VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-06-2019 , 12:24 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
TRỜI ĐÃ XẾ BÓNG, ĐƯỜNG VỀ CÒN XA .

(Trích trong Nhật Mộ Đồ-Viễn).Tác giả: Pháp Sư Thích Tự Liễu.Chuyễn ngữ :Cư sỉ Diệu Hà.Tinh Tong hoc hoi hieu dinh)

Ngày xưa không có xe, ra đường đều nhờ đi bộ; muốn đến một nơi nào, phải đi cả ngày trời, mắt nhìn mặt trời xuống núi, hoàng hôn đã ló dạng, thế mà cách nơi muốn đến vẫn còn xa vời vợi, trong lòng cảm thấy bồn chồn nôn nóng. Ấn Quang Đại Sư thường lấy câu thành ngữ này để tỷ dụ cho người già, thời gian sống không còn nhiều nữa mà việc vãng sanh vẫn còn không nắm chặc. Ngài có một bài chuyên đề khai thị cho người già là "Pháp ngữ dành cho nữ cư sĩ Chu Dư Chí Liên"
. Mặc dù pháp ngữ khai thị này ngoài mặt là dành cho lão cư sĩ Chu, nhưng thực tế nó đều thích hợp cho mỗi người chúng ta, bao gồm cả người già lẫn người trẻ, bởi vì: "Trên đường xuong hoang tuyen (suoi vang) không phân chia lão ấu. Ngoài mộ lắm kẻ vẫn còn thơ". Vô thường muốn đến là đến ngay, không người trẻ tuổi nào có thể bảo đảm mình nhất định có thể sống đến già. Mỗi người chúng ta đều là: thời gian không còn nhiều nữa, thế nhưng việc lớn của sanh tử vẫn chưa giải quyết xong.
Sau đây, chúng ta hãy nghe nguyên văn khai thị của Ấn Tổ: “Bà đã hơn bảy mươi tuổi rồi, không bao lâu sẽ phải chết. Ngay bây giờ phải sắp xếp xong tất cả mọi việc. Trong tâm, ngoài việc niệm Phật, không nên vương vấn lo âu điều gì nữa
. Được như vậy, khi lâm chung mới không bị chướng ngại. Nếu hiện nay vẫn còn nhiều việc lo toan, việc gì cũng không chịu buông, ôm chấp một cách nặng nề; đến lúc lâm chung, tâm tham luyến áo quần, nữ trang, nhà cửa, con cháu tất cả đều hiện ra, làm sao mà có thể vãng sanh Tây Phương được! Chẳng những không thể vãng sanh Tây Phương, một đời thủ tiết niệm Phật, làm mọi thứ phước thiện hoàn toàn trở thành phước báo.
Bà hiện nay chưa có trí huệ, tuy thường tinh tấn niệm Phật, nếu trong tâm không quyết định cầu sanh Tây Phương, qua đời sau được hưởng phước, nhất định sẽ bị phước làm mê mờ rồi tạo đủ thứ ác nghiệp. Một khi tạo ác nghiệp, chắc chắn phải đọa xuống địa ngục, hoặc làm ngạ quỷ, hoặc làm súc sanh để chịu khổ.
Nỗi khổ to lớn như vậy đều do đời này niệm Phật, [nhưng] không biết cầu sanh Tây Phương mà cảm chiêu lấy. Quang tôi(Tổ sư Ấn-Quang) thấy tội nghiệp bà, e bà sau này bị lâm vào những cảnh trên nên bày ra phương pháp cứu giải. Nếu bà chịu làm theo lời nói của tôi, sẽ không bởi vì phước mà lại đắc họa.
Hiện nay tuy vẫn còn khỏe mạnh, cũng phải nghĩ mình sắp chết rồi. Những áo quần cần thiết thì để lại mặc; còn những y phục đắt giá như gấm lụa, hoặc bằng da, v.v… nên chia đều cho dâu, cho cháu. Riêng đồ trang sức như vòng, xuyến, bông tai, vàng bạc, ngọc bích, v.v… nên đem hết ra cứu giúp người hoạn nạn, xong đem công đức hồi hướng vãng sanh. Nếu tâm thức còn hạn hẹp, còn luyến tiếc, không nỡ đem ra cứu tế thiên tai, cũng nên đem những thứ đó chia đều cho con gái, cháu dâu, cháu gái, v.v... Trong người quyết định không lưu giữ những đồ vật khiến mình khởi tâm tham luyến. Tất cả tiền để dành, ruộng đất cũng nên giao cho con cháu, giao hết một cách triệt để.
Trong tâm của bà, ngoài câu Phật hiệu ra, không để một chút ý niệm nào khác, ngay cả cái thân này cũng không cần tính toán sau khi chết phải an trí như thế nào. Ngay đến cháu chắt đều xem như người xa lạ, không bận tâm chuyện xấu, chuyện tốt của chúng nó. Chỉ lo niệm ông Phật của chính mình, một lòng trông chờ Phật đến tiếp dẫn mình vãng sanh Tây Phương.
Bà có thể y theo lời nói của tôi mà làm, tất cả mọi sự đều buông hết, đến lúc lâm chung tự nhiên sẽ cảm đến Phật, đích thân Ngài đến đón bà về Tây Phương. Nếu như cứ mãi tham luyến mọi thứ đồ tốt và tiền bạc, ruộng đất, nhà cửa, nữ trang, áo quần, con cái, cháu chắt, v.v..., sẽ không bao giờ vãng sanh Tây Phương được. Một khi không vãng sanh Tây Phương, đời sau quyết chắc sẽ hưởng si phước . Rồi vì hưởng phước mà tạo nghiệp, khi hơi thở không còn, chắc chắn đọa Tam Đồ. Do ác nghiệp che mờ mà tâm thức không sáng suốt, cho dù có Phật sống đến cứu bà cũng không cứu nổi.
Như thế có phải tội nghiệp quá không! Mong bà tin lời tôi nói thì thật không gì vui bằng”. Những bạn đồng tu lớn tuổi của chúng ta nên suy nghĩ thật kỹ về đại sự sanh tử của chính mình. Thời gian trôi qua rất nhanh, nói không chừng trong vài năm nữa thôi là vô thường đến với ta. Vậy có biết được lúc chết sẽ đi về đâu hay chưa?
Thật hãy nên suy nghĩ kỹ một chút! Giả như lúc bình thường không nương tựa A Di Đà Phật, không có tập luyện, khi chết không có chủ trương [vãng sanh Cực Lạc], như vậy vẫn phải tiếp tục luân hồi. Nếu như nghiệp ác phát động dẫn xuống Tam Đồ, thì phải chịu khổ đến ngàn vạn kiếp trong ác đạo. Hãy xem trong thành-phố mà chúng ta ở, một ngày có bao nhiêu người chết
. Đừng nói chi đến việc sanh Tây Phương, ngay cả sanh Thiên, trăm ngàn người chưa được một người. Lại trong những người tu hành, nếu có cầu sanh Tây Phương, có bao nhiêu người được liễu sanh thoát tử?
Hiện giờ bạn đã có chắc chắn chưa? Đã chuẩn bị khi lâm chung làm thế nào để thông qua?
Đời người đa phần thời gian cứ thế mà trôi qua vô ích, phải biết tính kỹ cho bài toán này.
Trong một đời này, tu hành tiến bộ được bao nhiêu? Phiền não giảm bớt được bao phần? Nghiệp chướng đã tiêu được mấy phần rồi?
Cứ đặt kế hoạch năm năm mà tính, năm năm trước tiến bộ được bao nhiêu? Từ nay trở đi chỉ còn lại một lần năm năm, hoặc hai lần năm năm, tinh thần và thể lực mỗi năm mỗi lúc suy yếu dần; bệnh khổ của tuổi già thì mỗi năm mỗi nhiều, càng lúc càng nặng.
Nếu không nắm chặt thời gian này để dốc lòng tích lũy đầy đủ tư lương mà vãng sanh, e rằng một bước sai lầm sẽ tạo thành sự sai lầm to lớn cả ngàn vạn lần.
Hãy nghĩ cho thật kỹ, đến giây phút lâm chung, tự mình có đạt được cảnh giới sanh tử tự tại hay không.
Lại nghĩ, nếu hiện giờ bị một trận bệnh nặng, trong tâm có thể không loạn chăng? Lúc còn sống bị bệnh nặng, đã hoảng hốt mê hoặc, trong tâm không tự làm chủ được, huống hồ khi chết?
Lâm chung tứ đại phân rã, đau đớn như con bò sống bị lột da, nếu không phải là người đại tu hành, làm sao có thể vượt qua một cách nhẹ nhàng, thư thái? Lại nghĩ, trong cả một đời này, ta dám bảo đảm chỉ có thiện nghiệp, không có ác nghiệp chăng? Hãy xem trong đời sống hàng ngày: tâm nghĩ, miệng nói, thân làm, đã tạo nên biết bao nhiêu nghiệp rồi!
Khi lâm chung, nếu như ác nghiệp phát động, liền dẫn tâm ta kéo xuống ba ác đạo – một khi đầu thai vào thì ngàn vạn kiếp khó mà thoát thân. Nên biết, đọa vào ác đạo nhận lãnh quả báo đau khổ sẽ tiếp tục khởi dậy tâm xấu ác , nghiệp cũ chưa trả xong lại chồng thêm nghiệp mới, cứ thế luân chuyển không có ngày dứt, thật đáng sợ quá phải không?
Trong Kinh có câu: "Thất Phật dĩ lai, do vi nghĩ tử. Bát vạn đại kiếp, vị thoát cáp thân." Nghĩa là: “Bảy Phật ra đời, vẫn còn thân kiến. Tám vạn đại kiếp, chưa thoát thân bồ câu.”
Nghĩ đến những việc này thật sợ đến toát cả mồ hôi, dựng đứng cả lông tóc, làm sao mà không nóng lòng nôn ruột chứ?
Khi cái chết đến, cha mẹ không thể cứu bạn, con cái cũng không thể thay thế cho bạn; bạn đưa mắt nhìn những người xung quanh đứng bên cạnh mình: Ai là người mà bạn có thể nương tựa?
Có thể dựa vào ai đây? Chỉ có A Di Đà Phật mới có thể cứu độ bạn, nhiếp thọ bạn, bảo vệ và thành tựu cho bạn. Điều này chẳng phải đã rõ ràng lắm rồi sao? Sanh tử đại sự không ai có thể giúp mình, chỉ có thể nương nhờ A Di Đà Phật giúp ta vãng sanh thế giới Cực Lạc.
Khi đã hiểu rõ điều này và đã lựa chọn rồi, phải nhất tâm nhất ý niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Thật sự là không còn con đường thứ hai nào khác cho chúng ta. Không còn địa điểm thứ hai nào khác cho chúng ta nương về.
Muôn ngàn lần hãy trân quý trong lúc mắt ta còn sáng, chân ta còn bước đi được, tinh lực vẫn còn, thân thể đang khỏe mạnh, gấp rút đem hết thân tâm nương tựa vào A Di Đà Phật, khẩn cầu Phật thương xót, từ sáng đến tối tha thiết cầu nguyện với Ngài một cách liên tục không bỏ phí một giây phút nào. Nếu như không trân quý pháp môn này, không nương tựa một cách vững chắc, thì khó mà tránh được sự sai lầm một cách hồ đồ.
Suốt ngày từ sáng đến tối, sống qua loa qua ngày, chớp mắt là mấy năm qua mau; đến sau cùng bệnh tật giày vò tấm thân, nằm liệt trên giường; miệng muốn niệm Phật thì không ra tiếng nổi, muốn nghe theo tiếng Phật hiệu lại nghe không rõ; lúc này hối hận thì đã muộn rồi, cơ hội đã vuột qua mất.
Nên thường xuyên suy nghĩ, thời gian còn lại của mình không còn nhiều nữa, giống như ngọn đèn tàn trước gió, có thể bị dập tắt lúc nào không hay; lại như hạt sương trên cỏ, mặt trời vừa ló dạng, sương mù liền tan, liền bốc hơi; hoặc như bọt bóng trên mặt nước, gió vừa thổi liền bị vỡ tan; hoặc như tia lửa của viên đá mài, vừa lóe lên liền mất.
Thân thể hư giả này về tuổi xế chiều, tùy thời có thể bị hủy hoại, không sáng thì tối. Không thể không nóng lòng chột dạ hay sao!
Đời người nhiều lắm chỉ một trăm năm, nay đã đến tuổi già rồi, phải mở rộng tâm ra, nhìn thấu thế gian này như một vở tuồng, có gì là thật đâu chứ! Trên sân khấu có thể đóng nhiều vai trò khác nhau, có vai nào là thật? Toàn là giả tạm mà!
Cuộc đời chúng ta cũng vậy, cũng đang diễn kịch – đóng vai vợ chồng, vai mẹ con, vai trò gia đình, các loại sự nghiệp. Nay đã già rồi, nên biết mọi thứ trên đời đều như một vở tuồng, không thật chút nào, chớ có cố chấp. Thời gian của tuổi già không còn nhiều nữa, có thể chỉ năm năm, ba năm, với thời gian ngắn ngủi này phải sống như thế nào?
Phải lấy câu A Di Đà Phật tiêu khiển thời gian, lấy thế giới Cực Lạc làm quê hương để ta nương về. Ngày nay niệm Phật, mai sau vãng sanh Tây Phương, đây là việc vui sướng biết bao, hạnh phúc biết bao! Nghĩ như vậy thường sanh tâm hoan hỷ, không nên sanh phiền não.
Nếu như gặp việc gì không vừa ý, tâm phiền não khởi lên, lập tức chuyển tâm qua cầu A Di Đà Phật, nhanh chóng niệm lên câu Phật hiệu, xong tự phản chiếu và nghĩ: Ta là người trong thế giới của A Di Đà Phật, sao lại có thể giống như người thế gian mà tranh chấp? Nghĩ như vậy, ta có thể chuyển giận thành vui, vui vui vẻ vẻ niệm: A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!
Chuyện đời không nên để ý tới, không nên tranh đua hơn thua với người. Làm được như vậy mới là người có trí huệ, tự mình được hưởng an lạc, tự tại. Hiện nay, con cái đa phần không biết hiếu thuận. Nếu con cái trong nhà đối xử với bạn không tốt, đôi lúc bị nàng dâu la mắng, hoặc ở ngôi nhà quá sụp xệ, hoặc phải làm việc nhà quá nhiều − những thứ này đều không nên quá để ý, phải nhất tâm niệm A Di Đà Phật. Nếu không, bạn càng nghĩ sẽ càng giận, càng cảm thấy tủi thân.
Muốn tâm không khổ thì phải nhất tâm niệm A Di Đà Phật. Nghĩ như vậy rồi sẽ càng niệm càng hoan hỷ. Sau khi biết được đạo lý này, phải luôn luôn nương câu Phật hiệu, không lìa bỏ. Chỉ cần trong tâm bạn có Phật, mọi thứ đều sẽ biến thành tốt. Ở trong căn phòng nhỏ niệm Phật, niệm đến gian phòng này trở nên hương quang trang nghiêm, thành căn phòng vô cùng tốt. Lúc làm việc nhà thì vừa làm vừa niệm – làm việc nhà cũng trở thành vô cùng an lạc.
