VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-14-2019 , 05:47 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Sài Gòn sau tháng 4/1975 qua con mắt của 1 thanh niên miền bắc, người sau này trở thành nhà văn nổi tiếng Nguyễn Quang Lập!
.....

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.
Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác - Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác - Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-14-2019 , 05:49 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Bài viết này của ông Nguyễn Tường Thiết , con trai nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

ÔNG SIU SIU VÀ CHÚ TIỀU.

Ông Siu Siu và chú Tiều là hai người Hoa sinh sống ở gần nhà tôi trong khu chung cư chợ An Đông Chợ Lớn. Ông Siu Siu là chủ một tiệm cơm gà rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Còn chú Tiều là một người làm công cho mẹ tôi.

Năm di cư 1954 mẹ và các anh chị tôi kẻ trước người sau lục tục vô Nam. Mẹ tôi mua một đơn vị trong chung cư chợ An Đông để ở và lấy chỗ buôn bán. Đơn vị ấy hai từng, từng dưới mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, tên hiệu là Cẩm Lợi, từng trên mẹ con chúng tôi ở khá chen chúc vì diện tích căn nhà không rộng bao nhiêu. Bố tôi chê nhà vừa chật lại vừa gần chợ ồn nên không ở, chỉ thỉnh thoảng lắm mới tạt về. Trên đầu chúng tôi là lầu ba. Lầu ba thuộc một đơn vị gia cư khác. Tất cả những đơn vị ở trên lầu ba đều đi chung một cầu thang riêng, nằm bên hông đường Nguyễn Duy Dương. Căn nhà chúng tôi ở một góc trông ra hai mặt đường nên rất thuận tiện cho việc buôn bán của mẹ tôi.

Nếu tôi chỉ nói cái số nhà 39 thì chắc chẳng một ai hình dung căn nhà của mẹ tôi nằm ở chỗ nào trong khu chợ An Đông. Nhưng nếu nói nó ở ngay sát cạnh quán cơm gà nổi tiếng Siu Siu thì có thể nhiều người hình dung ra ngay. Siu Siu là một quán cóc nằm sát bên hông nhà mẹ tôi. Ông Siu Siu khi mở quán này đã thương lượng với mẹ tôi câu điện từ trong nhà chúng tôi để thắp đèn trong quán, lại dùng cái vỉa hè ngay trước cửa nhà chúng tôi để đặt bàn ăn. Bù lại ông Siu Siu mỗi tháng trả cho cho mẹ tôi một khoản tiền. Trong suốt hai mươi năm trời chúng tôi ăn cơm gà trừ dần vào khoản tiền này, ăn nhiều phát ớn, đến độ tôi phải tự hỏi cơm gà Siu Siu thì ngon quái gì mà đông người đến ăn như thế. Mỗi buổi chiều từ trên ban công nhìn xuống dưới hè ở trước nhà tôi thường quan sát thực khách ăn ở phía dưới. Tôi nhận diện không biết bao nhiêu những khuôn mặt nổi tiếng, từ minh tinh tài tử, văn nhân nghệ sĩ cho đến những nhân vật chính trị và quân sự quan trọng của miền Nam, và tôi thường tự hỏi trong số những thực khách ấy có mấy ai biết là mình ngồi ăn ở ngay trước cửa căn nhà của mẹ tôi, bà Nhất Linh.

Chợ An Đông mỗi sáng họp rất sớm. Mới ba bốn giờ trời còn tối người ta đã sửa soạn họp chợ. Từ dưới nhà vẳng lên gác tiếng động lạch cạch của những người phu khuân vác đóng xếp những sạp hàng bầy trên mặt đường quanh chợ. Trong bao nhiêu năm tiếng lạch cạch đều đặn ấy đã thấm sâu vào trong giấc ngủ của chúng tôi. Đến khi tỉnh giấc thì tiếng ồn ào của chợ đã òa vỡ ở bên ngoài. Từ ban công lầu hai nhìn xuống dưới đường những chiếc bạt vải che mưa nắng dựng lên chi chít; qua những khoảng hở giữa hai cánh bạt là đầu và vai của những người đi chợ chen nhau qua lại giữa những sạp hàng. Đến trưa thì tiếng ồn tắt. Chợ vãn. Bạt che, sạp hàng thoắt cái biến mất, mặt đường quanh chợ bỗng vắng te, một vài con chó sục sạo trong đống rác. Trong cơn nóng hực của thành phố Sài Gòn chợ An Đông cũng theo người lịm vào giấc ngủ trưa. Trôi đi trong giấc ngủ nặng nề tôi nghe “lẹt xẹt lẹt xẹt” tiếng chổi quét uể oải của mấy người phu quét đường. Cho đến năm giờ thì chợ lại thức dậy bởi tiếng động lạch cạch bầy bàn của quán cơm gà Siu Siu.

Chiều đến khi cơn nắng đã dịu tôi thường bắc ghế ra ngồi ở ban công nơi mẹ tôi có trồng ở góc một cây hoa giấy, cành lá và hoa giấy đỏ leo trên một tấm lưới sắt thưa. Điếu thuốc lá Capstan trên môi tôi thường nhìn qua những bông hoa giấy ngắm cảnh chợ vãn từ trên cao. Phía bên kia đường Nguyễn Duy Dương là trường Trung Học Trí Dũng quét màu vôi đỏ, giờ tan trường những cô cậu học sinh Tàu trong bộ đồng phục xanh trắng cà vạt đỏ đi túa ra khỏi cổng. Trên hè lề đường ngay phía dưới ban công những thực khách của quán Siu Siu ngồi ăn uống ngon lành, trên mặt bàn ăn những chai lớn chai nhỏ bia Larue đầu cọp, bia “33”, những đĩa thịt gà trắng nuột nà, những bát cơm gà nóng bốc khói. Thỉnh thoảng tôi thấy mẹ tôi bước ra cửa gọi cơm để đãi khách và bao giờ cũng vậy ông chủ Siu Siu đích thân bưng cơm và thịt gà vào trong nhà cho mẹ tôi. Biết ý mẹ tôi ông luôn luôn mang vào một khẩu phần đặc biệt: một đĩa đùi gà được chặt rất khéo có thêm vài ba cái phao câu và một đĩa lòng gà gồm gan, mề, lòng, điểm mươi quả trứng bé bé xinh xinh màu vàng ngậy.

Mẹ tôi có cả một thế giới riêng của bà ở nhà dưới. Quanh bà là những người giúp việc. Một người lo việc cơm nước và một người chuyên làm việc nặng khuân vác cau. Trong số những người giúp việc ấy có bà Hai và chú Tiều là hai người mà tôi nhớ đến nhất mỗi khi hồi tưởng về căn nhà cũ của mẹ.

Bà Hai già lắm, đầu vấn khăn, miệng móm mém, người nhỏ thó, đi đứng lòm khòm vì lưng còng, có tật nói năng lung tung chẳng kiêng nể một ai vì thế ai cũng ngán bà. Mỗi tối bà có thể cong người nằm gọn lỏn như một con tôm trên mặt cái bàn cân. Vì vậy cái cân trở thành giường ngủ của bà.

Chú Tiều ở tuổi trung niên người Hoa, đầu hói, quanh năm mặc cái quần xà lỏn phô tấm thân lực lưỡng, nhưng chú lại bị bệnh khùng, suốt ngày nói năng lảm nhảm không thua bà Hai nhưng nói bằng tiếng Tàu chả ai hiểu chú nói gì. Không như bà Hai được mướn thường trực và ở luôn tại nhà, chú Tiều sống lây lất trong chợ, được mẹ tôi kêu tới mướn mỗi khi cần có người làm việc nặng. Sau này vì tội nghiệp muốn giúp đỡ thêm cho chú nên ngay cả những công việc nhẹ như xấy cau, sàng cau hoặc dọn dẹp nhà cửa mẹ tôi cũng nhất nhất gọi chú tới làm, thành thử chú có mặt ở nhà mẹ tôi hầu như thường xuyên. Chú làm việc gì cũng rất kỹ lưỡng từng li từng tí lại rất lương thiện không tơ hào của ai một đồng bạc cắc nên rất được mẹ tôi thương. Không ai biết thật rõ tông tích chú Tiều. Dân trong chợ kháo nhau là chú có gia đình ở đường Nguyễn Trãi nhưng cha mẹ chết hết. Chú ở với anh chị nhưng chị dâu không thương, khinh rẻ hành hạ chú vì thấy chú khùng, chú giận bỏ nhà ra đi, sống lây lất trên các đường phố rồi cuối cùng đến chợ An Đông lượm của dư của đổ của mấy bà gánh bún cơm phở mà ăn. Tối đến chú ngủ ngoài hiên bên hông nhà mẹ tôi. Mẹ tôi thấy tội nên sai người làm mang cái mền nhà binh đắp cho chú để chú đỡ lạnh và đỡ muỗi cắn. Sau này thì chú tìm được chỗ ngủ tốt hơn ở trong chợ.

Mỗi lần xe hàng tới nhà mẹ tôi để giao cau là một ngày bận rộn. Chú Tiều được gọi đến. Chiếc xe cam nhông quay đít vào lề đường (xe bao giờ cũng giao hàng vào buổi chiều vì buổi sáng chợ họp không vào được), cảng phía sau mở, một tấm ván bắc từ sau xe xuống hè làm cầu thang. Quàng một tấm khăn đỏ lên vai chú Tiều lên xe cúi mình kê vai vác từng bao tải cau lớn bước xuống thanh ván. Vào nhà chú nghiêng vai thẩy lên bàn cân để cân trước khi bao cau được chất đống trong nhà. Mẹ tôi lắp cặp kính lão vào mắt đứng bên cạnh bàn cân, cúi xuống xê dịch quả tạ trên cán cân, xê qua xê lại cho tới khi hai cái mũi cân thăng bằng, rồi bà rút cái que chổi cắm trong một lọ mực tím bắt đầu nguệch ngoạc viết lên trên bao cau: “Cau Mỹ Lợi 41,8 ký”. Chú Tiều trong lúc chờ đợi mẹ tôi cân cau thì ngửa mặt nhìn trần nhà, đầu nghếch một bên, ngón tay đưa cao chỉ vào một góc tường, miệng nói lảm nhảm tiếng Tiều Châu, như thể chú đang nói chuyện với một con thạch sùng nào đó trên trần nhà. Mặc dù chú có vẻ hoàn toàn lạc hẳn trong thế giới riêng nhưng chú Tiều tỉnh lắm, chú biết rất chính xác khi nào mẹ tôi cân xong. Mẹ tôi vừa cắm cái que chổi vào lại lọ mực thì tức thời chú cúi xuống sát bàn cân, nghiêng vai vác bao cau lên chất cao trên đống bao tải rồi chú lại lững thững đi ra ngoài, cái đầu nghiêng nghiêng, miệng sùi nước miếng, một cánh tay giơ cao dứ dứ lên trời, chú bước lên tấm ván để sửa soạn vác một bao cau khác.

Mẹ tôi cân và đánh dấu các bao cau xong thì giơ một ngón tay đẩy cặp kính lão xuống sống mũi, khẽ cúi đầu nhướng mắt nhìn quanh quất. “Mấy đứa nó đâu hết cả rồi? Này! bà Hai, bà lên gác bảo mấy cô cậu xuống tính sổ”. Bà Hai lầm bầm câu gì trong miệng, lững thững đi qua nhà bếp để lên gác. Cầu thang hẹp lại dốc, bà đã cao tuổi nên rất ngại mỗi lần phải lên gác, tiếng lầm bầm chắc là để rủa chúng tôi. Khi chúng tôi bước xuống cầu thang tay cầm sẵn giấy bút thì ở dưới nhà ồn lên tiếng tranh cãi. Quá quen cảnh đôi co về giá cả giữa mẹ tôi và khách nên chúng tôi thường kiên nhẫn chờ cho đến khi đôi bên tỏ vẻ đồng ý nhau mới bắt đầu tính sổ. Hồi đó làm gì có máy tính chúng tôi phải làm hàng chục những con tính nhân. “Cau Mỹ Lợi một bao nặng 41, 8 ký, mỗi ký giá.... đồng... Thành tiền là.... Cau Mỹ Lồng 35.9 ký... Mỗi ký giá... Cau Xuồng...”. Vừa tính toán xong thì mẹ tôi và khách lại đổi ý, hai người lại cò kè thêm một bớt hai, khách thì bảo cái cân nhà chúng tôi sai, mẹ tôi thì chê cau đắt, cau xấu, cứ ồn cả lên. Thành thử chúng tôi phải tính lại có khi đến vài lần. “Bà tính đắt thế thì chúng tôi làm sao sống nổi”. Mẹ tôi hay nói thế nếu mẹ tôi là người mua cau. Còn nếu mẹ tôi là người bán cau thì câu nói trên lại được chuyển qua miệng khách hàng. Cứ như thế cảnh đôi co được lập đi lập lại trong suốt mấy chục năm buôn cau của mẹ tôi.

Không ai để ý đến chú Tiều lúc ấy đang đổ cau ra sàng để phơi. Khách đã quen với tính khùng của chú nên mặc kệ chú nói lảm nhảm. Nhưng chú Tiều ngoài bệnh tâm trí lâu lâu lại lên cơn nhức đầu búa bổ. Lúc lên cơn chú thường ôm đầu trợn mắt, miệng rú lên khiến mẹ tôi phải quát: “Tiều, mày điên quá làm khách của tao sợ... Đây này cầm lấy mấy chục đi đâu khuất mắt, khi nào hết điên trở lại”. Mẹ tôi cũng dốc vào tay chú mấy viên thuốc nhức đầu Opthalidon từ trong một hộp thuốc chúng tôi mua sẵn cho chú để trên nóc cái két sắt. Chú nhét tiền và thuốc vào cạp quần rồi lững thững vừa hú vừa đi vào trong chợ.

