VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > Nhà Bếp > Recipes (Nấu Ăn)

Reply
 
Thread Tools Display Modes
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-15-2019 , 03:59 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Nhớ xích-lô máy Sài Gòn xưa.

Ngày xưa mỗi lần tôi theo má đi về Bến Tre thăm ngoại và trở lên Sài Gòn, má luôn dùng xe xích-lô máy đi ra bến xe Miền Tây và bận trở về nhà cũng vậy. Tôi rất thích ngồi xe xích-lô máy, lúc nào cũng ngồi dưới sàn xe. Má và hai em nhỏ ngồi trên nệm xe. Má tôi đem lên Sài Gòn rất nhiều đồ ăn như: gạo, trái cây đủ loại và bánh đủ loại, vậy nên chỉ có xe xích-lô máy mới chở được.

Đối với tôi và các ông bạn già, xe xích-lô máy có rất nhiều kỷ niệm ngày xưa. Một người bạn trung niên của tôi kể:

“Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham taxi, không ham xe buýt... mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích-lô máy. Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô-tô, tiếng pô [muffler/ống khói] xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Một người bạn già khác lại nói:

“Tài tình nhất là cảnh xe xích-lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích-lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể, trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích-lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích-lô máy có chút mạo hiểm:

“Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích-lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.”

Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích-lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích-lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc khách tỉnh lên Sài Gòn, tấp vào tiệm nước làm ly cà-phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu... Tiếng xích-lô máy vang lên giữa cảnh phố khuya thanh vắng.

Sáng, hành khách đủ loại lên xe: một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính Việt Nam Cộng Hòa nào đó say mèm... Tất cả đều đang trên đường với xe xích-lô máy.

Tiếng xe xích-lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chung cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích-lô máy túc trực. Người ta cũng không quên rằng những bác tài xích-lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Xích-lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Xích-lô máy ngày xưa mang nhiều màu sơn sặc sỡ, có thể chở với trọng lượng vài trăm ký-lô là bình thường. Người chạy xe xích-lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích-lô đạp, bởi vì làm sở hữu [làm chủ] được một chiếc xe xích-lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá. Thành ra bác tài chạy xe xích-lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. Ngày xưa xe xích-lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu... có những hãng chuyên cho thuê xe xích-lô máy.

Thế rồi xuất hiện chủ trương cấm lưu thông xe cũ, xe ba-gác Trung cộng vào chiếm lĩnh thị trường, xe xích-lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích-lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá. Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự:

“Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích-lô máy còn zin là được. Cha ơi! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích-lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết!”

Tất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn [Hòn Ngọc Viễn Đông] hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước đang trên đà thay đổi hiện nay, thôi thì níu kéo làm sao được cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích-lô máy.

Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích-lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích-lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm?st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-15-2019 , 04:04 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Sài Gòn tuổi thơ, kỷ niệm đồng tiền xé đôi thối lại.
Trần Mộng Tú •

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968, thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blancy (Hai Bà Trưng), sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen.

Sơ đọc chính (chánh) tả: Hoa hường phết (phết là dấu phẩy). Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. Tôi viết: Qua tường phết. Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này:

Sài Gòn vòi nước bùng binh
Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên
Trụ đèn, giây thép, tượng hình
Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an
Mặc dầu đường rộng thênh thang
Ngựa xe đi lại luật hành phải thông
Mặc dầu đường rộng mênh mông
Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm
Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì.

Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba, sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ. Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp.

Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa. Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà. Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học của trường Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 xu bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư).

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambreta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai, với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.

Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh.

Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về.

Trần Mộng Tú.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-15-2019 , 04:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Văn Cao – Chông chênh giữa tiêu dao và trách nhiệm

Người ta oán trách Văn Cao vì đã từng làm sát thủ, từng viết những ca khúc đầy ngôn từ bạo lực; người ta cũng từng đấu tố Văn Cao vì tư tưởng lung lạc của ông dưới chế độ xưa; và cũng có rất nhiều người phải nghiêng mình thán phục tài năng âm nhạc của ông cho dù ông viết các ca khúc cổ động hay các ca khúc trữ tình.

Tôi cho rằng Văn Cao là một người bị giằng xé giữa nhiều lựa chọn, mối mâu thuẫn giữa con người cá nhân và con người trách nhiệm; và điều kỳ lạ của Văn Cao đó là ông hết mình trong sự mâu thuẫn ấy, hết mình tới nỗi cực đoan, tới nỗi ông không chắc chắn về con người thật của mình. Dường như ông cũng nhận thức được sự mâu thuẫn của mình, và khi âm nhạc không thể chuyển tải được mâu thuẫn đó, ông đã viết trong thơ:

Buổi sáng nay không phải mình thức dậy
Một người nào trong tôi đang thở
Trước mặt tôi
Buồn nửa đêm nửa ngày len lỏi
Nửa phố mặt trăng nửa phố mặt trời

Từ khi ấy chúng tôi, hai người suy nghĩ
Hai kẻ thù nhau
Hai thái cực tâm hồn
Hai người ấy trong một người chịu đựng
Mưu hại lẫn nhau

Không biết ngày đêm, không biết giả thật
Từ phút ấy, tôi không còn thật nữa.

(Trích “Năm buổi sáng không có trong sự thật” – Văn Cao)

Đoạn thơ này phần nào giúp tôi lý giải các nghịch lý của Văn Cao. Một phần của ông là những trách nhiệm với dân tộc, với bạn bè, đồng đội; một phần khác lại ước mơ một đời sống tự do, thoát tục, thoát khỏi mọi phận vị. Tôi cho rằng đó là tâm sự chung của phần lớn văn nghệ sĩ lãng mạn trưởng thành trong giai đoạn 30-45 ở Việt Nam. Ban đầu, khi Việt Nam còn chịu dưới ách đô hộ của thực dân Pháp thì khao khát tự do cá nhân được đồng nhất với tự do cho dân tộc, nhưng khi dân tộc đã dành được độc lập và chính quyền miền Bắc thực hiện chính sách văn hóa theo Đề cương văn hóa năm 1943 của Trường Chinh về đề cao tính đại chúng và giai cấp thì tự do cá nhân đã mâu thuẫn với thứ được gọi là “quyền lợi của nhân dân”. Có lẽ, Văn Cao và nhiều người bạn của ông không sớm nhận thức được điều này như Phạm Duy, họ chọn ở lại để thực hiện trách nhiệm của mình với chính quyền mới để rồi sa lầy giữa hai con người “mưu hại lẫn nhau”.