Do đó, chỉ cần nhất tâm niệm Phật, không nghĩ ngợi những chuyện khác, sẽ thoát ly được các khổ nhỏ của đời người; chẳng những thế, ngay đến đại khổ Sanh Tử vẫn có thể thoát ly. Đến lúc lâm chung, A Di Đà Phật đón bạn về thế giới Cực Lạc, tốt biết bao!
Cho nên phải buông xả để nhất tâm niệm Phật, không cần đợi sau khi vãng sanh, ngay bây giờ đã có thể luôn được hưởng niềm vui an lạc.
Thời Dân Quốc tại Chiết Giang, có một phụ nữ lớn tuổi, gia cảnh nghèo khổ, con trai lại bất hiếu. Có một ngày bị con trai chửi mắng, bà rất đau lòng, đi tìm vị thầy xuất gia để than thở. Thầy nói: “Bà biết thân mình mang nỗi khổ, vì sao không bán nó đi?” Bà hỏi: “Làm cách nào để bán?” Thầy nói: “Bà chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương, lâm chung Phật đến đón bà về TâyPhương, sẽ đoạn dứt mọi thứ khổ, chỉ hưởng niềm an vui, như vậy là đem cái khổ bán đi rồi!” Bà nói: “Hai mẹ con chúng con ở chung một căn nhà, trong đó vừa có giường, lại thờ ông Táo; dưới giường là chuồng heo, bê bối như vậy làm sao mà niệm Phật được?” Thầy nói: “Đều không sao cả, bà chỉ lo niệm thường xuyên không gián đoạn, lúc rỗi rảnh thì vào chùa lạy Phật.”
Bà lão sau khi về nhà y giáo phụng hành, một lòng cầu thoát khổ, niệm Phật không hề gián đoạn. Ba năm trôi qua, vài tháng trước khi lâm chung, bà nói với con trai: “Tháng … ngày …, mẹ đi Tây Phương, con đừng ra ngoài, ở nhà lo hậu sự cho mẹ, xem như tận hiếu của người làm con.” Con trai của bà không hề tin chuyện này.
Qua một thời gian, bà nhắc lại một lần nữa, con trai bà vẫn không tin. Đến vài ngày trước khi lâm chung, con bà bỗng dưng nghe thấy được mùi thơm kỳ lạ, đi tìm khắp nơi cũng không biết từ đâu bay tới, lúc đó mới tin lời của mẹ là thật. Vào đúng ngày đó, con bà ở nhà trông chừng, chỉ thấy mẹ tắm rửa thay quần áo, ngồi đoan trang, niệm Phật rồi vãng sanh.
Như bà lão này, gia đình nghèo khổ, con lại bất hiếu; theo thường lệ, tuổi già mà gặp hoàn cảnh như thế thật là đau khổ vô cùng. Thế nhưng, bà biết mình khổ, một lòng muốn thoát khổ nên hết lòng nương tựa A Di Đà Phật, kết quả được giải tỏa hết mọi thứ đau khổ.
Thưa các bác lớn tuổi, chỉ cần một lòng một dạ niệm câu Phật hiệu, không lúc nào bỏ quên, cho dù phải làm nhiều việc nhà cũng sẽ không thấy khổ cực. Khi niệm Phật, tâm ta hoan hỷ thì làm bất cứ việc gì cũng cảm thấy vui, nhìn thấy ai cũng vui; mỗi ngày mỗi đêm, không việc gì mà không vui.
Cho nên, tuổi già muốn được an vui thì không nên rời câu Phật hiệu. Vừa rời khỏi Phật, trong tâm khởi lên vô minh phiền não, liền rơi vào cái khổ ngay. Nếu như có thể chuyên nhất, có thể kiên trì mà niệm, không cần thời gian lâu lắm là có thể đạt đến chỗ vừa làm vừa niệm, không gián đoạn.
Được như vậy thì nỗi khổ trong tâm sẽ càng lúc càng ít, nhất định càng ngày càng an lạc hơn. Cho nên cần phải suy nghĩ kỹ, có phải nên dùng câu Phật hiệu để sống qua tuổi già hay không? Bây giờ, chúng ta nói đến việc “Làm thế nào giải quyết vấn đề của tuổi già”.
Ngay trong câu Phật hiệu mà giải quyết. Hiện nay, người già khắp nơi rất cô đơn, nếu có thể đặt trọn tâm tư vào câu Phật hiệu, để tâm mình tương ưng với tâm Phật thì liền được thoát khổ, giải sầu. Con cái không được như ý muốn, làm thế nào để không khổ não? Chính là niệm A Di Đà Phật.
Niệm quen rồi sẽ không nghĩ đến chuyện thế gian nữa, như vậy sẽ hết khổ ngay. Ngược lại, không niệm A Di Đà Phật, tâm không chỗ nương tựa, luôn duyên theo chuyện con cái, như thế sẽ rất khổ.
Do đó, cần phải đổi tâm trở lại để không ngừng niệm Phật, được sự gia trì của Phật rót vào trong tâm, tâm trạng trở nên rất tốt, rất vui vì có chỗ nương tựa. Rất nhiều những người già quanh năm niệm Phật, tai thính mắt sáng, sự suy tư rất minh mẫn sáng suốt. Hơn nữa, cuộc sống có niềm hy vọng, không bị tuyệt vọng bởi cái chết.
Cho nên niệm Phật là một pháp môn đại an lạc. Vừa nghĩ đến lúc lâm chung có A Di Đà Phật tới đón, nghĩ đến việc siêng tu của mình chắc chắn được vãng sanh, trong tâm liền tràn đầy niềm tin, tràn đầy niềm vui.
Người khi về già, trong tâm không còn buồn khổ, tuy thân thể khó tránh một số bệnh khổ, nhưng có câu Phật hiệu rồi sẽ thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Có thể niệm A Di Đà Phật thì có tương lai, có hy vọng. Nếu không niệm Phật, khó mà tránh khỏi những thứ khổ từ mọi mặt đưa tới, đặc biệt là sự buồn tẻ cô đơn, sự tuyệt vọng sợ hãi, làm cách nào để trực diện, để giải quyết? Xã hội ngày nay khác với xã hội ngày xưa.
Ngày xưa còn có mấy đời từ ông cố đến cháu ở cùng với nhau, thời đại ngày nay người già càng lúc càng cô độc – con cái đa phần là bất-hiếu, rất ít sống chung, ít qua lại thăm viếng người già. Tuy nhiên, chúng ta có câu Phật hiệu thì không sợ, vì từng ý niệm của chúng ta đều ở với Phật, những thứ vừa nói sẽ không thành vấn đề nữa.
Người già sở dĩ cảm thấy đơn chiếc là do tư tưởng của chúng ta không mở rộng, không có điểm tựa; lại nhìn thấy con cái bất hiếu không đến thăm viếng, không nói chuyện với mình, trong tâm cảm thấy lạnh lẽo trống vắng. Nếu có thể đặt hết tâm tư ở nơi Phật, một lòng một dạ nương tựa Phật, Phật sẽ không chê bỏ chúng ta.
Như thế, tâm ta sẽ nhẹ nhàng, vui vẻ, trong sáng; niềm vui này không cần điều kiện bên ngoài ban cho, chỉ cần trong tâm luôn giữ câu Phật hiệu, đây chính là “linh đan hoan hỷ”.
Có người lúc về già, niệm Phật đạt được niềm an vui mà suốt trong mấy mươi năm qua không đạt được. Niềm vui này không phải do con biết hiếu thảo, hoặc được món ăn ngon, cũng chẳng phải do quần áo mặc đẹp hay được ở nhà sang trọng mà có, tất cả các niềm vui thế gian đều không thể sánh bằng. Cho nên phải biết làm người già có trí huệ, phải biết đặt tâm ở câu A Di Đà Phật, mọi vấn đề liền đều có thể giải quyết.
Lại nữa, người già có thể mắc những bệnh mãn tính, bệnh lãng trí, tai biến mạch máu não, làm cách nào để đề phòng?
Vẫn là một lòng một dạ niệm A Di Đà Phật, cầu nguyện A Di Đà Phật, cầu Phật gia hộ. Nếu hết lòng nương tựa Phật, tuổi già của mình sẽ thuận lợi rất nhiều.
A Di Đà Phật từ bi, khi lâm chung có thể khiến bạn chánh niệm phân minh; đương nhiên, trước lúc lâm chung cũng có thể giúp bạn tránh được những bệnh tật trên, thế nhưng, bạn phải tự mình chịu làm mới được. Cho nên, tuổi già rồi chớ có lo chuyện thế gian nhiều quá.
Ấn Tổ khai thị, nói: "Phàm chuyện sanh kế của gia đình, chuyện con cháu nên để qua một bên.
Tỷ như nếu ta lúc 60 tuổi qua đời, thì con cháu đến nay nó vẫn tiếp tục làm người phải không? Bây giờ ta chỉ lo niệm Phật liễu sanh tử, vốn chúng không thể giúp ta giải quyết việc sanh tử, ta há lại vì chúng mà ảnh hưởng đến việc đại sự của mình? Nếu bạn nghĩ được như vậy, tự nhiên sẽ nhất tâm mà niệm Phật.”
Đời nhà Đường, ông Bạch Cư Dị để lại vài câu thơ nói như thế này: “Ta đã 71 tuổi rồi, không còn làm thơ nữa. Mắt đã mờ, xem Kinh rất khó. Muốn làm phước, cái thân suy yếu này không thể bôn ba tới lui dễ dàng được.” Tâm trạng của tuổi già này làm sao để sống qua ngày? Đem tâm ký thác nơi nào đây? Chính là một câu A Di Đà Phật – đi cũng A Di Đà Phật, ngồi cũng A Di Đà Phật, dù bận rộn cỡ nào vẫn không bỏ câu A Di Đà Phật.
Trời đã bắt đầu tối, con đường về nhà vẫn còn xa vời vợi , đời này của ta đã trôi qua một cách vô ích rồi. Bắt đầu bây giờ, từ sáng đến tối, chỉ lấy tâm thanh tịnh để niệm A Di Đà Phật.
Câu Phật hiệu là bảo vật “Như Ý” không thể nghĩ bàn, có thể cho ta đạt thành mọi thứ lợi ích của thế gian lẫn xuất thế gian; nó có thể giải trừ mọi nguy nan của thế gian, có thể trừ độc, trị bệnh; còn có thể giải trừ sanh tử khổ đau, cứu vớt con người từ trong sanh tử luân hồi, chuyển phàm thành Thánh.
Tóm lại, tất cả mọi sự việc đều có thể dùng câu Phật hiệu để giải quyết, vấn đề then chốt là chúng ta phải có niềm tin chân thật.
Vì sao phải nói như vậy? Bởi người già dễ gặp bệnh khổ, gặp những chuyện xảy ra bất ngờ, lúc đó phản ứng đầu tiên là nên đề khởi câu Phật hiệu. Thí dụ, khi gặp nguy nan phải làm sao? Liền buông xả vạn duyên, nhất tâm nhất ý niệm A Di Đà Phật, cầu Phật từ bi tiếp dẫn mình vãng sanh. Điều này trong lúc bình thường cần phải luyện tập cho thuần thục.
Người bình thường không có nhận thức sâu sắc đối với câu danh hiệu, thường hay sùng bái khoa học kỹ thuật về y liệu, dược liệu, v.v... Họ không biết Phật hiệu có một năng lực cực kỳ không thể nghĩ bàn. Trong tất cả những thứ không thể nghĩ bàn, năng lực của A Di Đà Phật là không thể nghĩ bàn tột cùng. Vả lại, Phật hiệu là cảnh giới Quả Địa của Phật, cho nên cần phải sanh niềm tin cực đại đối với danh hiệu A Di Đà Phật, dùng tâm hoan hỷ, kiền thành để trì-niệm. Nếu có tín tâm một cách trọn vẹn, thì được gia trì cũng trọn vẹn.
Hơn thế nữa, sự gia trì này thật sự cực kỳ không thể nghĩ bàn. Hiện nay ai cũng biết có tiền thì có thể mua xe, mua nhà, có cuộc sống thoải mái nên rất có tín tâm đối với tiền bạc, rồi dốc sức đi kiếm tiền. Chúng ta không nên tin vào tiền bạc, mà phải tin tưởng vào tác dụng và lợi ích không thể nghĩ bàn của câu Phật hiệu. Nếu chúng ta dốc lòng nương tựa, toàn tâm toàn lực trì niệm, nhất định sẽ được lợi ích chân thật không hư vọng: đó là lợi ích ngay trong đời này được giải thoát.
Thật là đơn giản, dễ dàng, tiện lợi, không cần bất cứ điều kiện bên ngoài nào, chỉ cần người nào chịu trì niệm thì người đó liền được lợi ích không thể nghĩ bàn. Vì đây là “vô thượng diệu bảo” mà A Di Đà Phật dùng để cứu độ tất cả chúng sanh.
Nhân tố quyết định là chúng ta có thể có niềm tin chắc quyết đối với câu danh hiệu, có thể kiên trì bền bỉ trì niệm hay không. Nếu được thì mọi thứ sẽ đều trở nên thuận lợi, cộng thêm vào đó là sự thề nguyện quyết-chí vãng sanh, nhất định sẽ được vãng sanh Tây Phương. Những người già chúng ta nay đã khá lớn tuổi rồi, thời gian không còn nhiều nữa, phải biết khéo sử dụng một chút thời gian còn lại này.
Nếu trong tâm mình tin tưởng A Di Đà Phật, nhất tâm muốn đi thế giới Cực Lạc, lại có thể từ sáng đến tối đem hết thời gian ra niệm Phật, nhất định sẽ được vãng sanh. Nếu không biết khéo sử dụng thời gian, chỉ lo chạy Đông chạy Tây; điều gì cũng muốn học, muốn thử; tâm không chuyên nhất, không có phương hướng cố định; đến lúc lâm chung tâm bấn loạn không tự chủ được, như thế thì rất nguy hiểm.
Cho nên bất kỳ như thế nào, tuổi đã cao rồi, tốt nhất lấy Tây Phương Cực Lạc làm chỗ nương về. Chỉ còn vài năm sống ở thế gian nữa thôi, nhất định phải phân chia rõ ràng cái nào là chính, cái nào là phụ. Hơn nữa, phải đem việc vãng sanh Tịnh Độ làm trọng trong việc tu hành, khiến cho lực niệm Phật càng thêm sức mạnh. Sau cùng, chỉ một tâm tư duy nhất là niệm A Di Đà Phật, một phương hướng duy nhất là về thế giới Cực Lạc, như vậy nhất định sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Lão Hòa Thượng Hải Hiền nói với chúng ta rằng: "Trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ tâm không chuyên”. Phật nói: "Định tâm ở một nơi, không việc gì là không thành". Ấn Quang Đại sư nói một cách trực chỉ hơn: "Nhất tâm niệm Phật, làm việc gì cũng thành"