Chú Tiều khi không có việc gì làm ở nhà mẹ tôi thì lang thang ngoài chợ. Chú tự động quét sân chợ và lượm rác rất sạch sẽ. Hễ đói bụng là chú la cà mấy gánh phở, bún riêu. Khách ăn xong còn thừa là chú bưng tô húp. Có khi chú lại thò tay vào cả cái sô mà mấy bà bán bún phở đổ đồ ăn thừa để đem về cho heo ăn. Chú bốc đồ trong sô bỏ miệng ăn tỉnh khô. Mấy bà bán bún thấy tội nghiệp nên thường để dành đồ dư trong tô cho chú. Buổi chiều chú phụ dọn bàn giùm cho ông Siu Siu. Ông Siu Siu cho chú 5 đồng uống cà phê và để dành cho chú cơm và thịt gà dư của khách. Vì vậy chú Tiều càng ngày càng béo trắng ra, trông như con nhà giàu vậy.

Mẹ tôi mỗi khi đi khỏi nhà thì hai cánh cửa sắt ở nhà dưới được khép chặt lại. Cửa ấy khi sập vào nhau thì cái móc sắt ở cánh bên này quàng vào cánh bên kia và cửa tự động khóa. Muốn mở cần một chiếc chìa khóa lớn. Nhưng chiếc chìa khóa này đã bị mất từ thời tám đại nào rồi. Mẹ tôi nhiều lần bảo chúng tôi gọi thợ đến làm cái chìa khác nhưng chúng tôi lười chẳng ai chịu đi. Chúng tôi bảo bà rằng chẳng cần chìa chiếc gì ráo trọi, một con dao phay lớn nậy xoẹt một cái là cửa bung ngay. Vì thế trong bao nhiêu năm cánh cửa sắt của hiệu cau Cẩm Lợi được mở bằng con dao phay. Khách vô phúc đến chơi nhà tôi nhằm đúng lúc cửa đóng đang rung cửa để gọi thì bắt gặp một ông Tàu lừng lững từ trong nhà tiến lại, tay dứ lên trời con dao phay sáng quắc, cảnh tượng ấy trông thật hãi hùng! Một ngày kia mẹ tôi đi vắng và – thiệt may – tôi lại tình cờ có mặt ở nhà dưới. Vì có tôi nên cửa sắt không đóng. Nếu cửa đóng thì “khách” sẽ được chú Tiều nghênh đón bằng con dao phay, mà hôm ấy người khách lại chính là nữ minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng! Cảnh này, nếu xảy ra, chắc sẽ làm cô Thẩm Thúy Hằng tởn tới già còn hơn những cảnh rùng rợn trong phim xi-nê.

Câu chuyện như thế này: Khoảng cuối thập niên 60, mấy năm sau ngày bố tôi qua đời, thì tên tuổi Nhất Linh mới được mọi người dân chợ biết đến. Hồi ấy có một dạo cứ mỗi lần tôi đi vào trong chợ là y như có tiếng xầm xì to nhỏ: “Đấy! Con ông Nhức Linh đấy!” – “Nhức Linh là ai vậy mày” – “Tao đâu có biết ổng là ai. Nghe cổ nói dzậy thì biết dzậy thui! Cổ vô tận đây tìm nhà ổng thì chắc ổng cũng phải là dân cỡ bự!”.

Người được nhắc tới với cái tên “cổ” không phải ai xa lạ mà là nữ minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng. Cái ngày mà cô Thẩm Thúy Hằng xục xạo vào chợ An Đông để hỏi nhà của ông Nhất Linh là một biến cố lớn cho dân trong chợ.

Đi sau Thẩm Thúy Hằng là một lô một lốc những đứa trẻ con bận quần xà lỏn mình trần trùng trục. Tôi cũng mặc quần xà lỏn nhưng lịch sự hơn chúng nó một tí là có cái áo sơ mi cộc tay khoác lên. Cô Thẩm Thúy Hằng thì cố nhiên ăn mặc sang trọng lộng lẫy lắm. Minh tinh điện ảnh mà! Vừa bước vào nhà cô nói oang oang: “Trời đất ơi! Cả cái chợ An Đông này hổng ai biết nhà ông Nhất Linh ở đâu. Mãi sau tôi mới nhớ ra là bà Nhất Linh bán cau. Thế là mấy đứa nhỏ ùn ùn dẫn tôi tới đây”. Đoán biết ngay cô nữ tài tử này đến nhà tôi về chuyện gì nên tôi nói: “Mẹ tôi không có nhà. Nhưng cô có thể nói chuyện với tôi nếu có liên quan đến bản quyền những tác phẩm của ba tôi” – “Đúng dzậy! Tôi đến để điều đình về việc thực hiện cuốn phim dựa trên cuốn tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của nhà văn Nhất Linh”. Rồi cô Thẩm Thúy Hằng chìa tấm danh thiếp mời tôi đến tư gia của cô để bàn về chi tiết. Cô nói chưa có quyết định ai sẽ là người đóng vai Loan còn vai Dũng thì có thể do nghệ sĩ La Thoại Tân đóng. Lúc tiễn cô ta ra ngoài tôi nhìn tấm thân khá đẫy đà của cô và thầm nghĩ trong bụng cô này mà đóng vai Loan thì hỏng béng nó cả cuốn tiểu thuyết của bố tôi! Tuần lễ sau tôi gặp Thẩm Thúy Hằng lần thứ hai tại nhà cô ở đường Duy Tân. Mấy tháng sau không hiểu vì lý do gì cô cho biết bỏ ý định thực hiện cuốn phim Đoạn Tuyệt.

Chuyện cô Thẩm Thúy Hằng đến nhà mẹ tôi làm xôn xao dân chợ một dạo. Nhưng đó không phải là lần đầu tiên họ được dịp chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ sĩ nổi tiếng. Cặp nghệ sĩ cải lương Kim Cương - Hùng Cường một buổi chiều nọ cũng làm náo động đám trẻ con khi họ đến ăn ở quán cơm gà Siu Siu.

Bữa đó tôi đang ngồi học bài trên gác thì có tiếng gọi ơi ới ở dưới đường: “Kim Cương tụi bay ơi!” – “Hùng Cường tụi bay ơi!”. Tôi bèn ra đứng ở ban công nhìn xuống. Trẻ con mấy chục mạng từ trong chợ chạy túa ra đường đứng thành hình vòng cung lớp trong lớp ngoài chung quanh quán cơm gà. Có vài người lớn trong đám nhưng họ chỉ đứng nhìn ở xa. Mấy đứa nhỏ đứng hàng đầu tiến sát lại gần cái bàn ăn của hai thực khách nhìn trân trân vào tận mặt cô Kim Cương, thần tượng của chúng mà trước đó chúng chỉ được thấy trên màn ảnh TV. Rồi bất ngờ trong đám con nít đồng loạt có tiếng vỗ tay, vừa vỗ tay vừa reo hò, rất đúng nhịp: “Kim Cương nhai! Kim Cương nuốt!”. Tức mình, tài tử Hùng Cường đang ăn đứng lên phùng má trợn mắt nhìn đám trẻ. Tưởng nghệ sĩ này làm trò hề, lũ trẻ lại rộ lên cười. Ông Siu Siu đang chặt thịt gà, xách con dao phay chạy ra xua tay nói lớn: “Hê! Lể cho người ta ăn lớ! Lể cho người ta ăn lớ!”. Đám trẻ rãn ra xa thôi hò hét nhưng không chịu đi, cứ đứng quanh đó mà nhìn cho tới khi cặp nghệ sĩ ăn xong lên xe.

Cứ như thế từ trên ban công căn nhà của mẹ tôi tôi ngắm cảnh sinh hoạt phía dưới không bao giờ chán mắt. Nội nhìn ông Siu Siu chặt thịt gà đã thấy mê! Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao phay bổ ngọt trên bụng. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bằng bốn đầu ngón tay trái ông Siu Siu chặn cái đùi gà, chặn kín chỉ chừa một khoảng hở. Phập! Con dao phay bổ sát móng tay. Rồi cứ thế các ngón tay ông ta lùi dần, lùi đến đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Thoắt cái, đùi gà đã được chặt thành từng khúc nhỏ đều đặn. Xúc những miếng gà đã chặt bằng lườn con dao phay ông trải thịt gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên, thế là đĩa gà được mang cho khách, cùng với những bát cơm gà nóng vàng ngậy bốc khói cộng thêm hai thứ nước chấm, một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn giấm. Trong bao nhiêu năm quan sát ông Siu Siu chặt thịt gà tôi cứ bị ám ảnh bởi một ý nghĩ và ý nghĩ này không ngớt theo tôi cho tới tận ngày nay, hơn bốn mươi năm sau. Đó là có bao giờ ông ta lơ đễnh trong lúc chặt thịt? Tôi không dám nghĩ tiếp vì cái hậu quả mà tôi hình dung thấy nó kinh khiếp quá!

Ngày nọ qua ngày kia trải qua hai mươi năm cái sinh hoạt ở dưới quán cơm gà Siu Siu đã in vào trí nhớ tôi như là những hình ảnh sống động khó phai mờ. Hình ảnh ấy phản ánh một bức tranh xã hội thu nhỏ của thành phố Sài Gòn qua thời gian. Khi cuộc chiến bắt đầu nở lớn lan rộng ở vùng quê thì ở những chiếc ghế dưới kia đã có thêm nhiều màu áo trận trong số thực khách. Tôi đã nhìn thấy những nữ sinh e ấp trong chiếc áo dài trắng gắp miếng thịt gà âu yếm bỏ vào trong bát của người yêu, một người lính rất trẻ ngồi đối diện; tôi đã nhìn thấy dãy bàn ăn đầy ắp những chai bia của những người lính trận đến đây ăn uống trong một lần về phép. Chợ An Đông cũng bắt đầu có bóng dáng những người lính Mỹ. Vào năm 1966 khi quân đội Mỹ đổ nhiều vào Việt Nam thì chủ nhân của chung cư này là tay tài phiệt Huỳnh Siêu đã cho xây cất thêm lầu bốn và dành nguyên lầu này để cho Mỹ thuê. Ở trên lầu bốn của chung cư là lầu thượng có mở câu lạc bộ là chỗ giải trí cho lính Mỹ. Đêm đêm tiếng nhạc và tiếng trống thình thình từ trên đầu chúng tôi vọng xuống.

Năm 1973 tôi lập gia đình. Thái Vân và tôi sống ở từng dưới trong căn nhà số 41 kế cạnh tiệm cau Cẩm Lợi, trong khi anh chị Triệu tôi ở trên gác. Năm sau khi nhà tôi sinh đứa con đầu lòng, nhà tôi phải đưa thằng bé về nhà mẹ đẻ một tháng vì lúc ấy chúng tôi chưa mướn được người làm. Mẹ tôi rất mong ngày con dâu và cháu về lại chợ An Đông. Ngày vợ tôi bồng con trở về mẹ tôi mừng lắm. Bà nói với nhà tôi: “Mợ biết ngay là con sắp về vì mấy hôm nay mợ thấy thằng Tiều dọn dẹp thật sạch sẽ cái phòng của con, nó lau chùi kỹ lưỡng bàn ghế từng li từng tí không còn một hạt bụi”.

Vào những năm chót của cuộc chiến chợ An Đông phản ánh đời sống đầy khó khăn của dân chúng miền Nam. Đám người từ vùng quê kém an ninh đổ về thành phố sống lây lất trong chợ, trên vỉa hè ngay trước cửa nhà chúng tôi. Những người ăn xin bu quanh thực khách để xin tiền hoặc để chờ khách ăn xong lấy đồ ăn thừa khiến ông Siu Siu phải vất vả đuổi họ đi.

Hai mươi mốt năm trôi qua trên đất Mỹ nhanh như một chợp mắt.

Năm 1996 chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên và có dịp ghé chợ An Đông thăm căn nhà cũ. Căn nhà nay đã đổi chủ. Bảng hiệu cau Cẩm Lợi thay thế bằng bảng tiệm vàng Kim Xuyến. Trong lúc vợ con tôi đi sắm đồ trong chợ An Đông (nay được tân trang phía trong với một dãy cầu thang cuốn) tôi đứng trước cửa tiệm vàng nhìn lên cái ban công trên cao nhớ lại những giờ phút xa xưa đứng trên đó nhìn xuống cái quán Siu Siu ở dưới này bây giờ không còn nữa, nhớ lại cả một thời thanh xuân, thời tuổi trẻ của mình mà lòng bồi hồi.

Đã bao nhiêu nước chảy qua cầu.

Mẹ tôi không còn nữa. Sau biến cố năm 1975 mẹ tôi đã sống thêm được 6 năm tại căn nhà An Đông ấy và chứng kiến bao nhiêu cảnh tang thương của cuộc đổi đời. Tuy mẹ tôi được nhà cầm quyền mới để yên không làm khó dễ như bà vẫn hằng lo ngại (do tên tuổi bố tôi), nhưng bà đã trải qua bao cảnh chia ly tử biệt trong gia đình. Mẹ tôi chứng kiến chị cả tôi, chị Thư, chết trong một tai nạn xe cộ vào năm 1976, anh Thạch tôi bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, anh chị Triệu tôi vượt biên, bị bắt, bị tù, rồi vượt biên nữa. Những người con của bà, người chết người bỏ đi xa, căn nhà vắng dần bóng người, mẹ tôi nhiều lúc sống thui thủi một mình trong căn nhà An Đông. Người chăm lo hầu hạ bà sau này nhiều nhất là chị Thạch và... chú Tiều. Vâng, chú Tiều, con người điên điên khùng khùng ấy không ngờ lại là người rất có tình nghĩa, tận tụy chăm lo cho mẹ tôi cho đến những ngày cuối của đời bà.

