VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 05-31-2008 , 09:41 PM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Chào các bạn thân mến !

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng ít nhiều nghe nói đến danh hiệu cùng tâm nguyện cứu khổ cứu nạn và những sự mầu nhiệm của Đức Đại Từ Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài là một vị Bồ Tát vĩ đại với lòng bi mẫn không bờ bến đối với chúng sinh, là sứ giả của Đức Phật A Di Đà trên cõi Tịnh Độ, và là vị Đại Bồ Tát trợ giúp đắc lực của Đức Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà này trong việc hoằng truyền và bảo vệ Chánh Pháp của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, với Bi Nguyện rộng lớn sẵn sàng cứu giúp những ai đang đau khổ, thành tâm kêu cứu đến Ngài. Chẳng những Ngài được biết và tôn thờ ở các nước theo Phật Giáo Bắc tông mà còn ở nước theo Phật Giáo Nam tông như Sri Lanka ( Tích Lan ).

Sau đây là một sự kiện điển hình xảy ra trong vô số sự linh ứng mầu nhiệm của Ngài. Hy vọng ai hay nguời thân, quen có việc khổ đau hoạn nạn thành tâm cầu đến Ngài sẽ được như nguyện.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát .

TST


Phật Pháp Nhiệm Mầu Kỳ 14 (Video)

http://www.ttqvideo.com/video/others...NhiemMa_14.wmv

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-01-2008 at 02:03 AM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-06-2008 , 02:52 PM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Nguồn http://www.quantheambotat.com/Folder...tQuanTheAm.htm

Đọc Và hiểu về Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

HÀNH TRẠNG ĐỨC BỒ-TÁT QUAN THẾ ÂM (Avalokitesvara)



TT. Thích Phước Sơn



Nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ. Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tưởng không ai khác hơn là Đức Bồ-tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ-tát nầy có đầy đủ phẩm chất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ. Hình như trong mọi trái tim của những người con Phật thuần thành - nhất là giới Phật tử bình dân - không ai là không không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ-tát giàu lòng bi mẫn nầy. Mỗi khi nói về Ngài, tựa hồ chúng ta ai cũng biết, nhưng có lẽ không ai dám cho là mình đã hiểu biết đầy đủ tất cả. Thế nên, trong bài nầy người viết xin giới thiệu cụ thể đôi nét chân dung của Bồ-tát một lần nữa, để giúp đại chúng quan chiêm.

Trước hết hãy nói về danh hiệu của Bồ-tát. Thông thường các kinh điển kể về 8 danh hiệu của Ngài như sau: 1/. Quan Thế Âm Bồ-tát; 2/. Quán Tự Tại Bồ-tát; 3/. Quan Thế Tự Tại Bồ-tát; 4/. Quan Thế Âm Tự Tại Bồ-tát; 5/. Hiện Âm Thanh Bồ-tát; 6/. Quan Âm(*) Bồ-tát; 7/. Cứu Thế Bồ-tát; 8/. Quan Âm Đại Sĩ.

Trên đây là những danh hiệu phổ biến mà nhiều người thường biết đối với vị Bồ-tát nầy. Thế thì có những kinh điển chủ yếu nào đề cập đến xuất xứ, vị trí và những hoạt dụng của Ngài?

I. Chúng ta thấy đại khái hành trạng của Bồ-tát qua các kinh:

1. Theo kinh Đại A-di-đà thì Ngài là Thị vệ bên trái, còn Bồ-tát Đại Thế Chí là Thị vệ bên phải của Đức Phật A-Di-Đà lo việc cứu độ chúng sinh trong thế giới Ta-bà. Cả 3 vị được gọi chung là Tây phương Tam Thánh (3 vị Thánh ở phương Tây). Và trú xứ chính thức của các Ngài là cõi Tây phương Tịnh độ. Phàm khi chúng sinh gặp tai nạn mà chí thành niệm danh hiệu Quan Âm Bồ-tát, thì lập tức Ngài đến nơi cứu giúp. Do thế mà Ngài được Đức hiệu là Quan Thế Âm Bồ-tát (Vị Bồ-tát chuyên lắng nghe âm thanh - cầu cứu - của thế gian).

2. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn thì Ngài có 33 hóa thân, từ thân Phật, Độc giác… đến thân đồng nam, đồng nữ. Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của Ngài.

3. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm thì pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể được sử dụng như năm căn khác. Ngài phát tâm tu hành nơi pháp hội của Đức Phật Quan Thế Âm, và Đức Phật nầy đã thọ ký cho Ngài khi thành Phật sẽ có Phật hiệu giống như mình. Do đó mà Ngài có hiệu là Quan Thế Âm. Đồng thời vị Bồ-tát nầy cũng có 32 ứng thân giống như kinh Pháp Hoa đã mô tả.

Chỗ khác nhau là kinh Pháp Hoa kể đến 33 ứng thân, còn kinh Lăng Nghiêm thì liệt kê 32 ứng thân. Ngoài ra, hai kinh nầy còn giống nhau một điểm nữa là cùng mô tả về 14 đức vô úy của vị Bồ-tát nầy. Số lượng và nội dung của các đức vô úy nầy gần y hệt như sau.

4. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà-la-ni thì Ngài đã thành Phật từ đời quá khứ cách nay vô lượng kiếp, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì nguyện lực Đại bi, muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên Ngài hiện thân Bồ-tát để dễ dàng hoàn thành đại nguyện. Thế nên, ngoài danh hiệu Bồ-tát Quan Âm như chúng ta thường nghe, có đôi chỗ còn gọi là Đức Phật Quan Âm là vì vậy.

5. Theo kinh Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm Vương thì Ngài là Thị vệ của Đức Phật Thích-ca.

6. Theo Mật giáo thì Ngài là hóa thân của Đức Phật A-Di-Đà.

7. Theo kinh Hoa Nghiêm thì đạo tràng của Ngài ở núi Bồ Đà Lạc trên biển Nam Hải. Đó là đôi nét sơ lược về hành trạng của Đức Bồ-tát Quan Âm mà các kinh đã đề cập đến. Bây giờ chúng ta sẽ bàn rõ thêm một số vấn đề cụ thể khác.

II. Cuộc đời Ngài qua các phương diện:

1. Về tín ngưỡng Quan Âm


Tín ngưỡng nầy phát xuất từ Ấn Độ, Tây Vực, sau đó nhờ công tác phiên dịch kinh điển mà nó được truyền sang Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam v.v… Bản kinh có đề cập đến Bồ-tát Quan Âm là kinh Pháp Hoa Tam Muội, gồm 6 quyển, do Chi Cương Lương Tiếp dịch vào năm Ngũ phụng thứ 2 (255) triều đại nhà Ngô thời Tam Quốc. Đây là bộ kinh được dịch sớm nhất là loại nầy. Sau đó, Trúc Pháp Hộ dịch Chánh Pháp Hoa Kinh Quan Thế Âm Phổ Môn phẩm vào năm Thái Khang thứ 7 (286). Rồi Cưu-ma-la-thập dịch Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn phẩm vào năm Hoằng Thỉ thứ 8 (406) đời Diêu Tần.

Bắt nguồn từ các kinh được phiên dịch ra chữ Hán kể trên mà sự tín ngưỡng Quan Âm dần dần phát triển mạnh. Tại Tây Tạng, nền tín ngưỡng nầy rất thịnh hành. Lạt-ma giáo cho rằng Đức Đạt-lai-lạt-ma được tái sinh nhiều đời chính là hình ảnh hóa thân của Đức Bồ-tát Quan Âm. Ngoài ra, các nước khác tại Châu Á, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Bắc truyền thì hình ảnh Đức Bồ-tát Quan Âm tượng trưng cho mẹ hiền cứu khổ, được nhiều người thành kính tin tưởng và rất mực tôn sùng.

2. Về diệu dụng của Quan Âm

Về sức uy thần diệu dụng của vị Bồ-tát nầy theo kinh Pháp Hoa thì thường có 33 hiện thân như sau: 1/. Thân Phật; 2/. Thân Độc Giác; 3/. Thân Duyên Giác; 4/. Thân Thanh Văn; 5/. Thân Phạm Vương; 6/. Thân Đế-Thích; 7/. Thân Tự Tại Thiên; 8/. Thân Đại Tự Tại Thiên; 9/. Thân Thiên Đại Tướng quân; 10/. Thân Tứ Thiên Vương; 11/. Thân Thái tử của Tứ Thiên Vương; 12/. Thân Nhân Vương; 13/. Thân Trưởng giả; 14/. Thân Cư sĩ; 15/. Thân Tể quan; 16/. Thân Bà-la-môn; 17/. Thân Tỷ-kheo; 18/. Thân Tỷ-kheo-ni; 19/. Thân Ưu-bà-tắc; 20/. Thân Ưu-bà-di; 21/. Thân Nữ chúa; 22/. Thân Đồng nam; 23/. Thân Đồng nữ; 24/. Thân trời; 25/. Thân Rồng; 26/. Thân Dược-xoa; 27/. Thân Càn-thát-bà; 28/. Thân A-tu-la; 29/. Thân Khẩn-na-la; 30/. Thân Ma-hầu-la-già; 31/. Thân Người; 32/. Thân Phi nhân; 33/. Thân Thần Cầm Kim Cương.

Đó là những hóa thân của Đức Quan Âm Bồ-tát. Đồng thời Ngài còn có 14 năng lực Vô úy khác nữa phát sinh hiệu dụng khi nào chúng sinh thành tâm niệm danh hiệu của Ngài, mà kinh Pháp Hoa cũng như kinh Lăng Nghiêm đã mô tả như sau: 1/. Chúng sinh khổ não trong 10 phương thành kính niệm danh hiệu Ngài, liền được giải thoát; 2/. Chúng sinh gặp lửa dữ…, lửa không thể thiêu đốt; 3/. Chúng sinh bị nước cuốn trôi…, nước không thể nhận chìm; 4/. Chúng sinh vào xứ ác quỉ…, ác quỉ không thể làm hại; 5/ Chúng sinh gặp đao trượng…, đao trượng liền gãy; 6/ Chúng sinh gặp ác quỉ, ác thần…, thì chúng khôngg trông thấy; 7/. Chúng sinh bị gông cùm, xiềng xích…, thì xiềng xích được tháo ra; 8/. Chúng sinh khi vào đường nguy hiểm…, giặc cướp không thể cướp đoạt; 9/. Chúng sin tham dục…, liền dứt khỏi tham dục; 10/. Chúng sinh nóng giận…, liền dứt hết nóng giận; 11/. Chúng sinh mê ám…, liền dứt hết mê ám; 12/. Chúng sinh muốn cầu con trai…, liền được con trai; 13/. Chúng sinh muốn cầu con gái…, liền được con gái; 14/. Chúng sinh niệm danh hiệu Quan Âm thì được lợi ích bằng niệm tất cả các danh hiệu khác.

Đó là 14 diệu dụng mà Đức Bồ-tát nầy dùng để hóa giải ách nạn, ban phát ân huệ cho những chúng sinh nào có lòng thâm tín đối với Ngài.

3. Về hình tượng Quan Âm

Trước hết hãy nói về giới tính của Ngài, thông thường được thể hiện qua 2 hình thức, hoặc là Nam tính, hoặc là Nữ tính.

- Nam tính: Phật giáo Tây Tạng thờ Bồ-tát Quan Âm theo hình thức Nam tính. Đồng thời tương truyền từ đời Đường trở về trước các nước Phật giáo khác tại Châu Á cũng tạc tượng Ngài theo hình thức Nam tính.

- Nữ tính: Theo sách Trang Nhạc Ủy Đàm thì từ đời Đường trở về sau, các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa, khi tạc tượng Ngài đều dùng hình thức Nữ tính.

Ngoài ra, 3 chi phần khác là đầu, mắt, và tay của Bồ-tát thông thường được minh họa như sau:

Đầu: Từ một đầu, 3 đầu, 5 đầu, nghìn đầu, cho đến 84.000 đầu.
Mắt: Từ 2 mắt, 3 mắt, cho đến 84.000 mắt.
Tay: Từ 2 tay, 4 tay, cho đến 84.000 tay.

4. Về những ngày kỷ niệm

Như tất cả chúng ta đều biết, đặc biệt vị Bồ-tát nầy hằng năm có đến 3 ngày kỷ niệm, đó là kỷ niệm các ngày sinh nhật, xuất gia và thành đạo:

Ngày sinh nhật: nhằm ngày 19-2 âl.
Ngày xuất gia: nhằm ngày 19-9 âl.
Ngày thành đạo: nhằm ngày 19-6 âl.

5. Về nơi cư trú

Tất nhiên, do sức thần thông diệu dụng và do bản hoài cứu khổ chúng sinh nên vị Bồ-tát nầy luôn luôn có mặt ở khắp mọi nơi mỗi khi có người thành tâm cầu nguyện, nghĩa là có cảm thì có ứng. Nhưng theo lẽ thông thường, chúng ta thấy các kinh ký tải về nơi cư trú của Ngài như sau:

Ở Tây phương Tịnh độ: theo kinh A-Di-Đà.
Ở núi Bồ-đà-lạc trên biển Nam Hải: theo kinh sớ Hoa Nghiêm sớ
Ở núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc: theo kinh Quan Thế Âm Bồ-tát cứu khổ.

III. Quan Âm liên hệ với Chuẩn-đề

Bây giờ xin trình bày về mối quan hệ giữa ĐứcBồ-tát Quan Thế Âm và Đức Bồ-tát Chuẩn-đề. Chuẩn-đề là từ phiên âm của chữ phạn Cundi, chữ nầy còn được phiên âm là Chuẩn-chi, Chuẩn-nê, có nghĩa là thanh tịnh; nói cho đủ là Chuẩn-đề Quan Âm, Chuẩn-đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn-đề hay Thất Cu-chi Phật Mẫu. Như vậy, Chuẩn-đề hay Chuẩn-đề Quan Âm chính là một trong những danh hiệu của Quan Âm Bồ-tát. Theo Thất Cu-chi Phật Mẫu Chuẩn-đề Đà-la-ni kinh thì Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc, có 18 tay đều đeo vòng xuyến, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: "Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha".

Nếu ai chí thành trì tụng bài chú trên thì sẽ tiêu trừ tai họa, dứt hết bệnh tật, đạt được thông minh…, nhận được một luồng hào quang chiếu đến làm tiêu tan tội chướng, thọ mạng lâu dài, tăng trưởng phước đức: đồng thời được chư Phật, Bồ-tát gia bị, đời đời kiếp kiếp xa lìa ác thú, mau chóng chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.(1)

Thiền tông xem vị Bồ-tát nầy chỉ là một danh hiệu khác của Đức Quan Âm nên rất tôn sùng.. Còn tông Thai Mật ở Nhật Bản thì xếp Ngài vào địa vị Phật, xem là Phật mẫu. Nhưng tông Đông Mật ở Nhật thì thừa nhận Chuẩn-đề là một trong 6 danh hiệu Quan Âm, thuộc Liên Hoa bộ. Sáu danh hiệu nầy là: 1/. Thiên Thủ Quan Âm; 2/. Thánh Quan Âm; 3/. Mã Đầu Quan Âm; 4/. Thập Nhất Diện Quan Âm; 5/. Chuẩn-đề Quan Âm; 6/. Như Ý Luân Quan Âm.

Theo Chuẩn-đề Đại Minh Đà-la-ni kinh thì vì để hóa độ chúng sinh mà Đức Quan Âm ứng hóa thân vào trong lục đạo. Ngài ngự trị ở Biến Tri Viện thuộc Hiện đồ Thai tạng giới Mạn Trà la(2).

Ở đây xin giải thích thêm về từ "Phật Mẫu" mà ở trên đã đề cập.

Phật Mẫu (Buddha-màtri, Budhdha-màtar) bao gồm 4 nghĩa như sau: 1/. Chỉ cho Ma-da phu nhân (Mahà-màyà) thân mẫu của Đức Phật, hoặc chỉ cho Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahà-prajàpatì) di mẫu của Đức Thích-ca; 2/. Chỉ cho Bát-nhã-ba-la-mật (pan??-paramita). Vì Bát-nhã (trí tuệ) có thể sinh ra tất cả chư Phật, nên Thiền tông xem Bát-nhã là Phật mẫu (mẹ của chư Phật); 3/. Chỉ cho pháp. Vì chư Phật lấy pháp làm thầy, do pháp mà thành Phật, cho nên gọi pháp là Phật mẫu; 4/. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Theo Mật giáo, đây là một trong những hình thức thần cách hóa(3).

* * *
Qua hành trạng của Đức Quan Thế Âm Bồ-tát được trình bày trên đây hình như hơi khó thuyết phục đối với nhãn quang của giới khoa học. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng hằng ngày trên thế giới nầy không biết bao nhiêu Thiên tai, chiến nạn xảy ra, và cũng không biết bao nhiêu tấm lòng từ bi nhân ái sẵn sàng nhường cơm xẻ áo hầu xoa dịu phần nào những nỗi đau thương thống khổ của đồng bào, đồng loại. Chứng kiến những cảnh tượng ấy, hiển nhiên chúng ta sẽ không còn ngờ vực gì nữa về diệu dụng từ bi cứu khổ, cứu nạn của đức Bồ-tát Quan Thế Âm đối với thế gian nầy.

Chú Thích:

(*) Quan Âm: Tên Ngài gọi đủ là Quan Thế Âm, nhưng vì người đời Đường ở Trung Quốc kiêng húy chỉ "Thế" nên gọi tắt là Quan Âm. Rồi từ đó trở về sau, nhiều người gọi mãi thành quen, vì thế mà có danh hiệu Quan Âm Bồ Tát.

(1) (2) (3): Phật Quang Đại Từ Điển, các trang 4058, 5515, 2619.

** Trích trong www.phatviet.com

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-06-2008 at 03:02 PM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-06-2008 , 03:19 PM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Từ Avalokitesvara Ðến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát(*)

GS Tiến Sĩ CHUN-FANG YU,
Khoa Trưỏng Phân Khoa Tôn Giáo, The State University of New Jersey
Tâm Hà Lê Công Ða chuyển ngữ

Lời Nói Ðầu của Dịch Giả
Gieo Duyên Lành Cùng Bồ Tát Quán Thế Âm

Bồ Tát Quán Thế Âm đang thực sự có mặt bên cạnh chúng ta mang sứ mệnh Bồ Tát vào đời để cứu vớt nhân sinh qua cơn khổ nạn hay chỉ là một nhân vật huyền thoại tôn giáo? Với những người mang nặng tinh thần duy lý cho rằng Ðạo Phật không hề đặt cơ sở trên những niềm tin mù quáng và do đó, tin vào sự cứu độ của một tha lực bên ngoài –ví dụ như Quán Thế Âm Bồ Tát- theo họ là một hình thức dị đoan mê tín, khó chấp nhận. Tuy nhiên nếu là Phật tử, khi đặt vấn đề này họ đã quên mất một điều rằng, những năng lực phi thường của chư Phật và Bồ Tát có thể thực hiện những chuyện rất khó tin mà người đời quen gọi là « phép lạ », đã được đề cập đến rất nhiều trong các kinh sách Phật giáo thuộc cả hai truyền thống Nam Tông lẫn Bắc Tông. Những « phép lạ » này thực ra cũng chỉ là một trong muôn ngàn phương tiện thiện xão mà quý Ngài đã ban phát cho những kẻ hữu duyên để làm tăng trưởng thêm niềm tin ở nơi họ. Ngay cả Ðức Phật Thích Ca, tuy không khuyến khích việc sử dụng thần thông, nhưng chính bản thân Ngài trong một vài dịp cũng đã phải thi triển thần thông để nhiếp phục người.

Chuyện kể rằng, trong chuyến về thăm hoàng thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên sau khi thành đạo, vua cha Tịnh Phạn và các bậc trưởng lão trong hoàng tộc, vẫn mang cái ấn tượng vai vế trong gia tộc, coi Ngài là người trẻ tuổi thuộc vào hàng con cháu nên đã không bày tỏ sự tôn trọng đúng mức đối với một vị Phật. Ðể cảnh tỉnh họ, Phật đã dùng thần thông làm hiện ra một cây cầu pha lê ở trên không nối dài từ Ðông sang Tây thành Ca Tỳ La Vệ. Ngài bay lên đứng ở trên đó, chung quanh vây bọc bởi hằng hà sa số những vị Phật của thời quá khứ, và từ trên tòa giảng này Phật đã đưa cánh tay vươn dài ra chạm vào mặt trời, mặt trăng rồi nói với họ: « Ðây là nơi không nhiễm một hạt bụi trần ».


Chứng kiến phép lạ này cùng với những thần thông khác của Phật, Ðức vua Tịnh Phạn quá đổi hân hoan và kính phục, bèn chắp tay lên trán cung kính: « Hỡi vị Phật nhân từ và cao cả, xin vui lòng tha lỗi cho người cha già này và tất cả những người dân thành Ca Tỳ La Vệ tụ họp nơi đây ! Tôi xin quy y cùng Ngài là vị Phật, cùng Pháp và Tăng !». Tất cả hoàng tộc của giòng họ Thích Ca đã cúi đầu đãnh lễ Phật sau lời xưng tán của Ðức vua Tịnh Phạn. (1)

Phật giáo không phải chỉ cung cấp cho con người một mớ giáo điều hay lý thuyết suông nhưng đồng thời cũng chỉ rõ ra những con đường tu tập để hướng đến giác ngộ, giải thoát. Thông qua tu tập, tức là trải qua một hành trình thể nghiệm tâm linh, hành giả đồng thời cũng khám phá ra, hiểu và cảm nghiệm được những năng lực vô bờ bến của chư Phật, Bồ Tát và từ đó trưởng dưỡng lòng tin. Thế nên đôi khi chỉ với một câu chú, một câu niệm Phật mà người ta cho là rất đơn giản nhưng trong đó lại ẩn chứa những năng lực mầu nhiệm, phi thường chỉ có người trong cuộc có tu chứng mới thấy, mới biết được sự cảm ứng, linh nghiệm.

Nhớ lại thuở còn bé, là một đoàn sinh oanh vũ của Gia Ðình Phật Tử, vào những ngày rằm, mồng một phải tham dự khoá lễ tối và sinh hoạt tại chùa làng, đi xuyên qua một cánh rừng thưa dài hơn hai cây số, tôi không khỏi cảm thấy lo sợ. Sợ ma! Chuyện dĩ nhiên thôi. Một cậu bé 7, 8 tuổi, một thân một mình trong đêm vắng, nhất là vào những đêm trăng, nội chỉ nhìn thấy những bóng cây lung linh nhảy múa trên con đường mòn cát trắng là cũng đủ chết khiếp rồi, huống gì con đường này nổi tiếng là lắm ma. Tôi đã nghe người trong làng đồn đãi rằng trên con đường này -nhất là đoạn băng ngang qua một ngôi mộ cổ gọi là “Lăng Mụ Hạp”, ma đã hiện ra cả giữa ban ngày, rượt đuổi những người đàn bà đi chợ trưa về. Cũng chính trên con đường này, một câu chuyện “ma dấu” nổi tiếng mà tất cả những người trong làng không ai là không biết. Nạn nhân của vụ “ma dấu” này là anh ruột của một người bạn cùng học lớp thời Tiểu học với tôi. Anh này rất giỏi võ vì đã là võ sư chưởng môn nhân của môn phái Thiếu Lâm ở trong vùng trước khi bị động viên phục vụ tại Sư Ðoàn I BB với cấp bậc Thượng sĩ. Anh cũng là người đã từng đoạt giải nhất toàn Quân Khu về môn đi bộ băng rừng. Gan góc và võ nghệ đầy mình như thế mà anh lại bị “ma dấu!”

Số là một hôm được nghỉ phép về thăm gia đình, anh lội bộ về làng, khi đi ngang quảng đường này thì trời cũng đã chạng vạng tối. Ðang hối hả bước nhanh anh suýt đâm sầm vào một người đang đi ngược chiều. Nhìn lên thì hoá ra là một người bạn thân cũ cùng xóm. Hai bên mừng rỡ chào hỏi nhau và rồi người bạn bảo anh:
- Tao có chút việc phải đi ra chợ, nhưng gặp mày về phép mừng quá, thôi tao trở lại để ở chơi với mày.


Thế là hai người nắm tay nhau cùng đi trở về làng. Người bạn móc túi lấy ra một gói bánh in (2) mời anh ăn và anh đã ăn một cách ngon lành. Ðó là điều anh kể lại sau này với mọi người, bởi vì ngay từ thời điểm đó thì có lẽ anh đã bị mê đi rồi, không còn biết gì nữa, và anh đã bị con ma dẫn đi loanh quanh đâu đó trong rừng suốt cả đêm. Ðến gần sáng thì con ma dẫn anh xuống con sông đầu làng, có lẽ là định dìm anh xuống sông cho chết đuối. May cho anh là lúc này những trẻ chăn bò trong làng đã thức dậy dẫn bò đi ăn sớm. Ðàn chó nghe có tiếng động lội bì bỏm dưới sông thì sủa ran lên. Ðám trẻ chăn bò nghĩ rằng đâu có ai lại đi tắm sông sớm như thế, chắc có lẽ một bợm nhậu nào quá chén trên đường về nhà đã trợt chân lọt té xuống sông rồi. Thế là bọn chúng nhảy xuống sông kéo anh lên. Lúc này anh vẫn chưa tỉnh. Miệng thì dính đầy phân bò còn tay thì khư khư giữ chặt một miếng phân bò khô mà anh vẫn còn gọi là bánh in! Phải một lúc sau anh mới tỉnh lại khi người làng kéo đến khá đông và anh bắt đầu kể lại đầu đuôi câu chuyện.

Sau khi vụ này xảy ra thì bà nội tôi dứt khoát không để cho tôi đi đêm một mình. Tôi tuy mắc cỡ với bạn bè là đã lớn rồi mà đi đâu cũng có một bà “vú em” kè kè theo một bên, nhưng trước sự cương quyết của bà tôi đành phải nhượng bộ. Thế là từ đó, Gia Ðình Phật Tử của chúng tôi lại có thêm một đoàn sinh “bất đắc dĩ”. Kể lại câu chuyện này để mọi người thấy rằng, cái gì đã làm cho một đứa bé 7, 8 tuổi vượt qua nỗi sợ hãi, một mình đêm hôm trên con đường vắng vượt qua một khu rừng lắm ma như thế? Cái gì đã làm cho một đứa bé trông thấy một bóng trắng đứng hỏng chân trên một gò mả bên đường mà lại không ù té chạy? Thưa, đó là niềm tin! Tin tưởng vào Phật pháp. Tin tưởng vào năng lực cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tin rằng nếu vừa đi tay vừa bắt ấn vừa niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì không một thế lực ma quỷ nào dám xâm phạm đến ta. Tôi đã lớn lên trong một niềm tin tưởng sâu xa về Bồ Tát Quán Thế Âm như thế. Niềm tin này càng ngày càng được củng cố vững chắc, không hề suy suyển.

Sau này khi lớn lên, muốn tìm hiểu thêm một vùng đất mới của đất nước mang rất nhiều huyền thoại tôn giáo cũng như một bản sắc văn hoá đặc biệt, khi ra trường tôi đã chọn nhiệm sở về hành nghề “gõ đầu trẻ” tại một tỉnh ở miền Nam. Trong những dịp rãnh rỗi có cơ hội đi đó đi đây, có lẽ do bản tính yêu văn chương nghệ thuật của một thầy giáo dạy văn đã đưa tôi đến chỗ quen biết với một nghệ sĩ nghiệp dư cổ nhạc, đồng thời cũng là một giáo viên đang dạy học tại trường Tiểu học Bình Thạnh Ðông, quận Lấp Vò, Sa Ðéc mà người ta quen gọi theo lối xưng hô Nam Bộ là thầy Bảy. Từ chỗ quen biết đó, hễ sau này nếu có dịp đi tạt ngang qua vùng này, tôi lại thường tìm đến thăm anh để nghe anh biểu diễn trình tấu cổ nhạc.

Quận Lấp Vò nằm kế Bắc Vàm Cống trên đường liên tỉnh Sa Ðéc – Long Xuyên là một vùng thuộc ảnh hưởng Phật Giáo Hoà Hảo, thế nên điều ngạc nhiên đầu tiên của tôi khi đặt chân đến nhà anh là không thấy anh thờ tấm Trần Ðiều như những gia đình PGHH khác mà ngay chính giữa nhà, là một bàn thờ Phật với đèn nến khói hương và bức hình của Quán Thế Âm Bồ Tát khá lớn. Ðiều thắc mắc này tuy tôi không nói ra nhưng anh đã cho tôi lời giải đáp sau này. Anh lúc này đã trên bốn mươi và vẫn còn độc thân, sống một mình trong một ngôi biệt thự lớn nhất và cũng “nổi tiếng” nhất tại địa phương này. Nổi tiếng vì đây là ngôi nhà ma: ngôi biệt thự của ông Hội Ðồng Tự, một dinh cơ đồ sộ tọa lạc ngay tại chợ Lấp Vò, không ai là không biết. Ngôi biệt thự này trong thời chiến tranh Việt Pháp đã bị Pháp trưng dụng làm tổng hành dinh cho cơ quan an ninh điều tra cuả Phòng Nhì. Trong khoảng thời gian này, hàng ngàn người tình nghi hoạt động chống Pháp đã bị bắt đưa về đây điều tra, lấy khẩu cung. Rất nhiều nạn nhân đã bị tra tấn đến chết và xác của họ người Pháp không cần phải mất công chôn cất, chỉ việc liệng bỏ xuống con sông ngay sau nhà là xong chuyện. Những vết máu của nạn nhân sau hàng mấy chục năm vẫn còn đọng lại dấu vết trên nền gạch bông không cách gì chùi rửa được là một chứng tích của sự khủng bố này.

Sau năm 1954, ngôi biệt thự này được hoàn trả lại cho cố chủ, nhưng cả gia đình, thân quyến của ông Hội Ðồng không ai dám dọn đến ở vì bị ma hoành hành. Ma lộng hành đến độ có người thân trong gia đình vì tiếc của nên bạo gan đến ở thử một đêm, đã bị ma nắm đầu liệng ra khỏi cửa sổ! Từ đó không ai còn dám thử nữa. Một dinh cơ đồ sộ như thế mà đành phải bỏ hoang trong một thời gian khá dài đến cả 10 năm! Cho đến đầu thập niên 60 thì thầy Bảy được đổi về đây. Mang dòng máu nghệ sĩ đảng tử, Thầy tuy đã nghe danh về ngôi nhà này, nhưng với bản tính bướng bỉnh không tin chuyện ma qủy lại không có chỗ trọ, thấy ngôi biệt thự này quá “ngon lành” nên cũng đánh liều muốn thử thời vận một phen. Thế là Thầy tìm đến ông Hội Ðồng Tự và ngõ ý muốn thuê mướn ngôi nhà.
Ông Hội Ðồng cười sốt sắng:
- Nếu Thầy ở được, tôi cho Thầy ở không chứ chẳng phải thuê mướn gì cả!
Vì đã nghe danh ngôi nhà này rồi nên Thầy Bảy nghĩ đến kế hoạch đối phó. Thầy kể lại chuyện này với tôi như sau:

“Thầy biết không, vì ngôi nhà này bỏ hoang đã lâu nên không vô điện. Ðể chuẩn bị cho đêm đầu tiên, tôi đã phải chạy đi mua hàng chục cây đèn Hoa Kỳ cỡ bự, dầu mỡ đàng hoàng, đốt đèn thử trước cho chắc ăn là không cây nào bị trở ngại. Trước đó tôi cũng đã vào lớp kêu gọi khoảng chục đứa học trò lớn, bặm trợn, tối nay mang giàng thun, gậy gộc đến trợ lực tôi. Tất cả bọn chúng đều y hẹn đến tiếp tay thầy vào buổi tối đầu tiên. Thế là tôi yên bụng, thầy trò chúng tôi ngồi chờ đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra xem có đúng như lời đồn đãi hay không.