LỜI BÌNH CỦA PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
Bài báo cáo của Pháp Sư Tự Liễu, nên in ra
để lưu hành, phiên dịch thành ngoại ngữ
và phân phát rộng rãi đến các viện dưỡng
lão, bệnh viện. Ngày hôm qua, tôi nhận được
một lá thư của người bạn cũ, người bạn này
lớn hơn tôi một tuổi, năm nay đã 89 tuổi rồi,
sức khỏe không được tốt. Trong thư nói với
tôi, trước kia ở viện dưỡng lão, tối thức giấc
đi xuống giường bị té, không đứng lên được,
nằm mãi dưới đất suốt đêm; rất may chỉ bị
thương ngoài da, đầu óc vẫn còn tỉnh táo.
Đến sáng hôm sau, người đến quét dọn
phòng mới phát hiện ông bị té. Bạn xem,
người già như vậy rất khổ. Nếu gặp phải con
cái bất hiếu, càng thương tâm đau lòng, tâm
trạng làm sao mà vui vẻ tốt lành được?
Cho nên, những lời khai thị này là nhu cầu
cấp bách đối với họ. Thật sự tin tưởng có
Phật, tin tưởng có thế giới Cực Lạc, tin tưởng
có A Di Đà Phật, rồi cứ thế mà niệm, thân
tâm của họ liền được bình hòa. Chúng ta biết
cảnh tùy tâm chuyển, tất cả pháp từ tâm
tưởng sanh, chỉ cần ý niệm của họ đúng, liền
có sự giúp đỡ rất lớn đối với sức khỏe của họ.
Những khai thị tương tự như vậy, bất luận là
thời nay hoặc thời xưa, chúng ta nên thu thập
lại thành một quyển sách nhỏ, tôi tin rằng có
thể nhắc nhở rất nhiều người niệm Phật, và
khiến cho người già sống được yên tâm hơn.

Last edited by Rau Sam; 11-27-2019 at 09:51 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-09-2019 , 11:32 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
VÌ SAO CỔ NHÂN CHỌN VỢ LẠI CHÚ TRỌNG ĐỨC HẠNH CHỨ KHÔNG CHÚ TRỌNG DUNG NHAN. (Nguồn : Tân Sinh.net)

Thời xưa, các bậc Quân Vương, hiền thần khi lựa chọn vợ đều đề cao phẩm hạnh đạo đức, hơn là vẻ ngoài rất nhiều. Họ cho rằng, chỉ người phụ nữ có đức hạnh, hiền thục, trí tuệ mới có thể tề gia, dạy bảo con cái trở thành người tốt.
Chỉ người phụ nữ có đức hạnh, hiền thục, trí tuệ mới có thể tề gia, dạy bảo con Đúng vậy, phụ nữ xấu thì không lồ lộ vẻ đẹp trời ban, song tâm hồn họ thanh tao như hương trà. Xa lánh thế gian huyên náo mới có thể giữ được sự thuần khiết của tâm hồn, mới có thể hiểu nhã thú của đời người. Phụ nữ xấu, bất kể đi làm hay ở nhà, việc gì họ làm cũng chỉn chu. Phụ nữ xấu cũng lương thiện, biết hy sinh, không cầu báo đáp, không tranh giành, hệt như hương trà u mặc thời ẩn thời hiện.

Song, trong khi người đời tán dương tài nữ, ca ngợi mỹ nữ thì họ lại đối xử với phụ nữ xấu thật bất công. Phụ nữ xấu chan chứa thương yêu mà không một ai nhớ họ, nhưng họ cũng không để ý mà chỉ rút vào im lặng. Trong khi những người đẹp làm bao chuyện ầm ĩ, người phụ nữ nhan sắc tầm thường vẫn thản nhiên giữ gìn mỹ đức.

Có một điều an ủi, nhiều người đẹp khi trút lớp phấn son ra, họ xấu hổ không còn dám đứng trước phụ nữ xấu. Phụ nữ xấu yêu ai, người đó sẽ là người tình trong mộng. Họ khiêm nhường, như tách trà. Một làn gió nhẹ thổi qua, mặt tách trà gợn sóng, chờ đợi người tới thưởng thức. Mà người thưởng trà sẽ có được một đời hạnh phúc“.

Không ngẫu nhiên mà một bậc tài trí hơn người, thận trọng mọi việc, bách chiến bách thắng, tiếng tăm lừng lẫy vang danh bốn bể như Gia Cát Lượng lại viết bài tản văn nghe thâm thúy đến vậy. Bởi lẽ, vợ của ông là một cô gái “xấu xí hơn người” nhưng tài đức không ai bì kịp, Hoàng Nguyệt Anh.

Sử sách ghi lại rằng bà Hoàng Nguyệt Anh vốn là là một cô gái thô kệch, tóc vàng, da đen, thậm chí trên da còn nổi lên chút nhăn nheo như da gà khiến người ngoài nhìn vào không khỏi “phát run”. Nhưng phẩm chất đức hạnh của bà lại nổi tiếng khắp nơi xa gần. Bà là con gái của danh sĩ Hoàng Thừa Ngạn ở Hà Nam.

Hoàng Nguyệt Anh tuy là cô gái xấu xí nhưng có kỳ tài, không phải là nữ nhi bình thường trong thiên hạ. Không những có khả năng chế tác siêu phàm, trợ giúp Gia Cát Lượng chuyện chính sự, bà còn là một phụ nữ gia đình khéo léo, giỏi thêu thùa, may vá, vẽ tranh, trồng cây, nấu ăn. Sau khi về làm vợ Gia Cát Lượng thì mọi việc lớn bé trong nhà đều một tay bà chu toàn. Bạn hữu đến nhà đều được bà thết đãi rất nồng hậu nên ai ai cũng không ngớt lời ngợi khen. Con cái sinh ra đều được bà thai giáo từ bé. Chính nhờ người vợ hiền thảo như vậy mà Gia Cát Lượng có thể chuyên tâm lo việc đại sự quốc gia, làm nên việc lớn.

Là một người thông minh như Gia Cát Lượng đương nhiên ông biết rằng người mình cần lấy mà một hiền thê chứ không phải là “Bình hoa”. Và cũng không riêng Hoàng Nguyệt Anh mà trong lịch sử Trung Quốc còn có những người phụ nữ xấu “ma chê, quỷ hờn” lại khiến các bậc trượng phu phải kính nể, xem trọng về tài đức như hoàng hậu Mô Mẫu, hoàng hậu Chung Vô Diệm hay Nguyễn Thị, Mạnh Quang.

MỘ MẨU VỢ VỦA HOÀNG ĐẾ THỜI VIỄN CỔ.

Thời cổ đại, người phụ nữ nổi tiếng là xấu xí nhất phải nói đến Mô Mẫu. Tương truyền rằng, Mô Mẫu là người có hình dáng như quỷ dạ xoa, xấu xí vô cùng. Vương Tử Uyên đời Hán trong “Tứ tử giảng đức luận”, viết rằng: “Mô mẫu oa khôi, thiện dự giả bất năng yểm kì xú”, tức là Mô Mẫu có vóc người to lùn, người mà giỏi khen cũng không thể giấu được chỗ xấu của bà.

Nhưng Mô mẫu lại là người phụ nữ hiền đức. Thủy tổ của dân tộc Trung Hoa là Hoàng Đế đã cưới bà làm vợ. Truyền thuyết kể rằng, Hoàng Đế đánh bại được Viêm Đế, giết chết Xi Vưu đều là nhờ có công giúp đỡ của Mô Mẫu.

Mô Mẫu có đức hạnh và phẩm chất tốt, hơn nữa còn có trí tuệ hơn người nên được hậu nhân đánh giá là tấm gương của người phụ nữ thời đó. Bởi vì thời ấy, nam nhân chọn vợ đều đặt đức hạnh lên hàng đầu.

Mạnh Quang vợ của Lương Hồng thời Đông Hán là người tốt. (Ảnh: Pinterest)

Trong Đạo gia từng có câu: “Dung nhan đoan trang, mộc mạc mới thể hiện ra giá trị của khí chất. Phục sức nếu quá xa hoa thì sẽ lộ ra sự dung tục”. Có ý là đề cao chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ, khích lệ sự cần kiệm, chăm lo việc nhà, chú trọng tu dưỡng nội tâm, làm phong phú trí tuệ của bản thân, không nên tiêu phí quá nhiều thời gian, tiền bạc vào trang sức, quần áo và trang điểm cho vẻ bề ngoài mà. Người phụ nữ như vậy mới có thể trở thành người phụ nữ thực sự hiền đức.

Ngày nay sắc đẹp người phụ nữ được ca ngợi và hình tượng hóa, nhiều người còn cho rằng “Hồng nhan bạc triệu” nên ra sức chạy theo trào lưu phẫu thuật thẫm mỹ, với ý nghĩ sẽ đổi đời và kiếm được “đại gia”.

Nhưng quay ngược thời gian về với lịch sử xa xưa, những bậc anh hùng cái thế, làm nên việc lớn lưu danh thiên hạ, thì sau lưng họ là bóng dáng của một người vợ đức hạnh, tài trí chứ không phải là nhan sắc, thậm chí nhan sắc còn rất tầm thường có thể nói là “ma chê quỷ hờn”.

GIA CÁT LƯỢNG VÀ NGƯỜI VỢ XẤU XÍ HOÀNG NGUYỆT ANH.

Gia Cát Lượng từng có bài tản văn như thế này: “Phụ nữ xấu như tách trà. Ngồi trong sân vắng vẻ, tách trà như tâm tình của cô gái. Xuân qua thu lại, thế sự như mây. Người đời hay nói: rượu, thuốc lá, trà là ba báu vật của đàn ông. Tài nữ như thuốc lá, mỹ nữ như rượu nồng, còn phụ nữ xấu chỉ lặng lẽ như trà tỏa hương. So với hương trà man mác, vô luận khói thuốc đắng cay hay men rượu nồng nàn, đều thành dung tục. Song người đời lại say mê sự kích thích của rượu và thuốc lá, ít ai thư thái để tận hưởng vị thanh khiết của trà.

Thành ngữ “cử án tề mi” chính là nói về câu chuyện giữa hiền sỉ LƯƠNG HÔNG VÀ VỢ LÀ MẠNH QUANG THỜI ĐÔNG HÁN. (Ảnh: Sohu)

Tương truyền khi Mạnh Quang theo Lương Hồng đến đất Ngô làm mướn, mỗi khi Lương Hồng về nhà, Mạnh Quang đã chuẩn bị sẵn thức ăn, nâng chiếc án (mâm) lên ngang tầm chân mày, thể hiện lòng kính trọng đối với người chồng.

Nhưng vị hiền phụ này lại “thô kệch không ai bằng”, “mập xấu lại đen”. Truyền thuyết có kể, Lương Hồng trước khi cưới vợ, danh tiếng đã vang xa, nhiều nhà muốn gả con gái cho nhưng Lương Hồng không chịu.

Mạnh Quang khi chưa lấy chồng, có người đến làm mai, nhưng Mạnh Quang không đồng ý, nói rằng: “Nếu lấy chồng thì lấy người như Lương Hồng”. Sau khi thành hôn, sang ngày thứ hai, Mạnh Quang thay y phục lụa là gấm vóc, mặc vào loại vải thô, chăm lo việc gia đình. Sau khi theo Lương Hồng đến ẩn cư trong núi Bá Lăng, chồng cày vợ dệt, cùng ngâm thơ đàn hát, vợ chồng xướng hoạ, sống một cuộc sống tuy nghèo nhưng hạnh phúc.

NGUYỄN THỊ VỢ DANH SỈ HỨA DOÃN THỜI ĐÔNG TẤN.

Hứa Doãn thời Đông Tấn cưới con gái của Nguyễn Đức Uý làm vợ. Đêm động phòng hoa chúc, Hứa Doãn phát hiện cô gái nhà họ Nguyễn này dung mạo xấu xí liền vội bỏ chạy ra khỏi phòng, từ đó không chịu vào.