Theo lời chị dâu tôi, chị Thạch, sau năm 1975 chú Tiều ở hẳn trong nhà mẹ tôi. Chú giặt rũ, nấu cơm, đóng cửa, mở cửa, coi nhà và trông nom mẹ tôi. Hồi đó trộm cướp nhiều lắm, mẹ tôi nhiều lúc ở nhà một mình nên sợ, may mà có chú Tiều bảo vệ. Đêm đêm chú giắt con dao phay sáng quắc đi tới đi lui trước nhà khiến đám bụi đời và lũ trộm cắp rất ngán không ai dám bén mảng đến cửa. Anh Thạch tôi sau 5 năm trời cải tạo trở về sống ở chợ An Đông. Ngày anh trở về là ngày vui nhất của mẹ tôi. Anh là người duy nhất trong số các con của mẹ tôi được sống với mẹ trọn một năm chót của đời bà. Tháng Tư năm 1981 mẹ tôi bị bệnh nặng. Anh cả tôi từ bên Pháp về Việt Nam đưa mẹ tôi sang Paris chữa bệnh. Đến phi trường Orly mẹ tôi được chở thẳng đến bệnh viện. Bà qua đời tại đó ít lâu sau, thọ 74 tuổi.

Trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy tội nghiệp nhất phải nói là ông chủ quán cơm gà Siu Siu. Vào năm 1975 sau 20 năm làm ăn phát đạt ông Siu Siu trở nên giầu có. Ông đã tậu 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương, cạnh trường Trí Dũng, và biến ba căn này thành một nhà hàng bán cơm gà thật lớn, trong khi ông vẫn duy trì cái quán cóc nhỏ ở sát cạnh nhà mẹ tôi. Vẫn theo lời kể của chị Thạch thì khi những người cộng sản vào trong Chợ Lớn họ niêm phong và tịch thu tất cả những nhà hàng lớn của hoa kiều, chỉ cho hoạt động những nhà hàng nhỏ bán buôn lẻ tẻ. Ông Siu Siu bỗng nhiên một lúc bị tước đoạt cả ba căn nhà. Còn quán cóc thì ông sang lại cho chú Sáng, một người bà con của ông. Tháng 6 năm 1978 những thương gia trong Chợ Lớn hùn nhau tổ chức một cuộc vượt biên bằng tàu. Ông Siu Siu và toàn gia đình ông tham dự trong chuyến đi ấy. Ra khơi không may tàu chìm. Toàn thể gần trăm người trên tàu không một ai sống sót chỉ trừ một mình ông Siu Siu. Ông bám vào một tấm ván theo sóng biển trôi tấp vào bãi biển tỉnh Bến Tre. Dân chúng địa phương báo cho công an biết và ông được chở vào bệnh viện cứu sống. Sau khi điều tra lý lịch biết ông Siu Siu ở chợ An Đông họ điện cho công an phường An Đông để xin giải ông về quận 5. Ông Siu Siu sau đó trở thành người mất trí. Không còn nhà cửa để ở ông sống lây lất ngay dưới mái hiên căn nhà cũ của mình ở đường Nguyễn Duy Dương. Rồi giống như chú Tiều ông bắt đầu điên khùng nói năng lảm nhảm. Nhưng tệ hơn chú Tiều ông phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống, những người mà chỉ mấy năm trước đã là thực khách thường xuyên của quán cơm gà rất nổi tiếng của ông.

Còn chú Tiều nhờ trời thương nên có hậu vận khá. Sau khi mẹ tôi qua Pháp chị dâu tôi và anh Thạch là hai người sau cùng ở lại chợ An Đông. Khi anh chị Thạch quyết định về ở Thủ Đức anh chị đã sang căn nhà 39 An Đông cho bà Kim Xuyến. Bà Xuyến sửa lại căn nhà để mở một tiệm vàng khang trang đẹp đẽ. Theo lời chị Thạch thì căn trên gác được sửa sang gắn cửa kính lắp máy lạnh và đặc biệt để dành riêng cho chú Tiều ở. Chả là bà Kim Xuyến có nhà riêng ba tầng ở đường Lê Hồng Phong nên bà không ở tiệm vàng. Mỗi sáng bà đến chợ An Đông bán hàng. Chiều đến bà cho vàng vào trong két sắt (cái két sắt lớn của mẹ tôi để lại) khóa két lại rồi giao nhà cho chú Tiều coi giữ. Đêm đêm chú Tiều giắt con dao bên lưng, đi tới đi lui, giống như trước kia chú đã làm thế để bảo vệ mẹ tôi, do đấy mà không một tên bất lương nào dám bén mảng đến trước cửa căn nhà số 39. Bà Xuyến về nhà riêng có thể yên tâm ngủ vì tiệm vàng đã có chú Tiều canh giữ. Một người khùng điên, không tài cán, không người thân thích, mà lại được tín nhiệm giao phó trông coi cả một tiệm vàng... Đúng là chuyện khó tin nhưng có thực!

Sáu năm sau, năm 2002, chúng tôi lại trở về Sài Gòn và đến thăm lại căn nhà cũ một lần thứ hai. Tiệm vàng Kim Xuyến không còn ở đó nữa. Từng dưới nhà nơi chỗ hai cửa sắt trông ra hai mặt đường đã bị bịt tường kín bưng. Trên lầu những ban công được che bằng những song sắt chắc chắn. Chúng tôi đoán chủ nhân mới là sở hữu chủ của cả hai căn 39 và 41, họ dùng căn 41 làm chỗ buôn bán và dùng căn nhà cũ của mẹ tôi làm kho chứa hàng.

Lần đó cũng là lần sau cùng tôi nhìn thấy căn nhà An Đông cũ của mẹ tôi. Bức tường kín mít đã hoàn toàn chắn tôi với quá khứ. Tôi bâng khuâng tự hỏi không biết số phận của ông Siu Siu và chú Tiều bây giờ ra sao, còn sống hay đã chết?
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 03:49 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Mỗi chúng ta đều có thể trở thành quý nhân của người khác, chỉ là có nguyện ý hay không.

Trong một đêm mưa gió bão bùng, tại ngôi làng nhỏ hẻo lánh của Brazil có một người phụ nữ chuyển dạ sinh con. Giữa lúc nguy cấp ấy, chồng cô lại vắng nhà, bên cạnh cô lúc này chỉ có cậu con trai mới tròn 5 tuổi.

Dưới tình thế cấp bách đó, cô không còn cách nào khác là phải gọi đến đội cứu hộ nhờ giúp đỡ. Trời mưa rất to khiến cho thôn làng gần như ngập lụt, đất đá trôi xuống, cả xe cứu thương và đội cứu hộ đều đã lên đường, vì thế không còn lại một ai để đến giúp cô. Nhân viên trực điện thoại đành phải gọi điện đến đội trưởng của một đơn vị khác, đang nghỉ ngơi ở nhà.

Vị đội trưởng kia lập tức đồng ý, hơn nữa còn tự mình đưa người phụ nữ ấy đến bệnh viện cấp cứu. Cuối cùng, cô cũng sinh nở được thuận lợi, mẹ tròn con vuông. Lúc này, vị đội trưởng chợt nhớ rằng trong nhà sản phụ còn có cậu con trai nhỏ tuổi đang bị lũ lụt vây khốn. Vị đội trưởng lập tức lấy điện thoại gọi cho nhân viên của mình. Anh ta là người “không nhiệt tình nhất” nhưng lại là người duy nhất đang nghỉ ở nhà. Hy vọng nhân viên này có thể đến cứu cậu bé gặp nguy hiểm kia.

Nhân viên “không nhiệt tình nhất” này rất khó chịu khi phải chui ra khỏi chăn và rời chiếc giường êm ấm để đến một nơi ngập lụt. Anh ta miễn cưỡng lái xe đến nhà cậu bé, trong tâm trạng bất bình, vừa đi vừa nguyền rủa trời đất quỷ thần, vừa nguyền rủa cả người đã sai khiến mình.

Mất một khoảng thời gian khá lâu, vượt qua đoạn đường quanh co và ngập nước, cuối cùng anh ta cũng tìm được đến nhà cậu bé. Cậu bé được đưa lên xe liền nhìn chằm chằm vào nhân viên này và nói: “Chú ơi, chẳng phải chú chính là Thượng đế sao!”

Vị nhân viên cứu hộ này đột nhiên nghe thấy câu nói của cậu bé liền chấn động. Anh thoáng chút nghĩ rằng: “Liệu có phải đứa trẻ quá sợ hãi mà có vấn đề không?” Anh liền lắp bắp hỏi lại cậu bé: “Cháu bé, vì sao cháu nói chú là Thượng đế vậy?”

Cậu bé nói: “Trước khi mẹ cháu đi đã bảo cháu rằng phải dũng cảm đợi ở trong nhà. Mẹ cháu còn nói rằng: ‘Lúc này, chỉ có Thượng đế mới cứu được chúng ta thôi!’”

Vị nhân viên nghe xong, bất giác cảm thấy vô cùng xấu hổ. Anh đưa tay xoa đầu cậu bé và nói một cách trìu mến: “Cháu bé, chú không phải là Thượng đế đâu, chú chỉ là một người bạn của cháu thôi!”

Anh vô cùng xúc động, không ngờ rằng lại có ngày mình trở thành Thượng đế trong mắt của người khác. Anh nhìn vào ánh mắt của cậu bé và cảm thấy như trong đôi mắt đó đang đốt lên một ngọn đèn – chính là ngọn đèn hướng thiện.

Mỗi một việc tốt, việc thiện mà chúng ta làm, dù nhỏ thôi cũng có thể đem lại sự ấm áp và cảm động vô cùng lớn lao cho người khác. Kỳ thực, đó cũng là đem đến cho bản thân chúng ta niềm hạnh phúc thực sự.

Chẳng trách, rất nhiều nhà tâm lý học đều đưa ra lời khuyến nghị lương tâm rằng: “Nếu có lúc nào đó bạn cảm thấy phiền não, chán nản, bạn hãy đi làm một việc thiện, giúp đỡ người khác. Bạn nhất định sẽ cảm thấy vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn và cuộc đời có ý nghĩa hơn. Đây chính là phần thưởng lớn nhất cho bản thân và cũng chính là “hiện thế báo” của bạn.”

Trong cuộc sống, có rất nhiều việc lớn mà chúng ta nhất thời không thể làm được như đạt được giải thưởng Nobel, hay kiểm soát được hiệu ứng nhà kính… nhưng vẫn còn vô số việc tốt nho nhỏ đang cần chúng ta làm. Tổ tiên của chúng ta chẳng phải cũng đã dạy rằng: “Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm”, chúng ta còn chần chừ gì đây?

Mỗi người chúng ta đều có thể trở thành “Thượng đế” trong cảm nhận của người khác, có thể chỉ qua một ý niệm lương thiện, một việc làm lương thiện tình cờ nho nhỏ nào đó thôi, chứ không nhất định phải bởi một việc cao xa, to lớn nào đó đâu!st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 03:53 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Cuộc điện thoại lúc 3h sáng làm chấn động thủ đô Đan Mạch.

Ngày 13/11/1953 được nhớ đến là một trong những ngày đặc biệt nhất của đội phòng cháy chữa cháy thủ đô Copenhagen, Đan Mạch. Khoảng 3h sáng ngày hôm đó, người lính cứu hỏa 22 tuổi tên là Erich đã nhận được một cuộc điện thoại: “Vâng, đây là đội phòng cháy chữa cháy” – Đầu dây bên kia không có ai trả lời nhưng cậu ấy nghe thấy tiếng thở dốc nặng nề.

Không lâu sau đó, một giọng nói gấp gáp vang lên: “Cứu với, cứu tôi với… Tôi không đứng dậy được, tôi đang bị chảy máu”.

“Đừng hoảng hốt, thưa bà”, Erich đáp lại, “Bà đang ở đâu, chúng tôi sẽ lập tức tới ngay?”

“Tôi không biết nữa”.

“Có phải bà đang ở nhà không?”

“Vâng, tôi nghĩ là tôi đang ở nhà”.

“Nhà bà ở đâu, đường nào vậy ạ?”

“Tôi không biết, đầu tôi choáng quá, tôi đang bị chảy máu”.

“Bà ít nhất cần nói cho tôi biết tên bà là gì?”

“Tôi không nhớ, tôi nghĩ là tôi bị đập vào đầu”.

“Xin đừng gác máy”. Erich vừa nói vừa nhấc chiếc điện thoại khác để gọi đến công ty, một người đàn ông lớn tuổi nghe máy.

“Xin hãy giúp tôi tìm ra người đang sử dụng số điện thoại này, bà ấy đang gọi đến đội phòng cháy chữa cháy”.

“Không, tôi không thể, tôi chỉ là bảo vệ gác đêm thôi, tôi không biết những việc này. Hơn nữa hôm nay là thứ bảy nên cũng không có ai ở đây cả”.

Erich cúp máy và nghĩ ra một ý tưởng khác, anh hỏi người phụ nữ: “Làm cách nào mà bà có số điện thoại của đội phòng cháy chữa cháy ạ?”

Người phụ nữ trả lời yếu ớt: “Số này đã được lưu trên điện thoại, lúc bị ngã tôi kéo điện thoại và nó đã gọi đến”.

Erich nói tiếp: “Vậy bà nhìn xem trên điện thoại có số điện thoại của nhà bà hay không?”

“Không có, không có dãy số nào khác, xin các anh hãy đến đây nhanh lên!”. Giọng người phụ nữ càng lúc càng yếu đi.