Văn Cao (1923 – 1995) là nhạc sĩ thủ lĩnh trong phong trào tân nhạc ở Hải Phòng. Ông vốn là con của giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Ông bắt đầu học âm nhạc tại trường dòng Saint Josef ở bậc trung học. Do gia đình sa sút, Văn Cao bỏ học ở năm thứ hai bậc thành trung, rồi đi làm điện thoại viên ở sở Bưu điện Hải Phòng nhưng được một tháng thì bỏ việc.

Con người tự do của Văn Cao

Văn Cao viết ca khúc đầu tiên là “Buồn tàn thu” khi mới 16 tuổi, lúc này ông đã tham gia nhóm Đồng Vọng của nhạc sĩ Hoàng Qúy. Thời điểm Văn Cao viết “Buồn tàn thu” trùng với những ngày tang lễ của nhà văn Vũ Trọng Phụng, do đó, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha sau này đã viết: “16 tuổi, một ngày mùa thu, khi cả Hà Nội tiễn đưa nhà văn yểu mệnh nhưng cực kỳ nổi tiếng Vũ Trọng Phụng về cõi vĩnh hằng, nhạc phẩm đầu tiên – “Buồn tàn thu” của Văn Cao – đã ra đời. Bài hát với hơi hám của ca trù, phong vị Đường thi ở lời ca, đã mang một tiếc nuối về những sự ra đi không trở lại: “Đêm mùa thu chết – Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng …”

Ngay sau “Buồn tàn thu” là “Thiên Thai”. Có thể nói “Thiên Thai” thể hiện rõ ràng nhất giấc mơ thoát tục của Văn Cao. Qua câu chuyện hai chàng Lưu – Nguyễn tới cõi tiên Thiên Thai cùng với nét nhạc bay bổng, ta có thể thấy ẩn sâu trong tâm trí của Văn Cao là giấc mơ một cuộc sống thong dong tự tại. Khi viết bài này, ông mới 18 tuổi và phỏng theo thơ Hoàng Thoại. Ca khúc “Thiên Thai” là ca khúc có nhiều biến tấu phức tạp với 100 ô nhạc và các biến cảnh tuần tự như trong trường ca. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy cho chúng ta biết thêm về ca khúc này: “Văn Cao đã thú nhận rằng mình bị ảnh hưởng sông nước của hai truyện Đào nguyên, Thiên Thai cho nên đã soạn ra một bài hát. Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu ! Nó vừa có tính chất trường ca, vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu hình thức ca khúc trong Tân Nhạc Việt Nam cho tới năm 1944 này vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định trong một số khuôn nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức nào đó… thì “Thiên Thai” của Văn Cao đã vươn lên một thức rất lớn, chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số chín mươi bốn khuôn nhạc, chan chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu…”

“Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về

Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên.”

Sau thành công của “Buồn tàn thu” và “Thiên Thai”, Văn Cao viết “Suối mơ” trong một lần đến thăm dòng suối bên đền Cấm tại thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn. Cảnh sắc tại đền Cấm giờ đây không còn có được vẻ đẹp nguyên sơ nhưng ta vẻ đẹp của “Suối Mơ” thì vẫn còn mãi. Phần lời của ca khúc này cũng thể hiện giấc mơ về một cảnh sống lánh đời:

“Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối .
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi .

Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.

Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.”

Tại Hải Phòng, Văn Cao làm quen với Phạm Duy, khi đó là ca sĩ trong gánh hát Đức Huy. Phạm Duy hát và gẩy guitar bài “Buồn tàn thu” khiến Văn Cao cảm thấy như gặp được tri kỷ. Hai ông nhanh chóng thân thiết và chính Văn Cao đã khuyến khích cũng như hướng dẫn Phạm Duy sáng tác. Văn Cao và Phạm Duy viết chung với nhau bài “Bến xuân”, có lẽ đây là bài hát đầu tiên có không khí mùa xuân mà Văn Cao viết (những ca khúc trước đó thường lấy cảm hứng từ mùa thu). “Bến xuân” được Văn Cao sáng tác để thể hiện tình yêu của mình với ca sĩ Hoàng Oanh khi nhớ lại ký ức Hoàng Oanh tới thăm nhà ông tại đò Rừng:

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân

Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ú ù u ú
Cành đào hoen nắng chan hoà!
Chim ca thương mến, Chim ngân xa u ú ù u ú
Hồn mùa ngây ngất trầm vương,

Dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân.”

Phạm Duy đặc biệt rất thích ca khúc “Trương Chi” của Văn Cao và cho rằng đây là ca khúc nói tên tiếng lòng của ông. Trương Chi được viết theo lối trường ca, mượn câu chuyện tình tuyệt vọng của chàng ca sĩ Trương Chi, Văn Cao đã thể hiện những vẻ đẹp của âm nhạc một cách tuyệt diệu. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy đã viết về “Trương Chi” như sau: “vào lúc tân nhạc mới chập chững biết đi mà Văn Cao đã viết được những câu nhạc diễn tả giọt mưa tài tình như vậy, thật là hiếm có.” Trong phần lời của ca khúc có những câu thơ tuyệt đẹp thể hiện con người tiêu diêu giữa cõi âm nhạc:

“Ngồi đây ta gõ ván thuyền
Ta ca Trái Đất còn riêng ta”

Cho đến nay, “Trương Chi” vẫn là ca khúc khó thể hiện nhất trong số các ca khúc của Văn Cao. Tôi xin được chọn phần trình bày của ca sĩ Thái Thanh. Mặc dù Thái Thanh chưa hoàn toàn thể hiện được tinh thần của “Trương Chi” nhưng cũng chỉ có bà có thể thể hiện được những độ khó trong khúc thức và luyến láy của ca khúc.

Nếu Văn Cao khuyến khích Phạm Duy sáng tác thì chính Phạm Duy đã khuyến khích Văn Cao ra Hà Nội. Văn Cao thuê một căn hộ nhỏ tại 171 phố Mongrant (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền). Ông đã theo học dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Lúc này, ông sáng tác nhiều thơ, truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy. Trong 2 năm 1943 và 1944, ông đã xuất hiện tại các cuộc triển lãm hội họa ở nhà Khai Trí Tiến Đức với các bức tranh sơn dầu “Cô gái dậy thì”, “Sám hối”, “Nửa đêm” và đặc biệt là bức “Cuộc khiêu vũ những người tự tử”. Tranh của ông được báo chí đánh giá cao nhưng lại không bán được nên những ngày sống ở Hà Nội là những ngày thiếu thốn của ông. Cũng trong thời gian này, Việt Minh đã tiếp cận ông và thuyết phục ông tham gia phong trào Cách mạng.

