VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-13-2019 , 04:54 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Phiền não, đau khổ đời người thực ra không phải do hoàn cảnh.

Cuộc sống nguyên vốn không có phiền não, sau khi ngọn lửa dục vọng được nhóm lên rồi, những điều phiền não sẽ đến gõ cửa lòng bạn.

Trước đây, có một ông nhà giàu gia tài ức vạn, nhưng mỗi ngày những chuyện khiến ông phiền não cũng nhiều như số tài sản ông ta có được.

Hàng xóm sát vách của ông nhà giàu là hai vợ chồng xay đậu phụ. Từng có câu ngạn ngữ rằng, ba nghề nghiệt ngã nhất trong đời, chính là làm nghề nguội, chống thuyền, xay đậu phụ. Nhưng hai vợ chồng xay đậu phụ này lại cảm thấy được niềm vui ở trong đó, hàng ngày tiếng ca hát, tiếng cười nói, tiếng nô đùa từ sáng đến tối không ngừng truyền đến ông nhà giàu.

Bà vợ của ông nhà giàu hỏi chồng: “Chúng ta có nhiều tiền như vậy, nhưng không hiểu sao lại không được vui vẻ như hai vợ chồng xay đậu phụ nhà hàng xóm nhỉ?“.

Ông nhà giàu nói: “Điều này có gì khó đâu, tôi sẽ để cho họ ngày mai có cười cũng không cười được nữa“.

Đến đêm khuya, ông nhà giàu cách bức tường liệng một thỏi vàng ròng sang phía bên sân nhà hàng xóm. Ngày hôm sau, hai vợ chồng xay đậu phụ quả nhiên im lặng không chút động tĩnh gì. Thì ra hai vợ chồng này đều đang tính kế!

Sau khi họ nhặt được thỏi vàng ròng “từ trời rơi xuống”, cảm thấy mình đã phát tài rồi, cái việc xay đậu phụ vừa khổ vừa mệt này từ nay không cần phải làm nữa. Nhưng mà, nếu như làm ăn, chẳng may thua lỗ thì phải làm sao. Còn nếu không làm ăn, thì thể nào cũng có ngày ngồi không núi vàng ăn cũng hết.

Trong lòng người chồng còn nghĩ, nếu như việc làm ăn làm được lớn rồi, là nên cưới thêm cô vợ bé trẻ đẹp hay là nên thôi bà vợ thô kệch hiện nay. Người vợ thì đang nghĩ, sớm đã biết có thể phát tài, thì lúc đầu đã không nên gả cho cái gã xay đậu phụ đáng ghét này.

Suy đi nghĩ lại, hai vợ chồng mới ngày hôm qua còn vui vẻ hạnh phúc biết bao, giờ đây ai cũng không còn có tâm trạng để nói cười nữa, nỗi buồn phiền đã bắt đầu xâm chiếm hết tâm tư của họ.

Điều càng khiến cho hai vợ chồng đau khổ hơn nữa là, tại sao ông trời lại không rơi xuống thêm mấy thỏi vàng nữa, như vậy mọi suy tính trong đầu cũng đều được như ý nguyện rồi?

Cuộc sống nguyên vốn không có phiền não, sau khi ngọn lửa dục vọng được đốt lên, phiền não sẽ lần lượt kéo đến gõ cửa lòng bạn.

Cuộc sống nguyên vốn không có đau khổ, nhưng khi bạn bắt đầu suy tính thiệt hơn, lòng tham trổi dậy, đau khổ sẽ lần lượt kéo đến quấn chặt lấy thân bạn.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-13-2019 , 05:09 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Trần Quốc Tuấn và lá số thánh nhân bất bại – P2
Trần Hưng •

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn chỉ là một tướng trẻ, chưa thể trực tiếp cầm quân chỉ huy, và những người có công lớn nhất chính là tướng Lê Tần và Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, những ghi chép trong cuốn “Đông A di sự” lại cho thấy một việc hoàn toàn khác. Cuốn sách này không chỉ hé lộ về nội tình của nhà Trần mà còn trả lại năm sinh cho Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, điều từng gây tranh cãi trong giới những người yêu thích tử vi ở Việt Nam.

Tiếp nối kỳ 1, chúng ta đã biết được nội tình của nhà Trần trước cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất. Theo đó, thái sư Trần Thủ Độ nắm gần như toàn bộ quyền lực trong tay, nhưng vì để có được đội quân tinh nhuệ nhất của đất nước thời bấy giờ, vua Trần Thái Tông chỉ định Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trở thành Tiết chế tổng chỉ huy quân đội. Tuy nhiên, thực quyền lại không được trao vào tay Trần Quốc Tuấn, đây là điều chính sử có ghi nhận. Nhưng trong cuốn “Đông A di sự” mà chúng ta đã nhắc tới ở kỳ trước, những sự việc sau đó lại không hề được chính sử nhắc tới…

Nguy cơ cận kề.

Năm 1257, tin tức về đại quân Mông Cổ đang chuẩn bị các bước tiến đánh Đại Việt dồn dập báo về, cả nước đang chuẩn bị chống lại đội quân hiếu chiến nhất lịch sử. Nhưng trong triều đình, chức Tiết chế vẫn chưa có ai nắm, Trần Quốc Tuấn dù được chỉ định nhưng nhà vua do dự chưa ban chiếu chỉ. Trong Hoàng thân nhiều người còn nghi ngại Trần Quốc Tuấn có thể theo lời trăn trối của cha mà nổi cuộc binh biến cướp ngôi.

Tháng 8 năm 1257, thủ lĩnh đạo dân binh, trấn thủ biên giới là Hà Khuất khẩn cấp báo tin tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hơp Thai dàn đại quân ở biên giới, uy hiếp, đe dọa, sai sứ giả đến chiêu hàng.

Trong cuộc thiết triều, tướng quân Lê Tần dẫn đầu một số tướng lĩnh muốn Trần Quốc Tuấn lĩnh ấn Tiết chế, nhưng một số Hoàng thân bị ám ảnh bởi lời di chúc thì muốn Thái sư Trần Thủ Độ lĩnh ấn tiết chế. Vua Trần Thái Tông hiểu rằng nếu để Trần Thủ Độ hay bất kỳ ai khác lĩnh ấn Tiết chế thì chỉ có thể điều được quân triều đình, còn lực lượng Ngũ Yên hữu dụng và tinh nhuệ bậc nhất thì không thể nắm trọn. Hơn nữa, dưới áp lực của thái sư Trần Thủ Độ, vua chưa biết phải giải quyết ra sao.

Lá số thánh nhân.

Cuốn “Đông A di sự” có ghi chép, bấy giờ Huệ Túc Phu Nhân mở lời nói rằng có thể xem lá số tử vi cho Trần Quốc Tuấn.

Đến đây cần nói rõ một điều, trong chính sử không ghi chép ngày sinh của Trần Quốc Tuấn. Nhà tử vi lừng danh là cụ Thiên Lương dựa vào các dữ kiện để đoán ngày sinh của Trần Quốc Tuấn là giờ Ngọ ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Tý (1228) khiến nhiều người mến mộ tử vi tin theo. Tuy nhiên cuốn “Đông A di sự” – cuốn sách của người triều Trần viết ra – đã ghi chép rằng vua Trần Thái Tông nói, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh giờ Mùi, ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1232).

Trước đây mỗi khi xem tử vi cho ai, Huệ Túc Phu Nhân chỉ cần bấm ngón tay là nói rõ số mệnh rồi. Nhưng lần này liên quan đến vận mệnh giang sơn xã tắc nên Huệ Túc Phu Nhân rất cẩn thận cầm bút chấm lá số rất chi tiết.

Rồi Huệ Túc Phu Nhân nói với vua rằng:

Tuổi Nhâm Thìn thuộc mệnh thủy, cung mệnh lại nằm ở Hợi cũng là hành thủy, nơi lập mệnh là nơi chỗ đứng con người, cùng là hành thủy nên cuộc đời lúc nào cũng được thuận tiện.

Cục là bước đi dài ngắn khác nhau, lá số này thuộc kim cục, mà kim sinh thủy, nên cục sinh mệnh lại đồng thời cũng sinh ra hành của cung mệnh, thì từ bản chất, tới chỗ đứng, được bước đi sinh ra. Như vậy không bao giờ thất bại, cũng không bao giờ chết bất đắc kỳ tử. Nếu trao bình quyền cho người này thì chỉ có thắng hoặc hòa chứ không bao giờ bại.

Lời của Huệ Túc Phu Nhân khiến nhà vua thở dài nhẹ nhõm, trút bớt được gánh nặng. Huệ Túc Phu Nhân nói tiếp:

Tử vi, Thất sát thủ mệnh, được Hóa quyền, Văn khúc, Trường sinh phù tá thì đây là số của một bậc tể thần, làm lên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính. Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân. Như vậy thì bệ hạ còn trì nghi gì nữa mà không ban chỉ trao quyền Tiết chế cho vương, để vương kịp thời chuẩn bị phá giặc.

Thấy nhà vua vẫn chưa hết lo lắng, Huệ Túc Phu Nhân nói tiếp điểm then chốt:

Bệ hạ sợ trao binh quyền cho vương, rồi vương cướp ngôi vua ư? Nhất định không có. Nếu như vương cướp ngôi, thì muôn nghìn năm sau, sử xanh còn chép vương là một gian thần tặc tử. Trong khi số của vương là số đại anh hùng, đại thánh nhân… Thì nhất định không có việc vương cướp ngôi rồi.

Vì sao thái sư Trần Thủ Độ đành chịu?

Ít ai biết rằng, trước buổi thiết triều một ngày, Huệ Túc Phu Nhân đã trao một tờ “hoa tiên” cho Trần Thủ Độ rồi nói rằng: “Tôi mới làm một bài thơ mừng tuổi thọ của Thượng phụ. Rất mong Thượng phụ thu nhận.”

Trần Thủ Độ nhận “hoa tiên”, khi rời khỏi hoàng thành mới mở ra đọc, trong đó viết: “Trước thượng phụ thua cuộc, có hứa làm theo tôi ba việc. Việc thứ nhất là cho gia đình tôi kiều ngụ ở Đại Việt. Bây giờ tôi xin yêu cầu điều thứ nhì, mong thượng phụ thực hiện. Đó là: Mai này hoàng thượng chỉ định ai lĩnh chức Tiết chế thống quốc binh sự, xin thái sư đừng cản trở”.

Vào buổi thiết triều, Thái sư Trần Thủ Độ hiến kế là nên dàn quân chuẩn bị trước, rồi cho gọt tóc sứ giả nhằm hạ nhục Mông Cổ. Ngột Lương Hợp Thai bị hạ nhục như thế sẽ uất lên mà đem quân đánh gấp. Phàm khi ra quân mà tướng cáu giận dễ ra các quyết định lầm lẫn mà bị đánh bại.

Tướng quân Lê Tần nhắc lại ý cần phải cử một vị là Tiết chế quân mã, nhiều người tán thành.

Vua Trần Thái Tông nhìn mọi người một lượt rồi nói: “Suốt mấy ngày qua, trẫm đã suy nghĩ kỹ. Lại xét số Tử vi, khấn các vị tiên hiền Đại Việt phù hộ. Nay trẫm quyết định.”

Gần hai trăm người thiết triều ai cũng hồi hộp, không một tiếng động, nhà vua bước đến bên trao thanh bảo kiếm cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, rồi tuyên bố:

Kể từ lúc này, Hưng Đạo vương là Tiết chế toàn bộ binh mã Đại Việt. Khi mang thanh kiếm này thì vương là trẫm. Mọi mệnh lệnh vương ban ra là lệnh của trẫm.

Nhiều người nhẹ nhõm hân hoan. Trần Thủ Độ cùng một số Hoàng thân cau mặt, nhưng cũng không biết phải làm sao vì Huệ Túc Phu Nhân đã dặn trước Trần Thủ Độ phải thực hiện lời hứa thứ hai, là khi hoàng thượng tuyên bố ai giữ chức Tiết chế thì không được cản trở.

Nhớ lại lúc Huệ Túc Phu Nhân đánh cuộc tử vi với mình, Trần Thủ Độ cũng hiểu bà là người tài giỏi, lại nói được cả những uẩn khúc cá nhân của cuộc đời mình, nên Trần Thủ Độ cũng an tâm, cho rằng Huệ Túc Phu Nhân sẽ không nhầm lẫn. Hơn nữa, việc đề phòng binh biến nếu Trần Hưng Đạo thực hiện di chúc của cha thì Trần Thủ Độ cũng có chuẩn bị.

Tiết chế đưa ra kế sách chống giặc.

Hôm sau, tại buổi nghị triều tại điện Uy Viễn diễn ra vào tháng 8 năm 1257 (âm lịch), các tướng cùng bàn kế chống quân Mông Cổ, mọi người đều mong ngóng Tiết chế đưa ra kế sách. Hưng Đạo Vương năm ấy mới 25 tuổi, hướng vào triều thần nêu cách chống giặc của mình:

Phàm ra quân, phải sử dụng ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. May mắn thay nhân hòa ta đã đạt được từ lâu rồi. Hiện cả nước đang chờ phá giặc.

Thứ nhì là thiên thời. Nếu bây giờ ta sai cắt mũi 3 tên bồi sứ họ Trịnh, rồi thả về (tức đây là cách hạ nhục Sứ giả Mông Cổ) như thái sư bàn hôm trước, dĩ nhiên ta chọc cho Ngột Lương Hợp Thai nổi giận, đến mất bình tĩnh. Y sẽ xua quân tràn vào đánh ta trong tháng 9. Thế nhưng, khí hậu tháng 9 đến tháng Chạp là mùa lạnh. Thiên thời đối với quân ta thực bất lợi. Vì quân ta chịu lạnh dở. Ngược lại, khí hậu này lợi cho quân Mông Cổ, vì chúng sống ở vùng thảo nguyên, khí hậu lạnh cắt da, xé thịt. Khí hậu của ta đối với chúng là khí hậu mát mẻ, người ngựa của chúng sẽ cảm thấy dễ chịu.

Triều thần nghe đến đây ai cũng thấy điều này rất hợp lý, kể cả vua Trần Thái Tông và thái sư Trần Thủ Độ. Trần Hưng Đạo tiếp lời:

Vậy ta cứ giữ bí mật việc tống giam sứ, để Ngột Lương Hợp Thai mỏi mắt chờ. Hết tháng 9 không thấy sứ về, y lại sai sứ sang nữa. Ta cũng bắt giam. Sang tháng 10 không thấy sứ về, y có thể sai sứ sang nữa. Ta lại bắt giam. Như vậy y có xuất quân cũng phải sang cuối tháng Chạp. Ta chỉ cần cầm cự vài tháng, khí hậu trở thành ấm áp với ta, trở thành ôn nhiệt với Mông Cổ. Thế là ta đạt được thiên thời.

Về địa lợi. Ưu điểm của giặc là kỵ binh xung trận, là phá thành. Vậy ta không thủ thành, cũng chẳng dàn quân. Ta cần dụ cho giặc vào sâu trong nước. Trước hết, triều đình cần rời khỏi Thăng Long, ẩn vào sống với dân. Mỗi bộ ẩn vào một thôn xã khác nhau, luôn di chuyển, để giặc không biết tung tích. Ta dùng chim ưng liên lạc với nhau. Gia đình các đại thần, các võ tướng, ai ở đâu, thì đưa về quê mình sống với dân chúng. Như thế các quan yên tâm phá giặc, không phải vướng vít thê nhi.

Đến đây các triều thần đều đồng tình với kế sách của Hưng Đạo Vương, kể cả những ai trước đây vốn không đồng tình để ông giữ chức Tiết chế.

Thế nhưng nhằm đề phòng Hưng Đạo Vương có thể tạo biến theo di chúc của cha, thái sư Trần Thủ Độ tìm cách chỉ để cho Hưng Đạo Vương tiết chế ba quân chống giặc, thực hiện theo đúng kế sách của ông, nhưng lại ngăn không cho Hưng Đạo Vương trực tiếp chỉ huy quân xung trận.

Vì thế trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, Hưng Đạo Vương đề ra toàn bộ kế sách chống giặc, trao binh phù cắt cử các tướng đi trấn giữ các nơi, nhưng bản thân ông lại không trực tiếp chỉ huy cánh quân nào cả.

Diệu toán.

Những diễn biến trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất cũng cho thấy, mọi việc đều theo đúng kế hoạch của Hưng Đạo Vương.

Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” dẫn tham khảo từ sách “Nguyên sử loại biên” và sách “Cương mục tục biên” của Trung Quốc chép rằng:

Năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai đã bình được nước Đại Lý, kéo quân sang nước ta, ba lần sai sứ đến dụ nhà vua đầu hàng, đều không thấy sứ thần trở về, bấy giờ mới chia đường tiến quân, nhân thế thắng, kéo vào đô thành nước ta, khi vào, thấy ba người sứ sai sang trước còn bị giam ở trong ngục.

Các nghiên cứ cũng cho rằng sứ giả quân Mông Cổ hống hách ngang tàng nên bị vua Trần bắt giam lại, thể hiện nhà Trần không sợ Mông Cổ mà sẵn sàng chuẩn bị cuộc chiến giữ nước. Nhưng thực ra đó không phải là hành động nhất thời mà toàn bộ đều nằm trong kế hoạch tính toán cẩn thận trước đó của Hưng Đạo Vương để đạt được thiên thời.

Khi quân Mông Cổ tiến sang, quân nhà Trần tập trung đông ở Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) chặn giặc, quân nhà Trần có vua Trần Thái Tông cùng tướng quân Lê Tần chỉ huy. Việc tập trung quân tại Bình Lệ Nguyên là theo kế hoạch của Hưng Đạo Vương, theo kế hoạch này quân Đại Việt sẽ đánh một trận nhằm tiêu hao bớt sinh lực và nhuệ khí quân Mông Cổ rồi rút lui nhằm dụ quân Mông Cổ tiến sâu.

Tuy nhiên vua Trần Thái Tông cùng toàn quân rất hăng hái đánh đến cùng, dù ưu thế đang nghiêng dần về phía quân Mông Cổ. Tướng quân Lê Tần có công lớn hộ giá nhà vua, đồng thời nhắc nhở nhà vua cần lên thuyền rút đi: “Nếu bây giờ bệ hạ làm như thế, thì chỉ như người dốc hết túi tiền để đánh nốt tiếng bạc mà thôi. Tôi tưởng hãy nên lánh đi, không nên khinh thường mà nghe người ta được.” (theo Cương Mục)

Vua Trần quyết định lên thuyền rút lui để bảo toàn lực lượng.

Thực chất, việc tránh thế giặc mạnh, tạm thời rút đi đợi sau này phản công chính là tiếp tục kế sách của Hưng Đạo Vương để đạt được địa lợi. Tướng Lê Tần chỉ là nhắc nhở vua về kế sách của Hưng Đạo Vương. Chính nhờ công lao này mà sau chiến thắng, Lê Tần được đổi tên thành Lê Phụ Trần – tức họ Lê mà có công với nhà Trần.

Sự trung thành của đội quân Ngũ Yên.

Quân Mông Cổ đuổi theo vua Trần và chạm trán với quân Ngũ Yên ở Phù Lỗ. Nơi đây Trần Tử Đức cùng vợ là Bùi Thiệu Hoa và em gái là Trần Ý Ninh chỉ huy quân Ngũ Yên chặn quân Mông Cổ tiến vào thành Thăng Long, để cho quân chủ lực và dân chúng trong kinh thành có thời gian di tản.

Sốt ruột vì lo vua Trần chạy thoát, Ngột Lương Hợp Thai dốc toàn quân tấn công, nhưng đội quân Ngũ Yên vẫn vững vàng đẩy lui quân Mông Cổ. Đội quân từng tung hoàng ngang dọc từ Á sang Âu, gây kinh hoàng khắp nơi, nhưng bị bất lực hoàn toàn trước quân Ngũ Yên.

Sau hơn 10 ngày chặn được giặc, Trần Tử Đức cho vợ cùng em gái đem theo đa phần quân sĩ rút, còn mình thì ở lại chặn giặc. Nhận thấy quân Mông Cổ đã tràn ngập khắp cả chiến lũy, ông đã tuẫn quốc khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Phu nhân Bùi Thiệu Hoa sau khi rút lui thì được tin chồng đã tuẫn quốc thì đã làm lế tế chồng, rồi tự tử chết theo phu quân.

Thánh nhân bất bại.

Trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, quân Đại Việt đều thực hiện theo đúng kế hoạch của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Có thể nói rằng người có công lao lớn nhất giúp Đại Việt đánh tan đội quân mạnh nhất thế giới bấy giờ chính là Trần Quốc Tuấn.

Năm 1264, thái sư Trần Thủ Độ qua đời. Năm 1283 quân Mông Cổ đe dọa lần thứ 2 tiến đánh Đại Việt. Lúc này sự trung thành của Hưng Đạo Vương cùng đội quân Ngũ Yên với giang sơn xã tắc và triều đình đã khiến mọi người đều tin tưởng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo Vương làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cả nước.

Trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ 2 năm 1285 và lần thứ 3 (năm 1287-1288), mỗi lần Mông Cổ đều đưa 50 vạn quân sang. Như vậy trong 3 năm, Đại Việt phải đối mặt với 100 vạn đội quân tinh huệ và hiếu chiến nhất thế giới lúc bấy giờ.

Hưng Đạo Vương nhiều lần nghe nhắc nhở về lời trăn trối của cha khi xưa, nhưng ông bỏ ngoài tai hết. Trong hoàn cảnh đất nước rơi vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc, ông luôn đặt giang sơn và dân tộc lên trên hết, lần lượt đánh tan đội quân Mông Cổ hùng mạnh.

Đúng như lời Huệ Túc Phu Nhân nói khi chấm lá số của ông:

“Đây là số của một bậc tể thần, làm lên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính. Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân.”

Và bậc thánh nhân bất bại ấy chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

(Hết)
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-13-2019 , 05:23 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Ý nghĩa thực sự của bài hát “Rừng Lá Thấp”: Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca…
Share

Bài hát Rừng lá Thấp được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác năm 1968 để vinh danh người bạn của mình là Trung úy Thủy Quân Lục Chiến – Vũ Mạnh Hùng, tử trận năm Mậu Thân 1968 khi Bảo vệ Cầu Bình Lợi, là cửa ngõ vô Sài Gòn (vì vậy trong mở đầu bài hát có câu “thành phố sau lưng ôm mộng ước gì”).

Trong lời tờ nhạc bài này khi phát hành năm 1968, Trần Thiện Thanh đã đề tựa: Tặng anh hùng mũ xanh chiến trường Bình Lợi,
Cố Trung Úy Vũ Mạnh Hùng Tiểu Đoàn 3 – Thủy Quân Lục Chiến.

Ngoài ra đầu đề, tác giả còn ghi mấy dòng gửi người bạn quá cố của mình như sau:

Hùng,
Xưa, 1 lần hành quân về ghé thăm tao, mày đã tỏ ý khó chịu về những nàng ca sĩ cứ bô bô hát những bài ca đòi… “yêu”, đòi “chung tình” với “Lính”.
Tao đã không đáp, bởi… thật khó cho tao khi phải nói về những người bạn đồng nghiệp.
Trong tình bằng hữu mười mấy năm còn thật đậm, tao ghi lại ở đây 1 ý kiến của mày, tiếc là mày không thèm nghe tao hát nữa. HÙNG ơi!
Thanh – 1968/11

Từ trước đến nay, người nghe chỉ đơn thuần cảm nhận bài hát Rừng Lá Thấp như là một bài nhạc vàng viết về lính, ca ngợi người lính, chứ không thấy rõ ý nghĩa thực sự đằng sau bài hát.