Erich vội vàng hỏi: “Xin bà hãy nói cho tôi biết bà có thể nhìn thấy vật gì?”

“Tôi… tôi nhìn thấy cửa sổ. Ngoài cửa sổ có đèn đường”

Lúc này, Erich đã có một chút manh mối: Nhà của người phụ nữ hướng ra đường cái, hơn nữa chắc chắn ở lầu không cao, vì có thể nhìn thấy đèn đường.

“Cửa sổ như thế nào, có phải hình vuông không ạ?”

“Không, là hình chữ nhật”.

Căn cứ và hình dạng cửa sổ, Erich đoán người phụ nữ có thể đang sống ở một khu nhà cổ.

“Đèn nhà bà có bật không?” – Đây là câu hỏi cuối cùng của người lính cứu hỏa Erich.

“Vâng, có bật”.

Erich muốn hỏi thêm nhiều manh mối hơn nữa nhưng đầu bên kia đã không còn trả lời, điện thoại chưa bị cúp.

Erich biết rằng phải lập tức hành động. Nhưng chỉ dựa vào những manh mối đó, anh có thể làm gì đây? Anh gọi cho đội trưởng, trình bày lại vụ việc.

Vị đội trưởng nghe xong liền nói: “Không có cách nào cả, không thể tìm được người phụ nữ này…”.

Erich nghe vậy nhưng vẫn không muốn bỏ cuộc. Nhiệm vụ hàng đầu của người lính cứu hỏa là “Cứu người”, anh đã được dạy như thế.

Vào thời điểm này, Eric đã đưa ra một ý tưởng táo báo và không do dự bày tỏ suy nghĩ của mình với thủ trưởng. Đội trưởng nghe xong giật mình kinh ngạc: “Cậu làm như vậy thì dân chúng lại nghĩ là đang nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân đấy”.

“Tôi khẩn cầu ngài”, Erich nói, “Chúng ta phải mau chóng hành động, nếu bỏ qua cơ hội cứu người này, thì hết thảy đều phí công vô ích”.

Đầu dây bên kia im lặng một lúc, sau đó đội trưởng nói: “Được, chúng ta hãy làm như vậy, tôi chạy qua ngay”.

10 phút sau, 20 chiếc xe cứu hỏa hú còi báo động inh ỏi trong thành phố, mỗi xe một khu vực, chạy khắp các nẻo đường.

Tiếp theo, Erich cẩn thận lắng nghe đầu dây bên phía người phụ nữ, anh vẫn nghe thấy tiếng thở dốc của bà.

Sau đó, vị đội trưởng hỏi anh đã nghe thấy tiếng còi xe cứu hỏa chưa? “Tôi đã nghe thấy”, Erich trả lời.

Vị đội trưởng ra lệnh: “Xe số 2, tắt còi báo động”. Lần này Erich trả lời: “Tôi vẫn còn nghe thấy tiếng còi xe”.

Cho đến chiếc xe thứ 12, Erich hô lên: “Tôi không nghe thấy nữa rồi”.

“Xe số 12, mở còi báo động”.

“Tôi đã nghe thấy tiếng còi xe, nhưng càng chạy càng xa”.

“Xe số 12, quay đầu lại” – đội trưởng ra lệnh.

Ngay sau đó, Erich reo lên: “Đang tới gần rồi, âm thanh nghe ngày càng chói tai, chắc hẳn sắp tới con đường phía nhà người phụ nữ rồi”.

Vị đội trưởng hỏi: “Xe số 12, các bạn có nhìn thấy một cột đèn đường không?”

“Có hơn trăm đèn đường, mọi người đang ngó ra cửa sổ xem xảy ra chuyện gì”.

“Hãy dùng loa”, vị đội trưởng ra lệnh.

Erich nghe thấy tiếng loa: “Thưa quý ông quý bà, chúng tôi đang tìm kiếm một người phụ nữ đang trong tình trạng nguy kịch, chúng tôi chỉ biết bà ấy đang ở trong một căn nhà có đèn sáng, vậy nên mong các vị hãy tắt đèn nhà mình đi”. Sau khi nghe hiệu lệnh, người dân lập tức tắt hết đèn.

Chỉ trong chốc lát, tất cả căn nhà đều tối, chỉ trừ một cửa sổ…

Không lâu sau đó, Erich nghe thấy tiếng nhân viên cứu hỏa đi vào trong phòng, một người nói qua bộ đàm: “Người phụ nữ này đã mất ý thức, nhưng mạch vẫn đập. Chúng tôi lập tức đưa bà ấy đến bệnh viện, tôi tin rằng sẽ cứu được bà ấy”.

Helen Thornda – đây là tên của người phụ nữ đã được cứu sống. Bà tỉnh lại và hồi phục trí nhớ của mình vài tuần sau đó.

Sự kiên trì nỗ lực của người lính cứu hỏa trẻ tuổi Erich đã cứu sống được một sinh mạng. Sự việc này đã chứng minh một vấn đề: “Nếu bạn thực sự muốn làm một điều gì đó, bạn nhất định sẽ tìm ra cách. Ngược lại, nếu bạn muốn từ bỏ một điều gì đó, bạn sẽ tìm ra rất nhiều lý do để thuyết phục mình. Làm hay không là do bạn lựa chọn!”TT
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 03:58 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Giai thoại về dịch giả Ngọc Thứ Lang, nhan đề và lời tựa tiểu thuyết Bố Già.

Nhân trao đổi với bạn You Know Me về tựa đề của tiểu thuyết “The Godfather” dịch thành “Bố Già”, tui tình cờ kiếm được cái giai thoại về dịch giả Ngọc Thứ Lang – người mà tui cho là dịch tác phẩm Bố Già hay nhất – khá là thú vị nên post lên cho mọi người đọc chơi.

Tác giả The Godfather và dịch giả Bố Già

Một buổi sáng tháng Chạp năm 72, một người đàn ông gầy ốm, mặt nhỏ choắt, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay, bước vào toà soạn Văn ở đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn. Mai Thảo giới thiệu với tôi anh là Tú tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả cuốn Bố Già của Mario Puzo. “Mình đi uống cà phê đi!” Mai Thảo rủ cả hai chúng tôi. Quán cà phê nhỏ nằm bên hông toà soạn của bà Tư (tôi không nhớ tên bà có đúng là bà Tư không, nhưng tôi nhớ bà là người Nam rất dễ tính, xởi lởi và hệch hạc. Bà vẫn thường cho tôi ghi sổ nợ để cuối tháng trả một lần cho tiện, mặc dù tôi ít khi được dịp trả nợ, vì Bố già Vượng luôn luôn “thanh toán hộ” tôi trước kỳ hạn.) Thường tôi vẫn ra ngồi cà phê sáng ở quán Cái Chùa với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, chỉ hôm nào không ra ngồi ở Quán Cái Chùa, chúng tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư. Aên sáng ở đây không có gì khác hơn là bánh mì hột gà (ốp la hay ô mơ lét) và cà phê (đen hay sửa). Quán nhỏ nằm bên hông nhà của một con hẽm, hình như là tiệm ảnh sát bên toà soạn Văn. Con hẽm rất hẹp, chỉ vừa cho một chiếc xe Honda ra vào một chiều. Quán chỉ có hai ba chiếc ghế lèo tèo, loại ghế cao đóng bằng gỗ tạp. Ngọc Thứ Lang ít nói. Và Mai Thảo hôm đó cũng không nói gì nhiều. Chưa uống hết ly cà phê, anh Ngọc Thứ Lang là người đứng dậy trước dợm bước đi, tôi thấy Mai Thảo đứng dậy theo kín đáo dúi vào tay Ngọc Thứ Lang mấy tờ giấy bạc. Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi gặp dịch giả Bố Già. Tôi không có cơ hội nào khác để gặp anh. Tôi đọc cuốn Bố Già bản tiếng Việt của Ngọc Thứ Lang và cuốn sách đã lôi cuốn tôi mạnh mẽ. Thời gian đó tôi đang thực hiện một loạt bài dưới tên Nhà Văn Ở Phút Nói Thật, phỏng vấn các nhà văn Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng, Viên Linh , Nguyễn Mạnh Côn,… Bỗng nhiên tôi thấy muốn phỏng vấn một người dịch là Ngọc Thứ Lang. Bố Già Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tờ Văn cười bảo tôi, phỏng vấn chi người dịch Bố Già, cứ phỏng vấn trực tiếp Bố Già có hơn không. Bởi vì tôi vẫn thường gọi ông là Bố Già mà! Tuy nhiên thời gian đó có quá nhiều việc phải làm nên tôi quên bẳng chuyện đi tìm anh để hỏi vì đâu anh nắm bắt được cái ngôn ngữ kỳ lạ của thế giới mafia như thế.

Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt mà chúng tôi vẫn chưa được xem Bố Già trên màn ảnh lớn. Bố Già Nguyễn Đình Vượng thì đã mất trước đó một năm. Gia đình, bạn bè thì đã ly tán. Cả thành phố chìm trong bóng tối. Tôi quên mất Bố Già Mario Puzo. Tôi cũng không nhớ có một người tên là Ngọc Thứ Lang đã dịch cuốn Bố Già tuyệt hay.

Năm 1986 từ Bataan Phi Luật Tân đến Mỹ tình cờ tôi được xem cuốn video Bố Già. Tôi có cái cảm giác giống như anh Hoàng Hải Thủy, cuốn phim không lôi cuốn tôi như khi tôi đọc sách, mặc dù đó là một trong những tác phẩm lớn của điện ảnh Hoa Kỳ. Sự chờ đợi quá lâu đã làm tình cảm người ta nguội lạnh chăng? Tôi không tin là như thế. Bởi vì, có những tác phẩm, như cuốn Bác Sĩ Jhivago, sau bao nhiêu năm giờ đây xem lại vẫn làm trái tim tôi rung động như mới ngày nào vừa mới gặp người đàn bà định mệnh Lara từ cuốn tiểu thuyết của Boris Pasternak bước lên màn ảnh và khuôn mặt đam mê quyến rũ ấy cứ theo đuổi tôi mãi suốt những tháng năm trong đời mình.

Thời gian đã cắt bỏ một góc trí nhớ này, ráp nối một mãnh ký ức khác. Miếng bánh tráng nướng dòn trong tô Mì Quảng bao giờ cũng làm sống lại trong tôi cái hình ảnh dịu dàng của mẹ tôi một buổi chiều ngồi trước sân nhà trên tỉnh lộ Mười Ba ngó qua khoảnh sân banh ngập cỏ với cái khán đài không mái che và những hàng ghế gỗ xộc xệch long đinh ván cong lên hay đã gẫy.

Và cái bản tin tôi đọc được hồi đầu tháng cho biết tác giả The Godfather đã qua đời hôm 1 tháng Bảy tại thành phố Bay Shore, New York, thọ 78 tuổi, đã làm tôi nhớ lại hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc sơ mi màu cháo lòng, hai tay áo dài thòng che lấp hai bàn tay, một buổi sáng nào đã bước vào toà soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão. Bây giờ anh ấy ở đâu, người dịch giả tài năng ấy? Hoàng Hải Thủy nói Ngọc Thứ Lang mất cách nay cũng đã 20 năm rồi. Sau 1975, hai nhà xuất bản ở Việt Nam giành nhau in lại bản dịch Bố Già của anh, giờ đây không phải trả tiền bản quyền người dịch nữa. Một nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng đã in Bố Già và nay cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.

“Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết best-seller từng bán đến 21 triệu quyển, qua đời ở nhà riêng trong thàmh phố Bay Shore, New York, ngày Một tháng Bảy 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già, qua đời ở trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, khôâng vợ, không con.”

Theo trí nhớ Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện. Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại Sao Tôi Di Cư cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris sang chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát,… Vào giai đoạn đó, Nguyễn Ngọc Tú gặp tình yêu. Nhưng mối tình trắc trở. Người yêu anh tự tử và cuộc đời anh bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong căn nhà bán thuốc phiện ở hẽm Monceaux, Tân Định. Ăn, hút và ngủ luôn trong nhà đó . Để có tiền hút, Tú bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da,… Anh trở thành người nghiện hút nặng. Những năm 70 anh viết cho tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và nhiều báo khác với bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Khi Nguyễn Đức Nhuận đưa cuốn The Godfather cho Ngọc Thứ Lang dịch, anh đã chọn tên Bố Già cho bản dịch của mình. Và cuốn sách trở thành tác phẩm ăn khách của Sài Gòn những năm 71, 72. Năm 1976, anh bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Trung tâm cai ma túy nằm trong toà nhà Tu viện Fatima. Một nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm ngạc nhiên khi biết Nguyễn Ngọc Tú, một con người thân tàn ma dại đang đứng trước mặt mình là dịch giả cuốn The Godfather của Mario Puzo. Cô nhà báo không tin. Và anh được phép về Sài Gòn mang cuốn sách dịch lên Trung Tâm cho cô ký giả thấy là thật.

Người ta còn nhớ khi cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ của Mario Puzo được Ngọc Thứ Lang chuyển ngữ vào năm 1972 dưới tên Bố Già lập tức, như tác phẩm nguyên bản của nó, Bố Già trở thàønh cuốn sách ăn khách nhất thời bấy giờ, mặc dù đó là thời điểm mà cuộc chiến Việt Nam đang bước vào những giây phút ác liệt nhất, thời mà Phan Nhật Nam viết Mùa Hè Đỏ Lửa.