Mọi sự đều có vẽ yên lành cho đến khoảng 10 giờ tối. Ðột nhiên những cây đèn mà tôi đặt ở mỗi góc nhà từ từ tàn lụi dần và tắt hẵn như có ai đó đã lấy tay đè lên tim đèn. Mà không phải tất cả chúng đều tắt một lượt đâu nghe. Từ từ từng cây một, cây nọ đến cây kia như có ai đó đang cố tình đùa nghịch với tôi. Khi cây đèn cuối cùng tắt hẵn thì đồng thời ở ngoài cữa, cửa lớn lẫn cửa sổ, hàng đàn con chim ụt, con nào con nấy to như con gà mái bay vào tấn công chúng tôi. Tôi hô đám trẻ vung gậy và bắn giàn thun chống trả. Thế là chúng biến đi. Rồi một lát, cả một đàn mèo mun, con nào con nấy to bằng con heo con, mắt xanh lè phóng vào như muốn cắn xé chúng tôi. Tôi lại hô đám trẻ chống trả. Thế là chúng lại biến đi. Tình hình trở nên yên tĩnh trong một lúc và tôi nghĩ rằng trò quấy phá này có lẽ đến đây là chấm dứt.

Nhưng không, khoảng chừng 11 giờ tối, trên rầm thượng bỗng nhiên có những tiếng xiềng xích khua rổn rảng, rồi tiếng dao vằm thớt và tiếng những người đàn bà nói chuyện ì xèo với nhau như người ta đang tụ lại nấu nướng để làm đám giổ. Chúng tôi yên lặng chờ xem “họ” sẽ giở trò gì nữa đây để tìm cách đối phó. Một lát, những tiếng động kia chợt im bặt. Ðang từ ồn ào, không khí rơi vào một sự tĩnh mịch đến rợn người. Ðột nhiên trong sự im vắng đó bỗng nỗi lên những tiếng kêu than rên xiết của những người đang bị hành hạ tra tấn. Tiếng kêu than ai oán và thê lương xoáy mạnh vào đầu, vào tim tôi, đến độ bây giờ cả 10 năm sau, tôi vẫn nghe như chúng vẫn còn văng vẳng bên tai. Tiếng kêu than thê thảm này quả là quá sức chịu đựng đối với một con người. Tôi hết còn chịu nỗi và kêu đám học trò “rút binh”!


Tuy nhiên do vẫn còn “tiếc của đời”, tôi kêu đám học trò giúp tôi thử thời vận thêm một đêm nữa. Cái đêm thứ hai này, tấn tuồng lại xảy ra y như đêm trước và đến khoảng 11 giờ khuya thì tiếng kêu than rên xiết lại trổi dậy. Bỗng nhiên trong lúc này, từ đâu trong tiềm thức, miệng tôi bật lên câu niệm: NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Bỗng dưng, tất cả những tiếng rên xiết thê thảm kia đều im bặt ngay lập tức.”

Thầy Bảy ngưng một lát, xong bắt đầu tiếp tục câu chuyện với giọng nhiệt thành hơn:
- Thầy biết, tôi là người theo đạo Ông Bà, không hẵn là một người theo Phật giáo. Lúc niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm có thể là do truyền thống tin Trời Tin Phật đã có từ lâu đời trong gia đình nên mới buột miệng ra như thế. Nhưng khi mới niệm lên một câu mà linh ứng như vậy, quả thật là lúc đó lòng tôi rất khoái chí. Tôi nghĩ thầm: “Thế là tao đã có biện pháp trị chúng mày rồi nghe!” Nhưng rồi một hồi tĩnh trí lại, tôi bỗng suy nghĩ: “Ma qũy là có thật –vì chúng đang phá mình muốn chết đây- thế mà khi niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ngưng ngay sự quấy phá, tức là chúng cũng kính sợ Ngài, điều này có nghĩa là Bồ Tát Quán Thế Âm cũng có thật. Tôi chỉ suy luận đơn giản như thế và rồi tôi tin tưởng tuyệt đối vào công năng và uy lực của Ngài. Thế rồi tôi nghĩ đến vong linh của những oan hồn uổng tử đã chết trong căn nhà này chưa được siêu độ, có lẽ họ đang đau khổ lắm, thế là tôi hứa với họ rằng tôi sẽ mời Thầy về làm lễ cầu siêu cho họ vào ngày mai.


Tôi đã giữ đúng lời hứa. Chỉ vào bức hình Bồ Tát giữa trang thờ, Thầy Bảy tiếp, hôm sau tôi đi Long Xuyên thỉnh tôn tượng của Ngài đem về thờ và tôi trở thành một người tin tưởng hoàn toàn vào sự linh ứng nhiệm mầu của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tôi cũng đã làm lễ cầu siêu chu đáo cho “họ” và từ đó “họ” không còn quấy phá tôi nữa. Nhưng chỉ phòng của tôi ở thôi à nhen. Những phòng khác tôi không bảo đảm đâu à. Không tin Thầy cứ ngủ thử lại một đêm, nếu không có chuyện gì xảy ra, sáng mai tôi sẽ bao Thầy đi ăn sáng!”
Dĩ nhiên tôi từ chối sự thách đố này. Không phải là vì tôi sợ ma, nhưng vì với tôi, đây không phải là chuyện để đem ra đánh cá!

Những chuyện linh ứng của Bồ Tát thì nhiều vô số kể. Trong cuộc chiến khốc liệt vừa qua. Trong cuộc hành trình vượt biển Ðông bi thảm của người Việt tỵ nạn, bao nhiêu gia đình, bao nhiêu sinh mạng đã được Ngài cứu độ, vượt thoát khỏi hiểm nghèo, được Ngài đưa từ cõi chết trở về lại với cõi sống. Bao nhiêu chuyện mà tôi được nghe, được thấy và đôi khi chính mình là nhân vật trong cuộc, tôi chỉ đơn cử ra một vài truyện ma nói trên để mọi người thấy rằng có những cảnh giới vẫn luôn hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta nhưng do khả năng giới hạn của mình, chúng ta đã không thấy được, nhưng không có nghĩa là chúng không hiện hữu. Cũng vậy, Bồ Tát Quán Thế Âm không phải là một nhân vật huyền thoại tôn giáo mà là một vị Bồ Tát có thực, đã và đang có mặt trong cảnh giới này, bên cạnh chúng ta, luôn luôn lắng tai nghe những tiếng kêu thương của chúng sanh để tìm đến giúp đỡ cứu độ.

Ðại sư Tinh Vân, một danh tăng Trung Hoa hiện đại, trong bài tựa cuốn “Phổ Ðà Sơn Dị Truyện” đã nhận định rằng:

“Một điều rất đáng tiếc và rất lấy làm lạ là lòng người thời nay, cứ nói đến sự cảm ngộ linh nghiệm của Bồ Tát là thấy đôi phần nghi hoặc, nói đến sự hiện thân của Bồ Tát thì bao giờ cũng cho đó là truyện thần thoại. Người không tin Phật giáo như thế đã đành, mà cả những người tín ngưỡng Phật giáo cũng phạm những sai lầm đó. Một điều không thể tha thứ được, đó là những người tín ngưỡng Phật giáo và đã nghiên cứu khá sâu về Phật pháp, thế mà từ lời nói đến bài viết, họ cũng không dám đề cập đến sự hiện thân vô hình hoặc hữu hình trong sự cảm ứng của Phật Bồ Tát, chính họ cũng sợ người ta cười là truyện thần thoại, điều đó quả thực là một sai lầm vô cùng to lớn!
Khi chúng ta lần đọc tạng kinh, nhất là đọc đến Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh, Bách Dụ Kinh, Kinh Luật Dị Tướng, Lục Ðộ Tập Kinh, v.v… trong đó chẳng đã ghi lại những sự việc rất kỳ lạ đó sao? Nếu coi tất cả những truyện đó là thần thoại, thì quả thực, tôi không thể hiểu nổi chúng ta dựa trên cơ sở nào mà xây dựng lòng tin đối với tôn giáo và sự ngưỡng mộ lý tưởng tôn giáo.”

Và Ngài sách tấn:

“Thời đại ngày nay, quả thực là hỗn loạn rối ren đến cực điểm, ma quỷ múa may, tà thuyết lộng hành, nhân tâm không chốn quy y, tinh thần chẳng nơi ký thác, biển khổ mênh mông, rồi con người sẽ đi về đâu? Thiên tai nhân họa, làm sao giải thoát cho được? Ðó là một vấn đề đang nung nấu trăn trở trong lòng mỗi người. Có cách nào giải quyết vấn đề này chăng? Duy nhất chỉ có một câu trả lời, đó là hãy tin vào Quán Thế Âm Bồ Tát! Hãy đem tất cả bản thân mình quy y, gởi gắm vào Quán Thế Âm Bồ Tát, hiểu rõ Quán Thế Âm Bồ Tát là sự thị hiện của Ðại Từ, Ðại Bi, Ðại Trí Tuệ, Ðại Dõng Mãnh, dù trước mắt chúng ta là những gì đau khổ, tai họa, phiền não, chỉ cần chúng ta nhất tâm bất nhị, thực lòng tín ngưỡng, xưng niệm, lễ bái, nếu chúng ta có được lòng từ bi, trí tuệ và dõng mãnh của Quán Thế Âm Bồ Tát, thì Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ giải cứu chúng ta”. (3)

Trong tâm thành và niềm tin tưởng như thế, tôi có duyên may được đọc tác phẩm “Bồ Tát Quán Thế Âm”của GS Tiến sĩ CHUN-FANG YU, đương kim Khoa trưởng Phân khoa Tôn giáo Ðại Học TB New Jersey. Tiến sĩ Yu lúc còn bé 4, 5 tuổi đã thường được nghe bà nội tuyên xưng về Bồ Tát, lớn lên niềm tin tưởng của Bà vẫn không hề thoái chuyển và đó là động cơ chính thúc đẩy Bà tiến hành công trình nghiên cứu này, một công trình nghiên cứu có thể nói là đầy đủ nhất về Bồ Tát Quán Thế Âm từ trước đến nay mà qua đó, chúng ta sẽ hiểu được lý do tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm đã được kính ngưỡng trong các quốc gia Phật giáo -cả Nguyên Thủy lẫn Ðại Thừa- và đặc biệt tại Trung Quốc, quê hương của tác giả, tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm đã phổ cập trong dân gian từ bao đời nay, thể hiện qua câu ngạn ngữ: “Người người niệm Di Ðà, nhà nhà thờ Quán Âm”.


Cũng trong tâm thành và niềm tin tưởng như thế, tôi xin phép tác giả được chuyển tác phẩm này sang Việt ngữ. Hy vọng là sẽ có thêm nhiều người có dịp được gieo duyên lành cùng Bồ Tát. Cầu mong chư Tôn Ðức, quý vị thức giả bổ khuyết cho những chỗ sai lầm trong khi chuyển ngữ.

NAM MÔ ÐẠI TỪ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT.

Tâm Hà Lê Công Ða

(1) : “The Book of Miracles”, Kenneth L. Woodward, Dimon & Scuster xb, 2000. p. 320-321.
(2) : Một loại bánh ngọt làm bằng bột gạo khô và đường phổ biến ở miền Trung, nhất là vào dịp Tết.
(3) : Phổ Ðà Sơn Dị Truyện. Pháp sư Chử Vân. NVP dịch. Sách ấn tống, xb1999. p. 6-7.



CHƯƠNG I
Phần Dẫn Nhập

Quán là xem xét lắng nghe, Âm là âm thanh, tiếng kêu. Quán Âm hay Quán Thế Âm (Kuan-Yin) là danh hiệu bằng tiếng Trung Hoa của Bồ Tát Avalokitesvara, vị Bồ Tát tiêu biểu của phẩm tính Ðại Từ Bi mà công năng và hạnh nguyện chính là chuyên tâm xem xét, lắng nghe những tiếng kêu thương của cuộc đời để tìm đến giúp đỡ, cứu độ.


Tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm là một tín ngưỡng rất phổ thông tại các quốc gia Phật giáo Á Châu, đặc biệt là Trung Quốc được thể hiện qua câu ngạn ngữ: «Người người niệm Di Ðà, nhà nhà thờ Quán Âm». Các quốc gia trong vùng Tây Á do ảnh hưởng của Trung Quốc, cũng đã gọi Ngài bằng danh hiệu này: Nhật gọi là Kannon hay Kanzeon, Triều Tiên là Kwanse’um còn Việt Nam như chúng ta đều biết, danh hiệu của vị Bồ Tát chuyên cứu khổ cứu nạn này là Quán Thế Âm. Thế nhưng không phải chỉ tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông trong vùng Tây Á là có khuynh hướng tôn thờ Ngài mà nói chung là cả toàn vùng Á Châu. Thậm chí người ta còn xem Ngài như là một vị nữ thần linh hiển mà qua những hình tượng được nghệ nhân sáng tạo trong các thế kỷ 17 và 18 hiện được trưng bày trong các bảo tàng viện, Ngài được trình bày dưới dạng nữ thân. Tuy nhiên tại Ấn Ðộ, Tây Tạng, Tích Lan và Ðông Nam Á, Bồ Tát Avalokitesvara đã không hề được thờ phượng như là một vị nữ thần.

Ngay cả tại Trung Quốc qua những tranh vẽ tìm thấy tại Ðôn Hoàng sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ mười, thoạt tiên Ngài cũng được trình bày dưới dạng nam thân với hàng ria mép (1). Như vậy do đâu lại có sự hoá thân từ một nam thân Bồ Tát Avalokitesvara trở thành nữ thân Quán Thế Âm Bồ Tát? Ðây là một hiện tượng đặc thù Trung Hoa đã gây hứng khởi cho nhiều nhà học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu.

Bồ Tát Quán Thế Âm ngày nay đã được biết đến tại Hoa Kỳ và lục địa Âu Châu như là kết quả của một sự kết hợp bởi chủ nghĩa nữ quyền cùng với làn sóng di dân của các tăng sĩ Phật giáo vào các nước phương Tây. Mặc dù Phật giáo đã được biết đến tại Hoa Kỳ kể từ thế kỷ thứ 19, nhưng có thể nói rằng những biến cố chính trị tại Á Châu sau thời Thế chiến thứ hai đã góp phần lớn lao trong việc du nhập tôn giáo này vào các nước phương Tây. Khi Trung Hoa rơi vào tay Cộng sản năm 1949, một số lớn các tăng sĩ Phật giáo đã đào thoát qua Hồng Kông, Ðài Loan, Tân Gia Ba và Hoa Kỳ. Cũng tương tự như vậy, khi Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng, các vị Lạt Ma đã trốn thoát qua Ấn Ðộ và một số cũng đã đến được Hoa Kỳ. Rồi đến khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc vào năm 1975, một đợt di dân mới từ Việt Nam và các quốc gia Ðông Nam Á trong thập niên 1980 đã giới thiệu đến người bản địa nhiều sắc thái khác nhau của Phật giáo cũng như một số các vị Bồ Tát khác mà họ thờ phượng. Trong tất cả các truyền thống Phật giáo này, Bồ Tát Quán Thế Âm hầu như đều được kính ngưỡng. Chưa kể là trong những năm gần đây, các nhà học giả Hoa Kỳ thuộc khuynh hướng nữ quyền đã bắt đầu thích thú đi sâu vào việc khám phá một truyền thống nữ thần - của Tây phương trước thời kỳ hưng khởi của giáo hệ Cơ Ðốc hoặc là những linh thần không thuộc truyền thống tôn giáo phương Tây (2), trong trường hợp này Bồ Tát Quán Âm cũng như Tara, Kali, và Durga là những biểu tượng được đặc biệt chiếu cố.


Mặc dù đây có thể là điểm nổi bật hơn cả tuy nhiên không phải là nét đặc thù duy nhất khiến cho Bồ Tát Quán Thế Âm được đặc biệt lưu tâm. Những đặc tính khác của Ngài cũng có sức thu hút tương tự. Chẳng hạn như, tại sao tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Avalokitesvara đã trở nên phổ quát trong Phật giáo thế giới, kể cả các quốc gia chịu ảnh hưởng truyền thống Nguyên thủy, Ðại thừa hay Mật Tông? Những vị Bồ Tát mang hạnh nguyện vào đời cứu độ tất cả mọi loài chúng sanh. Ðể thực hiện hạnh nguyện cao cả đó, các Ngài đã chọn con đường hoàn thành Phật đạo thay vì đi tìm kiếm niết bàn riêng rẽ cho cá nhân mình như các vị A la hán. Bồ Tát, như thế, đã trở thành những mục tiêu mới cho các người theo tông phái Ðại thừa và Mật tông; trong khi đó truyền thống Nguyên thủy chỉ tôn thờ Ðức Phật Thích Ca, còn danh xưng « Bồ Tát » chỉ nhằm liên hệ đến những tiền thân của Ðức Phật trước khi Ngài giác ngộ đạt thành chánh quả. Thêm vào đó, truyền thống Nguyên thủy chỉ tin tưởng vào một số lượng Bồ Tát rất giới hạn, cụ thể như tiền thân của Ðức Phật Thích Ca, và vị Phật tương lai, Bồ Tát Di Lặc; còn khuynh hướng Ðại thừa thì tin tưởng rất nhiều vị Bồ Tát khác nhau, đồng thời qua đó kêu gọi Phật tử phát khởi Bồ Ðề tâm (tâm thức thúc đẩy con người thực hành Bồ tát đạo nhằm đạt thành Phật quả) là một trong những khác biệt có ý nghĩa nhất giữa hai truyền thống Phật giáo.

Có hai lý do để cho ta có thể giải thích tại sao tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm lại bám rễ đâm chồi một cách thành công tại nhiều quốc gia Á Châu như thế. Trước tiên, kế cận Ðức Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm là một trong số những vị Bồ tát hiếm hoi được quần chúng tôn thờ một cách liên tục và phổ biến tại Ấn Ðộ. Kể từ những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên cho đến khi Phật giáo biến mất khỏi xứ này vào thế kỷ thứ 12, Bồ Tát Avalokitesvara đã dành trọn sự tôn thờ kính ngưỡng của những người Phật tử thuần thành. Những kinh sách, những hình tượng nghệ thuật mới về Ngài đã luôn được sáng tạo theo với thời gian. Bởi vì Ấn Ðộ là quê hương của Phật giáo, nếu Ngài được đặc biệt tôn thờ tại đây thì điều tất nhiên, hình ảnh của Ngài cũng dễ dàng được đón chào và chấp nhận tại các quốc gia Phật giáo khác.

Lý do thứ hai khiến việc tôn thờ Bồ tát phát triển mạnh mẽ bên ngoài lãnh thổ Ấn Ðộ liên hệ đến bản chất cơ bản của Phật giáo như là một tôn giáo. Cũng giống như việc Phật giáo đã cộng tồn một cách hài hoà với Bà La Môn giáo và Ấn Ðộ giáo tại Ấn Ðộ, Phật giáo đã không tìm cách để thay thế các tôn giáo bản địa khi Phật giáo được du nhập vào những quốc gia này. Ðược gọi là Lokesvara (Thế Giới Vương: Vua của Thế Gian ) tại Cam Bốt, Java và Việt Nam (Chàm); Lokanatha (Thế Tôn, Người Bảo Hộ Thế Giới) tại Miến Ðiện; Natha Deviyo tại Tích Lan; và Chenresi (Kẻ Nhìn Bằng Cặp Mắt Sáng Suốt) tại Tây Tạng, Bồ Tát Avalokitesvara có thể được gọi bằng những danh hiệu khác nhau, nhưng tựu trung toàn vùng văn hóa Phật giáo khu vực Nam, Ðông Nam và Tây Á người ta đều biết đến Bồ Tát và thờ phượng Ngài.

Mặc dù Bồ Tát là hiện thân của lòng từ, tuy nhiên tùy thuộc vào khung cảnh văn hoá của mỗi quốc gia, hình ảnh này đã được thể hiện một cách khác nhau. Trung Quốc và những quốc gia chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi nền văn hoá này như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đã xem Bồ Tát Quán Thế Âm như là một hình ảnh biểu trưng của trí tuệ cho những thiền gia và đồng thời cũng là vị « Phật Bà Cứu Khổ Cứu Nạn », đặc biệt rất quan tâm ưu ái đến giới phụ nữ; trong khi đó tại Tích Lan, Tây Tạng và Ðông Nam Á, hình ảnh Bồ Tát gắn liền cùng với các vương triều. (Theo Boisselier 1965, 1970; Chutiwongs 1984; Holt 1991; Kapstein 1992; Monnika 1996).

Sự thần thánh hóa những vị vua, sự tạo dựng nên những hình ảnh đầy tính cách quyền phép về các vị thần linh, cũng như niềm tin tưởng của vương quyền vào quyền năng của các ảnh tượng là những tư tưởng một thời rất thịnh hành trong vùng lục địa và quần đảo Ðông Nam Á. Học giả Stanley J. Tambiah (1982: 5-19) đã nói về tín ngưỡng này cũng như sự thờ phượng các ảnh tượng của cả Phật giáo lẫn Ấn Ðộ giáo tại vương quốc Khmer của Cam Bốt, vương quốc Chiêm Thành của Việt Nam và vương quốc Nam Dương trước đây. Cụ thể như vua Bhavavarman II (trị vì khoảng giữa thế kỷ thứ 7) của thời kỳ tiền- Khmer, Cam Bốt, đã sùng bái Lokesvara hay Chúa Tể của Thế Giới như là vị thần bản mệnh của mình và cho tạo dựng nên những tôn tượng của Ngài để thờ phượng. Những vị vua của triều đại Indrapura vương quốc Chiêm Thành (875-920 C.E.) là những tín đồ thuần thành của Bồ Tát Avalokitesvara. Vua Indrapura II đã cho xây dựng lên một ngôi đền tráng lệ để thờ phượng Ngài vào năm 875 và đặt tên cho ngôi đền là Laksmindralokesvara, bằng cách ghép tên của mình cùng với danh hiệu của Bồ tát Avalokitesvara (Howard 1996a :233).

Tất cả các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á ngoại trừ Miến Ðiện đều cùng chia xẻ chung một ý hệ về sự sùng bái « thiên vương » (devaraja), mà qua đó họ đã đồng hoá vị vua đang cai trị với hình ảnh của một vị thần linh Ấn Ðộ giáo hay Phật giáo. Một thí dụ cụ thể là ngôi đền nổi tiếng Ðế Thiên Ðế Thích (Angkor Wat), một ngôi đền bằng đá lớn nhất thế giới được xây dựng trong khoảng thế kỷ thứ 12 và 13 tại Cam Bốt. Ngôi đền Ðế Thiên Ðế Thích được xem như là nơi trú xứ của các thiên thần kể cả các vị thiên vương. Ðây là nơi mà các vị thần linh Phật giáo lẫn các vị thiên vương được tôn thờ trộn lẫn xen kẻ cùng nhau, nổi bật lên trên tất cả là vị vua của các tầng trời, Ðế Thích. Người ta tin rằng những tín đồ thờ phượng Lokesvara sẽ được sinh về nơi Thiên giới dưới sự cai quản của vua Jayavarman VII (1181-1218), người đã xây dựng nên ngôi đền Bayon tại trung tâm vương thành Angkor Thom. Vua là người đưa Phật giáo trở thành quốc giáo.

Tại Bayon còn lưu lại những ngôi tháp lớn chứa hình tượng những khuôn mặt vĩ đại mà người ta tin rằng đó là những hình ảnh của vị vua được thần thánh hoá mang nhân dạng Lokesvara. Không phải chỉ riêng nhà vua được đồng hoá với hình ảnh của Bồ tát mà ngay cả Hoàng hậu, Jayavaradevi, cũng có thể đã được ghi dấu lại sau khi băng hà bằng một bức tượng của Tara, vị thị giả của Bồ Tát (Jessup và Zephir 1997: 304; Bunnag 1984:161; Zwalf 1985:176).

Cũng tương tự như thế, Bồ Tát Avalokitesvara đã được tôn thờ như là một vị thần bảo hộ vương quốc của các vương triều Tích Lan kể từ thế kỷ thứ 15 và các vị vua của đảo quốc Java trong thời kỳ tiền Hồi giáo, thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ thứ 15. Tại Tây Tạng, Bồ tát Avalokitesvara cũng được tôn thờ như là vị thần bảo hộ đất nước, mà một vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Tây Tạng, Srong-bstan sgam-po (649) và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma được quần chúng Phật tử tin tưởng là những hóa thân của Bồ Tát Avalokitesvara. Người Pai sinh sống tại vùng Vân Nam, khai sinh ra các vương quốc Nam Châu và Ðại Lý dưới các triều đại Ðường (618-906), Tống (960-1279) cũng chia xẻ một niềm tin tưởng như thế. Ðược biết đến dưới danh hiệu A-ts’o-yeh Quán Âm, Bồ tát đã được thờ phượng như là vị khai quốc và đồng thời cũng là vị thần bảo hộ của các vương triều này (Yu 1991; Howard 1996a).

Người Pai đã chia xẻ vương hiệu của Bồ tát Avalokitesvara với các quốc gia lân bang mà họ giao dịch mật thiết. Sau này trong các kinh sách Phật giáo Ðại thừa và Mật Tông, Bồ Tát Avalokitesvara đã được trình bày như là một khuôn mặt bao trùm lên tất cả, là kẻ sáng tạo và cứu vớt muôn loài, mọi thế giới. Vương hiệu mang hình tượng Ngài đã xuất hiện một cách tự nhiên trong khung cảnh mà trước đó cũng như đương thời không có một hình ảnh cao cả nào có thể so sánh được.

Một cách rõ ràng là trước đó Bồ Tát Avalokitesvara đã chưa hề trở thành một vị nữ thần. Thế thì tại sao tại Trung Quốc Bồ Tát đã không gắn liền với các vương triều như tại các quốc gia Phật giáo khác? Phải chăng một điều khá dễ hiểu là vì ý hệ quân chủ và biểu tượng vương quyền của Trung Quốc đã được thiết định trước khi Phật giáo du nhập vào quốc gia này thế nên đã không chấp nhận một hình ảnh nào khác? Vị Hoàng Ðế Trung Quốc chịu Mệnh Trời mà trị dân. Ý niệm này đã được hình thành từ thời nhà Chu (1122 -256 trước Công Nguyên –B.C.E.). Vua là Thiên Tử và là một nhân tố quan trọng trong Tam Tài: Thiên - Ðịa – Nhân. Tất cả những ý niệm này đã được tinh lọc lại thêm một lần nữa dưới triều đại nhà Hán (206 B.C.E – 220 Công Nguyên – C. E.). Ý thức hệ Khổng Giáo hầu như chi phối trọn vẹn các thể chế vuơng quyền tại Trung Quốc trãi qua các triều đại. Thản hoặc thỉnh thoảng trong lịch sử có một vài vị quân vương đã có ý định dùng tư tưởng Phật giáo làm chỗ tựa cho vương quyền, nhưng những cố gắng này tỏ ra rất hạn chế và không kéo dài được bao lâu.

Chẳng hạn như Hoàng Ðế Bắc Ngụy, Văn Thành Ðế (453-465) đã cho xây năm hang động tạc tượng Phật tại Vân Cương mà mỗi vị Phật tiêu biểu cho một vị Hoàng Ðế tiên triều, chứng tỏ là ông đã có ý muốn sáng tạo ra một chủ thuyết thần quyền trên căn bản Phật giáo. Nữ Hoàng Ðế Vũ Tắc Thiên (684 – 704) cũng đã tự xưng mình là Di Lặc giáng trần và Hoàng Ðế Càn Long (1736- 1765) thì coi mình là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt của Từ Hi Hoàng Thái Hậu cuối thế kỷ thứ 19 đã ăn bận y phục mô tả như là giống với hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm để tạo sự chú ý trong các buổi hội hè giải trí, lịch sử Trung Quốc không cho thấy có một vị quân vương nào tự xem mình là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Ý tưởng về một vị Bồ Tát - với lòng từ bi vô lượng và công năng cứu độ luôn luôn đáp ứng mọi tiếng kêu than để giúp đỡ mà không hề phân biệt đẳng cấp, phái tính, thậm chí tư cách đạo đức- là một ý tưởng tương đối mới mẻ đối với người Trung Quốc. Ðây là một vị linh thần mới, chẳng những có thể giúp cho con người đạt đến giác ngộ, mà còn cứu vớt họ ra khỏi những nghịch cảnh khổ đau của đời thường, giúp cho họ được sống như ý, « chết an lành » và lại còn đảm bảo cho cả kiếp sau. Ðã không có một ông Trời, một nữ thần nào trước đó tại Trung Quốc có khả năng tuyệt vời như Bồ Tát Quán Thế Âm, thản hoặc nếu đã có những vị nữ thần như thế, không có hình ảnh nào khả dĩ tồn tại lâu dài có khả năng thu hút tín đồ trước khi Quán Âm xuất hiện. Như thế, đã có một khoảng trống tín ngưỡng tại Trung Quốc mà hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện đã có thể lấp đầy một cách dễ dàng và đúng lúc.

Trong khi nghiên cứu những lý do tại sao người Trung Quốc dưới triều đại nhà Hán đã mở vòng tay đón nhận Phật giáo một cách dễ dàng nhanh chóng, học giả Eric Zurcher đã đưa ra nhận định rằng: « Thay vì vay mượn ngôn ngữ từ đạo Khỗng và đạo Lão (hoặc nếu có cũng rất hiếm hoi), điểm nổi bật đặc sắc nhất của Phật giáo thời Hán là sự mới mẻ, sáng tạo của nó. Quan điểm cho rằng Phật giáo được chấp nhận bởi vì, trên một phương diện nào đó, nó phù hợp với truyền thống cổ truyền của người bản địa là một quan điểm hoàn toàn sai lầm khó có thể chấp nhận được: Phật giáo có khả năng thu hút không phải chỉ vì nó là một cái gì gần gũi thân quen, mà bởi vì trên căn bản nó là một cái gì đó mới lạ » (1991:291). Ðiều mà ông ta cho rằng Phật giáo thời Hán là «sự tiếp thu có chọn lựa từ bên ngoài» cũng có thể áp dụng được vào trường hợp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Người Trung Quốc cảm thấy bị thu hút bởi Bồ Tát không phải vì bà/hay ông ta mang một hình ảnh tương tự với bất cứ vị thần linh nào của người bản địa mà chắc chắn là vì không có vị thần linh nào của người Trung Quốc lại giống bà/hay ông ta.

