VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 02:13 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Một Sự Thật Linh Nghiệm Của Tụng Kinh,Trì Chú, Niệm Phật
(Nguồn : Trang nhà Quãng Đức)
(Hải Nhân Lão Pháp Sư. Thích Toàn Châu dịch)

Xin mạn phép kể:

Hồi năm 1965 (năm Ất Tỵ), tôi đang tu học tại Chùa Diệu Đế Huế, vào khoảng mồng 10 tháng 11 Ất Tỵ (âm lịch), có mấy đạo hữu đến cầu thỉnh Thầy tôi (cố Hòa Thượng Thích Diệu Hoằng, Trú trì Chùa Diệu Đế hồi đó) qua nhà họ để khai Kinh cầu an cho Mẹ họ đang bệnh nặng. Thầy tôi chấp nhận (Bà bệnh ấy là đệ tử Thầy tôi tên Phan Thị Nguyên, pháp danh Nguyên Thanh), kêu tôi đi theo và dặn: "Ông đem theo áo quần để qua đó ở lại tụng Kinh, và đem thêm Kinh Thủy Sám". Thầy tôi và tôi được rước bằng xích lô đạp qua đó vào buổi sáng. Đó là ngôi nhà xưa (cột v.v... bằng gỗ, lợp ngói), ba căn (không ngăn), thờ Phật ở căn giữa rất trang nghiêm đẹp đẽ. Giữa bàn kinh có bộ Kinh Địa Tạng 3 cuốn, bằng chữ Hán có in âm Việt bên cạnh, và Kinh Thiền Môn Nhựt Tụng, chuông mõ đầy đủ tốt. Người trong nhà cho biết, lúc còn khỏe cụ bà Nguyên Thanh đó hằng ngày thường tụng Kinh Địa Tạng.
Lúc đó chúng tôi thấy bà cụ Nguyên Thanh nằm trên một chiếc ghế gõ tốt (bức phản 4 tấm ván dày) cứ la đau rất lớn tiếng, các người con trai, con gái và dâu đứng xung quanh, người thì nhìn, người thì rờ xoa vào Mẹ họ, mà Bà cứ la đau không ngừng, họ chỉ biết đau lòng thôi, chẳng có cách nào hơn. Vì bà cụ ấy bị bệnh ung thư sưng một cục đỏ lớn ở một bên trước cổ, đã đưa đi chữa tại Sài Gòn, bác sĩ đã đầu hàng. Mấy người con ở Sàigòn, Đà Nẵng đành phải chở Bà về bằng máy bay, đợi ngày chết. Bà cứ nằm lăn qua trở lại kêu la đau, không ai chịu nổi. Thấy hiện trạng và thăm hỏi xong, họ đã đơm hoa quả dâng hương đèn trên bàn Phật, cầu thỉnh Thầy tôi làm lễ cầu nguyện.
Hai thầy trò làm lễ khai Kinh xong, Thầy tôi dạy tôi: "Ông ở đây để hằng ngày tụng Kinh cho Bà. Tụng ba bộ Thủy Sám xong rồi tụng tiếp ba bộ Địa Tạng, mỗi ngày đêm tụng ba thời, mỗi thời một cuốn". Tôi vâng làm theo lời dạy đó, không có một chút ý niệm so tính bất thành kính nào. Cứ tụng và bái sám qua mỗi ngày cho bà thì thấy Bà nhẹ bớt cơn la đau. Tới sáng ngày 14 tháng 11 âm lịch là lệ thường làm lễ Bố Tát của quý Hòa Thượng và toàn thể chư tăng tại Chùa Linh Quang Huế (tới ngày đó thấy Bà đã hết la đau), tôi xin ông Nguyễn Thiện Hạp (con trưởng của bà) và trong nhà, để lên Chùa Linh Quang làm lễ Bố Tát như thường lệ mỗi tháng hai kỳ (tôi mới thọ Tỷ Kheo và Bồ Tát giới vào ngày 19 tháng 6 âm lịch năm đó). Nhưng lạ thay, tôi ở trong nhà đó thì Bà nằm êm đềm, tôi vừa ra khỏi nhà tới ngõ ra đường công cộng thì Bà la lên: "Thầy mô rồi, Thầy mô rồi! Đau quá mời Thầy vô gấp". Ông Hạp chạy ra mời tôi vô. Tôi trở vô thì Bà hết la đau và mừng. Tiếp những ngày sau đó Bà càng lành hẳn, chẳng còn nghe la đau. Điểm đặc biệt là Bà rất tin tưởng Phật Pháp. Trong những lúc tôi tụng Kinh thì Bà chuyên tâm lắng nghe và nằm chấp tay, càng về sau Bà càng khỏe còn ngồi dậy được chấp tay. Bà dặn người con gái (vợ ông Tống Phước Đại, xưa làm quan thuế tại Sài Gòn, giờ hai ông bà ấy đang ở tại Úc với các con họ) nhiều lần: "Phải lo cơm nước, thức ăn tươi tốt cho Thầy". Những lúc tôi không tụng Kinh, Bà hay nói nhảm một mình, tôi khuyên Bà niệm Phật là Bà nghe theo thực hành liền. Có mấy lần Bà nằm nhìn lên mái nhà nói: "Mớ cá đó 15 đồng bán không?", "Ôi! Con rắn to quá!". Tôi chỉ biết khuyên Bà niệm Phật, Bà làm theo là hết và nằm yên.
Vào tối 16 tháng 11 âm lịch, tôi và cả nhà thấy Bà khỏe hẳn như không bệnh chi cả, chứng kiến Bà ngồi chia của cho các con cháu ở gần: "Vải nầy cho con ... (tên gì đó), áo quần và tiền nầy cho vợ chồng thằng ... (tên gì đó)" v.v... . Chúng tôi cứ tưởng Bà sẽ khỏe sống thêm. Nhưng vào lúc 3 giờ 30 thuộc ngày 17 tháng 11 âm lịch, lúc tôi đang ngủ ngon, ông Thiện Hạp tới đánh thức tôi dậy nói: "Thầy ơi, giờ sao thấy Mẹ tôi mệt lắm, xin Thầy dậy tụng Kinh cho Mẹ tôi". Nghe thế, tôi lật đật dậy lo rửa mặt súc miệng rồi đốt hương đèn tụng Kinh liền. Tôi tán, tụng Chú Đại Bi rồi tụng Kinh A Di Đà, niệm Phật, hồi hướng... Hồi đó tôi đang sức trai rất khỏe, tụng chậm rãi rang rảng, chủ ý cho Bà nghe rõ. Tụng gần xong, tới "Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não" v.v... thì nghe mấy người con nói: "Mẹ khỏe lại rồi!". Tôi thầm nghĩ: "Mình tụng là để cho Bà nghe rõ mà vãng sanh, sao Bà lại khỏe trở lại?". Tụng hồi hướng, phục nguyện xong thời Kinh đó, đang mặc y hậu tôi liền bước qua thăm Bà (nằm một bên của ngôi nhà ấy). Thấy tôi qua thăm, Bà ngồi dậy xây mặt về phía tôi (đang đứng gần) chấp tay nói với tôi: "Xin cám ơn Thầy", rồi Bà xá (vái) 3 xá với niềm thành kính, lặng lẽ nằm xuống chết, chẳng thể hiện một chút đau khổ nào. Lúc đó tôi biểu ông Hạp và mọi người trong nhà niệm Phật tiếp trợ cho Bà, mọi người đều thành tín niệm theo tôi. Lúc Bà xá tôi xong nằm xuống chết, thì ông Hạp nhìn đồng hồ đúng 5 giờ sáng (bằng bây giờ 4 giờ sáng), giờ mà các chùa đang làm lễ vía Đức Phật A Di Đà. Thật là phước báo vô biên cho bà Phan Thị Nguyên, pháp danh Nguyên Thanh, chuyển nghiệp rõ ràng nhờ tụng Kinh trì Chú bái sám của một ông Thầy còn nhỏ mới thọ giới và nhờ thiện căn, niềm tin kiên cố của Bà. Lúc đó tôi chưa hiểu gì về giáo lý cao siêu của Phật dạy cả, chỉ bằng niềm tin và tụng niệm bái sám cho Bà bằng tâm thành kính thanh tịnh thôi. Bà ấy có 4 người con trai, kể từ người con đầu trở xuống (tôi nhớ theo đọc sớ): Nguyễn Thiện Hạp, Nguyễn Thiện Toại, Nguyễn Thiện Du, Nguyễn Thiện Giả. Ông Nguyễn Thiện Hạp nay đã 88 tuổi (Ất Mẹo), ở tại số nhà 61 Hoàng Văn Thụ, phường 15, quận Phú Nhuận. Giả sử có ai không tin việc trên, thì hỏi trực tiếp ông Hạp. Ông ấy không đi chùa, nhưng rất chơn chất và rất kính mến tôi. Mới năm ngoái tôi tới thăm, ông nói: "Lúc tôi chết Thầy nhớ tới cầu nguyện cho tôi nghe". Bà Hạp cũng vậy, nay đã 83 tuổi (Canh Thân), lúc còn khỏe Bà đi chùa nhiều. Giờ đã già yếu, bệnh nhức nhiều, nhưng mỗi lúc tôi tới thăm Bà đều cúng dường tiền, dầu gió tốt, v.v... Hai người con trai giữa của bà Nguyên Thanh tôi không đủ duyên gặp thân (nghe đâu nay đã qua đời cả rồi). Còn ông Nguyễn Thiện Giả, pháp danh Minh Độ thì rất kính mến tôi, nay đã 73 tuổi và đã tin Phật tu niệm, đọc nhiều kinh sách Phật, nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, tập Thiền đã gần 30 năm qua, nay lo trì Chú, niệm Phật, và nhờ đó mà giải bệnh ngặt nghèo, hiện ở tại Úc. Các con ông Giả cũng tin tưởng Tam Bảo, phụng sự Phật pháp (dù nghèo). Đặc biệt gia đình vợ chồng con cái ông Giả không bao giờ nói nhau một tiếng nặng lời, luôn luôn nhỏ nhẹ ngọt ngào. Các con Ông rất quý mến tôi, nhất là hai vợ chồng Minh (con rể) và Thanh Nhu (con gái). Cho thấy ai có Tu đều có Phước.
Kể từ ngày khai tụng Kinh cho đến ngày đưa đám, tôi ở nhà ấy 11 ngày đêm. Đó là cái đám mệt nhất của đời tôi. Đám xong về chùa độ một tuần thì bị bệnh phải vào bệnh viện Trung Ương Huế nằm (chẳng nhớ mấy tuần), sốt nặng liên miên, các bác sĩ Mỹ lúc đó khám tưởng tôi bị bệnh lao, cho thuốc trị lao, nhưng lạ thay tôi cứ nhận thuốc phát mà không tin là uống sẽ lành bệnh, nên cứ nhét dưới gối mà không uống. Cứ ngày nầy qua ngày khác như vậy, sốt cứ tăng lên, một hôm họ cho chuyền hai chai nước biển, tôi thấy người khỏe hẳn lại, nhưng vài ngày là sốt trở lại như cũ, tôi cứ xin mấy cô y tá chuyền cho nước biển mà chẳng ai cho. Một hôm độ 7 giờ 30 tối, tôi thấy bất ổn, nghĩ rằng chắc mình phải chết thôi, tôi lấy radio và lột đồng hồ đeo tay cho một cậu bệnh nhơn nằm bên cạnh (chẳng biết cậu ta bệnh gì mà khỏe hơn tôi nhiều, vì cậu ấy thường hầu hạ và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi nằm bệnh tại đó), rồi nằm ngửa chấp tay thành kính niệm Phật A Di Đà rất nhiều biến, tiếp niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, v.v... tụng hồi hướng, nguyện tiêu tam chướng, nguyện sanh Tây Phương... xong là nằm lặng lẽ chờ chết. Và đúng là chết thật, lúc đó chẳng ai biết. Bấy giờ tôi thấy sáng rực và khoái lạc vô cùng, không còn thấy biết cảnh vật nào, chẳng còn một tí đau khổ nào, mắt nhắm mà thấy sáng rực và khoái lạc tinh thần thôi. Chẳng biết trải qua mấy tiếng đồng hồ như vậy (có lẽ vài tiếng), sau đó thì sống lại: thấy bức tường, đèn điện của bệnh viện sáng lờ mờ, v.v... và hiện tượng khổ trở lại, biết mình đã chết trong khoái lạc, giờ sống lại thì thấy bệnh hành khổ đau, cảm thấy tiếc vô cùng, như mất một cái gì vô giá không tìm lại được, tôi nghĩ: "Sao không chết luôn mà phải sống lại thế nầy". Tôi kêu cậu bệnh nhơn giường bên cạnh kể cho cậu nghe. Cậu thấy tôi sống lại nên trả radio và đồng hồ lại. Ngày hôm sau, bác sĩ tới khám lại, thì ra tôi bị bệnh thương hàn chứ không phải bệnh lao, thế là họ cho chuyền nước biển và uống thuốc thương hàn, lần nầy tôi uống hết không bỏ một viên, ít bữa sau xuất viện tốt. Trận bệnh nầy may có nhờ Mẹ Thầy Nguyên Kim (Thầy Lê Ngân) ở gần sân vận động Huế phát tâm lo lắng, bảo mấy người con Bà (em Thầy Nguyên Kim) bới xách cháo cho tôi mỗi ngày ba bữa. Cháo Bà nấu rất ngon, và mấy người con ấy đem áo quần tôi thay về giặt mỗi ngày. Bà cũng là đệ tử Thầy tôi. Tôi nghĩ, nếu Bà thích danh tướng thì Bà đi cúng lo cho chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Tọa, các vị trú trì ở Huế thiếu gì, mà phải cực nhọc săn sóc lo cho một ông Thầy nhỏ mới thọ giới vô danh tiểu tốt. Có lẽ Bà thấy và tin tưởng ở tôi là người tu hành tốt. Bà là người trì tụng Kinh Pháp Hoa hằng ngày, lúc về già thì Bà thuộc làu Kinh. Trong khoảng mười năm lại đây tôi mới báo được ân Bà phần nào. Bà mới qua đời hôm 29-5 âm lịch Nhâm Ngọ vừa rồi. Tôi nghĩ Bà là người thực sự sống với tâm đức. Trước đó tôi cũng chẳng có quan hệ gì với Bà, tôi chẳng biết nhà Bà ở đâu, chỉ thấy Bà tỏ vẻ tin tưởng quý mến tôi, và tới chùa gặp thỉnh thoảng cho tiền thôi. Cứ trong mỗi mùa An Cư, Bà qua chùa tụng Kinh ngày hai buổi như năm sáu chục bà khác, dưới sự hướng dẫn của Thầy tôi, tôi chỉ là một ông chú lo việc chùa, hầu Phật và hầu Thầy tốt, cũng nhiều lần ngồi đánh mõ. Thầy tôi chủ lễ ngồi bên chuông hướng dẫn họ tụng Kinh bái sám. Thầy tôi hơi rất tốt, tôi không kham theo liên tục, vì Ngài hướng dẫn họ tụng mỗi thời Kinh hết trọn một bộ Địa Tạng, rồi Thủy Sám, Lương Hoàng, Pháp Hoa, vạn Phật v.v... (đều bằng chữ Hán). Nhưng Thầy tôi chẳng bắt tôi tụng theo ông và Đạo tràng, Thầy tôi để quyền tôi. Hơi Thầy tôi tụng nghe rang rảng không cần máy.
Có lẽ nhờ công đức đó mà những ngày Thầy tôi sắp Tịch như đã dự biết trước, rất an nhiên tự tại vui vẻ, nhờ một ông bạn thân chở đi thăm một số chùa và tự lo sẵn hòm trước, leo lên chùa Thanh Cao để họa mấy chữ Phạn về dán quanh hòm và nói: "Thiên hạ ai cũng sợ chết ngày xấu, tu hành sợ chi, để ta lựa ngày xấu đi". Có người mắc nợ gặp trả tiền, Thầy tôi nói: "Thôi cho đó, lấy làm chi nữa, không nhận nữa đâu". Mấy ông đang xây tháp thì Thầy tôi ra coi và nói: "Mấy vị làm mau ta xuống đó nằm cho mát, ở trên nầy nóng lắm". Tối 19 tháng 8 âm lịch Thầy tôi còn ngồi chơi với Hòa Thượng Chùa Giác Lâm, khuya ngày 20 (ngày 20 chưa sáng) Thầy tôi thở mệt một hồi rồi Tịch, chẳng tốn một viên thuốc, chẳng bệnh hoạn phiền ai cả. Lúc đó (vào năm 1983) tôi đang tu học tại Cao Đẳng Phật Học Viện Huệ Nghiêm, chỉ kịp để về trước giờ nhập Tháp Ngài một đêm. Quý Ngài trong Giáo Hội Huế lo hết, lo viết sẵn cả lời cảm tạ cho tôi đọc, lúc đưa nhục thân Thầy tôi nhập tháp xong. Tôi đoán Hòa Thượng Thích Chánh Trực và Thượng Tọa Thích Đức Thanh cùng hội ý viết bài đó. Thầy Toàn Lạc và Thầy Toàn Thiệt thì chỉ biết tuân theo quý Ngài dạy. Ngài Hòa Thượng Thích Trí Thủ ra đưa đám Thầy tôi, Ngài cảm động khóc, vì hai Ngài là anh em cô cậu ruột, đối với nhau hơn anh em ruột ở đời (Thầy tôi vai anh). Ngài không ngờ Thầy tôi lại Tịch sớm và nhanh dễ dàng như vậy, mới tròn 70 tuổi còn khỏe mà! Có lẽ Ngài thấy Thầy tôi là một nhà tu hành coi danh lợi như rác, không vướng dính mà Ngài nể, vì mất một bậc đáng quý, hơn là khóc vì tình anh em. Thật ân tình của các nhà tu rất sâu đậm, người thường khó mà hiểu. Nhưng buồn thay, chỉ 6 tháng sau thì Ngài Hòa Thượng Thích Trí Thủ cũng Tịch hết sức bất ngờ và mau vậy!
Hòa Thượng Thích Trí Thủ Tịch chưa bao lâu, một hôm tôi nằm chiêm bao thấy Thầy tôi tới Phật Học Viện Huệ Nghiêm, tôi xuống gặp Ngài dưới sân, Ngài không hỏi thăm tôi và chẳng lên phòng, chỉ hỏi: "Ôn Hòa Thượng Trí Thủ đâu rồi?". Tôi thưa: "Bạch Thầy, ôn Tịch (chết) rồi". Thầy tôi nói: "Chết đó chỉ là chết cái thân giả thôi!". Lúc đó trong trí tôi thấy có một cái thân của Hòa Thượng nằm chết đó, tôi nghĩ và thấy tuồng như ai nắn một cái thân giả của Hòa Thượng nằm đó! Rồi một lát sau tôi thưa với Thầy tôi: "Bạch Thầy, rứa thì Ôn đi qua bên kia rồi!". Thầy tôi liền đi, chẳng dặn gì tôi cả. Do đó chúng tôi nghiệm biết, các Ngài thấy sanh tử chỉ là trò huyễn (ảo) mộng, chẳng bận tâm chi, chỉ lo tu Bồ Tát hạnh tiến đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Phần tôi, cũng nghĩ rằng, nhờ lúc mới vô chùa tu đã đủ niềm tin siêng tụng Kinh trì chú: Ngoài hai thời Công Phu sớm chiều, còn tụng Kinh Tam Bảo (trong đó có Kinh Thọ Mạng tụng gần như thuộc làu), Kinh Địa Tạng, Kinh Thủy Sám, lạy Hồng Danh Phật nhiều, nhờ đó mà không mang phải một bệnh đáng kể nào. Từ lần nằm bệnh viện Trung Ương Huế năm 1965 đó đến nay rất hiếm khi đi khám bác sĩ cho đến sau nầy, mỗi lúc thấy mình có tội lỗi gì thì lo tụng Kinh trì chú, bái sám giải ngay. Như lạy vạn Phật (bằng chữ Hán) trì chú Đại Bi, tụng Kinh Dược Sư, Kinh Phổ Môn, Kinh Lương Hoàng Sám. Và tôi tin tưởng rằng thành tâm tụng Kinh, trì chú, thành tâm lạy sám thì tội nghiệp gì cũng tiêu diệt như nhiều Kinh dạy. Từ 1975 đến nay, chỉ có một lần cảm ho nặng (vì lo đám tang tụng niệm nhiều), phải khám bác sĩ, và hai lần vào bệnh viện xét nghiệm thử có bệnh gì không, bác sĩ cho thuốc bổ uống một tháng thôi, thì biết nhờ Kinh Chú mà giải nghiệp trừ chướng.
Còn lắm chuyện linh nghiệm khác, do tụng Kinh Phổ Môn và niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm Bồ Tát Địa Tạng, xin khỏi kể thêm, mệt quý độc giả.
Nhân dịp Ngài Hải Nhân giải thích chữ Kinh và những kết quả của người y Kinh tu hành, mà tôi tạm kể một vài chuyện của đời mình liên quan đến tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật, niệm Bồ Tát linh nghiệm thấy rõ. Xin quý độc giả thứ lỗi, đừng trách: Ông Thầy tu mà chưa vô ngã.
Bởi nếu đã thật sự VÔ NGÃ thì chẳng cần sám hối, tụng Kinh, trì chú, niệm Phật. Vì còn chấp ngã, còn thấy có ngã có nghiệp báo, có sanh tử luân hồi khổ đau mà phải sám hối, niệm Phật, v.v... Đã Vô Ngã thì tội lỗi, nghiệp chướng, sanh tử khổ đau nhân ngã bỉ thử, v.v... đều vô (không). Ở địa ngục cũng như ở thiên đường, Niết Bàn ngay giữa sanh tử khổ đau. Và không thấy có sanh tử Niết Bàn, không thấy có khổ đau an lạc khác nhau. Bằng Quán Trí Bát Nhã triệt tiêu hết mọi pháp duyên sanh như huyễn đó. Quán Trí là chày Kim Cang đánh tan hết mọi thứ đó. Quán Trí là thượng chiêu đánh gục mọi chấp trước của mê niệm, của vô minh phiền não. Bấy giờ thấy ta với chư Phật Bồ Tát v.v... không khác nhau, tất cả đều ở trong biển Giác vô biên. Tức đã bằng Tam Muội ấn đốt tiêu tất cả hạt nhân, chủng tử khổ đau, tâm niệm tham lạc, mà thường an lạc, tự tại, không dụng tâm, không khởi niệm theo duyên, theo trần cảnh. Tức đã tới Vô Tu Vô Chứng. Trái lại, nếu còn thấy khổ đau, còn sợ nghiệp báo, còn vì chấp ngã mà tạo ác nghiệp, và không đủ Quán Trí Bát Nhã thì nên làm từ đầu: Lạy Phật Bồ Tát sám hối, trì Chú, tụng Kinh, niệm Phật và tu tạo mọi Phước lành mà giải, mà xả ác báo để được tiến tới cảnh giới an lạc, hay đủ Quán Trí Tịnh Tâm lên bờ Giác.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 03:27 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CHÚ ĐẠI BI LINH CẢM ỨNG – CỨU KHỔ BAN VUI.