Người Sài Gòn rất mê cuốn tiểu thuyết Bố Già, và chờ đợi xem cuốn phim thực hiện theo tác phẩm này, thế nhưng cho đến năm 1975, chưa người Sài Gòn nào được xem phim Bố Gia do Marlon Brando đóng vai Don Corleone. Mặc dù như lời Hoàng Hải Thủy, ngay từ đầu năm 1975, người ta đã cho nhập cảng cuốn phim này vào Việt Nam, nhưng phim vẫn chưa được trình chiếu trước công chúng. Tại sao? Hoàng Hải Thủy cho biết vì những người nhập phim còn chờ đợi ngày lành tháng tốt mới đem ra chiếu để hốt bạc. Sự chờ đợi của những con buôn ấy không bao giờ trở thành hiện thực. Cuốn phim ấy đã đi qua và mãi hơn 20 năm sau người Sài Gòn mới được xem Bố Già.

Với Mario Puzo, sau Bố Già ông vẫn không ngừng viết. Năm 1996, ông viết The Last Don – Bố Già Cuối Cùng, nhưng không mấy ăn khách, và tác phẩm cuối cùng của ông Omerta (Luật Kín Miệng) sẽ được ấn hành năm 2000, cuốn sách mà tác giả không còn cơ hội nhìn thấy mặt mũi đưá con tinh thần của mình.

Lời tựa tiểu thuyết “Bố Già” của Ngọc Thứ Lang tiên sinh.

Độc giả Mỹ chẳng lạ gì tựa sách đó. Xuất bản năm 1969 với 11 triệu bản in được bán sạch, nó là quyển tiểu thuyết hay nhất viết về giới giang hồ, giới Mafia tại Mỹ. Thật nhiều lời khen chê về nó. Và như vẫn thường xảy ra ở Mỹ, mọi quyển sách “best-seller” đều được quay thành phim. “The Godfather” đã được hãng Paramount dựng thành phim, tài tử lừng danh Marlon Brando thủ vai chính, và cũng nhanh chóng trở thành cuốn phim ăn khách nhất lúc bấy giờ.

Trong tiểu thuyết của Mario Puzo, “Bố Già” là Ông trùm Don Vito Corleone, người gốc Sicily, một trong những thủ lĩnh tối cao của giới Mafia Mỹ. Kẻ thù căm ghét ông, khiếp sợ ông, khinh bỉ ông; ông như con rắn hổ mang nguy hiểm có đôi mắt chứa đựng một uy lực tối thượng nhìn thấy hết, biết hết, làm được hết. Nhưng đối với bạn bè, thân quyến, “Bố Già” gần như là một đấng toàn năng có thể cứu họ thoát khỏi những thế kẹt và nỗi oan ức mà ngay cả luật pháp cũng chẳng gỡ được. Ông đúng là “Mafia” theo cái nghĩa nguyên thủy của nó thuở ban đầu hình thành, nơi ẩn náu.

Sự toàn năng tối thượng của “Bố Già” một phần do cái dũng trí khác thường của ông đem lại, phần khác là do những đồng đô-la trong tài sản đồ sộ của ông tạo ra. Balzac đã viết:”Đằng sau mọi gia sản kếch sù là một tội ác”. Đó cũng chính là câu mà Mario Puzo đã trích dẫn ở đầu chương I của tiểu thuyết như lời bình giới thiệu nhân vật “Bố Già” của mình. Ông còn cẩn thận ghi chú thêm: Tất cả nhân vật trong truyện đều là hư cấu, và bất kỳ sự trùng hợp nào nếu có… đều là ngẫu nhiên. Ngày nay, chúng ta hiểu được sự thận trọng của tác giả khi viết lời ghi chú đó. Tiểu thuyết của ông quả thực đã dựa trên những chi tiết có thực về những con người có thực.

Nhiều tư liệu gần đây về Mafia và “The Godfather” cho chúng ta biết rằng nhân vật “Bố Già” ngoài đời chính là Don Vito Cascio Ferro, một trong những thủ lĩnh quan trọng đầu tiên của giới Mafia Ý di cư sang Mỹ. Ông cầm đầu giới giang hồ ở Sicily, và sau đó thống lãnh nhóm “Mano Nero” (Bàn tay đen), một nhóm chuyên tống tiền và cưỡng đoạt. Nhóm này chính là tiền thân của giới Mafia Mỹ, hiện nay được gọi là tổ chức “La Cosa Nostra” (Chuyện làm ăn của chúng ta). Những người nghiên cứu về vấn đề Mafia viết rằng cách đây hơn 50 năm, trong bè đảng của Don Vito Cascio Ferro đã sản sinh ra các thủ lãnh Mafia mới ở Mỹ và họ đã du nhập những ngành làm ăn bất chính vào Mỹ rồi phát triển chúng lên.

Ngoài “Bố Già” thực Don Vito Cascio Ferro, trong truyện còn có một nhân vật thực khác rất thú vị. “Kép” Johnny Fontane lại chính là Frank Sinatra, ca sĩ và tài tử nổi tiếng của Mỹ trong thập niên 60, bạn thân của Tổng Thống Reagan và là một trong những nghệ sĩ Mỹ giàu nhất hiện nay.

…Tuy Mario Puzo vẽ lên những nhân vật tiểu thuyết là cái bóng phản của ông X, ông Y…sừng sỏ có thực ngoài đời như đã dẫn ở trên, những điều ông tiết lộ chẳng phải là cái gì khiến độc giả bàng hoàng, sửng sốt lắm. Ngay cả những cảnh bạo lực, bắn giết trong truyện cũng vậy. Họ thích thú đọc, hồi hộp theo dõi, và dường như sẵn sàng tin vào tính chất xác thực của nó. Tin dễ dàng. Tin thanh thản. Báo chí Mỹ ngày ấy viết rằng tuy có rất nhiều máu chảy trong “Bố Già”, nó dường như lại bao phủ lên giới giang hồ một màu sắc lãng mạn nào đó. Trong khía cạnh này thì “Bố Già” cũng giống phần lớn các sách, phim Mỹ viết về đề tài các tổ chức tội ác. Các nhân vật chính trong đó không chỉ là bọn găng-tơ, hay găng-tơ mại bản, mà còn mang dáng dấp của một anh hùng, một thần tượng. Họ có những cá tính độc đáo, họ sống trong những gia đình quyền quý xây dựng trên một nền tảng gia tộc chặt chẽ, vợ họ sùng đạo và cương trực, v.v… Hơn hết, người viết không lên giọng miệt thị tố cáo giới giang hồ, cái mầm độc gây nguy hại cho xã hội Mỹ. Bằng một cách nào đó, người đọc hay người xem được cho thấy rằng tội ác rõ ràng không thể tiêu diệt được, nó là một bộ phận không xoá bỏ được. “Thời Báo” đã có lần nhận xét: chính sự lãng mạn hoá các ông Trùm Mafia và giới giang hồ đó đã khiến cho nó trở thành một hiện tượng xã hội chấp nhận được và giúp nó phát triển.”

Phải chăng Mario Puzo chỉ dừng lại ở chỗ lãng mạn hoá một ông Trùm Mafia và những sự kiện bạo lực ác liệt chung quanh ông Trùm đó? Xây dựng nhân vật dựa trên những chất liệu có thật, ông đã tiểu thuyết hoá các con người thật dưới những nét miêu tả chân chất. Và chúng ta cũng không quên chủ định của tác giả ẩn sau câu trích dẫn đầu quyển sách: “Đằng sau mọi gia sản kếch xù là một tội ác.”

Giới thiệu “Bố Già” lần này, chúng tôi mong sẽ đem đến cho độc giả một hình ảnh xưa với những suy nghĩ mới về một hiện tượng phức tạp đang tồn tại trong xã hội Mỹ hiện nay.

********************

Comment của Nguyễn Huỳnh Vũ:

Chào bạn. Mình cũng có đọc Bố Già, hôm trước có ngồi chơi với Bác Hải (Vũ Nguyên Quân), bác này là tri thức có tiếng trc giải phóng, đỗ hai tiến sĩ. Mình quen bác cũng tình cờ, bác có nói về nhân vật Ngọc Thứ Lang từng do bác đỡ đầu về sau vì nghiện mà chết. Bác Hải có nói qua, cái cao siêu của Ngọc Thứ Lang là dịch cái tên God father thành “Bố già” – cái tên vô tiền khoáng hậu. Và có sống trong giới giang hồ thì mới đủ lượng ngôn từ để chuyển ngữ trọn vẹn và sinh động đến như vậy.

Chúng ta đọc “Bố Già” của Ngọc Thứ Lang chứ đâu có đọc ” Godfather của” Mario Puzo vậy mà cái tên Ngọc Thứ Lang dường như đã chìm quá sâu. Rất nhiều người biết đến Bố Già và Mario Puzo nhưng ko nhiều người biết Ngọc Thứ Lang, ngay cả bản thân em. Sau cái hôm ngồi với bác Hải mới giật mình, trc đây mấy phút mới lục lại xem “Bố Già” mình đã xem là của ai, phải của Ngọc Thứ Lang ko? Nếu ko, phải tìm đọc lại.

Tư liệu bạn cung cấp về Ngọc Thứ Lang rất thú vị và quý giá, dường như trên internet ko có nhiều tư liệu về nhân vật này.

Lần nữa cảm ơn bạn về bài viết thú vị này. Nhân nay cũng xin thắp một nén nhang lòng cho Thứ Lang tiên sinh- một người tài hoa nhưng bạc mệnh.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 04:00 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Vì sao Thượng Đế lại không ‘ban thưởng’ cho người tốt?

Đừng than phiền rằng tại sao Thượng Đế lại không yêu thương người tốt và trừng phạt kẻ xấu! Hãy xem hết câu chuyện này, bạn sẽ hiểu ra đây mới là là dụng ý thật của Thượng đế…
Người tốt luôn làm không công?

Năm 1963, một cô bé tên Mary Benny đã viết thư đến cho diễn đàn báo Chicago, thắc mắc tại sao mình giúp mẹ mang bánh đã nướng xong lên bàn ăn, mà lại chỉ được một câu khích lệ của mẹ: “Con gái ngoan”, còn em trai David không chịu làm cái gì, chỉ biết gây sự nhưng lại được nhận một cái bánh ngọt.

Cô bé muốn hỏi ông Syracuse Custer, người phụ trách chuyên mục dành cho nhi đồng của tờ báo Chicagotribune, cũng là người mà cô cho rằng không gì là không biết, là: “Tại sao luôn có những đứa trẻ bị Thượng Đế lãng quên giống như cô vậy?“

Trong suốt hơn 10 năm qua, ông Syracuse Custer cũng đã nhận được cả ngàn bức thư của bọn trẻ liên quan đến: “Tại sao Thượng Đế không khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu?”.

Mỗi khi mở ra xem những lá thư như vậy, lòng ông lại nặng trĩu, bởi vì ông không biết nên trả lời những thắc mắc ngây thơ đó như thế nào đây…

Trong một buổi lễ thành hôn ông đã tìm ra câu trả lời

Trong lúc ông còn đang bối rối không biết phải trả lời lá thư của Mary như thế nào, thì một người bạn mời ông đến tham dự hôn lễ.

Có lẽ ông sẽ không bao giờ quên được buổi thành hôn ngày hôm ấy là cái ngày mà ông đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi bị bỏ ngỏ hơn 10 năm nay. Hơn thế, câu trả lời này đã giúp ông trở thành người nổi tiếng chỉ sau 1 đêm.

Ngày hôm đó, 1 câu nói của mục sư đã giúp ông hiểu ra đạo lý của câu: “Không ban thưởng cho người tốt”!

Ông nhớ lại buổi hôn lễ ngày hôm đó

Sau khi Mục sư chủ trì hết nghi thức hôn lễ, cô dâu và chú rể trao nhẫn cho nhau, có lẽ lúc này hai người đang chìm ngập trong hạnh phúc, dường như hai người quá vui mừng. Nên khi họ trao nhẫn, thi vô tình mắc phải một sai sót nhỏ, họ đã đeo nhầm nhẫn vào tay phải của đối phương.

Vị Mục sư chứng kiến cảnh này, nhẹ nhàng nhắc nhở một cách hóm hỉnh: “Tay phải đã hoàn mỹ rồi, ta nghĩ hai con tốt nhất là nên đeo chiếc nhẫn kia ở bàn tay trái”.

Ngay khi vị mục sư hài hước nói, mọi khúc mắc của ông Syracuse Custer đều được giải khai sáng tỏ.

Tay phải là tay phải, bản thân điều đó đã vô cùng hoàn mỹ, tức là không cần phải đeo trang sức lên tay phải nữa.

Cũng như những người có mỹ đức, sở dĩ không được quan tâm, chẳng phải là vì họ đã hoàn mỹ rồi sao?

Thượng Đế để người lương thiện gọi là một người tốt, thì đối với người lương thiện đây chính là khen thưởng cao nhất rồi.

Sau đó ông đưa ra kết luận: “Thượng Đế để cho cánh tay phải là cánh tay phải, đối với cánh tay phải đó là khen thưởng cao nhất rồi. Cũng giống như vậy, Thượng Đế để cho người lương thiện là một người tốt, thì ra đối với người lương thiện đó chính là phần thưởng cao nhất”.

Sau khi phát hiện chân lý này, ông cảm thấy vô cùng phấn khích. Ông lập tức trở về nhà viết thư lại cho Mary: “Thượng Đế ban cho con là một đứa trẻ ngoan, đó chính là khen thưởng cao nhất cho con đấy!”.

Sau khi bức thư này được đăng tải một thời gian không lâu, đã được hơn 1.000 tờ báo ở Mỹ và Châu Âu đăng lại, hơn nữa, ngày quốc tế thiếu nhi hàng năm họ đều đăng lại bài báo này.

“Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”

Cách đây không lâu, một người không biết rõ là sống ở đâu, đã đọc bức thư này, sau đó đã viết trên Website như sau: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, không phải không báo mà là chưa báo”.

