của bác ai ai cũng thành đạt, cuộc sống luôn bình yên.
Giờ đây mái tóc cũng đã điểm sương, bác mới có dịp trở về thăm quê hương đất mẹ nơi sinh ra và nuôi bác khôn lớn. Sau những chuyến đi từ thiện giúp người, hỗ trợ bà con nghèo các nơi, cùng với ông bạn cũ chí thân từ thời còn trai trẻ, nhờ chú ấy đưa bác ghé thăm và đảnh lễ Tam Bảo trong ngôi chùa quê đã xuống cấp.
Trước khi rời đất mẹ trở lại định cư nước ngoài, bác nhờ chú ấy đứng tên mua một thuở ruộng rồi bỏ vốn giao cho chú đó ở tại quê hương canh tác, mỗi mùa chú được ăn chia theo tỷ lệ thu hoạch đã thỏa thuận với bác, phần lúa còn lại bác nhờ chú ấy đem cúng dường cho ngôi chùa đó để cùng nhau bồi công tạo phước , tâm nguyện và việc làm ấy bác với chú kia cũng chỉ một vài người nữa biết thôi.
Nhưng ở đời không phải ai cũng như mình nghĩ, bỡi người đạo tâm thì ít, mà kẻ tham thì nhiều. Khi từ giã quê hương bác giao trọn quyền hành cho chú nọ, thế nhưng khi thu hoạch những mùa đầu chú chọn lúa tốt cho phần mình, lúa xấu đem cúng cho chùa. Dần dần về những mùa lúa sau chú không còn mang qua cúng cho chùa nữa.
Nhờ mua đúng thửa ruộng tốt, nhờ kinh nghiệm canh tác giỏi nên mỗi năm thu hoạch sản lượng càng tăng khiến cho gia đình chú ấy cuộc sống ngày càng sung túc hơn. Qua mấy năm bán nhiều lúa, ngoài sắm sửa trong nhà trong cữa chú còn góp tích số tiền cũng khá, bác kia từ nước ngoài nghe tin bèn gọi về nhắc nhở, chú vẫn bỏ ngoài tai.
Nhưng quy luật xưa nay hễ có Nhân thì ắt phải có Quả như đã nói trên, vợ và các con chú đang khỏe mạnh tự dưng lần lượt từng người đổ bệnh, bệnh từ nhẹ lần lần chuyển qua nặng, bác sĩ nào hay cũng đến, lương y nào giỏi cũng tìm, thuốc đắt mấy cũng phải mua, những đồ đạt trước chú mua sắm trong nhà rồi cũng lần lần bán hết mà bệnh mỗi ngày một tăng, từ một người ngày ngày siêng năng với đồng ruộng, giờ đây chú phải lo nuôi bệnh cho vợ và các con từ bệnh viện Tỉnh lên đến bệnh viện Thành, ban đầu từ mượn trong họ hàng sau cùng buộc lòng phải đi vay tiền góp, căn nhà đang ở giờ chú cũng phải bán để trả lãi và mua thuốc men cho cả nhà, nhưng rồi trải qua những năm dài đau bệnh vợ và các con cũng lần lượt từng người bỏ chú mà đoàn tụ với ông bà ở bên kia thế giới, giờ còn lại mình chú đơn độc trong căn chòi tranh rách nát trên vũng đất hoang cuối làng, với cơ thể khập khiễn, gầy gò, đen điu, tiều tụy sau cơn khủng hoảng và đột quỵ
Vì nhu cầu thiết yếu nên tới đâu thì tới, chứ đám ruộng của bác kia chú cũng phải bán để trả lãi nợ nần, cho cái ăn, viên thuốc…
Chú mong được chết, nhưng cái Quả không lành từ lòng tham mà chú tạo nó không cho chú chết, chú phải sống để cảm nhận những gì mình đã làm, khi ngộ ra thì chú không còn đâu sức khỏe và tâm trí để chú sám hối.
Ngoài nhà cữa gia đình vợ con không còn nữa, đám ruộng của bác kia thì chú cũng đã bán mất , nhưng cái nợ lớn với Tam bảo (Phật Pháp Tăng ), với thần linh…chú vẫn mãi mãi còn, không những trong kiếp này và nhiều kiếp kế tiếp ……
Thế nên cổ nhân có dạy: 善 有 善 報,惡 有 善 報
若 還 不 報 時 時 未 到
Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo
Nhược hoàn bất báo, thời thời vị đáo
Nghĩa là:
Có thiện thì thiện báo, có ác thì ác báo
Bây giờ chưa thấy báo là vì chưa đến
Phật tử, lương y PHAN VĂN SANG

Last edited by Rau Sam; 01-23-2018 at 08:35 AM..
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 10:02 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.