1. Theo Quán Hà Tập, năm Ất Tỵ (1785) đời Càn Long nhà Thanh, Tô Châu hạn hán, cư sĩ Bành Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) kết giới hai mươi mốt ngày tụng tâm chú Đại Bi, trì thêm thánh hiệu của Tây Phương Phật (A Di Đà Phật), bỏ ăn trưa. Mãn kỳ hạn, mưa ngập nửa thước. Có thơ rằng: “Hung niên bất đáo liên hoa quốc, từ tế trường hoài tử trúc lâm, phần đắc tư nhân cơ bán nhật, chi đầu điểm trích dã thành lâm” (Cõi hoa sen chẳng bị mất mùa, rừng trúc biếc lòng Từ sẵn giúp, kẻ mọn nhịn ăn chừng nửa buổi, giọt sương ngọn trúc hóa mưa dầm).

2. Theo Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết, vào đời Thanh, Tào Thành Tú gặp một vị Tăng bảo: “Nếu ngươi có thể kiêng thịt bò, thịt chó, sẽ có thể hiển đạt”. Ông Tú nói: “Tôi là hạng bắn cung, cỡi ngựa tầm thường, sao dám mong cầu công danh?” Vị Tăng bảo: “Nếu có thể sáng tối tụng chú Đại Bi, lo gì chẳng đạt được phước báo ấy?” Thành Tú bèn giữ giới, tụng chú không gián đoạn. Vào chốn quan trường, dường như có thần giúp, không đầy mấy năm, làm quan đến chức Thiên Tổng. Tự ghi vào năm Càn Long 12 (1747).

4. Theo Phụ Trì Nghiệm Ký, trong thời Đạo Quang nhà Thanh, Lưu Dực Đình ở Kim Lăng tự nói: “Tôi mỗi sáng thức dậy ắt đối trước tượng Đại Sĩ tụng bảy biến chú Đại Bi, suốt hai mươi năm không lười nhác. Một bữa trời xẩm tối, có một bà cụ bước vào, bảo: ‘Đến ngày nọ sẽ bị tai nạn, nên cẩn thận’ rồi đi ra. Gọi người nhà dâng trà thì ai nấy kinh ngạc, chẳng thấy bà cụ đâu nữa! Tới hôm ấy, đêm ngủ, thức dậy đi tiểu, ngã lăn ra đất, chân phải mắc vào trong ghế, đau không thể chịu nổi, thầm trì chú Đại Bi, mấy ngày mới lành. Ấy là vì thờ Đại Sĩ đã lâu, nên được Ngài linh thiêng che chở. Nay tuổi đã sáu mươi tám, quắc thước dị thường, đều là nhờ sức của Đại Sĩ”.

5. Theo Tứ Hương Thảo Đường Bút Ký, Mao Sĩ Ngọc ở Trường Châu do buôn bán vải thua lỗ, lại trúng sương gió, bị ho rất nặng, bèn phát nguyện tụng chú Đại Bi, liền lành bệnh. Về sau, con là Đỉnh Hanh đón về phụng dưỡng tại kinh đô, thọ tám mươi tư tuổi, không bệnh tật mà mất.

6. Theo Thánh Kinh Hội Toản, Vạn Văn Ngọc ở Kinh Sơn tự nói: “Tôi trì chú Đại Bi, Tâm Kinh, linh dị khôn ngăn thuật trọn. Gặp hung hóa cát, khởi tử hồi sanh, quả thật chính thân tôi đã từng chứng nghiệm. Nhớ khi mẹ tôi bị bệnh nguy ngập sắp mất, tôi đau lòng khóc lóc chảy cả máu, quỳ trước tượng Đại Sĩ, tụng một biến chú Đại Bi, mẹ liền cảm thấy có người dẫn trở lại dương gian, dần dần thở thong thả, nói năng, cử động được, mấy hôm sau là khỏe hẳn. Phật pháp vô biên, quả chẳng phải là lời nói dối”.
9. Theo Trì Nghiệm Ký, Lương Nguyên Chinh ở Hoài An không con, lắm bệnh. Do vậy, phát tâm ăn chay trường, hằng ngày tụng chú Đại Bi, Bạch Y Kinh. Vợ cũng trì Chuẩn Đề Trai, sáng sớm quỳ tụng kinh. Không lâu sau, ông Chinh khỏi hẳn bệnh, vợ sanh được ba con. Đứa con thứ hai đỗ khoa thi Hương.

10. Theo Cao Tăng Truyện, tập Ba, đời Đường, ngài Tri Huyền là người đất Thục (Tứ Xuyên), phô diễn kinh luận, Tăng, tục đều kính ngưỡng, nhưng buồn vì ngữ âm không chỉnh, bèn tụng chú Đại Bi nơi núi Tượng Nhĩ. Sư mộng thấy thần tăng cắt lưỡi trao đổi. Hôm sau bèn nói đúng giọng xứ Tần, được vua ban hiệu là Ngộ Đạt quốc sư

11. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, vào đời Thanh, sư Diễn Nghĩa tự là Trạm Tu, thường trì chú Đại Bi, nói là có thể trừ nạn hổ. Khi ấy, người đất Tương (Hồ Nam) khổ sở vì bị hổ làm hại, tự bắt chước làm theo, tiếng tụng chú Đại Bi vang khắp các hẻm núi, cuối cùng hổ tuyệt tích.
10. Theo Cao Tăng Truyện, tập Ba, đời Đường, ngài Tri Huyền là người đất Thục (Tứ Xuyên), phô diễn kinh luận, Tăng, tục đều kính ngưỡng, nhưng buồn vì ngữ âm không chỉnh, bèn tụng chú Đại Bi nơi núi Tượng Nhĩ. Sư mộng thấy thần tăng cắt lưỡi trao đổi. Hôm sau bèn nói đúng giọng xứ Tần, được vua ban hiệu là Ngộ Đạt quốc sư

11. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, vào đời Thanh, sư Diễn Nghĩa tự là Trạm Tu, thường trì chú Đại Bi, nói là có thể trừ nạn hổ. Khi ấy, người đất Tương (Hồ Nam) khổ sở vì bị hổ làm hại, tự bắt chước làm theo, tiếng tụng chú Đại Bi vang khắp các hẻm núi, cuối cùng hổ tuyệt tích.

12. Theo Phật Tổ Thống Kỷ, đời Tống, sư Huệ Tài tự hận tối tăm, chậm lụt, thường trì chú Đại Bi, chợt mộng thấy một vị Phạn tăng cao mấy trượng, cởi ca-sa đắp cho. Những gì đã nghe được trước kia và sau này đều hiểu thông suốt hết.

13. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, đời Nguyên, ngài Hoằng Tế thường tu Pháp Hoa Sám, cảm ứng linh dị. Năm Thái Định thứ hai (1325), bờ biển ở Diêm Quan (tỉnh Chiết Giang) bị hủy hoại, cư dân sợ bị nước biển vùi lấp sẽ biến thành cá, ba ba. Thừa Tướng Thoát Hoan xin ngài Hoằng Tế cầu đảo trước tượng Đại Sĩ ở chùa Thượng Thiên Trúc, lập trai hội Thủy Lục. Ngài Hoằng Tế nhập Từ Tâm tam-muội, lấy cát biển tụng thần chú Đại Bi, rải khắp nơi ấy. Dấu chân Sư đi đến đâu, bờ biển lại kiên cố như cũ, mọi người đều khâm kính Sư như thần.

15. Theo Cao Tăng Truyện, tập Bốn, đời Thanh, Chú Am là người Dương Châu, lúc bé tánh tình thô lỗ, cục cằn, không giữ giới, bị vị Tăng chủ trì quở trách, phẫn hận muốn báo cừu, tính muốn tiềm tu để rửa thẹn, tụng chú Đại Bi nơi Tàng Kinh Các của ngôi chùa Sư đang trụ. Sư bế quan ba năm mới ra, thần thái khác hẳn, nhún mình, nhũn nhặn, chẳng thể suy lường Sư đã chứng đắc đến mức nào. Ngẫu nhiên, trong quán trà nghe khách mổ xẻ ý nghĩa kinh, vặn hỏi hết sức khó khăn, Sư cười bảo những lời bàn luận ấy đều có chỗ sai sót, rồi đọc ngay cuốn sách vừa được khách bàn luận. Vừa đọc, vừa giảng, lũ khách kinh hãi kiếp phục. Do vậy, Sư vang danh học rộng, hiểu sâu. Nếu có ai đem những cuốn tiểu thuyết hoa mỹ đến thử, Sư cũng ứng tiếng đọc ngay ra, mới biết là kinh điển nhà Phật hay sách vở thế tục, cửu lưu, bách gia, thậm chí tiểu thuyết, hết thảy văn tự không gì chẳng từng đọc qua, không gì chẳng thuộc lòng. Do vậy, sự thần dị được lưu truyền, Sư được gọi là “thánh tăng”. Khi ấy, Văn Đạt Công Nguyễn Nguyên nghe danh Sư, thử tài, Sư đối đáp lưu loát, Văn Đạt phải kinh ngạc, than thở, bảo: “Sở chứng vượt trỗi mức độ của một bậc thầy trời người”. Sư thấy tăng nhân vui chơi bèn than thở: “Tai hại sắp xảy đến rồi, lão tăng chẳng đành thấy. Các ngươi làm sao thoát được”. Sư thị tịch hơn một năm thì bọn giặc từ Quảng Đông vây hãm Dương Châu.

16. Lại nữa, vào đời Đường, sư Thần Trí trì chú Đại Bi. Sư tụng chú vào nước để cứu trăm loại bệnh tật. Người uống nước ấy phần nhiều lành bệnh. Hằng ngày Sư ban nước Đại Bi không đếm xuể, mọi người gọi Ngài là Đại Bi Hòa Thượng. Con gái của Tướng Quốc Bùi Hưu bị quỷ thần dựa, ngài Thần Trí trì chú bảy ngày liền bình phục. Tướng Quốc bèn tâu vua, xin ban biển đề “Đại Trung Thánh Thọ” cho ngôi chùa Sư đang ở.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 03:50 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
NGHI THỨC TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI

Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, để được lợi ích nhanh nhất khi trì chú Đại Bi, người tụng chú phải:” Phát Bồ Đề Tâm, thề cứu độ muôn loài, giữ gìn trai giới và kiêng cử ngũ vị tân”. Người trì chú Đại Bi phải giữ dìn trai giới, trừ sát, đạo, dâm , vọng. Kiêng cữ rượu, thịt,hành, hẹ, tỏi, cùng các thứ thức ăn hôi hám. Thân thể phải siêng tắm gội, thay đổi y phục cho sạch sẽ, chớ để trong người có mùi hôi. Khi đại tiểu tiện xong, phải rửa tay sạch sẽ. Trước khi tụng chú phải súc miệng sạch. Đứng chắp tay, quỳ, hoặc ngồi xếp bằng tụng cũng được, miễn là tâm trang nghiêm thanh tịnh.

Nếu nhà chưa có bàn thờ Phật thì quay mặt sang hướng Tây mà trì tụng.
Nếu có bàn thờ Phật thì quỳ hoặc ngồi xếp bằng trước bàn thờ trì tụng.

1. PHÁT NGUYỆN.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả pháp,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt trí huệ
,
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền Bát Nhã,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được qua biển khổ,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được Đạo Giới Định,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết Bàn,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh,

Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ,

Nếu con hướng về lửa nước sôi,
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt,

Nếu con hướng về cõi địa ngục,
Địa ngục liền mau tự tiêu diệt,

Nếu con hướng về loài ngạ quỷ,
Ngạ quỷ liền được tự no đủ,

Nếu con hướng về chúng Tu La,
Tu la tâm ác tự điều phục,

Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh liền được trí huệ lớn,

2. NIỆM DANH HIỆU QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Chí tâm xưng niệm danh hiệu: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát – ít nhất là 15 biến, nhiều hơn càng tốt.

3. NIỆM DANH HIỆU PHẬT A DI ĐÀ
Chí tâm xưng niệm danh hiệu: Nam mô A Di Đà Phật – ít nhất là 15 biến, nhiều hơn càng tốt, sau đó niệm: Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (03 lần).

4. TỤNG CHÚ.

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.
Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế.
Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế.
Đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da.
Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na.
Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha.
Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.
Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.

5. HỒI HƯỚNG
Sau khi đã tụng chú (bao nhiêu biến tùy sức tùy thời của bạn), người tụng chú hồi hướng như sau:

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát(03 lần). Toàn bộ công đức tụng chú Đại Bi Tâm Đà La Ni này con xin hồi hướng cho Pháp giới chúng sanh, nguyện Tam Bảo gia bị cho tất cả cùng lìa khổ được vui, mọi mong cầu thành hiện thực và cùng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Quốc. Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Lạy 01 lạy rồi lui ra.

(Chú Đại Bi Linh Cảm Ứng- Tuệ Tâm 2019)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 03:58 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
CHÚ ĐẠI BI CẢM ỨNG – CỨU KHỔ CỨU NẠN.

1. Theo Tín Tâm Lục, ông Thái Tư Tương được cử giữ chức Thôi Tào Vận (kiểm soát vận chuyển đường thủy), thuê nhà dân để làm công sở, bốn phía không có tường, ở sát với nhà dân. Chợt hàng xóm bốc lửa, mọi nhà đều lo cứu đồ đạc, ông Thái ngồi yên không động đậy. Kẻ hầu nhiều lần van nài ông Thái hãy lánh nạn, nhưng ông ta chẳng đoái hoài. Lửa cháy lan tới, vượt qua công sở của ông Thái, còn cháy thêm mấy nhà nữa rồi mới tắt. Người ta hỏi ông có thuật gì, ông đáp: “Tôi kiền thành tụng chú Đại Bi”. Người ta bảo: “Thần chú cố nhiên linh nghiệm, lỡ vạn nhất không ứng nghiệm, thì há chẳng phải là chết uổng một mạng ư?” Ông Thái nói: “Nhà tôi nhiều đời trì tụng, những sự tích thoát khỏi những ách nạn đao binh, nước lửa, nạn gấp v.v… chẳng thể kể xiết. Còn như tôi trì chú Đại Bi đã hai mươi năm, phàm gặp phải nạn gấp, hễ cảm đều thông. Trong thời Càn Long, khi tôi sống ở kinh đô, nhà hàng xóm ở phía Nam bốc lửa, lại gặp trận gió nồm, lửa càng cháy mạnh, dọn chạy đồ đạc không kịp. Tôi tụng chưa xong một biến chú này, gió đã đổi chiều, lửa cháy ngược lại phía Nam, riêng nhà tôi không sao. Vì thế, biết sâu xa chú này được chư thần ủng hộ, gìn giữ, có thể chuyển biến ách nạn. Nếu lòng tin không chân thành, làm sao dám coi thường hiểm nạn cho được? Nhưng phải sám hối tội trước, tận lực làm chuyện lành. Mỗi ngày sáng tối kiền thành tụng chú năm bảy lượt thì sở cầu không chi chẳng được toại ý!”.

3. Theo Tịnh Độ Thánh Hiền Tục Lục, vào đời Thanh, Ngô Doãn Thăng ở Hổ Khâu, lúc bé, gặp một vị Tăng bảo: “Ngươi có thiện căn, tiếc là năm hai mươi chín tuổi sẽ gặp thủy tai. Chỉ có cách từ nay trở đi hãy kiêng giết, phóng sanh, mỗi ngày kiền thành niệm Phật, trì chú Đại Bi, may ra sẽ thoát được!” Ông Thăng tin nhận, phụng hành; lại còn đem chuyện này khuyên người khác. Đến năm hai mươi chín tuổi, từ đất Hàng ngồi thuyền về thăm nhà, sông nổi sóng rất nguy hiểm, vội chắp tay niệm Phật. Thuyền lật, rơi xuống nước, trong lúc mơ màng nghe có tiếng nói: “Ngô Doãn Thăng có công khuyên người niệm Phật, được thoát khỏi nạn này”. Mở mắt ra nhìn quanh thì thân đã ở trên bờ, đã được dân chài cứu lên rồi!

6. Theo Báo Ứng Lục, đời Đường, Ngô X… làm lính đi đánh dân thiểu số, nấu con rùa trắng ăn, bị mọc ghẻ lở loét, rụng lông mày, ngón chân, ngón tay đều rụng, đi ăn xin ở chợ An Nam. Có vị Tăng bảo: “Nếu ngươi niệm Quán Âm Đại Bi Chân Ngôn ắt sẽ được thiện báo” rồi truyền dạy chú Đại Bi. Người lính ấy nhất tâm niệm tụng, vết thương dần dần lành, ngón chân, ngón tay lại mọc ra, bèn [xuất gia] làm tăng, hiệu là Trí Ích. A Già Đà (Agada) là tên một món thuốc ở phương Tây có thể trị hết thảy bệnh.

7. Theo sách Đồ Thuyết, Tăng Xử Thao người Thai Châu, mắc bệnh mắt, thường tụng chú Đại Bi, mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy bài kệ, mỗi sáng lấy một chén nước sạch, niệm bảy biến rồi dùng nước ấy để rửa mắt, không ai chẳng được lành. Kệ rằng: “Cứu khổ Quán Thế Âm, cho con đại an lạc, và ban đại phương tiện, diệt trừ ngu si ám, Hiền kiếp các chướng ngại, các tội ác vô minh, ra khỏi nhà tăm tối, khiến con thấy ánh sáng. Tôi nay nói cách rửa, sám hối, gỡ tội mắt, khắp phóng quang minh sạch, nguyện thấy tướng vi diệu”. Bài kệ này được truyền tụng, những người làm theo phần nhiều đều linh nghiệm.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 04:09 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Hiệu Dụng Bất Tư Nghì Của Thần Chú Vãng Sanh.
(Hòa Thượng Thich Giác Quang)

10. 4. Theo sách bất tư nghì thần lực:

Khi trì Chú Vãng Sanh nầy, thì người tu phải ăn chay, giữ giới, nhẫn đến ăn chay trường, không sát sanh hại vật mà còn phải làm việc phóng sanh; thường xuyên tắm rửa và súc miệng cho sạch sẽ trước khi đăng lâm chính điện, hoặc đến với đạo tràng tại cư gia dâng hương, dâng lễ, gieo năm vóc chắp tay thành tâm chậm rãi lễ lạy đối trước tượng Phật mà phát nguyện trì chú.