Tôi đã từng cảm thấy rất khó hiểu, vì sao có nhiều người làm việc ác mà vẫn không bị báo ứng, nhưng bây giờ tôi đã hiểu.

Bởi vì để cho người ác trở thành ‘người ác’, đó đã là 1 trừng phạt của Thượng đế đối với họ.

Người thiện dù phúc chưa đến, nhưng họa đã bắt đầu rời xa.

Người ác, họa dù chưa đến, nhưng phúc đã dần không còn.

Tất cả chì là vấn đề “thời gian”, thời gian mà thiện báo đến với người tốt và ác báo đến với người ác. Đó cũng chính là cái mà người ta gọi là “may mắn” với mọi người, và “vận rủi” với nhiều người khác. Thế giới luôn công bằng, vũ trụ luôn công bằng, không có điều gì là “bất công” trong trật tự tự nhiên này cả, chỉ là do con người có hiểu được cái nguyên lý này hay không mà thôi!

Sau khi xem hết rồi, bạn có còn thắc mắc vì sao Thượng Đế không quan tâm đến người tốt? Hãy nhớ chúng ta có thể là người tốt, đó là phúc báo lớn nhất mà Thượng Đế ban tặng cho chúng ta!St.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 04:02 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Người có lòng nhẫn lớn mới làm được việc lớn.

Khổng Tử nổi tiếng cao minh, sáng suốt nhưng khi học trò đến hỏi “Ba nhân tám bằng bao nhiêu?” thì ông lại điềm nhiên trả lời: “Bằng 23”. Chuyện đó thực khiến nhiều người phải nghi hoặc…

Nhan Uyên là người ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là học trò cưng của Khổng Tử. Một ngày nọ, trên đường đi làm, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.

Ông bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải. Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”.

Nhan Uyên bèn đến trước mặt người mua, nói: “Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.

Người mua không phục, chỉ thẳng vào mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”

“Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy tính sao đây”, Nhan Uyên hỏi. Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”. Nhan Uyên trả lời: “Nếu sai, tôi sẽ từ quan”.

Hai người đánh cuộc với nhau như thế và cùng đến gặp Khổng Tử.

Khi phân giải, Khổng Tử lại thủng thẳng đáp: “Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”.

Nhan Uyên trước giờ chưa từng cãi lời sư phụ, thế là đành tháo mũ xuống giao cho người kia.

Nhưng trong lòng ông vẫn còn vướng mắc, không thể hiểu vì sao thầy của mình sáng suốt là thế mà nay lại hành động thật kỳ lạ, hồ đồ. Trằn trọc, băn khoăn mãi, Nhan Uyên xin tạm nghỉ học đạo với thầy Khổng, xin về nhà ít hôm giải quyết việc riêng, cốt là để giải phiền.

Khổng Tử hiểu rõ tâm tư Nhan Uyên nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý. Trước khi từ biệt, ông đã dặn Nhan Uyên hai câu: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.

Nhan Uyên từ tạ thầy ra đi. Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to. Nhan Uyên bèn tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.

Nhưng ông đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã dặn: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”. Nhan Uyên nghĩ mình cũng nên tránh xa cái cây này, vừa rời đi một tia sét xé toạc bầu trời, đã đánh tan cây cổ thụ nọ.

Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?“. Về tới nhà thì trời đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.

Đến bên giường, Nhan Uyên bất chợt nhìn thấy có hai người đang nằm trên giường đắp chăn chung. Vô cùng tức giận, nhất thời không giữ được kiểm soát, bèn giơ kiếm định chém. Nhưng lại nghĩ đến câu nói thứ hai của thầy: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, Nhan Uyên bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là em gái của anh.

Mấy hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói: “Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và em của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”.

Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”. Con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”

Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như Thần, đệ tử mười phần kính nể!”. Khổng Tử lại nói: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra là trong lòng vẫn vướng mắc chuyện đánh cuộc thua phải từ quan.

Con nghĩ xem, nếu ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua bất quá là thua cái mũ quan kia. Còn nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 là đúng, người kia ắt thua, sẽ phải mất đầu. Đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”.

Nhan Uyên chợt tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”.

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên đều theo hầu không rời nửa bước.

***

Người xưa nói: “Lùi một bước biển rộng trời trong” thực chẳng sai. Kẻ thất phu khi phải chịu nhận sự thua thiệt thường bất mãn, oán giận, tuốt kiếm tranh đấu, giành lấy mối lợi. Nhưng bạn hãy nghĩ thử xem, có phải là đôi khi những điều mất đi còn đáng quý hơn những thứ nhận được?

Đó là khi bạn biết nhẫn nhịn, bao dung người khác, biết lùi một bước nhường họ đi qua, biết chịu thiệt một chút để mọi sự yên ổn, đôi bên cùng giữ hòa khí.

Nếu Nhan Uyên cứ quyết phải thắng lần này, chắc chắn người thua cuộc kia phải trả giá, nặng thì bằng chính tính mạng (người xưa rất giữ lời hứa), nhẹ thì cũng phải chịu một phen bị sỉ nhục, mất hết phẩm giá.

Khổng Tử đã xử lý thật thông minh làm sao! Nhan Uyên thua cuộc, cùng lắm là từ bỏ một cái mũ quan. Người học Đạo chân chính, công danh vốn là chuyện không mấy đặt nặng. Vả lại, nếu Nhan Uyên là vị quan tốt thì triều đình có để ông từ nhiệm một cách… lãng xẹt như vậy không?

Như thế, Khổng Tử đã vừa giữ được thể diện, tính mạng cho người khách lạ kia, lại vừa rèn cho Nhan Uyên tính nhẫn nại, nhường nhịn, không tranh với đời. Chính là một mũi tên mà trúng hai đích vậy!

Bạn thử nghĩ xem, tranh đấu nhau để xem ai cuối cùng thua, ai thắng có được lợi gì cơ chứ? Tranh hơn thua với khách hàng, có thắng cũng chỉ làm mất khách. Tranh hơn thua với ông chủ, có thắng cũng làm mất lòng sếp. Tranh hơn thua với người già, có thắng cũng thành vô lễ. Tranh hơn thua với bạn bè, có thắng cũng mất bạn.

Khi phải đứng trước những lựa chọn quan trọng, hãy duy trì một đầu óc tỉnh táo và một tấm lòng Đại Nhẫn. Người có lòng nhẫn lớn mới làm được việc lớn. Gặp việc chưa xét đoán đã vội nóng giận thì chỉ tổ hỏng việc, mất đi lòng người, lại càng thể hiện ra bạn là người không có hàm dưỡng.

Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát. Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở mới để lại tiếng thơm cho đời. Hiểu được điều đó, dù phải chịu khổ đau nhường nào, bạn cũng sẽ luôn biết nói lời cảm ơn cuộc đời này và nhận ra đó mới là hạnh phúc lớn nhất.st.
lanneyusa
Super Member
Join Date: Jul 2005
Số Điểm: 26124
Old 03-15-2019 , 04:05 PM     lanneyusa est actuellement connect  search   Quote  
Hôm nọ em posted bài này trên FB, cho em share vào đây với chị. 😇

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI
Phan Xuân Sinh

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.
Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

" Anh yêu quý,
Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
Vợ anh
Lê Thị Hồng"

Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v... anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.

"Hồng em,
Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
Chồng em
Nguyễn Hữu"

Anh nhắc lại hai lần chữ "lầm lẫn", để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: "Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?"

Anh lắc đầu: "Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. "

"Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng."

Người cán bộ nói tiếp: " Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa."

Anh ấp úng: "Vâng, thưa cán bộ."

Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: " Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình."

Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.
Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ "lầm lẫn" kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.

Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.
Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.

Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: "Xin lỗi...xin lỗi chị".

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.
Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện...

Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?... Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

Phan Xuân Sinh
__________________
Ta sẽ sống để chờ ngày trở lại
Hôn một lần lên đất mẹ thương đau.
DocHanh08
Gold Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 2073
Old 03-15-2019 , 06:03 PM     DocHanh08 est dconnect  search   Quote  
Thanks di TN & LN :

hieu lam trong hy vong va mong doi
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-15-2019 , 07:14 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Cám ơn Lanney đã cho 1 bài có ý nghĩa vào đây. Đọc thấy thương và khâm phục tình người lúc khó khăn, gian khổ. Mai mốt có bài nào hay để vào đây cho thêm phần phong phú nha.
Cám ơn ĐocHanh nhiều. Văn của sis rất là dể thương, truyền cảm. Rất là thích đọc những bài viết của em.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-16-2019 , 10:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Không phải đói rét và nghèo khổ, đây mới là điều đáng sợ nhất trên đời.

Con người thường cho rằng đói, rét, nghèo khổ là những thứ đáng sợ trên đời, thực ra đều không phải. Điều thực sự đáng sợ nằm ở nơi mà chúng ta không bao giờ nghĩ tới nhất: trong chính chúng ta.
Nhu cầu về của cải luôn là gánh nặng cho đạo đức của loài người. Vì của cải mà một người có thể đổi trắng thành đen. Đôi khi, của cải thậm chí có thể biến bạn hữu thành kẻ thù, khiến con người phản bội lại những người thân yêu, đi ngược lại các chuẩn mực xã hội.

Một lần, có người hỏi một vị thiền sư: “Điều khủng khiếp nhất trên đời là gì?”

Vị thiền sư trả lời: “Dục vọng!”

Câu trả lời này khiến người kia bối rối. Thấy vậy, vị thiền sư tiếp tục: “Để tôi kể cho anh nghe một câu chuyện”.

Vàng là thứ đáng sợ

Có một nhà sư hoảng hốt, sợ hãi chạy ra khỏi rừng. Khi vừa ra đến bìa rừng, anh ta gặp hai người đàn ông đang đi tới. Họ hỏi anh có chuyện gì không ổn không.

Nhà sư giải thích: “Tôi đào được một thứ khủng khiếp trong rừng – chính là vàng!”

Hai người đàn ông nói: “Sao vàng lại là thứ khủng khiếp? Ông thật ngốc nghếch khi nghĩ như vậy. Hãy cho chúng tôi biết nơi ông đào được vàng”.

Nhà sư bèn nói: “Ôi thứ đó thật là khủng khiếp. Không những thế nó còn phá hủy con người”.

Hai người kia nhún vai đáp lại: “Chúng tôi không sợ. Chỉ cần cho chúng tôi biết nơi ông tìm thấy nó”.

Nhà sư chỉ dẫn: “Ở trong rừng đó, ngay phía tây của khu rừng”. Hai người đàn ông đi theo hướng của nhà sư và tìm thấy vàng.

Một người nói: “Nhà sư này đúng là một kẻ ngốc. Mọi người đều mong muốn có vàng trong khi nhà sư lại nghĩ nó có hại”, và người kia lập tức tán thành.

Hai người đàn ông bắt đầu lập kế hoạch mang số vàng này về nhà như thế nào. Người đàn ông có nước da đen sạm và vóc dáng cao lớn nói: “Chúng ta nên làm điều đó vào ban đêm, khi không ai có thể nhìn thấy chúng ta. Tại sao anh không về nhà và lấy thức ăn cho chúng ta, trong khi tôi đợi ở đây và bảo vệ vàng! Đến khi trời tối, chúng ta sẽ mang vàng về nhà”.

Người đàn ông kia gật đầu đồng ý và về nhà lấy một ít thức ăn.

Người đàn ông ở lại để bảo vệ vàng nghĩ: “Nếu ta có thể sở hữu tất cả số vàng này, ta sẽ sống mà không phải lo lắng nhiều nữa. Được rồi, ngay khi anh ta quay trở lại, ta sẽ đánh chết anh ta bằng cái gậy gỗ”.

Người đàn ông kia trên đường về nhà lấy thức ăn cũng tự nghĩ: “Ta sẽ tự mình đi ăn, sẽ bỏ thuốc độc vào thức ăn mang cho người kia. Như vậy, khi hắn chết rồi, ta sẽ có tất cả vàng cho bản thân mình”.

Tối hôm đó, khi người đàn ông trở về với thức ăn mang cho người bạn của mình, anh ta đã bị đánh đến chết. Kẻ giết người nói: “Bạn thân mến, đừng trách tôi, hãy trách số vàng này trước khi trách tôi”.

Rồi anh ta ăn thức ăn mà bạn mình mang cho. Chỉ một lúc sau anh bắt đầu cảm thấy khó chịu, bụng nóng như lửa đốt. Ngay lúc đó, khi nhận ra mình đã bị đầu độc, người đàn ông ngậm ngùi hiểu rằng “Những lời của nhà sư thật không sai chút nào”.

***

Câu chuyện trên thực sự đúng với một câu ngạn ngữ: “Nhân vi tài tử, điểu vi thực vong” (Con người chết vì tiền, con chim chết vì mồi).

Dường như gốc rễ của tham lam nằm trong những ham muốn của con người. Lòng tham lam được mong muốn thúc đẩy có thể biến người bạn kề vai sát cánh thành kẻ thù không đội trời chung, biến người thân thành kẻ xa lạ và biến ân nghĩa trở thành bội bạc. .

Ngày nay, thuận theo sự phát triển của sản xuất và dịch vụ, hàng trăm tiện ích như nhà lầu, xe hơi, quần áo, đồ dùng, thiết bị hiện đại, cùng hàng vạn nhu cầu giải trí như du lịch, nghỉ dưỡng thật dễ khiến người ta có cảm giác “chưa đủ”, khiến con người khởi lên ham muốn “muốn có” nhiều hơn những gì đang có. Điều đó cũng có nghĩa bản thân chúng ta đang chứa trong mình thứ “khủng khiếp nhất trên đời”, đó chính là: Dục vọng.