Con người với các trách nhiệm và phận vị

Ngay từ ngày đầu trong sự nghiệp âm nhạc của mình Văn Cao đã tham gia nhóm nhạc Đồng Vọng (1930), tập hợp các nhạc sĩ ở Hải Phòng mà đứng đầu là Hoàng Quý và Tô Vũ để tạo giọng nhạc hùng tráng, khích lệ tinh thần dân tộc phục vụ các hoạt động hướng đạo sinh. Trong quãng thời gian này, ông sáng tác các ca khúc cổ động như “Gió núi”, “Gò Đống Đa”, “Anh em khá cầm tay”. Nhưng chỉ đến khi chính thức tham gia Việt Minh, âm nhạc phục vụ Cách mạng của ông mới đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật.

Năm 1944, Vũ Quý (1914 – 1945), nhà hoạt động cách mạng, Quyền Bí thư Ban cán sự Đảng Hà Nội đã tới thuyết phục Văn Cao tham gia Cách mạng ngay tại nhà riêng của Văn Cao ở Nguyễn Thượng Hiền. Ngay hôm ấy, Văn Cao đã sáng tác ca khúc “Tiến quân ca” và được Vũ Quý gửi đăng trên báo “Độc lập” trong tháng 11 năm 1944. Về sau, chính Hồ Chí Minh đã ký duyệt “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Không chỉ sáng tác các ca khúc Cách mạng, ông còn tham gia nhiệt tình các hoạt động của Việt Minh, đặc biệt là những nhiệm vụ đòi hỏi sự mạo hiểm. Văn Cao thực hiện 2 vụ ám sát và cảm hóa những người chỉ điểm là vụ Võ Văn Cầm ở Hà Nội (cảm hóa) và vụ Đỗ Đức Phin tại Hải Phòng (ám sát). Đồng thời, ông cũng tổ chức dạy võ thuật cho các đồng đội của mình vì từ nhỏ ông đã được học võ và giỏi võ, đã từng tham gia biểu diễn võ thuật thời niên thiếu. Đến năm 1946, Văn Cao tham gia áp tải vũ khí và tiền mặt vào miền Nam. Lúc này, ông được phân làm Ủy viên Chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, phụ trách Tổ điều tra của Công an Liên khu 3 và viết các bài cho báo Độc Lập. Năm 1947, ông lại được cử vào đội điều tra đặc biệt lên biên giới phía Bắc để tìm cách thực hiện liên minh với Vua Mèo nhằm ngăn chặn sự tràn sang của Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Sau khi nhiệm vụ thành công, Văn Cao đã từ chối chức vụ được đề xuất cho ông trong ngành Công an với lý do “Công việc này không thích hợp với tôi”. Trong 3 năm từ 1947 đến 1949, ông sáng tác nhiều ca khúc Cách mạng quan trọng như “Làng tôi, “Tiến về Hà Nội”, “Ngày mùa” và đặc biệt là “Trường ca Sông Lô”.
Mặc dù hết mình cho các nhiệm vụ của Việt Minh nhưng cảm hứng lý tưởng Cách mạng này không tồn tại lâu với Văn Cao. Ông đã sớm nhận thức được các nhiệm vụ ấy khiến mình đau đớn như thế nào. Theo như lời nhạc sĩ Văn Thao, con trai nhạc sĩ Văn Cao kể lại thì ông đã rất hối hận với hành vi giết người của mình:

“Với Văn Cao việc phải trừ khử một người là điều ông không hề muốn. Nhưng vì nhiệm vụ cách mạng, vì sự sống của muôn người nên bắt buộc ông phải ra tay tiêu diệt những tên Việt gian ngoan cố. Ta có thể hiểu ông qua những câu thơ ông để lại: “Giữa sự sống và cái chết/ Tôi chọn sự sống/ Để bảo vệ sự sống/ Tôi chọn sự chết”.

Trong Văn Cao có hai con người. Con người của nghệ thuật và con người làm cách mạng. Nhiều người muốn tìm hiểu phần con người thứ hai của ông. Nhất là những sự kiện mọi người gọi là “thành tích phi thường” ông đã làm trong thời gian phụ trách Đội trừ gian. Ông thường né tránh và ít khi nhắc đến. Có lần ông tâm sự với tôi: “… Bố đã từng giết một con người… Ông ta nhìn vào họng súng, nhìn bố với đôi mắt ngơ ngác như muốn hỏi – Sao lại giết tôi. Cho đến giờ, bố vẫn bị ám ảnh vì đôi mắt ấy…”.”

Trong bài thơ “Mùa xuân trong đời tôi”, Văn Cao cũng thể hiện một tâm trạng chán ghét chiến tranh tột độ:

Cả mùa xuân đời tôi
Đã qua cuộc chiến tranh tàn khốc
Anh hùng và man rợ
Thần thánh và quỷ dữ

Tỉnh giấc ngủ buổi sáng đầy tiếng bom đạn nổ
Sâu những mơ mộng buổi chiều là từng tiếng xe xa
Những đêm đi trong những ngọn lửa đốt nhà dài từng cây số
Bước lên những xác người và lao mình vào những lỗ châu mai lô cốt

Tôi đã nhìn thấy chung quanh tất cả
Những con người và con vật
Dũng cảm và hèn nhát
Cao quý và ti tiện
Trung thực và bất lương

Trong cả mùa xuân đời tôi
Trong cả một cuộc chiến tranh giữ nước
Tôi đã mất sắc da tuổi trẻ
Nhưng một tôi đã rắn chắc lại rồi

Mùa xuân không kịp nở
Mãi trong tôi
Những tháng ngày khát khao hy vọng.