Lời đề tặng bên trên giúp khán giả có thể hiểu hơn về nội dung của Rừng Lá Thấp: Nhân vật bạn của tác giả Trần Thiện Thanh, là trung úy Vũ Mạnh Hùng, không thích những lời hát sáo rỗng của các nàng ca sĩ khi hát về “tình yêu lính”, “chung tình với lính”, “trọn kiếp yêu anh lính”:

Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca
Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà
Giữa rừng già nghe tiếng hát thật cao
Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu…

Từ máy thu thanh, người lính nghe những lời hát yêu đương trọn kiếp đó vang vọng giữa rừng. Nhưng làm gì có yêu đương thực sự nào, hay chỉ toàn là lời phù hoa chót lưỡi đầu môi?

Đời lính gian lao, người lính chỉ CẦN hai tiếng “MẾN ANH – thực sự hiện hữu” sau một đêm khói lửa với quân thù. Họ muốn nữ ca sĩ hãy thôi hát về những yêu-thương-không-có-thật, mà hãy hát về những gian khổ của đời lính, những chiến công của người giết giặc trên cầu, những người đang còn mải mê chiến trường và lá rừng che kín đường về phồn hoa, hoặc hát cho những bà mẹ chờ con, cho những người đã vĩnh viễn nằm xuống.

Trong câu hát “tàn đêm khói lửa giờ chỉ CẦN hai tiếng mến anh”, nhiều ca sĩ hát sai thành “tàn đêm khói lửa giờ chỉ CÒN hai tiếng mến anh”. Sai có 1 chữ mà đổi ý nghĩa cả câu hát lẫn bài hát.

Suy cho cùng, đó cũng chỉ là lời trách móc nhẹ nhàng đến các nữ ca sĩ, chứ thực ra đời lính ai cũng đã quen với gian khổ quân hành, quen với tiếng súng đã vang vọng từ ngày thơ. Người lính không mưu cầu gì khác hơn là việc mong muốn non nước bình yên, dù họ có phải hy sinh tất cả, hy sinh cả tính mạng của mình.

Cuối cùng, lời nhắn nhủ là “lời hát xin gây rung động thật lâu”, mong muốn những tiếng hát hãy thật lòng và thật sự chạm đến tâm khảm của mọi người, giống như người lính cũng thật lòng yêu lá thấp giữa rừng. Chỉ những lời hát, giọng hát chân thật mới có cảm xúc trọn vẹn và gây được rung động thật lâu.

Nói thêm về ý nghĩa của tựa đề bài hát: Rừng Lá Thấp. Màu áo và nón của anh lính TQLC vốn là màu xanh lá rừng để ngụy trang. Một đội quân như vậy sẽ nhìn như một cánh rừng thấp bên dưới, Trần Thiện Thanh đã gọi màu áo xanh đó là rừng lá thấp. Vì vậy “lính giữa rừng yêu rừng lá thấp” cũng chính là yêu màu áo lính của mình.


Có thể nói, lời hát của bài Rừng lá Thấp, nếu được suy xét kỹ, là những lời lên án thẳng thừng về sự sáo rỗng, giả dối về “tình yêu lính” trong câu hát, giọng hát của các “cô nàng”. Những người như anh lính TQLC Vũ Mạnh Hùng cảm thấy câu hát đó không thật lòng với họ. Khi anh Hùng nói việc này với Trần Thiện Thanh – vốn là 1 nhạc sĩ nổi tiếng sáng tác và hát nhạc lính – Trần Thiện Thanh đã không nói gì, vì không muốn bình luận về đồng nghiệp. Ông đã ghi lại những ý kiến đó vào một bài nhạc lính, và bài Rừng Lá Thấp đã trở thành bài nhạc lính kinh điển và nổi tiếng nhất. Đông Kha.

RỪNG LÁ THẤP.

Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi
Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì
Tôi là người vui chinh chiến dài lâu
Nên mộng ước đầu tôi nghe đã chìm sâu.
Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca:
"Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà"
Giữa rừng già nghe tiếng hát thật cao
Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu?
Sao không hát cho người giết giặc trên cầu
Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh
Trong khói súng xây thành
Mắt quầng thâm mất ngủ
Tàn đêm khói lửa,
Giờ chỉ cần hai tiếng "mến anh"
Sao Không hát cho những người còn mải mê
Lá rừng che kín đường về phồn hoa
Sao không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa
Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua.
Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh.
Đời lính quen yêu gian khổ quân hành
Nghe từ ngày thơ tiếng súng triền miên
Đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên
Lời hát xin gây rung động thật lâu
Đừng hát như chim trên rừng lá sầu
Xin thật lòng qua câu hát đầu môi
Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-13-2019 , 05:29 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Ca từ trong nhạc xưa: Tám điệp khúc…
Share

Bài hát Tám Điệp Khúc là một ca khúc đặc biệt của nhạc sĩ Anh Việt Thu. Đây là 1 trong 2 ca khúc mà ông viết theo điệu ngũ cung của dân tộc, cùng với bài Đa Tạ. Người nghe nhạc dù không hiểu biết về nhạc lý, cũng có thể nhận ra sự khác biệt giữa 2 bài hát này với hàng ngàn bài nhạc vàng khác.

Có nhiều ngộ nhận về năm sáng tác của bài hát Tám Điệp Khúc. Nhiều người vin vào câu “hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về” trong bài hát để phỏng đoán bài hát được sáng tác khoảng 1974. Tuy nhiên trong tờ nhạc in lần thứ nhất của Tám Điệp Khúc, có ghi giấy phép xuất bản là năm 1965, tác giả tự xuất bản. Vậy chắc chắn bài hát này phải được viết vào trước thời điểm đó. Theo một bài viết của thi sĩ Du Tử Lê, ông cho rằng Anh Việt Thu sáng tác bài hát đầu tiên Giòng An Giang năm 17 tuổi (1956). Chỉ vài năm sau, khi vừa qua tuổi 20, Anh Việt Thu sáng tác Tám Điệp Khúc. Vậy là bài hát này được sáng tác từ đầu thập niên 1960, vậy mà Anh Việt Thu đã đoán được kỳ hạn 20 năm của miền Nam Việt Nam (1955-1975) để đưa vào bài hát. Bên cạnh “20 năm ngăn lối rẽ đường về” trong Tám Điệp Khúc, 20 năm cũng là mốc thời gian được đưa vào nhiều sáng tác trước 1975: “hơn 20 năm chinh chiến điêu tàn”, “rồi 20 năm sau”, “20 năm nội chiến từng ngày”…

Một tư liệu khác cho biết khoảng năm 1964, nhạc sĩ Anh Việt Thu đã chuyển đến Tây Ninh dạy nhạc tại trường Nam Trung học Tây Ninh. Khi đến đây nhạc sĩ đã sáng tác và nổi tiếng với ca khúc “Tám Điệp khúc”. Mốc thời gian này hợp lý vì bản in đầu tiên của tờ nhạc Tám Điệp Khúc được phát hành năm 1965.

Có nhiều người yêu nhạc thắc mắc về cái tên của bài hát. Vì sao lại tên là “Tám Điệp Khúc”? Có người sẽ đếm thử các đoạn điệp khúc trong bài hát, hoặc đếm đoạn nhạc. Nhưng nhìn đi nhìn lại, cũng chỉ có 1 đoạn điệp khúc được lặp lại, và cả bài hát cũng chỉ có 7 đoạn nhạc. Người viết có được đọc một bài phân tích trên mạng rất cầu kỳ về bài hát này, chia Tám Điệp Khúc ra thành các Điệp Khúc, Phiên Khúc, Tiểu Điệp Khúc… rất phức tạp, hoàn toàn không thuyết phục.

Nếu nhìn lại tờ nhạc được phát hành trước 75 của bài này, dễ dàng nhận thấy chính nhạc sĩ Anh Việt Thu đã phân thành “8 đoạn Điệp Khúc” rõ ràng cho bài “Tám Điệp Khúc”, và cẩn thận đánh số luôn từng điệp khúc đó. Xin vui lòng xem đánh số bên dưới, được chép y nguyên từ tờ nhạc cho dễ nhìn:

1. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Bàn tay năm ngón mưa sa.
Dìu anh trong tiếng thở.
Đưa tiễn anh đi vào đời.
Mẹ Việt Nam ơi, Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về.

2. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Bàn tay đón gió muôn phương.
Bàn tay đan gối mộng
Đưa tiễn anh đi vào đời
Mẹ Việt Nam ơi, Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về.

3. Tiếng hát hát trên môi.
Giấc ngủ ngủ trong nôi.
Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu.
Ôi tiếng chim muông gọi đàn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin dâng xin hiến trọn cả đời.

4. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Nằm nghe tiếng hát đu đưa.
Dìu anh trong giấc ngủ.
Ôi tiếng ru ru ngọt ngào.
Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.

5. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Từng đêm ấp ủ trong tim.
Từng đêm khe khẽ gọi.
Anh nhớ thương em từng giờ.
Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.

6. Tiếng hát hát trên môi.
Giấc ngủ ngủ trong nôi.
Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu.
Ôi tiếng chim muông gọi đàn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin dâng xin hiến trọn cả đời.

7. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Trùng dương sóng nước bao la.
Trùng dương vang tiếng gọi.
Ôi sóng thiêng em về Trời.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin ghi xin khắc nguyện lời thề.

8. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Rừng thiêng lá đổ âm u.
Rừng thiêng vang tiếng gọi.
Ôi núi thiêng em về nguồn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin ghi xin khắc nguyện lời thề.

Nói về khái niệm Điệp Khúc, đúng ra, điệp khúc phải là phần lặp lại y nguyên cả phần nhạc lẫn lời, được hát sau phần Phiên Khúc. Vì vậy nếu xét về điệp khúc đúng nghĩa thường thấy, trong bài Tám Điệp Khúc này, chỉ có một điệp khúc là đoạn số 3 bên trên, lặp lại y nguyên ở đoạn số 6 như sau:

Tiếng hát hát trên môi.
Giấc ngủ ngủ trong nôi.
Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu.
Ôi tiếng chim muông gọi đàn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin dâng xin hiến trọn cả đời.

Vậy trong bài hát này, Anh Việt Thu sửa lại 1 chút về khái niệm điệp khúc. 8 đoạn nhạc chép ra bên trên chính là “8 điệp khúc” của Anh Việt Thu. 8 đoạn Điệp Khúc này chỉ được lặp lại về phần giai điệu, chứ không lặp lại y nguyên phần lời theo nghĩa “điệp khúc” thường thấy.

Về nội dung bài hát, câu từ trong bài này khá đơn giản, tương đối tượng hình để người nghe có thể dễ dàng hình dung được bức tranh trong bài hát với nhiều gam màu, giai điệu thì lênh đênh như vận mệnh đất nước nổi trôi. Đặc biệt câu hát chủ đạo “Trời làm cho mưa bay giăng giăng, mây tím dệt thành sầu” được lặp lại nhiều lần trong 6/8 đoạn, là màu sắc buồn giăng khắp bức tranh trong bài hát.

Trong phần đề tựa cho bài hát, Anh Việt Thu ghi: “bài hát của chàng dành ru khi nàng buồn ngủ”. Tác giả ghi rõ là “chàng ru nàng”, nhưng trong bài hát, dễ dàng nhận thấy nửa đầu của bài là các hình ảnh của “nàng ru chàng”, là bức tranh tình yêu nhẹ nhàng với câu hát dìu dặt người nghe:

Bàn tay năm ngón mưa sa.
Dìu anh trong tiếng thở

Bàn tay đón gió muôn phương.
Bàn tay đan gối mộng

Nằm nghe tiếng hát đu đưa.
Dìu anh trong giấc ngủ.

Nội dung bài hát là câu chuyện tình trai gái, nhưng hơn hết, là tình yêu non nước, chờ đợi nhau khi người trai phải ra đi trong hoàn cảnh đất nước chia đôi: “ngăn lối rẽ đường về”. Hình ảnh “bàn tay năm ngón mưa sa” thể hiện là người con gái ở lại tần tảo sớm hôm, gian khổ nuôi hy vọng người sẽ về.

Ở đoạn thứ 3,6 (được lặp lại 2 lần) là hình ảnh giấc mộng về một ngày mai thanh bình. Có giấc ngủ nào bình yên hơn “giấc ngủ trong nôi”, gợi về cái thời êm ả nhất của đời người. Ở đó có đàn chim trắng bay khắp trời và về gọi nhau giữa trời đất nước thanh bình. Chàng trai đã nguyện dâng hiến cả đời mình cho giấc mơ đó.

Nếu ở đoạn 1 và 2 là hình ảnh “đưa tiễn anh đi vào đời”, thì ở ở đoạn 4,5 là sự tưởng nhớ nhau khi cách biệt. Tình yêu sắt son đã nối liền khoảng cách địa lý xa xôi, tưởng như có thể khe khẽ gọi nhau và dìu được nhau trong giấc ngủ.

Ai đã làm cho đôi lứa chia ly tan tác cả ngàn đời?

Ở 2 đoạn cuối (7,8), đôi trai gái đã thật sự cách biệt ngàn đời khi “sóng thiêng em về trời”. Câu hát ý nhị nói lên rằng một ngày kia, người trai chưa kịp về thì người con gái đã chết, không rõ lý do. Mà trong thời chiến, người ta có hàng trăm ngàn lý do để chết, để mà xa nhau. Khi chết đi, cả núi non sông nước đã ôm trọn người về (sóng thiêng, núi thiêng). Tình yêu của họ gắn với núi sông. Khi nằm lại, họ cũng về với núi sông.

Tám Điệp Khúc là 1 trong những bài có nhiều bản thu âm trước 1975 nhất, với tổng cộng 4 ca sĩ đã hát trước 1975: Hoàng Oanh, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thanh Thúy.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 04:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Không cầm được nước mắt khi biết đằng sau câu chuyện người đàn ông giàu có đi “giành” cơm từ thiện.

Quán cơm từ thiện Liên Sơn được mở ra bởi một nhà hảo tâm giấu tên là nơi tụ họp của những người lao động ở xóm trọ nghèo này. Từ khi mở quán, bữa cơm của những người xa xứ trở nên ấm áp lạ lùng, họ cùng nhau ăn cơm, trò chuyện vui vẻ thoải mái như một đại gia đình…

Nhưng một tháng gần đây mọi người ít nói chuyện với nhau hơn, cũng không cười đùa nhiều như trước nữa, bởi trong quán bỗng dưng xuất hiện một vị khách lạ mặt – một ông lão khoảng ngoài 60.

Cả quán ăn này mọi người đều quen nhau cả, bởi đều là người nhà quê lên thành phố bươn chải kiếm tiền nên nói chuyện hợp nhau lắm, còn cái người mới đến kia thì chẳng giống ai, mà trông ông ta cũng không giống như người nghèo, nhìn phong thái có vẻ là một người trí thức, giàu có. Nhưng mà ông ta đến đây làm gì chứ? Ông ta đâu thiếu tiền đến nỗi phải đi ăn cơm từ thiện?

Nếu ông ta cứ lặng lẽ đến ăn rồi về thì dù không thích nhưng mọi người cũng không đến mức khó chịu như vậy, nhưng đằng này, ông lão gặp ai cũng bắt chuyện hỏi han, cười cười nói nói như thể là thân quen lắm. Lúc đầu mọi người còn miễn cưỡng nói chuyện với ông, về sau thì chẳng còn ai nữa, ông lại bắt chuyện với bọn trẻ con. Ông luôn tỏ ra rất vui vẻ và hào hứng, nhiều hôm ngồi đến tận 3, 4 giờ chiều mới chịu về. Rồi chẳng được bao lâu, bọn trẻ con cũng nghe lời cha mẹ không đến ngồi gần ông nữa. Ấy vậy mà mỗi ngày đều đặn ông đều đến quán ăn lúc 12 giờ, lẳng lặng ngồi ăn một mình rồi nhìn ngắm mọi người nói chuyện rôm rả.

Một hôm, có một cậu thanh niên cao lớn, ăn mặc sang trọng vội vã đi vào quán rồi vội kéo ông ra chiếc xe hơi sang trọng. Mọi người cũng đều biết nhà ông giàu có nhưng vẫn thấy bất ngờ, một người phụ nữ bất bình lên tiếng:

“Con cái giàu có không biết chăm lo cho cha mẹ, lại khiến cha mẹ phải đi giành cơm từ thiện của người nghèo! Không biết là trong đầu nghĩ cái gì nữa?”

Con trai mở cửa, giậm chân bực bội đi vào nhà, ông buồn bã đi theo sau.

“Ba ơi, tiền con đưa có thiếu không mà ba phải đi giành cơm từ thiện với người nghèo. Ba làm cho người ta đánh giá nhà mình như vậy có xấu hổ không chứ? Từ giờ trở đi ba đừng ra đó nữa, mất mặt lắm”.

Nói rồi cậu con trai bực dọc đi thẳng lên lầu hai, ông cũng không nói gì cả, lặng lẽ vào phòng, đem tấm ảnh của người vợ quá cố ra ngắm, mắt ngân ngấn lệ.

Mấy tháng sau đó con trai cũng không chịu nói chuyện với ông. Dù ông đã rất muốn bắt chuyện với con nhưng nhìn vẻ mặt lạnh lùng đó ông lại không biết phải mở lời như thế nào. Ông cũng không còn đến quán cươm Liên Sơn nữa, chỉ lẩn quẩn ở nhà. Một năm dài trôi qua, con trai càng ngày càng bận rộn, đi công tác suốt, có khi cả mấy tháng trời hai cha con mới gặp mặt. Nhưng con chỉ về lấy đồ rồi lại đi, hiếm lắm mới có hôm ngủ ở nhà, bàn ăn chuẩn bị thịnh soạn cuối cùng vẫn chỉ mình ông ăn.

Một chiều mưa, cậu con trai trở về nhà sau 6 tháng công tác nước ngoài. Anh định vào lấy vài thứ đồ rồi lại đi ngay, không quên để lại tiền trên chiếc tủ trong phòng khách. Anh mở tủ thì vẫn thấy số tiền cũ mấy tháng trước vẫn còn y nguyên, không thiếu một đồng. Thấy lạ, anh bèn vào phòng tìm cha. Nhưng khi mở cửa ra anh hốt hoảng khi thấy ông đang nằm im lìm trên giường. Anh sợ hãi lay cha một hồi lâu ông mới mệt mỏi tỉnh giấc. Anh vội đưa cha vào bệnh viện ngay sau đó. Trên đường vào viện, chỉ thấy anh nức nở đọc tờ giấy ông đưa trước lúc hôn mê.


“Con trai của ba,

Khi con đọc được những dòng này thì chắc là đã về nhà rồi. Ba đã đợi con về rất lâu, mà đợi mãi không được. Từ sau đi đâu cũng nhớ báo một tiếng cho ông già này nhé. Nhưng mà cũng không biết có còn cơ hội đó nữa không, ba sợ là mình không ở lại đây với con lâu được nữa.

Ngày bé, con sinh không đủ tháng, yếu ớt và bệnh tật. Vì vậy mà con rất kén ăn, mỗi lần ăn ba đều phải ngồi cạnh bên ăn cùng con mới chịu. Rồi con lớn lên, chưa có buổi cơm nào con thiếu vắng ba. Ba luôn muốn ăn cơm cùng con như thế, để thấy con vui vẻ hào hứng kể ba nghe những chuyện xảy ra ở trường. Hồi đó con hoạt bát và nói nhiều lắm, chứ không ít nói như bây giờ đâu. Kể từ ngày mẹ con mất, con đã thay đổi nhiều lắm…

Nhiều khi ba rất muốn nói chuyện với con nhưng mà thấy con bận quá nên lại thôi. Từ lúc nào, ba nhớ quá hình ảnh con ăn cơm, nhớ cả những chuyện trò của cha con mình. Đã từ rất lâu rồi, con không về nhà ăn được một bữa cơm tử tế, chỉ vội vàng ăn qua loa đồ ăn nhanh rồi làm việc tiếp, hoặc là đi dự tiệc với đối tác. Nhìn con như vậy, ba đau lòng lắm, nhưng ba biết, công việc của con rất bận…

Con biết không, số tiền con đưa cho ba nhiều lắm, ba chẳng xài hết được. Ba cũng biết con thương ba, chỉ muốn ba ở nhà không cần làm gì cả; nhưng đây tâm nguyện của ba và mẹ con lúc bà ấy còn sống: Chúng ta đã dự định mở một quán cơm từ thiện khi về già. Nhưng mà mẹ con đi sớm quá… Ba đã mở một quán ăn là Liên Sơn, là tên của con và mẹ. Ba xin lỗi vì đã giấu con. Thực ra, ba đã định nói với con nhiều lần nhưng mà thấy con không có thời gian nên ba cũng không muốn làm phiền, sợ con lại phân tâm…

Ba thật xin lỗi vì điều này lại khiến mọi người xem thường con. Nhưng ba có thể nhờ con một việc được không? Sau khi ba mất, hãy giúp ba duy trì quán Liên Sơn này. Có nhiều người khổ sở lắm con à, bao đứa trẻ đến cơm cũng không có mà ăn…

Cuối cùng, con trai à, ba muốn nói là con đã luôn là niềm tự hào suốt cuộc đời ba mẹ. Ba mẹ không cần con phải giàu có thành đạt, chỉ mong con sống thật tốt và hạnh phúc. Ba thực sự mong mỗi ngày con đều được ăn thật ngon, phải như vậy mới có sức mà làm việc được con ạ. Đừng đau ốm, ba mẹ sẽ lo lắm!

Nhiêu đây thôi con à, ba mệt rồi, nghỉ đây…

Thương con, ba lúc nào cũng đợi con về”

Cha mẹ nói gì con cái cũng đều nên nghe lời, chỉ duy nhất nói “đợi con về” thì đừng bao giờ tin. Thời gian vốn đâu có khoan nhượng bất cứ ai, nhỡ đâu, khi chúng ta trở về đã không nhìn thấy họ nữa. Đừng để đến lúc như thế mới hối hận, nào có kịp nữa.... st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 04:16 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Nỗi oan thấu cả trời xanh.

“Cảm thiên động địa Đậu Nga oan” (nỗi oan của Đậu Nga cảm động cả đất trời) lấy nguyên mẫu từ vụ án lịch sử “thiên cổ kỳ oan” của nàng Chu Thanh, sống ở vùng Đông Hải thời nhà Hán. Bởi ảnh hưởng chấn động vào thời bấy giờ, nên vụ án này về sau trở thành nguồn cảm hứng cho Quan Hán Khanh viết nên kiệt tác này.

Chuyện kể về nàng Đậu Nga, người ở vùng Sở Châu sống vào thời nhà Nguyên. Nàng được người đời ca ngợi là người con có hiếu, từng phải bán mình để có tiền chữa bệnh cho cha; rồi sau về nhà chồng lại là con dâu thảo, hết lòng phụng dưỡng mẹ già.

Nhưng bi kịch của nàng cũng bắt đầu từ đây…

Theo tập tục “xung hỷ” của người Trung Hoa, người ta tin rằng cưới vợ cho con trai đang lâm bệnh nặng sẽ giúp bệnh tình được thuyên giảm. Bởi vậy mà Đậu Nga dẫu còn nhỏ tuổi nhưng vẫn được Thái Bà mua về làm con dâu. Thế nhưng chưa đầy 2 năm, cậu con trai của Thái Bà qua đời, trong nhà chỉ còn lại Đậu Nga và bà góa họ Thái sống nương tựa vào nhau.

Tấm lòng thơm thảo của nàng thì cả vùng Sở Châu không ai không hay biết. Nhưng cuộc đời lắm nỗi can qua, nàng bị cha con nhà họ Trương vu oan tội giết người. Tri phủ Sở Châu đã bức cung để bắt nàng nhận tội. Đậu Nga dẫu bị đánh chết đi sống lại vẫn một mực kêu oan. Vì biết nàng rất hiếu thuận với mẹ chồng, tên tham quan lại đem Thái Bà ra đánh đập trước mặt nàng. Đậu Nga thương Thái Bà tuổi cao sức yếu, không thể chịu đựng nổi cực hình, nên đành chịu nỗi oan mà nhận tội.

Thiện ác nếu không báo, càn khôn tất vị tư!