Về sau người bạn của Hứa Doãn là Hoàn Phạm đến thăm, nói với Hứa Doãn rằng: “Nhà họ Nguyễn đã gả cô con gái xấu xí cho anh tất có nguyên nhân, anh nên tìm hiểu thử xem”.

Hứa Doãn nghe theo lời Hoàn Phạm vào phòng. Hứa Doãn vừa nhìn thấy dung mạo xấu xí của vợ định bước ra. Người vợ níu lại. Hứa Doãn vừa vùng vẫy vừa hỏi người vợ rằng: “Đàn bà có ‘tứ đức’, nàng được mấy đức?” (‘Tứ đức’ của phụ nữ là đức, ngôn, dung, công).

Người vợ đáp rằng: “Thiếp chỉ thiếu mỹ dung. Còn những người đọc sách có ‘bách hạnh’, chàng được mấy điều?”

Hứa Doãn đáp rằng: “Ta có đủ bách hạnh”.

Người vợ nói: “Bách hạnh lấy đức làm đầu, chàng háo sắc mà không háo đức, sao lại cho là có đủ?”

Hứa Doãn không trả lời câu nào được, chỉ thấy Nguyễn Nữ có kiến thức sâu rộng và phẩm chất mà người phụ nữ bình thường không có được. Từ đó hai vợ chồng họ tương thân tương ái, tình cảm ngày càng sâu đậm.

Cổ nhân ca ngợi phụ nữ có khí chất bao gồm: Nghi thái (lễ tiết), ngữ thái (giọng điệu lời nói), tình thái (biểu đạt tình cảm), khí thái (tính cách), tâm thái (biểu hiện nội tâm), và thần thái (hàm dưỡng tinh thần), sau đó mới đến tư thái (dáng dấp dung mạo).

Sức hút của người phụ nữ thì 7 phần ở tinh thần 3 phần mới nằm ở dung mạo. Khi khí chất toát ra từ bên trong, thì vẻ đẹp này sẽ lâu dài hơn, lôi cuốn hơn, và sẽ không mất đi theo thời gian mà càng lúc càng được bồi đắp. Người phụ nữ mà từng lời nói cử chỉ hành động đều mang theo một khí chất riêng, thì sẽ khiến người ta yêu thích và trân trọng.

Sắc đẹp có thể phai tàn theo thời gian nhưng phẩm hạnh và tài trí thì sẽ luôn có thể được bồi đắp và mãi trường tồn. Một người đàn ông thông thái, có nội hàm tu dưỡng và cái nhìn sâu sắc thì tất nhiên sẽ chọn cái đẹp vĩnh cửu, một người vợ thông minh khéo léo giúp họ làm nên đại sự chứ không phải là “một bình hoa di động”.

Khi cưới được một người vợ như vậy thì cũng đồng nghĩa họ có một trợ thủ đắc lực trong sự nghiệp, và một tách trà thơm thanh khiết thưởng thức mãi không biết chán.

Last edited by Rau Sam; 11-10-2019 at 01:07 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-11-2019 , 09:57 AM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
BIẾT ĐỦ THÌ NGHÈO KHỔ VẪN VUI, TRUY CẦU NHIỀU, GIÀU SANG VẪN PHIỀN NẢO.

Người xưa có câu: “Người không biết đủ giống như rắn muốn nuốt cả voi”, nuốt không được, nhả lại không chịu. Cuộc sống này, biết bao người đang bị “danh, lợi, tình” trói buộc, mong cầu hạnh phúc nhưng cuối cùng lại nhận toàn khổ đau.

Dục vọng của con người hoàn toàn không thể thỏa mãn được. Nếu một mực cưỡng cầu thì nhất định sẽ sinh ra phiền não

Con người sống truy cầu danh lợi vốn là để được hạnh phúc, vui vẻ, nhưng rất nhiều người vì truy cầu không được lại đánh mất niềm vui, niềm hạnh phúc vốn có. Đây đúng là cái vòng luẩn quẩn của nhân sinh.

Có thể thấy rằng, tâm biết đủ quan trọng đến mức nào đối với sinh mệnh của một người. Suy cho cùng: “Cao ốc ngàn gian, thì đêm nằm ngủ cũng không quá hai mét, ruộng tốt vạn khoảnh, ngày ăn cũng không quá ba bữa”, hà cớ gì chúng ta phải truy cầu lắm thứ như thế? Huống chi, tiền dù nhiều đến mấy, chức vị cao đến đâu đi nữa cuối cùng đến lúc sinh mệnh lìa đời thì đâu còn ý nghĩa gì?

Có người nói: “Tôi cũng không muốn liều mạng, quả thật không cần quá nhiều vật chất và hưởng lạc, nhưng danh lợi là dấu hiệu của sự thành công. Cho nên, buông bỏ là không có chí tiến thủ, không thể buông xuống được”.

Không thể nghi ngờ rằng, danh lợi có phần mang đến sự vinh quang cho con người, tự nhiên có lực hấp dẫn rất mạnh mẽ. Tuy nhiên thành công và danh lợi lại không nhất định là ngang hàng với nhau. Một người quá mức truy cầu danh lợi sẽ khiến tâm không còn tĩnh tại, dễ làm nhiều việc không nên.

Từ xưa đến nay, có bao nhiêu người cả đời lao tâm lao lực, đến lúc vinh hoa phú quý, công thành danh toại, tưởng rằng như thế là hạnh phúc, khoái hoạt. Nhưng quay đầu lại nhìn thì hóa ra, hạnh phúc lại không phải ở nơi ấy…

Người như vậy ở nơi nào cũng có, họ rốt cuộc cuối cùng là thành công hay thất bại?
Người biết đủ sẽ không chọn cách sống như vậy, họ cự tuyệt cách sống “chui đầu vào cái giỏ danh lợi”, bởi vì họ biết sẽ bị “danh lợi” làm khổ cả đời. “Danh lợi” tuy rằng ở một mức độ nào đó sẽ khiến con người khoái hoạt hạnh phúc nhưng dục vọng “danh lợi” mãi cứ giãn nở ra vô hạn thì chỉ có thể làm cho người ta thống khổ mà thôi. Cho nên, cổ nhân giảng: “Thấy đủ thường vui!”
Một người biết đủ, ở phương diện công danh lợi lộc có thể không thành công nhưng hẳn là sẽ vui vẻ, hạnh phúc. “Biết đủ” chính là cách nắm giữ hạnh phúc trong tay. (Ảnh: Internet)

Vào triều đại nhà Minh, có một vị tiên sinh dạy học, gia cảnh bần hàn nhưng mỗi ngày đều dâng hương bái lễ, cảm tạ trời xanh ban phúc. Vợ của ông nghĩ mãi mà không hiểu, liền hỏi:“Một ngày ba bữa đều là húp cháo loãng, sao có thể tính là hưởng phúc?”.[Image: BcKCN8.jpg]

Vị tiên sinh này trả lời: “Sống ở nơi thái bình, không có chiến sự thảm họa, đó là cái hạnh phúc lớn nhất. Hàng ngày có quần áo mặc, có cái ăn, không đến mức đông chịu lạnh, đói không có gì ăn là hạnh phúc lớn thứ hai. Trong người không có bệnh tật, không có tai họa là cái hạnh phúc lớn thứ ba. Chúng ta có cả ba thứ ấy rồi chẳng phải là phúc sao?”.

Nhiều người nhìn vị tiên sinh này thường cho rằng ông không thành công, nhưng ông lại tự thấy mình hạnh phúc. Bởi vì trong lòng ông biết đủ, niềm hạnh phúc của ông đến từ góc độ tương đối.

Có câu nói rất hay rằng: “Đừng khóc vì không có giày đi bởi vì có người còn không có chân để đứng!”. Bởi vậy mới nói: “Biết đủ thì người nghèo khổ cũng vui, không biết đủ thì người giàu sang cũng u buồn”. Ở trong cùng một tình cảnh, chúng ta chỉ cần thay đổi góc nhìn, thay đổi cái tâm của mình thì tình cảnh cũng tự nhiên thay đổi.

Có tâm biết đủ là quý trọng những gì có ở hiện tại. Chúng ta đừng nên nghĩ mình thiếu những gì mà nên nghĩ nhiều về những thứ mình đã có. Nếu không quý trọng, thì những thứ đang có hiện tại cùng rời bỏ chúng ta mà đi.

Cách tránh được tai họa chính là coi trọng phúc phận mình đang có. Ví như sinh mệnh và sức khỏe là tài phú lớn nhất của mỗi người, nhưng mọi người lại thường xem nhẹ, đến lúc sắp mất đi rồi mới thấy hối tiếc thì đã muộn.
Cho nên, đại nạn không chết, bệnh nặng mà khỏi sẽ khiến con người cảm nhận rõ rệt được niềm hạnh phúc tăng lên gấp bội. Trái lại, không biết đủ mà tham lam sẽ dễ dàng bị lầm đường lạc lối, khiến tai họa “không nên có” ập đến.
Email PM FindEdit Delete Reply
Enter Keywords

« Next Oldest | Next Newest »
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-13-2019 , 12:00 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
ĐĐ Thích Chân Hiếu : Khuyến Tấn Niệm Phật , California, USA, 26-12-2016

https://www.youtube.com/watch?v=P-7F2apxdDY

Bài này hay lắm, trả lời những thắc mắc của mọi người . Vì Thầy Chân Hiếu là 1 vị chuyên tu về Niệm Phật, nên khi thầy giãng , ai cũng hiểu ra và không còn tranh luận nữa. Học với vị chuyên tu thì bảo đảm không lạc đường.

Last edited by Rau Sam; 11-13-2019 at 01:46 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-15-2019 , 04:13 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
Khi lòng người không còn có đạo, thế gian sẽ phải gánh chịu cơn thịnh nộ của trời.(Tân sinh.net)

Lịch sử nhân loại nếu quan sát thật kỹ, tựa như một vở kịch được lặp đi lặp lại. Khi lòng người không còn có đạo để câu thúc hành vi, thì việc ác nào người ta cũng làm, cho đến cuối cùng là kết cục tận diệt.

Thế Tông Sài Vinh nhà Hậu Chu diệt Phật họa đến con cháu.


Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh hùng tài đại lược được khen ngợi là “đệ nhất minh quân” thời Ngũ Đại (thế kỷ 10). Ông đã cải cách toàn diện, mở mang bờ cõi, đánh đâu thắng đó, nhưng lại chết ở tuổi tráng niên khi chỉ mới 39 tuổi, mãi đến hôm nay vẫn khiến cho người ta ngậm ngùi tiếc nuối.
Sài Vinh đoản mệnh, nhìn thì thấy giống như là ngẫu nhiên nhưng lại không ngẫu nhiên chút nào. Chúng ta hãy thử lật giở lại những ghi chép trong chính sử để hiểu được nguồn cơn.
Năm thứ hai sau khi lên ngôi, tháng 5/955, Sài Vinh đã hạ chiếu phá hủy chùa chiền. Chùa miếu Phật Pháp trong nước, ngoài những ngôi chùa có bút tích của hoàng đế có thể được giữ lại ra, mỗi huyện chỉ còn có một ngôi chùa, còn lại đều bị hủy hết.
Cả nước tổng cộng đã phá bỏ 30.360 ngôi chùa, hủy tượng Phật đúc tiền, gần 1 triệu tăng ni bị ép phải hoàn tục.
Vào những năm Phật Pháp hưng thịnh đó, rất nhiều người không dám ra tay phá hủy tượng Phật. Sài Vinh ngang nhiên nói: “Phật là Phật, tượng là tượng. Phật ngay cả thịt, mắt cũng đều có thể bố thí, đập tượng Phật đúc tiền, Phật cũng sẽ đồng ý thôi”.
Chùa Đại Bi ở Trấn Châu (huyện Chánh Định, thị trấn Thạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc ngày nay) có một bức tượng Quán Âm Bồ Tát bằng đồng lớn rất linh thiêng. Những người đi đập tượng Phật đều tự chém đứt cổ tay mà chết, không người nào dám hạ thủ.
Sài Vinh đích thân bước lên, dùng cây rìu lớn đập vào ngực của tượng Bồ Tát, đích thân phát động cuộc vận động diệt Phật. Về sau, Sài Vinh hỏi Vương Phác là người tinh thông thuật số: “Trẫm có thể sống được mấy năm?”.
Vương Phác trả lời: “Sau năm 30 thì không biết được”. Sài Vinh hiểu sai rằng còn có thể sống đến năm trị vì thứ 30, nên rất vui mừng. Nhưng lời của Vương Phác lại có ngụ ý khác, Sài Vinh tại vị 5 năm 6 tháng, năm lần sáu vừa khéo lại là số 30.
Năm 959, Sài Vinh muốn thu phục 16 châu ở Yên Nam, thống lĩnh đại quân, tiến đánh U Châu. Khi xa giá đến quan Ngõa Kiều, Sài Vinh đứng ở trên cao nhìn xuống, nghe người dân nói nơi này gọi là “Bệnh Long Đài” (“bệnh long” ý là rồng bệnh), thì lập tức lên ngựa quay trở về.
Ngay đêm hôm đó phần ngực ông bị lở loét. Không lâu sau vết loét trên ngực của Sài Vinh lan rộng thối rữa mà chết. Mọi người lúc đó đều truyền tai nhau rằng đây là quả báo chém vào ngực của tượng Phật. Con trai 5 tuổi của Sài Vinh lên ngôi không được một năm, đã bị thống soái Triệu Khuông Dẫn đoạt mất giang sơn, rơi vào cảnh nước mất nhà tan.
Có thể thấy, cái chết của Sài Vinh không hề vô duyên vô cớ, tất cả là do bản thân ông ta gieo nhân ác mà thành. Đây chính là lời cảnh tỉnh của thiên thượng đối với con người thế gian, thế nhưng người đời lại cho là ngẫu nhiên, đều không muốn nghe, không muốn hiểu.
Nhân quả trên đời chính là điều công bằng nhất, dù là ai hành ác đều phải chịu báo ứng tương xứng. Một người làm chuyện bất nhân bất nghĩa, thì tất nhiên đời sau phải chịu khổ nạn để hoàn trả. Thế nhưng, khi tiêu chuẩn đạo đức của cả xã hội trở nên không còn tốt, lòng người không còn có đạo đức để tự ước thúc bản thân, thì nhân loại đã ở trong tình cảnh nguy hiểm cực kỳ.
Lịch sử nhân loại chính là vở kịch được lặp lại, và những gì từng xảy ra trong quá khứ khiến cho chúng ta không thể không tự suy xét lại.