Năm 1956, Văn Cao viết một bài thơ có tên là “Anh có nghe thấy không”. Bài thơ thể hiện nhiều tâm sự thất vọng với các chính sách của chính quyền sau thời gian đấu tố, diệt văn hóa phong kiến và tư sản trong Cải cách Ruộng đất. Bài thơ thậm chí còn bị Xuân Diệu lên án là “lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì”:

Cửa đóng lại từ chín giờ
Không một cuốn sách chờ đợi
Dù những ngôi sao đang nở trên trời
Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại

Tất cả hướng về biển
Bọt cứ tan trên bãi cát xa
Mà cửa bể vẫn im lìm chưa mở

Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao giờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả

Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngày ngang nhiên sống

Chúng nó còn ở lại
Trong những áo dài đen nham hiểm
Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người

Chúng nó còn ở lại
Trong những tủ sách gia đình
Ở điếu thuốc trên môi những em bé mười lăm

Từng bước chân các cô gái
Từng con đường từng bãi cỏ từng bóng tối
Mắt quầng thâm còn nhỡ mãi đêm

Chúng nó còn ở lại
Trong những tuổi bốn mươi
Đang đi vào cuộc sống
Như nấm mọc trên những thân gỗ mục

Người bán giấy cũ
Đã hết những trang tiểu thuyết ế
Những trang báo ngày xưa
Đang bán đến những trang sách mới
Những bài thơ mới nhất của anh

Anh muốn giơ tay lên mặt trời
Để vui da mình hồng hồng sắc máu
Mấy năm một điệu sáo
Như giọng máy nước thâu đêm chảy

Chung quanh còn những người khôn ngoan
Không có mồm
Mắt không bao giờ nhìn thẳng

Những con mèo ngủ yên trên ghế
Trong một cuộc dọn nhà

Những con sên chưa dám ló đầu ra
Những cây leo càng ngày càng, tốt lá

Một nửa thế giới
Một nửa tâm hồn
Một nửa thế kỷ
Chưa khai thác xong

Bây giờ không còn những tiểng nổ to
Nhưng còn những tiếng rạn vỡ
Có thể thu hết những khẩu súng phản động
Nhưng vẫn còn
Những khẩu súng đưa người tự tử.

Anh có nghe thấy không
Chỗ nào cũng có tiếng
Chưa nói lên

Những người của chúng ta
Đang mờ mờ xuất hiện
Le lói hy vọng
Trên những cánh đồng lầy

Nghìn năm cũ phủ mất nhiều giá trị
Đốt nghìn kinh chưa thắp sáng cuộc đời

Vào một cuộc đấu tranh mới
Với những người không phải của chúng ta
Anh có nghe thấy không

Vào một cuộc đấu tranh mới
Để mở tung các cánh cửa sổ
Mở tung các cửa bể
Và tung ra hàng loạt hàng loạt
Những con người thật của chúng ta.

Khi hai tờ Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, Văn Cao cũng giống như nhiều nghệ sĩ khác bị bắt đi học tập cải tạo chính trị vào năm 1958. Từ đó cái tên của Văn Cao không còn được nhắc đến trên báo chí nữa. Mặc dù ông vẫn kiếm sống bằng việc viết nhạc cho các vở kịch, các chương trình kỷ niệm, vẽ sân khấu, vẽ trang trí hộp diêm… nhưng các ca khúc của ông bị cấm biểu diễn chính thống tại miền Bắc dưới chế độ của nhà nước miền Bắc. Tuy nhiên, các ca khúc của ông lại được biểu diễn rất phổ biến ở miền Nam bởi Thái Thanh, Ngọc Hạ, Hoàng Oanh… dù chưa có sự cho phép của tác giả. Thậm chí, ca khúc “Không quân Việt Nam” còn được lấy làm nhạc hiệu của lực lượng không quân Việt Nam Cộng Hòa.

Sau năm 1975, Văn Cao đã sáng tác ca khúc “Mùa xuân đầu tiên”, nhưng ca khúc bị cho là đi ngược lại đường lối và chính sách của Đảng, do đó không được biểu diễn và phát hành. Nhưng nhờ ca khúc được dịch phần lời sang tiếng Nga và được phổ biến ở Nga mà ca khúc không bị quên lãng.

Phải đến năm 1980, nhờ chính sách Đổi mới của Nguyễn Văn Linh, các ca khúc của Văn Cao bắt đầu được biểu diễn trở lại.

Năm 1981, một cuộc thi sáng tác Quốc ca được tổ chức nhằm gạt “Tiến quân ca” của Văn Cao ra khỏi vị trí quan trọng trong lễ nghi của nhà nước, tuy nhiên sau cùng, kết quả không được công bố và “Tiến Quân Ca” vẫn tiếp tục là Quốc ca cho đến ngày nay.

Năm 1988, khi Hội nhà văn Việt Nam phục hồi tư cách cho nhiều văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, ông mới chính thức được xuất hiện trở lại. Ông xuất bản tập thơ “Lá” và các ấn phẩm âm nhạc cũng dần dần được in ấn trở lại.

Mặc dù là nhạc sĩ vĩ đại nhất trong số các nhạc sĩ gắn bó với chính quyền nhưng Văn Cao chưa từng có một buổi biểu diễn toàn bộ các nhạc phẩm của riêng mình. Ước mơ của ông rất nhỏ nhoi, đó là được có được buổi biểu diễn ấy. Nhạc sĩ Đinh Tiến Dũng đã mở đầu bộ phim tư liệu về Văn Cao làm năm 1992 bằng chính ước mơ nhỏ nhoi ấy của ông.

Đến năm 1995, Văn Cao mất do căn bệnh ung thư phổi. Ông đã sống một cuộc đời với nhiều thăng trầm, chông chênh giữa những thái cực để rồi nhận ra điều bất biến đích thực chính là tình yêu, thứ tình yêu vừa khoảnh khắc lại vừa vĩnh cửu. Trong một bài thơ viết năm 1994, trong cơn bệnh nặng, trước khi qua đời, ông đã viết:

Không có hai mùa xuân
trong một đời người
Ôm những cây đời thay lá
Một mùa xuân trong những chuỗi ngọc

Sâu những tháng năm
những giấc mơ khát vọng
những niềm tin
Không bao giờ thay đổi

Sự vĩnh cửu của con người
chỉ khao khát tình yêu
Giữa anh và em
Không gian nhỏ lại
Thời gian khép lại

Một mùa xuân
Không có hai lần.

Theo Hà Thủy Nguyên.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 02:57 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Người ta không chết vì khổ, vì đói, mà chết vì tức.

Ngày xửa ngày xưa, ở một cái ao nọ, có một chú ếch xanh sống với hai chú chim nhạn. Hàng ngày chúng cùng nhau bơi lội, chơi đùa rất vui vẻ, cuộc sống thật là an vui tự tại.