Nàng Đậu Nga hàm oan bị giải ra pháp trường. Trước lúc hành hình, nàng ngửa mặt lên trời than rằng:
“Xin hãy ban cho tôi một mảnh lụa trắng dài ba thước treo lên một cây sào cao trăm thước. Nếu tôi bị oan, thì một giọt máu nóng cũng không rơi xuống đất mà sẽ bắn lên trên dải lụa trắng kia; Nếu tôi bị oan, thì trời sẽ giáng tuyết dày ba thước đắp lên thi thể tôi; Và nếu như tôi bị oan, sau khi tôi chết đi, vùng Sở Châu này sẽ hạn hán trong suốt 3 năm liền”.
Tham quan phủ Sở Châu lắc đầu lia lịa, chế giễu: “Thật là ngu muội! Hoang đường!”, lòng nghĩ thầm: “Mùa hè tháng 6 oi bức như thế này sao lại có tuyết rơi được chứ? Xưa nay người ta chỉ thấy máu chảy xuống đất, ta lại muốn xem thử máu bay lên trời thế nào đây?”. Thế là ông lệnh cho treo một dải lụa trắng dài ba thước lên cây sào cao.

Có câu nói rằng: “Thiện ác nếu không báo, càn khôn tất vị tư!” Khi tên đao phủ vừa vung đao xuống, dòng máu của Đậu Nga như một kỳ tích đã bắn lên dải lụa treo giữa không trung, ngay cả một giọt cũng không rơi xuống đất. Sau đó, quả nhiên lời thề thứ hai cũng ứng nghiệm: trời nổi gió lớn, rồi tuyết rơi giữa tháng 6 mùa hè. Trong suốt 3 năm sau đó, cả vùng Sở Châu cũng lâm vào hạn hán, hoa màu khô héo, người dân trong vùng đều biết rằng nỗi oan của Đậu Nga đã thấu tận trời xanh.

Nhiều năm sau, khi cha của Đậu Nga đã thi đỗ bảng vàng, vinh quang hiển hách, ông trở về Sở Châu phúc thẩm lại vụ án và trừng trị những ác nhân phạm tội. Bà con đầu làng cuối xóm lũ lượt kéo đến thăm hỏi cha nàng và nói: “Từ đầu chúng tôi đã biết Đậu Nga bị oan, chỉ vì sợ quyền thế của tên tham quan đó mà đành ôm hận chứ không dám nói ra. Nhưng mà chúng tôi không hề hãm hại Đậu Nga, cớ sao lại phải chịu nạn hạn hán trong suốt 3 năm này chứ?”.
Cha của Đậu Nga đáp: “Các ông đã biết rõ Đậu Nga bị oan, vậy mà không thể nói lời công đạo, đó gọi là bất nghĩa. Còn có những người hùa theo tham quan mà miệt thị người lương thiện, đó gọi là bất nhân. Trời cao có mắt, không có tai bay vạ gió, thiên tai nhân họa chính là để trừng trị những kẻ bất nhân bất nghĩa vậy!”

Chọn lựa Thiện – Ác quyết định phúc họa đời người.

Kỳ thực, câu chuyện “Đậu Nga oan” là lời cảnh tỉnh thế nhân rằng: Con người sống trên đời cần phải phân định rõ thị phi, giữ vững chính nghĩa, biết lên tiếng cho lẽ phải, công bằng. Bởi lựa chọn Thiện hay Ác, đứng về Chính hay Tà, đều sẽ quyết định vận mệnh và tương lai mỗi người.

Vậy vì sao ranh giới giữa Thiện và Ác lại quan trọng đến thế? Bởi tấm lòng thiện lương cũng giống như một ngọn đèn thắp sáng thế gian này. Nếu mỗi người không thể giữ vững ngọn đèn chính nghĩa trong tâm, thì chẳng phải thế giới sẽ chìm ngập trong bóng tối hay sao? Và nếu như quả thật thế giới này toàn một màu đen tối, thì cái ác sẽ có nơi để ngự trị, để dung túng, và càng thêm phát tác hay sao!

Ranh giới giữa Thiện và Ác rất mong manh, nhưng lại quyết định sự khác biệt của mỗi người. Giống như trong câu chuyện trên đây, người dân Sở Châu dẫu không hành ác, không hại người, họ có thể tưởng rằng mình không phạm tội và không phải là người xấu. Nhưng khi thấy người tốt bị vu oan giá hoại, họ lại chọn cách im lặng, vì để giữ an toàn cho bản thân mà không dám nói lời chính nghĩa. Chỉ một ý một niệm này thôi đã đủ để phân loại Thiện – Ác trong tâm mỗi người. Không thể đứng về phía Thiện thì chẳng phải là Ác hay sao?

Bởi vậy, không phải cứ ăn chay niệm Phật, cứ lên chùa cúng bái, cứ bố thí tiền tài, cứ giúp người giúp đời sẽ là thiện lương. Mà thiện lương chân chính là vào giờ phút then chốt họ có thể đứng về phía lẽ phải hay không; vào giờ phút then chốt họ có dám xả thân vì chính nghĩa hay không; đối mặt với những sự việc đại thiện đại ác, ví dụ như bức hại các Phật tử, đàn áp Phật giáo Tây Tạng, hay mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công khiến cả thế giới kinh hoàng phẫn nộ, họ có dám lên tiếng bảo vệ cho những người vô tội hay không.

Người tốt, ấy là giữa thế sự đảo điên, giữa nhân tâm suy đồi, đạo đức đang trượt dốc mỗi ngày, họ vẫn sẵn sàng đối mặt với cái ác để cất tiếng nói cho những người không thể nói…

Người tốt, ấy là đối diện với lời gièm pha chế nhạo của người đời, đối diện với cuộc khủng bố đỏ chà đạp lên đức tin và tín ngưỡng, họ vẫn âm thầm đi khắp thôn cùng ngõ hẻm, nói lên sự thật để thức tỉnh lương tri, bảo vệ người vô tội…

Người tốt, ấy là khi bị đe dọa đến tính mạng hay bị chà đạp lên nhân phẩm, họ vẫn bảo vệ đức tin của mình, kiên định làm người tốt cho đến hơi thở cuối cùng…

Và tất cả những điều ấy cũng chính là những gì mà Martin Luther King từng nhắn nhủ với chúng ta:
“Kẻ hèn nhát hỏi: Có an toàn không?
Kẻ cơ hội hỏi: Có khôn khéo không?
Kẻ kiêu căng hỏi: Có được tiếng tăm gì không?
Nhưng kẻ có lương tâm hỏi: Có là lẽ phải không?
Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, cũng không được tiếng tăm nào cả, nhưng ta phải chọn nó, bởi vì đó là lẽ phải.”
_Martin Luther King, Jr., 1967_

“Thế giới không bị hủy diệt bởi những kẻ làm điều ác, mà bởi sự im lặng của những người tốt” – Albert Einstein.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 04:33 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Người phụ nữ giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Trần Hưng •

Theo lịch sử ghi lại thì cha của Trần Quốc Tuấn là An Sinh Vương Trần Liễu mang theo mối hận với vua, trước khi chết đã trăn trối với con rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”

Điều này Vua và Hoàng thân quốc thích nhà Trần đều biết rõ, nhưng vì sao nhà Vua vẫn quyết định phong cho Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế – Tổng chỉ huy quân đội đánh quân Nguyên Mông? Điều này không thấy trả lời rõ trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhưng được nói rõ trong cuốn “Đông A di sự” của Trần Triều Bình Chương Quốc Sư Băng Hồ Tướng Công Trần Nguyên Đán. “Đông A di sự” là một bộ tài liệu nói về các chuyện trong hoàng cung nhà Trần do những người trong hoàng cung ghi chép lại.

Câu chuyện mối hiềm khích trong nhà Trần.

Trong lịch sử triều đại nhà Trần vào giai đoạn đầu, người nắm thực quyền không phải là Vua, mà là Thái Sư Trần Thủ Độ, người có công lớn nhất đối với nhà Trần khi ép nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi phải nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh mới 8 tuổi, từ đó lập ra nhà Trần. Quyền lực thực chất nằm trong tay Trần Thủ Độ cho đến khi ông mất vào năm 1264.

Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, phong hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh hoàng hậu, năm 15 tuổi sinh hoàng tử Trần Trịnh nhưng không may chết yểu, sau đó hoàng hậu Chiêu Thánh không thể mang thai lại được nữa.

Năm 1237 vua Trần Thái Tông mãi vẫn chưa có con, điều này khiến nhiều tôn thất nhà Trần lo lắng hậu vận nhà Trần không có người nối dõi. Lúc này anh ruột của Vua Trần Thái Tông là Trần Liễu có vợ là bà Thuận Thiên đang có thai 3 tháng.

Trần Thủ Độ liền ép bà Thuận Thiên phải làm vợ của vua Trần Thái Tông, tức ép Vua phải lấy chị dâu đang mang thai. Sự việc này khiến nhà Vua và anh mình là Trần Liễu đều phản đối kịch liệt không tuân thủ theo.

Nửa đêm nhà Vua cùng hai cận thần trốn nên núi Yên Tử, gặp Quốc Sư Phù Vân là bạn của mình ngỏ ý muốn nương nhờ cửa Phật, Quốc Sư trả lời rằng: “Trên núi không có Phật, mà Phật ở ngay trong tâm ta”.

Lúc này Trần Thủ Độ dẫn quân tìm Vua và cuối cùng gặp được nhà Vua trên núi Yên Tử, nhà Vua nhất quyết không chịu trở về cung. Trần Thủ Đội nói rằng: “Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”, rồi ra lệnh xây ngay cung điện trên núi nơi Vua ở.

Sợ mất sự yên tĩnh nơi tu hành trên núi Yên Tử, Quốc sư Phù Vân khuyên vua trở lại kinh thành và nhờ vậy, vua Trần Thái Tông cùng mọi người quay trở lại hoàng cung.

Trần Liễu uất ức vì bị mất vợ, nhân lúc Trần Thủ Độ dẫn quân đi tìm vua liền đem quân của mình đến đánh chiếm kinh thành. Thế nhưng Trần Thủ Độ khi dẫn quân đi tìm Vua đã đề phòng có biến, nên dặn dò sắp đặt trước mọi việc cho các tướng lĩnh giữ thành. Vì thế quân Trần Liễu chưa kịp tới kinh thành thì đã bị bao vây.

Không đủ sức chống lại quân Triều Đình, Trần Liễu bỏ chạy, biết rằng khó thoát tội chết, lại nghĩ rằng bây giờ chỉ có em mình là vua Trần Thái Tông mới cứu được mình, liền hẹn vua ở sông Cái, rồi Trần Liễu đem thân đầu hàng trước Vua. Tới khi gặp Trần Thủ Độ, nhà Vua đem thân mình che chở bảo vệ cho anh mình khiến cho Trần Thủ Độ không làm gì được.

Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông và nói: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?”.

Trần Liễu được tha nhưng quân tướng đi theo ông thì bị xử tội chết hết cả. Sau sự việc này anh em Trần Liễu và Trần Cảnh đã xóa hiềm khích. Tuy nhiên Trần Liễu vẫn dấu mối hận trong lòng, nhất là vợ mình là Thuận Thiên khi trở thành vợ vua ngoài sinh được Trần Quốc Khang còn sinh ra Trần Hoảng (sau này là vua Trần Thánh Tông), Trần Quang Khải, Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc.

Trần Liễu có đứa con thứ ba là Trần Quốc Tuấn rất khôi ngô tuấn tú, Trần Liễu hy vọng đứa con này sau này có thể rửa mối hận cho mình, vì thế ông từ sớm đã đưa Quốc Tuấn đến thành Thanh Long ăn học ở nhà em gái mình là Thụy Bà công chúa, tìm thầy giỏi về dạy học cho Quốc Tuấn, nhờ đó ngay từ thời trẻ Trần Quốc Tuấn đã giỏi võ và thông thạo binh pháp.

Trước khi qua đời Trần Liễu trăn trối với Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Năm 1257 đứng trước nguy cơ quân Nguyên Mông sang xâm lược đại Việt, các tướng sĩ đề xuất cần có người làm Tiết chế binh mã, vua Trần Thái Tông định trao chức vụ quan trọng Tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Vì đâu vua Trần có được niềm tin này?

Việc trao binh quyền cho Trần Quốc Tuấn bắt đầu từ câu chuyện dưới đây:

Câu chuyện đánh cuộc tử vi nổi tiếng nhà Trần.

Nước Tống có một vị quan đậu đến tiến sĩ, rất thông tỏ thiên văn, tử vi là Hoàng Bính, khi quân Nguyên Mông sang đánh Tống, ông hiểu rằng nhà Tống đã hết thời, tử vi nhiều quốc thích dòng tộc nhà Tống rất xấu, lại chết cùng năm. Nhìn về phương nam thấy nơi ấy sáng tỏ tất có thể cư ngụ.

Tháng giêng năm 1257, Hoàng Bính đưa toàn bộ gia tộc khoảng 2.000 người đến Đại Việt xin được lập nghiệp. Vua Thái Tông được tin liền cho đưa về kinh. Cảm nhận thấy vua cùng các đại thần vẫn còn nghi ngại về mình. Hoàng Bính lấy tay chỉ lên trời mà rằng: “Trời Nam… linh khí ngùn ngụt, thánh nhân giáng trần, cầm gươm đuổi ác quỷ, đó là nơi có thể an thân. Vì vậy thần mới đem tông tộc sang xin bệ hạ cho núp bóng hoàng long”.

Lại nói Hoàng Bính có cô con gái út mới 16 tuổi tên là Hoàng Chu Linh hết sức tài giỏi, thông hiểu tử vi, học một hiểu mười. Trở về kinh thành, được biết Hoàng Bính rất giỏi tử vi, nhiều người muốn ông xem, nhưng Hoàng Bính lại để con gái của mình là Chu Linh xem cho mọi người.

Chu Linh xem cho mọi người đều vô cùng chuẩn xác, khiến ai cũng khâm phục. Lúc này Thái Sư Trần Thủ Độ mới tìm cách thử tài Chu Linh, câu chuyện này được ghi chép trong Đông A Di Sự.

Nhà Vua chỉ vào Trần Thủ Độ nói: “Hoàng cô nương! Đây là lão Vũ Thủy. Lão vốn cùng quê với quả nhân. Vì lão có tài trồng hoa, nên quả nhân trao cho lão coi vườn Thượng uyển. Xin cô nương coi dùm xem lão còn sống được mấy năm nữa!”

Rồi lão Vũ Thủy (tức Trần Thủ Độ) cho biết mình sinh vào giờ Tỵ, ngày 6 tháng 6, năm giáp dần 1194.

Sau khi bấm tay, Chu Linh nói: “À! Lão tiên sinh đùa tiểu nữ đây! Đến đấng chí tôn cũng thử tiểu nữ nữa”. Nàng nói bằng giọng nũng nịu, khiến cử tọa đều rung động.

Chu Linh đoán: “Cứ như tướng tiên sinh: Dáng đi như con diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu lân, tay vượn… Thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người, mà trên vạn vạn người. Còn số Tử vi, để tiểu nữ tính xem.”

Lúc này Hoàng Bính mới xen vào câu chuyện cùng Trần Thủ Độ đánh cuộc, nếu Chu Linh đoán đúng hết thân thế sự nghiệp thì Trần Thủ Độ phải thực hiện 3 yêu cầu của Chu Linh; còn ngược lại đoán không đúng thì Hoàng Bính cùng toàn bộ gia tộc trở về tộc.

Triều đình giật mình, vì không ngờ Hoàng Bính dám đánh cuộc lớn quá như vậy. Nhà Vua định bảo Thủ Độ bỏ cuộc, nhưng Trần Thủ Độ đồng ý đánh cuộc.

Sau một lúc bấm ngón tay, Chu Linh nói:

“Mệnh của tiên sinh lập tại Dần, Tử, Phủ thủ mệnh. Tử vi, Thiên phủ đều là đế tinh. Vì vậy tiên sinh thuộc loại mệnh cực lớn. Tiên sinh sinh ra đúng thời, là người tạo ra thời thế. Tất cả thăng trầm của Đại Việt trong vòng 50 năm qua, đều do một tay tiên sinh nắn bóp thành voi, thành hổ, tùy ý.

Tiên sinh tuổi Dần, mệnh lập tại Dần, thì trong người có đến hai ông kễnh thủ mệnh, lại thêm sao Thiên hình phù trì. Tử vi kinh nói: Hình hổ cư Dần, hổ đới kiếm hùng, tương phùng đế cách, ư Giáp Kỷ nhân, uy vũ trấn động. Nghĩa là: Người có Thiên hình, với Bạch hổ, hay tuổi Dần, là cách hổ đeo kiếm hùng. Người tuổi Giáp, tuổi Kỷ, uy vũ trấn động. Có điều tiên sinh được Lộc tồn thủ mệnh, Hóa lộc cư quan, là cách song lộc, thì là người chuyên quyền.

Thiên hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta.

Cung thê của tiên sinh có Phá quân, ngộ Hóa quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong.

Năm trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào!

Hai người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ. Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi!

Cung quan của tiên sinh có Liêm trinh, Thiên tướng, thì tiên sinh là người võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Danh tiếng bốn bể. Nhưng tiếc rằng cung quan ngộ Thiên không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng… dù ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước, quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.”

Lúc này Hoàng Bính hỏi Thủ Độ: “Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh, thì tiên sinh chính là Thái sư Trần Thủ Độ”.

Nhà vua tuyên chỉ: “Thái sư thua Hoàng cô nương rồi. Vậy Thái sư phải làm cho cô nương ba điều đi thôi.”

Chu Linh nói điều ước thứ nhất của mình là mong toàn thể gia đình được ở Đại Việt, 2 điều ước còn lại sẽ nói sau.

Lúc này Hoàng Bính mới quỳ trước Vua và nói rằng: Chuyến về Thăng long này, mục đích của ông là dâng con gái cho nhà vua, để tỏ lòng trung với Trần triều. Lập tức nhà vua ban chế phong Hoàng Chu Linh là Huệ Túc phu nhân.

Người phụ nữ củng cố tinh thần kháng Nguyên và giúp Trần Quốc Tuấn đảm nhiệm Tiết chế binh mã

Năm 1257 quân Mông Cổ chuẩn bị tiến đánh Đại Việt, nhiều người lo lắng. Huệ Túc Phu Nhân lúc này thấy lá số của nhiều tôn thất trong Hoàng tộc đều rất vẻ vang, nhiều người là anh hùng, bèn khuyên nhà Vua nên quyết tâm chống giặc.

Bà cũng thấy rõ Trần Quốc Tuấn là anh hùng dân tộc, sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ lưu lại thiên thu, nên dù cho mâu thuẫn gia tộc bà cũng khuyên nhà vua nên giao chức Tiết Chế cho Trần Quốc Tuấn.

Huệ Túc Phu Nhân tâu với Vua rằng: “Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo có số của Trần Ích Tắc, tuy thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi…”

Huệ Túc Phu Nhân cũng thấy rõ lá số của Trần Quốc Tuấn là người thông tuệ, tấm lòng sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt, tuyệt đối không thể làm phản nên hết lòng tiến cử Quốc Tuấn, và nhà Vua đã tin tưởng nghe theo lời bà mặc cho có lời bàn tán.

Nhờ đó, Trần Quốc Tuấn được cất nhắc làm Tiết Chế, tổng chỉ huy quân đội ngay từ lần chống quân Mông Cổ lần thứ nhất. Vào cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ 2. Khi 50 vạn quân Nguyên tiến sang, phía nam Toa Đô dẫn 20 vạn quân đánh ngược lên, người giữ thành Nghệ An là Trần Kiện cùng toàn bộ gia quyến đã đưa toàn quân đầu hàng giặc. Quân giặc từ hai hướng Bắc Nam như hai gọng kìm siết chặt, Đại Việt rối bời.

Lúc này nhiều người nói với Trần Quốc Tuấn rằng đây là cơ hội tốt nhất để trả thù cho cha. Thế nhưng Trần Quốc Tuấn bỏ ngoài tai hết, kể cả những lời nhắc nhở của con trai và người thân khác về thù nhà. Ông dốc lòng đem tài thao lược của mình với kế sách “vườn không nhà trống”, “dùng đoản binh phá trường trận”, từng bước lấy lại thế trận đánh bại 50 vạn đại quân Nguyên Mông, giữ vững giang sơn xã tắc nước Đại Việt.

Nếu như không có lời tiến cử của Huệ Túc Phu Nhân, không có lòng trung trinh của Trần Quốc Tuấn, thì có lẽ lịch sử Đại Việt đã thay đổi.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 04:45 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Lý giải tường tận con người Trần Thủ Độ qua xuất thân và lá số tử vi
Trần Hưng •

Giết hại hoàng tộc nhà Lý, cưới hoàng hậu nhà Lý cùng họ Trần, yêu cầu hoàng thân nhà Trần lấy người cùng họ – Những việc Trần Thủ Độ làm bị coi là đại nghịch bất đạo, đảo lộn luân thường, không thể lý giải, lại hoàn toàn có thể lý giải thông qua lá số tử vi của ông, qua xuất thân và quãng đời tuổi thơ không phải ai cũng biết của ông… Dù chúng ta không chấp nhận những hành động của Trần Thủ Độ, nhưng đã đến lúc giải mã tường tận con người ông.

Trần Thủ Độ là người có ảnh hướng lớn nhất đến lịch sử Đại Việt trong suốt nửa thế kỷ thay triều đổi đại từ Lý sang Trần. Ông theo bác mình là Trần Lý và anh họ là Trần Tự Khánh giúp nhà Lý đánh dẹp loạn khắp nơi, được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ. Vua Lý Huệ Tông bệnh nặng lại không có con trai, Trần Thủ Độ đã để vua nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, rồi lại bàn bạc với các triều thần khác để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Từ đó, nhà Lý chấm dứt, nhà Trần lên thay.

Tuy có ảnh hưởng lớn như vậy nhưng nguồn gốc xuất thân của Trần Thủ Độ không được các sách chính sử như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “An Nam chí lược”, hay “Lịch triều hiến chương loại chí” chép rõ. Có nguồn sử liệu cho rằng Trần Thủ Độ người làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng (nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), lúc nhỏ ở với bác của mình là Trần Lý. Nhưng những thông tin ít ỏi này không thể nói rõ hết thân thế của Trần Thủ Độ.

Nguồn gốc xuất thân

Trong cuốn “gia phả họ Trần” có ghi chép rằng họ Trần khởi nguồn ở Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay) suốt 1.000 năm, bắt đầu từ thời Trần Tự Minh, đến thời Trần Tự Viễn thì nổi tiếng bởi dòng võ học của mình. Để tránh dòng võ Đông A của mình xung đột với phái võ Hoa Sơn của nhà Lý (cùng ở vùng Kinh Bắc), nên đến đời Trần Tự Mai họ Trần đã chuyển võ đường đến Đông Triều, Chí Linh.

Đến đời Trần Tự Kinh thì họ Trần chuyển về Thái Đường nhờ biết được một vị trí phong thủy tốt. Trần Tự Kinh có con là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Con trưởng Trần Tự Hấp là cố của vua Trần Thái Tông. Con thứ là Trần Tự Duy sinh được Trần Thủ Huy.

Sách “Trần Nhân Tông” có viết rằng:

Trần Thủ Huy vốn một trang nam nhi tuấn tú và dũng mãnh. Gặp người bị nạn, Thủ Huy đã ra tay cứu giúp. Không ngờ người đó lại là vị thái tử nhà Lý tên là Lý Long Xưởng, con vua Lý Anh tông. Thái tử mang ơn kết tình huynh đệ với Thủ Huy.

Là người giỏi võ nghệ và có tài thao lược, Trần Thủ Huy đã có công lớn dẹp loạn trừ gian trong hoàng tộc nhà Lý nên được nhà vua gả công chúa Đoan Nghi và trở thành phò mã tài ba của triều đình.

Thế nhưng sau này nghe theo lời gièm pha, nhà vua đã bắt Trần Thủ Huy và công chúa Đoan Nghi đi sứ phương xa tận nước Kim, nước Liêu (thuộc Mông Cổ ngày nay). Đường xá xa xôi, trên một bến đò, công chúa Đoan Nghi trở dạ sinh được một bé trai, công chúa muốn đặt tên cho con trai có chữ “đò” để ghi nhớ sự kiện này. Trần Thủ Huy liền đặt tên cho con là “Độ” có nghĩa là “bến đò”. Từ đó đứa trẻ được mang tên Trần Thủ Độ.