Con tàu Noah huyền thoại .

Chắc hẳn nhiều người đã từng nghe về con tàu Noah đã giúp con người vượt qua cơn đại hồng thủy trong Kinh Thánh ra sao. Đối với những người theo đạo Thiên Chúa và những ai đã từng đọc Kinh Thánh thì hẳn đã biết ngọn ngành về truyền thuyết này.

Theo ghi chép trong Kinh Thánh, thủy tổ của loài người là Adam và Eva vì vi phạm luật trời nên bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng. Sau đó, họ tới mặt đất, sinh sôi nảy nở đời này nối tiếp đời kia làm con người tràn đầy khắp thế giới. Thế nhưng theo đó tội ác của họ cũng ngày một ngập tràn.[Image: BcKCN8.jpg]

Vào một ngày kia, khi chứng kiến những tội ác mà con người gây ra, Thượng đế cảm thấy tức giận và hối hận vì đã tạo ra loài người. Ngài đã quyết định sẽ tạo ra một cơn đại hồng thuỷ để quét sạch hết thảy những mầm mống của tội ác.

Lúc bấy giờ, ở trên mặt đất, có một người tên Noah lòng dạ ngay thẳng. Thượng đế không nỡ giết hại nên đã báo mộng cho ông biết trước. Ngài khuyên bảo Noah hãy đóng một chiếc thuyền thật lớn để có thể chứa được tất cả những người thân trong gia đình cùng tất cả mọi loài động vật, nhưng mỗi loài chỉ được mang theo 1 cặp.

Nghe theo lời Thượng đế, Noah đã đóng một chiếc thuyền khổng lồ, dài 150m, rộng 23m, cao 13,6m, chia làm 3 tầng, rồi đưa tất cả các loài động vật lên đó, mỗi loài chỉ có 1 cặp y như lời Thượng đế nói. Ngay khi Noah cùng gia đình mình lên thuyền thì cũng là lúc cơn đại hồng thuỷ ập đến.

Quả nhiên, nguồn nước ở vực sâu nứt ra, tràn ngập khắp nơi, một cơn mưa lớn và dữ dội kéo dài suốt 40 ngày đêm. Thượng đế đã trừng phạt loài người, mọi tội ác cùng với sự sống bị tiêu diệt, trừ những sinh vật trên tàu Noah. Noah và các loài động vật ở trên thuyền 150 ngày, cuối cùng con tàu thả neo ở Ararat (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ).

Sau khi trận lụt kinh hoàng, nước rút dần khỏi mặt đất, Noah thả một con chim bồ câu bay đi xem tình hình bên ngoài. Lần thứ nhất, con bồ câu không tìm được chỗ đậu chân vì nước chưa rút, nên nó lại bay về tàu. Bảy ngày sau, con bồ câu lại được thả ra lần nữa, lần này nó bay trở về, trên mỏ ngậm cành lá ô liu tươi.

Ông Noah biết là nước đã rút xuống, mặt đất đã yên bình vì Thiên Chúa đã thôi cơn thịnh nộ. Ông tiếp tục thả con bồ câu ra, lần này nó bay đi không quay trở về nữa. Ngày nay, gắn với chiếc tàu Noah này hình ảnh chim bồ câu ngậm cành lá ô liu là biểu tượng của hòa bình.

Và thế là Noah đã đưa tất cả loài động vật ra khỏi thuyền, trở lại mặt đất. Thượng đế đã lập một giao ước với Noah và răn đe loài người rằng: “Các người hãy sinh sôi nảy nở để trám đầy mặt đất, nhưng nhớ rằng hễ các người còn tàn ác, và máu người khác vẫn còn chảy thì máu của các người cũng sẽ phải chảy”.

Mắt sư tử đá biến thành màu đỏ .

Trước đây, ở một ngôi làng nọ, đạo đức của người dân đã trở nên vô cùng xấu xa và bại hoại. Tất cả mọi người đã không còn ai tin vào Thần Phật, nhân quả. Vì vậy họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì họ muốn để chiếm được lợi ích kể cả là những việc tàn ác nhất, giết người hại mệnh.
Chắc hẳn nhiều người đã từng nghe về con tàu Noah đã giúp con người vượt qua cơn đại hồng thủy trong Kinh Thánh ra sao. Đối với những người theo đạo Thiên Chúa và những ai đã từng đọc Kinh Thánh thì hẳn đã biết ngọn ngành về truyền thuyết này.

Theo ghi chép trong Kinh Thánh, thủy tổ của loài người là Adam và Eva vì vi phạm luật trời nên bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng. Sau đó, họ tới mặt đất, sinh sôi nảy nở đời này nối tiếp đời kia làm con người tràn đầy khắp thế giới. Thế nhưng theo đó tội ác của họ cũng ngày một ngập tràn.[Image: BcKCN8.jpg]

Vào một ngày kia, khi chứng kiến những tội ác mà con người gây ra, Thượng đế cảm thấy tức giận và hối hận vì đã tạo ra loài người. Ngài đã quyết định sẽ tạo ra một cơn đại hồng thuỷ để quét sạch hết thảy những mầm mống của tội ác.

Lúc bấy giờ, ở trên mặt đất, có một người tên Noah lòng dạ ngay thẳng. Thượng đế không nỡ giết hại nên đã báo mộng cho ông biết trước. Ngài khuyên bảo Noah hãy đóng một chiếc thuyền thật lớn để có thể chứa được tất cả những người thân trong gia đình cùng tất cả mọi loài động vật, nhưng mỗi loài chỉ được mang theo 1 cặp.

Nghe theo lời Thượng đế, Noah đã đóng một chiếc thuyền khổng lồ, dài 150m, rộng 23m, cao 13,6m, chia làm 3 tầng, rồi đưa tất cả các loài động vật lên đó, mỗi loài chỉ có 1 cặp y như lời Thượng đế nói. Ngay khi Noah cùng gia đình mình lên thuyền thì cũng là lúc cơn đại hồng thuỷ ập đến.

Quả nhiên, nguồn nước ở vực sâu nứt ra, tràn ngập khắp nơi, một cơn mưa lớn và dữ dội kéo dài suốt 40 ngày đêm. Thượng đế đã trừng phạt loài người, mọi tội ác cùng với sự sống bị tiêu diệt, trừ những sinh vật trên tàu Noah. Noah và các loài động vật ở trên thuyền 150 ngày, cuối cùng con tàu thả neo ở Ararat (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ).

Sau khi trận lụt kinh hoàng, nước rút dần khỏi mặt đất, Noah thả một con chim bồ câu bay đi xem tình hình bên ngoài. Lần thứ nhất, con bồ câu không tìm được chỗ đậu chân vì nước chưa rút, nên nó lại bay về tàu. Bảy ngày sau, con bồ câu lại được thả ra lần nữa, lần này nó bay trở về, trên mỏ ngậm cành lá ô liu tươi.

Ông Noah biết là nước đã rút xuống, mặt đất đã yên bình vì Thiên Chúa đã thôi cơn thịnh nộ. Ông tiếp tục thả con bồ câu ra, lần này nó bay đi không quay trở về nữa. Ngày nay, gắn với chiếc tàu Noah này hình ảnh chim bồ câu ngậm cành lá ô liu là biểu tượng của hòa bình.

Và thế là Noah đã đưa tất cả loài động vật ra khỏi thuyền, trở lại mặt đất. Thượng đế đã lập một giao ước với Noah và răn đe loài người rằng: “Các người hãy sinh sôi nảy nở để trám đầy mặt đất, nhưng nhớ rằng hễ các người còn tàn ác, và máu người khác vẫn còn chảy thì máu của các người cũng sẽ phải chảy”.


Mắt sư tử đá biến thành màu đỏ
Trước đây, ở một ngôi làng nọ, đạo đức của người dân đã trở nên vô cùng xấu xa và bại hoại. Tất cả mọi người đã không còn ai tin vào Thần Phật, nhân quả. Vì vậy họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì họ muốn để chiếm được lợi ích kể cả là những việc tàn ác nhất, giết người hại mệnh.


Khi Thần Phật thấy con người đã quá xấu như vậy liền muốn tiêu hủy ngôi làng này. Nhưng Địa Tạng Vương Bồ Tát lúc ấy vì vẫn muốn cứu vớt những người lương thiện còn sót lại ở ngôi làng đó nên đã cho họ một cơ hội nữa.

Vị Bồ Tát liền hạ phàm, hóa thân thành một ông lão ăn mày nghèo khổ, rách rưới. Ông lão đi đến từng nhà gõ cửa để xin ăn nhưng không ai chịu cho ông thứ gì dù chỉ là một miếng cơm, cũng không có một nhà nào cúng thờ Phật cả.

Ông lão ăn mày đi đến cuối làng thì phát hiện thấy một bà lão đang sắp lễ, đốt hương cúng Phật. Ông bèn tiến đến trước cửa nhà bà lão để xin ăn. Bà lão thấy vậy nói: “Tôi chỉ còn một bát cơm này, nên sẽ chia cho ông một nửa, một nửa còn lại để bày đồ cúng thờ Phật!”.

Địa Tạng Vương Bồ Tát nhận thấy bà lão này rất thành kính với Phật, tâm địa lương thiện nên trước khi đi vào rừng đã chỉ tay vào đôi sư tử bằng đá đặt ở cổng làng và nói: “Khi nào bà nhìn thấy đôi mắt sư tử đá kia đỏ lên thì chính là lúc ngôi làng này sắp xảy ra lũ lụt lớn. Bà hãy chạy thật nhanh lên ngọn núi, bảo đảm sẽ được bình an!”.

Bà lão nghe thấy vậy vô cùng sửng sốt nhưng trong nháy mắt đã không thấy ông lão ăn mày đâu. Bà lập tức đem tin tức mà mình vừa nghe được nói cho tất cả mọi người trong thôn làng biết.

Bởi vì người trong làng đã không còn ai tin vào Thần Phật, nhân quả, nên kết quả là không một ai tin lời bà, thậm chí họ còn giễu cợt, châm chọc bà. Họ cùng nhau nói rằng: “Mắt của sư tử làm bằng đá, sao có thể biến thành màu đỏ được?”.

Một ngày nọ, mấy thanh niên chơi bời lêu lổng trong thôn muốn đùa giỡn và châm chọc bà lão nên đã dùng thuốc nhuộm đỏ rực mắt của con sư tử đá. Bà lão nhìn thấy mắt sư tử đá đã đỏ rực lên liền lo lắng hướng đến mọi người trong thôn mà hô to: “Chạy mau, sắp lụt rồi!”.

Mọi người trong thôn chứng kiến cảnh bà lão hớt hải như vậy, ai cũng ôm bụng cười sặc sụa. Bà lão thấy không ai tin lời mình nên một mực kêu to hơn, cuối cùng cũng vẫn không có ai nghe.

Bà đành chạy lên núi một mình. Liền ngay lúc đó, lũ bất ngờ từ đâu tràn đến. Bà lão vừa chạy vừa quay đầu nhìn lại chỉ thấy nước lớn dâng lên thật nhanh. Trong chốc lát toàn bộ ngôi làng đã chìm ngập trong biển nước mênh mông.

*****

Khi đạo đức nhân loại bại hoại nghiêm trọng và trượt dốc quá xa khỏi bản tính thiện lương thuở đầu của mình thì ắt sẽ lĩnh chịu sự trừng phạt của Thần Phật.

Thần Phật rất từ bi nhưng cũng rất nghiêm khắc. Lòng từ bi có thể bao dung người tốt hoặc kẻ xấu đã hoàn lương. Còn những kẻ “thập ác bất xá” thì đối diện với họ chính là địa ngục đoạ đày, bể khổ vô biên, huỷ diệt triệt để.
Tuy nhiên, mỗi khi một đại tai nạn sắp ập tới, Thần Phật từ bi đều có những cách thức triển hiện, thông báo, điểm hoá khác nhau. Chỉ là con người có đủ ngộ tính và sự ăn năn để nhận ra không. Có thể được cứu vớt không, có thể tránh được sự huỷ diệt sinh mệnh hay không chính là từ một ý, một niệm của con người mà thành vậy.

Last edited by Rau Sam; 11-17-2019 at 10:56 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-17-2019 , 10:20 AM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
NGUYÊN THẦN LY THỂ XUỐNG ĐỊA NGỤC CHỨNG KIẾN NHÂN QUẢ BÁO ỨNG. (Nguồn: Tinh Hoa.net)

Con người vốn không nhìn thấy thì không tin, vậy nên mà sinh tâm ngờ vực đối với nhân quả báo ứng và luân hồi. Tuy vậy, dù con người có tin hay không, thì báo ứng dưới địa ngục vẫn là những câu chuyện hết sức chân-thực.