Một năm nọ, đã rất lâu mà trời vẫn không có mưa, nước trong ao dần dần cũng cạn sạch hết cả. Không còn cách nào khác, chim nhạn đành phải dọn nhà, tới một nơi khác có nhiều nước hơn.

Ếch xanh buồn bã nói: “Hàng xóm của tôi ơi! Tớ thật không nỡ rời xa các cậu! Các cậu đi rồi, tớ phải làm thế nào đây?”

Chim nhạn cũng buồn rầu, nói: “Chao ôi! Bọn tớ cũng không nỡ rời xa cậu. Giá như chúng ta có thể cùng dọn nhà tới một nơi khác, vẫn được cùng nhau bơi lội, cùng nhau chơi đùa thì thật tốt biết bao. Nhưng mà chúng tớ có cánh có thể bay được. Còn cậu thì chỉ biết nhảy, làm sao theo chúng tớ được đây!”

Ếch xanh buồn bã, vò đầu bứt tai, chợt nó nảy lên sáng kiến: “Hay là thế này. Tớ sẽ đi kiếm một khúc cây, hai cậu mỗi người ngậm một đầu, còn tớ ngậm khúc giữa. Các cậu bay song song với nhau, vậy không phải là đã có thể mang tớ theo cùng hay sao?”

“Thật đúng là cách hay! Thật đúng là cách hay!”, chim nhạn mừng rỡ vỗ tay, “cạc cạc” kêu váng cả lên.

Ếch xanh nhanh nhảu chạy đi, một lát sau đã quay lại với một khúc gỗ ở miệng. Thấy vậy, hai chú chim nhạn liền bay liệng xuống. Bằng một động tác không thể đẹp mắt hơn, chúng cắp lấy hai đầu khúc cây và bay vút lên. Thế là mang được theo ếch xanh cùng đi.

Hai chú chim nhạn cứ bay, cứ bay, khi bay qua một ngôi làng, mọi người trong thôn liền chạy ra xem, miệng không ngớt lời khen: “Hay chưa này. Hai con chim kia đúng là thông minh. Cách hay như vậy mà cũng nghĩ ra được.”

Ếch xanh nghe xong, trong lòng rất lấy làm không vui, nó nghĩ: “Cách này là tôi nghĩ ra mà, sao lại có thể nói chim nhạn thông minh được chứ?”

Chim nhạn cứ bay, cứ bay, bay mãi, lại đi qua một ngôi làng, những người trong thôn đang cấy lúa, trông thấy cảnh tượng kỳ lạ đều dừng lại, ngẩng đầu lên bàn tán: “Cả đời tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh này. Chim nhạn mang theo ếch xanh cùng bay. Đúng là thông minh quá mà“.

Ếch xanh nghe xong, càng thấy thêm bực mình, thầm nghĩ: “Cách này rõ ràng là mình nghĩ ra, họ thật chẳng biết gì cả”.

Hai chú chim nhạn cứ bay, lại bay qua một ngôi làng nữa. Ếch bị treo lơ lửng giữa trời, mắt chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe thấy từ dưới có tiếng vọng lên: “Mọi người hãy mau ra đây mà xem này. Hai chú chim nhạn kia dùng cành cây khô để cắp ếch đi cùng. Hay chưa kìa! Thật là thông minh quá đi!”

Lần này ếch xanh không nhịn được nữa, nó tức điên lên, cố gào: “Là do tôi nghĩ ra đấy. Không phải chim nhạn nghĩ ra đâu”. Vừa nói dứt lời, nó rơi thẳng xuống đất, chết tươi tại chỗ. Thật đúng là, họa từ miệng mà ra, người ta không chết vì khổ vì đói mà chết vì tức!st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 03:00 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Cổ nhân dạy: Dưỡng tâm không gì tốt bằng ít ham muốn.

Có một người trẻ tuổi đến bên bờ hồ, thấy dưới nước có thỏi vàng lấp lánh. Anh ta rất vui mừng liền nhảy xuống nước để mò vàng. Nhưng mặc dù ra sức lặn xuống mò không biết bao nhiêu lần, anh ta vẫn không mò được.

Cuối cùng sức cùng lực kiệt, khắp người ướt sũng, bùn đất bẩn thỉu, anh ta bèn lên bờ ngồi nghỉ. Không ngờ, mặt nước một lúc sau lại phẳng lặng, thoi vàng lại hiện ra nơi đáy nước.

Anh ta nghĩ, thỏi vàng dưới nước rốt cuộc là ở đâu? Rõ ràng mình nhìn thấy, tại sao mò không được? Thế rồi anh ta lại nhảy xuống nước mò vàng. Vẫn vô ích như trước, chẳng mò được, nhưng anh ta không chịu từ bỏ.

Lúc đó cha anh ta đến, thấy con trai toàn thân ướt đẫm, bẩn thỉu đầy bùn đất, bèn hỏi: “Xảy ra chuyện gì vậy?”

Người con trả lời: “Rõ ràng con thấy thỏi vàng dưới nước, nhưng không biết bao nhiêu lần rồi con lặn xuống mò mà vẫn không mò được”.

Người cha nhìn mặt nước phẳng lặng, rồi ngẩng đầu nhìn lên cây, nói: “Con xem, thỏi vàng không ở dưới nước mà nó ở trên cây”.

***

Con người ai ai cũng truy cầu hạnh phúc, nên ai ai cũng bôn ba, lăn lộn tranh giành thắng thua, được mất, chìm nổi phiêu dạt trong danh – lợi – tình – thù. Ai ai cũng thấy hạnh phúc hiển hiện ngay trước mặt, dốc sức tiến tới, lao vào, giành giật. Nhưng chính lúc tưởng đã tóm được hạnh phúc trong tay thì hạnh phúc lại tan biến đi như ảo ảnh.

Cuộc đời luôn tồn tại những điều trái ngược, đối lập, có được thì ắt sẽ có mất, có thắng thì ắt sẽ có thua, có khỏe thì ắt sẽ có yếu, có trẻ thì ắt sẽ có già, có đẹp thì ắt sẽ có xấu, có vinh thì ắt sẽ có nhục, có phúc thì ắt sẽ có họa. Đó chính là cái lý tương sinh tương khắc. Lão Tử viết trong “Đạo đức kinh” rằng: “Họa hề phúc chi sở ỷ; phúc hề, họa chi sở phục”, nghĩa là “Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là nơi ẩn náu của mối họa đang rình rập”.