Trần Thủ Độ lớn lên nơi thảo nguyên Mông Cổ, nên bị ảnh hưởng bởi văn hóa vùng thảo nguyên. Sau này sứ của nhà Lý đến Mông Cổ đón phò mã và công chúa về, nhưng Trần Thủ Huy thấy nhà Lý bội bạc với mình nên quyết định không trở về nữa. Vậy là công chúa Đoan Nghi mang theo con là Trần Thủ Độ trở về Đại Việt.

Bất hạnh thay, công chúa Đoan Nghi mất trên đường trở về. Đến Đại Việt, Trần Thủ Độ ở với bác của mình là Trần Lý. Đến thời điểm này các sử liệu mới đề cập về Trần Thủ Độ, các giai đoạn tuổi thơ khi ông ở Mông Cổ thì nhiều sách sử đều không hề biết đến.

Lớn lên ở nơi thảo nguyên, văn hóa Mông Cổ đã ăn sâu vào nếp nghĩ của Trần Thủ Độ. Chính vì thế mà những quyết định hết sức khó hiểu, thậm chí trái với đạo lý của Trần Thủ Độ bị các nhà sử học kịch liệt phê phán. Không ai biết rằng đó là do ảnh hưởng văn hóa Mông Cổ mà ông đã trải qua từ thở nhỏ.

Lấy hoàng hậu nhà Lý.

Chuyện Trần Thủ Độ lấy hoàng hậu nhà Lý (cùng họ Trần) bị người đời sau cho là hành vi đê hèn và trái luân thường. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thủ Độ coi việc đó là hết lòng trung, lo việc nước, nhưng có biết đâu thiên hạ đời sau chỉ mặt gọi là giặc giết vua, huống chi lại còn làm thói chó lợn.” Hàm ý rằng hành vi của Trần Thủ Độ như là cầm thú súc vật. Nhưng sự việc này lại có nguyên nhân sâu xa hơn nhiều.

Trong bài “Người phụ nữ giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức Quốc Công Tiết Chế đánh bại quân Nguyên Mông“, chúng ta đã có dịp bàn tới màn đánh cuộc tử vi nổi tiếng giữa Huệ Túc phu nhân và vua Thái Tông về thái sư Trần Thủ Độ (bấy giờ vua nói giả Trần Thủ Độ là ông lão làm vườn). Trần Thủ Độ sinh vào giờ Tỵ ngày 6 tháng 6 năm Giáp Dần 1194, được Huệ Túc phu nhân phán về tình duyên như sau:

Cung thê của tiên sinh có Phá quân, ngộ Hóa quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong.

Năm trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào!

Hai người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ. Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi!

Đây chính là lời giải cho hành vi lấy hoàng hậu nhà Lý, cùng họ Trần, của Trần Thủ Độ.

Khi Trần Thủ Độ ở nhà bác mình là Trần Lý, từ thuở thiếu thời đã để ý đến Trần Thị Dung, con của Trần Lý và là chị họ của mình. Theo tập tục họ Trần lúc ấy thì anh chị em họ cách nhau 3 đời thì có thể được kết hôn. Hơn nữa, ảnh hưởng bởi văn hóa Mông Cổ nên Trần Thủ Độ không cảm thấy có gì bất hợp lý khi yêu thương Trần Thị Dung. Hai người thề non hẹn biển mà hầu như không ai được biết.

Sau này để tránh nạn Quách Bốc, thái tử Sảm phải nương nhờ Trần Lý, thấy Trần Thị Dung xinh đẹp liền lấy làm vợ. Rồi thái tử lên ngôi vua gọi là Lý Huệ Tông, phong vợ Trần Thị Dung là nguyên phi, sau đó phong làm hoàng hâu.

Bấy giờ Trần Thủ Đô bị mất người mình yêu thì rất căm hận thái tử Sảm, tuy nhiên vẫn theo Trần Lý và Trần Tự Khánh đánh dẹp các loạn đảng, để mong có cơ hội được gần Trần Thị Dung.

Sau này, Trần Thủ Độ dù làm quan to lên đến Điện tiền chỉ huy sứ, nhưng khác với những người khác có năm thê bảy thiếp, ông vẫn một mình đơn chiếc, cả đời ông chỉ có một mối tình duy nhất với Trần Thị Dung. Khi nhà Trần lên thay nhà Lý, Trần Thủ Độ đã cưới Trần Thị Dung, bất chấp đạo lý luân thường tại Đại Việt.

Giết hại hoàng tộc nhà Lý.

Khi xem lá số cho Trần Thủ Độ, Huệ Túc phu nhân cũng nói rằng:

Thiên hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta.

Cả đời Trần Thủ Độ chỉ biết đến một người là Trần Thị Dung, mối tình này bắt đầu từ khi còn rất nhỏ, thế nhưng thái tử Sảm nhà Lý đã lấy mất người con gái này, Trần Thủ Độ cũng không thể làm gì khi người đó là thái tử, nhưng ông hận trong lòng từ đó.

Hơn nữa, Trần Thủ Độ biết rằng cha mình là Trần Thủ Huy cũng không muốn về Đại Việt vì hận triều đình nhà Lý đã đối xử bất công. Trần Thủ Huy đã từng cứu Thái tử Lý Long Xưởng, giúp nhà Lý trừ nội gian trong triều, dẹp yên các loạn đảng. Thế nhưng chỉ vì nghe theo lời của kẻ dèm pha mà phò mã Trần Thủ Huy cùng công chúa Đoan Nghi bị đẩy đến tận vùng Mông Cổ xa xôi.

Đúng như Huệ Túc Phu Nhân nói, “bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta”, Trần Thủ Độ đã diệt hoàng tộc nhà Lý bởi hai mối hận lớn trong lòng.

Người trong dòng họ lấy nhau.

Trần Thủ Độ chủ trương là người trong hoàng tộc chỉ lấy người trong dòng họ. Các sử gia xưa nay vẫn cho rằng nhà Trần thông qua hôn nhân mà lấy được ngôi của nhà Lý, vì thế để đảm bảo ngôi vị vững bền, Trần Thủ Độ đã yêu cầu người trong dòng họ kết hôn với nhau, tránh việc bị người khác cướp ngôi.

Thực ra còn có một nguyên nhân khác là Trần Thủ Độ lớn lên tại thảo nguyên Mông Cổ, nơi đó anh em con chú con bác, cô cậu hay con dì đều có thể lấy nhau; phụ nữ tái giá là việc bình thường và đương nhiên; các Khả hãn ở Mông Cổ có nhiều vợ, với ai có công lao với mình thì Khả hãn cũng có thể đem một số phi tần nhường lại cho họ.

Bởi vậy có thể lý giải được tại sao khi hoàng hậu không thể sinh con trai cho vua Trần Thái Tông thì Trần Thủ Độ đưa vợ của anh vua là Trần Liễu đang mang thai 3 tháng đến làm vợ vua. Đây là quan niệm trên thảo nguyên ảnh hưởng.

Điều này cũng được Huệ Túc Phu Nhân đề cập đến khi xem lá số tử vi cho Trần Thủ Độ:

Nhưng tiếc rằng cung quan ngộ Thiên không(*), nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng… dù ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước, quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.

(*) Sao “Địa không” trong tử vi ngày nay án vị trí sao “Thiên không” trong tử vi cổ xưa.

Như vậy dù không chấp nhận những việc làm loạn luân thường đạo lý của Trần Thủ Độ, nhưng chúng ta có thể hiểu hơn về con người ông, về cuộc đời vốn nhiều bí ẩn của ông.

Được nước tự trời, mất nước tự trời.

Nói về việc thay triều đổi đại, ngoài những nhận xét về tình hình rối ren thời bấy giờ và về Trần Thủ Độ, sử thần Ngô Sĩ Liên cũng nhắc hậu thế về một việc khác:

Tục truyền rằng Lý [Thái] Tổ khi mới được thiên hạ, xa giá về Cổ Pháp ngự chơi chùa ở hương Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bất công đức thủy, Tuỳ duyên hoa thế gian. Quang quang trùng chiếu chúc. Một ảnh nhật đăng san” (Một bát nước công đức [của Phật], theo duyên sinh hoá ở thế gian. Sáng rực hai lần đuốc rọi, mặt trời gác núi là hết bóng). Sư chùa là Vạn Hạnh đem bài thơ ấy dâng lên. Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thì không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói thế nào. Đến khi nhà Lý mất, mới cho bài thi ấy là nghiệm. Vì từ đời Huệ Tông trở lên đến Thái Tổ là tam đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý được nước là tự trời, mất nước cũng là tự trời vậy.

Nên dẫu là “nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ”, thì âu Trần Thủ Độ cũng ứng vào đại kiếp mất nước của nhà Lý vậy.

Trần Hưng
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 04:48 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Cảm xúc âm nhạc: Ai Xuôi Vạn Lý.
Share

Đời xưa đời xửa vua gì
Có nàng đứng ngóng chồng về đồi non.
Thế rồi mong mỏi mong mòn
Thế rồi hóa đá ôm con con đứng chờ.

Thế rồi vì chút duyên mơ
Có người đem đặt thành thơ để truyền…

Những câu thơ trên mở đầu cho bài hát số 2 tên AI XUÔI VẠN LÝ trong trường ca Hòn Vọng Phu gồm 3 bài của cố nhạc sỹ Lê Thương. Trường ca Hòn Vọng Phu là một tập hợp 3 bài hát kể về câu chuyện người phụ nữ đợi chồng trở về. Mỗi bài là một câu chuyện nhỏ được kể theo từng giai đoạn. Mượn chất liệu ban đầu từ câu chuyện cổ tích Hòn Vọng Phu kết hợp với tác phẩm Chinh Phụ Ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn, tác giả đã mở rộng nội hàm bài hát ra bằng cách vẽ nên chân dung hoàn hảo của người phụ nữ Việt Nam và kể về lịch sử yêu nước chống giặc của dân Việt ngàn đời nay.

Người Việt Nam từ thuở nằm nôi đến khi ngồi trên ghế nhà trường hẳn ai cũng đã từng nghe qua câu chuyện nàng Tô Thị ôm con chờ chồng đến nỗi hóa đá Vọng Phu. Hình tượng Tô Thị là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam, một hình mẫu thủy chung son sắt một lòng một dạ chính chuyên thờ chồng. Thời chiến thì mang phận chinh phụ đợi chồng, thời bình thì cũng là một hậu phương vững chắc để người đàn ông có thể thoải mái tung hoành ngoài xã hội.

Xuyên suốt bài hát là tâm trạng chờ đợi mỏi mòn của người chinh phụ. Nàng vọng phu trong lúc gió mưa, bế con đã hoài công để đứng chờ người chồng đi đã bao năm chưa thấy về. Sự chờ đợi dài dằng dặc không còn được tính bằng năm tháng nữa mà được thể hiện qua câu hát:

“Khi tướng quân qua đồi kéo quân quân theo cờ,
đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ
cho đến bây giờ đã thành những đoàn cổ thụ già
mà chờ người đi mất từ ngàn xưa
nàng đứng ôm con xem chàng về hay chưa”.

Thử hỏi đời người có mấy mươi năm? Mấy ai đủ thời gian chứng kiến cây cỏ từ còn xanh non tới lúc thành cổ thụ già? Vậy mà vòng đời của cổ thụ còn không bằng thời gian người chinh phu ra đi. Mấy ai có sức mà đợi như vậy?

Hỏi xem có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng, lấy cây hương thật quý để thắp lên mà thương tiếc chàng. Trải qua bao ‘thương hải tang điền’, nàng ơi đứng đợi làm chi nữa? Câu hát đúc kết của tác giả như tặng nàng một sự thật phũ phàng vì “thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ những người mang mệnh biệt ly”. Trên đời này yêu nhau không được ở bên nhau là khổ, sinh ly tử biệt cũng là khổ, mà thời gian thì không có hứa hẹn điều gì cả vì tất cả gói gọn trong hai chữ ‘vô thường’.

Tấm lòng thủy chung son sắt của nàng cảm động cả đất trời núi non. Người nhạc sỹ tài hoa với thủ pháp nhân cách hóa để từ một nỗi nhớ thương của người chinh phụ mà vẽ nên cả địa đồ và giang sơn cẩm tú của nước Việt Nam bằng hình ảnh “núi non thương tình kéo nhau đi thăm nàng, nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước nam”. Như chưa đủ lay động tấm lòng người đàn bà nhỏ bé ấy, chúng còn “dâng cả lá hoa suối nguồn, với muông chim muôn vàn…” Rồi còn bày cảnh trời nam đất bắc đầy cỏ hoa như cố khuyên nàng trở về chớ đừng để xuân tàn. Nhiều đồi non còn kéo nhau đến tận đảo xa, ra tới khơi ngàn để giúp nàng xem chàng về hay chưa. Về hay chưa? Cả đất trời núi non hiện lên sống động, hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ của nước Việt sống dậy gây xúc động lòng người nhưng không lay động được một người đàn bà nhỏ bé chỉ vì đã lỡ mang kiếp vọng phu. Mà từ “thuở đất trời nổi cơn gió bụi” thì:

Khách má hồng đã nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này? (Chinh Phụ Ngâm)

Bài hát AI XUÔI VẠN LÝ đã được rất nhiều ca sỹ nổi tiếng của Việt Nam trình bày từ trước 1975. Có thể kể ra những cái tên như bà Thái Thanh, danh ca Hoàng Oanh, Thanh Lan, Duy Quang, Họa Mi. Tuy nhiên giọng hát gây xúc động mạnh cho tôi với cách hòa âm vừa hùng tráng vừa bi thương cộng với cách bè của dàn hợp xướng nhạc viện, phiên bản của cô Hương Lan là phiên bản khiến tôi cảm được sâu sắc và trọn vẹn nhất tinh thần của tác phẩm này.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-15-2019 , 09:43 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Vĩnh biệt Notre Dame Paris !!!

Sẽ không còn điều gì nữa - dù khó tưởng tượng nhất - đều có thể xảy ra !

Ngọn lửa hung hãn quái ác từ đâu kéo đến đã thiêu cháy rụi như bão táp từ vòm mái tới tháp cao nhất của Nhà Thờ Đức Bà Cathédrale Notre-Dame Paris - biểu tượng quá lâu đời, độc nhất vô nhị và đặc biệt nhất của nước Pháp rạng sáng nay. Toàn bộ cấu trúc kinh điển của nhà thờ danh tiếng nhất thế giới đã đi vào văn học nhân loại với ‘Những Người Khốn Khổ’, ‘Thằng gù nhà thờ Đức Bà Paris’... của đại văn hào Victor Hugo này đã bị thiêu huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại một phần nhỏ vòm mái (Góc chụp cạnh sông Seine của một du khách. Cathédrale Notre-Dame de Paris được xây dựng cách đây hơn 850 năm vào thế kỷ 12 năm 1163 thời Giáo hoàng Alexander III và vua Louis VII, thời gian xây kéo dài gần 200 năm đến năm 1350 mới hoàn thành với nhiều đời kiến trúc sư cực kỳ tài năng, xuất chúng đã tâm huyết tham gia gắn bó cuộc đời mình vào thiết kế nhà thờ: Jean de Chelles, Pierre de Montreuil, Pierre de Chelles, Jean Ravy và Jean le Bouteiller).

Đám đông người dân và khách du lịch bên bờ sông Seine rất bàng hoàng khi chứng kiến cảnh tượng Notre Dame chìm trong bão lửa chưa từng có bao giờ, y như trong phim hành động hay trong ký ức gợi nhớ về khủng bố khi tháp cao nhất của nhà thờ từng tồn tại in trên nền trời Paris gần ngàn năm gãy đổ gục xuống trong lửa đỏ. Một số người hoảng hốt bật khóc, số khác đau đớn cầu nguyện. "Paris đã bị biến dạng. Thành phố này sẽ không bao giờ còn như trước kia được nữa", một người dân Paris vừa cầu nguyện vừa nức nở: "Đây thật sự là một thảm kịch kinh hoàng và không thể tưởng tượng được !”.

“Mọi thứ đang sụp đổ !” một viên cảnh sát gần đám cháy nói to như quát lên giống một tiếng than với phóng viên Reuters rằng toàn bộ phần tháp và mái của nhà thờ tiếp tục đang bị thiêu rụi hoàn toàn.

Phó Thị trưởng thành phố Paris Emmanuel Gregoire cho biết, các công nhân đang nỗ lực "cứu lấy tất cả những tác phẩm nghệ thuật có thể cứu được". Hiện chưa rõ số phận của các bảo vật vô giá và lâu đời được lưu giữ bên trong nhà thờ ra sao, nhưng hình như không cứu được bao nhiêu vì phần lớn được thiết kế gắn chặt vào tường và vì tốc độ cháy lan nhanh dữ dội và sức nóng khủng khiếp.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã hủy lập tức buổi phát biểu trên truyền hình quốc gia dự kiến diễn ra vào tối 15/4 giờ Pháp, cùng Thủ tướng Édouard Philippe đến ngay hiện trường. Nước Pháp và Châu Âu rúng động.

Đăng tải trên Twitter, ông Macron thảng thốt chia sẻ: "Nhà thờ Đức Bà Paris của chúng ta đang bị cháy lớn. Tôi xin được cùng chia sẻ với tất cả các tín đồ Công giáo và toàn thể người dân Pháp. Cảm xúc như tất cả đồng bào, tôi rất đau buồn khi thấy một phần trong chúng ta bị thiêu rụi".

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã xúc động phát biểu trên truyền hình trực tiếp CBSN ngay sau khi đám cháy diễn ra không lâu được phát đi toàn thế giới: “Tôi và toàn thể người dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vô cùng đau đớn khi tận mắt nhìn thấy biểu tượng văn hoá và Công giáo không chỉ của nước Pháp mà của cả nhân loại đang bị cháy rụi...”. Mặc dù TT Mỹ Donald Trump đã gợi ý chữa cháy nhà thờ bằng máy bay nhưng lực lượng cứu hỏa Paris cho biết không thể áp dụng biện pháp này vì hàng chục tấn nước từ trên cao đổ xuống sẽ phá sập tất cả những gì còn lại của nhà thờ vốn đang được nung trong lửa đỏ.

Những hình ảnh cho thấy những ngọn lửa cháy cao, khói bốc lên ngùn ngụt trên nóc nhà thờ, ngút khói cao bao phủ cả một vùng trời. Nhiều khả năng vụ hoả hoạn vô tiền khoáng hậu này có liên quan tới một máy hàn hoạt động tu sửa đang được thực hiện tại đó với những dàn giáo đang vây xung quanh. (Tự nhiên tôi liên tưởng đến Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cũng đang sửa chữa vây kín bởi những dàn giáo cao). Và cũng không loại trừ một kẻ hay một nhóm nào đó đã rắp tâm bí mật chuẩn bị, vì tốc độ cháy lan mạnh rất nhanh và lạ. Rất nhiều suy đoán khác nhau và cảnh sát Paris đang gấp rút điều tra.

Mãi đến vài tiếng sau (gần sáng giờ Việt Nam), lực lượng cứu hỏa đã mất nhiều giờ để kiểm soát và khống chế được ngọn lửa, tháp chính cao nhất của nhà thờ cao 69 mét (từng cao nhất nước Pháp trước khi tháp Effein xây dựng) và một phần lớn mái vòm công trình nổi tiếng này đã bị sập đổ hoàn toàn.

Là một công trình kiến trúc lâu đời tiêu biểu của Pháp và châu Âu, Nhà thờ Đức Bà Paris Notre Dame đón 12 triệu khách du lịch đến thăm mỗi năm, nhiều hơn viện bảo tàng Louvre hay tháp Eiffel. Nằm trên đảo nhỏ Île de la Cité giữa dòng sông Seine, Paris. Đây cũng là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Paris. Nhà thờ Công giáo danh bất hư truyền này là niềm tự hào, kiêu hãnh không hề giấu diếm của tất cả người dân Paris và toàn nước Pháp.

Tôi đã từng đến Notre Dame Paris lần đầu vào mùa hè năm 2002, ở rất lâu trong nhà thờ và vô cùng ấn tượng với kiến trúc lâu đời, tinh xảo hùng vĩ của nhà thờ lâu đời nhất nước Pháp này. Lúc đó tôi đã không thể tin được cách đây trên 800 năm mà con người có thể thiết kế xây dựng được những kiệt tác về kiến trúc kỳ công và độc đáo đến như vậy ! Và bên trong nhà thờ là vô số những tác phẩm mỹ thuật vô giá được điêu khắc trên vòm mái và trải dài trên các thành tường trang nghiêm của nhà thờ lung linh nến sáng. Và tôi dự định sẽ đến thăm lại nhà thờ danh tiếng này vào tháng 10 năm nay khi dự Hội chợ Sách Quốc tế Frankfurt Bookfair. Nhưng đã không còn kịp nữa rồi...

Và khuya nay - Vĩnh biệt Notre Dame Paris ! Vâng ! Cả thế giới quặn đau tiếc nhớ.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron 4 tiếng sau đó đã trấn an người dân Pháp bằng cam kết sẽ xây dựng lại Notre Dame Paris theo đúng thiết kế tháp đã có. Nhưng dấu ấn lịch sử và thời gian của mái vòm cổ điển cùng tháp cao nhất Notre Dame Paris trong tâm hồn, trái tim người dân Pháp vĩnh viễn đã không bao giờ còn nữa.

https://m.youtube.com/watch?v=xGbmWOfdXcQ

(Và tôi rất ngạc nhiên vì theo trí nhớ của tôi lúc đó thì nhà thờ kiến trúc toàn những khối kiến trúc gang thép kỳ công kết cấu vững chắc thành những tháp cao vút và những tảng đá lớn lắp ghép kiên cố bên ngoài, bên trong tầng dưới mới có ốp gỗ ở thánh đường thì sao lại có thể cháy nhanh kinh khủng gần như toàn bộ phần mái vòm và tháp chính cao nhất dữ dội đến như vậy ? Và tôi đã từng xem những màn trình diễn để quay phim của biệt đội đặc nhiệm cứu hoả Paris bằng xe Robot phun nước tự động chữa cháy rất ấn tượng ! Vậy mà...khuya nay nước Pháp đã không thể cứu được Nhà thờ huyền thoại chỉ có một không hai Notre Dame Đức Bà Paris !)
Share
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-16-2019 , 03:06 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Người mà lòng ôm chí lớn, trước hết phải bao dung được cha mẹ mình.

Hết thảy tiền tài, danh dự, địa vị, đều chỉ là cái vỏ bề ngoài, đức hạnh mới là điều căn bản. “Lấy đức dày chở muôn vật” câu nói này vốn không hư giả chút nào.

Chúng ta đều là được cha mẹ sinh ra và nuôi lớn, nhưng mỗi cha mẹ đều không hẳn là con người hoàn mỹ như ta mong muốn, đều có những vấn đề này hay vấn đề kia. Và chính những vấn đề này, đã trở thành cái cớ cho rất nhiều người không nguyện ý hiếu thuận cha mẹ.

Ví dụ có những cha mẹ tính khí nóng nảy, có những cha mẹ (đối với con cái) bên trọng bên khinh, có những cha mẹ ít học nghèo khổ, có những cha mẹ quan niệm lạc hậu cố chấp, có những cha mẹ thân thể không được toàn vẹn, đặc biết là cha mẹ tuổi tác đã già, đầu óc không còn linh hoạt nữa, thân thể có mùi, nhiều khi còn đại tiểu tiện ngay trên giường, tính khí càng trở nên khó chịu, v.v…..