Tuy nhiên một khi hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm đã được chấp nhận vào nguồn mạch chính thống, thì nói chung, cũng giống như Phật giáo, Bồ Tát đã được nhận thức và quan niệm theo kiểu cách của nền văn hoá Trung Quốc. Hiện tượng chuyển phái -từ nam sang nữ- của Bồ Tát Quán Thế Âm trong Phật giáo Trung Quốc có thể được xem như là một trường hợp đáng nghiên cứu về sự chuyển hoá của Phật giáo Trung Quốc. Một nền văn hóa có thể bị thu hút bởi một nền văn hoá ngoại lai, tuy nhiên trong quá trình tiếp thu nó không ngừng biến đổi yếu tố lạ lẫm trở thành quen thuộc. Ðây là điều mà Edward Said đã từng nhận định về mối tương quan ảnh hưởng giữa hai nền văn hóa: «Quả là một điều hoàn toàn tự nhiên khi tâm lý con người có khuynh hướng chống lại sự xâm lấn của những cái gì xa lạ chưa thuần hoá, cũng thế những nền văn hóa thường có khuynh hướng áp đặt sự chuyển hóa lên những nền văn hóa khác, không hề chấp nhận chúng trong tình trạng nguyên dạng mà sau khi đã biến đổi chúng theo lợi ích của kẻ tiếp thu » (1978 :67).

Phật giáo như thế đã cung ứng những kiểu mẫu và biểu tượng cần thiết cho những mảnh đất đón nhận nó. Ðể có thể thích ứng với những tôn giáo và truyền thống văn hóa khác biệt tại các quốc gia Á Châu, một số hình thái Phật giáo mới đã được khai triển, hình thành. Trường hợp Phật giáo Nhật Bản là một thí dụ điễn hình. Từ những tông phái Thiên Thai, Tịnh Ðộ, Hoa Nghiêm, Thiền,... của Trung Quốc bỗng chốc đã biến thành những Tendai, Jodo, Kegon, hay Zen của Phật giáo Nhật Bản. Mặc dù người Trung quốc đã đặt căn bản những giáo lý chính yếu và cách thức hành trì tu tập của họ trên một vài kinh điển dịch từ Phạn ngữ, những kiểu cách và đặc điểm nổi bật vẫn phản ảnh lề lối suy nghĩ cũng như những giá trị văn hoá Trung Hoa. Những học giả Phật giáo Trung quốc đã gọi tiến trình này là «Hán hoá» (3). Tuy nhiên nếu ta dùng những danh từ như «chuyển hoá» hay «địa phương hoá» để mô tả hiện tượng này thì có lẽ thích đáng hơn. Và điều này đặc biệt phù hợp với trường hợp của Bồ Tát Avalokitesvara, vị Bồ tát đã trãi qua bao nhiêu lần chuyển hoá, mang những danh hiệu khác nhau, được trình bày khác biệt trong nghệ thuật, cũng như làm nảy sinh ra những cách thức hành trì và nghi lễ khác nhau tại những quốc gia Phật giáo Á Châu chịu ảnh hưởng Trung Quốc.

Qua quá trình, Bồ Tát đã được địa phương hoá để phục vụ cho lợi ích và nhu cầu của vùng đất mới tiếp nhận mình. Thuật ngữ «địa phương hóa» được dùng ở đây mang cùng một ý nghĩa mà những học giả khác đã dùng để mô tả tiến trình mà Phật giáo đã được du nhập vào những truyền thống văn hoá địa phương khác biệt với Trung Quốc (4). Trong khi Avalokitesvara là một vị đại Bồ tát có tầm vóc phổ quát nhưng đồng thời Ngài cũng mang những nét đặc thù của bản sắc địa phương. Cũng tương tự như thế, một khi Quán Thế Âm được thờ phượng tại Trung Quốc, hình ảnh của Ngài đã hoà nhập vào mạch sống của từng địa phương làm phát sinh ra những giáo phái tôn thờ Ngài ngay tại những nơi đó. Từ những tiếp thu có chọn lựa bởi những truyền thống văn hoá của những vùng đất đón nhận Ngài, kết quả là chúng ta có hình ảnh của vị Bồ tát đã được địa phương hoá.

Một điều có lẽ cũng cần được giải thích ở đây là tại sao trong chương này cả hai đại danh từ giống đực và giống cái (ông/bà) đã được dùng khi đề cập đến Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu như chúng ta tiếp tục đọc qua những chương kế tiếp thì sẽ thấy rằng, qua những tranh tượng nghệ thuật còn lưu lại, từ đời Ðường (618-907) trở về trước, Bồ Tát Quán Thế Âm đã được trình bày dưới dạng nam thân. Tuy nhiên bắt đầu từ thời Tống sơ (960-1279) khoảng thế kỷ thứ 11, một số tín đồ đã nhìn Ngài như là một vị nữ thần và hình ảnh về một vị Phật bà Quán Âm đã được các nghệ nhân Trung Hoa sáng tạo. Sự chuyển hoá thành dạng nữ thân của Bồ Tát Quán Thế Âm được xem như hoàn tất dưới thời đại nhà Nguyên (1206-1368). Từ thời đại nhà Minh trở đi, nghĩa là vào khoảng thế kỷ thứ 15, Bồ Tát Quán Thế Âm hoàn toàn xuất hiện dưới dạng nữ thân. Tuy nhiên cho dù hình tượng nữ nhân của Bồ Tát Quán Thế Âm có tràn ngập trong văn chương và nghệ thuật đến mức nào đi nữa, giới tăng sĩ Phật giáo thủ cựu vẫn từ chối không nhìn nhận Ngài dưới dạng nữ thân. Ngay cả bây giờ những hình ảnh của Bồ tát Quán Thế Âm được thờ phượng tại các tu viện Phật giáo vẫn tiếp tục được tạo dựng theo khuôn mẫu hình tượng của đời Ðường. Người ta không tìm thấy hình ảnh của một vị Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát hay Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát tại đây. Trong các tự viện, hình tượng của Ngài vẫn tiếp tục được trình bày dưới dạng nam thân hay ít ra là không phái tính. Một số nghệ nhân của triều đại quân chủ Trung Quốc cuối cùng vẫn còn sáng tác những bức tranh vẽ về Bồ Tát với hàng ria mép như hình tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm được tìm thấy ở những hang động tại Ðôn Hoàng trước đây. Bởi lý do này việc gồm cả danh xưng ông/bà có vẻ như là cách thế hay nhất khi đề cập đến Bồ Tát Quán Thế Âm, khi mà ngay cả sau khi Ngài đã hoàn toàn được nữ hóa, một số người vẫn xem Ngài dưới dạng nam thân.

Nhằm mục đích cung cấp những so sánh đối chiếu và nền tảng lý thuyết cho những giáo phái tôn thờ Bồ Tát tại Trung Quốc, trong phần dẫn nhập này chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu về những gì liên quan đến Bồ Tát Avalokistevara tại Ấn Ðộ mà hiện nay còn được biết, tiếp theo là một vài nét phác họa về lịch sử của Phật giáo tại Trung Quốc. Sau đó chúng tôi sẽ giải thích về phương pháp luận đã được dùng trong cuộc nghiên cứu và kết thúc bằng cách tóm tắt ngắn gọn về nội dung của các chương mục trong cuốn sách này.


BỒ TÁT AVALOKITESVARA TẠI ẤN ÐỘ

Tất cả Phật tử trên thế giới nói chung đều quy y và tôn kính Tam Bảo -Phật, Pháp, Tăng; tuy nhiên không có nghĩa là họ đều hiểu Tam Bảo theo một cách thế giống nhau. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của truyền thống Ðại thừa là kêu gọi mọi người phát khởi Bồ Ðề Tâm, và tìm cầu giác ngộ không phải cho riêng cá nhân mình mà cho cả muôn loài chúng sanh. Nguồn cảm hứng mới mẻ này được đánh giá cao hơn là lý tưởng A la hán trước đây, mà mục tiêu chỉ nhằm đến niết bàn sau khi vươn tới giác ngộ. Quá trình tu tập của một vị Bồ Tát là cả một chuổi hành trình lâu dài và gian khó. Sau khi đã phát hạnh nguyện, mỗi người tự rèn luyện mình theo con đường Bồ tát đạo bằng cách thực hành các giới hạnh ba la mật (bắt đầu bằng hạnh bố thí), tinh tấn trong thiền định, cho đến khi thấu suốt được trí tuệ của tánh không (nghĩa là nhận thức thấu đáo được rằng vạn pháp đều không có tự tánh). Bởi vì vị Bồ Tát phát nguyện sẽ cứu độ muôn loài chúng sanh, họ chọn lựa ở lại cõi đời này và luôn luôn tạo điều kiện dễ dàng cho con người gần gũi. Tuy nhiên chỉ có những vị Bồ Tát đã hoàn thành sự nghiệp tu chứng mới trở thành những đối tượng để Phật tử tôn thờ. Avalokitesvara là một trong những vị Bồ Tát của cả cõi Trời hay cả vũ trụ mà Phật giáo Ðại thừa gọi là Ma Ha Tát (Snell Grove 1986 ; Robinson and Johnson 1997; Bashan 1981) (5). Cũng giống như Bồ Tát Di Lặc và Văn Thù Sư Lợi, ngài đã chứng quả thập địa trên con đường thực hành Bồ tát đạo. Ðược xem như là biểu hiện trọn vẹn của lòng đại từ bi,

Ngài đã trở thành một trong những vị Bồ tát phổ thông nhất tại Ấn Ðộ. Phát triển song hành bên cạnh một tôn giáo đang được sùng bái, Ấn Ðộ giáo, và cạnh tranh với nó, những kinh điển Ðại Thừa như Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh, được kết tập trong khoảng từ thế kỷ thứ Tư đến thế kỷ thứ Bảy (Winternitz 1927, 2 :306-7), đã dùng những biểu tượng vũ trụ phảng phất hình ảnh thần Siva và Visnu của Ấn Ðộ giáo để mô tả Avalokitesvara. Bồ Tát đã được tôn thờ như một vị Trời tối cao với đặc tính riêng biệt của mình.

Những sử gia về mỹ thuật và học giả Phật giáo đã không đồng ý với nhau về thời điểm chính xác lúc nào thì tín ngưỡng tôn thờ Bồ tát Avalokitesvara xuất hiện tại Ấn Ðộ. Chẳng hạn như cả Marie Therese de Maffman (1948) lẫn Gregory Schopen (1987) đều cho rằng tín ngưỡng này đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ năm. Trong khi đó Nandana Chutiwongs (1984) khẳng định rằng căn cứ trên những dữ kiện về văn học và ảnh tượng còn lưu lại cho thấy là Bồ tát Avalokitesvara đã xuất hiện tại vùng Bắc và Ðông Bắc Ấn sớm nhất là vào khoảng thế kỷ thứ hai và đến thế kỷ thứ năm thì việc tôn thờ Bồ Tát đã phổ biến rộng rãi tại đây (6). Sự bất khả xác định về thời điểm xuất hiện của tín ngưỡng tôn thờ Bồ tát Avalokitesvara tại Ấn Ðộ phần nào phản ảnh sự tranh luận vẫn còn đang tiếp diễn chung quanh vấn đề nguồn gốc và thời kỳ tiên khởi của lịch sử Phật giáo Ðại thừa. Không có một chứng cớ rõ ràng cho thấy những kinh sách nào sớm nhất đã đề cập đến sự xuất hiện của Bồ Tát. Tuy nhiên theo truyền thống, người ta đồng ý với nhau rằng Ngài được đề cập đến lần đầu tiên trong các kinh Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (còn được gọi là Lạc Hữu Trang Nghiêm Kinh, Sukhavatuvyuha Sutra), Ðại Sự (Mahavastu), Thành Cụ Quang Minh Ðịnh Ý Kinh (Cheng-chu kuang-ming ting-i ching), Druma-kinnararaja pariprccha Sutra, Diệu Pháp Liên Hoa, và Tâm Kinh. Tất cả những kinh này, tuy vẫn còn là đề tài tranh luận về thời điểm xuất hiện, nhưng người ta tin rằng đã được viết vào khoảng năm 300 trước Công nguyên. (7)

Một yếu tố đã khiến cho một số các nhà học giả cho rằng tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Avalokitesvara không thể nào xuất hiện sớm hơn trước thế kỷ thứ 5 là do sự khiếm khuyết những chuyện tích trong dân gian của tín đồ nói về Ngài trong giai đoạn trước đó. Trên quan điểm này, học giả Holt đưa ra nhận định:

Nếu so sánh với số lượng khổng lồ về ảnh tượng được tìm thấy trong suốt quá trình lịch sử Phật giáo Á Châu cũng như bao nhiêu phương cách mà vị Bồ Tát này được chấp nhận như là một nguồn cảm hứng tâm linh lớn lao và quan trọng trong những nền văn hoá Á Châu này, người ta ngạc nhiên khi thấy rằng số lượng những kinh sách liên quan đến Ngài rất là hạn chế. Rất nhiều những bản kinh văn ngắn bằng Phạn ngữ (được tái tạo lại từ Tạng ngữ) đều là những bài chú (đà la ni) không ngoài mục đích cầu thỉnh thần lực của Bồ Tát để sám hối tẩy trừ « tội lỗi » hoặc chữa trị bệnh hoạn như là sự ban bố những ân điển, phép lành của Ngài. Tuy nhiên những kinh văn này chứa đựng ít nhiều « nhân cách » huyền nhiệm hoặc « màu sắc giáo phái » của Bồ Tát. Sự kiện có quá nhiều hình tượng Bồ Tát đã được sáng tạo như thế so sánh với số lượng kinh văn liên hệ đến « cá tánh » và « lịch sử » của Ngài rất hiếm hoi có thể cho thấy một điều là trong khi Bồ Tát Avalokitesvara được biết là đã thu hút một số lượng những người thuần thành trong các tu viện Phật giáo Ðại thừa, đặc biệt xem Ngài như là một đối tượng thiền quán, tính cách phổ thông đại chúng của tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát trong hàng cư sĩ Phật tử chỉ hình thành vào giai đoạn sau khi những kinh sách của truyền thống Ðại thừa đã được thiết định » (1991 :30).

Chopen đã dùng dữ kiện từ những bản chữ khắc còn lưu lại của cộng đồng Phật giáo Mathura vùng Bắc Ấn trong thế kỷ thứ 5 để chứng minh rằng sự xuất hiện của Bồ Tát Avalokitesvara như là một biểu tượng giáo phái đã có liên hệ với « số lượng sút giảm rõ rệt của hàng tại gia cư sĩ -đặc biệt là phụ nữ- tương ứng với số lượng gia tăng của hàng tăng sĩ do sự xuất hiện đột ngột của một nhóm tỳ kheo riêng biệt tự gọi là Sakyabhiksus, cùng với sự xuất hiện của một hình thái cúng dường khá đặc biệt » (1987 :116). Ðiều này có thể cho thấy là Bồ Tát Avalokitesvara thoạt tiên chỉ được thờ phượng bởi một bộ phái riêng biệt trong hàng ngũ Tăng già về sau mới lan rộng ra các tu viện Phật giáo và đại chúng.

Tuy nhiên do những ảnh tượng sơ khởi của Bồ Tát không kèm theo văn tự chú thích cũng như chúng ta không có được những nguồn sử liệu đương thời mô tả cách thức hành trì tu tập có liên hệ với việc thờ phượng Bồ Tát Avalokitesvara, quả là một điều khá võ đoán khi đi đến kết luận rằng Ngài đã không là một đối tượng của sự tôn thờ trước thế kỷ thứ năm trong những khu vực khác hơn là Mathura. Bằng chứng là vào năm 1961 người ta tìm thấy ở Taxila một bức tranh Tam Thánh chưa hoàn chỉnh của Ðức Phật A Di Ðà với Bồ Tát Avalokitesvara ở bên trái. Văn tự dùng trong bức tranh này thuộc ngữ hệ Kharosthi. Căn cứ vào chứng liệu ngôn ngữ, học giả John Brough (1982:70) đã xác định thời điểm bức tranh xuất hiện là vào khoảng thế kỷ thứ hai C.E. và cho rằng nhân vật chưa hoàn tất trong bức tranh Tam Thánh này không ai khác hơn là Bồ Tát Ðại Thế Chí. Chutiwongs cũng đưa ra những chứng liệu khảo cổ để mạnh mẽ xác quyết rằng những hình tượng của Bồ Tát đã được sáng tạo đầu tiên tại Kàn Ðà La và Mathura trong thế kỷ thứ hai, ngay sau khi truyền thống Ðại Thừa phát khởi cùng với sự mở đầu của việc sáng tạo những ảnh tượng Phật giáo.

Mặc dù vấn đề xác định thời điểm Bồ Tát Avalokitesvara đã xuất hiện đầu tiên lúc nào tại Ấn Ðộ vẫn chưa ngả ngũ, tất cả những chứng cớ đã xác định rằng vào thế kỷ thứ năm sự hiện hữu của Bồ Tát đã được xác nhận một cách rõ ràng trong các bản văn ký sự của người đương thời. Ðại sư Pháp Hiền của Trung Quốc trong chuyến hành hương «nhập Trúc cầu Pháp» vào năm 400 C.E. khi du hành ngang qua Mathura đã kể lại rằng những tăng sĩ Phật giáo Ðại thừa tại đây đã thờ phượng Bồ Tát Avalokitesvara, Bát Nhã Ba La Mật (Trí Tuệ Viên Mãn) cùng với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bằng cách dâng cúng những phẩm vật trước những ảnh tượng của các Ngài (Legge 1965:46). Vào lúc mà ngài Huyền Trang du hành ngang qua vùng Tây Bắc Ấn, khoảng từ năm 630 – 645 thì tín ngưỡng giáo phái thờ phượng Bồ Tát đã được thiết định và ngài Huyền Trang đã chứng kiến tận mắt những ảnh tượng của Bồ Tát đã được các tín đồ thuần thành cầu nguyện trong mọi giai tầng dân chúng, từ vua quan, tăng sĩ cho đến thứ dân.(8) Trong khi các kinh sách và nghi thức hành trì thờ phượng mới được khai triển thì những ảnh tượng mới về Bồ Tát Avalokitesvara cũng đã được sáng tạo trên những vùng đất khác của Ấn Ðộ. Hình ảnh của Ngài đã trở thành phổ thông đại chúng cho đến khi Phật giáo biến mất khỏi vùng đất quê hương đã khai sanh ra nó.

Thiết tưởng chúng ta cũng nên có một cái nhìn lược sơ qua ba loại ảnh tượng về Bồ Tát Avalokitesvara trong nghệ thuật Ấn Ðộ cũng như những giai đoạn phát triển chính của tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát tại đây (9). Một nét phác họa như vậy rất là cần thiết bởi hai lý do. Trước tiên, trừ phi chúng ta hiểu biết ít nhiều về nhân dạng của Bồ Tát Avalokitesvara theo kiểu cách Ấn Ðộ, chúng ta khó mà phán đoán được trong một chừng mực nào đó thì Bồ Tát Quán Âm của Trung Quốc chỉ là sự rập khuôn theo kiểu mẫu hiện hữu của Ấn Ðộ hay là một sự sáng tạo hoàn toàn. Lý do thứ hai và cũng là lý do đặc biệt quan trọng là trong khi tiến hành một cuộc khảo sát như thế, một điểm nổi bật và rõ ràng nhất là: Trong tất cả các ảnh tượng nghệ thuật của Ấn Ðộ, Bồ Tát đều không hề được trình bày dưới dạng nữ thân.

Thời điểm mà ảnh tượng Bồ Tát Avalokitesvara bắt đầu được sáng tạo xảy ra dưới triều đại Qúy Xương Hầu (Kusana). Hầu như các nhà học giả đều đồng ý rằng người đóng góp công đầu cho việc hoằng dương và phát triển đạo Phật là Vua Ka-Nị-Sắc-Ca I (Kaniska), vị Hoàng đế thứ ba của vương triều Kusana. Bộ tộc Qúy Xương Hầu nguyên thủy là một phần của giống dân mà người Trung Hoa gọi là Nhục Chi (Yueh-chih) hiện nay nằm trong khu vực thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc. Dưới áp lực của nhà Tiền Hán họ đã bị bắt buộc phải thiên cư về phía Tây và cuối cùng định cư trong vùng Bactria vào khoảng năm 135 trước Công nguyên. Vua Ka-Nị-Sắc-Ca I lên kế nghiệp vương quyền vào khoảng năm 120 C.E. là một vị vua rất sùng mộ đạo Phật, thế nên tất cả các loại hình mỹ thuật Phật giáo cũng như những hoạt động truyền giáo đều rất được Ngài chăm sóc và ủng hộ. Kết quả là không những Phật giáo chỉ nở rộ trong vùng Tây Bắc Ấn mà lan ra cả những quốc gia dọc theo Con Ðường Lụa và cũng từ đây mà Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc. Thế nên những bản dịch kinh sớm nhất qua tiếng Trung Hoa không phải là từ nguyên bản Phạn ngữ của Ấn Ðộ mà là từ tiếng An Tức (Pa-thi, Parthians), Scythians, Sogdians và của những cư dân sống trong vùng mà người Trung Hoa thời đó gọi chung là Tây Vực.

Các học giả Susan L. Và John Huntington đã nói về tính cách phổ thông của những ảnh tượng Ðức Phật Thích Ca, Di Lặc và Bồ Tát Avalokitesvara trong giai đoạn này. Bồ Tát hoặc xuất hiện riêng rẽ hoặc là môt thành phần của Tam Thánh. Ngài thường được trình bày qua hình ảnh « Liên Hoa Thủ » (Padmapani). Cụ thể như trong một bức tranh của Loriyan Tangai dưới thời đại vương triều Quý Xương Hầu, Bồ Tát được vẽ tay trái cầm một cánh hoa sen, phục sức như một ông hoàng, với đầu đội khăn xếp, một biểu tượng của giòng dõi qúy tộc. Ngài có hàng ria mép và đang ngồi trong tư thế « vương giả » với chân phải co lại (Huntington 1985:139). Một bức tranh Tam Thánh sáng tác vào khoảng năm 152 C.E. trình bày Ðức Phật với hai thị giả là hai vị Bồ Tát đứng hai bên, một người có khuôn mặt dữ dằn ở bên phải là Kim Cương Thủ (Vajrapani: Người cầm chày kim cương) và bên trái là hình ảnh từ ái của ngài Liên Hoa Thủ (10). Trong hình, ngài Kim Cương Thủ ăn bận y phục như một nhà tu khổ hạnh với một chiếc váy ngắn và một mảnh da thú choàng qua vai, trong khi ngài Liên Hoa Thủ vận trang phục như một ông hoàng Ấn Ðộ, tô điểm thêm với đồ trang sức quý giá và đầu đội chiếc khăn xếp hoàng gia (Huntington 1985:154). Việc chọn lựa hai khuôn mặt tiêu biểu này như là hai vị thị giả của Ðức Phật đã nói lên những nhận thức Phật học cơ bản về sự giác ngộ. Bởi vì Ðức Phật, Ðấng Giác Ngộ, vừa có trí tuệ lẫn từ bi cho nên Ngài được hai vị thị giả theo hầu là hai vị Bồ Tát tiêu biểu cho hai phẩm tính đáng ca ngợi và cần thiết ngang nhau này: Bồ Tát Avalokitesvara tiêu biểu cho Từ Bi và Bồ Tát Vajrapani tiêu biểu cho Trí Tuệ. Hình ảnh của Bồ Tát Kim Cương Thủ (Vajrapani) sau này, trong khoảng thế kỷ thứ bảy và thứ tám, đã được thay thế bởi hình ảnh của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Huntington 1985:270, 446).

Kể từ sau thế kỷ thứ năm, những hình tượng mô tả Bồ Tát Avalokitesvara cũng bắt đầu thay đổi dần. Trước tiên, gắn liền với Di Lặc, Ngài đã được trình bày trong một phong cách khổ hạnh và dân gian hơn là qúy phái vương giả như trước đây. Thứ hai, Ngài không còn là một nhân vật phụ thuộc mà dần dần tiến lên vị trí của một linh thần độc lập. Khuynh hướng này đã được học giả Chutiwongs tóm tắt như sau :

Ngài là vị Bồ Tát phổ thông nhất tại Elura. Tổng cộng tất cả có đến 110 hình tượng về Ngài, hầu như gấp ba lần hình tượng các vị Bồ Tát khác. Một trong những chủ đề được ưa chuộng nhất của nghệ thuật Phật giáo Maharastra được gọi là « Nguyện Cầu Bồ Tát Avalokitesvara », trong đó Ngài được mô tả như là Người Cứu Khổ Cứu Nạn. Ðã có rất nhiều những thí dụ minh họa cho chủ đề này xuất hiện trong các động thờ tại Kanheri, Ajanta, Elura và Aurangabad,... trong thời Gupa và hậu Gupa. Những phông cảnh này hiển nhiên là những hình ảnh tiêu biểu cho lời cầu nguyện trao gởi đến Bồ Tát của những kẻ sùng kính Ngài trước khi họ bắt đầu hoặc đang trãi qua một cuộc hành trình đầy nguy hiểm. Bồ Tát Avalokitesvara trong địa hạt này rõ ràng là đã được tôn thờ như người bảo hộ cho khách lữ hành, thương nhân cũng như những kẻ hành hương. Sự kiện được biết là dân chúng vùng Tây Ấn Ðộ nổi tiếng về những hoạt động giao thương buôn bán hiển nhiên đã ghi đậm dấu tích việc lưu hành rộng rãi chủ đề này trong Vùng Tây Ấn (1984:45). Cũng cùng một lý do như thế, Bồ Tát Quán Thế Âm như là Người Cứu Khổ Cứu Nạn được tán dương trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đồng thời cũng là chủ đề được ưa chuộng trong số những bích họa được tìm thấy tại động Ðôn Hoàng, trạm dừng chân cuối cùng trên Con Ðường Lụa.

Một hình tượng khác của Avalokitesvara được xác định niên đại vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ năm tại Sarnath cũng xác định tính cách nam phái của Bồ Tát. Ðược phủ che bởi một lớp áo trong mờ, người ta thấy bộ phận sinh dục của phái nam nổi bật lên một cách rõ rệt. (11).

Ðến cuối thời kỳ hậu-Gupa, khoảng thế kỷ thứ sáu, Bồ Tát Avalokitesvara nghiễm nhiên đã giữ một ngôi vị độc lập cũng như trở thành một vị linh thần chính với tùy tùng thị giả riêng và được thờ phượng do những mục tiêu riêng biệt của các tín đồ. Khi Bồ Tát Avalokitesvara đã trở thành một biểu tượng tín ngưỡng chính của những người sùng mộ, Ngài cũng có thị giả riêng như Ðức Phật. Cụ thể như một ảnh tượng của Avalokitesvara được xác định niên đại vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ sáu, mô tả Ngài như là vị thần hộ mạng chống lại mười nạn ách kể cả voi, hùm và đạo tặc trong hang động 90 tại Kanheri đã được trình bày cùng với hai nữ thị giả bao quanh, bên phải là Tara (Tinh Tú) và bên trái là Bhrkuti (có nghĩa là Tâm Giác Ngộ Viên Mãn), (Huntington 1985:264). Hai nhân vật này cũng tiêu biểu cho Từ Bi và Trí Tuệ như Avalokitesvara và Vajrapani đối với Ðức Phật. Tại hang động 41 ở Kanheri người ta cũng tìm thấy bức tượng Bồ Tát Avalokitesvara mười một đầu, xác định niên đại vào khoảng từ hậu bán thế kỷ thứ năm đến tiền bán thế kỷ thứ sáu, được coi như là ảnh tượng sớm nhất tại Ấn Ðộ thuộc thể loại này. (Hình 1.1; Huntington 1985:265). Hình Bồ Tát Avalokitesvara nhiều tay, một sắc thái đặc biệt của nghệ thuật Phật giáo Mật tông, cũng rất phong phú trong vùng Ðông Bắc Ấn trong thời hậu Gupta. Có khi Ngài được trình bày với hai tay nhưng thỉnh thoảng được trình bày đến 16 tay, thường thường mang theo những vật tượng trưng tiêu biểu của cả các linh thần phổ thông trong Phật giáo lẫn Án Ðộ giáo, cụ thể như:

Cái bầu đựng nước trên thiên cung (kamandalu), thiền trượng ba nhánh (tridanla), tràng hạt (aksamala), cuộn sách và bút lông (pustaka) không những biểu lộ nhân cách khổ hạnh của Bồ Tát; mà hai vật sau cùng còn nêu bật phẩm chất của Ngài như là một bậc Ðại Tôn Sư và đồng thời cũng là Chủ Tể Mọi Kiến Thức, tương đương với vị Thượng Ðế của Bà La Môn giáo. Con mắt thứ ba của Ngài, cây trường thương và đinh ba (trisula), sợi dây thừng (pasa), và câu liêm (ankusa) liên hệ Ngài với Ma-lê-thù-la (Mahesvara) hay là vị Chủ Tể của Mọi Linh Hồn (Pasupati). Và, cái dây thừng vô hình -thắt chặt vĩnh viễn linh hồn (pasu) của mọi cá nhân với vị Chủ Tể (pati) của nó- trở thành sợi dây Từ Bi bất hoại (amogha-pasa) của Bồ Tát Avalokitesvara để kéo về Ngài những linh hồn bất tử nhằm giải thoát họ. Viên bảo châu (ratna) hay ngọc như ý (cintamani) tượng trưng cho năng lực nhiều mặt, không bao giờ mệt mỏi của hạnh bố thí ba la mật cũng như không hề thất bại trong việc đáp ứng những tiếng kêu cầu của nhân sinh; trong khi đó cây đàn-nã (danda) hay tích trượng trừng phạt, thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong số những vật dụng mang theo của Ngài có tác dụng như là một cảnh báo đối với những linh hồn gian ác hoặc những kẻ có những hành động xấu xa. Các chi tiết quý phái - biến mất dần trong cách trang trí các ảnh tượng Bồ Tát Avalokitesvara sau thời hậu Kusana- đã xuất hiện trở lại trong nghệ thuật thời Trung cổ tại Bắc Ấn trong một cách thế đáng lưu ý. Một số ảnh tượng đã trình bày Ngài trong thế ngồi của các đấng quân vương, hay là cách ngồi vương giả (maharajalilasana), nhằm tôn vinh tính cách tối thượng của Ngài, không phải chỉ riêng trong thế giới tâm linh mà bao gồm cả vinh quang và danh vọng trong trần gian thế tục. Số tùy tùng thị giả của Ngài cũng tăng thêm về số lượng cũng như ý nghĩa, làm nổi bật thêm vị trí ưu việt của nhân vật trung tâm (Chutiwongs 1984:49-50).

Về sau này, dưới triều đại Pala, trong khoảng từ thế kỷ thứ tám đến mười hai, các ảnh tượng thuộc truyền thống Phật giáo Mật tông cung cấp cho chúng ta thêm nhiều chứng liệu cho thấy Bồ Tát Avalokitesvara đã được tôn xưng như là một đấng cứu vớt của cả vũ trụ này. Cụ thể như một tấm bia khắcvào cuối thế kỷ thứ mười một tại Nalanda đã trình bày Avalokitesvara với « hai thị giả tùy tùng ở bên phải là Tara và Sudhanakumara (Ðại phú Hoàng tử) và bên trái là Bhrkuti và Hayagriva (Mã Ðầu), trong khi đó ở trên cùng của bức họa mô tả sự hiện diện đầy đủ của Ngũ Phật và ở góc trái dưới cùng là ngạ quỷ Sucimukha mình người đầu thú, gầy đói trơ xương... Con ngạ quỷ này phải chịu hình phạt quả báo suốt đời đói khát đã được Bồ Tát cứu vớt bằng cách cho mút nước cam lồ rơi ra từ cánh tay Ngài.» (Huntington 1985:392-93) (12). Như là người ban phát những thần chú cứu nạn, Bồ Tát Avalokitesvara đã là một nhân vật trung tâm trong rất nhiều kinh điển Mật giáo. Một điều khá thích thú là một hình tượng đặc biệt được tìm thấy tại Bihar có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười một hoặc thế kỷ thứ mười hai được Huntington nhận diện là Lục Tự (Sadaksari) Lokesvara, một hình ảnh nhân cách hóa câu thần chú sáu chữ rất phổ biến của Bồ Tát Avalokitesvara: Án Ma Ni Bát Di Hồng (Om mani Padme hum) (Huntington 1985 :394).