Riêng Sư thì những năm trước ngày hòa bình, sau những giờ giấc làm việc Phật sự ban ngày, như: dạy học, làm việc văn phòng Giáo hội, đi công tác Phật sự… khi về đêm vào lúc 21 giờ (thời gian trống) thì đến tại bàn Phật, lễ Phật, phát nguyện trì chú, dùng chuỗi tràng công cứ niệm chú vãng sanh, mỗi lần niệm ít nhất 10 chuổi tràng hạt, 1.080 biến; nhiều nhất là 20 chuổi, 2.160 biến; hoặc khi phát nguyện nhập thất thì tụng mỗi ngày 4 thời, 8.640 biến thần chú vãng sanh. Việc tu hành, các liên hữu có thực tập thì mới biết được tâm niệm của người tu lúc bấy giờ. Đã phát nguyện lần tràng tụng chú vãng sanh, thì mỗi đêm phải đến bàn Phật tụng chú, khi nào không làm thì cảm giác nặng nề đến với thân tâm, như thiếu thốn như lỡ hẹn một điều gì mà chưa thực hiện, sự mất mát cứ canh cánh bên lòng; chính vì vậy mà người phát nguyện công cứ tụng thần chú khi đến giờ có người nhắc nhở, chư thiên cân nhắc nên phải tụng niệm chú thôi! Nhưng khi niệm xong thân tâm hồn xác thật nhẹ nhàng thanh thản, tam nghiệp vong bặt, tâm không chút bợn nhơ, thế giới cực lạc ảnh hiện trong tâm lòng các bạn!

Tụng theo chữ Hán Việt:
Khi đã phát nguyện tu hành thì phải siêng năng tụng đủ chữ, đủ bài bản thì mới thanh tịnh tam nghiệp, không nên biếng nhác, tụng giảm chữ hay bỏ bớt bài thần chú theo ý riêng của mình, đọc bài:

Vãng sanh quyết định chơn ngôn
Bạt nhứt thiết nghiệp chướng căn bổn đắc sanh tịnh độ Đà ra ni

Nam mô A Di Đa bà đạ
Đa tha dà đa dạ
Đa điệt dạ tha
A Di rị đô bà tỳ
A Di rị đa tất đam bà tỳ
A Di rị đa tỳ ca lan đế
A Di rị đa tỳ ca lan đa
Dà di nị, dà dà na
Chỉ đa ca lệ, ta bà ha

Nam mô A Di đà Phật

Thường thì các liên hữu Tịnh độ chỉ tụng niệm những bài kinh nào làm cho thân tâm thanh tịnh, các vị cũng không thích mấy việc cầu kỳ, miễn làm sao cho câu nối câu, pháp nối pháp, tụng đúng tụng đủ, không cho sai sót hoặc bỏ sót chữ kinh… đấy là phong độ của những người tu Phật có quyết tâm phá bỏ nghiệp lực, có quyết tâm cầu siêu độ cho các âm hồn, cho mọi chúng sanh đã đi qua, cho mọi sự việc nặng nề lui dần về quá khứ, không còn có những tiếng nói vô hình than khóc khổ đau, tâm linh oằn oại trong đêm tối một đời, từ đời nầy sanh đời khác, không nơi nương tựa, tất cả được thóat hóa luân hồi.

10. 5. Hiệu quả:

Thần chú vãng sanh thật đơn giản, nhưng chú lực có thể giúp cho những người con Phật: có phương tiện chung tu, hoặc bất cứ ở nơi nào cũng có thể tụng niệm, ở nơi buôn bán, tu cá nhân tại gia, hoặc làm việc trong công sở.

Trong quá trình tu hành, các liên hữu không đợi phải đến quý, mùa tu hành như phát nguyện tụng kinh Pháp hoa, hay các kinh lớn; mà có thể phát nguyện tụng công cứ thần chú vào bất cứ thời gian nào rỗi rảnh, nhưng khi phát nguyện rồi thì không bỏ cuộc, không làm xê dịch thời gian mà mình đã phát nguyện; trường hợp lỡ quên, bỏ cuộc ngày hôm nay thì sau đó phải sám hối trước Tam bảo, hoặc tự lòng cảnh tĩnh chính mình rồi tiếp tục thực tập thiền tụng cho đủ số thần chú.

Tam nghiệp thanh tịnh, phiền não tiêu pha, hạnh lành sanh khởi, hiện tướng đạo hạnh khả phong; pháp giới, đạo tràng nhà cửa trang nghiêm thanh tịnh, những sự việc ồn ào trong nhà không còn, không còn thấy những âm hồn âm binh lai vãng trong nhà, không còn thấy linh hồn ông bà, những người đã qua than vãn thở than khóc lóc, than đói thiếu thốn đòi hỏi cúng kiến, giúp thân tâm an lạc, tĩnh táo trong mọi việc làm ăn dẫn đến thành đạt.

Từ xưa đến nay, trong chốn tòng lâm tu Tịnh độ bên Trung hoa hay Việt nam các vị Đại sư, trong giới Cư sĩ trì tụng thần chú Vãng sanh không như tụng kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, hay kinh Niết Bàn… nhất là không tụng giống âm điệu tụng sám. Mà phải đọc tụng thuần thục, nhuần nhuyễn như âm vang, tụng nhanh từng chữ như gió thổi cờ bay phần phật, âm điệu như làn nước phun nhẹ tắm mát tinh thần, như mặt trời sưởi ấm giữa giá đông, như siêu độ các âm hồn siêu thóat, tĩnh lặng như hóa giải các nghiệp chướng trần lao, như cãm nhận sự linh nghiệm của thần chú. Có khi tụng vượt ra khỏi việc tính đếm công cứ, tụng hòai tụng mãi không biết bao nhiêu lần, thường là những người tu tụng thần chú thuần thục thì không còn tính theo công cứ đếm bao nhiêu biến nữa, mà tính bằng giờ phút. Hành giả vừa tụng vừa cầu cho pháp giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì pháp giới thanh tịnh, pháp giới thanh tịnh tức là cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà xuất hiện.

Kinh Viên Giác, Phật dạy: “tùy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ tịnh”, tâm hành giả thanh tịnh, thì pháp giới xung quanh thanh tịnh. Thế nên người tu dù tu lâu hay mới tu, mình cứ thực tập thiền tụng, thì pháp giới tu, không mời gọi họ vẫn tìm đến học Phật pháp để tu; mời gọi họ tu sẽ đi ngược lại lời giáo hóa của Phật: “đạo Phật là đạo giác ngộ, tự mình giác ngộ lý chơn mà tu hành, Đạo Phật không phải là đạo thờ cúng, lạy bái theo hình thức rườm rà, hoặc giới thiệu rủ rê mọi người đến chùa đi cúng Phật, thờ phượng cho lấy có, có người hướng dẫn xin phép làm ăn, sử dụng bùa chú theo tà pháp, tác nghiệp lổ bang nhởn nhơ trước cửa Phật, làm lủng đoạn suy hoại chánh pháp, mượn đạo tạo đời…”, cũng không nên mượn Đức Phật để làm thần tượng thờ cúng bái lạy, trở thành tập tục mê tín dị đoan, tin mà không thành tựu theo ước nguyện thì niềm tin bị lung lay, bỏ đạo. Người tín đồ như thế gọi là không đủ phẩm chất, không chất lượng.
Người phát nguyện trì tụng thần chú vãng sanh, vì là thần chú ngắn ít chỉ có 59 chữ, nên ngòai việc tụng niệm công cứ ở trong thời điểm tập tu, các liên hữu tại gia nên tính đến thời gian, hoặc tính theo cây nhang đang đốt trên lư hương, có thể tụng thần chú tàn cả cây nhang thì không phải bị chăm chú theo dõi coi “chừng nào xong” đấy là một bệnh trầm kha của người tu.

Có thể khuyên trong giới cư sĩ mỗi ngày tụng 1 lần, mỗi lần tụng 30 phút; trường họp nhập thất bảy ngày thì phát nguyện tụng thần chú mỗi ngày 4 thời khóa (sáng tối trưa chiều), mỗi thời khóa 1 tiếng đồng hồ; các liên hữu cao tuổi nhưng có sức khỏe, không bận rộn việc nhà, việc gia đình ổn định có thể nhập thất ba tuần lễ, nhập thất bảy tuần lễ, thọ trì đúng cách thì nghiệp chướng sâu nặng bao nhiêu nhất định cũng tiêu trừ. Làm đệ tử Phật phát nguyện tụng suốt đời thì rất quý báu.

10. 6. Lực dụng:

Người trì chú mà nhất tâm thì tự nhiên có sự linh ứng, trường họp có những vị không thông suốt chữ nghĩa, có khi tụng sai sót đôi chút không tổn hại, Phật vẫn chứng minh. Thần chú vãng sanh không làm trở ngại các pháp môn tu chính của những người con Phật.

Thọ trì thần chú vãng sanh, không nên quan niệm chỉ riêng cầu cho người qua đời, mà người hiện tiền không trì chú vãng sanh thì không dứt nghiệp chướng, nghiệp lực tuy không hình bóng nhưng không nhẹ nhàng chút nào, nhưng nếu phát tâm trì tụng thần chú vãng sanh thì nghiệp chướng tiêu trừ, thân tâm thư thái, dũng mãnh siêng tu các pháp môn khác, điều ngự các nghiệp chướng trong nhiều đời nảy sanh, chuyển hóa tâm hung ác thành thánh thiện, giúp người tu có cơ sở giải thóat những nghiệp lực hiện tiền.

Thần chú vãng sanh là chú lực của hành giả Mật tông, nhưng vẫn là pháp tu chánh của các liên hữu tu Tịnh độ, khi phát nguyện trì tụng không cần phải lập đàn, kiết giới, kiết ấn. Một cách khác, có thể tùy nghi đọc tụng mọi lúc mọi nơi, vừa hộ mình vừa hộ cho các âm hồn người đã khuất, xây dựng niềm tin Phật pháp cho mọi người, làm nảy sanh sinh khí trong đời sống thường nhựt.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 04:35 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Câu Chuyện Phật Giáo Số 32: Nhân Quả Tà Dâm - Mắc Bệnh Phụ Khoa Do Ăn Mặc Khêu Gợi .(Nguồn :Phật giáo Linh Sơn).

Tôi đang sống ở Hoa Kỳ, nơi việc ăn mặc hở hang và thậm chí không ăn mặc gì được xem như một trào lưu. Ở tại những cửa hàng quần áo, đa phần đều là các loại thời trang thiếu vải thừa da còn người ta ăn mặc ra đường mọi loại thời trang khêu gợi nhất có thể. Những câu chuyện chốn phòng the lại được xem như là đề tài bình thường họ trò chuyện hàng ngày như việc ăn cơm uống nước. Những cặp vợ chồng hay bồ bịch chia tay nhau vì không hòa hợp trong chuyện chăn gối được xem như là cơm bữa.

Xem thêm:

Câu Chuyện Phật Giáo Số 24: Thà Khuấy Động Nước Nghìn Sông, Chứ Không Được Làm Động Lòng Người Tu Đạo

Tôi làm trong ngành y tại khoa huyết học và ung thư nên chứng kiến rất nhiều vấn đề về bệnh phụ khoa và ung thư. Hiện nay ung thư vú, ung thư cổ tử cung là đứng hàng đầu với nữ và ung thư tuyến tiền liệt là với nam, ngoài ung thư phổi và ung thư đại trực tràng. Nếu ung thư phổi và ung thư đại trực tràng là đứng trong top 3 loại ung thư phổ biến tôi còn chấp nhận bởi vì người ta hút thuốc, sử dụng quá nhiều chất độc, môi trường ô nhiễm và ăn uống thiếu chất xơ, ăn nhiều đồ độc. Vậy nguyên nhân vì đâu mà ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt lại là đứng hàng đầu ở đây?

Quán sát thật lâu, tôi mới nhận ra rằng đó là do sự phóng túng trong đời sống tình dục, sự kích thích gợi dục bằng mọi hình thức để các tuyến nội tiết rối loạn rồi sinh ra bệnh, chưa nói đến các bệnh truyền nhiễm gây ra do việc quan hệ tình dục bừa bãi. Đời sống quá nhanh vội người ta không còn thời giờ để tận hưởng những thú vui an lạc ngoài thú vui phòng the thể xác để rồi thân tâm rã rời, bệnh tật lại kéo đến.

Tôi nghĩ đó là đều do nhân quả nghiệp lực của từng người kéo đến cộng với những suy nghĩ lệch lạc bệnh hoạn gây nên vì không có sự định hướng đúng. Ở phương tây là vậy nhưng trào lưu bệnh hoạn này giờ cũng tràn đầy ở Việt Nam nên không chỉ là tỷ lệ bệnh mà các ca nạo phá thai gần như đứng hàng đầu thế giới.

Tôi nhớ thời tôi còn nhỏ ở Việt Nam, chuyện ăn mặc hở hang là một điều không tốt và con cái trong gia đình luôn ăn mặc kín đáo, học sinh sinh viên đều có tác phong của người tri thức. Từ nhỏ tôi đã tạo nên nếp nghĩ này và có lẽ do nghiệp lực cá nhân nên tôi gần như không bao giờ đụng đến những thứ áo quần này. Ở Mỹ tôi có mặc gì thì cũng không sao và chẳng ai chú tâm. Vả lại làm trong ngành y nên chỉ toàn mặc áo blouse trắng và đó lại được xem là chuẩn mực hợp thời của một bác sĩ y khoa trước bệnh nhân. Tuy nhiên, về Việt Nam, tôi được xem là thành phần lạc hậu, “lúa cả đồng” với những bộ quần áo bình dân, tầm thường, kín cổng cao tường mà có lẽ ở những vùng sâu vùng xa còn hiện đại hơn. Có một điều gì đó gợi trong tôi là tôi cảm thấy sợ hãi, tránh xa ngay những loại quần áo đó từ nhỏ cho đến lớn, chưa bao giờ có cảm giác thèm muốn phải mặc vào. Đến giờ này tôi chưa bao giờ biết trang điểm, có một cây son hộp phấn nào, không có một chiếc váy, chiếc áo đầm, áo tắm hay đôi giày cao gót, thậm chí đến quần short gần như không mặc. Tôi chỉ thấy thoải mái khi mặc áo quần kín đáo hoặc áo tràng, áo quần lam mà thôi mặc dù tôi đang sinh sống tại Mỹ.

Cõi người là cõi dâm dục nhưng xin đừng vin vào điều này để sống phóng túng, buông thả. Nhân quả nghiệp báo về việc khêu gợi, kích dục, ăn mặc hở hang, quyến luyến nhau trong đam mê sắc dục là không hề nhỏ. Địa ngục hiện tiền là mình đang phải sống trong ngọn lửa dâm bốc lên thiêu đốt mình để rồi sai khiến mình tạo nên những hành động đi ngược lại với luân thường đạo lý cần làm. “Vạn ác dâm đứng đầu” quả là không sai như trong kinh Địa Tạng đã nói về nhân quả nằm giường sắt nóng để trả quả dâm dục. Xin gởi tặng các bạn bài viết về “Nhân Quả Tà Dâm - Mắc Bệnh Phụ Khoa Do Ăn Mặc Khêu Gợi” để hòng mong cảnh tỉnh mình và tìm ra con đường tươi sáng bớt nghiệp cho mình ở hiện tại và tương lai.

Thời nay thế nào. Bạn thấy ngay trên truyền hình, giới nữ ăn mặc cực kỳ hở hang, còn tự cho rằng như vậy thật tuyệt, đây gọi là: “Không biết xấu hổ!” Bởi sự ăn mặc hở hang như thế là khơi gợi lòng dâm, xúi người khởi dục phạm tội, cho nên bạn phạm tội lớn phải đọa Địa ngục, rất điên đảo!

Còn nữa, nữ vốn để tóc dài, nam để tóc ngắn; nhưng bạn nhìn xã hội hiện tại đi, nam nhân thì để tóc dài, uốn, ép, sấy, cột đuôi, thắt bím…còn nữ nhân thì tóc để như con trai. Mấy ông thì mặc y phục hoa; nữ thì mặc màu xám, đen… đều ngược ngạo cả.

Đời này nữ nhân mặc y phục rất lạ: Con gái mặc hở rốn, hở ngực, bụng, đùi… tỉnh bơ đi ngoài đường, có khi còn không mặc quần, thật điên đảo. Ăn mặc hở hang khêu gợi như vậy cố để cho nam nhân nhìn thấy họ thì rạo rực phát cuồng, bùng khởi ham muốn tình dục. Chẳng hiểu rõ Nhân quả, chẳng biết rằng bản thân đang tạo tội Địa ngục. Nam nhân khởi lên dục vọng, tà niệm, phạm tội là do chính bạn tạo thành, bạn cũng góp phần xúi bẩy việc phạm tội tà dâm.

Lúc nghe tôi thuyết giảng về vấn đề này, các cô gái ngồi dưới đài đều lộ vẻ xấu hổ. Bởi các cô thuộc con nhà rất giàu, ai cũng ăn mặc đẹp, đa số toàn hở ngực, hở lưng để khoe cả bụng, rốn…ra ngay trước Phật đường. Nhưng các cô này vẫn ngoan ngoãn ngồi nghe tôi giảng. Cuối cùng tôi hỏi họ:

– Quý vị có biết động vật khác con người chỗ nào không?
– Dạ có.
– Khác thế nào?
– Dạ, động vật không biết xấu hổ, con người thì biết xấu hổ.

Đúng vậy, động vật mà luyến ái thì con đực đuổi theo con cái bộc lộ dục vọng thẳng thừng, còn loài người chúng ta thì biết e lệ, giữ gìn…Bạn xem, ngày nay chúng ta cư xử dạn dĩ như vậy khác nào con vật. Theo quan niệm đúng đắn thì Con gái phải luôn biết giữ thân, ăn mặc kín đáo, khéo tự bảo hộ mình, không nên khêu gợi làm người phát sinh tà niệm. Vì nếu gặp kẻ không tự khống chế được thì họ sẽ xâm hại mình. Tiếc là ngày nay, phái nữ ăn mặc càng lúc càng mỏng, ngắn, thiếu vải thậm tệ, đến nỗi dù đi đường lộ hay lái xe, vào công sở v.v… nhìn đâu cũng thấy.

Buổi sáng các cô nghe tôi giảng rồi thì chiều đó lúc quay lại, tất cả các cô đều thay đổi y phục kín đáo, lịch sự, trang nghiêm. Giữ giới là tuân thủ, hành những điều tốt cho ta lẫn cho người khác. Nếu mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều hành đúng pháp, tất nhiên hợp đạo, ắt cuộc sống sẽ được thuận lợi. Ai sống thất đạo vô đức, tất nhiên Phúc chẳng đến cửa.

Tuy rằng chúng ta đang sống nhưng thực sự ai cũng phải chết, nhưng bạn đâu có biết lúc nào mình chết và sẽ chết như thế nào? Do vậy mà sau khi hiểu pháp rồi thì phải ráng tranh thủ thời gian mà tu hành, để một khi cái chết đến, bạn sẽ không bị rơi vào cõi xấu ác. Dù hiện tại bạn có tiền, có quyền thế…cũng đừng cho rằng mình sẽ luôn có kết quả tốt. Bởi cho dù tính bạn tốt cũng không chắc chắn gì nếu trong quá khứ bạn từng sát sinh, ăn thịt, tạo rất nhiều nghiệp xấu. Hãy tự kiểm xem bạn đã sám hối chưa?

Trong “Tứ chủng thanh tịnh minh hối”, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng giảng: “Thời mạt pháp, dâm tâm hừng thịnh, mọi người đều xúm nhau quảng bá dâm dục, ngày ngày tán dương dâm”, bạn xem có phải là thời này chăng? Hiện nay, ở đâu cũng thấy quảng cáo, từ ngoài đường, phố xá đến báo đài…mà người quảng cáo thường ăn mặc rất hở hang.

Hôm kia đi trên đường, lúc chờ đèn đỏ, tôi thấy bốn cô gái bên cạnh, mặc y phục hở cả lưng, eo, đùi…Mốt bây giờ là mặc hở rốn, hở eo, phơi hết bụng ra…Quần hay váy gì cũng cực ngắn, còn mặc tụt xuống thật thấp…khắp nơi nhan nhản. Các vị mặc như muốn phơi thân hết ra ngoài vậy.