Cha mẹ là đối tượng đầu tiên trong tu dưỡng của chúng ta, mỗi người đều phải bắt đầu từ cha mẹ nơi mà học được bao dung và yêu thương. Cha mẹ dù có thế nào, chúng ta đều phải yêu thương họ, hiếu kính họ, tôn trọng họ. Một người nếu mà ngay đến cả cha mẹ cũng đều không chịu bao dung, khẳng định là “kẻ tiểu nhân” thường hay tính toán so đo, lòng dạ hẹp hòi, không có phúc khí lớn.

Không có phúc khí lớn, vậy làm sao có thể thành tựu được đại sự? Vậy nên các bậc hoàng đế thời xưa khi tuyển chọn quan viên đều sẽ đặt những người có lòng hiếu thảo ở vị trí đầu tiên.

Cũng vậy, những ai lựa chọn bạn đời, nhất định phải xem người đó có lòng hiếu thảo hay không ở vị trí đầu tiên, người bạn trai đó đối với cha mẹ mình có tình cảm trách nhiệm hay không, cô bạn gái đó đối với cha mẹ có lễ phép ngoan ngoãn vâng lời hay không, đối với cha mẹ là đòi hỏi hay là báo ân.

Nếu không, người mà ngay đến cả cha mẹ cũng đều không thể bao dung, sau này cũng sẽ không thể bao dung cho những thiếu sót của bạn, cũng như thiếu sót của cha mẹ bạn. Trên đường đời, nhân duyên của loại người này cũng sẽ không tốt đẹp được đến đâu.

Là cha mẹ người ta, thì bất kể con cái của mình có như thế nào đi nữa, đều sẽ yêu thương nó, nuôi nấng nó, mong sao con cái sau này có được tiền đồ sáng lạn, cả một đời thuận lợi bình an, vui vẻ hạnh phúc.

Tuy vậy, nếu như những người đã làm cha làm mẹ rồi ngay đến cả tấm lòng bao dung cha mẹ của mình cũng đều không có, con cái của họ ngay từ khi còn nhỏ đã nghe quen tai, nhìn quen mắt, thử hỏi chúng làm sao có được một con tim tấm lòng rộng mở đây?

Không có tấm lòng rộng mở, đời người đâu đâu cũng đều sẽ gặp phải chướng ngại, thì thử hỏi tiền đồ sáng lạn ở đâu ra đây? Vui vẻ hạnh phúc ở đâu ra đây? Sau này khi con cái lớn lên, cha mẹ tuổi tác đã già cần được con cái săn sóc, con cái chắc chắn sẽ so đo tính toán với cha mẹ.

Làm người cần phải tận tròn đạo hiếu, đây là bước đầu tiên để thay đổi vận mệnh. Bởi chúng ta làm người, ngay đến cả cha mẹ có ơn sinh thành dưỡng dục với mình cũng đều không bao dung được, vậy thì thử hỏi làm sao có thể có được tấm lòng bao dung được cả thiên hạ rộng lớn đây?

Làm cha mẹ người ta, nếu như muốn con cái có được đường đời hạnh phúc, thuận lợi, bản thân cần phải hiếu thuận với cha mẹ già; người mà lòng ôm chí lớn, trước hết cần phải làm được từ bao dung cha mẹ của mình, cần phải bao dung được bản tính cố chấp của cha mẹ, tận tâm tận tụy chăm sóc tốt cha mẹ, đây cũng là bước đầu tiên trong việc tu tâm dưỡng tính.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-16-2019 , 03:10 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Tưởng cậu bé ăn xin bám theo vòi tiền, cô gái bật khóc nức nở giữa đêm khi biết sự thật đau lòng…

Đã nhiều năm rồi, đêm Giáng sinh nào đối với tôi cũng là một sự chịu đựng, vì tôi có rất ít bạn bè và không còn mấy người thân, do vậy, tôi không còn tin vào câu ‘Giáng sinh vui vẻ’ nữa. Nhưng năm nay, những gì tôi nhận được từ một cậu bé ăn xin còn nhiều hơn cả hai từ ‘hạnh phúc’…

Đã 6 giờ tối, trong công ty gần như chỉ còn mỗi mình tôi ngồi lại, mọi người ai cũng vội vã trở về nhà để đón Giáng sinh cùng với gia đình. Ngồi thêm một lúc, tôi cũng đứng lên đi ra gara để lấy xe, mặc dù gia đình tôi đều ở rất xa, nhưng tôi cũng cảm thấy có chút kỳ cục nếu mình cứ ngồi một mình trong cái ngày mà ai cũng muốn về nhà thế này.

Từ đằng xa, tôi thấy có một cậu bé ăn xin, mặc đồ rách rưới đang lang thang đi vòng quanh xe của tôi. Lúc đầu tôi cảm thấy nghi ngờ và sợ hãi, cho rằng cậu bé có ý định không tốt hoặc muốn vòi tiền. Dịp Giáng sinh, những cô bé, cậu bé như thế không hiếm gặp. Cậu như thể muốn bám chặt lấy ô tô của tôi và định làm một điều gì đó mờ ám. Nhưng khi đến gần hơn, tôi thấy ánh mắt trong sáng và vẻ mặt thích thú của cậu với chiếc xe. Rồi cậu chợt cất tiếng khi thấy tôi đến gần, “Đây là xe của cô ạ?”. Tôi khẽ gật đầu, “Đó là quà Giáng sinh anh cô tặng cho.” Cậu bé nhìn tôi tỏ vẻ sửng sốt khi tôi vừa dứt lời. “Ý cô là… anh trai cô tặng cô chiếc xe này mà cô không phải trả bất cứ cái gì ạ?”, cậu bé lắp bắp, “Ôi, ước gì cháu cũng…”.

Tất nhiên tôi biết cậu bé muốn nói điều gì tiếp theo, cậu muốn có được một người anh như vậy. Tôi chăm chú nhìn cậu bé, tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe lời nói của cậu. Thế nhưng cậu vẫn cúi gằm mặt xuống đất, bàn chân di di trên nền tuyết một cách vô thức. “Cháu ước…”, cậu bé tiếp tục “…cháu có thể trở thành một người anh trai giống như vậy”. Tôi nhìn cậu bé và cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, xen lẫn sự xấu hổ. Bỗng nhiên tôi nảy ra một ý tưởng, “Cháu nghĩ sao nếu chúng ta đi một vòng bằng chiếc xe này?”. Như sợ tôi đổi ý, cậu bé nhanh nhảu trả lời: “Cháu thích lắm ạ!”.

Trong khi ở trên xe, cậu bé không ngừng tỏ ra hào hứng với những gì cậu thấy được ở hai bên đường, với những ngôi nhà sáng đèn có các cánh cửa được trang trí đẹp mắt, với những cây thông Noel to và lấp lánh được nhìn thấy qua khung cửa sổ… Đến lúc gần về, cậu bé khe khẽ hỏi tôi với ánh mắt sáng ngời đầy hy vọng, “Cô có thể lái xe đến trước nhà cháu được không?”. Tôi cười và gật đầu. Tôi nghĩ mình biết cậu bé muốn gì. Cậu muốn cho những người hàng xóm thấy cậu đã về nhà trên chiếc xe to như thế nào. Thế nhưng một lần nữa, tôi đã lầm…

“Cô dừng lại ở đây được rồi, và cháu xin cô đợi cháu một lát thôi ạ…”

Nói rồi cậu bé chạy nhanh vào con hẻm sâu hun hút, tối om, và bẩn thỉu đến mức tưởng chừng như chẳng có ai có thể sống trong ấy. Ít phút sau tôi nghe thấy tiếng bước chân cậu bé quay lại, nhưng hình như lần này cậu không chạy như lúc nãy mà đi rất chậm. Tôi mở cửa xe và nhìn ra, tôi thấy cậu bé không ra một mình, đi theo cậu là một cô bé nhỏ nhắn với đôi mắt trong sáng hệt như cậu, nhưng hình như đôi bàn chân của cô bé bị tật. Cậu bé đẩy chiếc xe lăn cũ kỹ mà em mình đang ngồi trên đấy xuống những bậc tam cấp một cách rất cẩn thận, và dừng lại cạnh chiếc xe hơi bóng loáng của tôi. Trong một tích tắc, tôi lại thấy một cảm giác xấu hổ dâng lên từ tận đáy lòng.

“Cô ấy đây, người mà lúc nãy anh đã nói với em đấy. Anh trai cô ấy đã tặng một chiếc xe ô tô cho cô nhân dịp Giáng sinh mà cô chẳng phải tốn lấy một đồng. Nhất định một ngày nào đấy anh cũng sẽ tặng em một món quà giống như vậy. Em có thể tận mắt thấy những món quà, những cảnh vật ngoài đường phố trong đêm Giáng sinh, các ngôi nhà và cây thông Noel được trang trí rực rỡ, em sẽ không cần anh phải miêu tả nó cho em nghe nữa!”.

Chứng kiến cảnh ấy, tôi không thể cầm được nước mắt, và tôi đã bước ra khỏi xe, run run đặt cô bé đáng thương ấy lên xe. Ánh mắt cô bé nhìn tôi đầy vẻ biết ơn và xúc động.

Ba chúng tôi lại bắt đầu một chuyến đi vòng quanh các khu phố, một chuyến đi thật ý nghĩa mà tôi không bao giờ có thể quên. Tôi luôn nghĩ hạnh phúc là phải là những gì thật đầy đủ, thật vĩ đại, là bữa cơm thịnh soạn với tất cả các thành viên trong gia đình, là những món quà lớn cùng thật nhiều thiệp, là bạn bè nhắn tin gọi điện chúc nhau cho đến quá nửa đêm… Kể từ khi người thân cuối cùng của tôi – anh trai tôi qua đời, tôi đã không còn biết thế nào là gia đình đoàn tụ, nên tôi luôn khép mình lại một góc và cảm thấy sợ hãi những dịp lễ.

Lòng tốt, tình yêu thương và sự chia sẻ là những thứ không mua được bằng tiền, nhưng là thứ khiến con người xích lại gần nhau hơn và cảm nhận được sự ấm áp không thể diễn tả bằng lời.

Nhưng năm nay, tôi biết rằng ‘hạnh phúc’ đôi khi chỉ là cùng nhau chia sẻ những niềm vui thật nhỏ bé, là bỏ cái ích kỷ của bản thân sang một bên để làm việc tốt cho người khác, là một cử chỉ đơn giản nhưng khiến ai đó cảm thấy như họ là người may mắn nhất thế giới. Vừa lái xe, nghe hai anh em cậu bé trò chuyện vui vẻ, tôi vừa mỉm cười trong những giọt nước mắt. Tôi nhìn lên trời và thầm nói, ‘Em đã lại có thể biết cảm giác hạnh phúc rồi… anh trai của em’. Tôi thấy những bông tuyết lạnh giá và lấp lánh của đêm Giáng sinh bắt đầu rơi xuống như một lời khích lệ…

Và cũng trong đêm Giáng sinh ấy, tôi đã hiểu được sâu sắc ý nghĩa một câu nói của chúa Giê-su: “Không gì tốt đẹp hơn việc làm cho người khác hạnh phúc.” Trong cuộc sống bận rộn và bộn bề những lo toan này, ai ai cũng chỉ mải miết chạy theo lợi ích của riêng mình, để đạt được thứ này thứ khác, nhưng không mấy ai thực sự nhận ra, những giá trị phù du vật chất ấy vốn không thể thay thế giá trị tinh thần, và càng không thể khiến con người ta hạnh phúc từ trong tâm. Lòng tốt, tình yêu thương và sự chia sẻ là những thứ không mua được bằng tiền, nhưng là thứ khiến con người xích lại gần nhau hơn và cảm nhận được sự ấm áp không thể diễn tả bằng lời.

Bất cứ khi nào có cơ hội để làm việc tốt, xin bạn hãy đừng ngần ngại. Bởi một cử chỉ đơn giản của bạn có thể thay đổi toàn bộ cuộc đời của một người. Khi bạn rộng mở tấm lòng với người khác, cũng chính là tô những sắc màu tinh khiết cho chính tâm hồn của mình.

Lòng tốt như thứ nước hoa quý. Có ai đem cho nó mà chẳng giữ được trên tay mình vài giọt thơm.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-16-2019 , 03:19 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Cả châu Âu và Trung Quốc đều muốn có được người Việt này
Trần Hưng •

Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm – Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên độ hộ một trăm năm.

Đó là câu đối chưa biết tên tác giả mà cố giáo sư Lưu Trung Khảo đọc trong một buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ.

Nguyên văn tiếng Trung của câu đối là:

地 轉 我 種 越 居 北 方, 歐 洲 境 內 無 蒙 騎 樅 橫 千 萬 里

天 生 此 良 材 於 宋 室, 中 國 史 前 免 元 朝 都 護 一 百 年

Dịch Hán Việt là:

Địa chuyển ngã chủng Việt cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý.

Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên Triều đô hộ nhất bách niên.

Diễn nghĩa là:

Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm

Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên độ hộ một trăm năm

Câu đối này ý chỉ một vị tướng tài đã lãnh đạo người Việt đánh bại quân Nguyên, đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông đã làm được điều mà cả châu Âu và Trung Quốc không ai làm được.

Vậy vì sao mà cả châu Âu và Trung Quốc đều muốn có được Trần Hưng Đạo? Chúng ta hãy cùng quay về lịch sử, thời điểm vó ngựa quân Mông Thát tung hoàng khắp nơi để tìm câu trả lời.

“Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”
Tại châu Âu, sau một thời gian tung hoành chiếm hết trung Á, vó ngựa Mông Cổ dồn dập tiến vào châu lục này, các thành phố lớn như Moscow đều bị đốt cháy.

Liên quân châu Âu được thành lập nhắm chống lại quân Mông Cổ cũng bị đập tan. Nhiều nước mong muốn cầu hòa và cống nạp cho quân Mông Cổ.

Tranh mô tả Trận Legnica năm 1241, diễn ra ở khu vực nay thuộc Ba Lan, giữa quân Mông Cổ và liên quân châu Âu: Quân Mông Cổ được ví như cưỡi trên những con ngựa có cánh. Họ còn nổi tiếng với việc cắt tai người làm chiến lợi phẩm.

Khi các Vương công nước Nga chịu thần phục, quân Mông Cổ cho ván để lên đầu các vương công Nga để đặt bàn tiệc ăn mừng. Sáu Vương công bị đè đến chết.

Vó ngựa quân Mông Cổ gây kinh hoàng khắp châu Âu, biên niên sử còn ghi lại rằng: “Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”.

Tại châu Á, khi quân Mông Cổ đánh Trung Quốc là vào thời kỳ nhà Tống, quân Tống bị đại bại, phải bỏ kinh thành rồi tháo chạy hết lần này tới lần khác, quân Mông Cổ truy đuổi theo.

Năm 1258, quân Mông Cổ lần thứ nhất thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống. Trận đánh lần thứ nhất này quân Mông Cổ chưa thật sự dành nhiều tinh lực vào Đại Việt, mà chỉ muốn thôn tính nốt nhà Nam Tống. Cuối cùng, vào năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Mông Cổ thôn tính.

Trận đánh cuối cùng giữa quân Mông Cổ và quân Tống là trận Nhai Môn trên biển. Quân Tống có 20 vạn người, nhưng phần lớn trong đó là hoàng thân quốc thích, và quân phục dịch chạy trốn giặc Mông Cổ. Quân Mông Cổ ít hơn rất nhiều những vẫn bao vây tấn công quân Tống.

Thần phụ chính Lục Tú Phu thấy tình thế tuyệt vọng ôm Vua Tống còn nhỏ nhảy xuống biển tự vẫn, người Tống nhìn thấy cảnh này đều khóc than rồi lần lượt nhảy xuống biển chết theo vua, khung cảnh thật bi thương. 7 ngày sau, hàng trăm ngàn xác người nổi đầy khắp mặt biển, đây được xem là một trong những sự kiện bi thương nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Nhà Tống bị diệt vong, Đại Hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên trở thành Hoàng đế Trung Hoa, Trung Quốc bị đô hộ suốt 100 năm. Đó quả là thời kỳ đen tối trong lịch sử Trung Quốc.

Sau khi đánh tan nhà Tống, quân Nguyên tiếp tục mưu đồ tràn xuống phía Nam. Ngay từ tháng 8 năm 1279, sau khi diệt nhà Tống, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.

Năm 1285, Hốt Tất Liệt phong cho con trai Thoát Hoan là Trấn Nam Vương dẫn hàng chục vạn quân tiến đánh Đại Việt lần thứ hai. Thế nhưng đến đây, vó ngựa đại quân Nguyên Mông vốn đã giày xéo khắp nơi từ Á sang u đã bị chặn lại bởi Trần Quốc Tuấn, vị Quốc Công Tiết Chế lừng danh sử Việt và thế giới.

Lúc xuất quân Thoát Hoan hùng hổ bao nhiêu thì lúc chạy thục mạng về nước nhục nhã bấy nhiêu. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh tên của quân dân Đại Việt rồi bắt lính khiêng chạy trối chết về nước.

Quân Mông Cổ chạy về đến đất Nguyên ở Trung Quốc rồi, quân Đại Việt vượt qua cả biên giới tiến sâu vào châu Tư Minh của Trung Quốc để tiêu diệt giặc, khiến quân Nguyên hoảng sợ, chạy thoát rồi vẫn chưa hết run, tối ngủ không được vì ác mộng.

Đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Ngày 25/12/1287, lần thứ ba quân Nguyên sang đánh Đại Việt, vẫn là Trấn Nam Vương Thoát Hoan cùng hàng chục vạn hùng binh, thế nhưng Quốc Công Tiết Chế Trần Quốc Tuấn rất điềm nhiên “năm nay đánh giặc nhàn”. Quả nhiên lần này hùng binh của quân Nguyên bị đánh cho đại bại, thêm một lần nữa nhục nhã rút về nước.

Có thể có người cho rằng đâu chỉ có Đại Việt đánh thắng quân Nguyên, vì Nhật Bản, Chiêm Thành và Miến Điện cũng đánh thắng quân Nguyên. Nhưng chiến thắng của Nhật Bản có được còn nhờ sự đóng góp quan trọng của “Thiên thời”. Ngoài tinh thần cảm tử của quân Nhật ra, hai lần bão tố và thiên tai đã giúp người Nhật đánh chìm nhiều chiến thuyền Nguyên Mông. Trong cuộc chiến với quân Nguyên tại Chiêm Thành và Miến Điện, về mặt quy mô và tinh lực của quân Nguyên, thì không có lần nào có thể so với lần xâm lược thứ hai và thứ ba trên đất Việt cả. Cuộc chiến với quân Nguyên tại Chiêm Thành cũng nhờ có Đại Việt cử viện binh tiếp ứng.

Trong khi đó, chiến thắng của Đại Việt là nhờ sự đồng lòng của người dân và vua quan nhà Trần, cùng tài thao lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Vây làm thế nào mà Trần Quốc Tuấn có thể đánh bại quân Nguyên hùng mạnh khiến cả châu Á và châu Âu đều run sợ?

Kế sách của Trần Quốc Tuấn.

Quân Nguyên đánh thắng khắp nơi từ Á sang Âu, nhưng chưa ở đâu gặp phải kế sách từ ngoại giao cho đến đánh trận như ở Đại Việt.

Đầu tiên, trước khi tiến binh, quân Nguyên đã quen với việc uy hiếp nước khác bằng cách dùng sứ giả khuyên hàng. Thế nhưng khi sứ giả quân Nguyên đến thì nhà Trần bắt phải quỳ trước mặt Vua theo đúng phép tắc.

Kế sách của Trần Quốc Tuấn khi đánh quân Nguyên có thể gói gọn trong mấy chữ: vườn không nhà trống, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng đoản binh phá trường trận.

Khi đánh nước khác, quân Nguyên thích đánh vào kinh thành, vì nơi đây tập trung đa phần quân chủ lực. Đánh kinh thành thì cũng tiêu diệt được quân chủ lực đối phương, lại có thể cướp bóc lương thực và nhu yếu phẩm.

Thế nhưng khi đánh Đại Việt thì quân Đại Việt lại chủ động rút khỏi kinh thành, thực hiện “vườn không nhà trống”. Điều này khiến cho quân Nguyên dù chiếm kinh thành vẫn không gặp được quân chủ lực của Đại Việt, kinh thành lại trống không nên không thể cướp bóc được gì.

Cả châu Âu và Trung Quốc đều muốn có được người Việt này
Ngoài kế sách trên bộ, kế sách tuyệt diệu khác của Hưng Đạo Vương là trận địa cọc trên sông Bạch Đằng.

Quân Nguyên tiến đánh với sách lược đánh nhanh thắng nhanh, nhưng quân chủ lực của ta lại rút đi nhằm bảo toàn lực lượng, khiến quân Nguyên không thể đánh nhanh thắng nhanh được. Trần Quốc Tuấn lại cho các toán quân nhỏ liên tục chặn bước tiến của địch, đánh để tiêu hao sinh lực và phá hủy lương thực rồi rút ngay. Quân Nguyên truy kích không tìm thấy các toán quân này vì không thông thạo địa thế.

Quân Nguyên không gặp được quân chủ lực Đại Việt để đánh, cũng không biết quân chủ lực rút về đâu mà đuổi theo. Lâu ngày quân sĩ lại mệt mỏi vì phải liên tục chống đỡ các cuộc tập kích của các cánh quân nhỏ vẫn diễn ra hàng ngày.

Dần dần tình hình quân Nguyên lương thực đã cạn, quân sĩ mệt mỏi không muốn tiếp tục cuộc chiến nữa, sĩ khí không còn. Lúc này Trần Quốc Tuấn mới điều động đội quân chủ lực phản công đánh thẳng vào quân Nguyên.

Trước sức mạnh tấn công của Đại Việt, quân Nguyên hoảng sợ, không hiểu các cánh quân ở đâu hiện ra nhiều không kể xiết. Do tâm lý mệt mỏi, quân Nguyên không thể thắng được sĩ khí của Đại Việt nên đại bại, rút chạy về nước.

Trần Quốc Tuấn vực dậy tinh thần cho quân dân Đại Việt.

Trước sức mạnh của đội quân làm run sợ khắp nơi trên thế giới, Đại Việt cũng không ít người xuống tinh thần. Lúc đó, Trần Quốc Tuấn đã làm “hịch tướng sĩ” để vực dậy tinh thần kháng Nguyên của quân sĩ.

Khi các tướng sĩ lo lắng Trần Quốc Tuấn có hiềm khích với nhà Trần, anh em không thể hòa thuận, ông đã tắm cho em họ của mình là Trần Quang Khải trên chiến thuyền trước sự hò reo của ba quân.

Khi quân ta rút khỏi Thăng Long, người rời đi sau cùng là Trần Quốc Tuấn.

Khi quân ta phải rút lui trước sức mạnh của giặc, nhà Vua hội họp các tướng rồi dò hỏi: “Hay là nên hàng”, Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái nói ngay: “Xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước đã rồi hẵng hàng”.

Từ đó mọi niềm tin và ánh mắt của triều đình đều dồn cả vào Trần Quốc Tuấn, ông trở thành trụ cột của Nhà Trần trong 2 lần đánh quân Nguyên Mông (lần thứ 2 và thứ 3).

Tấm lòng trung sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt.

Cũng giống như ông, dưới trướng của Trần Quốc Tuấn đều là những người tài giỏi như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu.

Khi nhiều người nhắc lại mối thù nhà, ông hỏi hai gia nô cũng là tướng giỏi lúc đó là Yết Kiêu và Dã Tượng về chuyện này, hai vị tướng này đáp rằng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu”. Nghe xong Quốc Tuấn rất cảm động.

Sau đó con ông là Trần Quốc Tảng có nhắc lại lời trăn trối của An Sinh Vương Trần Liễu, muốn cùng ông cướp ngôi vua, ông nổi giận rút gươm toan chém đứa con này. Dưới sự can ngăn của mọi người, ông thay đổi ý định nhưng từ đó kiên quyết không gặp Quốc Tảng, thậm chí dặn dò sau này ông chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Tảng vào viếng.

Ví như đổi được đất, dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu đã không bị kỵ binh Mông Cổ giày xéo cả vạn dặm

Nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống, thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên đô hộ một trăm năm.