Vấn đề tìm hiểu nguồn gốc ban đầu của tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Avalokitesvara từ lâu đã là một đề tài nghiên cứu khá lôi cuốn đối với các học giả. Một trong những bộ kinh điển quan trọng và sớm nhất của tín ngưỡng này là Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (còn được gọi là Lạc Hữu Trang Nghiêm Kinh, Sukhavativyuha Sutra), được kết tập tại Tây Bắc Ấn vào khoảng năm 100 C.E. trong đó Bồ Tát Avalokitesvara cùng với Ðại Thế Chí đã được chọn lựa ra như là hai vị thị giả chính của Ðức Phật A Di Ðà. Cũng giống như Phật A Di Ðà, Ngài cũng đã được mô tả như là Vô Lượng Quang. Chính từ chi tiết này mà học giả Mallman đã cho rằng Bồ Tát là một vị thần thái dương có xuất xứ từ đạo thờ Thần Hoả của Ba Tư. Một học giả khác, Alexander C. Soper, cũng đã đề cập đến vầng hào quang tượng trưng phát ra từ Ðức Phật và Bồ Tát Di Lặc để cho rằng đã có một sự liên hệ mật thiết giữa những tư tưởng của các tôn giáo Ba Tư và nền mỹ thuật Kushan của vùng Bắc Ấn. (1949-50). Ông tin rằng những hình tượng Phật của mỹ thuật Kàn-Ðà-La đã mang những nét tương tự với các vị thần Mithra-Helios (13). Theo Mallman (1948:82), từ khởi thủy Avalokitesvara mang hình ảnh giống với những vị thần trong thần thoại La-Hi: Apollo, Mithra, Helios, và Hermes rồi sau đó chuyển hóa thành « vị Hộ Pháp có năng lực đẩy lùi bóng tối vô minh, ngu dốt và vô tín ngưỡng. » Bà cho rằng người ta có thể truy nguyên nguồn gốc tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Avalokitesvara lùi lại đến thời kỳ của vị quân vương Phật tử Hi Lạp vĩ đại, Ka-Nị-Sắc-Ca, khoảng thế kỷ thứ hai tại vùng Bắc Ấn là nơi mà những ảnh tượng sớm nhất của Bồ Tát được tìm thấy. Tuy nhiên học giả Giuseppe Tucci (1948) đã không đồng ý điều này. Ông không quan tâm đến vầng hào quang tượng trưng của Bồ Tát mà đặt trọng tâm vào « tia nhìn từ ái » của bức tượng. Học giả John Holt (1991:30-39), người tổng kết cuộc tranh luận, đã đưa ra một ý kiến dung hòa là ta nên chú trọng đồng đều đến cả ánh sáng tượng trưng lẫn phẩm tính từ bi của Bồ Tát.
Thay vì chạy đi tìm kiếm những lai lịch của Bồ Tát Avalokitesvara ở bên ngoài truyền thống Phật giáo, Tucci và một số học giả khác đã tìm ra chúng trong hai bộ kinh điển sớm nhất, phẩm Quán Kinh (Avalokita Sutra) trong bộ kinh Xuất Thế Ma Ha Tăng Kì Ðại Sự (Lokottora Mahasamghika Mahavastu). Nhan đề của cuốn kinh đã chia xẻ phần nào danh hiệu của Bồ Tát cũng như xác chứng việc sử dụng sớm nhất từ ngữ «Avalokita» (có nghĩa là nhìn, quán xét). Cả hai cuốn kinh đều vinh danh tiền thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc còn là Bồ Tát. Mặc dù các học giả không đồng ý với nhau về niên đại ra đời của hai bộ kinh này nhưng cùng chia xẻ một quan điểm chung là những bộ kinh này nhấn mạnh đến « quán xét » và « ánh sáng » đã là nguồn cảm hứng cho ý niệm Quán Thế Âm (Avalokitesvara) về sau này (14). Mặc dù ý nghĩa của từ Avalokita rất sáng tỏ nhưng không có nghĩa là danh hiệu của Bồ Tát mang một ý nghĩa rõ ràng. Holt (1991) đã nêu ra cho thấy là các nhà nghiên cứu Phật học đã không thể thống nhất quan điểm trong việc giải thích ý nghĩa chung của từ ghép Avalokitesvara, danh hiệu của Bồ Tát. Tại sao như thế ? Bởi vì, « nếu để riêng ra thì ý nghĩa của hai Phạn ngữ Avalokita và isvara khá rõ ràng, là « nhìn » hoặc « xem xét » và « chủ tể, vua » nhưng khi ghép chung lại thành Avalokitesvara, thì danh hiệu của Bồ Tát lại có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó có thể là «Vua của những gì mà ta trông thấy», « Vị chủ tể được nhìn thấy », « Vị chủ tể được nhìn thấy (từ trên cao) », « Vua, Người đang xem xét » hoặc « Vua, người đang xem xét (từ trên cao) » (Holt 1991 :31). Từ những ý nghĩa này mà Huyền Trang, nhà chiêm bái hành hương nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, đã dịch Avalokitesvara là QUÁN TỰ TẠI. Tuy nhiên danh xưng này đã không được phổ thông bằng danh hiệu QUÁN ÂM hay QUÁN THẾ ÂM như chúng ta được biết, bao gồm ý nghĩa của hai từ Avalokita và Isvara có nghĩa là «Người xem xét, lắng nghe những tiếng kêu than của trần thế.»

Việc sáng tạo những ảnh tượng về Bồ Tát Quán Âm tại Trung Quốc đã hình thành rất sớm ngay sau khi những kinh điển Phật giáo đã được phiên dịch, sẽ được nói đến trong chương kế tiếp. Những giai đoạn khác nhau trong diễn tiến miêu tả hình tượng của Bồ Tát Avalokitesvara tại Ấn Ðộ cũng đã xảy ra tại Trung Quốc nhưng với nhiều đổi mới, sáng tạo. Bắt đầu với sự sáng tạo hình tượng mới của Quán Âm như Thủy-Nguyệt Quán Âm (lưỡng tính) trong thế kỷ thứ 10, nghệ nhân Trung Quốc đã chuyển dần qua việc miêu tả Bồ Tát dưới dạng nữ thân kể từ đới Tống (960-1279). Ðến đời nhà Minh (1368-1644) hoặc có thể sớm hơn, đã thấy xuất hiện những bộ tranh về Bồ Tát Quán Âm với năm, ba mươi hai hoặc năm mươi ba kiểu cách khác nhau. Ðồng thời cũng có một bộ tranh được gọi là «Ba mươi ba hình tượng Quán Âm» của nền mỹ thuật Phật giáo Trung-Nhật dưới thời Kamakura (1185-1333) (15). Những kiểu cách khác nhau trong ảnh tượng có thể là do nghệ nhân minh họa theo ý nghĩa của ba mươi ba cách hóa thân của Bồ Tát Quán Âm trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay ba mươi hai trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Tuy nhiên trong thực tế, những bức tranh này đã không hoàn toàn giống như những gì mà kinh đã mô tả. Bên cạnh bức tranh Thủy Nguyệt (số 12) và Bạch Y Quán Âm (số 6) rất nổi tiếng trong nền mỹ thuật Trung Quốc nhưng không hề liên hệ đến nguồn gốc kinh điển nào, ba bức tranh khác có liên hệ đến truyền thuyết về Ngài là Quán Âm Già Lam (số 10), Ngôi nhà sò (scam-dwelling, số 25), và Mã Lang phụ (Bà Vợ Ông Mã, số 28) (16).

Mặc dù chúng ta không thể kết luận rằng việc nữ hoá Quán Âm là do bàn tay của các nghệ nhân, tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận là họ đã góp công lớn trong việc hình tượng hoá khuynh hướng này trong đại chúng . Nhà nghệ sĩ trong quá trình vẽ tranh hay tạc tượng về một Bồ Tát Quán Thế Âm nữ thân chắc chắn là phải phản ảnh một cách trung thực quan niệm của quần chúng đương thời về Bồ Tát. Trong ý nghĩa này, nghệ thuật không những là một chỉ dấu mà còn là một nhân tố tác động vào sự đổi thay. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là tại sao vấn đề thay đổi giới tính của Bồ Tát Avalokitesvara lại chỉ xảy ra ở Trung Quốc? Ðây là một câu hỏi mà có thể không bao giờ có được một giải đáp thỏa đáng. Tuy nhiên, tối thiểu cũng có hai yếu tố mà chúng ta không thể không quan tâm. Thứ nhất, vấn đề này liên hệ đến nền văn hoá và tôn giáo Trung Hoa. Thứ hai là sự tương đối hiếm hoi về « lịch sử » của Bồ Tát Avalokitesvara trong kinh điển Phật giáo. Chính vì sự khiếm khuyết lớn lao về những huyền thoại liên quan đến Bồ tát đã khiến cho việc sáng tạo những huyền thoại về Ngài tại Trung quốc trở nên dễ dàng hơn. Hơn thế nữa, những huyền thoại này trên một phương diện nào đó đã được sáng tạo theo quan điểm của người Trung Hoa về các đấng Trời Thần và do đó đã đáp ứng đúng nhu cầu tín ngưỡng của quảng đại quần chúng.

Tâm Hà Lê Công Ða
(*) Trích bản dịch tác phẩm « Kuan Yin » của GS Tiến Sĩ CHUN-FANG YU, Khoa Trưỏng Phân Khoa Tôn Giáo, The State University of New Jersey, Chương Giới Thiệu.

CHÚ THÍCH

(1) Những bức tranh Bồ Tát Quán Âm với hàng ria mép có thể được tìm thấy trong bộ sưu tập của Matsumoto, Tonkoga no kenkyu. Cụ thể như bức 216 (niên đại 864 C.E.), bức 98b (niên đại 943 C.E.), và bức 222 (968 C.E.).

(2) Hai tác phẩm tiêu biểu của khuynh hướng này là The Creation of Patriarchy (1986) của Gerda Lerner và The Language of the Goddess (1989) mà nội dung đã được Katherine K. Young mổ xẻ tường tận trong “Goddessess, Feminists, and Scholars” (1991).

(3) Peter Gregory dùng từ Sinification (Hán hóa – người Việt thường gọi là chính sách đồng hóa của người Trung Quốc-LND) trong tác phẩm của ông: Tsung-mi and the Sinification of Buddhism (1991). Robert Sharf cũng dùng từ ngữ tương tự trong một công trình nghiên cứu khác về Phật giáo Trung quốc: “The Treasure Store Treatise (Pao-tsang Lun) and the Sinification of Buddhism in Eight-Century China.”

(4) Học giả Todd Lewis đã dùng ý niệm này trong khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ phượng Avalokitesvara của Phật giáo Newar (được gọi là Karunamaya tại đây). Ông định nghĩa địa phương hoá như là “tiến trình biện chứng mà qua đó một truyền thống tôn giáo được hội nhập vào một khu vực hoặc một sắc dân sống chung trong một cộng đồng kinh tế xã hội và có một nếp sống văn hóa riêng.” (Lewis 1993:150). Trong khi “Những Truyền Thống Lớn” cung cấp một chỉ hướng tinh thần rõ ràng cho những tín đồ, những người thân cận với những vị giáo chủ đầy sức thu hút, kể cả những quy điều chính thống về hội nhập, truyền giáo, thì lịch sử cho thấy thường là ngược lại, rằng sự tồn tại của truyền thống tôn giáo đã quan hệ không ít tới sự đóng góp bởi nhiều tiếng nói khác nhau của đại chúng nhờ đó mà tín đồ sau này có những lăng kính về học thuyết, những lời dạy phù hợp với tình huống, cũng như những câu chuyện ẩn dụ trong dân gian để tiếp cận. Nghiên cứu vấn đề “địa phương hóa tôn giáo” tức là đào sâu để phơi bày những lý do cơ bản tại sao lại có sự lựa chọn từ tổng thể để truyền thống này tiến triển phù hợp với “tính logic của địa phương” tại một khu vực và thời điểm đặc biệt nào đó” (Lewis 1993:150).

(5) Paul Harrison đặt lại vấn đề việc sử dụng theo truyền thống từ ngữ “Bồ tát thiên giới” (celestial bodhisattvas) của Snellgrove (1986), người kế tục truyền thống của Har Dayal (1932), Ling (1976), Bashan (1981) và Robinson & Johnson (1982) trong một bài viết không xuất bản, “Văn Thù Sư Lợi và tín ngưỡng tôn thờ những Bồ Tát Thiên Giới”, trình bày trong một hội nghị tại Ðại Học University of Texas, Austin vào hồi tháng 10 năm 1996. Ông phản đối việc áp đặt tình huống của cái có sau lên cái có trước, cho rằng đó là chuyện không phù hợp với sử quan: những gì mà lý tưởng bồ tát đã thành tựu lại được đem đặt để vào cái động lực thúc đẩy ban đầu của nó. Ông cũng cho rằng “Ma Ha Tát” đơn giản chỉ là một danh hiệu khác của bồ tát, không phải là một tính từ để chỉ một chúng bồ tát đặc biệt nào đó trụ xứ ở thiên giới. Ông nhìn nhận rằng đa số Phật tử tin tưởng vào sự hiện hữu của những vị đại Bồ tát cũng như sự tương tục hoặc những trình độ chứng quả khác nhau của họ. “Tuy nhiên, những niềm tin như thế thuần túy phản ảnh sự phân biệt về số lượng hơn là phân loại và càng không phải là sự phân biệt trên căn bản phẩm chất giữa hai loại bồ tát riêng biệt, một ở thế gian và một ở thiên giới, mà giữa họ có một lằn ranh rõ ràng (Harrison 1996:11).

(6) Chutiwongs đã xem sự khác biệt về thời điểm này trong một số trường hợp như là một sự nhận dạng nhầm lẫn các ảnh tượng. Trong những thế kỷ đầu tiên khi việc sáng tạo ảnh tượng Phật giáo được bắt đầu, hình ảnh Ðức Phật thường là đề tài được ưa chuộng nhất, kế đó là Di Lặc, vị Phật tương lai. Thế nhưng bởi vì trong một số kinh văn, cụ thể như Quán Vô Lượng Thọ kinh (Amitayusdhyana – Hán dịch năm 430) đã mô tả Bồ tát Quán Thế Âm như là đang đội một vị Phật thu nhỏ ở trên đỉnh đầu mình, căn cứ vào điểm này, Mallman và một số sử gia mỹ thuật khác đã xem đây như là nét đặc điểm chính của Avalokitesvara, và họ đi đến việc xác định những ảnh tượng không mang nét đặc thù này là Di Lặc hay đơn giản hơn, gọi chung là “Bồ tát” và kết luận rằng sự xuất hiện hình ảnh của vị Bồ tát này vào thời kỳ trước thế kỷ thứ năm rất là hiếm hoi (Mallman 1948:119:27). Tuy nhiên Chutiwongs đã phản bác lập luận này, cho rằng những quy điều về sáng tạo ảnh tượng trong thời kỳ sơ khai đang từng bước hình thành, thế nên vì lý do đó mà hình tượng thu nhỏ của Phật trên đỉnh đầu đã chưa xuất hiện trong thời kỳ này. Bởi vậy những bức tượng xuất hiện dưới thời Quý Xương Hầu (Kusana, từ thế kỷ thứ nhất đến thứ 3, C.E.) cho dù không mang hình tượng thu nhỏ của Phật ở trên đầu vẫn có thể là Bồ tát Quán Thế Âm do căn cứ vào những đặc tính riêng biệt khác của Ngài đã được thể hiện. Nói một cách khác, mặc dầu những kinh văn quy định những đặc tính về Ngài như thế được kết tập sau này nhưng điều này không có nghĩa rằng nghệ thuật trình bày ảnh tượng nhất thiết phải xuất hiện chậm hơn sau kinh văn. Chutiwongs cho rằng lý do khiến người ta nhầm lẫn giữa ảnh tượng Quán Thế Âm và Di Lặc là vì cái tịnh bình chứa nước trường sinh (cam lồ - amrta- kalasa) của Bồ tát Quán Thế Âm thường bị nhầm lẫn là cái bầu đựng nước trên các cung trời (kamandalu hay kundika). Trong thời kỳ đầu, những vật biểu tượng dùng để phân biệt giữa hai vị Bồ Tát chưa được thiết định cho nên Bồ tát Di Lặc và Quán Thế Âm với khế ấn của bàn tay và các vật dụng tùy tùng trông cũng chẳng khác nhau là mấy. Những hình tượng khám phá trong vùng Matthura được xác định là Di Lặc và Quán Thế Âm cả hai đều có tay mặt trong tư thế bắt ấn vô úy trong khi tay trái thì đang cầm giữ một cái bình thót cổ giống trái bầu. Trong kiểu cách nghệ thuật Ấn Ðộ đương thời, ta chỉ có thể phân biệt được sự khác nhau giữa người này và người nọ bởi yếu tính nội dung của mỗi vị được biểu hiện ra qua hình dạng bên ngoài. Bồ Tát Di Lặc mang vẻ khắc khổ của một nhà tu xuất thế thấp thoáng hình ảnh của một vị Phật, được thể hiện rõ ràng qua mái tóc xoắn ốc mà người ta thường thấy trong các tranh tượng về Ðức Phật, khoác trên mình lớp tăng bào truyền thống của giới Tăng sĩ. Trong khi đó Bồ Tát Quán Thế Âm thể hiện nhân cách của một nhân vật đầy quyền uy, tích cực và khẩn thiết qua phục sức vương giả và vương miện oai nghi. Là những vị Bồ tát, hơn thế nữa, những bậc cứu độ nhân sinh trong thời đại không có Phật hiện thế, họ được trình bày với cánh tay phải dang ra như bày tỏ ý hướng bảo vệ tín đồ trong khi đó tay trái cầm bình nước trường sinh cam lồ như là sự ban phúc lành cao cả cho nhân loại.” (Chutiwongs 1984:23). Cũng theo Chutiwongs, những nghệ nhân thời cổ Ấn Ðộ thường có khuynh hướng trình bày biểu tượng bình nước cam lồ bất tử này cho hầu hết những nhân vật thần linh quan trọng của họ, không phân biệt tôn giáo hay chức năng. Cụ thể là các vị thần Indra, Siva, Lokapalas (những vị thần bảo hộ thế giới này), cũng như các nhân vật thần thoại canh giữ linh thủy của sự sống được biết như là Long Vương, và tất cả các vị Bồ Tát không tên kể cả Bồ Tát Di Lặc, Quán Thế Âm. (1984:25). Tuy nhiên bởi vì cái tịnh bình này đã bị nhận lầm là bình nước của nhà tu khổ hạnh cũng như Bồ tát Di Lặc được tin tưởng như là nhân vật tiêu biểu lý tưởng của người khổ tu, thế nên những hình tượng với tay cầm cái bình này thực sự ra là Bồ Tát Quán Thế Âm đã bị nhận lầm ra là Bồ Tát Di Lặc. Chutiwongs đi đến kết luận: “Một đằng do sự hiểu lầm về ý nghĩa tượng trưng của chiếc bình, đồng thời cùng với định kiến sai lầm cho rằng Bồ Tát Quán Thế Âm không thể được miêu tả đúng nếu như không mang một hình tượng Phật thu nhỏ ở trên đầu, hình như đã tạo nên chướng ngại trong việc nhận thức một điều khá hiển nhiên rằng đây chính là những hình tượng tiêu biểu của một vị Bồ Tát cũng phổ cập không kém gì Bồ Tát Di Lặc trong thế kỷ thứ nhất. Vào thời điểm này, nhân vật đầu đội khăn xếp này đã chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nghệ thuật Phật giáo. Ðây là một sự thực hiển nhiên bắt nguồn từ sự kiện những hình tượng của vị Bồ Tát này như là một linh thần độc lập đã xuất hiện không hiếm trong nghệ thuật thời Qúy Xương Hầu (Kusana) tại Matthura cũng như trong giai đoạn tiếp theo sau đó.
… Như vậy, chúng tôi cho là điều đúng đắn khi xem những hình tượng của vị Bồ Tát với khăn xếp trên đầu chính là những hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, người đã được biểu trưng qua những kiểu cách khác nhau trong nghệ thuật Ấn Ðộ thời sơ khởi qua nhân dáng vương giả, trái với hình ảnh khổ hạnh của vị Bồ Tát Di Lặc” (1984:27-28).

7. Paul Harison nêu nghi vấn về tính cách chân thực của bản dịch Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm kinh (Lạc hữu Trang Nghiêm kinh, Sukhavativyuha Sutra) do Ngài Chi-Lâu-Ca-Sấm (Lokaksema, đến Tràng An vào khoảng năm 167) phiên dịch, thường được coi như là bằng chứng sử liệu đầu tiên về tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm tại Ấn Ðộ, và như thế niên đại xuất hiện của cuốn kinh còn là vấn đề nghi vấn. Mặc dù các nhà học giả tin tưởng rằng bộ Ðại Sự (Mahavatsu) đã được viết ra sớm nhất là vào khoảng năm 200 trước Công nguyên hoặc chậm lắm cũng vào khoảng 300 C.E., tuy nhiên một số cho rằng phẩm Quán Kinh (Avalokita Sutra) trong bộ kinh này có thể đã được người ta thêm vào sau này. Bởi vì Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong Thành Cụ Quang Minh ÐịnhÝ Kinh (Cheng-chu kuang-ming ting-i ching) và xuất hiện trong những thứ tự khác nhau hay không theo một thứ tự nào cả trong Druma-kinnararaja pariprccha Sutra, khiến Harrison (1996:8) cũng nêu ra mối nghi ngờ tương tự là đã do người đời sau thêm vào. Jan Nattier (1992:166) cho rằng Tâm Kinh là một kinh văn do người Trung quốc sáng tác, sớm nhất là vào khoảng thế kỷ thứ năm và chậm nhất cũng vào khoảng thế kỷ thứ Bảy. Và cuối cùng, Gregory Schopen (1978) cho rằng điểm tựa cổ điển của truyền thống tín ngưỡng Quán Thế Âm là phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa cũng do người đời sau thêm vào, được viết ra khi tính cách phổ cập của Bồ Tát Quán Thế Âm đã được thiết định. Học giả Kern (1965:xxi) cũng tin rằng kinh Pháp Hoa nguyên thủy chỉ có 21 phẩm, những phẩm còn lại kể cả Phổ Môn là được thêm vào sau này.

8. Ngài Huyền Trang đã mô tả về tín ngưỡng tôn thờ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở một vài chỗ trong cuốn sách du ký của mình, “Tây Du Ký” do Samuel Beal dịch vào năm 1884 (Vol.1, pp.60, 127, 160, 212 và Vol. 2, pp. 103. 116, 172-73). Những hình tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm rất linh thiêng và sẵn sàng đáp ứng đối với người cầu nguyện: Ngài có thể “hiện ra từ những hình tượng này, từ tấm thân tuyệt mỹ của Bồ Tát, để ban phát sự yên tĩnh và an ổn cho khách lữ hành” (Beal 1884, vol. 1:60). Bồ Tát cũng ban ân huệ cho bất cứ ai muốn trực tiếp trông thấy Ngài: “Bất cứ ai phát nguyện ăn chay cho đến khi chết và tập trung vào hình tượng của vị Bồ Tát này, lập tức Bồ Tát sẽ từ trong hình hiện ra một cách uy nghi rực rỡ” (vol. 1:160). Hình tượng Bồ Tát cũng có khả năng tiên tri và đưa ra những lời chỉ dẫn.

9. Những thảo luận chung quanh vấn đề này căn bản là dựa vào tác phẩm “Mỹ Thuật Cổ Ðiển Ấn Ðộ” (The Art of Ancient India, 1985) của Huntingtons, được coi như là công trình nghiên cứu bao gồm những kiến thức cập nhật hoá nhất về chủ đề này.

10. Chutiwongs đã đưa ra một nhận xét khá lý thú rằng Bồ Tát Quán Thế Âm dưới thể dạng Liên Hoa Thủ (Padmapani) có thể “đã bắt đầu sự nghiệp của mình đối với Phật tử Càn Ðà La như là một linh thần độc lập -một nhân vật đáng tôn kính, và bởi vì tính cách quan trọng của vị linh thần này- lần hồi đã được đồng hóa thành một nhân vật trong Tam Thánh.Và cũng chỉ từ đây trở đi nhân cách của Ngài mới bắt đầu thể nhập với hình ảnh của vị thị giả đặc biệt đang cầm giữ những cánh hoa cúng dường và tiếp tục được phát triển theo chiều hướng này. Ðã có bằng chứng chắc chắn cho thấy Bồ Tát Quán Thế Âm đã được thờ phượng như một linh thần độc lập tại Càn-Ðà-La. Căn cứ vào số lượng hình tượng phong phú của Ngài tại đây, tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm hiễn nhiên cũng quan trọng không kém tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Di Lặc.

11. Cảm ơn Robert Brown của Ðại học University of California at Los Angeles về sự liên hệ này. Ông đã đưa ra bức hình và thảo luận ý nghĩa của nó trong bài viết “Soteriological Androgyny: The Gupta Period Sarnath Buddha Image and Buddhist Doctrine” tại AAS, Boston, tháng Ba, 1999.

12. Thể dạng đặc biệt này của Bồ Tát Quán Thế Âm được gọi là Khasarpana Avalokitesvara, được xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ Năm. Huntington mô tả hình tượng như thế có niên đại khoảng năm 475, dưới thời Sarnath: Bồ tát được tô điểm với những vật trang sức, có khuôn mặt tươi cười, tuổi chừng đôi tám, tay trái cầm một cành hoa sen, trong khi tay phải đang bắt thí nguyện ấn, đồng thời mang một hình tượng Phật thu nhỏ trên đỉnh đầu. Phía dưới cánh tay phải của Ngài là hai con ngạ qủy đang ẩn nấp. “Lòng từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm đối với muôn loài được thể hiện qua dòng nước cam lồ tuôn ra từ bàn tay thí nguyện để cứu vớt những chúng sanh đang đau khổ vì đói khát” (Hungtington 1985:204).

13. Soper đã đem ra thảo luận một số thí dụ trong bài viết khá dài của ông. Cụ thể như, “Cái khăn xếp đội đầu tương đối đơn giản của Ấn Ðộ đã được chuyển thành chiếc nón trau chuốt mang màu sắc đặc biệt tôn giáo hơn khi người ta thêm vào đó những biểu tượng về mặt trời, mặt trăng có thể đã được vay mượn từ chiếc vương miện của triều đại Sasanian” (vol. 7, no. 3, 1949:264); “Trên một đồng tiền dưới thời Ka-Nị-Sắc-Ca, lần đầu tiên một hình Phật đứng đã được trình bày với ánh hào quang bao quanh thân mình giống như một vị thần thái dương. Mỹ thuật Ấn Ðộ cho đến khi xuất hiện những bích họa dưới thời Ajanta rất hiếm thấy trình bày hào quang, trong khi đó tại Hadda kể từ triều đại này trở đi, rất nhều hình tượng Phật ngồi đã được tô điểm với vầng ánh sáng mặt trời lẫn hào quang bao quanh đầu” (vol.8, nos. 1 and 2, 1950:72).

14. Holt đã tóm tắt những nội dung của cả hai bản Quán Kinh và duyệt xét lại những sai lầm của các học giả trong việc xác định niên đại. Trong khi Bhattacharyya khẳng định rằng chúng xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên, một số học giả khác tin rằng chúng đã được người đời sau thêm thắt vào bộ Ðại Sự bởi vì một trong hai bộ kinh này đã được ngài Tịch Thiên (Santideva) trích dẫn như là một kinh văn độc lập trong tác phẩm Siksasamuccaya (Winternitz 1927, vo. 2:245; Holt 1991:31-33, 229).

15. Ba mươi ba hình tượng Quán Thế Âm được trình bày là: (1) Quán Thế Âm với cành dương, (2) Ðứng trên đầu rồng, (3) Cầm kinh sách, (4) Trong vòng ánh sáng, (5) Thế ngồi vương giả, (6) Bạch Y Quán Thế Âm, (7) Tựa vào hoa sen, (8) Nhìn vào thác nước, (9) Ban thuốc (10) Quán Âm Già Lam, (11) Ðức Vương (Brhama), (12) Thủy Nguyệt, (13) Một Chiếc Lá, (14) Cổ màu xanh, (15) Tổng quát về thiên giới, (16) Kéo dài thọ mạng, (17) Trân châu, (18) Cửa đá, (19) Tĩnh lặng, (20) Vi tế (Anu), (21) Abhetti, (22) Diệu Y Quán Tự Tại (Parnasvari), (23) Tỉ lưu ly (Vaidurya), (24) Quán Âm Tara, (25) Quán Âm trú trong thân sò, (26) Sáu giai đoạn, (27) Ðại Từ Bi, (28) Mã lang phụ, (29) Anjali (30) Như thị, (31) Bất nhị, (32) Liên hoa thủ, và (33) Tưới nước (Goto 1958:170-82). Ông đã dùng Butsuzo-zu-I (Tự điển hình ảnh Phật giáo minh họa), mộc bản thời đại Uế độ (Edo) làm nguồn tài liệu chính. Những bức vẽ mô tả hình tượng Quán Thế Âm sau này đã được Balei Hemmi in lại (1960: 228-32). Theo Louis Frédéric, “Những thể dạng khác của 33 hình tượng Quán Âm này xuất hiện tương đối chậm hơn, hầu như phần lớn chỉ ra đời sau thời Kamakura (1333). Một số hình tượng này lại được tiếp tục trình bày dưới hình thức họa phẩm, trong khi những đề tài còn lại đã không hấp dẫn mấy đối với các nghệ nhân” (1995:157-62). Mặc dù một số thể dạng cá biệt cũng đã thấy xuất hiện trong những bộ sưu tập tranh vẽ Nhật bản thời Trung Cổ, cụ thể như Besson Zakkhi của Shinkaku (fl. 1117-1180), hoặc Kakuzensho của Kakuzen (b. 1144), nhưng tất cả 33 thể dạng này được xem như ở chung trong một bộ sưu tập chỉ được hoàn toàn chấp nhận về sau này. Danh sách này bao gồm những nội dung liên quan đến những dụ ngôn trong kinh Pháp Hoa, các kinh sách Mật giáo cũng như những huyền thoại dân gian của Trung quốc về Bồ Tát Quán Thế Âm. Một điều cũng nên lưu ý rằng một số trong 33 thể dạng Quán Âm này được trình bày Ngài đang ngồi trên thạch bàn. Cornelius đã bàn về những thể dạng này trong Chương 6 của tác phẩm “A Study of the Paintings of the Water-Moon Kuan Yin”, xuất bản năm 1971. Cũng nên đọc thêm tác phẩm “Chinese Bud dhist Sculpture under the Liao” (1993:100) của tác giả Marilyn Leidig Gridley về vấn đề này.