Người thời nay quá chú trọng chuyện phòng the, lại còn đi ca ngợi, tán dương, hướng dẫn chuyện dâm tà…thậm chí còn khuyến khích cả việc thủ dâm, còn cho đó là bình thường vô hại. Còn đi săn lùng thuốc tráng dương, cường âm vì họ muốn làm tân nương tân lang mỗi ngày nên xúm nhau lo kiếm thuốc săn nở ngực, bổ chỗ này bồi chỗ kia, chẳng biết rằng làm vậy tạo ác nghiệp, sẽ chiêu cảm khổ báo cho bản thân, tương lai đều dẫn nhau xuống địa ngục. Vì thế, người tu học phải thanh tâm quả dục, dốc sức đoạn trừ dâm dục.

Vì chúng ta là phàm phu nên vẫn còn dâm tâm, nhưng phải lo khử vọng niệm này, quý vị có thể làm được không? Nhiều độc giả xem sách tôi viết, họ chỉ là những cặp vợ chồng trẻ độ 20-30 tuổi, đã có con viên mãn, nhưng hiện nay đều rất thích tu học và quyết tâm đoạn dục.

Lần này khi đến phi trường Thượng Hải, chuẩn bị lên máy bay, tôi nhìn thấy tấm hình cô gái quảng cáo trên trên vách một tòa lầu. Hình cô được phóng to, lớn hơn nhiều so với người thật. Đó là một cô gái tóc vàng mặc bikini, các ông vừa nhìn thì mắt liền dán chặt vào thân thể cô, chẳng muốn bước đi. Họ đều nghĩ: “Chà sao mà bốc lửa, bắt mắt quá!”.

Đúng là cô gái này trời cho có body đẹp, tôi vừa nhìn thì cảm giác đầu tiên là cô ta rất đẹp, nhưng cảm giác tiếp theo là tôi thấy rõ mồn một là cô hiện đang mắc bệnh phụ khoa rất nặng. Nghĩa là sao? Bởi do rất nhiều nam nhân vừa nhìn thấy hình cô, thảy đều dừng chân ngó chăm chăm, khởi ý nghĩ xằng bậy, dục phát ào ào. Chưa kể, sau khi các vị này về đến nhà rồi thì trong đầu họ luôn tơ tưởng đến hình dáng bốc lửa của cô, kèm theo ý tà dâm mãnh liệt, như vậy rất không tốt.

Tôi quán sát tiếp, thấy rõ cô gái này hiện vẫn còn sống, nhưng đang nằm liệt trên giường không thể cử động, bởi cô bị bệnh phụ khoa quá nặng. Có lẽ cô sống cũng chẳng làm việc gì bậy, lỗi chỉ có chụp quảng cáo thôi. Nhưng chính vì cô mặc đồ hai mảnh quảng cáo như thế, vô tình làm hại vô lượng vô biên người, cô đã phạm lỗi tà dâm: “Âm thầm gợi dục, kích khởi tâm dâm người bộc phát”.

Hiện nay ta thường thấy những hình ảnh hoặc các cảnh quay quảng cáo trong đó diễn viên, người mẫu hở hang tận mạng. Những loại quảng cáo dạng này rất có hại và mang tội nghiêm trọng vì có ý gợi dục khơi dâm. Cho nên, đã là đệ tử Phật, thực tâm muốn tu hành thì sát, đạo, dâm, vọng, chúng ta nhất định phải đoạn trừ.

Điều này thật đáng lo, những cậu bé trong tương lai sẽ là rường cột quốc gia, đang độ tuổi học hành, lẽ ra phải được tiếp thu những điều hay, lẽ phải…cần được đào tạo hun đúc nhân sính quan, thế gian quan chính xác. Nếu bị những hình ảnh ô nhiễm này trưng bày khắp nơi, liên tục đập vào mắt, tâm rất dễ bị lôi cuốn sa vào nẻo sai lầm, dẫn đến hành động hại mình hại người, thật rất đáng tiếc….

Tôi lại nhìn vào bức hình quảng cáo kia, cô gái trong hình nhan sắc yêu kiều quyến rũ, nhưng ăn mặc hở hang như vậy sẽ khơi gợi dục niệm trong lòng người. Thế thì tương lai, cô sẽ phải lãnh quả báo như thế nào?….

Vừa nghĩ đến đây, trong đầu tôi lại lóe sáng và thấy ngay dưới tấm áp phích to đùng, bỗng hiện màn ảnh như thế này:

“Có một cái giường sắt, dưới giường lửa cháy hừng hực, cô gái quảng cáo này đang nằm trên đó, lưng bị đốt cháy bỏng…Bên cạnh cô có hai vị áo đen cao to, tay cầm dao sắc bén, ra sức rạch vào bụng cô gái…lúc này ruột, phân, nước tiểu, máu mủ hỗn độn…trào ra ngoài”…

Nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi không ngăn được hoảng kinh, thầm nghĩ: “Đây há chẳng phải là hình phạt “Nam ôm cột đồng, nữ nằm giường sắt sao?”. Phạm tội tà dâm, khiêu dâm, kích dục…thì phải thọ báo ở địa ngục mà!….

Đồng thời, tôi cũng cảm nhận được cô người mẫu quảng cáo nội y này hiện thời tuy đang trẻ trung xinh đẹp, nhưng thân thể đang mắc rất nhiều bệnh, trong đó có chứng Lậu – một căn bệnh phụ khoa nan y hiểm nghèo…Lúc này trong đầu tôi vang lên câu xác nhận: “Người phụ nữ này do tạo tội tà dâm tất sẽ đọa địa ngục, kể cả người chụp hình và ê kíp thiết kế ấn loát cho ra những bức ảnh gợi dục kia, thảy đều sẽ lãnh quả báo đáng sợ. Phải đợi đến người cuối cùng trên thế gian này – người mà thấy hình chụp kia rồi nổi tâm dâm mà đọa ác đạo, rồi từ tam ác đạo thoát ra khỏi luân hồi, trở lên tu hành đến không còn niệm dâm dục nữa – thì cô gái này cùng nhóm người có liên quan đến việc chụp ảnh, sản xuất hình kia mới có thể thoát khổ địa ngục, ra khỏi ác đạo….”. “Vạn ác, dâm đứng đầu”. Thật là khủng khiếp!

Họa phúc không cửa, do người tự chiêu. Báo ứng thiện ác, như bóng tùy hình, phải biết Nhân quả báo ứng rất đáng sợ vậy.

Xin cảnh báo thế nhân, bất kể là nữ hay nam, đều không nên ăn mặc hở hang rồi chụp ảnh quảng cáo tự khoe lấy mình, phô diễn thân thể, quảng cáo ảnh sex, hay diễn phim gợi dục…v.v…Quý vị nếu không muốn tạo ra Nhân xấu địa ngục thì những hành vi ăn mặc, cử chỉ cần nên cao quý, đứng đắn, đoan trang, hành vi đừng cẩu thả phóng túng. Đừng chạy theo trào lưu, khoái một chút khen ngợi mà quả báo chính mình phải chịu.

Nếu như Quý vị thích ăn mặc hở hang để quyến rũ nhãn quang ưa nhìn của người khác phái, thậm chí kích động họ khởi lên dâm niệm, thì quả báo do ác nghiệp này tạo ra rất đáng sợ! Đôi khi chỉ vì một chút vô ý của quý vị, sai lầm, thiếu hiểu biết nhất thời mà chiêu hận thiên thu. Mong quý vị cẩn trọng ghi nhớ kỹ, thường cảnh giác để không tự hại mình…

Riêng hàng tu sĩ cần phải khắc ghi lời Phật dạy: “Xa lìa cảnh khiêu dâm! Mắt chẳng nhìn, tai chẳng nghe, miệng chẳng nói lời tà….
Người giữ giới bất dâm có năm công đức, quá khứ, hiện tại, vị lai Chư Phật đều tán thán. Người bất dâm, hằng trụ trong uy nghi Phật, thân tỏa hương thơm như Phật.

Các tu sĩ cần giữ mắt, tai, mũi, lưỡi tâm ý thanh tịnh…Mắt không nhìn sắc dâm, tai không nghe khúc hát gợi tình, lưỡi chẳng bàn chuyện thế tục, chẳng khen dâm sự, miệng vĩnh viễn chẳng ca ngợi dâm ái xúc lạc, chẳng nói những lời làm tăng nghiệp xấu ái vô minh. Tâm chẳng trụ cảm giác cuồng si. Ý luôn thanh tịnh, không khởi nghĩ hay nhớ đến dâm, không tự hành tà hạnh.

Học theo hạnh Phật, hằng trụ tâm Phật như vậy là trụ nơi chân như, sẽ được năm công đức, thân thường thanh tịnh như hoa sen, trinh khiết trong sạch. Thế nên, giới bất dâm rất thù thắng thanh tịnh có đầy đủ công đức, lợi ích vô thượng…Đây là nhân giải thoát, dù tán thán ngợi khen mấy cũng không sao nói hết. Dâm là phiền lụy trói buộc cực nặng, là tội trọng căn bản. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tâm dâm chẳng trừ, trần lao khó xuất”.

Riêng quý vị tại gia, cư sĩ nên mặc y phục đứng đắn, rộng thoáng, không nên ăn mặc hở hang thái quá. Đặc biệt khi đến chùa chiền, quý vị không nên quấy nhiễu sự trang nghiêm thanh tịnh nơi đây. Trong Phật môn luôn nhắc nhở: “Thà khuấy động ngàn sông, chẳng nên làm động tâm người tu”. Nếu cố tình khiến người trì giới khởi tâm động niệm phiền não, là quý vị đang mắc tội phá giới thanh tịnh của người, lỗi này cực lớn, mong quý vị hiểu rõ để tự bảo vệ, răn dè.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 04:37 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Câu Chuyện Phật Giáo Số 36: Nghiệp Nhân Của Giàu Và Nghèo. (Nguồn : Phật Giáo Linh Sơn)

Em nhắn tin rồi gọi điện nói cho tôi biết em muốn thử nghề môi giới bất động sản vì thấy đất ở Phú Quốc đang rất nóng sốt, mọi người tranh nhau mua sang tay rất dễ dàng. Em và các bạn thường ra đó thấy họ làm ăn buôn bán rất nhộn nhịp, cũng muốn thử làm ăn chỉ là nhỏ lẻ thôi vì đa phần người ta môi giới bán lại cho các công ty, doanh nghiệp khi nơi ấy trở thành đặc khu kinh tế. Em muốn quảng cáo để gọi là mở rộng mối liên hệ làm ăn và cũng là thăm dò ý kiến của tôi.

Tôi khuyên em không nên tham dự. Em bảo thấy người ta buôn bán dễ dàng lắm, sang tay qua lại tiền tỷ như chơi nhanh chóng, chỉ là môi giới thôi. Tôi cười nói cho em biết chuyện người khác làm rất dễ dàng nhưng đến tay em không có gì dễ dàng cả. Người ta buôn bán đã thông, lanh lẹ, họ làm ăn theo tập đoàn, ra thương trường chứ em thật thà không có những tiêu chí đó. Vả lại, em quên rằng trong nhà Phật của mình đã dạy, giàu sang hay không là do phước. Nếu người có phước thì ngồi không tiền cũng tới. Ngược lại, nếu phước quá mỏng, nghiệp quá dày, làm gì cũng mang nợ vào thân thôi.

Tôi bảo em tốt nhất là an phận thủ thường, làm việc ngày ngày kiếm đủ cơm thế là được rồi, đừng mơ mộng, đừng khởi lòng tham dù tức thời gì cả. Cái gì cũng có cái giá của nó, có khi đó là đại họa chứ không phải phước báu như em tưởng. Em hãy nhìn lại những việc em làm và nghiệp duyên của mình xem tôi nói có đúng không. Em không phải là người chen chân trong những phi vụ làm ăn buôn bán đâu, mà tôi nói đùa, phước kém lắm, em làm gì cũng không xong.

Có lẽ em chỉ là vui thử ý nhưng nghe tôi nói vậy đâm ra cười tôi đã tiêu diệt giấc mộng làm doanh nhân môi giới bất động sản. Cứ nghe em nói đòi kinh doanh làm gì tôi là người cản đầu tiên. Em thuộc về tánh thiện để tu, không thể bị phủ bụi trần, hễ lao vào vật chất thì thân tâm bại hoại, lo bình yên tu hành đó chính là làm giàu cho ngàn kiếp về sau có lợi lạc hơn
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 04:55 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Câu Chuyện Phật Giáo Số 33: Đất Quý Đất Yêu.

Dạo này thiên tai động đất liên tục hoành hành. Cơn bão Harvey tàn phá Texas vừa xong thì cơn báo Irma lại tràn vào Florida với cường độ lớn chưa từng thấy. Bao nhiêu nhà cửa cơ sở hạ tầng trường học bệnh viện bị ngập, người dân sơ tán khắp nơi. Cuộc sống trong thời bão loạn làm con người cũng xích lại gần nhau hơn, tình người càng thêm thắt chặt.

Nước Mỹ chỉ vừa hoàn hồn chưa hết ám ảnh vì bão thì nàng thiên tai đỏng đảnh Maria lại đến tàn phá đất nước Puerto Rico, thường được mệnh danh là tiểu bang thứ 51 của Mỹ một cách kinh hoàng. Người dân lầm than sống trong cảnh màng trời chiếu đất.

Bão lũ cứ tiếp tục đến tàn phá cứ như thể nàng Kiều mắc nạn “hết nạn nọ đến nạn kia. Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.” Một trận động đất khá mạnh vùi dập đất nước Mexico làm hàng trăm người chết. Mọi người ngơ ngác đang tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với mảnh đất mình đang sống và thế giới hiện nay.

Thời gian cơn bão Irma đi vào Florida là thời gian tôi đang ở Việt Nam và Đài Loan vừa du lịch vừa tránh bão. Ngẫm cũng lạ khi mình ở tại nơi ấy mình không cảm thấy có sự gắn kết gần gũi khăng khít nhưng khi đi xa, khi nghe tin bão, lòng tôi thắt lại lo sợ cho mảnh đất quê hương thứ hai của mình. Quả đúng là :’

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.”

Có một hôm, đoàn khách du lịch ở Đài Loan gồm 28 thành viên từ 7 quốc gia của chúng tôi được hướng dẫn viên đưa đến tham quan một bờ biển. Đài Loan là một quốc đảo bao phủ bởi biển nên đi đâu cũng thấy biển vành đai. Tuy vậy, biển Đài Loan ngoài màu sắc chuyển đổi khá lạ còn lại không đẹp hay là những bãi tắm nổi tiếng như Nha Trang hoặc Cam Ranh.

Bãi biển mà chúng tôi được đưa đến tham quan có rất nhiều đá sỏi. Theo người hướng dẫn viên cho biết, đá sỏi ở đây rất kỳ lạ vì có nhiều màu và khi ngâm trong nước biển sẽ chuyển màu sắc rất đẹp. Tuy vậy, chúng tôi được căn dặn rất kỹ không được nhặt hay lấy bất cứ một hòn sỏi hòn đá nào ở đây vì có thể được xem như là “quốc bảo” do công tác bảo tồn thiên nhiên của Đài Loan khá tốt. Chúng tôi có thể sẽ bị phạt và có vấn đề với cảnh sát hay an ninh sân bay nếu phát hiện mang đá mang sỏi trong hành lý ra sân bay từ biển. Người hướng dẫn còn nói vui nếu chúng tôi có bị cảnh sát bắt giữ thì nhớ đừng nói là quen anh ta do chính phủ Đài Loan đã tuyên truyền giáo dục căn dặn các hướng dẫn viên du lịch rất kỹ càng về vấn đề này.

Tôi đến bờ biển nhưng chỉ đứng từ trên cao ngắm biển. Trời quá nắng nên tôi cũng không muốn ra biển nhìn sỏi đá sóng sánh trong nước. Từng hạt cát, từng viên sỏi ở đây còn được yêu quý, bảo tồn, trân trọng và nâng niu. Người Đài Loan trân quý đất đai cùng tất cả những tinh hoa kết thành đất nước của mình.
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 04:56 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Câu Chuyện Phật Giáo Số 17: Chuyện Người Đàn Ông Chịu Quả Báo Vì Phá Thai. Nguồn: Phật Giáo Linh Sơn)

Nạo phá thai đang trở thành một đại nạn cho đất nước Việt Nam và thế giới. Đáng buồn thay, Việt Nam chúng ta, dù chỉ là một đất nước đang phát triển nhưng lại có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới với ít nhất 400,000 ca nạo phá thai / một năm, theo thống kê nhưng thực tế cao hơn rất nhiều lần. Việc sát hại một sanh linh chưa ra đời trở nên hết sức bình thường như người ta bỏ một món đồ nhưng nào ai biết được nhân quả khủng khiếp là như thế nào.

Trên trang nhà Linh Sơn Phật Giáo, mỗi ngày ban biên tập nhận được khá nhiều email cùng những lời tâm sự của các bạn trẻ từng phá thai giờ bị quả báo hoặc một số biết ăn năn hối cãi muốn chỉnh sửa lỗi lầm. Nhiều bạn vì không hiểu về Phật pháp lại nghe theo lời khuyến dụ của những kẻ buôn thánh bán thần, mê tín dị đoan, đồng bóng cúng tế linh đình, chưa kể sát sanh con vật cúng mặn, đốt aó quần vàng mã, tốn tiền xem bói toán và có khi dùng cả những tà thuật trấn yểm, xua đuổi “giết” vong nhi trong vô hình mà không hề nghĩ đó là quả báo phải trả.

Xem thêm:

Nạo Phá Thai Và Nhân Quả – Nên Cầu Siêu Và Thờ Cúng Vong Nhi Như Thế Nào?

Nạo Phá Thai Và Nhân Quả – Cách Siêu Thoát Cho Vong Nhi

Đọc những dòng tâm sự đó, chúng tôi vừa thương vì các bạn biết sám hối quay đầu, còn chút lương tâm nhưng cũng thoáng buồn sao tệ nạn ngày mỗi dẫy đầy hỏi sao chiến tranh, thiên tai hoạn nạn không xảy ra liên hồi. Biết bao nhiêu lần HT Thích Giác Quang, viện Phó Quan Âm Tu Viện Đồng Nai đã vô cùng từ bi phải trả lời nhiều câu hỏi rất tế nhị về việc nạo phá thai, độ vong nhi chỉ hòng mong cảnh tỉnh các bạn và hướng dẫn các bạn đi đúng con đường Phật pháp nhất để có lợi cho cả người còn sống và cả vong nhi, không phải tiền mất tật mang sinh ra đau khổ. Tuy nhiên, hình như các bạn vẫn hoang mang hay không chịu đọc kỹ, vẫn tiếp tục gởi hàng loạt câu hỏi tương tự hoặc sợ trường hợp mình không giống với người thường đến nổi nhiều khi chúng tôi không còn muốn trả lời nhưng vì thương các bạn nên vẫn cố gắng hồi âm đầy đủ.

Đặc biệt, mỗi ngày ở tu viện, quý thầy và hòa thượng đã phải từ bi tiếp không biết bao nhiêu bạn đến xin thỉnh nhờ giúp đỡ quy y, chú nguyện và gởi vong linh thai nhi đến nổi gần như quá tải dù ban biên tập đã nhủ khuyên các bạn có thể đến bất cứ ngôi chùa nào có duyên với mình. Bao nhiêu trai đàn chẩn tế thai nhi diễn ra khắp nơi với số lượng người tham dự đông khủng khiếp nhưng gần như không thấm vào đâu so với số vong nhi bị sát hại hàng ngày. Theo HT Thích Giác Quang, nếu muốn sám hối , làm lễ cúng thai nhi nên thực hiện như sau:

“Tại Việt Nam, nơi nào thì Sư không rõ, nhưng ở Quan Âm tu viện, Biên Hòa, Đồng Nai; Phật tử dù nam hay nữ đến sẽ được hướng dẫn như sau: không thờ thai nhi, chỉ cần Bạn đặt tên cho thai nhi con Bạn; Bạn cảm niệm là nam thì con Bạn là nam, Bạn cảm niệm con Bạn là nữ thì nó sẽ là nữ, Nhà Sư nương theo đó mà đặt pháp danh cho thai nhi, đến chánh điện lạy Phật cầu nguyện họ tên pháp danh của thai nhi vãng sanh theo Phật là đủ rồi, không phải cúng kính mâm quả, đặt tiền vàng chi cả. Tuy nhiên khi về nhà Bạn, mỗi đêm niệm 21 biến thần chú vãng sanh cho đến khi nào không còn lo âu phiền muộn."