Câu đối trên cho thấy châu Âu và Trung Quốc đều muốn có con người này đến thế nào. Thế nhưng Trời xanh đã đặt định cho Trần Quốc Tuấn trở thành con dân của Đại Việt.

Trong dân gian có truyền thuyết rằng mẹ của Trần Quốc Tuấn nằm mơ thấy có một vị thiên thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh Tiên Đồng Tử sẽ xuống đầu thai. Lúc Trần Quốc Tuấn vừa được sinh ra đã có hào quang toả sáng rực cả nhà.

Dù truyền thuyết đẹp đó có thật hay chỉ xuất phát từ sự kính ngưỡng Hưng Đạo Đại Vương mà thành, thì người ta vẫn không khỏi suy ngẫm rằng: Phải chăng Thiên Thượng đã phái Trần Quốc Tuấn xuống giúp nước Nam đánh bại quân Nguyên Mông, lưu lại giai đoạn lịch sử xán lạn cho con dân Đại Việt?
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-16-2019 , 03:23 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chuyện trạng Bùng đưa hạt giống cây ngô về Việt Nam
Trần Hưng •

Cây ngô đã trở thành ngũ cốc quen thuộc của người dân đất Việt, nhưng để đưa được giống ngô về Việt Nam là cả một câu chuyện ly kỳ. Trong dân gian có truyền thuyết rằng trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là người đầu tiên đưa giống ngô từ Trung Hoa về Việt Nam khi ông đi sứ nhà Minh vào năm 1597.

Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528 ở làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạnh Thất, tỉnh Hà Tây. Ông chính là người em cùng mẹ khác cha với người anh là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan là người học rộng tài cao, thông hiểu khoa thuật số, lại sống giữa thời loạn lạc nên rất chăm lo cứu dân giúp nước, dân gian vẫn gọi ông là Trạng Bùng vì ông sinh ở làng Bùng.

Ly kỳ chuyện đưa hạt giống về Việt Nam.

Năm 1597, khi đã gần 70 tuổi, Phùng Khắc Khoan vẫn được tin tưởng cử đi sứ nhà Minh để xin cầu phong cho vua Lê Thế Tông. Trên đường đi sứ, ông luôn tìm hiểu cách làm ăn của người dân ở mỗi địa phương đi qua, nhằm giúp cho dân mình khi trở về nước.

Dạo ấy, vào cuối tháng Ba, trên các sườn đồi, sườn núi bạt ngàn, chỗ nào ông cũng thấy trồng một thứ cây xanh ngắt một màu. Trạng Bùng không biết đó là cây gì, lấy làm lạ lắm, bèn lân la dò hỏi. Mãi sau ông mới biết đó là “ngọc mễ” (tức gạo ngọc), thứ ngũ cốc hạt to gấp mấy lần hạt gạo, ăn thay gạo rất bùi. Ông nghĩ bụng, người dân ở đây có tới hàng vạn, hàng triệu người sống bằng thứ “gạo ngọc” quý giá này, vậy phải tìm cách đưa về nước trồng.

Đến kinh thành, nhà Minh có ý khinh thường không tiếp, phái đoán của ông phải nằm trực ở ngoài dịch xá. Phùng Khắc Khoan liền làm 36 bài thơ chúc thọ rồi nhờ quan Tể Tướng tiến dẫn. Đọc thơ, vua Minh Thần Tông hết lời ca ngợi, biết đây là nhân tài hiếm có nên mới mời ông vào gặp mặt.

Nhờ tài năng đối đáp cùng học vấn uyên bác của Phùng Khắc Khoan mà vua nhà Minh mới nhân nhượng nhiều điều. Lúc sắp về, nhà Vua thết đãi ông một bữa yến sào, Phùng Khắc Khoan nói: “Thưa Đức Vua, bấy lâu nay tôi ăn ‘ngọc mễ’ đã quen dạ, xin phép được ăn thay yến”.

Vua Minh sai người đưa hầu ông mọt bát “ngọc mễ” bung. Mọi người ăn tiệc yến vui vẻ, riêng ông vẫn ăn “ngọc mễ” bung ngon lành. Ông còn xin vua Minh cho đem theo “ngọc mễ” để ăn dọc đường. Vua Minh bằng lòng.

Trên đường về, mỗi ngày Phùng Khắc Khoan ăn một bữa, nhịn một bữa, dành dụm để đem về làm giống. Nhưng về đến cửa ải Nam Quan, bỗng phía trước có một tốp lính nai nịt gọn gàng, phóng ngựa tới.

Sứ giả nhà Minh lễ phép nói: “Thưa tiên sinh! Lệnh nhà vua không cho đem hạt ‘ngọc mễ’ nào ra khỏi biên giới. Đây là pháp lệnh, xin tiên sinh hiểu cho.”

Phùng Khắc Khoan lúc này bàng hoàng cả người, không biết phải làm sao. Ông vốn muốn đưa giống “ngọc mễ” này về giúp người dân. Giả như lúc còn ở kinh thành mà Phùng Khắc Khoan biết được lệnh cấm này, thì ông còn có thể dùng tài năng của mình mà thuyết phục nhà vua cho đem hạt giống về nước. Thế nhưng đã gần đến biên giới rồi, không lẽ bây giờ lại phải quay ngược trở lại kinh thành hỏi xin vua Minh.

Không còn cách nào khác, ông đành bốc lấy một nắm bỏ vàọ túi áo, còn bao nhiêu dỡ cả xuống đường, trước mặt sứ giả, rồi đánh xe đi. Đến quãng đường vắng, ông ra lệnh cho tất cả mọi người dừng lại và nói: “Bên này có giống gạo quý, dễ trồng, thu hoạch cao, thế nào cũng phải đưa về một ít làm giống. Mỗi người phải mang về kì được hai hạt. Các ông lại đây nhận lấy!”

Để đảm bảo đưa được hạt giống về nước, ông còn nhấn mạnh: “Đây là quốc pháp, không ai được làm mất. Ai không làm tròn bổn phận, phải chịu tội nặng”. Mọi người loay hoay tìm cách giấu “ngọc mễ”.

Đến cửa ải Nam Quan, lính tráng nhà Minh khám xét rất kỹ, nắn từ đầu đến chân, mở cả hành lý ra. Khi không tìm thấy gì, viên quan coi ải mới tỏ vẻ nhã nhặn: “Thưa tiên sinh! Xin thứ lỗi cho chúng tôi việc làm hồ đồ này. Vả lại đấy là lệnh vua”.

Đến lúc qua ải Nam Quan, khi cửa quan từ từ khép lại, mọi người mới thấy mình nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng. Họ hồ hởi đến nộp lại “ngọc mễ” cho ông. Riêng người lính đi tiền trạm vẻ mặt lo lắng, bần thần. Mọi người đã nộp xong mà anh ta vẫn đứng ì ra đó.

Ông bèn bảo: “Nộp đi!”

Anh lính lúng túng: “Thưa… thưa…”

Ông vội hỏi: “Thưa gì? Sao, làm mất rồi hả?”

Anh lính sợ hãi thanh minh: “Thưa… con đi trước, đến cửa Nam Quan bị khám kĩ quá. Hắn bóp má, nhòm lỗ mũi, vạch lỗ tai, con sợ quá nuốt mất!”

Mọi người cười ồ cả lên.

Thế là hạt “ngọc mễ” được đưa vào nước ta từ hồi ấy. Vì giống này lấy từ đất Ngô, nên Phùng Khắc Khoan gọi là “cây ngô”. Cũng chính trạng Bùng là người nhân giống cây ngô này cho người dân cả nước.

Mãi về sau này, năm 1723, một vị quan khác là ông Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây) khi đi sứ nhà Thanh cũng lấy được một ít hạt “ngọc mễ” mang về trồng.

Dạy dân trồng trọt, thủy lợi, truyền lại nghề thủ công
Ngoài công đưa “ngọc mễ” về nước ra, Phùng Khắc Khoan cũng rất chăm lo, dạy người dân cách trồng và chăm sóc các loại cây khác. Dân gian cho rằng một số bài thơ về nông nghiệp là của trạng Bùng, sau được người ta dịch lại thành thơ lục bát, ví như:

Trồng dưa chớ để mùa qua
Ngăn phên mắt cáo kẻo gà đạp kê
Quanh vườn thả đậu sừng dê
Mướp trâu dưa chuột bốn bề leo dong

Ông cũng những câu thơ hướng dẫn người dân cách nhận biết những loại cây khó tìm:

Đỏ tươi chon chót bông dum
Lành đem ngăn ngắt màu um lá chàm

Phùng Khắc Khoan còn nhọc công sưu tầm được nhiều giống rau, hoa quả với lòng mơ ước:

Ngày nhiều vật lạ của tươi
Che chở nghìn đời, dân ấm dân no

Trong việc đi sứ, ngoài việc lấy được hạt giống ngô về, ông còn học được nghề dệt the, lượt. Khi đó, dù tuổi cao ông vẫn lưu tâm học hỏi về kỹ thuật. Đã nhiều lần ông đến xưởng dệt, tìm cách lưu lại để quan sát rồi kín đáo ghi chép công thức, phương pháp dệt. Về nước, ông truyền nghề này cho người dân làng Bùng, dệt ra thứ lượt bằng tơ đẹp nổi tiếng được gọi là “lượt Bùng”.

Lê Quý Đôn có viết về “Trạng Bùng” trong Kiến văn tiểu lục như sau:

Phùng Khắc Khoan phụng mệnh đi sứ, tuổi đã ngoài bảy mươi, không những biện bạch quang minh chính đại, đạo đạt được mệnh vua, mà còn làm mạnh mẽ được thể thống trong nước. Đến như ba mươi vần thơ dâng mừng khánh tiết và hơn mười vần thơ đáp lại chánh phó sứ nước Triều Tiên, tài tứ chứa chan, cách điệu tươi đẹp y như lúc còn trẻ tuổi. Như thế chẳng phải là được linh khí núi sông giúp đỡ đấy ư?

Phùng Khắc Khoan còn dạy dân về nông nghiệp, hướng dẫn làm công tác thủy lợi. Chính ông là người cho đào mương tiêu nước lưu cữu quanh núi Thầy, rồi đào mương dẫn nước từ núi Thầy về tưới cho cả vùng Bùng Xá, Đặng Xá, Hoàng Xá. Nhờ vậy, dân làm ruộng quanh năm không bị úng, không bị hạn. Năm 1613, ông lâm bệnh nặng con cháu đến bên giường. Ông mỉm cười và bảo đọc thơ. Một người cháu đã đọc bài “Bệnh trung thư hoài” mà ông đã viết năm 1548:

Bình sinh chính trực lại trung thành,
Nhật nguyệt nêu cao chí khí mình.
Hạt bút, bốn bề mưa gió động,
Thành thơ, khắp chốn quỷ thần kinh.

Sau khi ông mất, con cháu nghèo quá, nghèo đến mức phải đem bán cả bức tranh truyền thần vẽ chân dung ông! Lúc đem đi bán, có người xin mở ra xem. Xem tranh, người đó kinh ngạc thốt lên: “Hẳn là bức vẽ cụ cố của các ông ngày trước. Nếu muốn bán được giá thì nên tìm đến vị quan đang hiển đạt trong triều mà bán”.

Nghe theo lời, con cháu Phùng Khắc Khoan đến dinh thự của Thượng thư Nguyễn Quý Đức và bán được bộn tiền. Có một điều lạ là trước lúc xảy ra chuyện này, quan Thượng thư đã nằm mộng thấy trạng Bùng đến báo trước! Khi nhìn thấy tranh, Nguyễn Quý Đức khen ngợi mãi không thôi và cảm kích xin triều đình cấp thêm ruộng tự cho cháu Phùng Khắc Khoan để phụ vào việc thờ cúng hàng năm. Điều này cho thấy, dù sinh thời làm quan ngất ngưởng danh vọng, nhưng ông Tổ nghề dệt lượt đã sống rất trong sạch.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-16-2019 , 03:35 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Giọt Mưa Thu – Đặng Thế Phong với “vạn cổ sầu”
Share

Từ ô cửa nhỏ, mưa ngâu chảy ra tới sông dài, bể rộng, bây giờ nhạc sĩ của mưa mùa thu đã đi và đi xa muôn thuở trong lòng người yêu nhạc bởi duy nhất ba bài hát bất hủ. Ba giọt nước ấy đã góp cho ly nước của nền âm nhạc Việt Nam thêm sóng sánh, quánh vàng.

Sinh ra trong một gia đình nghèo tại Nam Định, cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, lại có tới sáu người con. Chú bé Phong đã phải sớm bỏ học, rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Nhờ vào năng khiếu vẽ tranh mà Phong đã có việc cho một số tờ báo như vẽ truyện tranh, hình minh họa… và được vào học dự thính tại trường cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Trong một kì thi, thầy giáo cho các học viên tự sáng tác. Đến lượt chấm tác phẩm của Phong, thầy giáo người Pháp TARDIEU đã rất tâm đắc, khen ngợi nhưng lại phán một câu “E rằng con sẽ không sống được lâu bởi hình là vận mệnh người” do trong đó Phong vẽ nhưng thân cây khô của mùa thu, khẳng khiu và đặc biệt tất cả đều cụt ngọn.

Quả đúng như thế, cuộc sống của Phong rất long đong, khốn khổ. Anh không chỉ sống ở Hà Nội mà còn lang bạt qua Campuchia, dạt về Hà Nội với đủ nghề nhưng vẫn không thể sống nổi. Từ vẽ tranh, dạy vẽ, mở lớp dạy nhạc, sáng tác và cả nghề hát nhạc hội…

Cám cảnh với oan nghiệt cuộc đời như một định mệnh vương vào tuổi đời. Phong đã viết những bài hát não nề diễn tả tâm trạng của mình, đặc biệt cả ba bài nổi tiếng nhất đều được viết trong mùa thu vàng vọt, mưa não nề. Bởi thu chỉ đẹp và lãng mạn cho người đang mặn nồng, say đắm. Mùa thu sẽ là nỗi đớn đau của người bệnh tật từ thể xác, tâm hồn cho đến nghèo túng.

Thu 1942, Phong bệnh nặng. Một hôm mưa tầm tã, rơi lộp bộp trên mái lá, không thể ngủ, cũng chẳng thể nằm vì nước lạnh thấm ướt căn nhà nhỏ sơ sài. Phong ngồi ôm gối nhìn qua cửa sổ đếm từng giọt rơi xuống, vỡ bóng hòa vào dòng nước lênh láng, trôi tuột và nghĩ rằng có lẽ cuộc đời của mình cũng như thế. Nỗi buồn đã buông chụp xuống ngay từ khi mới chào đời. Hàng ngàn nỗi khổ đã bủa vây và chưa có ngày nhìn thấy hào quang. Đau quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để Phong gắng gượng lết tới bàn tuôn trào những cảm xúc lai láng trong một giai điệu hết sức da diết, não nề và tuyệt vọng.

“…Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây

Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về

Ai nức nở thương đời châu buông mau

Dương thế bao là sầu…”

Vừa viết, Phong vừa ôm ngực ho lên từng hồi dài. Bài hát được đặt tên “Vạn cổ sầu” có nghĩa là những nỗi buồn không thể giải thoát.

Ngay sau đó những người bạn vì lo lắng cho sức khỏe của Phong đã đội mưa tới thăm. Ôm đàn, vuốt ngực, đè nén cảm xúc, chàng trai trẻ đã hát cho mọi người cùng nghe thay cho tâm sự không thể tỏa bày. Cung điệu trầm lắng, rời rã, ngưng đọng, nức nở của một con người chẳng còn định hướng tựa con thuyền nhỏ trên sông vạm vỡ mờ bóng đêm. Phong đã trải lòng theo từng lời ca ngọt ngào, không ủy mị, rên rỉ làm mọi người nín lặng và cùng buồn chỉ muốn khóc.

“Bài hát hay lắm Phong ơi, như xoáy vào tim, vào óc của người cùng tâm trạng, nhưng bi thảm quá. Đặc biệt tựa đề “Vạn cổ sầu” nghe tang thương lắm, nên sửa lại đi” – bạn bè góp ý như thế với Phong sau khi cùng lén lau những giọt nước mắt. Phong nghĩ, cũng đúng, bởi đâu phải mình khóc trong lòng, mà sau này người khác hát cũng sẽ phải đồng tâm trạng. Chẳng lẽ các ca sĩ yêu bài này cũng phải chịu vận mệnh như mình sao?

Nhìn những giọt mưa ngâu của Ngưu Lang – Chức Nữ vẫn tuôn trào chưa ngơi nghỉ dội xuống qua ô cửa, Phong thấy sao phũ phàng tựa đời mình quá. Thôi thì sửa tựa cho nhẹ nhàng hơn và “Vạn cổ sầu” được đổi thành “Giọt mưa thu”.

Có lẽ bài hát như một lời tạ từ, điềm báo trước và cũng là di chúc cuối cùng nên chẳng bao lâu sau chàng nhạc sĩ tài hoa, bạc mệnh, yểu đời: Đặng Thế Phong đã mang theo “Vạn cổ sầu” mãi đi vào màn đêm nhạt nhòa khi mới 24 tuổi tại quê hương Nam Định của mình vì căn bệnh của những người nghèo: bệnh Lao.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!

Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
mưa buồn chi
cho cõi lòng lâm ly

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
chân buông mau
dương thế bao la sầu

Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
mây ngỏ trời xanh
chắc gì vui
mưa còn rơi
bao kiếp sầu ta nguôi

Gió xa xôi vẫn về
Mưa giăng mù lê thê
Đến bao năm nữa trời …
… Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-17-2019 , 12:38 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chuyện trên đời ắt đều do nhân quả, hoạ hay phúc đều ở mình lựa chọn mà thôi.

Trong cuộc sống đôi khi phải đối diện với nguy nan sống chết, hoạ hay phúc đều đôi khi chỉ khác nhau một niệm lựa chọn mà thôi.
Cách đây không lâu tôi có đọc được một câu chuyện cảm động lòng người kể về một cặp vợ chồng trẻ người Nam Phi. Người chồng tên George, còn người vợ trẻ tên là Helen.

Hai vợ chồng George sống tại một vùng núi cách một thị trấn nhỏ khá xa, sáng sớm mỗi ngày George phải đi làm việc ở một nông trường cách nhà 50km về phía Bắc của thị trấn. Còn vợ anh do đang mang bầu sắp tới ngày sinh nên ở nhà dưỡng thai.

Hôm đó cũng bao như ngày khác, George rời khỏi nhà từ sáng sớm để đến nông trường làm việc. Con đường mà mỗi ngày George đi làm là một con đường núi, một bên là vực sâu với những mỏm đá nhấp nhô sắc nhọn nguy hiểm. Khi vừa đến đoạn đường quanh co khó đi cách nhà mấy km, xung quanh đây vắng người chẳng có ai sinh sống. Đang tập trung lái xe thì đột nhiên điện thoại reo lên, đó là điện thoại của Helen gọi, khi vừa bắt máy George đã nghe thấy tiếng vợ đang lo lắng nói: “Anh về nhà gấp, bụng em đang đau dữ dội, có khả năng em sinh con sớm rồi…”

Nhận được điện thoại, George lập tức lo lắng, cách đây ít hôm đi khám, bác sỹ đã nói trước khả năng Helen sinh non là rất cao, không ngờ còn hơn 1 tháng nữa mới sinh mà nay đã chuyển dạ rồi, khu vực nhà ở của George lại chẳng có hàng xóm láng giềng, vì là vùng núi nên người dân ở thưa thớt, bệnh viện gần nhất cũng khá xa. Giờ nếu về không kịp thì mọi việc sẽ rất nguy hiểm.

George vội vàng nói với vợ: “Em yêu, em đừng lo lắng, anh sẽ về nhà ngay”, nói xong George bỏ điện thoại xuống rồi quay xe trở về. Khi xe đang chuẩn bị quay đầu thì đột nhiên nghe tiếng gọi hốt hoảng của một ai đó, tiếp đó thì một người đàn ông da đen xuất hiện chặn đầu xe anh lại.

Người đàn ông vừa khóc vừa nói: “Cầu xin anh hãy cứu lấy con trai tôi, xin anh hãy cứu lấy con trai tôi”. George dừng xe lại tìm hiểu tình hình, hoá ra anh ta tên là Anthony, nhân tiện hôm nay thời tiết trong lành, lại được rảnh rỗi nên anh đưa vợ con ra ngoài đi dạo. Ngờ đâu đang đi giữa đường thì chiếc xe của anh ta bị mất phanh, vì không thể kiểm soát được tình hình nên xe đã lao xuống vực.

Trên xe có vợ và đứa con trai 9 tuổi, vợ anh thì chỉ bị thương chút ít ngoài da, chỉ riêng đứa con trai của Anthony vì nghịch ngợm không thắt dây oan toàn, hiện nay đang trong cơn nguy kịch chẳng biết sống chết ra sao?

George không biết phải làm sao khi phải đối diện với lựa chọn là cứu người trước hay về nhà đưa vợ đi sinh trước? Từ đây đến thị trấn cũng phải 20km, nhưng nếu về nhà đón vợ rồi quay lại thì lại thành rất xa, hơn nữa thời gian để lâu đứa bé sẽ mất máu nhiều, rất nguy hiểm. Nhưng nếu không về nhà mà lại cứu con trai của Anthony trước thì vợ con ở nhà sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng.

Đang lúc phân vân chưa biết làm thế nào thì thấy Anthony quỳ xuống trước mặt cầu xin, George rất muốn nói cho anh ta biết rằng vợ con của mình cũng đang gặp nguy hiểm ở nhà, cần phải về nhà gấp đưa vợ con đi bệnh viện, nhưng sau cùng vì lương tâm không cho phép, George vẫn bước xuống xe hỏi: “Con anh đang ở đâu”?

Anthony lập tức dẫn George đến hiện trường cách đó không xa xem. Từ trên đường nhìn xuống, quả nhiên ở đó có một chiếc xe bị lật, còn đứa trẻ thì đang nằm trên mặt đất. Hai người cùng nhau xuống dưới, tới nơi George nhìn thấy đứa bé toàn thân dính máu, mặt mày trắng bệch vì đau và mất máu quá nhiều, tình cảnh này thật khiến cho George không muốn nhìn thêm nữa.

Anthony vừa khóc vừa nói: “Tuy đã gọi cứu hộ rồi, nhưng xe cứu hộ đến cũng phải tốn nửa tiếng đồng hồ, đến lúc đó e rằng cũng đã muộn rồi”. Sau khi tai nạn xảy ra, hai vợ chồng Anthony chia nhau ra hành động, Anthony lên đường đón xe, còn vợ thì men theo đường nhỏ tìm thôn trang gần đó. George nghe vậy thì giật mình, men theo đường nhỏ này mà đi tắt ngang qua, ngôi nhà gần nhất cũng chính là nhà mình, ngoài ra cũng chẳng có người dân nào ở, hơn nữa cũng chỉ có mình nhà anh là có xe, vậy thì cũng bằng vô ích.

Sau một hồi đấu tranh tư tưởng, George cũng đưa ra một sự lựa chọn khó khăn: “Mau bế đứa bé lên xe”. George lớn tiếng kêu. Anthony nghe vậy vui mừng vội vàng bế con lên xe rồi tất cả mau chóng đến bệnh viện thị trấn gần nhất.

George vừa lái xe tay vừa cầm điện thoại không ngừng gọi điện về nhà, mong rằng có thể động viên vợ kiên cường thêm. Khi đầu dây bên kia vừa bắt máy, George nghe tiếng vợ yếu ớt: “Anh đang ở đâu?”, George cố giữ bình tình nói: “Em yêu, em gắng chịu thêm chút nữa”.

Sau 10 phút qua đi, George lại gọi điện thoại về nhà, nhưng lần này giọng của vợ anh đã yếu ớt lắm rồi, anh chỉ đành nói thật: “Em yêu, hãy tha thứ cho anh, anh không thể thấy chết mà không cứu, em hãy kiên cường lên, xin thượng thế bảo hộ mẹ con em!”.