16. “Quán Âm trú trong thân sò” liên hệ đến câu chuyện lịch sử xảy ra dưới triều Văn Tông Hoàng đế đời Ðường. Vị hoàng đế này rất thích ăn sò biển, thế nhưng vào tháng đầu của năm 836, viên quan ngự soạn đã không thể cạy mở một con sò lớn. Thế rồi sau khi cầu nguyện, vỏ sò liền mở ra và trong đó có chứa một bức tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ông đã hỏi vị thiền sư Duy Chánh nổi danh đương thời về ý nghĩa của việc này và sau khi được giải thích đã đi đến quyết định từ bỏ thói quen thích ăn sò. Ðồng thời hoàng đế cũng ra lệnh cho toàn thể tự viện tại Trung Quốc dựng tôn tượng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (Fo-tsu t’ung chi, Ch’uan 41. T 49:384b-c). Quán Âm Già Lam và Mã lang phụ cũng là những truyện truyền kỳ dân gian liên quan đến một phụ nữ sống vào thế kỷ thứ 9 tại Trung Quốc, truyện sau này sẽ được đề cập đến ở chương 10.




Source: www.*******hoasen.org

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-06-2008 at 03:23 PM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-10-2008 , 09:18 AM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Tôi xin được phép copy những post của bạn 064008ta, KKT, XBT01 đã post ở trang THTG, và tôi nay đem qua đây ! Cám ơn !


Đi thăm nơi Phật Bà Quán Thế Âm thị hiện ở thiền viện Chân Nguyên ở Nam California

ETCETERA


Câu chuyện về một vùng đất khô cằn, giữa sa mạc cách khá xa thị tứ được một vị sư quyết tâm dựng lên một thiền viện, rồi ở đó từ mấy năm qua, đã là một điểm gây nhiều tò mò cho chúng tôi. Nhà văn Lâm Tường Dũ, người đã có dịp cùng vợ lái xe hơn 2 tiếng từ trung tâm Little Saigon để đến Thiền viện Chân Nguyên lễ Phật, chiêm ngưỡng những sự huyền diệu ở nơi đây, khi kể lại cho chúng tôi nghe, ông còn thêm thắt nhiều mẩu chuyện lạ lùng khác, lại càng kích thích trí tò mò, lòng hiếu kỳ của nhóm nghệ sĩ VAC (Việt Artists Club). Thế là
sáng thứ Bảy, 26 tháng 4, 2008, chúng tôi rủ nhau, tất cả 6 người lên đường lái xe đến Thiền viện Chân Nguyên. Chúng tôi gồm có Họa sĩ Mạc Chánh Hòa, nhà thơ Hoài Mỹ, nhà thơ Dr. Yêu, vợ chồng nhà văn Lâm Tường Dũ và tôi (Etcetera) lái chiếc xe Van lên đường rời Bolsa vào lúc 9:30 sáng. Lộ trình đi như sau: Từ Little Saigon, lấy 22 E, đến 57 N, qua 91 E, tới 15 N, đến Bishop, qua tới 395N Hwy. Trên đường đi, phái đoàn của chúng tôi dừng lại để giải lao chừng 15 phút. Xong đâu đó, lên đường tiếp. Độ 12 giờ, tới nơi. Thiền viện Chân Nguyên nằm ở vùng sa mạc Adelanto, rộng 15 mẫu. Chỉ mới dựng được một bức tượng Phật Bà Quán Âm cao 17 thước, có tòa sen soi bóng xung quanh. Một con đường lát xi măng dẫn từ đầu đường vào chân tượng do một vị Phật tử ở Washington DC. được chữa lành bệnh cúng dường. Hai bên con đường có 18 vị La Hán, mỗi vị tốn phí hết $2,400 cũng do một số Phật tử được chữa lành bệnh ung thư phát tâm cúng dường. Ngoài ra, chánh điện và khu thiền viện chưa có, trống hơ trống hốc. Vị sư trụ trì phải sống tạm thời trong một căn mobile home. Thấy chúng tôi đến, vị sư trụ trì ra đón. Cái nóng như thiêu đốt, giữa sa mạc mênh mông. May mà có gió, nên nóng có lúc hóa thành lạnh. Chúng tôi gặp, có dịp nói chuyện với thầy Thích Đăng Pháp, trụ trì của Thiền viện. Câu chuyện lý thú giữa chúng tôi và thầy được ghi lại như sau.

Đây là pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ở Thiền viện Chân Nguyên:







Đôi nét về thiền viện Chân Nguyên

VW: Miếng đất này thầy mua từ bao giờ?
Thích Đăng Pháp (TĐP): Các phật tử cúng dường, và chúng tôi mua cách đây khoảng 7 năm. Mới đến xây dựng từ 3 năm nay. Rộng khoảng 15 mẫu.
VW: Khi nào ngôi chùa mới được xây?
TĐP: Hiện nay, các Phật tử chỉ cúng dường các tượng Phật, đường đi mà thôi. Chưa có nhiều người phát tâm vào việc xây ngôi thiền viện. Thầy muốn dựng một nhà tăng với 18 phòng, trong đó mỗi phòng có khoảng 3 giường để các Phật tử đến đây tu tập, thiền quán. Phía trên, tầng trên là thiền đường, chỗ tụng niệm, giảng pháp. Căn nhà tăng này dự trù tốn kém khoảng $650,000-$700,000.
VW: Còn phần Chánh điện của Thiền viện, chi phí thế nào?
TĐP: Tòa chánh điện thì khác, chi phí khoảng 1.5 triệu-2 triệu đô la mới xây được.
VW: Phần đất này thầy đã trả tiền hết chưa?
TĐP: Đất của thiền viện đã được các Phật tử đóng góp, trả xong. Do Thiền viện đứng tên đất.
VW: Còn vấn đề điện, nước thế nào?
TĐP: Hiện nay chưa có điện. Thầy phải dùng một máy điện nhỏ, công suất thấp, chỉ đốt đủ điện mỗi đêm 2 tiếng trong chánh điện tạm, để đảnh lễ, cầu nguyện. Nếu muốn có điện kéo từ ngoài vào trong chùa, mất khoảng $20,000-$30,000. Phần này chưa có ai giúp. Còn nước, hiện nay một số Phật tử giúp cho một tài khoản đủ để đào một cái giếng, lấy nước để tiêu dùng và tưới cây.
VW: Trong khoảng bao lâu có thể khởi công xây chùa?
TĐP: Tất cả còn tùy thuộc vào số tiền các Phật tử đóng góp. Chưa biết đến bao giờ. Tuy nhiên, giấy phép xin cất chùa có thời hạn là 3 năm, kể từ năm 2008-2010 là phải xây cất cho xong.
VW: Thời tiết ở đây thế nào?
TĐP: Ở đây như anh thấy, là sa mạc. Thời tiết nóng bắt đầu từ tháng 6, cao điểm là tháng 10. Trung bình từ 100 độ-105 độ.
VW: Còn các cây xanh xung quanh chùa, theo thầy cần độ bao nhiêu cây?
TĐP: Tôi nghĩ cần khoảng từ 300-400 cây. Riêng cây Bồ đề tôi có thử trồng, nhưng đến mùa đông lạnh, nó không sống nổi. Mùa đông ở đây bị đông đá.
VW: Vì sao thầy lại chọn một nơi hoang vu, xa xôi hẻo lánh như thế này để dựng thiền viện?
TĐP: Ngày trước, đức Phật và các vị tổ đều chọn những nơi vắng vẻ, hoang vu để tu hành. Chính những nơi vắng, xa chốn hồng trần sẽ giúp cho việc tu hành phát nguyện nhanh hơn. Đối với tôi, những xáo căn, xáo trần cũng đỡ vướng mắc hơn. Nên tôi muốn dựng thiền viện này để thực hiện hạnh tu của mình. Sau nữa, tôi muốn dựng một thiền viện có tầm vóc hơn, để lại cho Phật pháp sau này. Đất sa mạc dù sao cũng rẻ hơn, rộng hơn để dựng thiền viện. Ai cũng biết chỉ có người sinh thêm, đất không sinh thêm, từ từ rồi các Phật tử cũng biết đến.
VW: Đời sống tu tập ở đây thế nào? Có nhiều Phật tử đến thăm thiền viện không?
TĐP: Tôi ở đây một mình. Lúc đầu tôi về xây dựng nên, Phật tử không ai biết hết. Có khi cả tháng không có một bóng người biết để đến. Tôi là nhà tu, đã kiên trì tu hành. Trước hết tôi muốn phát nguyện hạnh tu của mình, tôi nghĩ nếu mình tu hành đàng hoàng, các vị bồ tát sẽ hỗ trợ. Sau đó, có nhiều thuận duyên đã đến.
VW: Nhìn xung quanh, sau mấy năm xây cất, tuy có chút bóng dáng của ngôi chùa, nhờ có bức tượng Phật Bà, nhưng xem ra vẫn còn hoang vu quá.
TĐP: Đúng. Hoang vu, buồn bã lắm. Đến độ trước đây, tôi có nuôi một con chó, không biết có phải nó ăn chay không nổi hay không, mà rồi một hôm nó cũng bỏ tôi đi đâu mất. Rồi một người quen là Bác sĩ Mạc Biền cũng giới thiệu cho tôi một chư tăng trẻ đến ở, giúp chúng tôi. Thế nhưng vị tăng trẻ này cũng nói: “Bạch thầy, con không muốn bị biến thành một cây xương rồng ở chốn sa mạc này!” Vị tăng trẻ cũng không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt, ngày nóng đêm lạnh ở đây. Một vài vị sư khác tới ở một hai tháng, cũng không chịu nổi, đành bỏ đi. Mùa đông lạnh lắm, nhất là gió, gió mạnh lắm. Thiếu nước, thiếu điện, đầy khó khăn. Thực sự, nếu có một quan niệm đúng về tu hành, như ngày xưa các vị tu hành phải đi vào những khu rừng già hàng tháng trời, trong điều kiện thiếu nước, thiếu ăn,… mà các ngài còn tu được, còn bây giờ, việc cũng dễ thôi. Đâu có thiếu ăn, thiếu uống, thiếu gì đâu. Không phải đi khất thực là hạnh phúc lắm rồi.
VW: Vấn đề ăn uống của thầy thế nào?
TĐP: Khi tôi kéo mobile home về đây sống, tu hành, vấn đề ăn uống không bao nhiêu. Tôi chỉ ăn chao, tương, mua rau ăn mà thôi. Con chó có lẽ ăn chao, ăn tương mặn quá, chịu không nổi. Tôi nói, “Này con, patê Việt Nam đây, con ăn đi…” Nó ăn một chặp chịu không nổi.
VW: Con chó tên gì?
TĐP: Nó tên là Lucky.
Những hiện tượng màu nhiệm ở thiền viện Chân Nguyên
VW: Thưa thầy, vì sao có nhiều chai nước lọc để trước chân tượng Phật Bà thế này?
Thích Đăng Pháp (TĐP): Các chai nước này là do các Phật tử có niềm tin, thỉnh xin từ thiền viện Chân Nguyên, mang đến chân tượng Phật Bà để cầu xin ơn trên cứu giúp gia đình, người thân của họ.
VW: Xin thầy kể cho nghe một vài trường hợp có phép lạ chữa bệnh.
TĐP: Đây là lư hương (thầy chỉ vào một lư hương bằng đá rất lớn) của một Phật tử pháp danh là Diệu Vân ở tận Las Vegas, có một người thân bị coma 3 năm, nằm yên không nói được. Người nhà tới đây xin nước, có lòng thành, mang về nhà cho người ốm uống, bỗng tỉnh ra, tay chân cử động, tuy chưa nói được. Gia đình đó đến tạ ơn, cúng dường cho Thiền viện lư này. Ngoài ra, một số người bệnh khác cũng đến cầu xin, uống nước, căn bệnh cũng thuyên giảm.
VW: Theo thầy, có sự tác động bởi sự cầu xin của thầy, hay ở đây hoàn toàn do niềm tin của bệnh nhân vào đấng tối cao?
TĐP: Các bệnh nhân có nhờ tôi cầu nguyện giúp họ, trợ duyên thôi. Còn cái chính, tôi nghĩ là do sự thành tâm của Phật tử, có duyên đối với Phật, hay nghiệp bệnh được biến mất là do sự cầu xin tha thiết quá.
VW: Còn bức tượng Phật Bà Quán Aâm, ai đã cúng dường?
TĐP: Đây là một phép lạ đã xảy ra cho một người Phật tử người Mã Lai. Hai vợ chồng giàu có không có con. Một lần vợ chồng đi hành hương ở Aán Độ, tới Nepal, hai vợ chồng thăm vườn Lâm Tỳ Ni, Ngũ Đài Sơn ở Trung Quốc để cầu tự. Phép lạ xảy ra, khi về nhà, bà vợ cấn thai, sinh ra một đứa con trai. Từ đó hai vợ chồng rất tin vào đức Phật, mặc dù họ theo Hồi giáo. Hai vợ chồng vui sướng là có con, nhưng niềm vui chưa thỏa, đứa con mắc bệnh, không nói được. Thế là hai vợ chồng đi Mỹ hành hương đất Phật. Đó là năm 2005, trong phái đoàn có tôi cùng đi. Sau khi nghe hai vợ chồng tâm sự, từ chuyện cầu tự đến chuyện con không nói được. Ông chồng cũng không giấu tôi là bị mắc bệnh ung thư. Tôi đã giảng giải về sự linh ứng và cứu khổ của ngài Quán Thế Aâm, khuyên ông ta nên thành tâm cầu nguyện. Tôi cũng hứa sẽ trợ duyên, cầu xin đức Phật Bà Quán Thế Aâm cho họ. Sau khi đi hành hương trở lại Mã Lai, tôi có gửi cho họ và đứa con trai một vài chai nước lọc được tôi đích thân cầu nguyện trên chánh điện của tổ đình thiền viện. Khoảng 3 tháng sau, ông này gọi điện thoại báo cho biết là uống nước thiêng mà đứa con đã nói được. Riêng ông Mã Lai này, căn bệnh ung thư thuyên giảm đến 60%! Thế là ông ta đã hứa sẽ cúng dường cho thiền viện Chân Nguyên trước mắt là hàng rào vòng đai miếng đất 15 mẫu, sau đó là bức tôn tượng Quán Thế Aâm bằng đá trắng. Hàng rào xung quanh được hoàn tất năm 2005, ông ta cùng thầy về Đà Nẵng tìm nhà điêu khắc, chọn hình ảnh tượng để tạc bức Quán Thế Aâm bồ tát. Mãi đến năm tháng 5, 2006 mới tìm được một khối đá vừa ý tại ngọn núi ở Đồng Hới, Vinh, chiều dài khoảng 8 thước 50. Cty điêu khắc chạm tượng từ tháng 5, 2006 và hoàn tất, chở bức tượng từ Đà Nẵng tới Hoa Kỳ tháng 12, 2006. Tôn tượng đặt trên bệ bê tông cốt thép sâu 6 mét, cao 3.5 mét, chiều cao tổng thể từ mặt đất là gần 12 mét. Tôn tượng dựng xong ngày 21 tháng 10, 2007. Chi phí toàn bộ cho bức Tôn tượng Phật Bà Quán Aâm hết gần $100,000 USD. Có thể xem đây là một phép lạ đến từ thiền viện Chân Nguyên.
VW: Nghe nói có một chú bé đến lễ Phật với hiện tượng lạ?
TĐP: Đúng, cho tới nay tôi không biết tên chú bé này. Chỉ biết là cha mẹ chú bé đưa đến lễ Phật ở chánh điện. Chú tự nhiên ngồi thiền theo thế kiết già, một thế ngồi rất khó, rất đau chân nếu ngồi không quen. Thế mà chú bé khoảng 3, 4 tuổi này ngồi tư thế này trong vòng 15 phút, không động đậy cục cựa gì. Ai cũng ngạc nhiên. Chưa hết, ra về, chú bé còn để lại đôi giày, nhất định không chịu mang giày về, cho dù cha mẹ có khuyên bảo cách nào cũng không chịu. Chú bé đi chân đất ra ngoài. Hiện nay thầy còn giữ đôi giày của chú bé làm kỷ niệm.
VW: Còn chuyện đức Quán Thế Aâm hiện ra thế nào, xin thầy kể lại?
TĐP: Chuyện thế này, vào lúc 5 giờ 30 sáng Chủ Nhật, ngày 25 tháng 11, 2007, tôi tập công phu trong chánh điện xong, tôi đi ra ngoài, thấy một ánh hào quang từ trên trời rọi xuống ngay điện thờ tôn tượng Phật Bà Quán Aâm. Hiện tượng lạ này làm tôi bật khóc, quì xuống cho tới 6 giờ sáng. Những cư dân trong vùng kéo đến khá đông. Họ bảo rằng “Đức Mẹ hiện về!” Tôi không phản đối ý tưởng của họ. Vì tôi nghĩ nếu họ tin là Đức Mẹ thì cũng được, vì người cũng là vị cứu khổ cho nhân loại. Hôm đó là ngày lễ Khánh thành bức tôn tượng Phật Bà QuánThế Aâm. Hào quang rọi sáng liên tục cho đến lúc buổi lễ chấm dứt lúc 11 giờ rưỡi. Aùnh hào quang tàn dần, trước sự chứng kiến của khoảng 500 người có mặt.
VW: Báo chí Mỹ địa phương có đến thu hình ảnh, viết bài không?
TĐP: Có tờ Daily Press ở đây tới viết bài, đăng đầy đủ hình ảnh. Nhiều người thấy cảnh này đã quì xuống lạy, khóc vì cảm động.
VW: Trong đời tu tập của thầy, có bao giờ thầy thấy hiện tượng lạ như vậy chưa?
TĐP: Tôi đọc trong sách vở thì nhiều, nhưng chưa bao giờ tận mắt thấy. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến Phật thị hiện ra trước mắt. Tôi rất mãn nguyện là trong đời tu hành của tôi, được một lần nhìn thấy hiện tượng lạ này. Đó là một niềm vui, củng cố niềm tin cho tôi vượt qua những khó khăn, thiếu thốn ở đây.
VW: Xin thầy cho biết đôi chút về thân thế của thầy cho Phật tử được biết?
TĐP: Nói về cái tôi là đáng ghét. Tôi xin phép miễn nói nhiều về mình. Tôi chỉ xin được vắn tắt thế này, tôi từng theo học trường Pháp, trong trường dòng được 12 năm. Tôi xin cha mẹ được rửa tội, cha mẹ tôi nói phải cân nhắc thật kỹ trước khi có quyết định. Tôi có hỏi một vị cha người Pháp một câu, nếu ngài đáp được cho tôi thỏa mãn, tôi theo đạo liền. Cha Pháp nói tôi cứ hỏi, tôi thưa rằng: “Thưa cha, nếu nói rằng trên đời này có nhiều nỗi khổ quá. Mỗi giống dân đều có nỗi khổ riêng, từ nghèo đói, chiến tranh, ngu dốt. Ngược lại có một số quốc gia như Mỹ lại quá sung sướng. Tại sao nỗi khổ niềm hạnh phúc không đồng đều?” Vị cha nói: “Đó là ý của trời!” Tôi không thỏa mãn câu trả lời. Tiếp đó, tôi đọc sách Phật, trong đó có giải thích cặn kẽ về duyên, nghiệp, tại sao có hạnh phúc, tại sao có khổ đau. Tại sao có người giàu kẻ nghèo, tại sao có người sướng kẻ khổ v.v. Đó là cái nghiệp. Nếu có nhân xấu, tất phải đón nghiệp xấu. Nếu làm ác, sẽ gặp ác. Tôi thấy có lý. Tôi đi tu theo Phật. Bây giờ tôi đã 65 tuổi, thấy nhiều, hiểu nhiều và nhận ra rằng, chính khoa học cũng chứng minh là có nghiệp. Như bỏ một viên sỏi vào hồ nước, tạo ra một làn sóng. Sóng này đi hết chu kỳ, rồi dội lại chính nó bằng chính lực mà nó phát đi. Hay khi chúng ta hô to trong sa mạc, tiếng vọng sẽ vọng lại chính ta.
Nỗi cô độc và những ma sống, ma chết hiện hình
VW: Thầy ở đây một mình, thầy có buồn không?
TĐP: Buồn thì không. Tu đâu có thấy buồn. Chỉ thấy cô đơn, cô độc, độc hành. Nhiều lúc đó, khi thấy lòng cô đơn, tôi càng gặm nhấm và hiểu nỗi cô đơn của đức Phật tu hành trước đây. Ngài cũng đã một mình chiến đấu ở rừng hoang, với thú dữ,… bằng bản năng của mình, ngài làm được. Ngài nói rằng, không có con đường trải thảm đỏ đi đến hạnh phúc. Con đường đến hạnh phúc phải gạn lọc, từ tinh thần tới vật chất. Những tham sân si sẽ nổi lên. Phải chiến đấu với nỗi cô đơn. Phải độc hành để đi, để thăng hoa trên đường tu. Ở đây, tôi không nghe tiếng xô bồ, mắt không nhìn thấy hình ảnh của cuộc đời nhiều. Aên uống qua loa, đạm bạc. Thân lúc nào cũng thanh tịnh.
VW: Nhiều ngôi chùa ở Little Saigon, đông đảo Phật tử đến cuối tuần, dịp tết, rằm, rất vui,… thầy thấy rằng tu ở nơi đông vui tốt hơn hay chỗ vắng vẻ tốt hơn?
TĐP: Tôi không dám phán xét ai. Mỗi vị có cách hành đạo riêng. Tôi có lẽ vì dại nên tìm nơi vắng vẻ, người khôn người tìm chốn lao xao… (cười).
VW: Nhưng theo thời gian, biết đâu thiền viện Chân Nguyên sẽ đông khách thập phương nghe tin, kéo nhau đến chiêm ngưỡng các hiện tượng lạ xảy ra ở đây, lúc đó thầy sẽ ở lại hay tiếp tục tìm nơi vắng vẻ?
TĐP: Năm nay tôi đã 65 tuổi. Cũng là cao tuổi rồi, không biết tới lúc anh nói, tôi sẽ ra sao (cười). Hạnh nguyện tu hành của tôi không biết bao lâu. Tôi luôn luôn nhớ ơn công sức của bá tánh giúp tôi tu hành, mỗi ngày ăn cơm của họ, tôi đều nghĩ tới ơn của họ và cố gắng tu tập. Chuyện thành hay bại, không quan trọng. Tôi có niềm tin bất thối là thiền viện sẽ thành tựu. Hiện tượng Phật Bà Quán Aâm hiện ra là một điều lạ rất đáng suy nghĩ.
VW: Ở đây một mình, có bao giờ thầy bị trộm, cướp đến phá rối hay không?
TĐP: Có. Một lần. Ở gần đây, tôi nghe nói có một trại tù, tôi không biết tên. Một lần đó, có một người trốn tù, nhảy qua hàng rào, vào trong thiền viện định ăn cắp xe của tôi. Thấy động, tôi đi ra xem tình hình thế nào. Chắc cũng nhờ chư thiên chư Phật độ trì. Tôi nói, “Thầy chỉ có một cái xe, để đi chợ mua đồ ăn. Nếu quí vị cần, tôi xin đưa ra bến xe bus, và xin tặng cho $100 để đi.” Ông ta suy nghĩ một lúc, rồi đồng ý để tôi đưa ra bến xe. Nhất định không lấy tiền, chỉ chào rồi đi. Ông ta là một người Mỹ, mũi cao, mắt sâu.
VW: Ngoài ra, khách vãng lai có ghé thăm thiền viện?
TĐP: Trước khi Phật Bà hiện ra, cả tháng không có ai đến. Sau đó, báo chí có viết về nơi này, hầu như tuần nào cũng có người lên thăm thầy, mang thêm thức ăn, đồ uống cho thầy. Nhiều người từ khắp nơi đến, từ San Diego, Santa Ana, Las Vegas v.v. Họ giúp tôi tài chánh đào giếng, mua máy phát điện v.v.
VW: Thầy tự nấu ăn?
TĐP: Cách đây độ 10 phút lái xe, có ngôi chợ Mỹ, có đầy đủ đậu hũ, rau trái. Tôi mua về ăn qua loa.
VW: Công việc chùa đang xây dựng khá nặng nề, thầy cần có người giúp chứ?
TĐP: Cũng may là tôi có sức khỏe, ơn trên cho tôi khá dồi dào. Tôi thuê xe cày, cứ thế mà cày, làm tất cả.
VW: So với ở Việt Nam, ở Mỹ tu hành khác nhau thế nào? Nơi nào dễ tu hành hơn?
TĐP: Tuy ở Việt Nam đời sống có khó khăn hơn. Nhưng tôi thấy người ta có niềm tin hơn. Bên này nhiều người bận rộn, không có thời gian nhiều để chăm lo đời sống tín ngưỡng của mình. Các vấn đề giao tế, dân sự ở Việt Nam cũng dễ hơn. Ở đây đi vào đời sống vật chất quá, vấn đề tôn giáo bị lãng quên, không được chú trọng nhiều.
VW: Sống một mình ở chốn hoang vu, thầy có thấy những hiện tượng ma quái hiện ra hay không?
TĐP: Ma quỉ hiện ra nhiều lắm. Anh phải biết là chùa thường cúng cho cô hồn, người chết oan khuất, không nơi nương tựa, nên rất nhiều hồn ma xuất hiện ở nơi đây. Ngoài con đường kia, nhiều người bị đụng xe chết bất đắc kỳ tử, khi chết đột ngột quá, không biết đường về, cứ lang thang vất vưởng. Vong linh oan khuất nhiều lắm. Nói thế này, nhiều buổi chiều bận rộn, chưa kịp cúng, đám hồn ma hiện ra nói, “Thầy ơi, bọn con đói, thầy chưa cho ăn…”
VW: Họ là những hồn oan nhiều chủng tộc khác nhau?
TĐP: Đúng. Khi tôi thấy Mỹ đen, khi thấy Mỹ trắng, khi thấy Mễ. Có lúc tôi thấy hồn ma bị nát bấy cái đầu vì bị tai nạn xe. Chính tôi có lần phải xin: “Đừng cho thầy thấy, xin cứ nói, báo cho thầy biết là được rồi, đừng cho thấy hình tướng máu me, thầy thấy nhiều, bị yên trí những hình ảnh đó không tốt, mặc dù thầy không sợ… Nếu các con làm thầy lo lắng, không cúng được, các con đói cho mà xem.” Tôi phải nói như vậy.
VW: Những hồn oan này về thường xuyên?
TĐP: Nếu tôi cúng đều đặn, không có hồn nào về. Nếu quên cúng, là hiện về liền. Những hồn oan này cũng giúp phần nào cho tôi. Tôi biết. Có nhiều trở ngại xảy ra, có họ bảo vệ phần nào. Tôi kể một câu chuyện thế này. Một lần tôi thử “thách thức” họ, tôi nói, “Thầy cúng cho các con nhiều rồi, hôm nay hết gạo nấu cơm, nếu các con kiếm gạo đâu được cho thầy nấu, thử coi.” Thế là đúng 10 giờ sáng, có người mang gạo tới. Họ bảo vệ cho thầy như vậy đó. Có nhiều khi tôi đi ra ngoài vào ban đêm, tôi thấy nhiều bóng đen cũng đi đến phía tôi một cách vội vã, tôi làm nghiêm, nói đừng đùa thầy, bóng đen biến mất.
VW: Có hiện tượng nào lạ lùng, đòi hỏi những thứ khác ngoài chuyện ăn uống hay không?
TĐP: Đa số không đòi hỏi gì hết. Chỉ muốn ăn. Thầy cầu xin cho họ, mong họ đừng bám víu vào những nơi tạm bợ này. Thầy cầu xin cho vong linh họ sớm đầu thai, đi qua cảnh giới khác bớt đau đớn, đau khổ hơn. Hay trở về làm kiếp con người. Tôi nói nếu họ không đi đâu được, cứ về lại thiền viện để nương tựa, nghe kinh nghe kệ. Nhờ các vị bồ tát độ trì cho bớt khổ.
VW: Có vong linh người Việt nào về cho thầy biết tâm nguyện của họ hay không?
TĐP: Có. Gần đây có một cái vong đàn ông, về xin thầy dạy cho ngồi thiền. Vong này báo mộng cho tôi biết rằng khi còn sống, rất thích thiền. Bây giờ hồn chết, chưa siêu thoát, muốn học thiền. Xin tôi học thiền. Khi tôi tỉnh dậy, tôi chỉ nghĩ đó là giấc mơ như những giấc mơ khác. Nhưng một lần, buổi đêm, khi tôi đang ngồi thiền, nghe thấy tiếng rọt rẹt gần tôi. Trong nhà đóng kín cửa, không có ai, không có chút gió nào, tiếng động rọt rẹt gần đó là hồn ma muốn xin thiền. Tôi lên tiếng nói: “Nếu hồn muốn học thiền, ngồi im, đừng cục cựa như vậy là không phải ngồi thiền.” Khi tôi nói như vậy, tiếng động yên.
VW: Vì sao thầy biết vong này người Việt?
TĐP: Vong này nói tiếng Việt, mặt bầu bĩnh, phúc hậu, tướng tốt lắm. Hồn này mới xuất hiện gần đây, độ vài ba tháng. Mỗi khi thầy ngồi thiền, để cho cái gối gần đó, dạy cho ông ta ngồi thiền. Có lúc nghe rột rẹt, tôi đều nhắc, tiếng động im. Lạ lắm.
(Câu chuyện với thầy Thích Đăng Pháp còn khá nhiều chi tiết lý thú, liên quan đến những hiện tượng siêu nhiên, thần bí mà thầy kể lại giọng thản nhiên, không có gì lạ lùng. Trong vòng 2 tiếng đến với thiền viện Chân Nguyên giữa sa mạc hoang vu, nóng hoa cả mắt, bỗng thấy chốn này không phải là nơi bình thường. Chính thầy Đăng Pháp cũng xác nhận rằng, một vị cao tăng người Tây Tạng đến thăm thiền viện, cho biết rằng khu đất của thiền viện nằm trên một hàm rồng, và cách đó không xa về hướng Tây bên kia xa lộ 395 là đất thuộc đuôi rồng. Vị cao tăng đó được một vị Phật tử ở San Diego mua cho 5 mẫu đất cúng dường, giúp vị cao tăng Tây Tạng dựng một tịnh xá để tu tập, trong tương lai sẽ xây chùa.
Đường tu hành khá gian nan, chuyện xây chùa, tạo nghiệp tạo đức cũng trùng trùng điệp điệp, không biết đâu mà lường. Chuyện Phật bà hiện ra, rồi con chó bỏ chủ, chuyện ma quỉ hiện đến xin ăn, đòi tập thiền,… tất cả như những vòng tròn xoáy sâu vào sự tò mò của tôi. Thầy Thích Đăng Pháp tiễn đoàn phóng viên, nghệ sĩ ra xe, còn nhắn nhủ, rủ rê rằng: “Ở đây vào những đêm trăng, đêm rằm, cảnh vật u huyền, đẹp không tả được, nếu có duyên, muốn ngắm trăng thanh, soi lòng mình, quí vị có thể trở lại…” Lời mời thật hấp dẫn. Sống lâu ở thành phố, hơn mấy chục năm chưa bao giờ thưởng thức ánh trăng, tại sao không làm một chuyến thứ hai, mang túi ngủ ra ngoài trời, giữa sa mạc để ngắm trăng, để nghe oan hồn rục rịch tìm về cõi dương?).