Trong giữa hàng ngàn lời tâm sự và email về vấn đề này, rất ít có lời tâm sự từ những người cha của các vong nhi mà toàn chỉ là các người mẹ. Có lẽ mọi người quan niệm rằng việc phá thai là do người mẹ nên tội lỗi do người mẹ gánh chịu còn người cha không hề gì. Không phải như vậy mà tội lỗi phá thai kể cả cha và mẹ của vong nhi đều phải gánh chịu Nhân đây, chúng tôi xin kể cho các bạn nghe câu chuyện:“Chuyện Người Đàn Ông Chịu Quả Báo Vì Phá Thai” . Nhân quả là không hề sai chạy và quả báo cho việc nạo phá thai thì cả cha cũng như mẹ đều phải gánh chịu, tùy do nhân duyên nghiệp quả của mình với vong nhi. Do đó, các bạn hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi hành động để tránh bị nghiệp quả có hối cũng không kịp. Các bạn hãy cố gắng từ bỏ ác nghiệp, làm thật nhiều việc lành, ăn chay, phóng sanh, sám hối nghiệp chướng, thực hành theo lời Phật dạy, biết niệm Phật, tụng kinh rồi hồi hướng cho vong nhi thì đó là điều tốt nhất. A Di Đà Phật!

“Vào khoảng năm 1987, chính phủ Đài Loan bắt đầu có một lọat canh cải những luật lệ được cởi mở trong sân trường. Trước đây, cách thức điều hành sinh họat sinh viên rất nghiêm túc. Thí dụ, có những luật không cho phép sinh viên để tóc dài, cấm nam nữ có liên hệ trong sân trường, và sinh viên không được vào vũ trường. Sau khi những luật lệ cởi mở này có hiệu lực, thường thấy những đôi uyên ương chụm lại ở sân trường, và trong những ngày lễ của trường, sinh viên đi khiêu vũ với bạn bè suốt đêm. Ở một phòng khiêu vũ, tôi gặp môt cô là nhân vật chính trong câu chuyện này. Sau khi hẹn hò với nhau một thời gian, cô có thai và cô quyết định phá thai ngay lập tức. Vì lý do nào đó, tôi cảm thấy phá thai không đúng, và tôi đã lên tiếng chống đối. Tuy nhiên, cô bạn tôi vẫn giữ vững lập trường, cuối cùng tôi phải nhượng bộ và cùng đi với cô đến một bệnh viện. Chỉ trong nửa giờ, một sanh mang bị hủy diệt. Trong lúc chờ đợi phòng đợi, tôi cảm thấy như dao đâm vào tim và đau đớn vô cùng. Tôi cảm thấy hổ thẹn và tội lỗi kinh khủng về sự sanh mạng bị đánh mất này. Việc này xảy ra vào tháng tư năm 1989. Tôi không thể tin là một sinh viên mới chưa tới hai mươi tuổi, tôi đã mang một việc thiếu suy nghĩ là mang một sự sống vào đời rồi ngu si dẹp bỏ quyền sống này!

Vào đêm thứ sáu sau ngày phá thai, tôi mơ thấy một bé trai. Nó nhìn tôi hau háu, trong tay cầm một con dao. Thình lình, nó thọc dao vào cổ tôi, để lại một vết cắt rất sâu. Trong giấc mơ, tôi lấy tay che cổ, và tôi thức dậy trong cái đau. Trong thâm tâm, tôi hiểu đó là đứa bé bị phá thai đã đến để trả thù! Từ đêm hôm đó trở đi, tôi thường thức dậy vào khoảng bốn giờ sáng vì đau bụng và sức khỏe của tôi bắt đầu giảm sút.

Tôi càng ngày càng nóng nảy đến độ nhiều lần tôi muốn đánh bạn gái tôi. Vào lúc đó, tôi không hiểu tại sao thân tâm tôi lại thay đổi như thế. Cho đến khi tôi quy y với Hòa Thượng Tuyên Hóa tôi mới ý thức việc phá thai là kinh khủng như thế nào. Tôi cố gắng hết sức để sám hối, cải thiện, lạy Phật, tụng Kinh, Chú và tụ tập nhiều loại công đức. Tôi chỉ mong là “đứa bé” sẽ tha thứ cho tôi.

Sự trả quả báo của tôi đã đến mười năm trước đây – tôi bi chẩn đoán có bệnh ung thư. Các bác sĩ tìm thấy một mầm ung thư ác tính dài bốn phân tây ở cổ tôi, chỗ mà đứa bé gây thương tích cho tôi trong giấc mơ. Mặc dù sau khi giải phẫu tôi có vẻ được chữa lành, tôi tiếp tục tu hành cần mẫn và hồi hướng công đức cho đứa bé, hy vọng tôi có thể chuộc lỗi lầm to lớn của tôi.

Vào lúc phá thai, chúng tôi đều còn trẻ và khờ khạo. Có lẽ chúng tôi sẽ không làm những lầm lỡ như thế nếu xã hội và nhà trường có những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn, nếu việc ngăn cấm về nhảy đầm không bị bãi bỏ, nếu chúng tôi đã được giáo dục nhiều hơn về đạo đức, hoặc bạn gái của tôi và tôi đã hành xử trong lễ giáo Thực ra, trong đời sống đôi bạn, không quan trọng là người nam hay người nữ biết hành xử theo lễ giáo. Chỉ khi nào một trong hai người quyết giữ gìn sự trong trắng của mình thì lầm lỗi sẽ không xảy ra.

Chia sẻ kinh nghiệm của tôi, tôi mong nhắc nhở tất cả mọi người nương theo những tiêu chuẩn đạo đức khi quan hệ trước hôn nhân, và đừng phạm vào những nghiệp chướng về tà dâm và sát sinh. Quan trọng hơn nữa, tôi mong được khuyến khích các người trẻ nên học để biết kiểm soát dục tình của mình, tập trung tư tưởng vào việc học hành, và tâm niệm về những lời cảnh cáo của các thầy cô và những người lớn tuổi.

Có lúc chúng ta nghĩ những lời cảnh giác này là câu chuyện nhàm tầm thường và không màng để ý, cảm thấy rằng chúng ta có thể lèo lái mọi chuyện được bình thường. Nhưng, khi làm một lầm lỗi lớn, rất khó mà sửa lại được. Đừng trở thành một người như tôi, luôn mang mặc cảm và xấu hổ suốt cả cuộc đời không thể xóa nhòa đuoc.

Cuộc hành trình trong đời sống chúng ta hãy còn dài. Cho nên chúng ta phải bình tĩnh khi có những mong muốn đột nhiên nầy sinh. Đừng nghĩ phá thai là lầm lỗi của chỉ người đàn bà. Người đàn ông cũng có trách nhiệm và sẻ kinh nghiệm quả báo không khác. Tôi chân thành mong rằng tất cả chúng ta sẽ cùng nhau làm việc để cung cấp giáo dục và giúp đỡ các bạn trẻ nhiều hơn . Tôi cũng mong rằng những ban trẻ mau tỉnh ngộ ra khỏi những giấc mơ mê lầm., và đứng để những lầm lỗi này xảy ra nữa!

Đừng nghĩ rằng phá thai là lỗi của người phụ nữ mà thôi. Người đàn ông cũng có trách nhiệm và bị trả quả báo.”

BBT Trang Nhà Linh Sơn Phật Giáo
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 12-27-2019 , 05:05 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Câu Chuyện Phật Giáo Số 27 – Cuộc Đời Đầy Chung Thủy Đau Thương Khi Làm Tổ Của Loài Chim Yến.
(nguồn : Phật giáo Linh Sơn)

Người thân gia đình của một người bạn ở Việt Nam bị bệnh hiểm nghèo, ăn uống không được. Cả nhà lo lắng và hỏi Ngọc Hằng có nên mua nhân sâm, yến sào để bồi bổ cơ thể và chữa bệnh. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu Ngọc Hằng phải nghe về niềm tin mãnh liệt của rất nhiều người thân, bạn bè ở Việt Nam tin tưởng tuyệt đối vào những loại thực dưỡng cấp cao có thể chữa trị bách bệnh.

Mỗi lần về Việt Nam, đến nhà người thân bạn bè, nhất là những gia đình giàu có, Ngọc Hằng đều được mời uống nước yến sào dù hiếm khi nào Ngọc Hằng rờ đến. Trong tâm lúc ấy chỉ mong một ly nước lạnh hoặc nước dừa sẽ đỡ hơn nhiều. Vì biết Ngọc Hằng làm trong ngành y, rất nhiều người thân, có lẽ là vì theo tập quán sức mạnh số đông tin theo và vì thiếu kiến thức, đều ít khi hỏi làm thế nào để phòng bệnh mà chỉ toàn hỏi thuốc trị đặc hiệu kiểu cải lão hoàn đồng, thực dưỡng hạng sang ở Mỹ nếu có như là thực phẩm chức năng, đông trùng hạ thảo, sữa ong chúa, sâm nhung đại bổ, nấm linh chi, vi cá mập … nghe quảng cáo từ người thân và có nhờ Ngọc Hằng mua giúp.

Ngọc Hằng từ chối và thầm cười vì những thứ mà mọi người đang tôn sùng, người dân Mỹ chẳng mấy ai quan tâm biết gì còn thuốc rởm, thuốc giả được quảng cáo ra rả trên ti vi hàng ngày "sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi" lan tràn khắp ở Mỹ. Đó là chưa kể những thứ này theo thành phần nghiên cứu có giúp tạo ra một lượng vi chất, các loại acid amin thiết yếu bồi bổ cơ thể nhưng nếu vậy uống thuốc bổ multivitamins hay rau cải khác sẽ có đầy đủ, lại khá rẻ, đâu cần phải khổ đến vậy nhưng tâm lý của rất nhiều người Việt, cái gì càng đắc thì mới là tốt dù có khi đó chỉ là những thứ thuốc lừa đảo không có giá trị dinh dưỡng gì.

Nha Trang quê hương của Ngọc Hằng được xem là có tài nguyên vàng trắng : Yến sào(Tổ con chim yến), nên không lạ mọi người đều ca ngợi Yến sào. Nhiều năm trước khi chưa ăn chay, Ngọc Hằng cũng đã từng thử Yến sào cao cấp từ người thân nhưng không hề cảm thấy có giá trị, khỏe trẻ hơn hay ham thích gì. Em Ngọc Hằng nói thay vì ăn Yến sào thì ăn nấm tuyết với gỏi hay rau trái còn có giá trị dinh dưỡng khỏe mạnh hơn. Biết bao nhiêu lần Ngọc Hằng đã giải thích, phân thích về thành phần dinh dưỡng trong yến sào với những loại thức ăn rẻ tiền khác nhưng rất tốt mà chẳng mấy ai nghe nên Ngọc Hằng cũng mặc kệ.

Yến sào có giá trị dinh dưỡng riêng như các loại thực phẩm khác nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có nhiều bằng chứng khoa học thiết thực về lợi ích của yến sào. Thêm vào đó, chất bổ nếu dùngkhông đúng cách sẽ trở thành chất độc giết người. Nếu Yến sào và các thực phẩm thượng lưu có giá trị dinh dưỡng cao, cải lão hoàn đồng, chống tất cả các bệnh thì những vua chúa xưa kia phải sống rất khỏe, rất thọ. Trái lại, đa phần đều chết rất trẻ và chết yểu dù chất bổ được đưa vào người mỗi ngày. Nguyên nhân vì sao? Đó là vì tâm không an, bệnh tật cứ tiếp tục kéo đến gây phiền não mà thôi.

Đời sống của chim yến rất tội nghiệp nhưng rất đẹp và việc khai thác tổ yến quá mức làm bao nhiêu chim yến phải chết oan uổng, theo Ngọc Hằng đó là một tội ác. Các loài vật có cuộc sống của họ, có nhà ở riêng để chúng nuôi con cái, xây dựng cuộc sống của mình. Con người chúng ta nhân danh động vật cấp cao sẵn sàng ra tay sát hại mọi loại, khai thác mọi thứ miễn có lợi cho bản thân mình mà không hề nghĩ đến hậu quả sau này. "Tâm bình thế giới bình, tâm an vạn vật an." Chỉ có rèn tâm ý thiện, thương yêu muôn loài mới mong có cuộc sống khỏe mạnh, an vui, tuổi xuân dâng tràn. Xin gởi đến các bạn bài viết về cuộc sống đầy tình cảm yêu thương và sự khổ nhọc tạo tổ nuôi con của loài chim yến. Cầu mong cho việc khai thác yến bừa bãi sẽ được tiêu trừ để loài yến được bình an bay giữa biển trời xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho mình như muôn loài khác trên trái đất. Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát!

"Có 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở VN trước năm 75 có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…
Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá…Ông nói tội lắm cô ơi…đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ…Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm…Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…

CHUYỆN CỦA CHIM YẾN
Câu chuyện ray rức lòng người.Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim trống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác. Mùa khai thác Tổ Yến.Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung.

Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình, không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến…Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm, không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ, yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.

Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Vì thế, các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến trống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.

Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy.

Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.

Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Yến săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.

Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.

Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỷ gọi đó là “Hồng Yến”…

Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.

Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?

Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó."

Ngọc Hằng
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:30 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TÔi CHỌN LÀM TỲ KHEO.

Tôi đã thấy biết bao người giàu có
Chưa bao giờ từ bỏ tánh tham lam
Vẫn mãi mê ham của cải bạc vàng
Vẫn khao khát chạy hoài theo khoái lạc

Tôi đã thấy biết bao là vua chúa
Chưa bao giờ an phận với giang san
Dù biên cương giáp bốn biển ngút ngàn
Vẫn muốn nữa, muốn biên thùy rộng mãi

Người thế gian, từ bần dân, vua chúa
Trước tử thần, tâm vẫn còn tham
Tiếc công danh, tiếc sự nghiệp chưa thành
Nhưng phải bỏ, tay buông xuôi, nhắm mắt

Quanh người chết bao người than, kẻ khóc
“Hỡi người thân! Sao vội bỏ ra đi!”
Trong áo quan, người nằm đó im lìm
Lửa thiêu đốt, xác thân thành tro bụi

Ðem theo gì, trên mình manh vải liệm!
Còn lại chi, bia mộ khắc đôi hàng!
Dù muốn về trở lại cõi trần gian
Nhưng phải chịu tái sanh theo nghiệp định

Kẻ còn sống đang tranh giành thừa kế
Người chết nầy chỉ có nghiệp đem theo
Khi ra đi tay trắng chẳng mang gì
Bỏ con cái, bạn đời cùng của cải

Bách niên đại thọ bạc tiền nào mua nổi
Biển ngọc rừng vàng sao tránh khỏi già nua
Lời thánh nhân nhắc nhở lẽ Vô thường
Ngắn ngủi lắm! Kiếp người, nên ghi nhớ!

Bậc có trí quán tưởng luôn sự chết
Phút lâm chung tâm bình thản an nhiên
Kẻ phàm phu không quán tưởng thường xuyên
Nên phút cuối lâm chung đầy sợ hãi .

Trí tuệ quý hơn tiền tài của cải
Trí tuệ giúp người đạt Ðạo Quả Vô Sanh
Kẻ si mê biết bao kiếp đạt thành
Trôi nổi mãi trong luân hồi vô tận

Từ bào thai người sanh về cõi khác
Tiếp tục hành trình đi mãi không thôi
Còn vô minh, nghiệp quả trói thân mình
Hết Sinh-Tử-Tái Sinh vòng lẫn quẫn

Như kẻ cướp chịu luật đời phân xử
Nghiệp chúng sinh, luật nhân quả nghiêm minh
Ðể đời sau, nghiệp cũ bước theo mình
Trổ quả dử, khổ người gây nghiệp ác

Dục lạc ngũ trần, vị ngọt ngon thơm ngát
Làm động lòng, làm xao xuyến tâm can
Thấy hiểm nguy trong vị ngọt ẩn tàng
Làm ẩn sĩ, tôi sống đời thanh thản

Kiếp người mong manh như nhánh cây đầy trái
Gió rung cành, trái xanh, chín, rụng rơi!
Bởi hiểu thế, tôi đắp y cạo tóc
Làm Tỳ khưu vui đạo sống thanh bần

(Kinh 82 Ratthapàla -Trung Bộ Kinh)
English translation by
Bhikkhu Thanissaro
Dhammesaka lược dịch (Nguồn LINH SƠN PHẬT GIÁO)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:33 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TỤNG KINH A DI ĐÀ ( HT Thích Tri Thoát )

https://www.youtube.com/watch?v=JwXDdIvG6UQ
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:35 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TỤNG KINH PHỔ MÔN ( HT THÍCH TRÍ THOÁT)

https://www.youtube.com/watch?v=6LRUF3YGw10
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:38 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
TỤNG 48 LỜI NGUYỆN CỦA PHẬT a DI ĐÀ (HT THÍCH TRÍ THOÁT)

https://www.youtube.com/watch?v=sKL8CvPJCtE
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:41 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Niệm Phật Với Con

Thời thơ ấu, giấc ngủ của tôi thường chìm trong tiếng niệm Phật của bà nội. Tiếng niệm Phật trầm trầm êm dịu của bà trong những chiều mưa ủ dột hay những đêm trăng sáng, trong những tối hạ nồng nóng bức hay đêm xuân mát mẻ, hình như đã đi sâu vào trong tâm thức của tôi còn hơn những lời mẹ ru.

Âm hưởng nhẹ nhàng của nó có một sức thoa dịu lạ kì, không kích thích, không xoáy vào tai, không mê hoặc, không đe dọa, tiếng tụng kinh cứ theo giọt mưa, ánh trăng, mồ hôi ướt áo, cơn gió hây hây tẩm vào vô thức non nớt của một đứa bé chưa biết đời là bể khổ và nằm lưu lại ở đó như một thứ kháng tố cho những chìm nổi đời người về sau.

Tôi còn nhớ, nằm với mẹ bên này buồng, nghe mẹ ru hời, bên kia gian giữa nhà trong ánh đèn dầu mù mờ, tiếng niệm Phật của bà đều đặn chăm chỉ vọng xa, không chỏi tai, không phá điệu ru, mà lại hòa lẫn như một điệu đệm của lời ru đưa tôi vào những giấc ngủ an lành. Nhiều khi mẹ ru nửa chừng rồi thiếp đi, nhưng tiếng niệm Phật của bà thì ngày đêm đều đặn, tinh tấn, siêng năng, kiên trì, bền bỉ. Mỗi khi thoáng nghe lần niệm Phật thứ nhất “Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật”, tôi chưa biết mình đang nghe, tâm chưa lắng, ý tưởng còn ở nơi cái bánh, cái kẹo, đồng xu, hộp đồ chơi; đến tiếng niệm “Nam-mô” thứ hai, rồi thứ ba, tâm thức đang lêu lỏng vu vơ bất định bỗng như được dẫn dắt lần theo âm hưởng êm đềm mà quay về một nơi yên ổn là “Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật”, thần kinh hết căng thẳng, tay chân, xương sống thư thái dãn sãi, mi mắt trĩu xuống, môi mềm dại ra… và cơn ngủ đến từ lúc nào đã đưa tôi rời cõi thật…

Tiếng niệm Phật hiền lành đã theo tôi như thế suốt những năm tháng bình an hay sóng gió, nếu trong nhà không ai trì tụng thì cũng đã có tiếng chuông mõ và tiếng niệm Phật của ngôi chùa làng hay của láng giềng vọng sang, quen thân, gần gũi. Cho đến lúc tuổi thành niên theo mẹ lên phố đi học, tôi không có dịp nghe điệu tiếng niệm Phật hằng đêm, hầu như quên lãng, nếu không nói mỗi khi chợt nghe ai tụng niệm thì thấy khó chịu, buồn ngủ, vì tiếng trầm đều của nó. Tôi đang lớn… và đang theo những làn sóng mới. Tân nhạc đi cùng với trào lưu hiện thực, sống xốc nỗi, sống hết mình, ồn ào và kích động đang từ phương trời xa lạ Âu Mỹ tràn sang. Những đam mê tuổi trẻ và sức sống năng động đã đưa tôi rất nhanh xa rời những chi có vẻ thụ động ủy mị và cầu khẩn van xin trong đó có cách thế “niệm Phật” của người Phật tử. Cùng một lúc, phong trào thiền học của Nhật Bản và phong trào hiện sinh ở Âu châu đang nở rộ khắp nơi. Tôi đã tìm thấy trong phương pháp thiền định chìa khóa sáng tạo của tư duy đạo Phật và một thời đã xem con đường Thiền học là con đường duy nhất, đúng đắn nhất cho một người Phật tử dấn thân.