Vì đến bệnh viện kịp thời, nên con của Anthony đã mau chóng được bác sỹ sơ cứu, qua được cơn nguy kịch, nhưng ngược lại lúc này George như người ngồi trên đống lửa. Anh lại gọi điện về nhà thêm lần nữa nhưng lần này thì không có người nhấc máy, nước mắt tuôn rơi, anh nghĩ không có người nhấc máy thì rất có khả năng vợ con anh đã gặp nguy hiểm…

George phóng như bay về nhà, Anthony thấy vậy cũng lên xe về theo, khi vừa về đến cửa nhà, hai người đã nghe thấy tiếng khóc oa oa của trẻ nhỏ. Cảnh tượng đầu tiên khi anh bước vào nhà như là một bức tranh tuyệt đẹp khiến anh không thể ngờ tới. Vợ anh đang bình yên đắp chăn nằm ngủ trên giường, bên cạnh là một người phụ nữ với dáng vẻ đầy mệt mỏi nhưng vẫn toát lên vẻ hiền lành phúc hậu đang bế đứa con xinh xắn mới trào đời của mình mà vỗ về chăm sóc.

George vừa kinh ngạc vừa vui mừng không thể nói thành lời, lúc này Anthony cũng bước vào trong và tiến lại gần ôm người phụ nữ đó và nói: “Em yêu, chúng ta phải cám ơn George, con trai của chúng ta không sao rồi”. Sau đó Anthony kể lại sơ qua mọi chuyện cho vợ mình nghe. Hoá ra, người phụ nữ đó tên là Marie, chính là vợ của Anthony.

Marie là bác sỹ khoa sản của bệnh viện. Sau khi tai nạn xảy ra, cô men theo đường mòn đi tìm nhà dân, vốn dĩ muốn kiếm một chiếc xe để cứu con mình, nhưng khi đến đây, nghe thấy tiếng kêu đau đớn của Helen nên đẩy cửa bước vào xem. Thấy Helen có triệu chứng sinh non, tình hình lại nguy cấp, nếu không xử lý ngay e rằng sẽ không kịp. Marie nói tiếp: “George, thành thật xin lỗi anh, lúc đầu tôi rất khó khăn để lựa chọn, không biết nên giúp vợ anh trước hay là đi tìm xe cứu con mình trước, nhưng thật may mắn, vào thời khắc quan trọng ấy tôi đã không chọn sai”.

Chứng kiến cảnh như vậy, George không khỏi đi hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, anh cũng vừa khóc vừa xấu hổ mà thành thật nói: “Người phải nói lời xin lỗi phải là tôi, lúc Anthony cầu cứu tôi, tôi cũng đã rất phân ưu, không biết nên chọn con đường nào, cứu con chị trước hay là về nhà cứu vợ trước? May thay, vào giây phút cuối cùng, chúng ta đều không có lựa chọn sai, không làm điều trái với lương tâm mình”.

Mọi chuyện xong xuôi, ca ba đều nhìn nhau rơi những giọt nước mắt hạnh phúc, họ hiểu ra rằng, thiện lương chính là lựa chọn không khi nào hối tiếc.

***

Kỳ thực chuyện trên đời tốt xấu đều do nhân quả, sống thiện lương ắt sẽ gặp phúc lành. Giả sử nếu lúc đầu George không lựa chọn giúp đỡ con của Anthony mà về nhà với vợ, chưa biết chừng thời gian cũng chẳng kịp, mà lại gặp phải sự cố đau thương. Còn Marie nếu vì sự ích kỷ của bản thân mà bỏ mặc Helen thì có lẽ xe cũng chẳng tìm được mà con mình lại gặp nguy nan.

Trong cuộc sống, mỗi thời khắc chúng ta đều phải đối diện với những lựa chọn cho riêng mình, ranh giới nữa thiện lương và cái ác luôn mong manh. Con người chúng ta lựa chọn thế nào ắt sẽ gặt được kết quả ấy. Có câu: “Trời không phụ lòng người” người sống có tâm, sống vì lương thiện, làm điều nhân nghĩa ắt sẽ luôn được trời cao bảo hộ, ngược lại thì ắt cũng quả báo kề thân khó bề trốn thoát.

Mọi việc trên đời đến với chúng ta đó đều là những an bài tốt nhất mà ông trời đã ban tặng. Khi con người đối diện với lựa chọn cũng chính là lúc ông trời thử thách lòng người, tốt hay xấu, được hay mất, tất cả đều phụ thuộc vào chính chúng ta. Có thể chúng ta không thể lựa chọn cho mình vận mệnh của quá khứ khi sinh ra, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình vận mệnh của tương lai.

Làm người cũng đừng để vì cái được nhỏ nhoi trước mắt mà đánh đổi tất cả những cái lớn lao của tương lai. Sống thông minh, lọc lõi không khó, khó là sống làm người thiện lương.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-17-2019 , 12:40 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Chớ ép người khác phải làm những điều bản thân không muốn.

Cổ nhân giảng: “Vạn vật hữu linh“. Bất kể sinh mệnh nào, dù là thực vật hay động vật, đều có linh tính. Cũng lại có câu: “Nhân chi sơ, tính bản thiện“. Xét rộng ra, có thể hiểu rằng đặc tính bản nguyên của mọi sinh mệnh chính là thiện lương. Câu chuyện dưới đây càng minh chứng rõ hơn điều đó.

Có một vị giáo sư chuyên nghiên cứu về loài gà. Một ngày kia, ông phát hiện trong rừng có một con chim trĩ đẻ được khá nhiều trứng, liền lặng lẽ nhặt lấy mấy quả mang về. Vừa khéo lúc đó lại có một con gà mẹ cũng đẻ trứng, ông bèn lấy trứng của gà mẹ đi rồi bỏ trứng của chim trĩ rừng vào.

Gà mẹ nhìn thấy trứng không giống nhau, do dự một hồi, nhưng vẫn chấp nhận ấp những quả trứng lạ này, vừa điềm đạm lại vừa cẩn thận, cứ như là đang ấp trứng của chính mình vậy. Sau một thời gian, chim trĩ con nở ra, gà mẹ dẫn chúng vào trong rừng, dùng móng vuốt đào bới đất, tìm kiếm sâu bọ giữa đất và rễ cây, sau đó “cục…cục…” gọi mấy con chim trĩ non đến ăn.

Chứng kiến cảnh ấy, vị giáo sư hết sức ngạc nhiên. Lũ gà con vốn đều được cho ăn thức ăn nhân tạo, vì sao gà mẹ có thể biết được rằng chim trĩ con không ăn thức ăn chăn nuôi mà chỉ thích ăn giun dế? Giáo sư lại lấy một số trứng vịt cho gà mẹ ấp. Lại như lần trước, gà mẹ vẫn không quản nhọc sức ấp số trứng ấy nở ra vịt con. Sau đó, gà mẹ lại dẫn theo đàn vịt con đến bên hồ nước để chúng tập bơi lội.

Hai sự việc bất ngờ ấy giúp vị giáo sư chợt nhận ra một đạo lý. Loài gà vốn bị cho là “não nhỏ”, ngốc nghếch, không có tình cảm nhưng thực ra chúng vừa có tình thương, lại có trí tuệ. Gà mẹ không chỉ bao dung, ấp số trứng lạ không phải mình đẻ ra, mà nó còn hiểu được đặc tính của những con trĩ con, vịt con ấy rồi dẫn dắt chúng thực hành kĩ năng sinh tồn mà Thượng Đế đã ban cho.

Trong văn hoá truyền thống, loài gà không hề tầm thường. Người xưa coi gà là biểu tượng của người quân tử, là “ngũ đức chi cầm” (loài chim có 5 đức): Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín. Trong “Tây Du Ký“, tác giả Ngô Thừa Ân cũng xây dựng hình tượng “Mão Nhật Tinh Quân” dưới hình dạng của một chú gà trống từng trợ giúp Tôn Ngộ Không trừ yêu quái rết. Nói chung, hình tượng con gà thường đi kèm với điềm lành, may mắn.

Lại nói về chuyện gà mẹ ở trên, con người trong hoàn cảnh ấy sẽ ứng xử khác biệt hoàn toàn. Rất có thể chúng ta sẽ bắt lũ vịt con học tiếng gà kêu, bắt chim trĩ rừng ăn thức ăn nhân tạo. Nghĩa là ta luôn muốn cưỡng ép người khác theo quan điểm, suy nghĩ của mình mà chẳng hề quan tâm tới cá tính, thói quen và sở thích của người khác. Những xung đột, hiểu lầm cũng bắt nguồn từ đây.

Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân“, nghĩa là: Điều gì bản thân mình không muốn thì chớ làm cho người khác. Người quân tử chính là như vậy, không ép buộc, cưỡng chế người khác, chỉ một lòng lấy thiện đãi người. Cả trong lễ nghi phương Đông và phương Tây, việc tôn trọng sở thích, quan điểm của người khác đều là biểu hiện của văn hoá, của sự thanh lịch.

Một đoàn thể có thể hài hòa ổn định hay không, then chốt chính là việc mỗi cá thể trong đoàn thể đó có thể tôn trọng, bao dung, lấy tấm lòng từ bi để đối đãi với nhau hay không. Nếu hãy còn tính toán, trách móc lẫn nhau thì khẳng định người ta sẽ không thể sống thanh thản dù chỉ một khắc.

Một con gà mái có thể lấy trí huệ của tình thương để đối đãi với loài vật có ngoại hình và tập tính sống khác biệt với mình. Là con người mà nói, chỉ có dùng dùng trí huệ thanh tịnh hóa giải tranh chấp, dùng thiện lương hoá giải hận thù, cuộc sống này mới có thể hoà hợp, viên dung, tươi đẹp hơn lên vậy.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-17-2019 , 12:49 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Tha chết cho 10 vạn giặc Minh – Người Việt đã từng là một dân tộc “đại nghĩa”
Trần Hưng •

Một dân tộc sau 20 năm chịu cảnh nô lệ, thế nhưng sau khi giành được chiến thắng đã đại nghĩa tha chết cho hơn 10 vạn đội quân của triều đình phương Bắc đã từng đô hộ mình. Không chỉ thế dân tộc đó còn sửa sang đường xá, cung cấp ngựa, thuyền cũng như lương thực đầy đủ để đội quân này về nước.

Tấm lòng đại nhân đại nghĩa ấy tưởng như chỉ là chuyện hoang đường, nhưng đã được người dân Đại Việt thực hiện, khiến kẻ xâm lăng chỉ có thể cảm kích đến chảy nước mắt, dù nhục nhã thua trận vẫn chỉ có thể cúi đầu tâm phục khẩu phục. Đó chính là cái kết “đại nghĩa” và “chí nhân” mà Nguyễn Trãi nói đến trong câu thơ:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Bối cảnh
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra bắt đầu từ năm 1418. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi cùng các nghĩa quân nhiều lần phải rút về núi Chí Linh trước sức mạnh của quân Minh.

Đến năm 1420, Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân, ra mắt chủ tướng Lê Lợi với cuốn sách “Bình Ngô”, nêu những kế sách để đánh đuổi quân Minh. Được Lê Lợi tin tưởng, ông đã vạch ra kế sách chiến lược đánh quân Minh, từ đó nghĩa quân Lam Sơn giành được nhiều thắng lợi quan trọng và ngày càng lớn mạnh, hết tiến về phía Nam lại tiến ra Bắc, tiến quân đến đâu giành thắng lợi đến đó.

Trước tình hình này, vào tháng 9/1426, nhà Minh cử Vương Thông làm tổng binh đưa 5 vạn viện binh sang, hợp với hơn 5 vạn quân ở Giao Chỉ thành hơn 10 vạn, tiến đánh quân Lam Sơn. Quân Minh bị nghĩa quân Lam Sơn đánh bại ở Tốt Động – Chúc Động. Vương Thông thua trận phải chạy vào thành Đông Quan (tức thành Thăng Long) cố thủ rồi cho người về nước xin thêm viện binh.

Nguyễn Trãi nhiều lần viết thư cho Vương Thông đề nghị hòa, nhưng Vương Thông chỉ đồng ý nhằm kéo dài thời gian chờ viện binh, mặt khác cho đào hào cắm chông để cố thủ. Nguyễn Trãi biết được điều này nên cho quân vây thành chặt hơn, đồng thời gửi tiếp thư cho Vương Thông nói rõ nếu muốn hàng thì quân Minh phải ra hàng ngay.

Biết quân Minh không hàng vì còn hy vọng quân cứu viện, Nguyễn Trãi bèn tính kế đánh bại 15 vạn viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh.

10 vạn quân của Liễu Thăng đến ải Chi Lăng thì bị phục binh xông ra đánh úp khiến bị tan rã hoàn toàn, Liễu Thăng cũng bị tử trận.

Mộc Thạnh đưa 5 vạn quân đóng ở biên giới, chần chừ chưa vội tiến quân nhằm nghe ngóng cánh quân của Liễu Thăng. Quân Lam Sơn đưa một số tù binh mang sắc thư, phù ấn của Liễu Thăng đến báo cho Mộc Thạnh biết Liễu Thăng đã tử trận.

Cánh quân của Mộc Thạnh hay tin thì kinh hoàng, phút chốc cả 5 vạn quân tan vỡ quay đầu chạy về nước. Quân Lam Sơn thừa thắng đuổi theo khiến hàng vạn quân Minh bị tiêu diệt.

15 vạn viện binh thoáng chốc đã bị diệt sạch. Việc đánh thành Đông Quan lúc này là quá dễ với nghĩa quân Lam Sơn. Nhiều tướng bàn nên tấn công hạ thành, nhưng Nguyễn Trãi muốn chiêu hàng để đỡ hao tổn binh sĩ hai bên.

5 lần một thân một mình vào thành khuyên hàng.

Để chiêu hàng Vương Thông, Nguyễn Trãi không chỉ nhiều lần viết thư khuyên nhủ, mà ông cũng đã phải 5 lần một mình vào thành Đông Quan nhằm phân tích tình hình khuyên nhủ các tướng quân Minh nên đầu hàng. Đồng thời ông cũng đảm bảo sẽ cung cấp đủ ngựa, thuyền, lương thực để toàn bộ 10 vạn quân Minh được an toàn trở về nước.

Thế nhưng quân Minh biết rằng, trong thời gian thống trị ở Giao Chỉ, họ đã gây rất nhiều nợ máu cho người dân nơi đây. Việc tha thứ cho 10 vạn quân gây bao nhiêu tội ác an toàn về nước được xem là điều không thể, nhất là các tướng chỉ huy. Vì thế mà các tướng Minh đều liều chết quyết giữ thành chứ không hàng.

Vương Thông một mặt trả lời sẽ xem xét nhằm giảng hòa, một mặt cho quân dò la tình hình vây thành. Quân Minh tìm ra được điểm yếu, liền đem quân bất ngờ vượt thành đánh ra để phá vây. Thế nhưng quân Lam Sơn đã chuẩn bị trước tình huống này, nên giả thua bỏ chạy. Quân Minh đuổi theo thì rơi vào trận địa mai phục, Vương Thông bị ngã ngựa suýt nữa thì bị bắt, phải chạy tháo thân trở vào thành.

Vương Thông viết thư về báo với vua Minh về việc giảng hòa với quân Lam Sơn, trong thư có đoạn sau:

Chớ tham đất một góc mà làm nhọc quân đi muôn dặm, giả sử dùng quân được như số quân đi đánh khi đầu, lại được 6, 7, 8 đại tướng như bọn Trương Phụ thì mới có thể đánh được, tuy nhiên có đánh được cũng không thể giữ được…
Đại Việt sử ký toàn thư

Nguyễn Trãi dùng nhân nghĩa, kiên trì thuyết phục quân Minh đầu hàng, đúng như những gì ông viết trong “Bình Ngô đại cáo”:

Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công

Trước sự kiễn nhẫn cùng sự chân thành của Nguyễn Trãi, lại đang lâm cảnh đường cùng, Vương Thông đồng ý nghị hòa. Ông ta liền đưa một số tướng làm con tin giao cho quân Lam Sơn. Người dân cùng các tướng sĩ đến xem đều đề nghị xin cho giết bọn chúng, nhưng Lê Lợi đáp rằng:

Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng, mà mình lại giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng. Nếu cốt để hả nỗi căm giận trong chốc lát mà mang tiếng với muôn đời là giết kẻ đã hàng, thì chi bằng tha mạng sống cho ức vạn người, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao?
Đại Việt sử ký toàn thư

Tội ác quân Minh gây ra cho người dân Giao Chỉ.

Nói đến đây, phải nhắc lại tội ác mà quân Minh từng gây ra cho người dân Giao Chỉ.

Năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh đã vơ vét mang về phương bắc 235.900 con voi, ngựa, trâu bò; thóc gạo 1,36 triệu thạch, thuyền bè 8.677 chiếc, cùng hơn 2,5 triệu khí giới. Đó là chưa kể số kim loại quý, cùng các mỏ vàng, bạc, ngọc trai, gỗ quí, lâm sản, hồ tiêu, v.v.

Nhằm thực hiện nền thống trị lâu dài, nhà Minh không ngừng xây thành lũy, cầu cống, đường sá. Hàng chục vạn dân đinh từ 16 đến 60 tuổi phải ra các công trường với chế độ lao dịch cưỡng bức và sinh hoạt rất thiếu thốn. Các công trường khai mỏ và mò ngọc trai cũng nhiều nhân công. Những người thợ phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nguy hiểm đến tính mạng.

Chính sách thuế khóa nhà Minh áp dụng với Giao Chỉ rất nặng nề, trong đó có 2 ngạch chính là thuế ruộng đất và thuế công thương nghiệp. Nhà Minh cử nhiều hoạn quan sang Việt Nam để tiến hành thu thập thuế, cống gửi về kinh đô, đồng thời vơ vét thêm chừng ấy nữa cho riêng mình.

Ngoài ra, quân Minh còn liên tục đàn áp những nghĩa quân kháng Minh với những tội ác như chém giết, cướp bóc, mổ bụng đàn bà có thai, để khủng bố lòng người. Họ cũng không nhân từ với những người nổi dậy. Cuốn sách sử của Trung Quốc là “Minh sử bản mạt kỷ sự” có ghi chép về thời kỳ này rằng quân Minh đã “chôn sống hàng ngàn tù binh rồi chất xác họ thành núi, hoặc rút ruột người treo lên cây, hoặc nấu thịt người để lấy dầu”.

Nguyễn Trãi đã mô tả trong “Bình Ngô đại cáo” như sau:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

Các thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn như Lê Lợi, Nguyễn trãi cùng các tướng sĩ khác đều có thù nhà với quân Minh. Hầu hết người dân Giao Chỉ đều khổ sở dưới sự áp bức của nhà Minh. Ấy vậy mà dân tộc ta lại có thể làm ra một quyết định “đại nghĩa”: tha cho và giúp đỡ toàn bộ đội quân từng gây tội ác thấu trời xanh như vậy trở về nước.

Hội thề Đông Quan.

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427), toàn bộ quân Minh ra đầu hàng, các thủ lĩnh của hai bên tham gia hội thề ở phía Nam thành Đông Quan, ngay bên bờ Nhị Hà (nay là sông Hồng).

Rất nhiều người nhắc lại với chủ tướng Lê Lợi về sự thống khổ mà người dân từng chịu đựng, cũng như tội ác của quân Minh đã từng gây ra, thế nhưng Lê Lợi đáp rằng:

Việc dùng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh, trả lại đất cho nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cầu gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn.
Đại Việt thông sử

Tại hội thề lịch sử Đông Quan, Vương Thông đại diện cho các tướng sĩ quân Minh đọc “bài văn hội thề”, thề rằng sẽ ngừng chiến mà rút quân về nước, việc rút quân về nước sẽ hoàn tất trong vòng 5 tháng, trên đường rút về không thực hiện việc cướp bóc sách nhiễu dân chúng, không tái diễn xâm lược Giao Chỉ.

Về phía nghĩa quân Lam Sơn cũng hứa cung cấp đủ ngựa, thuyền và lương thực cho hơn 10 vạn quân Minh rút về nước.

Kết thúc hội thề các tướng nhà Minh phải cúi đầu thực hiện đúng các cam kết mà nghĩa quân Lam Sơn đặt ra. Quân “thiên triều” cảm kích xấu hổ chảy nước mắt, dù nhục nhã nhưng phải tâm phục khẩu phục.

Lê Lợi lệnh cho các lộ ở Bắc Giang và Lạng Sơn tu sửa đường xá để quân Minh rút về nước. Quân Lam Sơn cũng cung cấp 500 thuyền và hơn 2 vạn ngựa cho quân Minh sử dụng, cũng như lương thực đầy đủ, các quan lại đô hộ của nhà Minh cũng được thả về nước sau đó. Các quân tướng nhà Minh trước khi về nước đã vô cùng cảm kích đến trước dinh Bồ Đề mà lạy tạ.

Quân Minh rút về Trung Quốc.
Sách “Đại Việt thông sử” có ghi chép rằng các tướng Minh là Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại chơi suốt cả buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng.

“Đại Việt Sử ký Toàn thư” ghi chép rằng: “Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về. Bọn Phương Chính vừa xúc động vừa hổ thẹn đến rơi nước mắt.”

Vương Thông nói chuyện với Lê Lợi suốt đêm rồi mới về nước, Lê Lợi cho đem trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu.

Về sự việc này Nguyễn Trãi có mô tả trong “Bình Ngô đại cáo” như sau:

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay.

“Minh sử kỷ sự bản mạt” ghi chép rằng: “Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hoà vậy”

Từng là một dân tộc “đại nghĩa”
Một dân tộc suốt 20 chịu cảnh nô lệ, người dân bị đô hộ rên xiết thấu cả trời xanh, như những gì Nguyễn Trãi đã mô tả:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Thế nhưng một dân tộc được xem là nhược tiểu ấy sau khi chiến thắng đội quân hùng mạnh của “thiên triều”, vẫn bao dung không chấp vào tội ác, không chỉ tha cho toàn bộ đội quân hơn 10 vạn trở về nước, mà còn tu sửa đường xá, cung cấp ngựa xe, thuyền, và lương thực đầy đủ, đúng như những gì Nguyễn Trãi mô tả:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Đội quân được gọi là “thiên triều” ấy chỉ có thể cảm kích, “hổ thẹn đến rơi nước mắt”, thua trận phải tâm phục khẩu phục, sau này không còn có ý tưởng dòm ngó nước nam. Đó cũng chính là dùng đức để cảm hóa nhân tâm.

Có người bình rằng việc tha chết cho 10 vạn quân Minh chỉ là do vua quan Đại Việt muốn yên ổn, nhưng sự thật không phải là như vậy. Trong lịch sử nước ta đã rất nhiều lần người Việt đánh bại quân xâm lược mà không hề chùn bước vì muốn yên ổn. Hơn nữa, mối thù sâu đậm do quân Minh gây ra không phải là chỉ cần mấy chữ “muốn yên ổn” là có thể xóa nhòa được.

Tư tưởng của Nguyễn Trãi – “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn” – đã thể hiện tấm lòng đại nghĩa của người dân Đại Việt, ghi lại một điểm sáng chói lọi nhất trong sử Việt. Thời khắc huy hoàng ấy không có được nhờ một chiến thắng, không đánh đổi bằng máu và nước mắt, mà đạt tới nhờ lòng vị tha.

Tiếc thay đến nay tư tưởng “chí nhân”, “đại nghĩa” của cha ông ta xưa kia đã bị thay thế bởi những điều xa lạ. Rất nhiều người Việt ngày nay vừa bình luận về một mâu thuẫn nào đó thì câu cửa miệng là “phải đấu tranh” để đạt được cái này cái kia. Áp dụng “đấu tranh giai cấp” vào trong xã hội, giáo dục “đấu tranh giai cấp” trong nhà trường, những sai lầm đó đã và đang hủy hoại phần quý giá nhất trong tâm hồn người Việt. Quan hệ giữa người với người ngày nay quả thật là quá căng thẳng.