Vào đời nhà Thanh, ở Ngô Giang, Giang Tô có một người tên là Khoái Lan Chu, là một vị cư sĩ Phật giáo rất thành kính. Bởi vì ông bản tính lương thiện, lại tín Phật, cho nên mọi người hễ gặp khó khăn thường tìm đến ông nhờ giúp đỡ. Còn ông thì chỉ cần người khác tìm đến cậy nhờ, ông sẽ ngay lập tức trợ giúp người ta không chút kêu ca. Khoái Lan Chu có một người con gái, tên là Ấu Lan, tự Tố Quyên, nàng cùng với cha đều là những Phật tử thành kính, đều tận sức giúp đỡ người khác.
Tuy nhiên, Khoái Lan Chu khi đến tuổi trung niên, trên lưng xuất hiện một vết loét dài, mãi vẫn không khỏi, cuối cùng đã qua đời. Phụ thân chết, Ấu Lan vô cùng đau buồn. Những người thân thích trong nhà lại nói một số lời ngờ vực, đại khái như là: Khoái Lan Chu khi còn sống thành tâm niệm Phật, lại thích làm việc thiện, lẽ nào Phật không phù hộ ông, tại sao lại qua đời sớm như vậy?…
Ấu Lan tâm trạng đang vô cùng đau buồn, lại nghe những lời này, càng thêm thương tâm, nước mắt tuôn lã chã, cuối cùng bản thân cũng đổ bệnh nằm trên giường không dậy nổi. Đến một ngày, Ấu Lan đột nhiên ngồi dậy, nói với người hầu: “Ta sắp chết rồi, sau khi ta chết không cần cử hành tang lễ, hãy để thân thể của ta ở trong phòng chăm sóc tốt, bảy ngày sau, ta sẽ sống lại”. Nói xong thì nàng ngồi xếp bằng đả tọa rồi tắt thở.
Mọi người trong nhà làm theo lời dặn của Ấu Lan, 7 ngày sau, thân thể của cô vẫn nguyên vẹn, hơn nữa sắc mặt lại bắt đầu hồng hào trở lại, lấy tay sờ vào thì thấy người ấm lên, tới nửa đêm ngày thứ 7 thì Ấu Lan liền tỉnh lại.
Sau khi tỉnh lại, nàng nói: “Khi đã tu Phật rồi, thì tuyệt đối không thể không tin nhân quả và báo ứng dưới Địa Ngục”. Tiếp đó nàng bắt đầu kể về những cảnh tượng ở không gian khác mà mình chứng kiến sau khi nguyên thần ly thể.

“Ta sau khi nguyên thần ly thể, thì không nhìn thấy đường đi, chỉ thấy khắp nơi đều là cát phủ, vì thế liền bắt đầu thành tâm niệm kinh Phật, chợt thấy mặt đất bừng sáng, lập tức nhìn thấy cờ quạt tung bay, rồi một vầng hào quang xuất hiện trên đám mây. Sau đó vầng hào quang bắt đầu chầm chậm hạ xuống, lúc này ta mới biết đó chính là Bồ Tát với khuôn mặt từ bi. Vì thế ta lập tức cúi lạy, thỉnh cầu Bồ Tát cứu giúp.

Bồ Tát nói: ‘Ngươi không nên tới nơi này, mau trở về đi thôi’. Lúc này ta nói với Bồ Tát: ‘Cha con hiện ở nơi nào? Cầu xin Người cho nhi nữ nhìn thấy mặt cha một lần’.

Bồ Tát nói: ‘Ông ấy hiện tại đang ở tầng thiên thứ 12 hưởng thanh phúc, nếu ngươi có thể tu thành chính quả, sẽ có hy vọng gặp lại cha ngươi, còn nếu không thì người và trời vĩnh viễn cách trở, khó mà gặp lại”.
Ta sau khi nghe xong, đã biết chỗ ở của cha mình thì buồn vui lẫn lộn, lại không ngừng khóc. Bồ Tát nói: ‘Thôi đừng khóc, ngươi đã đến nơi này, ta sẽ sai người dẫn ngươi xuống Địa Ngục du ngoạn một chuyến, để cho ngươi có thể biết trên đời này gieo nhân nào gặt quả đó, sau khi chết sẽ có một loạt các loại ác báo, khi còn sống làm điều ác, sau khi chết sẽ bị giày vò, không chút sai lệch’.

Lập tức có một vị thị hầu từ vầng sáng trên không trung bay ra, đưa ta xuống Âm ty. Đầu tiên phải bái kiến Diêm Vương, bên cạnh Diêm Vương có mấy tiểu quỷ, mỗi người đều có bộ mặt dữ tợn, giống như người đời miêu tả vậy. Vị người hầu nhìn thấy Diêm Vương, bèn truyền đạt lại lời Bồ Tát nói cho ông biết, Diêm Vương lập tức đứng lên chăm chú lắng nghe. Sau đó Diêm Vương sai tiểu quỷ chỉ dẫn đường, lấy chìa khóa mở cửa, đi qua mấy cánh cửa, bên trong đều là những cảnh tượng Địa ngục hãi hùng, mà bên trong mỗi cánh cửa ta đều nhìn thấy những người đã từng quen biết.

Ví dụ ta nhìn thấy một người phụ nữ ở phía Bắc Ngô Giang, bà thường ngày niệm kinh rất chuyên cần, thường khuyên người làm việc thiện và bố thí, người trong làng cũng coi bà là người lương thiện, nhưng hiện tại bà lại đang ở trong địa ngục chịu cảnh lạnh lẽo run người. Ta nhìn thấy mà giật mình, liền vội vàng hỏi: ‘Đây là một người rất tín Phật, vì sao lại phải chịu khổ như vậy?’ Tiểu quỷ nói: “Người này lòng tham quá lớn, bà ta sở dĩ khuyên người khác bố thí, nhưng thật ra lại tham ô đồ bố thí của người ta, bà ấy cả đời đã lấy của người ta không ít đâu! Hơn nữa bà ta còn cho vay nặng lãi, bóc lột người khác. Cho nên sau khi chết lập tức hạ Địa ngục”.
Không lâu sau, ta lại thấy chị dâu ta cũng đang ở dưới này, hai tay chị ấy bị đóng đinh trên cửa, vô cùng thống khổ, ta vừa nhìn thấy thế thì khóc to, nói chị ấy cũng là một người tín Phật tại sao lại chịu kết cục như vậy? Tiểu quỷ nói: ‘Người này khi còn sống rất đố kỵ, hơn nữa đối với người hầu nữ thì cực kỳ hà khắc, thường xuyên trách mắng ngược đãi, cho nên sau khi chết phải xuống nơi này’. Ta nói: ‘Chị ấy vẫn thường xuyên vào chùa miếu thắp hương bái Phật, điều này lẽ nào không làm tiêu tan tội lỗi của chị ấy sao?’ Tiểu quỷ nói: ‘Những việc ấy chỉ là một chút việc thiện, không đáng kể gì'”.
Sau đó Ấu Lan còn kể rất nhiều cảnh tượng chịu khổ của những người khác mà nàng chứng kiến, còn nói rõ nguyên nhân chịu khổ của họ là gì. Mọi người nghe xong thì sợ hãi đến sởn gai ốc, đều rút ra bài học cảnh tỉnh cho bản thân mình. Còn Ấu Lan sau khi sống lại, đã sống tiếp 36 năm sau và luôn thành tâm tu hành.

Last edited by Rau Sam; 11-17-2019 at 10:22 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-17-2019 , 07:32 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
LA HÁN CHUYỄN THẾ THÀNH PHÚ-HÀO, NGỘ MỘT CHỮ NHẪN ,TRỞ LẠI TRỜI CAO.

Trong quyển “Bố Đại hòa thượng nhẫn tự ký” của tác giả Trịnh Đình Ngọc triều Nguyên, có thuật lại câu chuyện Bố Đại hòa thượng cảm hóa phú hào. Sau này, vị phú hào đã tu thành La-Hán.


Trong thành Biện Lương có một phú hào họ Lưu tên Khuê, tự là Quân Tá. Tay trắng dựng lập cơ đồ, cả đời cần cù, kiếm được gia sản bạc triệu. Trong danh sách những người giàu có, Lưu phú hào đứng đầu Biện Lương, nhưng cũng là một người keo kiệt bủn xỉn, một xu cũng không chịu mất. Ai muốn lấy một quan tiền của ông ta, chẳng khác nào moi tim, xẻo thịt ông ta vậy.
Mùa đông năm nọ tuyết rơi nặng hạt, có một thư sinh họ Lưu tên là Quân Hữu, từ Lạc Dương đến Biện Lương để học hành. Vì túi tiền cạn kiệt, Lưu thư sinh mấy ngày liền chưa ăn gì, không chịu được đói rét, nằm bất tỉnh ở trước cửa nhà Lưu viên ngoại.
Mặc dù Lưu viên ngoại giữ của như giữ mạng, nhưng bản tính không phải là xấu, liền cứu thư sinh bị hôn mê. Khi hỏi họ tên, thì ra 500 năm trước vẫn là người một nhà, đều họ Lưu, đến cả danh tự cũng trùng khớp, chung tên đệm là Quân, một người tên là “Tá”, một người tên là “Hữu”. Lưu viên ngoại nhất thời cao hứng, liền nhận thư sinh làm nghĩa đệ. Từ đó, thư sinh ở trong phủ Lưu viên ngoại chăm chỉ cần mẫn làm những việc vặt vãnh như cho vay lấy lãi.

Chớp mắt nửa năm đã trôi qua. Bố Đại hòa thượng đến thành Biện Lương, vừa đi đường vừa giáo hóa, tự tại hát vang lời hát trong kinh Phật: “Hành dã Bố Đại, tọa dã Bố Đại, phương hạ Bố Đại, đáo đại tự tại”. Hòa thượng biết Lưu Quân Tá là người bủn xỉn keo kiệt. Vì muốn cảm hóa ông ta, nên đã cố ý đến trước cửa nhà họ Lưu.
Vì Bố Đại hòa thượng bụng phệ, Lưu gia nhân thi nhau chế nhạo ông. Bố Đại hòa thượng không tức giận cũng không buồn bã, chỉ cười ha ha nói: “Ngươi cười ta không có, ta lại cười ngươi có, vạn sự luôn xoay vần đổi thay, mọi người đều tay trắng”.

Lưu viên ngoại không hiểu Phật pháp là gì, Bố Đại hòa thượng muốn viết trên giấy cho ông ta vài chữ. Lưu viên ngoại coi của cải như mạng, không nỡ tốn một tờ giấy. Thế là Bố Đại hòa thượng liền viết lên tay ông ta một từ “nhẫn”, rồi dặn dò: “Chữ nhẫn là bảo bối ông phải luôn mang theo bên mình”. Sau khi Bố Đại hòa thượng đi, bất luận Lưu viên ngoại rửa thế nào, cũng không rửa sạch được chữ nhẫn ở trong lòng bàn tay.
Một hôm, người đòi nợ đến Lưu phủ, muốn đòi lại một khoản tiền mà Lưu viên ngoại nợ. Lưu viên ngoại tiếc của, không muốn trả, thế là xảy ra tranh chấp. Chủ nợ chửi bới đủ điều, Lưu viên ngoại nổi trận lôi đình, cuối cùng lỡ tay giết chết chủ nợ.

Theo pháp luật, giết người phải đền mạng. Lưu viên ngoại muốn vứt bỏ gia nghiệp, trốn đi nơi khác. Đúng lúc bị Bố Đại hòa thượng bắt gặp. Lưu viên ngoại khẩn cầu hòa thượng cứu mạng, đồng thời đồng ý từ giờ tình nguyện xuất gia, một lòng bái Phật. Bố Đại hòa thượng than rằng: “Ta dạy ngươi phải nhẫn nhịn, ngươi vẫn không nhẫn nhịn nổi”.
Để kết thúc ân oán giữa bọn họ ở nhân gian, Bố Đại hòa thượng cứu sống chủ nợ, làm chủ nợ chết đi sống lại. Lưu viên ngoại trả lại số tiền đã vay, nhưng lại hối hận không muốn xuất gia nữa. Gia nghiệp ruộng đất tài sản, vợ đẹp con thơ, làm sao có thể nhẫn tâm vứt bỏ?

Bố Đại hòa thượng bảo ông ta kết một am cỏ ở vườn sau, bảo ông ta tu hành tại gia một thời gian, còn dặn rằng: “Vạn sự phải nhẫn”.
Lưu viên ngoại nghĩ, cả đời mình đều bị tiền bạc giày vò đủ kiểu. Vì tiền, mà tâm can đảo lộn, ăn không ngon, ngủ không yên. Sợ trộm cắp, sợ cướp bóc, còn phải đề phòng hỏa hoạn. Ông ta nhìn chữ nhẫn trong lòng bàn tay, dần dần nghiệm ra chân lý: Thì ra bản thân mình là một kẻ hám tiền, đó chính là một con dao giết người.
Một mình ở trong am cỏ, nhìn hoa nở én bay, chớp mắt mùa xuân lại tới. Lưu viên ngoại tâm hồn thanh tịnh, dần dần có thể kiểm soát được tính cách bốc đồng nóng vội của mình. Nghĩ lại trước kia giở mọi chiêu trò để cưỡng ép người khác, thật không dám nhớ lại.

Một hôm, con trai của Lưu viên ngoại đột ngột đến báo, nói rằng thúc thúc và mẫu thân ngày ngày đều uống rượu bầu bạn. Lưu viên ngoại nghe xong, vô cùng kinh ngạc. Lúc đầu cứu thư sinh nọ, nhận hắn làm nghĩa đệ. Giờ mình tu hành tại gia, gia nghiệp đều giao cho hắn trông coi, hắn lại dám làm chuyện xằng bậy như vậy. Thật là tức chết!
Lưu viên ngoại nhịn không được, liền vào bếp lấy một con dao, muốn đi báo thù. Nhưng khi ông ta giơ dao lên, vô tình nhìn thấy chữ nhẫn ở trên tay. Ông ta nhận ra rằng, trái tim mình như đang bị một mũi dao đâm vào.
Lưu viên ngoại không để tâm ai đúng ai sai, không tham sân si, từ đó xuất gia tu hành. Nhiều năm về sau, Lưu viên ngoại biết được nguồn gốc của mình, thì ra là Tân Đầu Lô La Hán ở thượng giới. Vì trước đây lưu luyến trần tục, nên mới xuống hạ giới. Người đòi nợ đó là Phục Hổ thiền sư hóa thành, đến cả thê tử và con cái, đều là tiên nhân ở trên trời.