Dục vọng của con người giống như một cái hào rộng lớn, vĩnh viễn không cách nào vượt qua, bởi vì người tham lam sẽ không có chừng mực, không có bến bờ để dừng lại, vĩnh viễn không bao giờ thấy thỏa mãn. Con người một khi rơi vào cái hào “theo đuổi ham muốn hưởng thụ vật chất” cũng rất dễ dàng đánh mất phương hướng và cuối cùng đánh mất bản thân.

Người xưa vẫn cho rằng tiền như gông xiềng, truy danh trục lợi cuối cùng cũng chỉ là công dã tràng. Chỉ có tẩy tịnh đi đủ loại dục vọng trong lòng, buông bỏ lòng tham, quay về bản tính chân thật, thiện lương mới có thể nhận ra rằng mọi thứ vinh hoa phú quý trên thế gian này đều chỉ như mây khói thoảng qua, suy cho cùng chúng đều là những thứ vô thường.

Có câu hát rằng:

“Công danh lợi lộc nào giữ mãi
Thế đạo hưng suy định bởi trời”.

Đời người như con thuyền, muốn qua sông, thuyền nhất định phải nhẹ, phải buông bỏ những dục vọng dư thừa. Hãy tìm lại cho mình sự bình yên thực sự trong tâm hồn và hạnh phúc vững bền, hãy để con thuyền cuộc đời của chúng ta thật nhẹ, giương buồm băng băng lướt ra khơi.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-16-2019 , 10:14 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Vì sao nói: Khổ nạn trong đời chính là món quà lớn nhất ông trời ban cho ta?

Người xưa nói: “Thất bại là mẹ thành công”. Thất bại tự nó không đáng sợ, điều đáng sợ nhất chính là người ta run rẩy, mất hết nhuệ khí trước những đau khổ, thất bại trong đời mình.
Có một chàng trai trẻ không may mất đi cả đôi chân của mình trong một tai nạn giao thông. Nỗi đau quá lớn, tính tình của anh kể từ đó cũng đổi khác, cáu bẳn nhiều hơn, từ chối trị liệu phục hồi, lại nhốt mình trong nhà, thường quát nạt mẹ cha và vùi đầu trong khổ não triền miên.

Một hôm, anh nổi cơn tam bành, hai tay hất đổ cả mâm cơm trưa mà mẹ anh vất vả chuẩn bị xuống sàn nhà. Nhưng mẹ anh vẫn nhẫn nại, không một lời oán trách, bà chỉ thở dài lặng lẽ thu dọn thức ăn.

Hôm sau, mẹ anh đến bên giường, chỉ về phía cánh cửa sổ ở khu nhà trọ đối diện và nói: “Con có nhìn thấy cánh cửa sổ kia không? Có một cô gái sống ở đó. Cô ấy cũng bị tai nạn mất đi hai chân giống như con vậy. Nhưng cô ấy vẫn rất lạc quan, lại có tài, mỗi ngày đều ở nhà chuyên tâm vẽ tranh đến tận đêm khuya. Không phải con cũng rất thích vẽ tranh đó sao? Có lẽ con nên thử làm theo cô ấy“.

Chàng trai trẻ nghe xong, trên mặt lộ vẻ tức giận và phản bác. Nhưng cũng từ hôm ấy, anh bắt đầu chú ý đến cửa sổ khu xóm trọ đó. Quả nhiên giống như những gì mẹ anh đã nói. Căn phòng đó tối nào cũng rực rỡ ánh đèn mãi đến tận đêm khuya mới tắt. Hẳn là cô gái đó đang miệt mài vẽ tranh.

Chàng trai cụt chân cảm thấy vô cùng hiếu kỳ. Cô ta trông ra sao, tính cách như thế nào, ngoài vẽ tranh ra còn sở thích nào khác nữa không? Biết bao câu hỏi cứ triền miên hiện lên trong đầu anh.

Rồi một hôm, anh cũng mang ra bộ đồ vẽ vốn đã xếp xó từ lâu và bắt đầu đưa những nét cọ đầu tiên. Trái tim vốn phong bế, cằn cỗi của anh cũng dần cởi mở hơn. Anh chấp nhận đến bệnh viện tập phục hồi vận động định kỳ, cũng không còn quát mắng người nhà nữa. Những nụ cười đã xuất hiện nhiều hơn trên gương mặt rạng rỡ của anh.

Trong khoảng thời gian dưỡng bệnh, anh đã vẽ ra rất nhiều tác phẩm. Một hôm, sau khi đắn đo suy nghĩ thật lâu, anh dốc hết dũng khí, mang theo bức tranh của mình sang nhà đối diện tìm cô gái. Nhưng anh đã bấm chuông một hồi lâu mà không có người ra mở cửa. Cuối cùng, một ông lão ở khu nhà trọ bên cạnh bước ra, hỏi: “Xin hỏi, cậu có chuyện gì chăng?“.

Chàng trai trẻ đáp: “Dạ, cháu muốn tìm cô gái sống ở khu nhà này ạ!“.

“Nhà trọ này trước nay đều để không, vốn không có người ở!“, ông lão nói. “Nhưng cách đây ít lâu một phụ nữ trung niên đã trả cho lão một khoản tiền, yêu cầu lão đây cứ chập tối mỗi ngày thắp đèn lên, đợi đến tận đêm khuya mới tắt đi. Người phụ nữ đó nói rằng bà ấy sống ở nhà đối diện bên kia“.

Chàng trai trẻ đứng lặng ở đó hồi lâu. Thì ra, chuyện về cô gái cụt chân vẽ tranh ấy vốn là mẹ anh cố tình bịa ra để mở ra cho anh một tia hy vọng. Anh không nói cho mẹ biết là mình đã biết hết sự thật mà từ đó càng hiếu thuận với mẹ hơn. Anh cũng cố gắng vẽ nhiều tranh hơn, về sau đã trở thành một họa sĩ xuất sắc.

***

Trong cuộc sống này, bạn có thể nghe được rất nhiều câu chuyện tương tự như thế. Có một nghệ nhân chế tác pha lê kỹ thuật cao siêu, tác phẩm của ông nhiều lần được trưng bày ở nước ngoài, nhận nhiều giải thưởng lớn.

Người nghệ nhân này cũng mất đi đôi chân. Ông kể lúc trẻ mình là một kẻ lưu manh, rượu chè, cờ bạc, ma túy, đầy thói hư tật xấu. Mẹ ông đã khóc không còn nước mắt.

Trong một lần đua xe, ông gặp tai nạn, mất đi đôi chân. Cuộc đời cứ ngỡ không còn gì đau khổ hơn. Ngay cả đi vệ sinh, ông cũng phải nhờ người nâng đỡ. Nhưng trong họa có phúc, vì hỏng chân, ông cũng đoạn tuyệt luôn được với lũ bạn lưu manh, hư hỏng nọ.

Về sau, ông bắt đầu học kỹ nghệ chế tác thủy tinh, vừa để kiếm kế sinh nhai, vừa là giải khuây. Chẳng ngờ rằng cuộc đời ông đã thay đổi từ đây. Ông thường nói: “Nếu như không mất đi đôi chân, tôi nghĩ cuộc đời mình từ sớm đã bị hủy mất rồi. Trước đây tôi luôn nguyền rủa ông trời đã để mình mất đi đôi chân. Còn bây giờ tôi lại rất cảm ơn ông vì điều này”.

***

Có lẽ ít người có được một cuộc sống yên bình, vô sự, không sóng gió trong suốt trăm năm sinh mệnh của mình. Cuộc đời thường có những bước ngoặt bất ngờ không báo trước. Có những đêm giông bão vẫn ập đến vô chừng. Bạn sẽ ứng xử ra sao trước những khổ đau, trắc trở ấy?

Có nhiều người bị giông tố cuốn lấp đi, không còn kiểm soát được vận mệnh, thậm chí sinh mệnh của mình nữa. Họ thuận theo dòng chảy lớn của cõi đời này và không thể nào gượng dậy nổi. Họ sống một cuộc đời đầy rẫy oán trách, khổ đau, tủi hận về sau, đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng là ngậm hờn nơi chín suối.

Nhưng bạn biết chăng, ông trời vốn rất công bằng. Trời lấy đi của bạn thứ này và sẽ bù cho bạn một điều khác. Chàng trai trẻ và người nghệ nhân trong câu chuyện ở trên có thể mất đi đôi chân nhưng lại được trời phú cho đôi bàn tay tài hoa, vẽ ra được bức tranh đẹp, làm nên thứ đồ pha lê tuyệt mĩ. Dù thiếu đi đôi chân nhưng cuộc sống của họ không vì thế mà hóa thành tuyệt vọng. Họ có nghề nghiệp, có đam mê, và quan trọng nhất là có niềm vui sống.

Cuộc đời đúng là có nhiều bước ngoặt không ngờ nhưng đến tận giây phút sau cùng bạn sẽ phát hiện ra rằng tất cả những khổ đau, trắc trở, buồn phiền mà ông trời mang đến cho mình lại chính là món quà quý giá nhất.

Phật gia giảng rằng con người chịu khổ càng nhiều chính là càng hoàn trả nợ nghiệp trong các kiếp luân hồi trước của mình nhanh hơn. Trả nợ nhanh hơn, người ta sẽ có thể siêu thoát sớm hơn. Với người tu hành, tu luyện, trả nợ nghiệp mau thì càng sớm viên mãn, đắc Đạo, trở về thế giới thiên quốc của các đức Phật.

Chính là:

Khổ nhục trong đời tựa khói sương
Tâm phiền đoạn dứt hết vấn vương
Thân tâm nhẹ nhõm quên sầu não
Đắc phúc đời đời thoát tục thường.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-16-2019 , 10:17 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Đừng vì chút lợi nhỏ mà đi đường tắt, bởi chỉ có con đường ngay chính mới dẫn đến bình an.

Những người trong làng đều đi con đường tắt để đến chợ chiếm được chỗ ngồi tốt hơn, bán được nhiều hàng hơn nhưng cha tôi vẫn một mực lựa chọn con đường chính, ngoằn ngoèo và khúc khuỷu ấy. Việc lựa chọn này của cha khiến lòng tôi không thể hiểu được, thậm chí sinh tâm oán hận, mãi cho đến một ngày tôi bật khóc vì đã tìm được câu trả lời…

Gia đình tôi sống trong một ngôi làng nằm sâu trong một ngọn núi cao. Để đi ra bên ngoài, chúng tôi phải đi qua một con đường núi uốn lượn và gập ghềnh. Người dân trong làng tôi, nhà nhà đều dựa vào hái măng đem bán để trang trải sống. Cứ đến ngày chợ phiên, người lớn, trẻ em ở trong làng đều địu măng, băng qua con đường uốn lượn, gập ghềnh đó đến chợ bán.

Đáng lẽ ra, tất cả người dân làng tôi mỗi lần xuống núi đều phải đi qua con đường vừa xa vừa uốn lượn như vậy. Nhưng về sau này, một vài người vì để chiếm được một vị trí tốt, dễ bán hàng ở chợ nên họ liền mở ra một con đường tắt, gần hơn, nhưng độ nguy hiểm thì cao hơn. Biết là nguy hiểm hơn nhưng vẫn có nhiều người nguyện ý chọn đi con đường này.

Cha tôi cũng giống mọi người dân trong làng, cứ mỗi phiên chợ, ông đều địu măng đi bán. Nhưng cha tôi chưa từng đi qua con đường tắt ấy. Mỗi đợt nghỉ hè, tôi lại về quê lên rừng hái măng mà đem ra chợ bán cùng cha. Mồi lần đi trên con đường uốn lượn ấy, trong lòng tôi lại dâng lên nhiều cảm xúc. Về sau, tôi thường xuyên khuyên nhủ cha: “Cha ơi! Chúng ta cũng đi con đường tắt kia đi, chẳng phải sẽ nhanh hơn một chút hay sao?”

Nhưng cha tôi nghe xong vội vàng lắc đầu, kiên quyết đi con đường cũ. Cứ như vậy, mỗi lần đến chợ chúng tôi đều tìm được một chỗ không tốt, những chỗ dễ bán hàng đều bị những người đồng hương đi con đường tắt ngồi mất rồi.

Măng của cha con tôi thường bán hết muộn hơn so với mọi người, vì thế, tôi thường thường sinh tâm oán hận. Cha tôi vẫn vậy, không chút để ý đến nỗi oán hận trong lòng tôi. Và cũng từ đó, câu hỏi “vì sao không đi đường tắt, mà cứ phải đi con đường uốn lượn xa tít như vậy?” đã trở thành chỗ mê không thể hiểu nổi trong lòng tôi…

Nhiều năm sau, tôi sinh sống ở thành phố, cách quê tôi hơn ngàn dặm, vì thế tôi đón cha tôi lên ở cùng. Ngày đi, cha tôi không ngồi trên xe, khăng khăng đòi đi bộ trên con đường uốn lượn ngoằn ngoèo ấy. Tôi đành xuống đi bộ cùng cha, cũng muốn nhân cơ hội này để cởi bỏ khúc mắc ở trong lòng nhiều năm qua.

Tôi hỏi cha: “Cha! Con muốn biết, vì sao cha luôn muốn đi trên con đường này, mà chưa từng đi trên con đường tắt kia?”

Cha nghe xong câu hỏi của tôi, lặng im đứng thật lâu và đưa ánh mắt nhìn về phía trước con đường. Bất chợt nước mắt cha chảy dài trên má, rồi cha nói:

“Con trai! Bởi vì cha nhất định phải bảo trì sự bình an. Cha dựa vào bán măng để nuôi con khôn lớn, hoàn thành việc học, mấy chục năm qua, cha luôn bình an vô sự. Mấy bác mấy chú của con đều đi đường tắt, nhưng con thấy đấy, bác Vương bị ngã gãy tay hai lần, măng không biết rơi mất đi bao nhiêu lần, anh Tư bị nặng nhất, một lần ngã lăn xuống núi và mất… Những người thường đi con đường tắt ấy, nào có ai thực sự được bình an vô sự đâu!”