Do đó, nếu đi tìm hạnh phúc từ những vinh hoa phú quý, danh vọng quyền thế, hay tiền tài, sắc đẹp… thì quả thật nguy hiểm. Đắc được đã khó, giữ được càng khó hơn, và theo lẽ tương sinh tương khắc, thì cuối cùng những thứ mà chúng ta vất vả tranh đấu, bôn ba ngược xuôi, lao tâm khổ tứ có được cũng sẽ mất. Khi sức cùng lực kiệt, tuổi già khô héo, mới thấy mọi thứ trống rỗng, giống như anh chàng nhảy xuống nước mò vàng vậy, như “Dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”.

Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ lại, quay lại, thì hạnh phúc trong tầm tay. Phật gia giảng, “Hồi đầu thị ngạn” (quay lại là bờ), giống như anh chàng mò vàng kia, nếu ngẩng đầu lên thì thấy thoi vàng thực ở trên cây soi bóng xuống đáy nước. Hạnh phúc đích thực là ở trong tâm chúng ta, nó phản ánh ra thế giới bên ngoài qua những hình ảnh lấp lánh của công danh lợi lộc. Chúng ta cứ mải miết chạy theo cái bóng hư ảo đó, khác nào anh chàng kia cứ nhảy xuống nước mò vàng.

Lão Tử nói: “Họa mạc đại ư bất tri túc. Cữu mạc đại ư dục đắc. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ”, nghĩa là: “Không họa nào lớn bằng không biết đủ. Không hại nào lớn bằng muốn được của. Cho nên biết cho mình là có đủ, thời luôn luôn đủ”. Người biết đủ, là người có nội tâm yên tĩnh, lúc nào cũng thấy hài lòng với bản thân, không ngoại vật nào như danh vọng, tiền tài, nữ sắc, tình thế nhân có thể động đến họ được, do đó luôn luôn an nhiên, tự tại, tường hòa. Đó là hạnh phúc chân thực, đích thực.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng dạy:

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Nghĩa là:

Của báu trong nhà thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

Hạnh phúc có sẵn trong tâm mỗi người, đâu cần lăn lộn ngược xuôi. Tìm về cái tâm mình, bỏ đi các ham muốn, dục vọng, danh lợi, khẩu khí, được mất, thắng thua, thì chúng ta tìm lại được kho báu của chính mình. Phật tính xuất hiện, như ánh vàng kim chói lọi, lúc đó, chúng ta có được hạnh phúc đích thực.

Bước đi đầu tiên trở về với cái tâm của mình, trở về với bản tính thiện lương, là giảm dần các ham muốn, dục vọng. Nho gia cũng dạy “Dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục” (Dưỡng tâm không gì tốt bằng ít ham muốn).

Vạn sự khởi đầu nan, bước đi đầu tiên, giảm ham muốn dục vọng, là bước đi khó khăn nhất. Nhưng hành trình vạn dặm cũng bắt đầu bằng bước đi đầu tiên này. Nào, chúng ta hãy cùng bước, bước đi bước đầu tiên trên hành trình vạn dặm tìm về với cái tâm chân thật của mình, về với hạnh phúc đích thực.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 03:04 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Hoa trôi hữu ý, nước chảy vô tình, đời người gặp gỡ chia xa đều bởi chữ duyên.

Hoa rơi hữu ý theo nước chảy, nước chảy vô tình cuốn hoa trôi, duyên đến duyên đi hãy bình thản mà đón nhận…

Tích xưa kể rằng, thời nhà Đường, dưới triều vua Hy Tông, có chàng thư sinh tên là Vu Hựu. Chàng Vu vốn người nho nhã, tài tử phong lưu, văn thơ lai láng, chỉ hiềm nỗi tài vận chưa thông nên đành phải tá túc nhờ ở phủ của một vị quan đại thần họ Hàn.

Một ngày, Vu Hựu đang thơ thẩn bên dòng Bích Câu, chợt thấy một chiếc lá đỏ dập dềnh trôi theo dòng nước. Hoa trôi hữu ý, nước chảy vô tình, chiếc lá đỏ như vương vấn một mối tình chi đây. Chàng thư sinh bèn vớt chiếc lá lên xem, thấy trên lá đề bài thơ rằng:

“Lưu thủy hà thái cấp,
Thâm cung tận nhật nhàn.
Ân cần tạ hồng diệp,
Hảo khứ đáo nhân gian.”

(Nước chảy sao mà vội,
Thâm cung suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm,
Trôi đến tận nhân gian).

Thì ra đó là tâm sự của một giai nhân chốn thâm cung. Hoàng cung là chốn hào nhoáng xa hoa, nhưng không thể làm vơi đi nỗi muộn sầu của người đẹp phải sống cảnh phòng không lạnh lẽo, buồn duyên tủi phận, gối chiếc đơn côi. Như con chim bị giam hãm, dẫu chiếc lồng sơn son thếp vàng cũng không thể khuây khoả được tiếng lòng chan chứa. Nàng đã mượn lá thắm để gửi lòng mình trôi ra ngoài cung cấm.

Tiếng thơ không ai oán, chỉ dịu nhẹ như hơi thở của người thiếu nữ nhưng cũng đủ khiến chàng thư sinh thấy đồng cảm. Vu Hựu bèn nhặt một chiếc lá và đề thơ hoạ lại, sau đó lại lên chỗ thượng nguồn mà thả xuống:

“Sầu kiến oanh đề liễu nhứ phi
Thượng dương cung nữ đoạn trường thì
Quân ân bất cấm đông lưu thủy
Diệp thượng đề thi ký dữ thùy?”

(Ngắm liễu nghe oanh thoáng cảm hoài
Cung cấm người đang buổi ngậm ngùi
Nước trôi không xiết ngăn tình ấy
Trên lá thơ đề gửi đến ai)

Kỳ lạ thay cho chiếc lá đề thơ, lại kỳ lạ thay cho tiếng lòng của đôi nam nữ ở hai đầu dòng nước, cuối cùng chiếc lá của Vu Hựu lại trở về với người cung nữ từng thả lá trôi dòng. Cung nữ ấy có tên là Hàn Thuý Tần, khi nhận được chiếc lá hồi âm nàng đã thấy trong lòng xao xuyến. Dẫu chẳng biết mặt biết tên của người tri kỷ ngoài kia, nàng vẫn cẩn thận giữ chiếc lá bên mình.