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-10-2008 at 10:07 AM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-10-2008 , 09:59 AM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Cali: Linh Ứng Ngũ Sắc Hào Quang Đức Quán Thế Âm
http://www.*******.com/?ppid=45&pid=45&nid=119617

PHỔ NGHĨA . Việt Báo Thứ Bảy, 12/8/2007, 12:02:00 AM


(LGT: Bản tin sau đây của Huynh Trưởng GDDPT Phổ Nghĩa viết, kể lại hiện tượng hào quang đột nhiên rực sáng nơi tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hôm 25-11-2007, tức ngày Lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát của Thiền Viện Chân Nguyên ở Nam California.)


Hôm ấy là ngày Chủ Nhật 25-11-2007 nhằm ngày 16 tháng 10AL năm Đinh Hợi, chúng tôi một nhóm Phật tử tại Orange County đi dự Lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát của Thiền Viện Chân Nguyên ở thành phố Adelanto, chúng tôi rời nhà vào lúc 6 giờ sáng và đến Thiền Viện lúc 7 giờ 30 sáng, trời se buốt lạnh, nhìn mặt hồ dưới chân tượng Quán Thế Âm đóng một lớp đá trong và mỏng độ ¼ inches, chúng tôi ai cũng mặc áo khoát thật dầy, đội nón ấm phủ kín 2 tai cho đở lạnh.

Vừa mở cửa bước xuống xe làm vài động tác cho giãn gân cốt sau một chuyến hành trình gần 2 tiếng đồng hồ thì bổng có một người đàn bà Mỹ bước nhanh đến chổ chúng tôi tay chỉ trên tượng Quán Âm và chào hỏi: "Good morning! Rainbow! Look! Wonderful rainbow!", sau này mới biết cô ta là một nữ phóng viên báo Daily Press của địa phương. Cả bọn chúng tôi ngước nhìn lên trời về hướng Tôn tượng thì quả thực ai ai cũng kinh ngạc khi nhìn thấy một hiện tượng vô tiền khoáng hậu, một vầng hào quang 5 màu ngay trên đỉnh đầu của tượng Quán Thế Âm. Wow! Lặng người một giây, tôi thầm nghĩ đây là mơ hay thực vì tôi chỉ biết và thấy hào quang qua kinh sách, đây là lần đầu tiên chúng tôi được chứng kiến tận mắt.Buổi sáng tinh sương, trời yên , gió lặng, vầng hào quang ngũ sắc có những tia sáng có màu như từ đỉnh của Tôn tượng Quán Thế Âm tủa ra. Nền trời trong xanh, có những cuộn mây trắng bạc lan tỏa tạo thành một bức tranh thanh thoát, thoạt nhìn chắc chắn không phải là "bức tranh vân cẩu" mà càng nhìn càng trông lộ ra hình rồng, những vảy rồng uyển chuyển chầm chậm lướt qua sau những tia hào quang sáng chói, thật là một sự trùng hợp huyền diệu trong câu kinh:

[IMG]http://www.*******.com/Images/Upload/2007_12/hts_20071208_1.jpg[/IMG]
Hình do anh Nguyên Tâm Lê Văn Tiến chụp lúc 7:30 giờ sáng ngày 25-11-2007, nhằm ngày 16-10 âm lịch năm Đinh Hợi, nhân lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát tại Thiền Viện Chân Nguyên, Adelanto, California

"Quyện thành mây báu kiết tường,

Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành…"

Chúng tôi ai cũng tất bật chạy lại xe để lấy máy ảnh. Anh Nguyên Tâm, một caraman chuyên nghiệp mà cũng là người kể chuyện dí dỏm hay nhất của nhóm chúng tôi, ngắm, chỉnh, bấm máy lia lịa đủ mọi góc cạnh của vầng hào quang Quán Thế Âm. Riêng chị Minh Thanh dáng người nhỏ nhắn nhưng cũng tếu không kém, khi vừa bấm máy xong thì quỳ xuống tại chổ xì xụp lạy lia lịa không biết bao nhiêu lạy miệng lâm râm khấn "Nam-Mô linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ-Tát…." Các chị khác thì đứng chấp tay lâm râm khấn nguyện. Chị Minh Thanh nói với giọng cãm động: "Quả thực trong đời em chưa bao giờ nhìn thấy hào quang của Phật như hôm nay, chắc đây là lần đầu mà cũng là lần cuối, em đã mãn nguyện quá rồi. Nam-Mô Quan Thế Âm Bồ-Tát, con cám ơn Mẹ đã cho con gặp Mẹ hôm nay." Anh Nguyên Tâm liền ngắt lời chị: "Làm như có một mình chị là được nhìn Mẹ Quán Thế Âm, bộ chị quên đám lon ton theo chị sao, "hữu duyên thiên lý năng tao ngộ"nên cả nhóm mới được gặp đấy?"

Cả bọn chúng tôi ai cũng nức lòng sung sướng mãn nguyện, tôi suy nghĩ quả thực đây là điềm lành, đâu phải ai cũng được nhìn thấy hay ai cũng gặp được hào quang thực sự nên tôi mới góp ý: "Đúng vậy quý vị ạ, các anh chị thấy đó, chúng ta đều là những người thiện tâm, có duyên lành, có phước lớn nên mới được dịp lên đây, gặp Mẹ Quan Thế Âm và tận mắt thấy hào quang của Ngài thị hiện!"

LỄ KHÁNH THÀNH TÔN TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM

Chương trình buổi lễ dự định khai mạc lúc 10 giờ sáng nhưng vì còn nhiều phái đoàn Chư Tôn Túc và Phật tử còn đang trên đường tới nên Thầy trụ trì quyết định cho khai mạc trể 30 phút.

Đúng 10 giờ 30 chương trình bắt đầu, 2 đạo hữu Minh Khai và Phổ Nghĩa tát bạch cung thỉnh Hòa Thượng chứng minh, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni quang lâm lễ đài, chư Phật tử đứng thành hàng trước tôn tượng từ Tổ Đình dẫn dài đến Hội trường. Sau đó là phần nghi thức khai mạc với chào cờ cử bài Quốc ca Hoakỳ, Quốc thiều Việt Nam Cộng Hòa, Phật giáo kỳ, Phút Nhập Từ Bi Quán.

Tiếp theo là phần giới thiệu thành phần Chư Tôn Đức Tăng Ni, quan khách, đại diện chính quyền địa phương và gần 500 đồng hương và đồng bào Phật tử vân tập về tham dự lễ khánh thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Đạo Quang, Viện chủ chùa Quan Âm, Garden Grove, phần chủ lễ do Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, Viện chủ chùa Bảo Quang, Santa Ana và sự hiện diện các chư Tăng Ni đến từ các chùa như: Tổ Đình Minh Đăng Quang; Tịnh Thất Chân Như, San Diego; Thiền viện Du Mục, Chùa Bát Nhã Santa Ana, chùa Quan Âm Garden Grove, chùa Huệ Quang Westminster, Đạo tràng Pháp Hoa Orange County, chùa Bảo Quang, chùa Phật Đà. Đặc biệt có Tỳ Kheo Thích Linh Quang trú xứ chùa Linh Sơn đến từ đất Phật Lâm Tỳ Ni, Népal; Ni sư Thích Trí Thuận trú xứ chùa Linh Sơn Kushenaga đến từ Ấn Độ; Đại Đức Thích Như Tâm trú xứ chùa Quảng Hương, đến từ Đan Mạch; Đại Đức Thích Hữu Nguyện, trú xứ chùa An Lạc đến từ Texas.

Trong thành phần quan khách chúng tôi thấy có sự hiện diện của bà Tracy, Đại diện chính quyền địa phương; cô Rachel Byrd, Nữ ký giả tờ Daily Press Adelanto, Bà Young Lee đại diện Ông bà Chan Koon Tin người đã phát tâm cúng dường Tôn Tượng Quán Thế Âm đến từ Malaysia, Ông bà Lucas Gary, giám đốc công ty GM. Concret Inc., Ông bà Kiến trúc sư Francis Phát Ong, người vẽ thiết kế đồ họa cho thiền viện Chân Nguyên, Bác sỉ Mạc Biền giám đốc công ty thiết bi Y khoa Laiser MB. Inc. và phu nhân là Bác sĩ Quách Đào, Bác sỉ Võ thanh Thời, Cố vấn Phật Giáo Hoà Hảo; ông Huỳnh Kim, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo trung ương; ông Xuân Bình Vương, chủ tịch Hội Triều Châu, Los Angeles; Ông So Sao Han, Hội trưởng Hội Lào Hoa, Los Angeles; Ông Lê Huỳnh, Đài Việt TV USA; Ông Huy Nguyễn, Việt Báo Kinh Tế; Ông Lý Kiến Trúc, Nguyệt San Văn Hóa; Ông Bill Wu, Hội trưởng Hội Hải Nam; Ông Lê Thanh, Tổng Thư Ký của Linh Sơn Foundation California; Hội Cư sỉ Orange County và rất đông đồng bào Phật tử đến từ San José, San Diego, San Bernadino, El Monte, Riverside, Los Angeles và Orange County.

Thiền viện còn có sự giúp sức đắc lực của các Anh chị em Huynh trưởng của các Gia Đình Phật tử chùa Phổ Đà, các Huynh trưởng, Thầy cô giáo và Phụ huynh Đoàn sinh Gia Đình Phật tử Chánh Pháp, Garden Grove .

Sau phần giới thiệu thành phần tham dự là lời chào mừng và cảm ơn quý Chư Tôn Đức Tăng Ni, quý quan khách và đồng hương phật tử của Thượng Tọa Thích Đăng Pháp, viện chủ Thiền viện Chân Nguyên. Trong phần này Thượng Tọa cũng giới thiệu sơ vài nét về sự hình thành của Thiền viện Chân Nguyên, được biết Thiền viện tọa lạc trên một khu đất rộng 15 mẫu. Riêng về Tôn tượng Quán Thế Âm được đặt ngay cổng chính lối vào Thiền viện, tượng cao gần 12 mét nặng 80 tấn do một phật tử người Mã lai phát tâm cúng dường. Thượng Tọa Viện chủ cho biết sẽ khởi công xây dựng Thiền Viện vào năm 2008. Sau đó Thượng Tọa cảm ơn các cơ quan chính quyền địa phương, quý Chư Tôn Đức Tăng Ni cùng các cơ quan truyền thông , quý đồng hương và đồng bào phật tử đến tham dự buổi lễ Khánh thành này.

Buổi lễ chánh thức bắt đầu với phần cung thỉnh Hòa Thượng chứng minh quang lâm lễ đài niệm hương, 3 hồi chuông trống Bát Nhã nổi lên, tiếp theo là Thượng Tọa Thích Quảng Thanh chủ lễ cùng toàn thể chư Phật tử Trì tụng Chú Đại Bi, Bát Nhã Tâm Kinh, sau đó là 12 lời Đại Nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tiếp theo là phần đi kinh hành quanh Tôn Tượng 3 vòng, toàn thể đều tụng niệm : " Nam Mô Linh Cãm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát", sau phần nghi lễ tất cả trở lại Hội trường.

Đại diện phái đoàn Malaysia lên phát biểu cảm tưởng, đại diện Công ty xây dựng GM. Concret Inc. lên phát biểu. Phần tri ân trao quà lưu niệm, tiếp theo là phần ban Đạo từ của Hòa Thượng chứng minh, nhưng vì sức khoẻ nên Hòa Thượng trao quyền lại cho Thượng Tọa Thích Quảng Thanh ca ngợi công đức mà Thượng Tọa trụ trì Thiền Viện đã cố gắng thực hiện trong những năm qua, Thượng Tọa cũng không quên nhắc đến một hiện tượng linh ứng và mầu nhiệm là: "Sự thị hiện của Bồ Tát Quán Thế Âm qua ánh hào quang ngũ sắc rõ ràng trước sự chứng kiến của gần 500 Chư Tôn Túc và đồng bào Phật Tử vào buổi sáng sớm trong ngày Lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm hôm nay là một minh chứng hùng hồn và lý giải điều mà trong kinh có nói "Cảm ứng đạo giao nan tư nghì". Thượng Tọa cũng không quên nhắc nhở là: "Vì sự linh thiêng của Ngài nên khi ta quán tưởng đến Ngài là Ngài đến bên ta để cứu khổ, vì vậy chúng ta phải luôn luôn nhớ đến Ngài và nguyện "Nam Mô Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát". Với cảm niệm của một cao Tăng, Thầy Quảng Thanh cũng cho biết một điều linh ứng khác là: "Nơi nào có Tôn Tượng Quán Thế Âm dựng lên và được Ngài thị hiện thì nơi ấy chẳng những là một vùng đất thiêng mà còn làm cho việc "Kiến lập Đạo tràng, Trùng hưng Tam Bảo" nhanh chóng thành tựu viên mãn. Nguyện cầu ngôi Tam Bảo của Thiền Viện Chân Nguyên sở cầu như nguyện."

Kế đến là phần phát biểu cảm tưởng của một phật tử, sau cùng là lời cảm tạ của Ban Tổ Chức và phần thọ trai do Thiền viện khoản đãi với cơm chay rất ngon miệng. Cũng nên nhắc là Thiền Viện được tọa lạc tại:

Số 20635 Hwy US-395.

P.O. Box 248.

Adelanto, CA. 92301

Tel: ( 714 ) 656-5004 -Fax: ( 714 ) 775-6707 - Email: tvchannguyen@yahoo.com

Buổi lễ Khánh thành được kéo dài trong cả ngày vì nhiều Phật tử đến trễ. Ngay cả những ngày hôm sau, rất đông đảo đồng bào phật tử từ phương xa nghe tiếng có hào quang thị hiện của Quán Thế Âm cũng liên tục đến Thiền Viện để chiêm bái.

NHỮNG ĐIỀU MẦU NHIỆM:

- Lễ Thượng Tôn Tượng Quán Thế Âm của Thiền viện Chân Nguyên được tổ chức vào ngày Chủ nhật 21 tháng 10 năm 2007 nhằm ngày 11 tháng 9AL năm Đinh Hợi dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Đạo Quang, Viện chủ chùa Quan Âm, Garden Grove cùng quý Chư Tôn Túc của chùa và các Phật tử từ San Diego, Riverside, El Monte , San Bernadino, Los Angeles và Orange County. Thầy Thích Đăng Pháp , Viện chủ Thiền viện cho biết trong ngày thứ Bảy 20-10-2007, một trận cuồng phong ào ạt thổi đến, giông gió cuốn bụi bay mờ mịt, chiều tối đêm đó lại có sấm chớp vang rền. Thầy sợ ngày mai trời mưa sẽ rất trở ngại cho việc dựng Tôn Tượng lên bệ bêtông, nhưng rất may là dù có sấm sét nhưng chỉ mưa lâm râm vào buổi tối. Thầy nghĩ phải chăng đây là điềm lành báo hiệu Chư Thần và Chư Hộ Pháp các Ngài đến để dọn dẹp ô trược và làm thanh khiết không gian của Thiền Viện, chuẩn bị ngày mai Ngài Quán Thế Âm về và Tôn Tượng được ngự trị trên vùng đất linh thiêng tại Thiền viện Chân Nguyên này.

- Chúng tôi được sự phân công của Thầy Viện chủ Thiền viện Chân Nguyên là phụ trách phần trang trí lễ đài, tôi thỉnh ý Thầy là sẽ làm cổng chào vào Thiền viện theo cổng trại hè La Hầu La của Gia Đình Phật Tử Chánh Pháp trong mỗi kỳ trại Hè hằng năm bởi vì chúng tôi được biết Thầy Thích Đăng Pháp nay là Viện chủ Thiền viện, xưa kia Thầy vốn cũng là một Huynh Trưởng của Gia Đình Phật Tử Quảng Thiện ở Quảng Trị nên chúng tôi muốn gợi lại một hình ảnh thân thương đã một thời từng cầm còi Huynh trưởng và từng sinh hoạt như anh em chúng tôi hiện tại nên Thầy đồng ý với đề nghị của anh em chúng tôi ngay. Thế là cổng chào của Thiền viện vẫn giữ nguyên hình thức cổng trại Bi-Trí-Dũng của trại Hè La Hầu La của GDDPT/ Chánh Pháp chúng tôi.

Hồi đầu tuần chúng tôi theo dõi tin thời tiết trong tuần cho hay là sẽ có gió Santa Ana vào 3 ngày thứ Năm, thứ Sáu và gió giật mạnh nhất và sẽ dứt vào tối ngày thứ Bảy, cả bọn anh em Huynh trưởng chúng tôi hơi lo vì thất vọng bởi gió thế này thì không cách chi che lều trại và trang trí lễ đài dự trù mọi chuyện phải hoàn tất vào chiều thứ bảy. Sáng ngày thứ Sáu chúng tôi có mặt tại Thiền viện lúc 11 giờ, xuống xe định bước vào Tổ Đình chào Thầy nhưng không thấy Thầy đâu cả, nhìn ra phía xa thì thấy một người lái xe ủi đất mặc áo nâu sòng đội mũ len che kín 2 tai ngồi chễm chệ trên xe ủi đất phon phon chạy thẳng vào nơi chúng tôi, gió giật mạnh bụi mù bay ngộp trời, dừng xe và nhảy phóc xuống mò hôi nhễ nhại, à thì ra Thầy Viện chủ 3 ngày nay một mình thầy mướn xe ủi đất tự thầy lái ban bằng 15 mẫu đất của chùa chuẫn bị làm bải đậu xe cho ngày lễ Khánh thành. Gặp chúng tôi Thầy mừng vô cùng vì chúng tôi đúng hẹn lên để họp bàn chương trình lần cuối và trang trí lễ đài.

Hình ảnh Thầy trên tay lái xe ủi đất làm tôi một thoáng suy nghĩ, quả thật trên vùng đất sa mạc này, Thầy đã bỏ ra biết bao công sức và tâm huyết, chịu đựng cái nắng gió bỏng da của ban ngày, đêm về thì giá căm lạnh buốt đến độ đông đá, mà thầy lại chỉ ở mobilhome, tuy củ kỷ nhưng có chổ làm Tổ Đình để làm chánh điện thờ Phật. Một nơi chưa có điện nước, mọi mặt khó khăn thiếu thốn so với cái tuổi già gần 65 quả là một thử thách vô cùng to lớn Thầy vẫn vui vẻ và điềm nhiên tự tại với cảnh tuy hoang sơ sa mạc nhưng thanh tịnh này! Thanh tịnh đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì vùng sa mạc mênh mông này không có nhà dân, không một bóng người vì toàn cảnh chỉ có một ngôi Tôn Tượng Quán Thế Âm cao gần 12 mét sừng sửng bên cạnh một mobilhome củ kỷ ọp ẹp thiếu mọi phương tiện. Nhưng chúng tôi tin chắc là vài năm nữa thôi, nếu được sự trợ duyên của chư Phật tử xa gần khắp nơi và được sự phù trợ của Mẹ Quán Thế Âm , ngôi Tam Bảo chắc chắn sẽ được hình thành với vẻ hoành tráng mang đậm nét Phật Giáo và Văn Hóa Dân Tộc, sẽ biến đổi một vùng hoang vu vắng vẻ của sa mạc thành một nơi tấp nập khách thập phương đến viếng vùng đất thiêng đầy mầu nhiệm. Biết đâu nơi đây sẽ là một trung tâm Phật Giáo trong tương lai.

Sau khi chào hỏi Thầy thì chúng tôi khởi sự bắt tay ngay, một số anh em lo dưng cổng chào người thì lo đóng cọc sắt sẳn để dựng cờ, một số khác thì lo dựng lều trại, ngoài ra để tránh trường hợp đi lạc chúng tôi phải cắm cọc dựng cờ Phật Giáo ngoài xa lộ hơn nữa miles dẫn vào Thiền viện. Hôm nay thứ sáu gió Santa Ana thổi cũng khá mạnh nên khi dựng lều gần xong thì bị gió giật bung cả chân lều, bụi sa mạc bay mù mịt, 6 anh em chúng tôi mỗi người ôm một cột cố giữ chân lều nhưng mái che bị giật bung, chúng tôi đành phải hạ lều chờ im gió tính sau, chúng tôi chỉ dựng cổng chào và đóng cọc sẳn chứ không thể trang trí banner cờ xí cho lễ đài chờ đến yên gió là phải hết ngày thứ bảy như dự báo, như vậy chỉ còn có cách là sáng chủ nhật phải lên thật sớm để hoàn tất mọi việc trước giờ khai mạc.

Trời đã về chiều, anh em chúng tôi đành phải cuốn gói trở về Orange County, càng về chiều, gió giật càng mạnh, chúng tôi chia tay Thầy nhưng cả thầy trò chúng tôi không dấu nổi lo lắng trong lòng vì ngày mai thứ Bảy phải chờ đợi dứt cơn gió Santa Ana vào cuối ngày. Suốt đêm đó tôi bồn chồn lo lắng và quyết định sáng thứ bảy tôi sẽ chở đồ trang trí bàn thờ bằng mọi giá, mãi đến gần sáng mới chợp mắt được.

Sáng thứ Bảy, lúc tôi còn say ngủ vì đêm qua gần như thức trắng, 8 giờ sáng, tiếng chuông điện thoại reo , linh tính tôi nghĩ chắc Thầy Đăng Pháp gọi, tôi tung mền nghe điện thoại, quả thực không sai, Thầy cho biết là từ lúc Thầy dậy công phu đến giờ tự dưng gió im bặt, trời trong. Thầy nói đêm qua Thầy cầu nguyện Ngài Quán Thế Âm, quả thực từ sáng sớm tới giờ hầu như không còn gió nữa, thầy gọi tôi mang bàn ghế và đồ trang trí lễ đài lên. Thế là cũng đúng như ý nguyện của tôi là ngày nay, thứ Bảy, bằng mọi giá tôi phải lên Thiền viện để hoàn tất công việc chuẩn bị cho ngày mai là Lễ Khánh Thành.

Tôi chở Phước là đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Chánh Pháp mà cũng là con của anh Hai tôi, 2 chú cháu tôi có mặt tại Thiền Viện lúc 12 giờ trưa. Trời trong, gió lặng, gặp tôi cả Thầy trò chúng tôi vui mừng quá đổi vì hôm nay đẹp trời để chúng tôi hoàn thành công việc cuối cùng là thiết kế lễ đài, trang hoàng bàn thờ chánh trong hội trường, thực ra là lều lớn có sức chứa 450 chổ ngồi mà Thầy mướn công ty Mỷ họ cũng đang thiết kế, chúng tôi treo banner cờ xí chung quanh Tôn Tượng Quan Thế Âm và cờ phướng chung quanh lễ đài dẫn dài ra cổng chào và cắm cờ ngoài xa lộ dẫn vào Thiền viện. Mọi việc đều được hoàn tất vào lúc sáu giờ chiều. Lúc chia tay Thầy, chúng tôi lên xe về Orange County, Thầy vui mừng nói với chúng tôi:"Quả thực là điều mầu nhiệm vì gió Santa Ana đã ngưng sớm trước một ngày để cho chúng ta hoàn tất được công việc chuẩn bị cho buổi Lễ Khánh Thành ngày mai."

BÊN LỀ BUỔI LỄ KHÁNH THÀNH:

- Thầy trụ trì kể lại là sau khi Thầy ngồi thiền và công phu xong lúc 4 giờ 30 sáng ngày chủ nhật, Thầy bước ra ngoài để thắp nhang ngước nhìn lên bầu trời , Thầy thấy hào quang ngũ sắc trên nền trời ngay đỉnh đầu của Tôn tượng Quán Thế Âm, Thầy quỳ dưới chân tượng lễ lạy 3 lạy rồi bật khóc vì rõ ràng là Mẹ Quán Thế Âm đã thị hiện ngay trong ngày làm Lễ Khánh Thành Tôn tượng tại vùng đất thiêng này, Thầy tâm sự với chúng tôi: "Thực quá đổi sung sướng vì Mẹ Quán Thế Âm đã linh ứng thị hiện ngay trong ngày lễ Khánh Thành Tôn Tượng Ngài tại Thiền Viện này, như vậy là Ngài và các Chư Thiên đã về đây rồi!"

- Một nam cư sĩ ở Long Beach hôm đó ở nhà chỉ để bà vợ đi dự lễ trên Thiền Viện, khi bà vợ về kể lại chuyện thấy hào quang của Quán Thế Âm thị hiện gần 500 người đi dự cũng đều trông thấy tận mắt, tức quá ông ta liền lái xe lên thẳng Thiền viện, sau khi nghe Thầy Viện chủ kể lại chuyện Quán Thế Âm thị hiện với vầng hào quang ngũ sắc, ông ta lộ vẻ tiếc nuối và nói: "Thưa thầy con vô cùng hối tiếc và ân hận vì không đủ phước duyên, con xin thành tâm sám hối cùng Mẹ Quán Âm và con hứa là sẽ lên đây thường xuyên."

- Rất nhiều phật tử ở xa, hôm sau, sau khi nghe kể chuyện có hào quang thị hiện tại Thiền Viện Chân Nguyên, họ liền gọi đến Thầy để xin được cúng dường. Chủ nhà hàng BRODA ở đường Brookhust, hứa cúng dường tượng Quán Âm và tượng Địa Tạng bằng đồng đặt trong chánh điện khi ngôi chùa hoàn thành . Phật tử Quảng Thanh ở San Diego xin nguyện cúng dường một tượng Phật Thích Ca cho chánh điện cao 2 mét chưa kể tòa sen theo dáng của tượng Thích Ca Phật Đài ở Vủng Tàu. Một phật tử khác đề nghị là sẽ cúng dường làm một khu công viên chung quanh Tôn tượng. Có phật tử khác ở L.A. hứa cúng dường 18 vị A La Hán cũng bằng đá trắng mỗi tượng có chiều cao 1mét 80 đặt hai bên đường dẫn từ cổng vào đến chân Tôn tượng Quán Thế Âm. Một nhóm Phật tử ở Las Vegas hứa vận động để dẫn điện, nước cúng dường Thiền Viện.

- Theo lời kể của một vị cao tăng người Tây Tạng biết phong thủy thì Ngài cho rằng Thiền viện Chân Nguyên nằm trên hàm rồng và cách đó không xa về hướng Tây bên kia xa lộ 395 là đất thuộc đuôi rồng và có một phật tử ở San Diego mua 5 mẫu đất cúng dường cho vị cao tăng Tây Tạng nầy và một chủ nhà hàng ở O.C. sẽ cúng dường việc xây ngôi chùa Tây tạng, chắc chắn trong tương lai khu vực thành phố Adelanto này sẽ phát triển rất nhanh .

- Một phật tử ở Garden Grove trong nhóm chúng tôi trong khi tôi đang chụp hình thì anh ta nói như một nhà khoa học: "Cái này có gì đâu lạ, hiện tượng cầu vòng do khúc xạ ánh sáng với hơi nước thôi." Tôi hỏi lại: " Vậy lúc mới xãy ra vòng ngũ sắc mà anh cho là cầu vòng thì từ lúc 4 giờ30 sáng đã có hiện tượng này rồi thì làm gì có ánh sáng khi mặt trời chưa mọc?"Anh ta cười trừ còn xuống giọng với tôi : "Thôi anh làm ơn chụp cho tôi 1 tấm làm kỷ niệm" Tôi vui vẻ bấm cho anh một tấm. Nhưng lạ làm sao khi tôi và ảnh chăm chú xem hình tôi vừa chụp cho anh ta thì chỉ là cái bóng mờ trong màn hình của máy, anh ta xin cho tôi chụp lại anh ta dùm một tấm nữa, tôi sẳn sàng nhưng điều kỳ lạ là tấm hình thứ hai chụp anh ta cũng là cái bóng mờ đứng dưới Tôn tượng không nhìn rõ mặt. Tôi nói nửa đùa nửa thật với anh ta là: " Tại khi nảy anh không tin đó là hào quang của chư Phật thị hiện mà anh cho là hiện tượng khúc xạ của ánh sáng nên anh bị Ngài quở", anh nhìn tôi lộ vẻ lo lắng, tôi nói tiếp : "Anh nên quỳ lạy sám hối với Ngài đi hi vọng anh sẽ được hình", quả thực sau khi cùng bà vợ lạy 3 lạy trước Tôn tượng Quán Thế Âm, sau đó tôi chụp lại cho cả 2 vợ chồng anh ta thì rõ ràng là hình ảnh rất đẹp, bà xã anh ta nói: "Nhờ vậy chắc ảnh chừa cái tội ngang bướng của ảnh, thôi cám ơn anh nha!" Tôi vui vẻ nói đùa : " Sao chị không nói là ngoài sự quỳ lạy sám hối còn nhờ có chị đứng kế nên ảnh ké phước đức của chị nữa đó chứ?" Cả bọn chúng tôi cùng cười và tôi nghĩ thầm "có tin có thiêng, có kiêng có lành."

- Cũng cần nói thêm là Thiền viện được hình thành là nhờ sự trợ duyên đóng góp của chư phật tử gần xa mua được miếng đất ở Adelanto 15 mẫu, mặt khác có phật tử người Mãlai, hai vợ chồng không có con nhưng rất giàu nên ông ta mới đi hành hương ở Ấn Độ, Nepal tại vườn Lâm Tỳ Ni, Ngũ Đài Sơn ở Trung quốc để cầu tự, sau đó về Mãlai ít lâu sau bà vợ cấn thai sinh ra cho 2 ông bà một mụn con trai, ông ta bắt đầu có niềm tin nơi Phật pháp nhiệm mầu mặc dù Mã lai là xứ của Hồi giáo. Khi đứa con lớn lên nhưng lại bị bịnh, không nói được, ông bà ta buồn quá bèn đi một chuyến du lịch sang Mỹ hành hương đất Phật chung đoàn hành hương Népal với Thầy Đăng Pháp năm 2005, sau khi Thầy Đăng Pháp nghe vợ chồng ông Mãlai kể đầu đuôi câu chuyện về việc cầu tự và đứa con bị bịnh, và ngay ông Mãlai cũng đang mắc bệnh ung thư ruột; rồi Thầy giảng về sự linh ứng và cứu khổ của Ngài Quán Thế Âm và khuyên ông ta thành tâm cầu nguyện xin Ngài phù trợ giúp cho ông và con trai ông ta hết bịnh, một mặt Thầy Đăng Pháp hứa là sẽ góp lời cầu nguyện xin Mẹ Quan Âm cứu giúp ông ta cùng đứa con trai. Sau chuyến hành hương Thầy Đăng Pháp trở về Thiền Viện Chân Nguyên cùng với vợ chồng người Mãlai và cầu nguyện cho gia đình ông bà Mãlai kia. Sau đó trên chuyến trở về Mãlai, Thầy Đăng Pháp có gửi cho ông Mãlai và đứa con trai vài chai nước lọc được Thầy cầu nguyện trên chánh điện của Tổ đình Thiền Viện. Sau 3 tháng, ông Mãlai gọi điện thoại qua cho Thầy Đăng Pháp hay là cám ơn Thầy, nhờ Thầy chỉ dạy, cho uống nước thiêng và cầu nguyện mà đứa con biết nói, riêng bịnh tình của ông ta cũng thuyên giảm trên 60%. Ông ta mừng quá 2 vợ chồng nói nhờ sự mầu nhiệm và linh ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát mà con ông biết nói bình thường và ông cũng thuyên giãm bịnh tình , nên ông bà hứa sẽ cúng dường cho Thiền Viện Chân Nguyên trước mắt là làm hàng rào vòng đai miếng đất 15 mẫu, sau đó là Tôn Tượng Quán Thế Âm bằng đá trắng, thế là hàng rào Thiền Viện đã được hoàn tất năm 2005 và sau đó ông ta cùng Thầy Đăng Pháp về Đà nẳng tìm nhà điêu khắc, chọn hình ảnh tượng. Công ty điêu khắc bắt đầu đi tìm đá từ đầu năm 2005 mãi đến tháng 5 năm 2006 mới tìm được một khối đá vừa ý tại một ngọn núi ở Đồng Hới, Vinh, chiều dài khoảng 8 thước50. Công ty điêu khắc khởi công chạm khắc từ tháng 5 năm 2006 và hoàn tất chở Tượng Quán Thế Âm đến Hoakỳ tháng 12 năm 2006. Tôn Tượng sau đó được đặt trên một bệ bêtông cốt thép sâu 6 mét, cao 3 mét 5 , chiều cao tổng thể từ mặt đất là gần 12 mét vào ngày 21 tháng 10 năm 2007.