Lưu viên ngoại – Tân Đầu Lô La Hán hạ phàm phiêu bạt trần thế, sau khi trải nghiệm vinh hoa phú quý và những chuyện ân oán giữa người với người, lại trở lại thiên giới. Một vở kịch ồn ào náo nhiệt, khi tiệc tan mộng tỉnh, mới biết rốt cuộc đôi bên là ai. Quả đúng là: “Ai ai cũng có một giấc mộng, thiên biến vạn hóa. Khi tỉnh dậy tâm tình hỗn loạn, tất cả đều do nội tâm mà ra”.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-18-2019 , 01:10 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
KHAI THỊ NIỆM PHẬT - HT THÍCH MINH THÔNG (RẤT HAY)

https://www.youtube.com/watch?v=bXbAp-_6tlw
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-18-2019 , 04:12 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
MIỆT MÀI TÌM KIẾM THUẬT DƯỠNG SINH, KỲ NHÂN ĐÃ HIỂU ĐƯỢC ĐẠO CỦA TRƯỞNG THỌ. (Nguồn :Tinh Hoa.net)

Lịch sử đã có rất nhiều ghi chép về những người trường thọ. Họ đều có một điểm chung chính là thường xuyên tĩnh tâm tọa thiền, ít ham muốn dục vọng, sống hòa hợp với thiên nhiên. Dưới đây là câu chuyện trường thọ của một kỳ nhân thời nhà Minh.
Thời nhà Minh, có một người trường thọ tên là Vương Sĩ Năng. Theo ghi chép trong “Canh Tỵ biên”, Vương Sĩ Năng là người Hải Châu, ông sinh ra vào thời nhà Nguyên năm Chí Chính thứ 24 (năm 1364), đến năm Thành Hóa Quý Mão (năm 1483), lúc này ông đã 120 tuổi. Minh Hiến Tông hạ chiếu mời Vương Sĩ Năng vào cung, hỏi han về đạo dưỡng sinh của ông.

Vương Sĩ Năng từ nhỏ đã có hứng thú với thuật dưỡng sinh trường sinh, từng rời bỏ quê hương để du ngoạn tứ phương tìm kiếm danh sư.
Có một năm, Vương Sĩ Năng đến Tứ Xuyên, nghe nói trên núi Tuyết Sơn có một cụ già thần kỳ đang cư ngụ, thế là bái mộ danh tiếng liền đến kính thăm.
Vương Sĩ Năng nhìn thấy cụ già khoác áo nỉ, nằm ở trên giường. Hình dáng cụ già thấp bé, nhưng diện mạo ngũ quan và chân tay lại như trẻ sơ sinh. Vương Sĩ Năng kính cẩn lễ bái, nhưng cụ già không trả lời. Vương Sĩ Năng một lòng muốn học đạo, nên can tâm tình nguyện hầu hạ cụ già.
Cụ già ăn rất ít, ở bên cạnh ghế ngồi có một cái túi, bên trong đựng một thứ trông giống như mì khô. Thỉnh thoảng, mang ra ăn một chút, hoặc là uống 1, 2 thâng nước suối từ khe núi.
Vương Sĩ Năng ở mấy ngày, số ngũ cốc mang theo đã ăn hết, liền quỳ trước mặt cụ già xin đồ ăn. Cụ già liền đem đồ ở trong túi chia cho ông. Sĩ Năng nếm thử một miếng, thấy vừa đắng vừa chát, quả thực là nuốt không trôi, đành phải vào trong núi nhặt quả dại, đào rễ củ rau rừng ăn chống đói.

Ở trên núi 3 năm, Vương Sĩ Năng rất cần mẫn hầu hạ cụ già, mặc dù vất vả nhưng ông không hề kêu than. Cụ già thương hại ông, một hôm liền nói: “Ta có thể truyền đạo cho người rồi. Ngươi cuối cùng rồi cũng phải xuất sơn. Sau này, nếu như không phải người có căn khí tốt, thì không được tùy tiện truyền thụ”.
Lập tức cụ già truyền thụ cho Vương Sĩ Năng phương pháp tu đạo trường sinh. Sau khi Vương Sĩ Năng học thành công, bèn nói lời từ biệt.

Rất lâu sau đó, Vương Sĩ Năng đến Tế Ninh, sống trong một ngõ sâu heo hút ở bên ngoài phía đông thành, hàng ngày hầu như không ăn thức ăn chín của nhân gian, chỉ ăn mấy quả táo, mấy cọng rau xanh, thậm chí hiếm khi uống nước.
Mặc dù đầu Vương Sĩ Năng bạc trắng, nhưng da dẻ mịn màng như một đứa trẻ, mọi người lúc bấy giờ đều cảm thấy ông kỳ lạ khác thường.
Vương Tuyên – Chỉ huy sứ Tế Ninh cũng là người Hải Châu, nghe nói có người đồng hương kỳ lạ như vậy, đặc biệt đến bái kiến. Khi biết tên của Vương Sĩ Năng, Vương Tuyên kinh ngạc nói: “Ta nghe tổ tiên nói, ta có một vị thúc tổ tên là Vương Sĩ Năng, từ nhỏ đã yêu thích đạo mà bỏ nhà đi, không ai biết thúc ấy đi đâu, không phải chính là ngài đó chứ?”
Hỏi han chuyện nhà cửa ngày xưa, câu trả lời của Vương Sĩ Năng và những gì mà Vương Tuyên biết đều trùng khớp. Sau đó, Vương Tuyên ngày nào cũng đến thăm Vương Sĩ Năng. Mọi người trong châu nghe chuyện, lũ lượt kéo đến biếu tặng quà, Vương Sĩ Năng đều cảm ơn và từ chối không nhận.

Một hôm, Vương Tuyên dẫn theo một quan viên đến gặp Vương Sĩ Năng. Vị quan viên muốn học một chút đạo thuật, Vương Sĩ Năng nhìn tướng mạo của người đó và nói: “Ngươi chìm đắm vào thanh sắc, ngày nào cũng làm chuyện phóng đãng, không thể là đệ tử của ta được!”. Vị quan viên đó vô cùng xấu hổ.

Sau đó vị quan viên này đã dâng tấu sớ lên triều đình, tiến cử Vương Sĩ Năng. Triều đình hạ lệnh các quan viên Sơn Đông phải chuẩn bị xe ngựa nghênh đón Vương Sĩ Năng vào kinh gặp thánh thượng. Vương Hiến Tông tiếp đón ông rất long trọng, còn trọng thưởng.
Vương Sĩ Năng sống trong ngõ sâu heo hút, ngày nào cũng nhắm mắt dưỡng thần, khoan thai tĩnh tọa. Mỗi lần có khách đến thăm, những lời răn dạy ông nói nhiều nhất với khách đó là: “Phải tĩnh tọa, tĩnh tâm ít dục vọng…”
Năm Bính Ngọ (năm 1486) tiên sinh Dương Nam Phong vì công vụ nên ghé qua Tế Ninh, cải trang đến thăm hỏi Vương Sĩ Năng, thấy ông đang mặc bộ thiền y màu trắng, ngồi ngay ngắn trên ghế gỗ.
Lúc này Vương Sĩ Năng đã 123 tuổi, nhưng trông như người mới 40-50 tuổi. Dương Nam Phong muốn thỉnh giáo đạo trường thọ của Vương Sĩ Năng, Vương Sĩ Năng nói: “Cũng không có phương pháp gì đặc biệt, chỉ có ăn chay, không lấy vợ, không tính toán, không tranh giành, không tức giận”. Dương Nam Phong cảm khái tán thán, cáo từ về nhà.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-18-2019 , 06:46 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
CHỊ EM QUAN TÂM: Phẫu thuật thẩm mỹ liên quan đến vận khí như thế nào?

Thuật số phương Đông có thể từ nhân tướng, diện tướng mà nhìn ra vận khí của một đời người, thế thì một người qua phẫu thuật thẩm mỹ chỉnh sửa khuôn mặt rồi thì vận mệnh có thay đổi theo hay không? Chị em nào muốn cải biến nhan sắc thì hãy xem qua bài viết này nhé.

Từng có rất nhiều người hỏi tác giả rằng nếu có thể từ tướng mạo nhìn ra phú quý nghèo hèn của một người, vậy phải chăng thông qua phẫu thuật có thể thay đổi vận mệnh?

Căn cứ vào vấn đề này, tác giả trả lời như sau: “Có thể cải biến một bộ phận trong vận mệnh, nhưng phần lớn là sau khi phẫu thuật thẩm mỹ vận mệnh sẽ không tốt, chỉ số ít vận mệnh cải biến tốt”.
Bởi vì rất nhiều nhà phẫu thuật thẩm mỹ không hiểu nhân tướng học, nhận thức của họ về “Đẹp” và “Cát” tướng của diện mạo là không đồng nhất. Vậy nên thường phẫu thuật cho từng chỗ đều trở nên “Đẹp”, nhưng không còn “Cát” nữa. (Cát trong từ Cát Tường, tức là phúc lành).
Lòng thích cái đẹp, mọi người đều có, không có gì đáng trách, nhưng rất nhiều người đi phẫu thuật thẩm mỹ, là chiểu theo thần tượng nào đó mà làm, lại không hiểu, mỗi người có gen di truyền khác nhau, đều có lành dữ tương ứng, xương cốt của bạn.
Tướng mạo của bạn là từ gen của bạn mà ra, nếu đổi thành tướng mạo thành của người khác, đó chính là không tương đồng với gen của bản thân mình, tất sẽ làm cho vận khí bị đảo loạn.
Rất nhiều phẫu thuật thẩm mỹ thất bại, khiến không những không đẹp hơn mà ngược lại còn phá hủy đi dung nhan, chẳng phải có rất nhiều ví dụ rồi sao?
Để phẫu thuật thẩm mỹ, nhiều người phung phí món tiền khổng lồ, kết quả để lại hậu quả khôn lường, rất nhiều người phẫu thuật thẩm mỹ thất bại, gần như sống không bằng chết. Vì mù quáng phẫu thuật thẩm mỹ, khiến bản thân hối hận cả đời! Vận mệnh từ đó chuyển biến đột ngột!
Dù có người phẫu thuật thẩm mỹ thành công, nhưng vận mệnh lại không như ý, rất nhiều cô gái đi nâng mũi, kết quả mũi đã cao lên, nhưng hôn nhân thì tan vỡ, thân thể cũng trở nên không tốt.

Bởi vì cái mũi trong nhân tướng học thuộc cung vợ chồng, vị trí sống mũi thuộc về cung bệnh tật, động cái mũi, tương đương với động đến hôn nhân và thân thể. Cho nên rất nhiều cô gái sau khi nâng mũi, nếu hôn nhân không xảy ra vấn đề thì thân thể cũng sẽ xảy ra vấn đề một cách khó hiểu.
Nhiều cô gái thấy mũi mình không đẹp, mũi tẹt, thật ra cô gái có mũi tẹt thường là tướng vượng phu (trợ giúp chồng thành công), sống mũi mà cao, thì cắt giảm vận khí của chồng. Cho nên, một số phụ nữ chỉnh xong cái mũi thì vận khí của chồng họ lại tệ đi. Như vậy không phải tự tìm đến họa sao?
Quãng đời tốt đẹp lại không muốn sống, mò mẫm một hồi, kết quả “Đẹp” thì có, mà vận khí lại không. Thế gian chính là âm dương cân bằng như thế, cho bạn “Đẹp” chỗ này, tất nhiên cho vận khí của bạn “thấp đi” chút xíu, đó chính là được mất cân bằng, được “Đẹp” mất “Vận”.
Có cô gái, nhất là các cô gái trẻ tuổi thích cái cằm nhọn, cái cằm nhọn như mũi khoan, mọi người thường gọi là “mặt mũi khoan”. Loại khuôn mặt này, không biết quan điểm lệch lạc nào lại cho nó là rất tốt; trong mắt tôi, nó đặc biệt khó nhìn! Nhìn vào là thấy cơ cực, nhiều người nam đều không thích!
Nếu bạn có cái cằm rộng, không nên phẫu thuật mài thành nhọn, nếu làm vậy đồng nghĩa với đem cái phúc tướng tốt đẹp cải biến thành cơ khổ nghèo hèn. Trong nhân tướng học, thì thiên đình (trán) phải đầy đặn, địa các (cằm) phải vuông dày. Địa cát chính là cái cằm, lấy vuông dày làm tốt, chỗ này quản vận tuổi già, đại biểu phúc lộc. Cằm vuông dày, phúc lộc dày, vận khí tuổi già tốt, tuổi già có phúc không lo.
Bạn lại gọt thành cái cằm nhọn, đem phúc lộc đều gọt cho sạch, là điềm báo cho tuổi già vô phúc, cơ cực! Bạn nhìn có phụ nữ giàu sang hoặc có chồng quan quý chẳng phải đều có cái cằm vuông dày, rộng rãi đó sao? Nào ai có cằm nhọn? Chỉ có kẻ hèn mạt, gian xảo mới có gương mặt như vậy, nhưng cuối cùng đều không có kết cục tốt!
Trong nhân tướng học, mặt mũi khoan, cằm nhọn, là tướng đào hoa, hôn nhân không tốt; là tướng khắc chồng vô phúc! Là một trong những tướng mạo kém nhất! Các cô gái đừng nên giày xéo bản thân mình!
Đem “phúc tướng” tốt đẹp cải thành “hung tướng”. Bạn bây giờ cho rằng cái cằm nhọn là đẹp, khi bạn đến một độ tuổi khác, thẩm mỹ quan thay đổi, khi đó bạn sẽ nhìn cái đẹp khác trước kia. Khi đó mới muốn thay đổi trở lại, vô cùng khó. Đừng vì cảm xúc nhất thời mà tạo thành tiếc nuối cả đời. Hãy thận trọng!
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-19-2019 , 01:51 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
NGƯỜI TU VÀ 3 THỨ NÊN BUÔNG (Hòa Thượng Giới-luật-sư Thích Minh Thông )

https://www.youtube.com/watch?v=hnvkXshUY0w
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-20-2019 , 01:09 AM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
NHẮC NHỞ TU HÀNH ( HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH ). ( 95 tuổi).

https://www.youtube.com/watch?v=tyXdPQZwr1c

Last edited by Rau Sam; 11-22-2019 at 11:31 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-22-2019 , 11:30 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
GIỚI LUẬT ĐẠI CƯƠNG (Hòa Thương Giới sư Thích Minh Thông)

https://www.youtube.com/watch?v=cFcUlbEmMjs

Last edited by Rau Sam; 11-23-2019 at 10:08 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-23-2019 , 05:28 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO- NGHIỆP VÃNG-SANH LƯU NHỤC-THÂN BẤT HOẠI -( Hòa Thượng Hải Hiền)

https://www.youtube.com/watch?v=wR9m3IeZcH8
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-26-2019 , 10:30 AM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
12 LỜI NGUYỆN CỦA BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM.(Thích Tuệ-Hải)

https://www.youtube.com/watch?v=QrtRh0ZE9Og
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-27-2019 , 03:01 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
SỔ SINH-TỬ DƯỚI ÂM-GIAN : Sinh mệnh mỗi người đã được định trước.
( Nguồn:Tinh Hoa.net)
Tương truyền, dưới âm gian có một thứ gọi là “sổ sinh tử”, tức sổ thọ mệnh. Khi ngày tử ghi trong sổ đã đến, Diêm Vương sẽ sai âm binh đưa hồn phách người chết xuống địa phủ để tiếp nhận thẩm phán.