Mãi đến khi tình thế bắt buộc phải lập thân ở xứ người, quanh mình bị bao vây bởi nếp sống Tây phương và chính tôi cũng là kẻ theo Tây tới nơi tới chốn những chi lịch lãm của cuộc chơi, còn chơi trội hơn dân Tây, lần đầu tiên ngồi ôm đứa con mới sinh trong lòng, bỗng thấy mình chơ vơ như ở trên ốc đảo, tứ cố vô thân. Không Bà, không Mẹ, không người thân, không chùa chiền, không xóm giềng để nghe “ké” một tiếng chuông, tôi lúng túng chưa biết dạy con như thế nào cho phải đạo làm người, và trong cơn bối rối tôi đã bắt đầu – như từ trong vô thức – nói với con bằng thứ tiếng “của Bà và của Mẹ”.

Giữa tiếng ru con lạc lõng bên trời Âu, con tôi đã được nghe tiếng niệm Phật của mẹ ngay những ngày đầu trong đời. Khi lên bốn tuổi, đứa con đã thuộc lòng “Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật”. Cứ thế mà thành ra một thói quen trong cuộc sống hàng ngày, trước khi đi ngủ, sau khi nghe chuyện cổ tích hay nói chuyện tầm phào, bố mẹ và con nằm yên, tay chắp trước bụng thở đều cùng nhau niệm Phật, cầu nguyện an lành cho người thân, cho mọi chúng sinh. Thoạt đầu đứa bé chẳng hiểu chi, chỉ thấy vui vui ngộ nghĩnh khi thấy bà mẹ đang huyên thuyên hát hò bỗng nằm yên, hai tay chắp trước ngực, tưởng mẹ làm trò chơi mới nên bắt chước làm theo.

Suốt mấy mươi năm, việc trì tụng “Nam-mô Bổn sư” không một chút hình thức ấy đã cho hai mẹ con những giây phút hòa đồng và ấm áp nhất, nếu không nói trong khi cùng nhau trì tụng, mẹ với con trở thành là “một” như thuở chưa sinh, nhưng lần này là một nhất thể gấp đôi: qua tiếng kinh không những con ở trong mẹ mà chính mẹ cũng ở trong con, mẹ con bình đẳng như tất cả chúng sinh trong một tiếng niệm Phật Bổn sư!

Về sau và mãi đến hôm nay niềm hoan hỉ thật vô bờ, khi biết rằng dù xa nhau nghìn vạn dặm, ở một góc trời mô đó, đứa con đêm đêm vẫn chắp tay niệm Bổn sư cầu nguyện an lành cho cha, cho mẹ, cho người thân và hết thảy chúng sinh. Cho nên tuy không nghe mà vẫn nghe, tuy xa mà lại vẫn gần nhau trong gang tấc, tiếng niệm Phật bên này hay bên kia bờ đại dương đã giúp chúng tôi vượt bờ ngăn cách để có thể đến bên nhau trong nỗi hòa đồng vô lượng vô biên.

Quả thật như thế, chính trong khi cùng với con niệm Phật tôi đã chứng nghiệm được sức kì diệu của phương pháp niệm Phật mà thời trẻ tôi đã có lần ngộ nhận. Sự chú tâm chân thành vào trì niệm giúp cho ta hoàn toàn tập trung tư tưởng vào một điểm hoạt động chiều sâu của ý thức. Tất cả vọng tưởng, lo âu, sợ hãi nếu có, lần lượt biến đi một cách tự nhiên nhường lại cho đối tượng duy nhất là lời kinh. Bấy giờ tâm thức của ta nằm trong lời kinh hay nương theo lời kinh, dần dà lập lại thế quân bình nội tâm đã bị đánh lạc do ảnh hưởng chi phối của những tình trạng tâm lí bất an hay bị áp đảo do những đối tượng bên ngoài. Danh hiệu Bổn sư hay lời kinh thoạt tiên là chiếc thuyền chở tâm của ta vượt tất cả những làn sóng dữ của vọng tưởng mê mờ. Nhưng khi mức tập trung đã đạt đến tột đỉnh thì người và thuyền đã trở nên đồng nhất, ở đó tâm được an. “Tâm an” là điều kiện cho chân lí hiển hiện, cho tình thương phát triển và chân lí được chứng ngộ.
Trong viễn tượng giác ngộ của quan điểm Thiền học, được hiểu như giải phóng toàn diện khỏi tất cả những chấp mê, niệm Phật chưa phải là phương pháp toàn hảo, bao lâu tâm còn bám vào lời kinh. Nhưng trên bình diện chứng nghiệm, niệm danh hiệu Phật có thể tạo được cho tâm thức trước tiên một mái nhà trú ẩn an lành để chánh niệm phát triển. Ở trong một chừng mực nào đó, nói như Heidegger, nếu ngôn ngữ là căn nhà của thể tính (Etre, Beeing) (die Sprache ist das Haus des Seins), là nơi thể hiện của Tâm Nhất Thể, thì theo quan niệm của Tịnh độ, nơi mỗi tiếng niệm Phật ở bên này bờ của Tâm, kẻ hành trì đang làm nở một đóa hoa ở bên kia bờ giác ngộ của Tâm, căn nhà ngát hương của thể tính hội nhập.

Một cách vô thức tôi với con trong nhiều năm tháng của cuộc đời đã cùng nhau ươm thành một vườn sen thơm ngát vị Đạo trong một lời đơn giản thuần thành “Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật”.

Thái Kim Lan (Nguồn Linh Sơn Phật Giáo)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 03:57 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Tu Thân Và Tâm.

Trong quyển "Ðạo Gì", chương 'âm dương nam nữ', phần cuối tôi có nói: Ðối với tôi, tu là tu cả hai, tu thân và tu tâm. Tinh thần và thể xác luôn đi đôi. không thể có một tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện hay tinh thần minh mẫn trong một thể xác bệnh hoạn.

Ở các chùa và tu viện, quý thầy cô tu hành thường bị bệnh rất nhiều, không bệnh nặng thì bệnh nhẹ, không bệnh này thì bệnh kia. Sinh, lão, bệnh, tử đâu ai tránh khỏi, nhưng không phải vì thế mà sống một cách cẩu thả, bừa bãi, không vệ sinh.

Qua kinh nghiệm bản thân, trước kia tôi cứ nghĩ tu là tìm một chỗ trong chùa, trong am vắng ngồi yên tham thiền nhập định, hoặc ngày ngày tụng kinh niệm Phật là đủ. Nhưng thật không đủ tí nào! Thân thể tôi gầy yếu dần và đi đến chỗ bệnh hoạn. Thành Phật đâu chưa thấy mà thấy sắp chết đến nơi. Từ đó tôi nhận ra sự lầm lẫn của mình là chỉ lo tu tâm mà không biết tu thân. Tôi phải bỏ thì giờ ra bù đắp lại sự thiếu xót của mình bằng cách nghiên cứu về Ðông-y, thực tập Khí công, Thái cực quyền và Yoga. Nhờ vậy sức khỏe của tôi mới trở lại bình thường.

Sau đây tôi xin nói về năm điều mà bất cứ người tu nào hoặc theo đạo nào cũng có thể thực hành được, đó là:

1) Buông thả, thư giãn.
2) Vận động thể dục.
3) Ðiều hòa hơi thở.
4) Ăn uống đúng cách.
5) Thiền quán.

Tu là sửa đổi cho tốt đẹp hơn. Con người gồm có thân và tâm, nếu chỉ sửa tâm thôi thì sự tu đó còn thiếu xót. Năm điều trên sẽ giúp ta tu sửa cả thân và tâm.

1) Buông thả, thư giãn

Thân và tâm tuy hai mà một, nói cách khác thể xác và tinh thần liên quan rất mật thiết với nhau. Ðau răng, đau bụng mà ngồi thiền thì tâm khó được an, và ngược lại nếu tâm buồn bực, lo âu thì các bắp thịt, gân cốt cũng nhức mỏi, khó chịu. Trong xã hội hiện nay con người sống rất vội vã, hấp tấp, căng thẳng, từ tâm hồn đến thể xác. Nếu ta để ý nhìn vào những người văn minh, trí thức một chút thì sẽ thấy nào trán nhăn, mày chau, vai co, cổ rút, lưng còng, v.v... Nhiều người đi làm mệt mỏi, về nhà nhảy vào giường ngủ, nhưng họ ngủ trong lo âu, trằn trọc. Tuy gọi là ngủ nhưng cơ thể và tinh thần không thực sự được nghỉ ngơi, nhiều lúc sáng dậy họ cảm thấy còn mệt mỏi hơn nữa.

Người tu cần tập buông thả, thư giãn. Buông thả những lo âu, phiền muộn trong tâm ý, và thư giãn những căng thẳng co rút của gân cốt, bắp thịt. Ta có thể tập buông thả trong tư thế ngồi hoặc nằm. Trong yoga có một tư thế gọi là tư thế xác chết (savasana) dùng để buông thả. Hành giả nằm ngửa trên sàn nhà, không nằm trên nệm, hai tay và hai chân hơi dang ra một chút. Mắt nhắm, hít thở thật sâu và đều.Trong lúc hít thở thì chú tâm vào sự phồng lên xẹp xuống của bụng. Sau đó ta chú ý đến từng phần trên cơ thể và ra lệnh cho nó buông thả, từ đầu xuống đến chân, hoặc từ chân lên đầu. Ta sẽ có cảm giác toàn thân ta như chảy ra, hoặc nặng như đá. Ðó là dấu hiệu thành công của sự buông thả. Ta chỉ cần tập năm, mười phút là đủ mỗi khi trong người cảm thấy căng thẳng, bực dọc.

Danh từ xác chết rất hay. Chúng ta nhiều phiền não, lo âu chỉ vì bám víu quá nhiều vào cuộc đời. Giả sử nếu nằm xuống chết thì sao? Chết thì mọi sự đều phải buông, dù muốn dù không. Chúng ta không buông xả được vì cứ nghĩ là mình sẽ sống đến trăm tuổi mới chết. Bởi vậy lâu lâu tập làm xác chết một chút sẽ giúp ta nhớ lại vô thường và tập buông xả.

2) Vận động thể dục

Tu hành không phải chỉ ngồi yên một chỗ, tụng kinh, tham thiền nhập định là đủ.Thời đức Phật còn tại thế, đi khất thực từ làng này sang làng kia, từ trên núi xuống làng mạc, đó là một hình thức vận động cơ thể. Tổ Bách Trượng chế ra nội quy: 'một ngày không làm là một ngày không ăn' (nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực), tăng chúng phải vác cuốc ra đồng làm việc. Nhờ làm việc vận động tay chân như thế, khí huyết mới điều hòa lưu thông, tránh được nhiều bệnh tật. Trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, ta thấy các vị cao tăng của chùa Thiếu Lâm đều có võ công và nội lực thâm hậu. Không biết sự thật có đúng như thế không, nhưng tôi thấy điều đó có lý. Người tu thời nay rất thiếu vận động thể dục, nhất là những vị xuất gia. Ở xứ Âu Mỹ người xuất gia đâu có đi làm nên không có bảo hiểm an sinh xã hội, mỗi lần bị bệnh phải vào nhà thương thì thật là cả một vấn đề khổ! Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tôi đề nghị quý vị nên tập Yoga, Khí công hay Thái cực quyền, đó là những môn thể dục có tính cách dưỡng sinh và trị bệnh. Ðừng chờ lâm bệnh rồi mới đi cầu an, sám hối. Mình phải chịu trách nhiệm về thân tâm mình.

3) Ðiều hòa hơi thở

Sinh vật nào cũng phải thở mới sống được. Hết thở là chết! Hơi thở là cây cầu nối giữa thân và tâm. Mỗi khi ta sợ hãi, hồi hộp thì tim đập mạnh và hơi thở trở nên dồn dập, đứt quãng. Ngồi thiền thân tâm an lạc thì hơi thở cũng theo đó mà trở nên nhẹ nhàng vi tế. Người tu yoga rất chú trọng đến cách làm chủ hơi thở, gọi là pranayama. Bình thường chúng ta chỉ hít thở với một phần ba dung tích của phổi, và mỗi khi tâm hồn bất an lo lắng, ta thở ít hơn nữa và nhiều lúc quên thở hoặc nín thở luôn. Hơi thở là sự sống, hơi thở đem dưỡng khí (oxygène) vào phổi, đi vào máu nuôi các tế bào của thể xác. Trên phương diện nguyên lực vi tế (énergie subtile), hít thở đúng cách sẽ tác động vào các luân xa (chakra), nuôi dưỡng các thể vi tế (corps subtils), khai triển những khả năng huyền bí của con người mà ta quen gọi là thần thông.

Phật giáo cũng nói đến hơi thở trong việc thiền quán, như kinh quán niệm hơi thở (anapanasatisutta). Lục diệu pháp môn của tông Thiên Thai cũng nói đến việc đếm hơi thở (sổ tức) và theo dõi hơi thở (tùy tức). Những người học thiền với thầy Nhất Hạnh chắc không lạ gì việc thở vào thở ra phối hợp với chánh niệm và sinh hoạt hằng ngày.

Hơi thở có ý thức, có chánh niệm là việc tốt nhưng ta cũng cần tập hít thở cho đầy đủ, khai triển tận lực khả năng của buồng phổi.

Người tu theo thiền Minh Sát cũng chú ý đến hơi thở ra vào và sự phồng xẹp của bụng. Khí công cũng nói 'ý dẫn khí', nếu ta chú ý đến bụng thì dần dần hơi thở sẽ đi sâu xuống bụng. Cách hít thở đầy đủ nhất là theo yoga, khi hít vào đẩy hơi xuống tận đáy phổi nên bụng phồng lên trước, sau đó ta hít thêm nữa lấp đầy phần trên nên lồng ngực phồng lên sau. Khi thở ra bụng xẹp xuống trước và ngực xẹp xuống sau, như vậy thán khí được tống ra ngoài tối đa.

Mỗi ngày ta nên bỏ ra năm, mười phút tập lại cách hít thở. Sau đây là một cách tập đơn giản của pranayama. Khi hít vào ta đếm thầm từ một đến bốn. Sau đó giữ hơi trong phổi, cũng đếm tới bốn. Rồi thở ra đếm bốn. Nín hơi đếm bốn. Rồi lại hít vào đếm bốn. Như vậy sự hít thở được chia làm bốn giai đọan bằng nhau: hít vào, giữ hơi, thở ra, nín hơi.

Pranayama còn nhiều cách tập phức tạp hơn nữa, trên đây chỉ là một cách tập đơn giản giúp ta giữ gìn sức khỏe và sửa đổi lại thói quen hít thở. Mỗi khi thân tâm bất an, ta có thể thực tập hít thở như trên để điều hòa lại tự thân. Tập quen lâu ngày, ta tăng dần thời gian, thay vì đếm tới bốn, ta đếm tới sáu hoặc tám, v.v... Hơi thở càng sâu, càng dài, càng nhẹ càng tốt.

4) Ăn uống

Thân người được làm bằng tứ đại nói theo nhà Phật, nhưng nói theo cách khác thì thân người được làm bằng những thức ăn mà ta nuốt vào.

Nhiều người tu cho việc ăn uống không quan trọng nên ăn uống tạp nhạp, bừa bãi, như chỉ ăn mì gói, rau luộc chấm nước tương, nghiện cà phê, nước trà, thuốc lá, v.v... cho đến khi bị bệnh thì đổ tại nghiệp.

Nếu bảo thức ăn không quan trọng, vậy tại sao Phật cấm uống rượu? Vì rượu uống vào sẽ làm tâm trí hôn ám đần độn. Thức ăn là những chất đi vào máu để nuôi cơ thể, tế bào. Như tôi đã nhấn mạnh thân và tâm liên quan ảnh hưởng mật thiết với nhau nên những thức ăn mà ta ăn vào cũng ảnh hưởng đến tinh thần và tâm trí của ta.

Trong Phật giáo Ðại thừa, chúng ta có truyền thống ăn chay. Ăn chay là điều rất tốt, nhưng nên ăn chay một cách thông minh. Ở đây tôi xin trích lại một phần mà tôi đã nói trong quyển Ðạo Gì.

Những hành giả yogi Ấn Ðộ ăn uống rất kỹ lưỡng, vì ăn uống đúng phép cũng là tu. Họ chia thức ăn theo ba loại: tamasique, rajasique và sattvique.

Thức ăn tamasique là những loại có tính chất làm hại cơ thể tiêu hao nguyên lực và làm tâm trí đần độn. Ðó là thức ăn thiu chua hoặc quá chín, thịt cá, hành tỏi, rượu, thuốc lá, thuốc phiện, đồ hộp, đồ đông lạnh, v.v... Ăn quá no cũng được xem là tamasique. Ăn no ngồi thiền dễ buồn ngủ vì tâm trí hôn ám.

Rajasique là những loại kích thích cơ thể, tâm trí và cảm xúc. Nó kích thích luôn cả đam mê và làm mất tự chủ. Hành giả yogi cố tránh những thứ này càng nhiều càng tốt. Ðó là trứng, cà phê, trà, đồ gia vị mạnh, quá chua, quá đắng, đường trắng, bột ngọt, đồ hóa học,v.v... Ăn quá nhanh hoặc ăn nhiều thứ trộn lẫn cũng được xem là rajasique. Người tu thiền ăn những thứ này dễ bị loạn tưởng chi phối.

Sattvique là loại thức ăn bổ dưỡng cho cơ thể, đầy đủ sinh tố, dễ tiêu giúp cho tâm trí bén nhạy, sáng suốt và vắng lặng. Ðây là thức ăn chính của hành giả yogi, gồm ngũ cốc, hoa quả, rau cải tươi, bơ, sữa, fromage, đậu hạt, mật ong, nước trái cây, nước suối, v.v...

Người ăn chay nên chọn những thức ăn sattvique, nhưng cũng phải biết ăn theo thời tiết bốn mùa, theo phong thổ và luật âm dương.

Ở chùa và tự-viện, tăng chúng đông, các vị lãnh chúng như tri sự, chúng trưởng cần phải để ý đến vấn đề ăn uống của đại chúng, nên đề cử người biết cách nấu ăn theo dinh dưỡng, đủ chất bổ để tăng ni có sức khỏe tu hành. Tăng ni không cần ăn ngon mà cần đủ chất bổ. Ở đây tôi không nói các chùa nghèo ở làng quê hẻo lánh mà nói các chùa, tu-viện hay Phật học viện đông tăng chúng, có nhiều Phật tử cúng dường.

5) Thiền quán

Trong phần này tôi không cần nói nhiều, vì đây là phần tu chính của mọi hành giả. Về thiền thì đã có quá nhiều kinh sách của quý thầy giảng dạy rồi. Ai muốn tu theo thầy nào hay thiền sư nào cũng được.

Phần thiền quán này cũng có thể gọi là phần tu niệm, có nghĩa là người nào tu Tịnh Ðộ hay Mật tông thì cứ niệm Phật hay trì chú, không nhất thiết phải thiền.

Từ trước đến nay đa số người tu chỉ chú trọng đến điều thứ năm và bỏ quên bốn điều trước, chỉ chú trọng đến tâm mà bỏ quên thân. Tôi xin thành tâm nhắc nhở bạn nên tu cả thân và tâm.

Thích Trí Siêu (Nguồn : Phật Giáo Linh Sơn
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 04:59 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Tống Tử Quán Âm.

Chùa Từ Vân nhờ có thờ tượng Đa Bảo Quán Âm nên khách dâng hương lễ bái kéo đến nườm nượp, tiền cúng dường vô cùng hậu hĩ. Tuy nhiên, người dâng hương lễ bái không phải bất cứ người nào cũng là hạng người mà Bồ Tát kỳ vọng, nghĩa là những người có tâm hướng thiện. Có rất nhiều người đến lễ bái Quán Âm với tâm ích kỷ, với ý đồ riêng tư. Lúc ban đầu, đại đa số đến chỉ để cầu tiền cầu phúc, muốn bất cứ việc nhỏ việc lớn nào cũng đến trước tượng Bồ Tát mà cầu khẩn. Về sau nữa thì thậm chí kỹ nữ tú bà cũng đến thắp hương quỳ lạy, cầu xin Bồ Tát gia hộ cho việc làm ăn của mình được phát đạt, dân trộm cắp xin cho đường sinh nhai của mình được hanh thông, kẻ si tình người thất chí thì xin được thành duyên gia thất. Người đến dâng hương lễ bái hạng nào cũng có, làm cho ngôi chùa Từ Vân đang trang nghiêm trở thành rối ren đen tối.