Để thay lời kết, tôi xin trích lời phát biểu của một phật tử nhân ngày Lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm tại Thiền viện Chân Nguyên, Adelanto:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

- Kính bạch Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni

- Kính thưa quý vị quan khách

- Kính thưa quý Đồng hương và Đồng bào Phật Tử

Con vô cùng cảm động và vui mừng khi được Thầy trụ trì Thiền Viện Chân Nguyên cho phép con lên đây phát biểu cảm tưởng nhân Lễ Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Con cảm động vì trên vùng sa mạc xa xôi này mà Thầy Viện Chủ tuy tuổi già sức yếu nhưng vẫn nguyện một lòng vì Đạo Pháp " Kiến lập Đạo tràng, Trùng hưng Tam Bảo, Tiếp Tăng Độ Chúng" . Thầy đã vượt qua mọi trở ngại thiếu thốn về vật chất, cộng với cái khắc nghiệt của thời tiết vùng sa mạc, ban ngày thì nóng oi bức, ban đêm thì giá lạnh vô cùng.

Con vui mừng vì sự dấn thân hi hiến để xiển dương Đạo Pháp của Thầy đã được sự trợ duyên của toàn thể Chư Tôn Túc và các Phật Tử xa gần về tinh thần lẩn vật chất nên trong giai đoạn đầu là hoàn thành Tôn Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và chắc chắn là trong một tương lai gần, Phật tử chúng con sẽ có một ngôi Tam bảo trang nghiêm hoành tráng vừa mang tính Văn Hóa Dân Tộc lại vừa là một Trung Tâm Phật Giáo có tầm vóc ở hải ngoại này. Kính thưa Quý vị,

Dưới vầng hào quang sáng chói của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát đã thị hiện vào sáng hôm nay, toàn thể phật tử chúng con vô cùng xúc động và sung sướng mãn nguyện vì đã thấy được sự linh ứng của ngài thị hiện ngay trong ngày Lễ Khánh thành Tôn tượng Ngài trên vùng đất linh thiêng mầu nhiệm này.

Với Đại Nguyện Từ Bi Cứu Khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm, con thành tâm xin nguyện Ngài phò trợ cho công trình kiến lập Đạo tràng Thiền Viện Chân Nguyên này được sớm thành tựu viên mãn.

Sau cùng con xin kính chúc Quý Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni được Pháp thể khinh an, Chúng sanh dị độ, Phật sự viên thành.

Kính chúc quý vị quan khách và toàn thể Chư Phật tử được Vạn sự Cát tường, Thân Tâm Thường lạc.”

PHỔ NGHĨA

Kính dâng Giác linh Hòa Thượng Thích Thiên Ân nhân ngày Húy Kỵ cũng là ngày Khánh Thành Tôn Tượng Quán Thế Âm thiền viện Chân Nguyên, Adelanto.

Ngày 16 tháng 10 AL năm Đinh Hợi, PL 2554.

PHỔ NGHĨA
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-10-2008 , 10:40 AM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Nói đến Đức Quan Thế Âm Bồ Tát thì ít người Phật tử nào không nghe biết đến bài Thần Chú Đại Bi mầu nhiệm, vì bài Thần Chú này là của Ngài nói ra. Sau đây là vài bài nói về sự xuất xứ, mầu nhiệm, tu trì, ích lợi và cách thức trì tụng bài Thần Chú này để được hiệu nghiệm. Mong rằng có những ai hành trì theo đều sẽ được lợi lạc và có những bước tiến trên đường tu tập.

TST


THẦN CHÚ ĐẠI BI: Viên Ngọc của Người Cùng Tử.
Tâm Hà Lê Công Đa





Cửa Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, một người học Phật dù cố gắng hành trì, tu tập trãi qua hằng hà sa số kiếp cũng không dễ gì có thể lãnh hội hết tất cả nội dung phong phú đó huống là chỉ một đời người. Cho nên, tùy theo căn cơ, duyên nghiệp, một khi đã phát tâm đi vào con đường giải thoát, hành giả hoặc nhờ phước duyên được chư Phật, chư Bồ Tát độ trì dẫn dắt, hoặc do minh sư chỉ bảo, mỗi người cần nên tự chọn cho mình một pháp môn để tu tập. Có rất nhiều pháp môn tu học phổ biến trong đại chúng hiện nay như Tịnh Độ, Mật Tông, Thiền Định... Pháp môn tuy có thể khác nhau, nhưng một khi đã tự xem mình là trưởng tử của Như Lai, hạnh nguyện của mỗi hành giả đều giống nhau, đó là noi theo ánh sáng của chư Phật, quyết tâm xé bỏ bức màn vô minh, đạp qua nẽo luân hồi sinh tử để đi vào con đường giải thoát, tiến đến đạo qủa bồ đề, hầu mang lại an vui, phúc lợi không những cho riêng mình mà còn cho toàn thể chúng sanh.
"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ", đó là tâm nguyện chung của một người mang hạnh nguyện Bồ tát vào đời, dù khoác trên mình chiếc áo tăng sĩ hay hàng tại gia cư sĩ. Nhưng một người dù có thiện tâm, hảo ý đến bao nhiêu mà không có khả năng thực hiện được ý nguyện của mình thì thiện tâm hảo ý cũng trở thành vô ích. Như một người trông thấy kẻ bị nạn sắp chết đuối dưới dòng nước chảy xiết, nhảy xuống định cứu, thế nhưng bản thân mình lại không biết lội, chẳng những đã không cứu được người, vừa thiệt thân mạng mình một cách vô ích, lại còn gây trở ngại thêm cho công tác cứu hộ. Cho nên, muốn độ người trước hết phải độ ta, có nghĩa là phải xét xem ta có đủ khả năng, tư cách để độ người hay không? Muốn thế mỗi người phải luôn tích cực, tinh tấn tu tập không ngừng nghỉ mới có thể từng bước tiến dần đến ánh sáng giác ngộ.

Có thể nói một cách khẳng định rằng, để đạt được cứu cánh giác ngộ không có con đường tu tập nào khác hơn ngoài con đường Thiền định. Chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ cũng đều đã phải trãi qua con đường đó. Chính Đức Thế Tôn đã từng nhấn mạnh đến lợi ích quan trọng của thiền định: "Thiền định là phương tiện duy nhất để thanh tịnh nội tâm, tiêu trừ phiền não." (Samyutta, 16:13 - Tạp A Hàm), và chính Ngài cũng đã trải qua 49 ngày đêm thiền định rốt ráo trước khi chứng đạt được đạo quả bồ đề. Chúng ta, những người học Phật, dĩ nhiên cũng không có một lựa chọn nào khác hơn. Tuy nhiên, một vấn nạn lớn đặt ra cho những người mới tập tểnh bước chân vào cửa Thiền, là làm sao tìm ra cho mình một phương pháp thích ứng để con đường tu chứng của mình mau đạt được kết quả mà không bị lạc lối trong rừng Thiền mênh mông, chẳng những đã không đạt được cứu cánh giác ngộ mà đôi khi lại còn có thể bị rơi vào con đường ma đạo.

Muốn học đạo phải tìm thầy. Có rất nhiều minh sư ở khắp mọi nơi để Phật tử có thể tìm đến tham cầu, nhưng nếu vì một lý do nào đó mà hành giả không có cơ duyên hay phương tiện để gặp gỡ họ, hôm nay chúng tôi sẽ xin giúp hướng dẫn qúy vị đến gặp một vị Đại minh sư, một "Người" rất quen, luôn luôn gần gũi bên cạnh chúng ta, luôn luôn lắng nghe những lời khẩn cầu của chúng ta với tất cả sự quan tâm và tấm lòng thương yêu rộng lớn để saün sàng giúp đỡ mà không cần đòi hỏi một điều kiện thù đáp nào. Vị minh sư đó không ai khác hơn là Đức Bồ Tát Quán Thế Âm và với phương tiện thiện xão của Ngài, thần chú "Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni", sẽ giúp đỡ cho bất cứ ai khi trì tụng Thần chú này đúng phương pháp chắc chắn sẽ mau chóng bước chân vào cõi Thiền, cũng như đạt được mọi điều sở nguyện.

Như người cùng tử, suốt một đời rong ruổi ngược xuôi, đến khi mang chiếc thân tàn trở về lại ngôi nhà cũ của Cha mình mới khám phá ra viên ngọc vô giá trong chiếc áo rách nát tả tơi theo năm tháng mà ngày xưa người cha vì lòng yêu thương đã khâu vào trước khi đứa con bỏ nhà đi hoang. Thần chú Đại Bi, chính là viên ngọc vô giá đó và hôm nay, như người cùng tử năm xưa, chúng ta bất ngờ khám phá lại kho tàng không những sẽ làm giàu có, phong phú cho tâm hồn đang khô kiệt của chúng ta, mà còn là chiếc chìa khóa mở cho ta vào cánh cửa thênh thang của đạo quả giác ngộ, vô thượng bồ đề.

1. Lý Do Ra Đời Của Thần Chú và

Phát Nguyện Của Bồ Tát Quán Thế Âm:

Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma-Ha Ca-Diếp, A-Nan... cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan "Như thế tôi nghe" cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và Đức Thế Tôn đã được ghi lại ở trong kinh.

Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, muốn cho "chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu" mà nói ra Thần Chú này.

Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: Vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai. Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: "Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay". Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với Ngài A Nan ở trong kinh, "tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh".

Kinh và Thần chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà-Phạm-Đạt-Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như : Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,...

2. Công Năng, Oai Lực của Thần Chú Đại Bi.

Muốn biết công năng, oai lực của Thần Chú Đại Bi, ta nên tìm hiểu xem mục đích, hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm khi Ngài ban phát thần chú này. Bồ Tát Quán Thế Âm đã phát nguyện rằng: Nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, không được sanh về các cõi Phật, không được vô lượng tam muội biện tài, Ngài thề sẽ không thành chánh giác. Ngài còn nhấn mạnh: Nếu trì tụng thần chú Đại Bi, mà tất cả những mong cầu trong đời hiện tại nếu không được vừa ý, thì thần chú này sẽ không được gọi là Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, ngoại trừ những kẻ mong cầu những điều bất thiện hoặc tâm không được chí thành. Hơn thế nữa, Bồ Tát còn cho ta biết ngay cả đối với những kẻ phạm những tội ác nghiệp nặng nề như thập ác ngũ nghịch, báng pháp, báng người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ, làm nhơ phạm hạnh nếu trì tụng thần chú Đại Bi thảy đều được tiêu trừ. Vì sao thế? Kinh Đại Bi cho biết mỗi lần hành giả trì tụng thần chú này, tất cả mười phương chư Phật đều đến chứng minh, cho nên tất cả các tội chướng nhờ ân đức của chư Phật độ trì, thảy đều tiêu diệt.

Oai lực lớn lao của Thần Chú đã được chính Đức Thế Tôn giảng rõ trong Kinh Đại Bi Tâm Đà-Ra-Ni:

-"Ngài A Nan bạch Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn! Chú này tên gọi là chi? Con nên thọ trì như thế nào?

- Đức Phật bảo : Thần chú này có những tên gọi như sau :

Quảng Đại Viên Mãn Đà-Ra-Ni
Vô Ngại Đại Bi Đà-Ra-Ni
Cứu Khổ Đà-Ra-Ni
Diên-Thọ Đà-Ra-Ni
Diệt-Ác-Thú Đà-Ra-Ni
Phá Ác-Nghiệp-Chướng Đà-Ra-Ni
Mãn-Nguyện Đà-Ra-Ni
Tuỳ-Tâm Tự-Tại Đà-Ra-Ni
Tốc Siêu Thượng Địa Đà-Ra-Ni."
Từ lời dạy trên của Đức Phật với ngài A Nan, chúng ta hiểu được những công năng chính của thần chú:
Bất cứ một ai khi trì tụng thần chú Đại Bi với tất cả tâm thành, chắc chắn sẽ đạt được tất cả những điều mong cầu, ước nguyện bởi vì oai lực của Thần chú là rộng khắp, vô biên, không có gì có khả năng ngăn ngại nỗi. Trong cõi dục giới này, con người đâu có mong cầu điều gì hơn ngoài an lạc, hạnh phúc và sống lâu. Thần chú Đại Bi sẽ giúp mọi người đạt được những ước muốn này như Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa.

Một công năng khác của Thần chú là cứu khổ. Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc, không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc. Tuy nhiên, để Thần chú phát huy được oai lực của nó, khi trì tụng ta phải tự mình quán chiếu tại sao ta lại rơi vào cảnh khổ mà người khác lại không, và tại sao Thần chú lại có công năng cứu khổ? Giáo lý của nhà Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi việc trên cỏi đời này không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tất cả những đau thương bất hạnh mà ta phải gánh chịu trong kiếp sống hiện tại: gông cùm tù tội, bệnh hoạn, nghèo hèn,... là kết quả của những ác nghiệp mà ta đã gây nên từ bao kiếp trước hoặc trong kiếp này, nay đến lúc ta phải trả. Sở dĩ Thần chú Đại Bi có khả năng đưa ta vượt qua khỏi cơn khổ nạn vì công năng siêu tuyệt của nó là Phá Ác Nghiệp Chướng như đã nói ở trên.

Thần chú này còn có tên gọi là Diệät Ác Thú. Nghe đến công năng này, một người saün mang tâm từ bi tất sẽ không khỏi sinh lòng nghi ngại. Ta đang trì tụng Thần chú Đại Bi vì phát khởi tâm Đại Từ Bi, nghĩa là yêu thương muôn loài không phân biệt thì tại sao lại phải Diệt Ác Thú trong khi ác thú cũng là một loại chúng sanh cần được thương yêu, cứu vớt? Tuy nhiên, muốn hiểu rõ công năng này, trước tiên ta hãy tự đặt mình vào hoàn cảnh sống của những cư dân ở những chốn rừng thẳm, non cao, đặc biệt là những quốc gia thuộc vùng nhiệt đới như Ấn Độ, nơi đầy dẫy những ác thú như hùm, beo, rắn rết... luôn luôn là một mối đe dọa lớn cho sinh mạng con người. Không phải từ thời Đức Phật còn tại thế mà ngay cả đến bây giờ, hàng năm đã có một số lượng lớn người bị mất mạng vì ác thú, vì thế để cho ác thú khỏi xâm phạm ta, Bồ Tát đã cho ta thần chú Đại Bi, không có nghĩa là mỗi khi gặp chúng, hành giả đọc thần chú này lên thì tất cả ác thú đều ngả lăn ra chết, mà phải nên hiểu rằng, đối với một người hành trì thần chú Đại Bi hằng ngày một cách nghiêm túc, bên cạnh oai lực che chở hộ trì của chư thần, long, thiên, hộ pháp, ở người trì chú cũng tự động phát ra một nguồn năng lực mà không phải chỉ riêng đối với ác thú, ngay cả các loài độc trùng khác cũng đều phải lánh xa.

Tuy nhiên, đối với người quyết chí dấn bước trên con đường tu học, hai công năng quan trọng nhất của Thần chú Đại Bi là tùy tâm tự tại và tốc siêu thượng địa. Ta đang gặp khó khăn trong Thiền định, tâm ta loạn động không an trụ, thần trí ta hoang mang hoảng hốt không thể nào tập trung được vào việc hành thiền, từ trước đến nay ta đã tìm thử đủ mọi phương pháp mà vẫn không kết quả, thì nay Thần chú Đại Bi sẽ là một phương tiện hiệu quả giúp ta an tâm, giải phóng tâm thức ta ra khỏi những vọng động, âu lo của cuộc sống thường nhật, chắc chắn đưa ta bước vào cảnh giới thiền một cách mau chóng và rốt ráo, rồi từ đó Thần chú sẽ giúp ta thăng tiến mau chóng vào những nấc thang thiền kế tiếp, vấn đề nhanh hay chậm là do duyên nghiệp của mỗi cá nhân, tuy nhiên kết quả là chắc chắn, vì trong Kinh Bồ Tát Quán Thế Âm đã từng cho chúng ta biết rằng Ngài chỉ mới nghe qua Thần chú này một lần, đã nhanh chóng chứng quả từ ngôi sơ địa lên ngôi bát địa.

Vì những lý do trên mà thần chú này có tên gọi là Quảng-Đại Viên-Mãn Vô-Ngại Đại-Bi-Tâm Đà-Ra-Ni. Bởi vậy, Phật tử không nên khinh xuất khi trì tụng chú Đại Bi mà phải tinh tấn và chí thành, cung kính, giữ đúng lễ nghi. Tin tưởng vào lòng thương yêu chúng sanh và khả năng hộ trì của Bồ Tát Quán Thế Âm, hành giả có thể hành trì Thần chú Đại Bi như là phương tiện chính của Thiền định trong khả năng tập trung năng lực cũng như thiền quán hầu đạt đến an lạc hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày và từng bước tiến đến cứu cánh giải thoát, giác ngộ.

3. Hình Trạng, Tướng Mạo của Đại Bi Thần Chú

(Mười Đặc Tính của Đại Bi Tâm).

Ta đang trì tụng Đại Bi Thần Chú. Vậy trước tiên ta cũng nên biết Chú là gì? Đại Bi Thần Chú liên hệ như thế nào đến Mật Tông?

Chú còn được biết dưới những tên gọi khác là Thần Chú, Chân Ngôn hay Mật ngôn, tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhàrani), tức là những câu nói bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát. Những mật ngôn này đối với phái Mật Tông được sử dụng như là những mật mã để chuyển âm những lời cầu nguyện của người hành trì đến với chư Phật, chư Bồ Tát trong khắp mười phương và được các ngài mau chóng cảm nhận để giúp đỡ hộ trì.

Đà La Ni được dịch qua tiếng Trung Hoa có nghĩa là Tổng Trì, tức là một loại thần lực có năng lực thâu nhiếp cùng bảo trì tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian không cho các thiện pháp bị tán loạn và ngăn che các ác pháp không cho phát sanh.

Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa nhưng điều này không có nghĩa là khi trì tụng Thần chú Đại Bi ta chỉ đọc tụng lên một cách máy móc. Một khi đã biết được công năng và oai lực của Thần chú Đại Bi sẽ giúp ta hiểu được tướng mạo của Thần Chú Đại Bi, hay nói một cách rõ ràng hơn, đặc tính của Đại Bi Tâm. Những đặc tính này đã được Bồ Tát Quán Thế Âm giải thích rõ ở trong kinh khi đáp lại lời thỉnh cầu của vua trời Đại Phạm Thiên Vương, đó là :

Tâm Đại Từ Bi
Tâm Bình Đẳng
Tâm Vô Vi
Tâm Chẳng Nhiễm Trước
Tâm Không Quán
Tâm Cung Kính
Tâm Khiêm Nhường
Tâm không Tạp Loạn
Tâm Không Chấp Giữ
Tâm Vô Thượng Bồ Đề
Tâm là đối tượng của Thiền định. An tâm hay định tâm là mục tiêu của hành giả khi hànhThiền. Trong những giai thoại liên quan đến Thiền học chắc chắn ta đã từng được nghe hơn một lần những mẫu chuyện liên quan đến đề tài này. Câu chuyện "an tâm" giữa Bồ Đề Đạt Ma và Tổ Huệ Khả là một thí dụ nổi tiếngï.
Hành giả tu tập thiền định có thể nương vào thần lực của Thần Chú Đại Bi, như là một phương tiện để định tâm và do khả năng chuyên chở mầu nhiệm của những âm thanh vi diệu này, hoà nhập vào bản thể của chân tâm, đạt đến cứu cánh giải thoát, niết bàn. Chân tâm là Phật tánh, vốn thường hằng, hiện hữu trong mỗi chúng sanh. Ta không thấy được chân tâm của mình vì vô minh, vì tội ác, nghiệp chướng như rong rêu tích tụ từ hằng hà sa số kiếp đang bao phủ nó. Bồ Tát Quán Thế Âm hằng thương yêu lo lắng cho chúng sanh đã giúp ta phương tiện diệu dụng là Thần chú Đại Bi, như chỉ cho ta một con đường tắt để hành trì tu tập, mau chóng tiến đến niết bàn. Trì tụng Thần chú Đại Bi chắc chắn sẽ làm vỡ ra những mảng tội ác, nghiệp chướng đã đeo đẳng, dính cứng vào thân ta từ bao đời, oai lực của nó sẽ như ngọn đuốc bùng lên giữa đêm dài vô minh tăm tối, làm bừng sáng, tỏ ngộ chân tâm. Mỗi tướng mạo của Thần Chú Đại Bi vì thế có thể là một đề mục lớn về Thiền quán cho hành giả suy gẫm trong khi hành thiền đồng thời là một mục tiêu để vươn tới trong hành trì tu tập.

Xuyên suốt và bao trùm lên tất cả là Tâm Đại Từ Bi, tức là tâm thương xót và ý hướng, quyết tâm cứu khổ. Khởi tụng thần chú Đại Bi cũng có nghĩa là khởi phát lòng thương xót đến tất cả chúng sanh. Trong cuộc sống đấùu tranh đầy khắc nghiệt để sống còn, khi "con người là chó sói của người", bất hạnh của kẻ khác đôi khi mang lại lợi lạc cho chính ta, lòng từ của con người đã bị thui chột. Nhưng nếu quả thật nhân loại cần tình thương như một chất liệu để nuôi dưỡng đời sống và để thăng hoa, Thần Chú Đại Bi chắc chắn sẽ là dòng nước cam lồ tưới lên cành cây khô thui chột, và từ đó hạt giống từ bi sẽ nẩy mầm trong mỗi chúng ta.

Mối liên hệ giữa Từ Bi và Trí Tuệ là một mối liên hệ duyên khởi. Thành tựu Tâm Đại Bi là điều kiện để phát sinh Trí Tuệ Bát Nhã, và Tâm Bình Đẳng tức Tâm "Vô phân biệt trí"cũng từ đó phát sinh. Tâm bình đẳng tức là tâm không phân biệt trong nhận thức và đối xử đối với chúng sanh. Không còn thân, không còn sơ, không còn màu da, chủng tộc, phái tính, không còn nghèo giàu sang hèn, không còn loài này và loài khác, chư thiên, trời, người, súc sanh, ngã quỹ... tất cả đều bình đẳng, đều là đối tượng được thương yêu và cứu trợ khi cần thiết, bởi vì tất cả đều mang Phật tánh, đều là những vị Phật tương lai. Với Tâm Bình đẳng phát triển, mỗi hành giả sẽ là một hiện thân của Bồ Tát Thường Bấùt Khinh với đầy đủ tâm cung kính, tâm khiêm nhường trong cung cách sống và cư xử với mọi loại chúng sanh.

Có thể xem Tâm Đại Từ Bi, Tâm Bình Đẳng là hành trang cần thiết để đi vào Tâm Không quán. Thực hiện Tâm không quán tức là bước đầu đi vào triết học tánh Không của đạo Phật, là bắt đầu bước vào cửa ngỏ "Vô Môn Quan", thấy được chân như, tự tánh. Có thể coi Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là một diễn giải đầy đủ ý nghĩa của Tâm không quán: "Quán Tự Tại Bồ Tát -một tên gọi khác của Bồ Tát Quán Thế Âm- hành thâm Bát Nhã, thường chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách": Bồ Tát Quán Thế Âm khi chứng được Trí Tuệ thâm sâu, Ngài thấy vũ trụ muôn sanh kết hợp trên dòng sông năm uẩn. Các pháp đều do nhân duyên sanh, không có tự tánh, không có sanh diệt, không có thêm bớt, không có tạo tác. Nhờ vậy Đức Quán Thế Âm thoát ra khỏi mọi khổ đau, ách nạn.

Tâm Không quán vì thế cũng bao gồm cả Tâm không nhiễm trước, Tâm không tạp loạn, Tâm không chấp giữ, tức là thực chứng Trí Tuệ Bát Nhã để từ đây hành giả saün sàng tiến thêm một bước cuối cùng đạt đến Tâm Vô Vi, Tâm Vô thượng bồ đề, tức cứu cánh giác ngộ, giải thoát.

Một cách tóm tắt, khi thấy được tướng mạo của Thần chú Đại Bi, mỗi khi trì tụng thần chú này hành giả phải phát tâm bồ đề rộng lớn, thề độ tất cả muôn loài, đối với chúng sanh phải khởi lòng bình đẳng và phải thường nên trì tụng chớ nên gián đoạn. Thần Chú Đại Bi chắc chắn sẽ là phương tiện diệu dụng giúp hành giả mau chóng đạt đến kết qủa trong Thiền định.

4. Vận Dụng Thần Chú Đại Bi Vào Thiền Định

Như đã nói ở trên, muốn đạt đến cứu cánh giác ngộ không thể không thông qua phương pháp thiền định. Nhưng khi nghe nói đến Thiền, một người Phật tử bình thường khó hình dung ra nổi và nghĩ đến nó như là một cái gì đó mông lung, trừu tượng, huyền bí. Thậm chí Phật tử rất hoang mang vì trong thời đại hiện nay, có rất nhiều loại "thiền" khác nhau xuất hiện trên thị trường, được khai thác nhằm mục đích thương mãi hơn là giúp con người đạt đến bến bờ giải thoát, và đôi khi biến Thiền trở thành một cái "mốt" thời thượng làm người ta bối rối và dễ bị mê lầm. Cho nên, để có thể tu tập đúng hướng, hành giả cần phải có một số nhận thức căn bản đúng đắn về các loại Thiền Phật giáo.

Khái niệm về các loại Thiền Phật Giáo:

Thiền chỉ (Thiền định) và Thiền quán (Thiền minh sát).

Thông thường khi nói đến Thiền là người ta thường nghĩ ngay đến thiền đốn ngộ, đến "dĩ tâm truyền tâm", đến những công án hóc búa... Hình ảnh của những vị Thiền sư "hoát nhiên đạt ngộ" khi tâm thức bùng vỡ trước tiếng thét của một bậc minh sư, khi soi mặt mình trên một vũng nước mưa đọng trước hiên nhà... bỗng trở thành như những câu chuyện thần thoại, người căn cơ thấp kém khó mà lãnh hội được ý nghĩa của sự đạt ngộ này. Như vậy phải chăng Thiền là một thứ "xa xỉ phẩm" chỉ dành riêng cho những bậc thượng căn đã đứng mấp mé ở bên bờ giác ngộ, chỉ cần chờ một sự khai thị đúng lúc là tỏ ngộ chân lý? Dĩ nhiên Thiền không phải hoàn toàn như thế, bởi lẽ nếu hiểu Thiền theo cung cách này thì lịch sử của tông phái Thiền Phật giáo trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua chỉ sản xuất ra được mấy chục vị Tổ!

Phải nên hiểu rằng các pháp hành thiền, như đã được lưu truyền đến nay trong kinh điển, đều được căn cứ trên những phương pháp mà chính Đức Phật đã áp dụng, căn cứ trên sự kinh nghiệm của chính bản thân Ngài trong suốt quá trình tu tập, trau giồi và phát triển tâm, pháp môn hành thiền đó đã đưa Ngài đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề và Niết Bàn.

Để kiểm soát, uốn nắn và giải phóng tâm Phật giáo có hai loại Thiền chính yếu sau đây:

- Thiền chỉ hay Thiền định(samatha bhavana hay samadhi): là gom tâm vào một điểm, hay thống nhất, tập trung tâm vào một đề mục (cittekaggata, Sanskrit là cittaikagrata, nhất điểm tâm), tức là an trụ tâm.
- Thiền Quán hay Thiền Minh Sát (vipassana, Sanskrit là vipasyana hay vidarsana), - cũng gọi là thiền tuệ - tức là hướng tâm soi vào đời sống để chứng ngộ thực tướng của vạn pháp.

Thiền quán đã được một vị danh tăng Phật giáo đương đại, Đại Đức Piyadassi giải thích như sau:

"... Danh từ vipassanà (vi + passanà), trong một biến thể, có nghĩa là "thấy một cách phi thường", thấy khác với lối thấy thông thường, do hai thành phần "passati" là thấy và "vi" hàm ý đặc biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy, vipassanà là thấy vượt ra ngoài cái gì thông thường, là minh tuệ. Đây không phải là nhìn thoáng qua. Cũng không phải chỉ nhìn bên trên bề mặt, ở mặt ngoài mà nhìn sâu vào bên trong Thực Tại của đời sống. Chính nhờ cái nhìn sâu sắc căn cứ trên tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô nhiễm ngủ ngầm để thành mục tiêu cuối cùng, Niết Bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại thiền mà chính Đức Phật đã tìm ra, đã thực hành, đã thành công và đã ban truyền, trước kia chưa từng có, và ngoài Phật Giáo không có ..." (*)

Pháp hành "thiền chỉ" trong Phật Giáo đưa đến tột đỉnh là đắc Thiền (Jhana), trong khi pháp hành "thiền quán" dẫn đến bốn tầng Thánh mà bậc Thánh cuối cùng là A La Hán, hay tiến thêm một bước nữa là đạt qủa vị Phật, giải thoát.
Cứu cánh tu tập của chúng ta dứt khoát là không nhắm đến trạng thái Định hay thư giản. Ta vận dụng công năng, oai lực của Thần Chú Đại Bi -bằng cách chuyên tâm trì tụng Thần chú này một số biến nhất định- như là một pháp hành của Thiền Chỉ, và chỉ xem đó như là một cổ xe đưa ta đến bến bờ giác ngộ. Cho nên, khi tâm đã an trụ vững vàng, chúng ta bắt đầu bước vào Thiền minh sát, lúc này dùng hình trạng và tướng mạo của Thần chú Đại Bi làm nội dung thiền quán: Tâm Đại Từ Bi, Tâm Bình Đẳng, Tâm Vô Vi,Tâm Không Quán... và nên được bắt đầu bằng Tâm Đại Từ Bi.

Tại sao chúng ta bắt đầu nội dung Thiền quán bằng Tâm Đại Từ Bi? Trước tiên, đây là một yêu cầu của Bồ Tát. Trì Chú Đại Bi sẽ không linh nghiệm nếu không được phát khởi bằng Đại Bi tâm. Thứ hai, khi chọn phương pháp thiền định dùng Thần Chú Đại Bi như là phương tiện - vắn tắt xin được tạm gọi là Thiền Quán Âm- chúng ta đã phát tâm noi theo hạnh nguyện ban vui cứu khổ của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, tự nguyện trở thành một cánh tay, một chiến sĩ trong đạo quân tình thương của Ngài, đem gieo rắc ánh sáng từ bi đến khắp muôn loài chúng sanh, góp phần xây dựng một cỏi Tịnh Độ Nhân Gian trên cõi thế. Thiền Quán Âm như thế là một loại thiền tích cực, đi thẳng vào đời sống, tác động vào đồng loại, chúng sanh và môi trường sống. Hành giả khi dùng Thiền quán sẽ vận dụng Tâm Đại Bi làm ngọn đuốc soi đường, rọi chiếu vào tất cả ngỏ ngách tâm linh và hành động của chính mình trong từng mỗi phút giây hiện tại.