Một cư sỹ tên là Lý Tử Khoan từng được đưa đến âm gian, tại đây anh vô tình thấy cuốn sổ sinh tử ghi chép chi tiết thọ mệnh của con người. Anh đã viết lại những trải nghiệm kỳ lạ của mình và gọi đó là “Lược thuật nhân duyên học Phật và câu chuyện hộ giáo của tôi”.
Dưới âm gian có một thứ gọi là “sổ sinh tử”, khi ngày tử ghi trong sổ đã đến, người cũng đến lúc phải chết. (Ảnh minh họa)

Câu chuyện ấy đại thể như sau:
–***–
Tôi sinh ra trong gia đình Nho học, từ các cụ cao tằng tổ cho đến cha tôi đều theo nghiệp Nho gia. Hầu hết các thư tịch lưu giữ trong nhà đều là kinh thư, sử sách, tử tập, thí thiếp và thời văn, nhưng không có một cuốn kinh Phật nào. Tuy nhiên, trong điện thờ ở chính đường lại có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.Thuở nhỏ khi còn học ở trường tư thục, tôi rất thích đọc các loại sách như “Âm chất văn” (sách về tốt – xấu, họa – phúc Thiên định), “Khuyến thiện thư” (sách khuyên hành thiện tích đức) và các loại tiểu thuyết kinh điển, đặc biệt là cuốn “Tây du ký”. Tôi cũng thường tụng niệm câu châm ngôn sáu chữ “Án ma ni bát di hồng” mà pháp sư Huyền Trang thường niệm, bởi tôi cho rằng câu chú ngữ ấy có thể hàng phục yêu ma quỷ quái. Mỗi khi Đường Huyền Trang gặp nạn, Quán Thế Âm Bồ Tát đều lập tức đến cứu hộ, do đó khi trong lòng thấy kinh sợ, tôi đều niệm Thánh hiệu của Bồ Tát để nỗi sợ hãi tiêu tan.
Một hôm trên đường đến thăm một người cô ở Hà Tây, lúc qua cầu tôi đã bất cẩn ngã xuống sông, may mắn có người cứu vớt nên tôi mới tránh khỏi chết đuối. Tuy nhiên khi trở về nhà tôi lại đổ bệnh, sốt cao nhiều ngày liền, dẫu uống bao nhiêu thuốc cũng không thuyên giảm. Cha mẹ tôi buồn rầu lo lắng, bèn mời thầy phù thủy về làm lễ cúng tế, tục gọi là chiêu hồn.


Lý Tử Khoan được Quán Thế Âm bảo hộ.
Tôi nằm mê man trên giường, trong lúc hôn mê tôi thấy có mấy người phu khuân vác vừa đen vừa xấu, khiêng kiệu tre đến và kéo tôi vào trong kiệu, rồi họ chạy như bay không biết về phương nào. Tôi niệm Thánh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, quả nhiên thấy Bồ Tát hiện thân đi theo bảo hộ. Chiếc kiệu được đưa đến trước một cung điện, rồi lách qua cửa bên mà vào. Khi qua mấy hành lang quanh co tôi nhìn thấy bên trong có rất nhiều người đang chịu cực hình như dao cưa, vạc dầu, lửa thiêu, đánh gậy… chỉ cần liếc nhìn qua là đã thấy kinh sợ. Cuối cùng cũng đến hậu cung, tại đó có một vị vương gia đang ngồi trên bảo tọa, diện mạo nghiêm trang, bên cạnh là viên thủ thư quản lý sổ sách. Tôi được lệnh quỳ dưới điện.
Vương gia hỏi thủ thư rằng: “Người này đã hết thọ mệnh chưa?” Viên thủ thư mở sổ sách ra tra cứu, lúc đó tôi nhìn thấy bên trong cuốn sổ có một trang ghi tên cha tôi, ghi rõ ngày 15 tháng 9 năm nay sẽ chết, còn trang ghi tên tôi thì dường như số mệnh là 49 tuổi. Viên thủ thư nói với vương gia rằng: “Người này chưa hết thọ mệnh, xin vương gia cho anh ta trở về”.
Tôi khấu đầu lạy tạ, rồi tha thiết cầu xin được giảm 10 năm tuổi thọ để tăng cho cha tôi. Nhưng vương gia nhất quyết từ chối, chỉ phất tay ra lệnh cho quỷ sai đưa tôi đi. Tôi vẫn ngồi trên chiếc kiệu tre, bay vun vút trong không trung, nhìn thấy rõ ràng phía trước vẫn là Quán Thế Âm Bồ Tát đang bảo hộ theo kiệu. Đến khi chiếc kiệu đâm vào mái hiên nhà tôi, chỉ thấy có ánh lửa lóe lên rồi tôi liền tỉnh dậy.

Lúc ấy cả cha và mẹ đang ngồi trước giường, thấy tôi mở mắt thì ai nấy đều vỡ òa trong hạnh phúc. Tôi xin một bát trà nóng, uống vào thì thấy bệnh đã hoàn toàn khỏi hẳn. Những sự tình tôi trông thấy lúc hôn mê vẫn hiện lên sống động trong đầu, nhưng tôi không dám tiết lộ cho cha mẹ biết. Một ngày sau khi tôi khỏi bệnh, tức ngày mồng 1 tháng 9, thì cha tôi cũng liền phát bệnh, đến ngày 15 thì ông nhắm mắt từ trần…

Người ta nói: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, đời người thành hay bại, vinh hay nhục, giàu sang hay nghèo hèn, sống thọ hay yểu mệnh… hết thảy đều đã được an bài. Con người không thay đổi được vận số, nhưng lại có thể làm chủ được đức hạnh của mình. Người cư sỹ Lý Tử Khoan kia dẫu muốn giảm 10 năm của bản thân để kéo dài tuổi thọ cho cha thì cũng không thể được. Một người thường sao có thể thay đổi mệnh Trời được đây
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-27-2019 , 09:52 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
HOÀ THƯỢNG XÂY CHÙA 100 TỶ trong 3 năm - Những chia sẻ AI CŨNG NÊN NGHE(Hoa Thuong Gioi Su: Thich Minh Thong)

https://www.youtube.com/watch?v=11FEI2WBbvU

Last edited by Rau Sam; 11-27-2019 at 09:54 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-27-2019 , 11:10 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
LẢO HOÀ THƯỢNG KỂ CHUYỆN PHẬT-GIÁO-(Quyển 1)

https://www.youtube.com/watch?v=zTMNZTgbfcQ
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-30-2019 , 08:00 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
GIẢI NGHI-VAN. Hoà Thượng Diệu Liên giảng giải

https://www.youtube.com/watch?v=27-dGj3dfvI

Last edited by Rau Sam; 12-01-2019 at 11:32 AM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 384
Old 11-30-2019 , 08:41 PM     Rau Sam est actuellement connect  search   Quote  
NHÂN-QUẢ BÁO ỨNG: Chuyện ông Thủ Huồng xuống âm gian và sự tích bến Nhà Bè.(Nguồn: tinh Hoa.net)

Người dân Nam bộ, hầu như ai cũng từng nghe qua câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Không chỉ địa danh Nhà Bè, mà cả chùa Chúc Thọ ở Cù Lao Phố (Biên Hòa) đều gắn với những giai thoại về ông Thủ Huồng.

Có một cây cầu đá bắc qua một con rạch nhỏ trên sông Đồng Nai (đoạn chảy qua phường Bửu Hòa, TP Biên Hòa) mà dân gian gọi là cầu Thủ Huồng.
Ở vùng đất Biên Hòa, Đồng Nai, cầu Thủ Huồng (nay không còn), rạch Thủ Huồng, đều là những công trình ghi dấu tên người có công dựng nên.
Ngày xưa, tại vùng Gia Định có một người tên Võ Hữu Hoằng giữ chức thư lại trong nha môn. Tên ông vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Trong 20 năm làm việc nha môn, ông đã thâu tóm được nhiều tiền của. Vợ ông chẳng may qua đời sớm, gia đình lại không con mà tiền bạc vô cùng thừa thãi, Thủ Huồng cáo quan về vui thú điền viên.
Tình cảm ông Thủ Huồng dành cho vợ rất sâu sắc, nên khi có người mách ông rằng chợ Mãnh Ma, Quảng Yên, ở phía Bắc là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm gặp vợ.
Tiếng đồn quả không sai, ông Võ tìm đến chợ và gặp được người vợ. Hai bên hàn huyên hồi lâu, khi chuyện trò đã nhạt, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi, người vợ liền đồng ý.
Ở cõi âm, ông tận mắt chứng kiến đủ loại cực hình dành cho người nào phạm nhiều tội ác lúc sinh thời. Hãy còn kinh sợ, ông chợt nhìn thấy một cái gông đặc biệt, vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt nhưng vẫn còn để không, Thủ Huồng bèn hỏi người cai ngục: “Gông này để làm gì?”.
Người cai ngục đáp: “Để chờ một kẻ gian ác bậc nhất là Võ Hữu Hoằng, hiện đang sống tại huyện Phước Chính, tỉnh Gia Định, nước Đại Nam. Năm Ất Sửu, hắn sửa hai chữ ‘ngộ sát’ thành ‘cố sát’ làm cho mẹ con Thị Nhãn bị kết án tử, giúp người anh họ chiếm đoạt gia tài. Nhờ việc này Thủ Huồng được mười nén vàng, mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng trong năm đó hắn làm ông Ngô Lại ở thôn Bình Ca bị 2 năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, đoạt không của ông ta 12 mẫu ruộng”.

Thủ Huồng nghe xong thì sợ tái mặt, không ngờ nhất nhất từng việc, từ nhỏ đến lớn của mình trên thế gian thì dưới địa phủ đều rõ mồn một. Thủ Huồng rụng rời chân tay, nhưng vẫn cố hỏi sang chuyện khác: “Thế vợ hắn có bị đeo gông không ông?”. Cai ngục đáp: “Ồ, ai làm người nấy chịu. Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi”.

Thủ Huồng lại lắp bắp hỏi: “Vậy ông ta phải làm gì để khi chết xuống đây không bị đeo gông?”.

Cai ngục đáp: “Phải đem hết những của cải bất nghĩa ấy bố thí đi. May ra sẽ được giảm tội”.

Thủ Huồng đem toàn bộ câu chuyện nói lại với vợ, vợ ông cũng khuyên, khi trở về dương gian nên làm việc thiện để chuộc lại mọi lỗi lầm ngày trước. Thủ Huồng chia tay vợ và hẹn 3 năm sau gặp lại ở chợ Mãnh Ma.

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo tránh triều cường ở ngã ba sông.

Ba năm sau, Thủ Huồng lại được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, lúc này thấy cái gông trước kia đã nhỏ lại rất nhiều. Khi trở về dương gian, lần này ông quyết tâm bán tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà cửa rồi đi đến Biên Hòa, dựng chùa lớn cúng bái Phật. Theo đó, ông lại xuôi sông Đồng Nai để làm những việc nhân nghĩa cuối cùng.

Ngày nay, ở cù lao Phố, tỉnh Đồng Nai còn có một ngôi chùa, tương truyền do Thủ Huồng lập nên và mang tên chùa Thủ Huồng. Con rạch chạy ngang qua đường Tân Vạn vòng qua quốc lộ 1, do chính Thủ Huồng vét nên gọi rạch Thủ Huồng. Chiếc cầu đá trên đường gần sông Đồng Nai đi Tân Vạn cũng gọi cầu Thủ Huồng, vì chính ông là người cho bắc cầu.

Về việc tạo dựng nên Nhà Bè, sách Gia Định thành thông chí chép:
Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến nay vẫn còn.[/i]

Dân gian còn truyền lại rằng, sau có ông vua nhà Thanh tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định. Số là khi mới sanh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Nam Việt, Gia Định, Thủ Hoằng”.

Khi sứ tâu lại mọi chuyện, Nhà vua mới gửi cúng chùa Thủ Huồng một bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương, hiện tượng Phật này vẫn còn ở ngôi chùa Chúc Thọ (tên cũ là chùa Thủ Huồng) tại ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa.

3 pho tượng Phật hiện vẫn còn tại chùa Thủ Huồng ở Cù lao Phố. (Ảnh: dongnai.vncgarden.com)
Do việc này, mà có người bảo rằng: Nhờ thành thật hối lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu tan cái gông đang chờ ông ở cõi âm, mà còn được đi đầu thai làm vua ở Trung Quốc.

Nhà giáo Nguyễn Tài Năng ở Phong Dinh (nay là Cần Thơ), trước 1975, có thơ rằng:
Luân hồi nhân quả trả vay luôn,Đáng kể làm gương có Thủ Huồng.Cho nợ nhiều lời, Diêm chúa giận,Hốt tiền kém nghĩa, thế nhân buồn.Bắc cầu, sửa lộ, ơn ngàn ức,Vét rạch, xây chùa, đức vạn muôn.Còn có Đạo Quang, Tam-Thế-Phật,Làm giàu chánh đáng, mới vuông tròn.

Last edited by Rau Sam; 12-01-2019 at 11:36 AM..
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 02:05 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2020, Jelsoft Enterprises Ltd.