Nếu xã hội Việt Nam ai ai cũng có thể bao dung tha thứ cho nhau, đối xử với nhau đều dùng Nhân, Nghĩa, vứt bỏ thứ “học thuyết đấu tranh” tồn tại bấy lâu nay, thì mối quan hệ xã hội mới có thể bền chặt, chúng ta mới có được cơ sở để xây dựng một đất nước hùng cường.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-17-2019 , 12:56 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Hung thủ khiến Nguyễn Trãi bị giết oan ba họ
Trần Hưng •

Vụ án “Lệ Chi viên” được xem là vụ án oan kinh hoàng nhất trong sử Việt, đằng sau việc vua Lê Thái Tông băng hà đột ngột ở tuổi 20, là án “tru di tam tộc” vô cùng thảm khốc đối với công thần, bậc hiền tài bậc nhất trong lịch sử dân tộc – Nguyễn Trãi.

22 năm sau, vua Lê Thánh Tông lên ngôi mới giải oan cho gia đình Nguyễn Trãi nhưng cũng chỉ là gỡ bỏ đi cái nỗi oan giết vua, chứ không đi vào chi tiết sự thật. Trong suốt hàng trăm năm qua, nhiều nhà sử học đều nghiên cứu về vụ án “Lệ Chi viên” và nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi.

Định mệnh
Cuốn “Đông A di sự” có ghi chép rằng ông ngoại của Nguyễn Trãi chính là quan tư đồ Trần Nguyên Đán, trụ cột của nhà Trần, rất giỏi về mệnh lý.

Về tài mệnh lý của Trần Nguyên Đán, “Đông A di sự” kể rằng ông từng xem lá số tử vi của thái thượng hoàng Nghệ Tôn, thấy có Vũ Phá thủ mệnh, coi người thân như cừu thù, coi kẻ ác như ruột gan, chắc chắn sẽ nghe Hồ Quý Ly; lại thấy Quý Ly có Tử Phá thủ mệnh, biết y sẽ cướp ngôi, và nhà Trần mất. Khuyên can thượng hoàng nhiều lần mà không được, cuối cùng Trần Nguyên Đán quyết định kết làm thông gia với Hồ Quý Ly.

Đúng như dự đoán của Trần Nguyên Đán, năm 1399, Hồ Quý Ly cho thanh trừng 370 tướng lĩnh tôn thất nhà Trần, dẹp tan thế lực nhà Trần, năm 1400 thì lên ngôi vua. Tuy nhiên gia đình Trần Nguyên Đán không hề bị Hồ Quý Ly đụng đến, nhờ thế cháu nội và cháu ngoại của ông là Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi mới có điều kiện ăn học thành tài, sau này đều là anh hùng dân tộc.

Trần Nguyên Đán khi xem lá số của Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi biết 2 cháu mình sau này sẽ thành nghiệp lớn. Với Trần Nguyên Hãn thì ông không lo lắng lắm, nhưng ông lại rất lo cho Nguyễn Trãi. Sau khi xem lá số tử vi của Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Đán đoán biết rằng đây là lá số của anh hùng dân tộc, nhưng lại gặp phải họa đến ba họ, vì thế mà dặn Nguyễn Trãi cẩn thận rằng: “Chiếm thành thì lui binh”, dù Trần Nguyên Đán biết rằng số mệnh khó lòng thay đổi được.

Thăng trầm chốn quan trường.

Nguyễn Trãi là người có công lớn trong cuộc chiến chống lại quân Minh, ông là người cùng hoạch định các kế sách cho nghĩa quân Lam Sơn, và đã cùng quân Lam Sơn đi từ không có gì nổi bật trong số hàng chục cuộc khởi nghĩa lúc đó dần dần thành cuộc khởi nghĩa mạnh nhất cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn vào năm 1427.

Đầu năm 1428, dù chưa chính thức lên ngôi vua, Lê Lợi đã tổ chức đại hội để ban thưởng. Lúc đó, Nguyễn Trãi được ban tước Quan Phục hầu, chức danh đầy đủ của ông là “Tuyên phụng đại phu, Nhập nội hành khiển Môn hạ Hữu gián nghị đại phu, Đồng Trung thư lệnh sự, tứ Kim tử ngư đại, Thượng hộ quốc, Quan phục hầu, tứ tính Lê Trãi”.

Trong đó đáng chú ý có “Tứ Kim ngư đại” là được ban cái túi thêu con cá vàng, một đặc ân đối với đại thần từ quan tam phẩm trở lên. “Thượng hộ quốc” là một huân hàm dùng để tặng riêng cho người có công lao lớn. Quan phục hầu là phẩm tước gia ban mà cao nhất là Huyện Thượng hầu, cũng thời gian này được ban cho Lê Vấn, á Thượng hầu ban cho Lê Ngân, hai vị khai quốc công thần của nhà Lê. Tứ tính Lê Trãi là Nguyễn Trãi được đặc ân ban quốc tính, tức được đổi theo họ của nhà vua.

Với những chức tước nêu trên, ở thời điểm ngay sau chiến thắng, Nguyễn Trãi cũng có vị thế nhất định trong triều đình nhà Lê. Tuy nhiên sau đó không lâu, nhất là sau sự kiện tự trẫm của Trần Nguyên Hãn và cái chết của Phạm Văn Xảo, hai vị đại thần và là người thân thiết với Nguyễn Trãi, ông dần dần bị hạn chế quyền hành. Nguyễn Trãi chủ yếu chỉ được giao cho san định lễ nhạc, sử sách, ông từng hiệu đính nhã nhạc, định quy chế mũ áo…

Nguyễn Trãi vừa tài giỏi lại chính trực, mọi việc làm của ông đều là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, vì thế khi chiến tranh nổ ra ông cũng có những đóng góp quan trọng cho nghĩa quân; thế nhưng trong vương triều thì Nguyễn Trãi lại không hợp lòng nhiều người.

Chẳng vậy mà trong lạc khoản bài văn bia soạn cho lăng mộ Lê Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), Nguyễn Trãi chỉ tự đề là: “Vinh lộc đại phu, Nhập nội hành khiển tri Tam quán sự, thần Nguyễn Trãi vâng soạn”. Tam quán bao gồm Chiêu văn quán, Tập hiền viện và Sử quán, coi việc sưu tập điển tịch, đồ thư và soạn sử. Rõ ràng là Nguyễn Trãi chỉ đảm nhận những chức vị hết sức khiêm tốn. Ngay cả đặc ân ban quốc tính, cũng không thấy nêu ở đây.

Nhưng rồi sau đó, Nguyễn Trãi được Lê Thái Tông khôi phục quyền chức và được trọng dụng mà trong biểu tạ ơn năm 1439 ghi là “Vinh lộc đại phu, Nhập nội hành khiển Môn hạ sảnh Tả ty Hữu gián nghị đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ, tri Tam quán sự, đề cử Côn Sơn Tư Phúc tự, á đại trí tự, tứ quốc tính Lê Trãi”. Như vậy, hầu như các chức tước cũ của Nguyễn Trãi đã được khôi phục.

Cũng chính vì sự trọng dụng của vua Lê Thái Tông đối với Nguyễn Trãi mà nhiều lộng thần muốn trừ ông.

Vụ án “Lệ Chi viên”

Cuối năm 1437, Nguyễn Trãi thực hiện lời căn dặn của ông ngoại Trần Nguyên Đán xưa kia – “chiếm thành thì lui binh”. Ông xin từ quan về quê nhà ở Côn Sơn.

Tuy nhiên vua Lê Thái Tông lúc bấy giờ tỏ ra rất xem trọng Nguyễn Trãi và cố mời ông lại ra làm quan cho triều đình. Năm 1439, Nguyễn Trãi được mời ra làm quan ban cho tước Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Hành khiển Môn hạ sảnh Tả ty Hữu Gián nghị Đại phu kiêm Hàn Lâm viện Học sĩ Tri Tam quán sự Đề cử Côn Sơn Tư Phúc tự.

Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm 1442 vua Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi mời vua ngự ở chùa Côn Sơn. Đến ngày 4 tháng 8 âm lịch vua đi chơi ở “Lệ Chi viên” (vườn Vải), xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức thì bất ngờ băng hà.

Nguyễn Trãi cùng vợ là Nguyễn Thị Lộ bị bắt vì nghi mưu sát vua. Ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1442 triều đình tôn thái tử Bang Cơ mới 2 tuổi lên ngôi vua.

Ngày 16 tháng 8 âm lịch triều đình khép Nguyễn Trãi vào tội giết vua và bị “tru di tam tam tộc”.

Nỗi oan khuất không chỉ của Nguyễn Trãi
Về vụ án “Lệ Chi viên”, “Đại Việt sử ký toàn thư” chép:

Tháng 8, ngày mồng 4, vua về đến vườn Vải huyện Gia Định1688, bỗng bị bạo bệnh rồi băng.

Trước đây, vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền đông, xa giá về tới vườn Vải, xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng, các quan bí mật đưa về.

Ngày mồng 6 về tới kinh, nửa đêm đem vào cung rồi mới phát táng. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua.



Ngày 16 tháng 8 (tức ngày 19 tháng 9 năm 1442), giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến 3 đời.

Trước đây, Nguyễn Thị Lộ ra vào cung cấm, Thái Tông trông thấy rất ưa, liền cợt nhả với thị. Đến đây, vua đi tuần về miền Đông, đến chơi nhà Trãi rồi bị bạo bệnh mà mất, cho nên Trãi bị tội ấy.

Tuy nhiên, sau này rất nhiều nhà sử học đặt nghi vấn về việc này và cố công tim hiểu vụ án “Lệ Chi viên” để tìm ra thủ phạm thật của vụ án, cũng là để minh oan cho người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi.

Các nhà nghiên cứu Phan Duy Kha, Đinh Công Vĩ, Lã Duy Lan đã trình bày lại kết quả nghiên cứu của mình trong cuốn sách “Nhìn lại lịch sử” xuất bản năm 2003.

Trước khi mất, vua Lê Thái Tông đã truất ngôi thái tử của Nghi Dân để phong cho Bang Cơ. Bang Cơ là con của bà phi Nguyễn Thị Anh. Thời điểm này một bà phi khác là Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông) mang thai, Nguyễn Thị Anh đã tìm cách hãm hại khiến bà Ngọc Dao bị giam ở lãnh cung. Tuy nhiên vợ chồng Nguyễn Trãi lại hết lòng bảo vệ, xin vua tha cho bà Ngô Thị Ngọc Dao.

Xin được rồi, vợ chồng Nguyễn Trãi lại tiếp tục đưa bà Ngọc Dao ra tá túc tại chùa Huy Văn (nay ở đường Chùa Bộc, Hà Nội) và đã sinh hoàng tử Tư Thành ở đấy vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (dương lịch 24-8-1442). Sau đó lại đưa mẹ con bà Ngọc Dao về tá túc tại một ngôi chùa ở Từ Liêm (hiện chùa mang tên Thánh Chúa, nằm trong khuôn viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tên chùa là do vua Lê Thánh Tông đặt khi mới lên ngôi, ý nói nơi đây vị chúa thánh minh đã từng tá túc; việc này văn bia ở hai ngôi chùa trên có ghi lại). Tiếp theo Nguyễn Trãi mới đưa mẹ con bà Ngọc Dao ra trú ở vùng An Bang (nay là Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), nơi ông trị nhậm với cương vị Ngự sử Đông Bắc đạo.

Việc làm của vợ chồng Nguyễn Trãi khiến họ trở thành cái đinh trong mắt hoàng hậu Nguyễn Thị Anh.

Hơn nữa lúc bấy giờ, có nhiều lời đồn đại rằng Bang Cơ không phải là con của vua Thái Tông, vì Nguyễn Thị Anh đã mang thai trước khi vào cung. Các nhà nghiên cứu nói trên đã tìm được cuốn gia phả họ Đinh là “Ngọc phả họ Đinh” của thái sư Đinh Liệt, trong có chép bài thơ nói về chuyện này:

茸新六个月開花,
不識何人寶種多.
主靠送胎為靈藥,
舊瓶新酒盛醫科.

Dịch nghĩa là:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa,
Bất thức hà nhân chủng bảo đa.
Chủ kháo Tống khai vi linh dược,
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa.

“Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức ý chỉ thái tử Bang Cơ, “Thịnh Y” tức là Thị Anh (tất nhiên đây chỉ là giải nghĩa phiên âm sang tiếng Việt, còn cách đọc chính xác phải là phát âm tiếng Hán). Bài thơ trên được dịch như sau:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Việc này ngoài vợ chồng Nguyễn Trãi, Đinh Phúc và Đinh Thắng, còn có vài đại thần khác có thể đã biết như Thái sư Đinh Liệt, Thái uý Trịnh (Lê) Khả và con là Trịnh (Lê) Quát (bởi được ban quốc tính), Tư khấu Trịnh Khắc Phục và con là Phò mã Đô uý Trịnh Bá Nhai. Chính cái biết rõ này là mầm mống tai vạ về sau cho Nguyễn Trãi và tộc họ của ông cùng các vị trên.

Khi nhà vua đi tuần miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua về ngự ở Côn Sơn. Lúc này, ở địa vị của mình, Nguyễn Thị Anh thực sự lo sợ rằng gốc gác của thái tử bị tiết lộ, khiến con mất ngôi báu, khiến bà ta và gia tộc bị tội đại hình. Đứng trước áp lực đó, Nguyễn Thị Anh đã tìm cách giết vua Lê Thái Tông tại địa phận của Nguyễn Trãi để dễ dàng đổ oan cho ông, một mũi tên trúng nhiều mục đích: diệt trừ hậu hoạn, giành ngôi báu cho con, giành lấy quyền lực nhiếp chính do thái tử chưa đầy 2 tuổi.

Nhưng chỉ diệt Nguyễn Trãi thôi là chưa đủ với Nguyễn Thị Anh, “Đại Việt sử ký toàn thư” chép:

Tháng 9, ngày 9, [năm 1442] giết bọn hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng, vì khi Nguyễn Trãi sắp bị hành hình có nói là hối không nghe lời của Thắng và Phúc.

Có lẽ hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc (là người ghi chép những chuyện cụ thể ở nội cung) đã khuyên Nguyễn Trãi sớm nói cho vua biết thái tử không phải con vua, nhưng Nguyễn Trãi đã chần chừ không thực hiện. Sau khi hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh giết Đinh Phúc, Đinh Thắng, lại tiếp tục bắt giam Thái sư Đinh Liệt (Đại Việt sử ký toàn thư không nêu lý do):

Mùa thu, tháng 7 [năm 1443] bắt giam Thái phó Lê Liệt (Đinh Liệt).

Mãi đến tận 5 năm sau là Mậu Thìn, Thái Hoà năm thứ 6 (1448), mới thả:

Mùa hạ, tháng 6 tha cho Lê Liệt ra khỏi lao hầm. Vì cớ bọn người là Lê (Trịnh) Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan, tám người làm trạng tâu khẩn khoản xin nới phép rộng ơn.

Tới đây có thể nói rằng, vụ án “Lệ Chi viên” chính là do bà Nguyễn Thị Anh dàn dựng. Sau này vua Lê Thánh Tông, người minh oan cho Nguyễn Trãi cũng có thể đã biết, nhưng nhà vua vì thể diện của triều đình, của nội bộ hoàng tộc mà không muốn làm to chuyện ra, đành phải giữ kín.

Tháng 8 năm 1464, sau 22 năm, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước hiệu là Tán Trù bá, bãi bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến Nguyễn Trãi và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan.

Nỗi oan của Nguyễn Trãi coi như đã được giải, nhưng nỗi oan của nữ danh nhân Nguyễn Thị Lộ thì vẫn còn đó. Vì vậy, nhiều cuộc khảo cứu và tọa đàm khoa học đã được tổ chức nhằm minh oan cho bà.

Dựa vào những kết quả thu lượm được, một số nhà nghiên cứu, dưới sự chủ biên của nhà giáo Hoàng Ðạo Chúc, đã biên soạn thành cuốn “Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên” (xuất bản năm 2004). Sau hơn 560 năm, vụ án “Lệ Chi viên” mới chính thức khép lại với sự minh oan trọn vẹn nhất dành cho bà Nguyễn Thị Lộ.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3364
Old 04-17-2019 , 01:19 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Một chút ‘Sài Gòn’ trong thơ Nguyên Sa.
Share

Nguyên Sa là một nhà thơ của tình yêu. Điều đó hẳn nhiên. Hơn thế nữa ông là người mang những địa danh như Paris, Sài Gòn, thành thánh địa của thi ca.
Với ông, những thành phố ấy đã mang tất cả tính chất lãng mạn thơ mộng của một thời yêu đương trẻ trung, của tuổi tác không bao giờ già và tuổi thanh xuân mãi mãi.

Khi trả lời một câu phỏng vấn, nhà thơ đã nói về thành phố ấy, thành phố của một thời yêu đương, thành phố của tràn đầy kỷ niệm:

“…Thực sự đời sống lúc ấy thật đẹp. Thành phố Sài Gòn không có xe hơi nhiều, loại xe hơi như 2CV là đẹp là chiến rồi. Tôi đi dạy học bằng xe đạp, 6 tháng sau khi trở về nước tôi mua được chiếc xe gắn máy hiệu Capri.

Một hôm trời mưa to tôi đi ngang qua bưu điện ở đường Hai Bà Trưng, tôi trú mưa leo lên cửa sổ đứng. Cửa sổ cao lắm không có chắn, hồi trẻ tôi còn khỏe nên nhảy vọt lên được và đứng ngắm cảnh vật thật thú vị. Hoặc khi trời mưa xe gắn máy bị chết máy, tôi đẩy xe thật nhanh để nổ máy rồi vọt đi, những kỷ niệm nhỏ ấy làm tôi vẫn nhớ Sài Gòn.

Cuộc đời lúc ấy thật đẹp đối với một người từ Pháp về. Tôi nhìn mọi sự việc rất lạc quan vì cuộc sống không có gì gay go. Buổi sau giờ học, lúc ra chơi, tôi ra sân đá bóng với học trò và bị cụ hiệu trưởng trường Chu Văn An – Vũ Ngô Xán gọi lên cảnh cáo (lúc đó Nguyên Sa là giáo sư dạy học). Giờ chơi phải ngồi trong phòng giáo sư không được ra sân đá bóng “lung tung beng” như thế. Tôi ăn thịt bò khô ở ngoài sân trường, rất khoái nhưng cũng bị cảnh cáo.

Tôi sống một cuộc sống tự do như thế, học trò rất thích nhưng bị phê bình là đi quá khoảng cách cần thiết giữa học trò và thầy giáo, như khoảng cách cần thiết giữa sĩ quan và hạ sĩ quan. Nhà trường cũng quan niệm y hệt như quân đội, phải có sự phân biệt đâu ra đó mới dễ chỉ huy, nhưng tôi thì không quen như thế và thích sống hòa mình vô tư như vậy…”.

Viết về Sài Gòn, Nguyên Sa đã có những câu thơ mà người đọc đã cảm qua ngôn ngữ những xúc động tuyệt vời của một người thật nhiều mơ mộng:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng.

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa…

Bài thơ ấy đã được Ngô Thụy Miên chắp cánh âm nhạc để thành một tình khúc để đời. Từ nhạc, từ lời, là tha thiết kỷ niệm, là mở rộng ra những phương trời lãng mạn của những người thèm khát bước phiêu du. Cũng là nắng, cũng là mưa của một thành phố miền nhiệt đới, nhưng sao trong những hạt mưa ấy, những sợi nắng kia, biết bao nhiêu là hồi tưởng về kỷ niệm chẳng thể nào quên của một đời người.

Thành phố ấy, không gian ấy, phong cảnh ấy, có phải là “cần thiết” cho những cặp tình nhân. Có những câu hỏi, trong bâng khuâng. Có những giả sử, đặt để ra như một bồi hồi. Những người yêu nhau, thường có khi hỏi nhau những câu hơi lẩn thẩn, nhưng là cái lẩn thẩn đáng yêu:

Không có anh lấy ai đưa em đi học về.
Lấy ai viết thư cho anh mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa

Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan

Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…

Hỏi, để như một gợi ý. Hỏi, nhưng không chờ đợi sự trả lời. Hỏi, để thấy người tình cần thiết biết là bao nhiêu trong cuộc sống hôm nay. Làm sứ giả của tình yêu, Nguyên Sa đã mang vào thi ca hàng ngàn câu hỏi. Như, trong một bài thơ khác “Mùa xuân này buồn lắm em ơi”:

anh cần gì hoa thơm và chim cười trong lá biếc
cũng chẳng cần cỏ thêu xanh cánh đồng xa biền biệt
nhưng làm sao không có bóng hai người đè lên cỏ úa
để anh nghe em cười mà thấy cả mùa xuân

làm sao chỉ có một mình anh
vừa đạp xe vừa ngâm thơ (mà đường vẫn dài)
ngửa mặt lên cao trời xanh biêng biếc
làm sao em không ngó xuống linh hồn?

sao mùa xuân mà chẳng có mưa bay
chẳng có một người đi bên cạnh cầm tay
anh chẳng được hôn lên trán ái tình
và nói năng những lời vô nghĩa…

Có một bài thơ, chữ nghĩa như xôn xao những xúc cảm, Sài Gòn được nhắc đến với tất cả nét tuyệt vời thơ mộng. “Tám phố Sài Gòn“. Tại sao “tám phố” mà không là con số nào khác, như 10 hay 36 chẳng hạn? Hay là bởi bài thơ có tám đoạn như thủ đô Sài Gòn có tám phố?

Bài thơ ấy mà theo nhiều người là một bài thơ xuất sắc nhất của thành phố, của những cô gái điệu đàng, của những giờ thư viện nhìn nhau, của tối đi học về khuya dưới bóng trăng, của “mai gọi nhau bằng cưng nồng nàn, trẻ trung”.

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
cánh tay tà áo sát vòng eo
có nghe đôi mắt vòng quanh áo
năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm
Tờ hoa trang sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan

Sài Gòn tối đi học một mình
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung mầu đỏ nét thu cong
Cầu vồng bắt giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong

Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
Thứ bẩy Sài Gòn đi Bodard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ

Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bầy chim én
Thành phố đi về cũng đã xuân.

Nhà văn Tạ Tỵ, trong tác phẩm phê bình văn học “Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ” đã có những nhận định khá chính xác về thi ca của Nguyên Sa như sau:

“Trong thơ Nguyên Sa người đọc ít tìm thấy sự bi thảm quá đỗi. Nỗi đau của Nguyên Sa đã biến thành cái đẹp, do đó, chả cứ gì cái chết mà ngay cả cuộc chiê’n đã từ mấy chục năm với dung nhan của đổ vỡ, chia lìa, với từng ngón hoài nghi đang len lách, phá hoại, hủy diệt nếp suy tư, đạo hạnh ở mỗi con người, chẳng hề làm thi sĩ bận tâm. Nếu có một dòng thơ nào phải nhắc đến chiến tranh, Nguyên Sa cố cho nó lướt nhanh và mờ đi ở giữa những hình ảnh và ý nghĩ dạt dào nóng bỏng môi hôn, Nguyên Sa đã sống ngoài cuộc sống và đặt thi ca vào đúng vị trí của nó trong môi trường vĩnh cửu…

Ngôn ngữ tình yêu trong thơ Nguyên Sa chẳng riêng có những Kiều, những Thu, những Loan, những Đạm, đã cho thi ca trời xanh và những nụ cười “thơm mùi tội lỗi”, ngôn ngữ ấy cũng chẳng phải để làm vui cho một “giải trí trường” mà đích thực “để dâng người lấy nửa dòng nước ngọt” cũng như thi sĩ “đến đây không ai mời”.

Đi cũng đừng ai giữ. Nếu có tạc tượng bằng đá trắng đồng đen, cũng đừng bày ở sân trường Đại Học, đừng bày ở Công trường, xin nhớ để giùm ở một góc Công viên. Để những đêm khuya (rất khuya) thi sĩ có thể nhìn mặt trăng soi gương và ngắm những người yêu nhau tình tự…”

Nguồn: Nguyễn Mạnh Trinh
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 06:48 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.