Làm Thế Nào Để Thực Hiện Đại Từ Bi Tâm Quán?

Từ Bi Quán là phương thức để huân tập lòng Từ Bi. Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp Từ bi quán mà cố Hoà Thượng Thích Thiện Hoa đã giảng rõ trong cuốn "Phật Học Phổ Thông", ở đây xin được tóm tắt lại bằng ba phép quán từ thấp đến cao như sau :

1. Quán chúng sinh duyên từ : Quán sát cảnh khổ của chúng sinh ở trong cõi dục giới mà phát khởi lòng từ.

những kẻ bị đọa ở địa ngục hiện đang bị hành phạt, loài ngạ quỷ đói khát..
loài súc sanh (trâu, bò heo, gà...) bị hành hình, phân thây xẻ thịt làm thức ăn cho loài khác...
loài a tu la phải đấu tranh chém giết
chúng sanh ở cõi trời khi hết phước đức cũng phải bị đọa lạc
những cảnh khổ của kiếp người...
Thấy được những cảnh khổ của chúng sinh, để cho lòng từ bi phát khởi, Phật dạy ta phải xem tất cả chúng sinh như là bà con thân thuộc trong một đại gia đình. Nhân loại như đang sống trong một ngôi nhà lớn và rộng ra các loài khác cũng là thành phần của một đại gia đình, do nghiệp duyên ràng buộc, có thể họ đã là bà con quyến thuộc của ta trong kiếp trước hoặc sẽ là anh em cha mẹ ta trong những kiếp tương lai...
Quán Pháp duyên từ :
Cao hơn một bậc, hành giả có thể quán sát thấy tất cả chúng sanh đều có chung pháp tánh cho nên nói như ngài Duy Ma Cật, "vì chúng sanh bệnh nên ta bệnh", chúng sanh khổ nên ta khổ và vì thế ta tìm cách cứu độ chúng sanh. Ta cứu khổ nhưng không cần biết đối tượng được cứu khổ và cũng không chấp rằng ta đang cứu khổ vì ta và chúng sanh đã đồøng một bản thể, đồng một pháp giới tánh.
3. Quán Vô duyên từ : Đây là lòng từ bi của chư Phật, theo thể tánh chơn tâm mà phát ra, bao la trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp gần xa một cách vô tư, không dụng công và không bỏ sót một nơi nào. Loại này chúng ta chỉ biết qua chứ không áp dụng vào thiền tập vì quá cao siêu.

Thần Chú Đại Bi,
Một Con đường tắt đến Tịnh Độ
Nói đến Thần Chú Đại Bi, nói đến tu tập Thiền định, ta không thể không nói đến Tịnh Độ. Tại sao? Bởi vì chuyện sinh tử là chuyện quan trọng của đời người. Ta nhận thức được rằng kiếp sống thế gian rất ngắn ngủi và ta cũng không muốn luẩn quẩn mãi trong cảnh luân hồi sinh tử cho nên ta tu tập để mong cầu vươn đến một cảnh giới đích thực, vĩnh cữu. Cảnh giới đó có thể mang tên là Niết Bàn. Cảnh giới đó cũng có thể là Tịnh Độ.

Trước hết, khi nói đến Tịnh Độ, Phật tử thường liên tưởng ngay đến một cảnh giới cực lạc. Đó là một cảnh giới lý tưởng, đẹp đẽ, an lành mà bất cứ người con Phật nào cũng thường ước mơ được vãng sanh đến sau khi từ giã cõi đời. Đức Thế Tôn đã tuyên xưng rất nhiều cảnh giới Tịnh Độ trong các kinh sách, mà đặc biệt là cảnh giới Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà. Để đạt đến cảnh giới này, pháp môn Tịnh Độ đặt nền móng tu tập trên ba nguyên tắc căn bản: Tín, Nguyện và Hạnh. Trước hết là lòng tin. Ta tin có sự hiện hữu của cõi Tịnh Độ Tây phương do Đức A Di Đà làm giáo chủ. Tin như thế ta Nguyện sẽ được vãng sanh về cảnh giới này. Nguyện được thể hiện bằng Hạnh qua phương thức trì danh, tức là trong suốt hành trình tu tập của mình ta phải hành trì pháp môn niệm Phật A Di Đà cho đến "nhất tâm bất loạn", thì chắc chắn sẽ được Ngài tiếp dẫn ta về cảnh giới này sau khi ta từ giã cõi đời.

Một cảnh giới Tịnh Độ khác cũng thường được Đức Thế Tôn nhắc tới đó là cung trời Đâu Suất (Tutsia) của Di Lặc, vị Bồ Tát đã được Phật Thích Ca thọ ký sau này sẽ trở xuống cõi trần thành lập hội Long Hoa và trở thành vị Phật tương lai. Nỗ lực của Ngài là hóa độ quần sanh, biến cõi nhân gian thành Tịnh Độ. Quan niệm Tịnh Độ này rất phù hợp với niềm tin và hạnh nguyện của người tu tập theo pháp hành Thiền Quán Âm bởi tính tích cực của nó. Bắt nguồn từ phương châm "Học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo", ta sẽ không bao giờ mong cầu mình được sanh về một thế giới cực lạc, hoặc Niết Bàn cho riêng mình. Đây là thông điệp chính yếu của Thần chú Đại Bi, tiếng Phạn là Maha Karuna, mà Karuna có nghĩa là "ngưng tìm kiếm hạnh phúc". Ta ngưng tìm kiếm hạnh phúc, Niết bàn cho chính ta khi muôn loài chúng sanh chưa hạnh phúc, an lạc, chưa đạt được cảnh giới Niết Bàn, như Đức Di Lặc đã thuyết trong kinh Trang Nghiêm Minh Giác: "Với từ bi ta không trụ nơi cực lạc an bình", có nghĩa là với Đại Từ Bi ta không mưu cầu sự giải thoát cá nhân.

Như vậy, nếu hiểu Tịnh Độ là pháp môn dựa trên căn bản Tín, Nguyện, Hạnh, thì phương pháp hành Thiền sử dụng Thần Chú Đại Bi cũng không xa lìa pháp môn Tịnh Độ, chỉ khác một điểm nhỏ là thay vì trì tụng danh hiệu Phật A Di Đà, chúng ta trì tụng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Bi Thần Chú. Đến đây, những hành giả bị ảnh hưởng sâu đậm bởi tư tưởng Tịnh Độ -những người thường lo lắng đến hậu sự- chắc chắn sẽ nêu ra câu hỏi: Nhưng rồi sau khi quá vãng, chúng ta, những người tu tập Thiền định -Thiền Quán Âm, nếu không đạt được giác ngộ trong hiện kiếp sẽ vãng sanh về đâu? Thưa bạn, câu hỏi đặt ra thật đúng lúc, vì qủy vô thường có thể đến thăm viếng ta bất cứ lúc nào, tốt hơn hết là ta nên chuẩn bị. Tuy nhiên, bạn cũng đừng phí thì giờ để lo nghĩ nhiều đến vấn đền này vì bạn nhớ không, trong kinh Đại Bi, Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa với chúng ta rằng những người trì tụng thần chú Đại Bi chắc chắn sau khi chết sẽ không bị rơi vào con đường ác đạo. Những điều Bồ Tát đã hứa là chắc chắn không thể nào thay đổi, có nghĩa là bạn đã biết chắc một điều rằng mình sẽ không bao giờ bị rơi vào con đường ngạ quỹ, địa ngục hay súc sanh. Như vậy vấn đề còn lại quả thật rất đơn giản: Bạn có quyền tự do lựa chọn cảnh giới Tịnh Độ mà mình mong muốn để được vãng sanh kể cả về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Tuy nhiên, do noi theo hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm, người hành Thiền Quán Âm như đã nói ở trên, không phải chỉ mưu cầu giải thoát cho riêng cá nhân mình mà còn muốn bắt tay vào việc cãi thiện xã hội, môi trường, xây dựng một cõi Tịnh Độ nhân gian trên cõi thế, cho muôn loài chúng sanh, trong thời đại mà chúng ta đang sống cho nên gần gũi hơn với Tịnh Độ Di Lặc. Do tính cách tích cực đó, xin được đề nghị thêm với bạn ba cảnh giới sau đây để suy nghĩ và chọn lựa. Sau khi đã có quyết định, bạn phải phát nguyện ngay cùng Bồ Tát Quán Thế Âm để Ngài thọ ký cho và chắc chắn bạn sẽ được Ngài hiện đến tiếp dẫn trước phút lâm chung, hướng dẫn bạn đến cảnh giới mong cầu:

Tái sanh trở lại cõi trần tiếp tục hành Bồ tát đạo, hoằng pháp lợi sanh, biến cõi nhân gian thành Tịnh Độ.
Về cảnh giới của Bồ Tát Địa Tạng, tức là xuống cõi địa ngục tiếp tục tu tập cùng Bồ Tát, thực hành công hạnh theo lời nguyện: "Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu tan".
Về cõi Trời Đâu Suất của Bồ Tát Di Lặc để tiếp tục tu học, cho đến khi nào Bồ Tát giáng trần ta sẽ cùng theo chân Ngài trở lại cõi thế dự hội Long Hoa.
Tuy nhiên, xin được nhắc lại một lần nữa, điều quan trọng nhất là chúng ta hiện đang sống trong cõi thế này, trong giây phút hiện tại này, cho nên công việc trước mắt của người Phật tử chúng ta là phải bắt tay ngay vào việc xây dựng một cõi Tịnh Độ Nhân Gian, tức cũng là cõi Tịnh Độ Di Lặc mà mọi Phật tử đều mong cầu, mơ ước. Đó cũng chính là thông điệp của Thần Chú Đại Bi.
Xin chắp tay trì tụng và hồi hướng công đức vô lượng của Thần Chú này đến muôn loài chúng sanh...

Tâm Hà Lê Công Đa

Nhân ngày Vía Bồ Tát Quán Thế Âm Thành Đạo, 19/6.

(*) trích dẫn từ bản dịch của Cư sĩ Phạm Kim Khánh.
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-10-2008 , 10:43 AM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Nên thực hành bài Bài Khấn Nguyện trước sau mới đến THỰC HÀNH THẦN CHÚ ĐẠI BI.

Bài Khấn Nguyện Mỗi Ngày

Nên khấn vào mỗi buổi sáng khi thức dậy và vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Hoặc vào buổi lễ công phu sáng hay tối.

Hoặc trong ngày bất cứ lúc nào, khấn thầm cũng rất tốt.

Khi lạy, nên lạy thật chậm rãi, và giữ tâm chí thành, chí kính.



Phần Sám Hối tuỳ thuộc, có thể lạy 3 lạy đến 108 lạy mỗi ngày, hoặc vào ngày 15, ngày 30, ngày lễ Sám Hối.



Dâng hương và cắm hương xong, quỳ đọc:



Con xin cung kính lễ lạy:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

Tam Bảo khắp mười phương. (3 lần)

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

Tri Ân:



Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát và Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay.



Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân. (1 lạy)

Cầu An:

Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.



Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi (1 lạy)

Cầu Siêu:

Con xin thành tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

Cho những vong linh tên:.....

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, tật bệnh,và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.



Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ ( 1 lạy)

Sám Hối:

Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.



Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.



Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, tư tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.




(Nên nhớ chi tiết các tội mình đã làm trong những năm tháng quá khứ, nhớ đến những lỗi lầm trong thời gian hiện tại, rồi hướng tâm lên chư Phật, lên Đức Quan Thế Âm Bồ Tát xin chứng minh cho lòng thành Sám Hối của mình để từ nay xin thành tâm tu học, cầu nguyện xin được thoát khỏi sinh tử luân hồi.





Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con.
(1 lạy)



Nếu bạn làm lễ Sám Hối riêng, hãy đọc lại câu“Hết thảy các tội con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng Sám Hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát và Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con. (50 hoặc 108 lạy.)



Lưu ý: Sau khi suy nghiệm về lỗi lầm của mình và đọc bài Sám Hối xong, bạn phải phát tâm thực hành tu học, giữ tâm ý của mình trong Tình thương, Bình đẳng và Trí tuệ, chứ không nên để tâm của mình trong ý niệm mặc cảm tội lỗi.





Hồi Hướng/Phát Nguyện:



Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.



Con xin hồi hướng, chia xẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân…(tên…) Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.



Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.



Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi.



Trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh
(3 lạy)



---------HÊ'T------

Ghi chú:

“Chư vị”: Ở đây là những vị bảo vệ, ủng hộ, giúp đỡ người tu hành, bao gồm: chư Thần, chư Thánh, chư Thiên, chư Tiên, chư Hộ Pháp, cùng các vị ở những cõi mà mắt thường chúng ta không thấy được.





TỪNG BƯỚC THỰC HÀNH THẦN CHÚ ĐẠI BI
Tâm Hà Lê Công Đa


A. Những bước chuẩn bị.
Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa với chúng ta: “Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp -khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh- lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang, Mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hay thân mạng của chính họ “.

Như vậy, thế nào là tụng trì đúng pháp?

Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.

Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng.Tóm lại, “Giữ gìn trai giới,ở nơi tịnh thất,tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà... Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.

Bàn thờ.

Hành giả nên có một phòng riêng yên tỉnh để lập bàn thờ Bồ tát. Bàn thờ nên có hình tượng Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào mà mình hiện có. Hình tượng Bồ Tát nên để day mặt về hướng Tây. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ.

Cách thức ngồi, lạy :

Mỗi người nên có một tọa cụ, hoặc đơn giản hơn, một miếng vải sạch hay khăn bông xếp lại để làm chỗ tọa thiền. Hành giả nên ngồi theo cách thức kiết già nhưng nếu gặp khó khăn thì có thể ngồi theo cách thức bán già (ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hay ngược lại), lòng bàn tay để ngữa hướng lên trên, bàn tay mặt để lên trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái đụng vào nhau. Mắt nên mở hé, nếu nhắm hẵn thì dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, nếu mở lớn thì khó định tâm.

Lạy là nghi thức biểu lộ sự cung kính, tôn trọng. Mỗi thời đại có một cung cách khác nhau để biểu lộ sự tôn trọng. Lối lạy kiểu cũ theo cách thức của người Trung Hoa có nhiều điểm rất bất tiện, không thích hợp cho không khí thiền đường. Trước hết, với kiểu lạy này, khi hành lễ mỗi người chiếm một khoảng diện tích đáng kể đủ để có thể đứng và qùy xuống lạy, gây trở ngại cho những thiền đường nhỏ. Việc đứng lên qùy xuống gây ra những tiếng động của động tác, tiếng sột soạt của quần áo, những động tác này cũng có thể làm phóng ra những bụi bặm, vi trùng mà ta mang trên quần áo, những mùi hôi của cơ thể - nhất là trong những xứ khí hậu nóng nực-, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường ta cần có để thở. Chưa kể là việc đứng lên qùy xuống lộn xộn trong những tư thế rất khó coi... Cho nên, chúng ta có thể thực hành một cách lạy tương đối đơn giản trong khi hành lễ, là thiền sinh cứ ngồi theo tư thế hành thiền, kiết già hay bán già, khi lạy chỉ cúi gập đầu xuống sàn phía trước, kéo dài tư thế này một khoảng thời gian ngắn đủ để niệm một câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm BồTát”, xong ngồi dậy.

Cách thức tụng đọc :

Chú Đại Bi phải nên được trì tụng lớn tiếng, giọng điệu trầm hùng, nhanh và liên tục bằng cách lấy hơi từ bụng ra. Lớn tiếng ở đây không có nghĩa là ta phải la lớn lên, nhưng giọng đọc phải rõ ràng, nghe đủ tiếng, không lờ mờ, trại giọng.

Kinh “Nghiệp Báo Sai Biệt” cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây :

1.Dẹp được sự buồn ngủ ám ảnh
2.Thiên ma hoảng sợ.
3.Tiếng vang khắp mười phương
4.Ba đường hết khổ
5.Tiếng đời chẳng lọt vào tai
6.Lòng không tán loạn
7.Dõng mãnh tinh tấn
8.Chư Phật vui mừng
9.Tam muội hiện ra trước mắt
10.Vãng sanh Tịnh Độ

Thật sự, ta cũng sẽ không lo ngại cơn buồn ngủ ám ảnh. Bởi vì khi trì tụng chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta, khi ta rơi vào cơn buồn ngủ, các Ngài sẽ giúp đánh thức ta -mà rồi qúy vị sẽ chứng nghiệm khi thực hành trì chú một cách nghiêm túc- bằng một âm thanh như tiếng sấm nổ ở trong đầu khiến ta hoảng hồn, giật mình tỉnh thức. Thông thường sau đó ta sẽ không còn (hoặc không dám) buồn ngủ nữa. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra một lần thứ hai trong buổi hành Thiền, điều này có nghĩa là thể xác ta quá mỏi mệt, ta nên xin phép được xả thiền để nghỉ ngơi.

Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt phải tụng thầm chỉ riêng cho mình nghe, hoặc chỉ nhép môi không ra tiếng như khi chúng ta đang làm việc, đi chung xe tàu với người khác, hoặc đi nằm trước khi ngủ.

B. Nghi Thức Hành Lễ

Hành giả nên tự mình sắp xếp thời khoá biểu thích hợp và cố định cho việc hành thiền tu tập của mình hằng ngày, vào buổi sáng hoặc buổi tối hoặc cả sáng lẫn tối. Đức Phật dạy rằng mỗi người nên hành thiền ngày hai buổi, buổi sáng sớm lúc mới rạng đông và buổi hoàng hôn lúc ngày chuyển qua đêm, còn nữa đêm thì nên thức dậy để đọc kinh. Đó là thời khóa biểu lý tưởng cho người tu tập, tuy nhiên nếu ta không có điều kiện thì chọn một thời khóa trong ngày cũng được. Thời gian lựa chọn để thiền định vào buổi sáng hay buổi tối rất quan trọng đối với mỗi cá nhân bởi vì có người chỉ hành thiền kết quả vào buổi sáng hoặc ngược lại. Kinh nghiệm cho thấy những người còn sống đời sống thế tục thì hành Thiền vào buổi sáng sớm kết quả hơn, bởi vì buổi tối sau một ngày làm việc, thể xác còn mệt mỏi, tâm hồn lại bị vướng mắc bởi bao nhiêu chuyện lo nghĩ từ chuyện gia đình đến chuyện sở làm ... rất khó định tâm.

Ngoài ra, mỗi cuối tuần nên có một buổi hành lễ chung của những người trong nhóm; đây cũng là dịp để tự sám hối, trao đổi kinh nghiệm tu tập. Việc tu học sẽ tăng tiến nhanh chóng nếu ta có những bạn đồng tu, những thiện trí thức đúng nghĩa.

NGHI THỨC HÀNH THIỀN

Hành giả ngồi xuống theo tư thế kiết già hay bán già. Điều chỉnh thế ngồi, lắc vai, lay chuyển thân thể chừng 5 lần, sửa xương sống cho ngay, chuẩn bị cho mình một thế ngồi thoải mái.

Rải ba tiếng chuông.

Lắng lòng thanh tịnh theo tiếng chuông ngân, hành giả thanh lọc nội tâm, tiêu trừ các tội chướng thân khẩu ý để bắt đầu bước vào nghi thức hành Thiền.

1. Tịnh Pháp Giới và Tam Nghiệp Chơn Ngôn:

ÁN LAM (21lần)
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà phạ, truật độ hám
(3 lần)


2. Tác Bạch Cúng Hương:

(Có thể có những bài nguyện hương khác nhau, hành giả có thể tự chọn bài nguyện hương quen thuộc).

Hương thơm giăng bủa
Thánh đức tỏ tường
Bồ Đề Tâm rộng chẳng suy lường
Tùy chỗ phóng hào quang
Lành tốt phi thường
Dâng cúng Pháp trung vương

NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT, MA HA TÁT
(3 lần).


3. ĐÃNH LỄ CHƯ PHẬT, BỒ TÁT

Nhất tâm đãnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A-Di-Đà-Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Ức Kiếp, Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Kiếp, Chánh Pháp Minh Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phương Nhứt Thiết, Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Hiền Kiếp Thiên Phật, Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Thần Diệu Chương Cú. (Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quán Âm Sở Thuyết Chư Đà La Ni, Cập Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Tôn Pháp.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát(Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Tổng Trì Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phưong Tam Thế, Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Ma HA Ca Diếp Tôn Giả, Vô Lượng Vô Số Đại Thanh Văn Tăng, Chư Lịch Đại Tổ Sư
(Chuông, 1 lạy).

4. ĐẠI BI PHÁT NGUYỆN

(Nếu một nhóm hành thiền chung, người chủ trì sẽ dâng lời phát nguyện này, các thiền giả chỉ nhẫm đọc theo và lắng lòng suy nghĩ theo lời nguyện.)

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả Pháp.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được mắt trí huệ.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền bát nhã.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được qua biển khổ.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được giới định đạo.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non niết bàn.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi.
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hương về cõi địa ngục,
Địa ngục liền mau tự tiêu tan.
Nếu con hướng về loài ngã quỷ,
Ngã quỷ liền được tự no đủ.
Nếu con hướng về chúng Tu la,
Tu la tâm ác tự điều phục.
Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh tự được trí huệ lớn.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm
(10 lần)
(chuông, lạy)

Xong tụng đọc:

5. THẦN CHÚ ĐẠI BI
(Tụng 5 ,7 hoặc 21 biến)

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha.

Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.

Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha.
(3 lần)

6. Nhập Thiền.

Tùy theo thời khoá biểu và thời gian cho phép, hành giả tự ấn định cho mình khoảng thời gian thiền định (15 phút, 30 phút, 1 giờ, v.v...)

7. Xả Thiền.

Trả Ơn Cửu Huyền Thất Tổ:

Tụng kinh, trì chú cũng là một cơ hội mà hành giả trả ơn cửu huyền thất tổ. Do công đức trì tụng trong pháp hội này, dưới sự chứng minh của thập phương chư Phât, chư Bồ Tát, đặc biệt là vị Bồ Tát Bổn Tôn Quán Thế Âm, ta hướng tâm thành đến các Ngài để nguyện cầu cho cửu huyền thất tổ, những hương linh của thân bằng quyến thuộc đã qua đời (nêu tên hoặc pháp danh) được vãng sanh đến miền Tịnh Độ. Ta cũng nguyện cầu cho những thân bằng quyến thuộc còn ở trong vòng sinh tử luân hồi, nhờ oai lực và sự trợ duyên của chư Phật, chư Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm có cơ hội biết đến Phật pháp, tinh tấn tu tập, và hướng đến giác ngộ. (Phần này mỗi hành giả có một lời nguyện riêng). (3 lạy)

Hồi Hướng:

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo

(3 lạy)

Xong mở miệng thở vài hơi dài. Nhè nhẹ lay chuyển cổ, vai, thân khoảng 5 lần, xong dùng hai bàn tay xoa nhẹ vào nhau xoa lên mắt (khoảng 5 lần). Bắt đầu dùng tay xoa bóp hai bắp vế và tháo chân ra, xoa bóp hai bắp chuối, bàn chân cho nóng lên (khoảng 5 lần).

Kết thúc buổi hành Thiền.

Cầu chúc quý đạo hữu nguyện lực vững bền, bồ đề tâm kiên cố, mau chóng đạt thành sở nguyện. Nếu có những kinh nghiệm tu tập, muốn cùng nhau trao đổi, xin liên lạc: lecongda@aol.com.

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-10-2008 at 11:39 AM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 06-10-2008 , 11:05 AM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Nghi thức trì chú Đại Bi

do Hòa Thượng Thích Trí Quang soạn
(Trích Hai thời công phu)


Thần chú này mang tên Ðại bi tâm, có nghĩa là cái tim của đại từ bi, nên tôi đã dịch là bài chú Tinh túy của đại từ bi Thần chú này không những có nghĩa mà còn có tượng. Về nghĩa, tôi đã làm tàm tạm trong Lương hoàng sám và trong Thủy sám, nên ở đây xin miễn. Ở đây nên nói tướng dụng và hành pháp của thần chú ấy. Tài liệu toàn lấy trong kinh Ðại bi tâm đà la ni (Chính 20/106-111) và Ðại bi sám pháp (Vạn 129/27-30).

1. Tướng dụng chú Ðại bi

Phật nói chú này là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ, thần chú diên thọ, thần chú diệt ác, thần chú phá ác nghiệp, thần chú mãn nguyện, thần chú tùy tâm tự tại, thần chú mau lên bậc trên ... Trì chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước, và chết thì sinh Cực lạc. Quan âm đại sĩ nói, trì chú này thì hết bịnh, hết nạn, tiêu ác pháp, tăng bạch pháp, như ý, như nguyện, đặc biệt gần chết thì được chư Phật trao tay, muốn sinh tịnh độ nào thì tùy ý mà sinh.
Biểu tượng của chú này là tâm đại bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm tốn, tâm không hỗn loạn, tâm không kiến thủ, tâm tuệ giác vô thượng. Trì chú này thì phải hành theo biểu tượng như vậy.

2. Hành pháp chú Ðại bi

Trì chú Ðại bi, đúng ra, mỗi một ngày đêm phải và chỉ cần 5 biến. Muốn trì chú này thì phải phát bồ đề tâm, rồi kính giữ trai giới, luôn luôn bình đẳng đối với tất cả, và trì tụng liên tục. Quan âm đại sĩ nói, đối với người ấy, ta soi thấy bằng ngàn mắt và nắm giữ bằng ngàn tay. Dưới đây là nghi thức trì chú Ðại bi được lược lại giản dị. Nghi thức này nổi tiếng là hiệu quả.

1) Phụng hành

Nhất tâm phụng thỉnh Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh Đức Phật Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni Như Lai (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh vị có Vô Ngại Đại Bi Tâm là Quan Thế Âm Đại Bồ Tát (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh liệt vị Bồ Tát,Duyên Giác, La Hán, liệt vị Phạn Vương, Ðế Thích và chư Thiên Thiện Thần
(1 lạy).

2) Tác bạch
Ðệ tử họ tên XX, pháp danh XX, phát nguyện trì chú Ðại Bi, cầu cho bản thân, cho thân nhân, cho chúng sinh, tất cả cùng được thành tựu đại bi thắng phước. Ngưỡng nguyện Đức Đại Bi Quan Thế Âm cùng Phật Pháp Tăng vô thượng tam bảo mật thùy chứng minh gia hộ.

3) Ðảnh lễ

Kính lạy Phật Pháp Tăng tam bảo vô thượng trong mười phương ba đời (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni Như Lai (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi (1 lạy).
Kính lạy vị thuyết ra bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi là Quan Thế Âm Đại Bồ Tát (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật Bổn Sư của Đức Quan Thế Âm là A Di Đà Như Lai (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật truyền thọ cho Đức Quan Thế Âm bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi là Thiên Quang Vương Tịnh Trú Như Lai (1 lạy).
Kính lạy các vị Pháp Vương tử quán đảnh trong pháp hội tuyên thuyết bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi mà đứng đầu là Đại Bồ Tát Tổng Trì Vương, Đại Bồ Tát Bảo Vương, Đại Bồ Tát Dược Vương, Đại Bồ Tát Dược Thượng, Đại Bồ Tát Ðại Thế Chí, Đại Bồ Tát Hoa Nghiêm, Đại Bồ Tát Ðại Trang Nghiêm, Đại Bồ Tát Bảo Tạng, Đại Bồ Tát Ðức Tạng, Đại Bồ Tát Kim Cang tạng, Đại Bồ Tát Hư Không Tạng, Đại Bồ Tát Di Lạc, Đại Bồ Tát Phổ Hiền, Đại Bồ Tát Văn Thù
(1 lạy)

4) Phát nguyện
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả các pháp (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con sớm được con mắt trí tuệ (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con mau độ tất cả chúng sinh (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện tuyệt hảo (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con mau ngồi thuyền tàu bát nhã (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con sớm vượt biển cả khổ đau (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con mau được các pháp giới định (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con sớm lên núi cao niết bàn (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con mau về ngôi nhà vô vi (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân thế pháp tánh (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến núi đao thì núi đao tự gãy (1 lạy) .
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến vạc sôi thì vạc sôi tự cạn (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến địa ngục thì địa ngục tự hủy (1 lạy) .
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến ngạ quỉ thì ngạ quỉ tự no (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến tu la thì tu la tự hiền (1 lạy).
Kính lạy Đức Quan Thế Âm, nguyện con đến súc sinh thì súc sinh tự khôn
(1 lạy).

5) Trì niệm
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát (21 tiếng đến 49 tiếng rồi lạy 3 lạy).
Nam mô A Di Đà Phật
(như trên).

6) Trì chú

Nam mô Ðại Bi hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần).
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni :
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca rô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát đả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Ðát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Ðộ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Ðà ra đà ra. Ðịa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Ðịa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, bàn đà ra dạ, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.

(5 lần, tụng theo bình thường ; tụng thẳng Phạn tự không linh nghiệm bằng, có người kiên nhẫn thử nghiệm thấy như vậy).


7) Sám nguyện

Kính lạy Đại Bồ Tát Quan Thế Âm, vô thỉ đến giờ, con vốn có tâm tánh thanh tịnh mà lại u mê ám chướng, sống trong pháp tánh bình đẳng mà lại nhân ngã bỉ thử, lỗi gây ra không thể xiết kể, tội bùng dậy khó nỗi hủy diệt. Ngày nay nhờ Đại Bi của Đại Bồ Tát, Đại Lực của Đại Thần Chú, con nguyện được tiêu diệt cả (1 đến 3 lạy ; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần).
Kính lạy Đại Bồ Tát Quan Thế Âm, xin đại bồ tát nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết yếu tố tội ác, làm theo hạnh nguyện quảng đại, đủ đại từ bi, chứng đại bát nhã

(1 đến 3 lạy ; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần)


8) Hồi hướng

Nguyện đem công đức này
hồi hướng khắp tất cả,
đệ tử và chúng sinh
đều trọn thành Phật tuệ
Kính lạy Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni Như Lai (1 lạy).
Kính lạy vị có vô ngại đại bi tâm là Quan Thế Âm Đại Bồ Tát (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật Bổn Sư của Đức Quan Thế Âm là A Di Đà Như Lai (1 lạy).
Kính lạy Đức Phật truyền thọ cho Đức Quan Thế Âm bài chú Tinh túy của Đại Từ Bi là Thiên Quang Vương Tịnh Trú Như Lai (1 lạy).
Kính lạy liệt vị Bồ Tát,Duyên Giác, La Hán, liệt vị Phạn Vương, Ðế Thích và chư Thiên Thiện Thần
(1 lạy).

Last edited by TIMSUTHAT***; 06-10-2008 at 12:14 PM..
AtlanticBLUE
Platinum Member
Join Date: May 2007
Số Điểm: 6656
Old 06-25-2008 , 08:36 PM     AtlanticBLUE est dconnect  search   Quote  
huynh TimSuThat

thank you !


Ablue
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 06:19 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.