Rất nhiều năm về sau, hoàng đế cho phép một số cung nữ được hồi hương, Hàn Thuý Tần bèn trở về nương nhờ dinh quan của quan đại thần họ Hàn, vốn là một người thân thích của nàng. Quả đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, tại đây nàng hội ngộ cùng Vu Hựu, hai người ý hợp tâm đầu đã nên duyên chồng vợ.

Vào đêm tân hôn, Vu Hựu vô tình thấy chiếc lá đề thơ của mình cất trong rương son phấn của vợ, mới hay mối lương duyên này là do Thiên định. Trong cổ thi có bài thơ mà người đời sau vẫn cho là của Hàn Thuý Tần, làm lúc cảm xúc đang trào dâng tha thiết:

“Nhất liên giai cú tùy lưu thủy
Thập tải ưu tư mãn tố hoài
Kim nhật khước thành loan phượng lữ
Phương tri hồng diệp thị lương mai”

(Đôi câu thơ nhã theo làn nước
Tâm sự mười năm chất chứa đầy
Ngày nay đã kết nên loan phượng
Mới hay lá thắm thuận duyên may)

Người ta vẫn nói, không có duyên thì không thể gặp mặt, không có phận thì không thể kết đôi. Như chiếc lá kia, dẫu chảy trôi vô định theo dòng nước, chẳng biết rồi sẽ dạt về phương nào, ba chìm, bảy nổi, hoa nát, lá tàn, vậy mà cuối cùng vẫn “cập bến” ở nơi người hữu duyên.

Còn người thiếu nữ kia, nàng vào cung là để mong có được một địa vị cao sang. Nhưng dẫu cách Hoàng đế chỉ một bức tường, mà cả đời cũng không thể gặp mặt, cuối cùng vẫn chỉ là đơn côi gối chiếc, lạnh ngắt buồng không, âu cũng là “vô duyên, vô phận” vậy.

Mới hay Thiên định kỳ duyên, con người ta nếu cứ cố chấp làm điều gì đó thì có khi chỉ chuốc lấy những nỗi sầu buồn tủi. Bởi có những thứ chẳng mong cầu thì lại đến, có những thứ cứ theo đuổi mãi mà vẫn xa tầm tay.

Chỉ có thuận theo Thiên ý, tuỳ kỳ tự nhiên, duyên đến cứ vui vẻ mà đón nhận, duyên đi đừng níu kéo mà càng thêm nuối tiếc, thì mới có thể hạnh phúc và sống trọn vẹn đến cuối cùng.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 03:17 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Vị “lưỡng quốc trạng nguyên” tể tướng duy nhất của Đại Việt
Trần Hưng •

Câu chuyện về vị tể tướng nước Việt và cũng là lưỡng quốc trạng nguyên này có liên quan đến dòng họ nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc là họ Nguyễn Đăng, một trong “tứ gia vọng tộc” của nước Việt.

Dòng dõi khoa bảng nổi tiếng nước nhà
Theo ghi chép từ gia phả của dòng họ Nguyễn Đăng thì: “Dòng họ Nguyễn Đăng trước sau có lịch sử 600 năm, bốn vị tổ ban đầu đều dạy học, đời thứ năm trở đi bước vào thời kỳ khoa bảng, kể từ năm 1443 đến năm 1918 trong khoảng 475 năm có 91 người đỗ đạt, trong đó 6 tiến sĩ, thám hoa và trạng nguyên, 7 giám sinh, 25 hiệu sinh, 2 tú tài, 5 thiếu khanh, tổng giáo và huyện thừa.”

Nguyễn Đăng là một dòng họ nổi tiếng khoa bảng và hiển đạt ở vùng Kinh Bắc, nhiều đời đều có người đỗ đạt làm quan to trong triều.

Nhiều người trong họ Nguyễn Đăng học giỏi, dù không đỗ đại khoa nhưng vẫn được giữ chức quan cao trong triều. Có thể lấy một vài ví dụ như: Nguyễn Đăng Cảo đỗ thám hoa năm 1683 làm quan ở Hàn lâm viện đến chức đô ngự sử, lại có tài ứng đối bang giao làm cho sứ nhà Thanh phải nhiều phen kinh ngạc và thán phục; em trai Nguyễn Đăng Cảo là Nguyễn Đăng Minh năm 16 tuổi trúng sinh đồ, 22 tuổi đỗ tiến sĩ , làm quan đến chức tế tửu ở trường Quốc Tử Giám. Nhưng nổi tiếng nhất họ Nguyễn Đăng có lẽ là tể tướng Nguyễn Đăng Đạo.

Đứa trẻ lạ
Vợ ông Nguyễn Đăng Minh sinh ra Nguyễn Đăng Đạo vào năm 1651 ở làng Hoài Bão (tên nôm là làng Bịu), huyện Tiên Du, vùng đất trù phú của Kinh Bắc xưa kia. Nơi đây đồi núi nhấp nhô xen lẫn với những cánh đồng lúa bát ngát đẹp như tranh vẽ cùng những câu chuyện dân gian được truyền tụng hết đời này đến đời khác.

Tương truyền khi phu nhân ông Đăng Minh là bà Ngọc Nhĩ có thai, một đêm vào mùa hạ trăng sáng, bà ra giếng lấy nước, chợt có một ngôi sao sáng lấp lánh rơi vào thùng nước, bà bèn mang thùng nước về dùng, sau đó sinh ra Đăng Đạo.

Năm Đăng Đạo 3, 4 tuổi thì được người bác là thám hoa Nguyễn Đăng Cảo đưa đi theo cùng khi đón tiếp sứ Trung Hoa. Sứ nhà Thanh vốn là người giỏi xem tướng, nhìn Đăng Đạo đã nói rằng: “Thiên sơn vạn thủy, lam chướng bất xâm, chơn kỳ đồng dã”, nghĩa là: Dặm ngàn non nước mà lam chướng không xâm phạm nổi, thì quả là đứa trẻ lạ.

Khi Đăng Đạo lên 6 tuổi thì được gia đình cho đi học. Ngay những ngày đầu cậu bé Đăng Đạo đã cho thấy sự thông minh và tư chất hơn người. Đường đi học phải qua cầu Trợ, tục gọi là cầu Giếng. Những hôm trời rét đậm Đăng Đạo phải vào cầu trú chân cho đỡ rét. Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện quan huyện Tiên Du đi qua cầu đúng lúc Đăng Đạo đang nằm trong cầu cho đỡ rét mà không dậy chào. Quan quát hỏi thì được biết đây là học trò trong huyện, liền bắt phải làm một bài thơ mô tả cảnh trời rét.