Một hôm, có tên cướp tên là Hồ Thất cũng đến chùa Từ Vân dâng hương. Tên cướp này vốn có tà tâm nên cứ lảng vảng đứng ngắm bức tượng Đa Bảo Quán Âm. Bảo tượng Quán Âm này được khắc bằng tinh lõi của cây lê lúc Bồ Tát hiển thân dùng cây lê thế thân chịu đòn cho mình ngày xưa. Bên trên có che trướng bằng hạt châu, tràng phan bằng đá quý. Tên cướp trở về tụ họp bọn đồng lõa lại bàn thảo, chuẩn bị ra tay.

Tối hôm ấy, Hồ Thất một mình leo tường đột nhập vào chùa Từ Vân cõng tượng Quán Âm ra, kéo đến một chỗ hẻo lánh và cùng đồng lõa lột hết các bảo vật trên 18 cánh tay của tượng chia đều với nhau, xong đem tượng liệng xuống sông cho tượng theo dòng nước trôi đi chỗ khác.

Khi bọn cướp vứt tượng Đa Bảo Quán Âm xuống sông thì Ngài Quán Âm cũng vừa qua sông để đến thành Kim Lăng. Đôi mắt từ bi của Bồ Tát nhìn thấy bọn cướp trộm tượng lột bảo vật nên Ngài không vui lòng chút nào. Thấy bức tượng đang trôi về phía Kim Lăng, Ngài chợt nghe tâm động, quyết định chọn một người thiện lành và có duyên với Phật Pháp để nhờ người ấy ra tay giúp đỡ.

Người này họ Phan tên Hòa, là một người làm nghề bán gạo ở Kim Lăng, có một cửa hàng bán lương thực nên cảnh nhà cũng khá giả. Đây là một Phật tử thuần thành, thích bố thí làm việc thiện, xa gần ai cũng khen ông là người tốt.

Tuy là người chí thành thờ Phật và làm việc thiện nhưng Phan Hòa vẫn có điểm ưu phiền, đó là tuy đã quá nửa đời người rồi mà trong nhà chỉ có một cô con gái chứ không có con trai nối dõi. Ông mong muốn con trai tha thiết mà không được như ý, đành tìm nơi xứng đáng kén rể quý rồi bắt rể coi như con trai. Nhưng vì ông quá kén chọn, cao không tới thấp không thông nên cứ dùng dằng mãi cho đến ngày nay, cửa nhà vẫn cứ trống trải.

Bồ Tát Quán Âm biết rằng người này có thiện căn nên mới chọn ông ta. Hôm ấy, Phan Hòa nằm mộng thấy một người đàn bà đầu đội khăn, toàn thân áo trắng, nói với ông rằng:

– Ông Phan, ngày mai ông hãy ra cửa sông đứng chờ, khoảng giữa giờ tý và giờ ngọ sẽ có một bức tượng Quán Âm bốn mặt và 18 cánh tay trôi vào. Ông hãy cẩn thận vớt tượng lên rồi sau đó đem tượng lên chùa Kê Ô ở trên núi Thanh Lương tu sửa lại để thờ phụng. Chỗ đó có một tảng đá hình như cái lá sen, vừa khéo có thể dùng làm đài sen. Ông làm được việc này thì công đức vô lượng, muốn điều chi cũng có.

Phan Hoà đáp rằng:

– Tôi xin tuân theo lời dạy của bà làm tất cả các điều ấy, hôm nay có phúc lành xin cho tôi hỏi một chuyện, tuy đã quá nửa đời người rồi mà nhà vẫn chưa có con trai, mấy năm nay ao ước mong cầu, không biết tôi có hy vọng nào không?

Người đàn bà áo trắng nói:

– Điều đó dễ thôi, tôi ban cho ông một đứa con trai cũng được!

Nói xong người đàn bà lấy một con cờ vây trắng trao cho Phan Hòa. Ông tính hỏi thêm một câu nữa thì người đàn bà đã biến mất, bèn giật mình thức giấc. Hôm sau Phan Hòa chạy ra cửa sông đứng đợi, quả nhiên thấy một bức tượng Quán Âm bằng gỗ từ từ trôi vào. Ông cẩn thận vớt tượng lên, lập tức đưa lên chùa Kê Ô và còn bỏ tiền ra mướn thợ tu sửa lại kim thân Bồ Tát, xong lấy tảng đá hình lá sen tạc thành một đài sen. Khi tên cướp Hồ Thất trộm tượng cõng lên lưng vượt tường ra khỏi chùa, vô ý đụng bể phần dưới của tượng nên tượng không đứng được, chỉ có thể nằm nghiêng nghiêng trên đài sen nên người đời đặt tên cho bức tượng này là “Quán Âm nằm hoa sen” (Ngọa liên Quán Âm).

Lúc ấy Phan Hòa bỗng nhiên ngộ ra rằng người đàn bà áo trắng đến báo mộng cho mình không ai khác hơn là Bồ Tát Quán Âm, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, ông bèn mời một người thợ vẽ nổi tiếng ở Kim Lăng vẽ lại hình dáng người đàn bà áo trắng mà mình đã mộng thấy, và với tâm mong cầu con trai tha thiết, ông còn nhờ người thợ vẽ thêm một cậu bé trai trong lòng Ngài Quán Âm, đặt tên hình là “Tống tử Quán Âm” (Quán Âm cho con), thờ phụng tại nhà, ngày nào cũng chí thành lễ bái. Quả nhiên không lâu sau, vợ Phan Hòa hoài thai sinh được một quý tử trắng trẻo dễ thương.

Chuyện Phan Hòa thờ tượng Bạch Y Tống tử mà sinh được con trai được truyền đi khắp nơi, nên toàn vùng Giang Nam, nhà nào không có con trai cũng thi nhau bắt chước, về sau việc này trở thành một phong tục địa phương.

Kỳ thật, Ngài Quán Âm mà Phan Hòa mộng thấy chỉ trao cho ông một con cờ vây trắng, trong lòng không hề ôm đứa bé nào cả, tấm hình ôm con kia hoàn toàn do trí tưởng tượng của Phan Hòa đặt ra.

Nhắc đến Hồ Thất và đồng lõa, khi chúng chia nhau xong bảo vật cướp được của Đa Bảo Quán Âm, mỗi người đi một hướng khác nhau mà trốn tránh quan quân. Hồ Thất một mình chạy đến Nam Kinh, trốn lên núi Tử Kim Sơn ẩn mặt một thời gian, nghe ngóng thấy sự truy nã đã bớt gắt gao mới dám chường mặt ra giả làm một địa chủ vào thành bán bảo vật. Hắn tìm đến một tiệm vàng nói với chủ tiệm rằng muốn bán một vài bảo vật gia truyền. Tên chủ tiệm cũng là một phường lưu manh xảo trá không kém gì hắn, nên tuy thừa biết những hạt minh châu của Hồ Thất rất quý giá song vẫn nói rằng đó là đồ giả. Sau hắn còn muốn bóp chẹt nên bảo rằng hiện tại buôn bán khó khăn, hắn chỉ có thể mua lại với một giá rẻ mạt.

Hồ Thất thấy chủ tiệm bóp chẹt mình mà vẫn còn tỏ ra vênh váo hợm hĩnh thì lửa giận phừng phực. Theo thói gian ác của hắn, hắn đã muốn cho tên chủ tiệm một bài học đích đáng nhưng biết mình hiện còn đang bị truy nã, không muốn làm kinh động tới quan quân nên mới không ra tay. Hắn ước lượng những hạt châu mình mang tới ít nhất cũng phải đổi được một ngàn hai trăm lượng bạc, ai ngờ tên chủ tiệm chỉ bằng lòng đưa có hai trăm lượng. Hắn không nhẫn nhịn được nữa, bèn lấy tay quơ bảo châu về bảo không muốn bán nữa, xong hầm hầm quay mình bỏ đi.

Hắn đang giận dữ nên không nhìn thấy ai, không ngờ hắn vừa mới quay người đi thì đụng phải một người đàn bà mới bước vào cửa tiệm. Bước đi hùng hổ dữ dằn của hắn rất mạnh bạo nên khi đụng phải người đàn bà, người này ngã xuống đất một cách nặng nề. Đây là cô tiểu thiếp của vị quan phủ đương thời, hôm nay đến tiệm vàng tính sắm trân châu làm vật trang sức cho mái tóc, có thị vệ đi theo. Người thị vệ thấy bà chủ bị đụng ngã lăn xuống đất la oai oái, bèn xông tới tóm lấy Hồ Thất. Khi Hồ Thất thấy đó là người của quan phủ thì sợ hãi tính bỏ chạy, nhưng người thị vệ túm lấy tay áo của hắn nắm cứng. Hồ Thất nóng ruột muốn thoát thân nên rút dao ra tính đâm người thị vệ, nhưng người này vốn là con nhà võ, võ công cao cường lại quen bắt giặc cướp, nên chỉ nhích thân tránh dao và bay lên đá vào tay của Hồ Thất, con dao rơi xuống đất đánh “keng!” một tiếng. Hồ Thất nào dám đánh tiếp, vừa lăn vừa bò lết tới cửa, ra tới ngoài rồi thì phi thân chạy thục mạng.

Người thị vệ một mặt đuổi theo một mặt hô hoán lên, một vài người lính đang đi tuần tiễu ngoài đường nghe thế cũng đuổi theo Hồ Thất sát gót. Trong cơn hoảng hốt, Hồ Thất chạy bừa không kể đường xá, chạy tới bờ sông, nhìn thấy bọn lính đã đến ngay sau lưng mình rồi và xung quanh không có đường nào khác thối lui, quẫn bách quá hắn đành nhảy đại xuống sông. Nhưng tên cướp này không hề biết bơi, hắn vùng vẫy một lúc trong nước và trong nháy mắt, bị sóng cuốn vào một con nước xoáy, thế là không thấy hắn nữa.

Số phận của những tên đồng lõa cũng không khá hơn gì. Chia tay với Hồ Thất rồi, chúng tìm được một cái miếu hoang ẩn thân. Nhưng trong một đêm sâu, đột nhiên sấm chớp dậy trời, cuồng phong giận dữ, mưa như thác nước, bọn cướp sợ quá nép vào góc tường co rúm lại quỳ xuống đất dập đầu lạy xin tha mạng. Nhưng mưa to gió lớn vẫn không thuyên giảm, trong miếu mưa tuôn xối xả dội xuống bọn giặc cướp khiến chúng không còn chỗ dung thân. Đột nhiên trong ánh sáng một lằn chớp, chúng nhìn thấy một vài vị Kim Cang La Hán mắt trợn trừng giận dữ, tay cầm vũ khí giáng xuống đầu chúng dồn dập. Bọn cướp sợ quá không còn hồn vía, vãi cả ra quần, liều mạng chạy ra ngoài tìm đường trốn. Đúng ngay lúc đó, trong một tiếng nổ long trời lở đất, một lằn sét giáng xuống và toàn bộ những tên giặc cướp ngã lăn xuống. Những bảo vật chúng đã cướp được vung vãi đầy mặt đất.

Ngày hôm sau trời quang mây đãng, dân chúng làng bên đi ngang miếu hoang, thấy một vài tử thi nằm la liệt dưới đất, bên cạnh là rất nhiều bảo vật rải rác. Có một vài thiện nam tín nữ đã từng đi chùa Từ Vân và đã được thấy tượng Đa Bảo Quán Âm, nay nhìn thấy bảo vật là nhận ra ngay, bèn lập tức gởi trả về chùa.

Sau việc này, dân chúng ở đây cảm nhận được uy lực vĩ đại của Bồ Tát Quán Âm, nên lòng tin kính Tam Bảo tăng trưởng rất nhiều, một lòng hướng về đạo. Những tên trộm vặt bắt gà trộm chó cũng do đó mà sám hối tội lỗi, bỏ dữ làm lành.

Diệu Hạnh Giao Trinh dịch (Nguồn: Linh Sơn Phật Giáo).
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 05:10 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
Tiếng Chuông Hàn Sơn Tự.

Chùa Hàn Sơn không dựa vào vách núi như bao nhiêu ngôi già lam cổ kính ở trung Quốc, mà nó nép mình trong một thôn xóm nghèo ở vùng ngoại ô của thành phố Tô Châu. Chúng tôi bước lần theo con đường tráng nhựa quanh co dẫn đến cổng chùa. Phía trướccó một con sông nhỏ trong xanh, khơi nguồn từ Bắc kinh, chảy thẳng đến Hàng Châu, nhưng lại uốn mình qua cô tô , lửng lờ trước cổng Hàn Sơn tự. Dòng sông hiền hòa như mặc khách, êm đềm như tao nhân, ẩn hiện như câu chuyện cổ tích, nhưng lại rực sáng bằng thi ca và lưu truyền cho hậu thế. Nhờ đó mà dòng sông đã tô đậm sắc màu cho ngôi già Lam thêm phần thi vị. Cầu Giang thôn ở trước chùa như kết nối hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và bàn tay sáng tạo của con người.

Chiếc cầu đá được xây dựng theo hình bán nguyệt nằm vắt mình trên sông. Nếu vui tính, du khách bước lên cầu sẽ phóng tầm nhìn xa hơn, có thể ngắm hai hàng cây phong, xa hơn nữa là những ngôi nhà lầu cao ngất ngưỡng như thách thức với thời đại, cùng sánh vai bước vào thế kỷ hai mươi mốt. Thời gian trôi qua, ngôi chùa vẫn đứng bên sông, âm thầm ghi vào nỗi nhớ từng trang lịch sử, lặng lẽ chứng kiến bao cuộc thăng trầm dâu bể của đất nước Trung Hoa. Ngôi chùa đã soi bóng dưới dòng sông, hóa thân thành bức tranh thủy mặc, phong sương với gió, hòa quyện vào mây, trơ gan cùng năm tháng.

“Bong...bong...bong...”Tiếng chuông thanh thoát trầm hùng, vọng vang vào tai du khách, lòng chúng tôi như lắng đọng mọi suy tư, lâng lâng theo tiếng chuông, xóa tan niềm vương vấn. Từ những tâm tình riêng lẻ, chúng tôi gợi nhớ những giai thoại thi ca, tiếng chuông đã thoát xác hiện thân vào cuộc sống, nhắc nhở thế nhân quay về với thực tại.

Ngày xưa Trương Kế là một trong những khách thuyền đi tìm cảm hứng thi ca, ông đã sống dưới màn trời đầy sương, trong bóng đêm ông đã lắng nghe tiếng của chim kêu, lặng nhìn ánh trăng khuất dần ở trời xa. Tất cả cảnh sắc của thiên nhiên đã hội tụ trên sông, hồn thơ liền trỗi dậy, nhất hình ảnh của bác ngư phủ bên ánh đèn lập lòe, khiến cho hai hàng cây phong ở ven bờ như đượm nét sầu vương. Là thi nhân không thể gát bút ngẫng người ra mãi, khi cảnh sắc xung quanh đã biến thành nàng thơ kiều diễm. Thế là Trương kế vội phóng bút thành thơ.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Tạm dịch:

Nhạn kêu trăng lặn đêm sương
Bến sông ánh lửa sầu vương thẩn thờ

Tiếc thay cảm hứng của ông bỗng nhiên biến mất, bao nhiêu mỹ từ đã chắp cánh bay xa, để lại một mình ông trên chiếc thuyền độc mộc, sự bế tắt của ngôn từ khiến ông mệt lả, chập chờn ru vào giấc ngủ.

Cùng lúc đó Hòa thượng trụ trì chùa Hàn Sơn, sau giờ tọa thiền đang tản bộ dưới hiên chùa thanh vắng, bóng đêm trường tĩnh mịch, ánh trăng lung linh tỏa chiếu, các vì sao đang ẩn hiện mập mờ, tạo nên không gian lôi cuốn thi nhân. Hòa Thượng cũng phải miên man phóng bút.

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tợ câu ngân bán tợ cung

Tạm dịch:

Canh tư trăng sáng mông lung
Nữa hình câu móc, như cung nữa vành

Đến đây ý thơ không tuôn chảy nữa, hòa thượng cố tìm lại một chút gì đó cảm xúc của hồn thơ, để điểm xuyết bức tranh thi ca còn đang dang dở. Thế là ngài đi tản bộ dưới ánh trăng, tâm hồn lại vương vấn nỗi niềm riêng. Lang thang trong vườn chùa, đêm càng lúc càng khuya, hòa thượng càng lúc càng bít lấp. Ngài bèn buông bút để cõi lòng nhẹ rơi vào vực thẳm của thất vọng chán chường. Biết được tâm trạng của sư phụ, chú tiểu âm thầm lẽo đẽo theo sau, phát họa lại bức tranh của đêm trăng chưa được hoàn hảo. Chẳng những chú đã vượt trội hơn sư phụ về mỹ từ, mà còn biểu hiện sâu sắc hơn về nội dung. Sức sống của màn đêm đã được tái tạo trở lại qua hai câu thơ của chú tiểu.

Thùy bả kim bôi thân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để bán phù không

Tạm dịch:

Ai đan tâm xẻ trăng vàng
Bóng chìm dưới nước, nữa vầng trên không

Lắng nghe người đệ tử làm thơ, hòa thượng như được một thứ gì đó đã thoát khỏi tầm tay. Không ngờ hai câu thơ của chú tiểu quá trát tuyệt, vừa có trăng có đáy nước có hư không, vừa diễn đạt ý trừu tượng bằng hình ảnh cụ thể hóa vầng trăng bị xẻ làm đôi. chỉ cần vài nét chấm phá trong bài thơ của chú tiểu, đọc giả có thể liên tưởng đến một bức tranh hoàn hảo của một đêm trăng. Niềm vui cũng từ đó mà nhân đôi, đến nỗi không thể tự kềm chế, thế là hai Thầy trò leo lên lầu dộng đại hồng chung đang lúc nữa đêm. Tiếng chuông ngân vang theo gió, đồng vọng đến bến sông, khiến cho Trương Kế giật mình tỉnh giấc. Tiếng chuông như phá tan sự tĩnh mịch của đêm khuya, nối lại dòng suy tư đang đứt khoảng, Trương Kế đã xuất thần làm nên kiệt tác lưu lại cho đời sau.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền

Tạm dịch:

Nhạn kêu trăng lặn đêm sương
Bến sông ánh lửa sầu vương thẩn thờ
Hàn Sơn vẹn ngoại cô tô
Tiếng chuông lay tỉnh giấc hồ nữa khuya

Tiếng chuông ngày xưa lay tỉnh khách tao nhân, nhưng bây giờ là tiếng chuông của buổi chiều nhạt nắng. Ai cũng giật mình vì chỉ mới đó mà thời gian lại trôi qua thật nhanh, chúng tôi vội vào đại hùng bảo điện lễ phật, phía sau chánh điện là nơi tôn thờ hai vị Hàn Sơn và Thập Đắc. Ngôi chùa này sở dĩ được nổi tiếng trong và ngoài nước, chính là do sử thoại của hai vị hoá thân này.

Hàn Sơn lai lịch như thế nào không ai biết rõ,người ta chỉ biết nhà của ông gần chùa và thường xuyên qua lại làm bạn với Hòa Thượng Phong Can. Một hôm Hòa Thượng Phong Can lượm một chú bé mang về đặt tên là Thập Đắc. Hằng ngày Hàn Sơn và Thập Đắc thường lượm cơm thừa rơi rớt ở sàn rửa chén, phơi khô để dành ăn. Hai vị và Hòa Thượng Phong Can rất tâm đầu ý hợp, họ thường rong chơi trên khắp nẻo đường và làm thơ khi gặp cảnh bức xúc. Một bữa nọ,Thập Đắc đến trước tượng của tôn giả Kiều Trần Như nói:“đứng đây làm gì vậy đồ tiểu căn bại chủng?”Lần sau chẳng ai bảo ông lên chánh điện cúng phật nữa. Hôm khác ông thấy chim chóc thường đến ăn cơm cháo của chùa, Thập Đắc mới đánh mắng tượng thần già lam:“ông là vị thần hộ trì tam bảo,tại sao không đuổi loài chim chóc bay đi?Thần già lam báo mộng cho Tăng chúng chùa, Thập Đắc đã đánh mắng ông.”Mọi người hết sức ngạc nhiên nhưng chẳng ai dám nói gì cả.