Những lời nói này của cha khiến tôi lặng đi: “Đúng vậy! Những người đồng hương đi trên con đường tắt ấy, hoặc ít hoặc nhiều đều phát sinh nguy hiểm!”

Cha kéo tôi ngồi xuống bên đường, giọng cha trầm lại nói với tôi:

“Con trai! Con đường này uốn lượn khúc khuỷu nhưng vĩnh viễn là con đường chính xuống núi. Không thể vì một chút lợi ích nhỏ nhoi mà buông bỏ con đường chính của mình. Con đường này là con đường bình an, đi trên con đường này, cả đời sẽ bình an. Con trai, điều này con phải khắc sâu trong lòng, cha hy vọng nó sẽ chỉ cho con một con đường!”

Những lời nói của cha đã khiến tôi bật khóc. Từ con đường gập ghềnh ấy, tôi cũng hiểu được rất nhiều đạo lý của cuộc đời. Đường đời cũng tựa như con đường núi này, phải trải qua rất nhiều gập ghềnh khúc khuỷu, nhưng phương hướng của nó thì không thể nào sai. Mỗi người đều phải thủy chung đi trên con đường ngay chính, bởi chỉ có đi trên con đường ngay chính ấy thì cuộc đời mới thực sự bình an.

Không có con đường tắt nào có thể dẫn ta đến thành công. Chỉ có một thái độ sống tích cực, bền bỉ và chân chính mới đưa ta đến bến đỗ hạnh phúc của cuộc đời. Và sinh mệnh chính là một quá trình tích lũy lâu dài và liên tục như thế, không thể hấp tấp, cũng chẳng thể vội vàng.

Vậy nên, đừng vì chút lợi nhỏ mà vội vàng bước chân trên con đường tắt. Hãy lựa chọn cho mình một con đường ngay chính và kiên trì với nó, bạn nhất định sẽ bình an đi đến đích trong cuộc đời này!st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 2510
Old 03-16-2019 , 10:23 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
10 mẩu truyện suy ngẫm về nhân sinh.

Trong cuộc sống, không phải chuyện gì chúng ta cũng có thể ngay lập tức thông suốt và thấu hiểu. Mười mẩu truyện suy ngẫm về nhân sinh dưới đây có thể cho thấy điều này.

Mẩu chuyện 1: Mark Twain và người phụ nữ kiêu ngạo

Trong một bữa tiệc, Mark Twain – nhà văn hài, tiểu thuyết gia và nhà diễn thuyết nổi tiếng của Mỹ ngồi đối diện với một người phụ nữ. Theo lẽ lịch sự, ông đã nói với người này: “Cô thật là xinh đẹp!”

Người phụ nữ đó lại không hề cảm kích, mà còn cao ngạo nói: “Rất tiếc là tôi không có cách nào để nói lời khen tương tự như thế với ông!”

Mark Twain rất bình thản, nói: “Không sao cả, cô có thể giống như tôi vậy, nói một lời nói dối là được rồi“.

Người phụ nữ nghe xong, xấu hổ quá, phải cúi gầm mặt xuống mà không nói được lời nào.

Mẩu chuyện 2: Con gà trống kiêu ngạo.

Xưa có một con gà trống to lớn thường cất tiếng gáy mỗi ngày và nó rất tự phụ, kiêu ngạo. Một ngày kia, khi gà trống đi nghênh ngang loanh quanh chuồng, nó đã gặp một con vịt. Gà trống nói một cách tự hào: “Này con vịt nhỏ, hãy nói cho ta biết ai có tiếng gáy hay hơn ta? Ngoài ta ra, ngươi có lẽ sẽ không tìm ra ai mà có tiếng gáy hay như vậy”.

Nhìn vào gà trống, vịt nói rằng: “Ngươi ở trong chuồng gà mỗi ngày và không bao giờ ra ngoài để nhìn thế giới. Mấy con ngỗng hoang dã kia ngày mai chúng sẽ đi du ngoạn. Tại sao ngươi không đi với chúng?”. Gà trống trả lời: “Tôi không thể bay. Làm sao bây giờ?”. Vịt nói: “Không sao. Ngươi chỉ cần cưỡi lên lưng chúng”.

Thế rồi, có một con ngỗng hoang đã mang gà trống trên lưng. Chúng cứ bay mãi và cuối cùng đến một hồ nước lớn. Ngỗng bèn đáp xuống hồ và bận rộn tìm kiếm thức ăn. Gà trống không có gì để làm nên nó đã cất tiếng gáy. Khi vừa nghe tiếng gà trống gáy, một con thiên nga trong hồ bắt đầu cất tiếng hát. Đó là lần đầu tiên gà trống nghe giọng hát của thiên nga và đã nghĩ rằng nó đến từ những con chim trên cây.

“Tôi ở đây này”, một con thiên nga kêu vang.

Rồi gà trống nhìn thấy một con thiên nga nhỏ đang cúi mình không xa lắm và đang nhìn gà, gà trống hỏi: “Bạn là ai? Có phải bạn vừa hát đó phải không?”

“Dĩ nhiên chính là tôi. Để tôi và các bạn tôi hát một bài hát cho anh nghe nhé”. Rồi các con thiên nga bắt đầu hát. Chúng hát hay đến độ những con ve sầu cũng trỗi khúc thỏ thẻ phụ họa cho vui.

Khi các con ngỗng ăn xong, chúng tiếp tục cuộc hành trình. Chúng đã bay đi rất xa và đến một khu rừng to lớn. Gà trống đã say sưa với đủ thứ tiếng chim hót trong rừng mà nó chưa từng nghe bao giờ. Âm thanh róc rách êm đềm kia là gì vậy? Gà tò mò tìm đến nơi, đó là tiếng suối reo và thác đổ. Những âm thanh rõ ràng và thanh bạch vang dội từ ngọn thác trong rừng. Thật là tuyệt diệu. Hòa vào đó là âm thanh nhẹ nhàng xào xạc từ những cơn gió đùa giỡn reo vui xuyên qua cây lá của núi rừng.

Gà trống đã bị mê hoặc đến nỗi không muốn rời đi, nhưng các con ngỗng thúc giục nó tiếp tục cuộc hành trình cùng với họ. Khi chúng bay đến bên bờ biển, gà trống thật kinh ngạc bởi âm thanh dạt dào của muôn trùng sóng biển. Rồi nó nhìn thấy những con hải cẩu tự do vui đùa gọi nhau vang lên cả bầu trời. Những con ngỗng hoang đã hát cùng chúng thật vui vẻ. Những âm thanh trong trẻo của chúng bay vút lên trời cao. Gà trống nhận ra rằng lời hát của những con ngỗng thật hay.

Trong suốt cuộc hành trình, gà trống đã được nghe đủ loại âm thanh của thiên nhiên. Khi nó quay trở lại ngôi nhà của mình, nó không bao giờ còn dám tự cao tự đại nữa.

Mẩu chuyện 3: Ổ khóa và chìa khóa.

Có một ổ khóa lớn chắc chắn trên cánh cửa, một thanh sắt dùng hết sức để bẩy kéo ổ khóa ra khỏi đó nhưng không cách nào mở được nó. Lúc đó, chìa khóa liền đến, mặc dù nhìn chìa khóa rất mảnh mai, nhưng nó chỉ cần xoay xoay nhẹ là ổ khóa bật mở tung ra. Thanh sắt thấy rất kỳ lạ bèn hỏi: “Vì sao tôi phí công tốn sức đến thế mà khóa không mở, trong khi anh chỉ xoay xoay nhẹ vài cái là ổ khóa lại mở tung ra?”

Chìa khóa đáp lại: “Bởi vì tôi là người hiểu được trái tim của ổ khóa nhất”.

Mẩu chuyện 4: Con heo!

Một người đàn ông lái xe trên đường núi, đúng lúc đang nhàn nhã thưởng thức phong cảnh mỹ lệ, thì đột nhiên nghe thấy người lái xe tải đi ở phía đối diện mở cửa kính xuống và hô to lên: “Heo!”. Người này càng nghĩ càng tức giận, liền hạ cửa sổ xuống và mắng to: “Anh mới là heo!” Vừa mới mắng người xong, ông ta quay đầu lại thấy mình đang đâm thẳng vào một bầy heo đang chạy qua đường.

Không nên hiểu lầm ý tốt của người khác, nếu không sẽ khiến bạn mất mát. Khi mà chưa rõ điều gì, trước hết hãy học cách kiềm chế cảm xúc, quan sát tình hình, để sau này tránh khỏi hối hận.

Mẩu chuyện 5: Chuột sa hũ gạo

Một con chuột rơi vào trong lu gạo, số gạo trong lu vẫn còn một nửa, sự cố ngoài ý muốn này khiến nó vui mừng không sao tả được.

Sau khi xác định là không có nguy hiểm gì, nó liền bắt đầu cuộc sống ăn rồi lại ngủ, ngủ rồi lại ăn trong cái lu gạo.

Rất mau, lu gạo sắp cạn kiệt, nhưng nó rốt cuộc vẫn không thoát khỏi sự cám dỗ của những hạt gạo, nên tiếp tục ở lại trong lu. Cuối cùng, gạo đã ăn hết, chuột ta mới phát hiện rằng mình không thể nhảy ra ngoài được nữa, lực bất tòng tâm.

Mẩu chuyện 6: Nhân duyên vợ chồng.

Năm đó, anh đang ngồi đợi bạn trong quán cà phê. Một người con gái bước đến hỏi: “Anh có phải là người mà dì Vương giới thiệu đến để xem mắt hay không?”.

Anh ngẩng đầu lên nhìn cô một cái, bất chợt phát hiện đây chính là mẫu người mình thích, lòng nghĩ thầm sao không “lỡ nhầm rồi đã nhầm cho trót luôn”, thế là vội vàng đáp: “Đúng vậy, mời ngồi”.

Ngày kết hôn, anh liền đem sự thật này nói với vợ, người vợ cười cười một cái, nói: “Em cũng không phải là đến xem mắt, chỉ là mượn cớ để bắt chuyện với anh thôi…”

Mẩu chuyện 7: Ngọn nến của gia đình nghèo.

Một cô gái độc thân vừa mới chuyển nhà, cô phát hiện ra nhà bên cạnh là một gia đình nghèo gồm một người mẹ góa và 2 đứa con. Vào một tối nọ, khu nhà đột nhiên mất điện, cô đành thắp nến lên để chiếu sáng. Một lúc sau, bỗng cô nghe thấy có người gõ cửa.

Thì ra là đứa trẻ nhà bên, cậu bé hỏi cô với một giọng khẩn trương: “Cô ơi, cho cháu hỏi nhà cô có nến không ạ?”. Cô nghĩ thầm: “Nhà họ nghèo đến mức cả nến cũng không có cơ à? Nhất định không cho họ mượn để tránh bị họ dựa dẫm”.

Thế là cô nói lớn tiếng với cậu bé: “Không có!”. Ngay khi cô chuẩn bị đóng cửa thì đứa bé nghèo ấy tươi cười đầy quan tâm và nói: “Cháu biết ngay là nhà cô không có mà!”

Nói xong, cậu bé lấy 2 cây nến ra và nói: “Mẹ và cháu sợ cô sống một mình không có nến nên cháu mang 2 cây tặng cho cô ạ”. Lúc này cô gái cảm thấy rất xấu hổ và tự trách mình sao quá ích kỷ cũng như cảm động đến rơi nước mắt, ôm chặt cậu bé vào lòng.

Mẩu chuyện 8: Hoa khôi của lớp

Trong lớp bỏ phiếu bầu ra hoa khôi của lớp, bạn Mai dù có gương mặt rất bình thường nhưng cũng đăng ký. Mọi người tranh luận sôi nổi, cười bạn này ảo tưởng.

Đến ngày bầu chọn, bạn Mai lên phát biểu, nói: “Nếu mình mà trúng cử, vài năm sau, các bạn nữ có thể tự hào nói với chồng mình rằng, thời đại học em đẹp hơn cả hoa khôi của lớp! Các bạn nam thì có thể nói với vợ mình rằng, em đẹp hơn cả hoa khôi lớp anh.”

Kết quả là bạn Mai đã chiến thắng.

Để thuyết phục người khác ủng hộ, bạn không nhất định phải chứng minh mình ưu tú hơn người khác, mà phải khiến họ cảm thấy bởi vì có bạn nên họ mới trở nên ưu tú hơn, có cảm giác thành tựu hơn.

Mẩu chuyện 9: Càng nắm giữ, càng mệt mỏi – Buông bỏ lòng nhẹ nhõm.

Một ông cụ nói với con trai của ông rằng: “Con hãy nắm chặt tay lại và nói cho cha biết cảm giác của con là gì?”. Người con nắm chặt tay rồi nói: “Con cảm thấy hơi mệt ạ!”. Ông cụ tiếp tục: “Con hãy thử nắm mạnh hơn nữa!”. Người con trả lời: “Con thấy mệt hơn ạ! Có hơi tức thở ạ!”

Ông cụ lại nói: “Vậy con hãy buông ra đi!”. Người con thở dài một hơi: “Con thấy thoải mái hơn nhiều rồi ạ!”. Ông cụ: “Khi con cảm thấy mệt mỏi, con càng nắm chặt thì sẽ càng mệt, thả lỏng nó ra thì sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều!”

Mẩu chuyện 10: Đại Đạo là chí giản chí dị!

Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì?”

Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.

Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?”

Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.

Hành giả lại hỏi:" Vậy có gì khác nhau"

Lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”.st.
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 10:18 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.