Cũng vào năm đó Hòa Thượng Phong Can xuống núi hành cước, trong dịp tình cờ trị lành bịnh tuần phủ Thái Châu. Nhân lúc tuần phủ muốn chiêu hiền đãi sĩ, Hòa Thượng mới bảo ông đến chùa Quốc Thanh tìm hai vị Hàn Sơn và Thập Đắc. Hai vị này chính là hóa thân của Bồ tát văn Thù và Phổ Hiền. Điều đặc biệt là họ không màng đến chuyện danh lợi của thế gian, nếu mời được họ, ông có thể trị nước an dân. Sau đó không lâu, Tuần phủ đến chùa tìm Hàn Sơn và Thập Đắc, trong lúc bái kiến ông còn nghe văng vẳng bên tai lời của hai vị,“Đối diện với Di Đà mà chẳng biết, lễ lạy ta làm chi?”Thế rồi hai vị cổng nhau trốn vào núi, từ đó về sau không còn ai biết tông tích của họ ở đâu.

Phía sau là Bảo Tháp Phổ Minh cao năm tầng, du khách thường đứng trên tầng cao nhất của Bảo Tháp dõi trông về phía xa, ngắm nhìn toàn quang cảnh của chùa Hàn Sơn. Bên ngoài xung quanh của Bảo Tháp người ta đã lưu lại những bút tích các nhà thư pháp nổi tiếng như là: Tánh không, Tống vương..v.v. Điều hết sức ngạc nhiên, các nhà thư pháp đều viết về bài thơ“Phong kiều Dạ Bạt ”của Trương Kế. Từ phía Trước nhìn vào ở bên trái là Pháp Đường, bên trong cũng trưng bày bút pháp “Phong Kiều Dạ Bạt”.

Giờ đây tuy xa rồi nhưng bên tai chúng tôi vẫn vang mãi tiếng chuông chùa Hàn Sơn, Trương Kế nhờ tiếng chuông này đã làm một bài thơ, để lại ấn tượng cho người đời nhớ mãi. Chỉ một bài thơ thôi, mà tên tuổi của ông được lưu danh đến ngàn sau, người ta nhắc đến Trương Kế đều không quên vầng thơ trát tuyệt của ông. Vầng thơ đó Trương Kế đã xuất thần sáng tác, đồng thời chiếm vị trí độc tôn trong làng thi ca Trung Quốc. Các thi nhân nổi tiếng vào đời Đường như Lý Bạch và Đỗ Phủ cũng làm thơ nói về chùa Hàn Sơn, nhưng cũng thừa nhận thơ của họ không thể nào sánh bằng kiệt tác của Trương Kế.

Thích Chiếu Sáng. (Nguồn: Linh Sơn Phật Giáo)

Last edited by Rau Sam; 01-02-2020 at 05:14 PM..
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 08:13 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
BỆNH .

Hỏi: Khi nói về Bệnh, đa số đổ tại nghiệp, như vậy có nên chữa hay không?

Đáp:Trước khi nói nên chữa hay không, ta phải xét lại nguyên nhân nào đã đưa đến bệnh. Nếu ta không giữ gìn sức khỏe, ăn chơi trác táng rồi bị bệnh, như thế có đổ tại nghiệp được không? Không tắm rửa sạch sẽ, bị sinh ghẻ, có đổ tại nghiệp được không? Ai cũng biết nếu tắm rửa sạch sẽ thì làm sao có ghẻ. Nhưng nếu tắm rửa đều đặn mà vẫn bị ghẻ thì lúc đó có thể đổ tại nghiệp được. Còn chính mình dí tay vào lửa cho cháy rồi đổ tại nghiệp thì đâu có được.

Sống phải biết vệ sinh, chữ vệ sinh có nghĩa là bảo vệ giữ gìn sự sống, phải hiểu thân của mình cũng như chiếc bè qua sông. Đang đi trên sông, nếu không cần biết là bè bắt đầu nứt, nước tràn vào rồi mà cứ mặc kệ làm ngơ thì nửa chừng sẽ phải chết chìm trước khi tới bờ.

Ở các tu-viện và chùa, quý thầy, cô, các ông cha, bà sơ thường bị bệnh rất nhiều vì thiếu hiểu biết về y-lý và sinh lý con người.

Hỏi: Có nhiều thầy bịnh không chịu uống thuốc, nói rằng phải lo tu hành, đâu có thì giờ lo trị bịnh.

Đáp: Nếu vậy thì tu chưa xong mà đã chết trước rồi. Trở lại vấn đề qua sông, có nhiều người không biết lượng sức mình, cho rằng mình có thể bơi một mạch qua sông tới bờ bên kia. Nhưng bơi mới tới giữa dòng thì đuối sức, không bám víu vào đâu được, phải bị chết chìm, chết đuối.

Có người biết mình bơi không nổi, đi lấy một số cây kết lại thành bè để qua sông. Nhưng vì quá hấp tấp, làm vội vàng cẩu thả, giây bè cột không chắc, ra đến giữa dòng thì giây bè mục đứt, vỡ bè rồi cũng chết đuối.

Có người cẩn thận, biết suy tính, thấy con sông dài, biết phải cần làm một cái bè thật chắc với bao nhiêu gỗ, bao nhiêu giây. Trong lúc anh này hãy còn cặm cụi kết bè thì hai người kia đã nhẩy xuống sông trước rồi. Nhìn qua thấy anh thứ ba tuy chậm, đi sau nhưng đến bờ kia an toàn. Còn hai anh kia tuy có vẻ tinh tấn, cương quyết nhưng không tới bến.

Người tu cũng vậy. Có nhiều người quá khích, muốn mau thành chánh quả, tu ngày tu đêm, thức khuya dậy sớm, quên ăn bỏ ngủ. Làm như thế chỉ hại thân mình, quả Phật đâu chưa thấy mà thấy phải vào nhà thương sớm, tự làm khổ mình và khổ lây những người xung quanh phải lo săn sóc cho mình.

Đức Phật có nói người tu cũng giống như người chơi đàn. Phải biết lên dây đàn cho đúng thì đàn mới kêu. Nếu lên dây căng quá thì sẽ đứt, mà chùn quá thì không lên tiếng.

Hỏi: Có nhiều nơi tu chỉ ngủ có bốn, năm tiếng.

Đáp: Nếu ngủ bốn, năm tiếng mà trong ngày chỉ ngồi thiền, đi kinh hành, không làm việc gì cần đến sức lực thì bốn,năm giờ có thể đủ. Nhưng nếu trong ngày phải làm bao nhiêu việc như người ngoài đời thì sẽ hao phí sinh lực, ốm o gầy mòn và chết sớm.

Hỏi: Có người làm việc như người thường mà đêm chỉ ngủ có bốn, năm tiếng mà vẫn không sao?

Đáp: Việc ngủ nghỉ không thể tổng quát hóa (géné-raliser) được. Thí dụ như bà Thatcher, cựu thủ tướng nước Anh, mỗi đêm chỉ ngủ bốn, năm tiếng mà vẫn làm việc không ai bì kịp.

Mỗi người là một tiểu vũ trụ, không ai giống ai. Mỗi người có một tạng riêng, có người béo, có người gầy, người cao, kẻ thấp. Tùy theo tạng người mà có người cần ăn nhiều, ăn ít, ngủ nhiều, ngủ ít. Con người đâu phải là cái máy, rô bô mà bắt ai nấy phải ăn ngủ như nhau được.

Nếu cho rằng ngủ ít là tu giỏi thì bà Thatcher kia xứng đáng là người tu giỏi.

Theo Đông-Y thì con người có ba phần: tinh, khí, thần. Ăn uống không đủ, thiếu dinh dưỡng hoặc dâm dục quá độ thì hao tinh. Không vận động thể dục, thể thao hoặc làm việc quá sức, nói năng quá nhiều thì hao hơi tổn khí. Suy nghĩ, lo lắng quá nhiều, ngủ nghỉ không đủ thì hao thần.

Người tu mà ăn uống không đủ dinh dưỡng, lại không vận động thể dục thì tinh khí yếu, bởi vậy cần ngủ nhiều để bồi bổ lại thần. Nhưng nếu nay lại bắt ngủ ít hơn người thường nữa thì chỉ có nước đi vãns sanh sớm. Người nào tinh khí đầy đủ thì tự nhiên không cần ngủ nhiều mà vẫn khỏe như thường.

Phật pháp bất định pháp. Không thể nói Phật pháp nhất định là thế này hay thế kia được. Ở hoàn cảnh này, trong trường hợp này, đối với người căn cơ này thì phải nói pháp như thế này. Gặp trường hợp khác, với người căn cơ khác thì nói pháp theo cách khác.

Hỏi: Con nghe nói người tu phải 'tam thường bất túc'?

Đáp: Tôi không đồng ý. Câu 'tam thường bất túc' có nghĩa là ba việc: ăn, mặc, ngủ phải không đủ, luôn luôn thiếu. Trong kinh Bát Đại Nhân Giác có dạy 'thiểu dục tri túc', có nghĩa là nhờ ít ham muốn nên lúc nào cũng thấy dư đủ. Người tu nhờ có thiểu dục tri túc nên không ham ăn, ham mặc, ham ngủ, không tích trữ đồ ăn, không mua sắm nhiều quần áo, không ưa ngủ giường cao, nệm ấm. Vì thế ba việc: ăn, mặc, ngủ không cần quá đầy đủ như người thường. Theo tôi câu 'tam thường bất túc' nên đổi lại là 'tam thường tri túc'.

Hỏi: Nghe thầy nói không giống mấy thầy khác. Quý thầy đa số nói tu là phải khổ hạnh, không được lo vấn đề vật chất..

Đáp: Khi tôi nói người tu cần phải ăn uống, ngủ nghỉ vừa đủ không có nghĩa là lo cho vật chất mà là lo cho chiếc bè đừng sớm hư hoại trước khi sang đến bờ bên kia. Cho tới bây giờ, khi nói đến chữ tu, người ta chỉ nghĩ tu là tu tâm mà thôi. Nhưng đối với tôi, tu là tu cả hai: tu thân lẫn tu tâm.

Hỏi: Nhiều thầy chủ trương khi có bệnh không chịu chữa, chỉ lo niệm Phật cầu vãng sinh.

Đáp: Đó là vì mấy thầy đó muốn chết. Người tu Tịnh Độ muốn vãng sinh cực lạc, họ nghĩ nếu chết sớm thì về cực lạc sớm.

Hỏi: Có những trường hợp, người bệnh nặng gần chết, chí tâm niệm Phật một thời gian thì bỗng nhiên hết bệnh.

Đáp: Bình thường con người chết là do mạng căn đã hết. Song le nếu người đó còn nhiều phước đức thì có thể kéo dài thêm mạng sống qua sự cầu nguyện, lễ bái. Nếu mạng căn hết mà phước đức cũng hết thì dù có cầu nguyện cách mấy đi nữa cũng không thể kéo dài thêm mạng sống.

Hỏi: Vậy theo thầy, khi bệnh có nên chữa trị không hay là niệm Phật cầu vãng sinh?

Đáp: Khi bệnh thập tử nhất sinh thì nên niệm Phật cầu vãng sinh, vì lúc đó mình hoàn toàn bất lực.

Nhưng khi mới bắt đầu bệnh thì phải lo chữa trị, không nên phó thác tại nghiệp. Lúc đó mạng sống hãy còn nằm trong tay mình, còn nước còn tát, phải làm hết sức mình. Nếu làm hết sức mà không tránh khỏi thì hãy đổ tại nghiệp.

Nếu bệnh mới phát mà không lo chữa trị để nó nặng thêm thì đó là do mình vô ý tạo nên chứ không nên đổ tại nghiệp. Nếu muốn nói tại nghiệp cũng được, nhưng là nghiệp vô minh không biết chữa trị sớm.

Hỏi: Thầy nói như vậy có vẻ nghiêng về phần đời nhiều hơn?

Đáp: Đời là gì? Đạo là gì?

Sống mà có trí huệ, mỗi hành động, suy nghĩ thuận theo ý trời (nếu nói theo bình dân) hoặc thuận theo tự tánh (hay phật tánh) được an lạc hạnh phúc thì đó là Đạo. Sống dưới hình thức Đạo, tu Đạo, lo cho Đạo mà không có từ bi trí huệ hay sự thương yêu hiểu biết, ba nghiệp thân, khẩu, ý bị thúc đẩy, điều khiển bởi dục vọng ích kỷ, làm khổ mình và người thì đó là Đời.

Đối với tôi, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền chưa hẳn là Đạo, làm cơm nấu ăn, giặt giũ không hẳn là Đời.

Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Đức Phật Thích Ca đâu phải chỉ là Phật vào những khi ngài ngồi thiền, thuyết pháp, còn những lúc ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa thì ngài không còn là Phật nữa

Thích Trí Siêu (Nguồn: Linh Sơn Phật Giáo)
Rau Sam
Member
Join Date: Jul 2015
Số Điểm: 382
Old 01-02-2020 , 08:22 PM     Rau Sam est dconnect  search   Quote  
LÁ THƯ TỊNH ĐỘ. ( Đại Sư Ấn Quang)
Thơ Đáp Cư Sĩ Tạ Thành Minh.

Được thơ, biết nơi quí địa còn có tâm pháp của Nho, Phật, các hạ lại hết sức đảm đương, tôi rất lấy làm vui đẹp! Đến như những lời khen tôi, thật là đưa ngọn cỏ khỏi lầu cao, khoe mắt cá hơn châu ngọc, quá dùng theo lối khách sáo ngoài đời, khiến cho người xiết bao hổ thẹn! „n Quang vẫn một kẻ dung tăng, hằng đón lấy canh thừa cơm hẩm nơi nhà bậc phú trưởng giả để tự nuôi sống, nếu có ai không chê rằng nặng mùi, cũng đem để chia sớt cho nhau.

Nhưng cư sĩ Từ Huất Như bảo rằng thức ăn ấy có ích cho người đói, nên mấy phen đem lời kẻ quê mùa nầy in ra lưu bố, tuy về ý có phần khả thủ, song văn chương không đáng để nhìn. Chẳng dè bộ Văn Sao của tôi lại làm lờn mắt xanh của các hạ, thật nghĩ cảm thẹn không cùng! Trong ấy, những điểm: chánh tâm, thành kính, dùng để đối trị sự tìm cầu bên ngoài, sự không biết kiêng sợ của người đời nay, cũng có đôi phần ích lợi cho kẻ sơ học. Nhưng, nếu bậc thông Tông hiểu Giáo được trông thấy, chắc không khỏi bắt nhợn ra. Tuy nhiên, nếu mửa hết những thức ăn khó tiêu của Tông Giáo, thì canh thừa cơm hẩm ấy cũng có thể bồi bổ ngươn khí, đợi đến khi sức khỏe phục hồi, lại dùng thứ cao lương mỹ vị mới được thật ích.

Về các pháp môn: Luật, Giáo, Thiền, Tịnh, thứ nào hợp cơ, xin xem kỹ bài Tịnh Độ Quyết Nghi Luận trong Văn Sao của tôi sẽ tự rõ. Bậc đại thông gia tuy gồm tu Thiền, Tịnh, song tất lấy Tịnh Độ làm chủ. Nếu như hạng người thường khôngcần phải nghiên cứu khắp kinh luận sâu xa, chỉ nên làm lành dứt dữ, một lòng niệm Phật cầu về Tây Phương mà thôi. Hạng người ấy vẫn sinh sống theo đời mà gồm tu đạo xuất thế, tuy tợ hồ bình thường không chi kỳ lạ, song được sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn! Vì kẻ quê mùa dốt nát chỉ dùng lòng chơn thành tin tưởng niệm Phật, nên có thể thầm hợp cùng đạo mầu, cảm thông với trí Phật. Người thông hiểu giáo lý, nơi tâm thường hay tính toán suy lường, nên trọn ngày thức thần ở trong vòng phân biệt, so lại không bằng sự chơn thành của hạng ngu tối kia. Cho nên, kẻ quê dốt niệm Phật rất dễ được lợi ích. Bậc đại thông gia như có thể buông bỏ tất cả cũng dễ được lợi ích; trái lại nếu chỉ suy lường nghĩa lý, chẳng những không đắc ích, e có khi trở thành bệnh, hoặc chưa được cho là được, lạc vào phái ngông cuồng.

Phép tham thiền chẳng phải là cơ duyên của người đời nay, dù có học cũng thành sự hiểu biết về văn tự, quyết không thể tỏ suốt tâm tánh. Tại sao thế? Vì thiếu bậc thiện tri thức dắt dìu chỉ định, lại người học chẳng biết tham thiền là thế nào, phần nhiều tuy gọi tham thiền, song thật ra là ngộ nhận. Trong bài luận 'Tông cùng Giáo không nên lẫn lộn' và 'Tịnh Độ Quyết Nghi', tôi đã chỉ phần đại khái về việc trên đây. Người đời nay, không luận căn cơ thượng, trung, hạ, đều phải gìn luân thường, giữ lòng thành kính, tin chắc lý nhân quả, làm những điều lành và chuyên niệm Phật cầu sanh về Tây Phương.

Nhân quả là cái lò lớn để nung phàm luyện thánh trong đạo pháp thế và xuất thế gian. Nếu trước tiên khôngnghiên cứu về nhân quả, sau khi thông hiểu Tông Giáo, e cho còn sự lỗi lầm đối với vấn đề nầy, và đã lỗi lầm tất có phần sa đọa. Vì thế, chớ cho nhân quả là cạn cợt mà xem thường. Phàm phu vì tâm lượng nhỏ hẹp nên không hiểu thấu những chỗ nói về nhân quả trong kinh, thật ra, các đấng Như Lai thành Chánh Giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ngoài đạo lý ấy. Nên lấy pháp thiển cận ở đời để làm phương tiện vào đạo mầu, như các thiên: Văn Xương Âm Chất, Thái Thượng Cảm Ứng chẳng hạn. Mấy quyển ấy, nếu xem kỹ và thực hành theo thì mỗi người đều có thể thoát nẻo luân hồi, hoặc ít ra cũng làm được hạng dân lương thiện. Niệm Phật tuy trọng ở sự vãng sanh, nhưng khi niệm đến cùng cực cũng ngộ được chân tâm, chẳng phải đối với đời hiện tại hoàn toàn không lợi ích.

Thuở xưa, Thiền Sư Minh Giáo Tung mỗi ngày niệm thánh hiệu Quán Âm mười muôn câu, về sau những kinh sách ở đời, Ngài không đọc mà biết cả. Nên xem Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, sẽ biết niệm Phật là nhiệm mầu. Về điều này, trong Văn Sao của tôi cũng thường nói đến. Các hạ bảo: 'Niệm Phật không được lợi ích ngay trong đời hiện tại', đó là bởi chính mình chưa nghiên cứu các kinh luận của Tịnh Tông. Cho đến quyển Văn Sao của tôi, có lẽ các hạ cũng đọc qua như người chạy ngựa xem đèn, không tế tâm tìm hiểu.

Đến như giới luật, chẳng những chỉ riêng về hình thức bên ngoài, mà nếu không giữ lòng thành kính cũng là trái phạm.Nhân quả chính là trụ cốt của luật, nếu không biết hoặc mù mờ đối với đạo lý nầy, tức đã trái luật, lỗi lầm. Người niệm Phật, như giữ được tâm niệm hợp với chánh lý, thì trong một hạnh gồm đủ cả: Luật, Giáo, Tịnh, Thiền. Nên biết, tu cácpháp môn kia đều phải dứt hết hoặc nghiệp không còn mảy tơ, mới được giải thoát. Riêng môn Tịnh Độ, nếu người trừ sạch phiền não được vãng sanh, tất mau chứng pháp thân, kẻ nghiệp chướng còn nặng, khi về Cực Lạc, cũng đã lên cõi thánh. So lại hai phương diện, một bên toàn dùng sức mình, một bên nương nhờ sức Phật, sự hơn kém cách xa như vực với trời. Có nhiều kẻ thông minh, mỗi khi đọc sách về tông Thiền thấy có ý vị, liền tự cho mình là thiền khách, muốn làm bậc cao nhân. Hạng ấy không biết Thiền, Tịnh là thế nào, lầm chuốc lấy lỗi tự tôn tự đại. Những kẻ có kiến giải như thế, quyết không nên bắt chước. Nếu noi theo, thì với việc thoát sanh tử, e cho trải qua kiếp số như bụi cũng khó mong cầu.

Xin xem kỹ lại quyển Văn Sao của tôi sẽ tự rõ.

Ấn Quang Đại Sư(Nguồn Phật Giáo Linh Sơn)
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 03:30 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2020, Jelsoft Enterprises Ltd.