Đăng Đạo liền ứng khẩu rằng:

Vi vu gió thổi, bụi lầm đường,
Rét phải nằm co, há phải cuồng!
Cá chửa giương vây miền Bắc Hải,
Rồng còn cuộn khúc bãi Nam Dương.
Cất đầu ngón đợi kiền khôn đế,
Uốn gối mong chầu cảnh thổ vương,
Bĩ hễ cực rồi, rồi đến thái,
Sang xuân đầm ấm lại nghênh ngang

Quan nghe thấy có khẩu khí, liền tha cho Đăng Đạo.

Mệnh viết trạng nguyên, lại có duyên với nhà Phật.

Trên đường đi học, Đăng Đạo cũng hay qua chùa Phật Tích nằm trên núi Lạn Kha do vua Anh Tông nhà Lý dựng lên. Thời đấy chùa do thiền sư Chuyết Công làm trụ trì. Ông được biết đến là người từng đi thuyền vượt biển chở hơn ba vạn quyển kinh Tam Tạng sang nước Nam.

Thiền sư Chuyết Công rất yêu quý Đăng Đạo. Mỗi lần cậu bé qua chùa, thiền sư nhìn thấy đều mời vào chùa chơi, rồi lấy hộp trầu cau ra mời. Một hôm Đăng Đạo đùa tinh nghịch bèn viết một chữ “Hiến” (献) vào đáy hộp rồi đi học.

Lúc Đăng Đạo trở về qua chùa, thiền sư mời vào và nói rằng chữ “Hiến” (献 – nghĩa là dâng, tặng) là do chữ “Nam” (南 – nghĩa là phương Nam) và chữ “Khuyển” (犬 – nghĩa bóng là kẻ dưới trung thành) hợp thành. Vậy nên chữ “Hiến” có hàm nghĩa là Đăng Đạo sẽ là một bề tôi của triều đình nước Nam. Thiền sư tiếp lời: “Ta vốn biết nhà thầy sẽ là Trạng nguyên của nước Nam, nhưng thầy có muốn nổi tiếng cả ở triều đình Trung Quốc hay không?”

Đăng Đạo nghe thì giật mình sụp lạy. Bấy giờ thiền sư đưa một quyển sách rồi nói: “Đó là một quyển sách quý, nhà thầy nên đọc kỹ sẽ thành tài.”

Từ đó Đăng Đạo vốn đã có trí tuệ hơn người, lại có thêm trí huệ của nhà Phật, nên ông hiểu được ý nghĩa của đời người. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đăng Đạo và thiền sư Chuyết Công vẫn được người làng Hoài Bão lưu truyền đến nay.

Mối duyên tiền định.

Được sự dạy dỗ của cha là tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh và bác ruột là thám hoa Nguyễn Đăng Cảo nên Đăng Đạo có được kiến thức rất sâu rộng. Năm 16 tuổi, cậu đi thi và đỗ tam trường (tú tài).

Trong thời gian này, dân gian còn lưu truyền câu chuyện về mối duyên của Đăng Đạo và con gái của tướng quân Ngô Hiến Hầu.

Số là Đăng Đạo cùng bạn bè lên kinh thành chơi tết Nguyên tiêu, đi qua chùa Báo Thiên liền bắt gặp một chếc kiệu song loan dừng lại trước cổng chùa với các nữ tỳ và lính lệ theo hầu. Đột nhiên Đăng Đạo bồi hồi không thể nhấc chân lên được.

Thấy có chàng trai lạ đứng trước kiệu chặn mất đường, đám lính lệ quát tháo, giơ roi dọa đánh nhưng Đăng Đạo chẳng hề màng tới. Thiếu nữ ngồi trong kiệu bỗng cất tiếng nhắc khéo bọn lính lệ: “Hội vui cảnh đẹp, mọi người cùng du chơi thưởng ngoạn, các ngươi chớ nạt nộ người ta như thế”. Nói rồi người ngồi trong kiệu lại bảo lính lệ nép vào lề đường mà đi.

Đăng Đạo suy nghĩ người con gái này quả là nhân hậu, liền quyết định đi theo xem nhà nàng ở đâu. Khi kiệu song loan dừng lại trước một dinh thự lớn, Đăng Đạo dò hỏi quán nước gần đấy thì được biết đây là nhà của tướng quân Ngô Hiến Hầu, là người có công lớn nên được cử coi cấm binh, chỉ huy việc quân của cả kinh thành.

Về xóm trọ, Đăng Đạo cứ nghĩ về người thiếu nữ nọ, cảm thấy dường như là đã quen biết từ kiếp nào, không biết có duyên phận được gặp lại hay không, cứ như là có mối duyên tiền định, nên quyết tâm muốn gặp nàng một lần nữa. Biết thân phận của mình chưa thể đường đường chính chính gặp con gái tướng quân, nên Đăng Đạo dò hỏi, làm quen với những người hầu, rồi tỉ mỉ tìm cách đột nhập vào dinh phủ của tướng quân.

Cuối cùng, một đêm nọ, Đăng Đạo quyết định trèo vào phủ tướng quân, vượt qua các lớp canh phòng đến được nơi ở của người thiếu nữ nọ. Tuy nhiên khi đến được rồi thì Đăng Đạo cũng không hành xử như kẻ gian, mà lớn tiếng nói chuyện, bày tỏ tấm lòng chính trực với cô gái, kinh động tới toàn bộ dinh phủ.

Ngô Hiến Hầu hay tin thì nổi giận đến xem kẻ nào to gan dám đêm hôm đột nhập vào nơi ở của con gái mình. Nhưng khi vị tướng quân nhìn thấy chàng trai hiền lành, nói năng nho nhã, rõ ràng chững chạc thì không đánh đập mà giải lên quan tham tụng là Phạm Công Trứ luận tội.

Lúc này có một vị quan họ Phạm làm việc ở Nội viên vốn có quen biết và nghe tiếng nhà họ Nguyễn Đăng, tình cờ biết chuyện liền nói đỡ rằng:

Kẻ làm việc phi thường ắt có tài khác thường. Tên này chắc có tài cán, hoài bão gì đây. Chi bằng xem nó có tài gì không. Nếu có thì nhân đó tác thành cho nó. Còn là loại côn đồ thì đánh chết chưa muộn.

Ngô Hiến Hầu thấy thế cũng hợp lý, nên ra đề yêu cầu Đăng Đạo làm bài văn để xem tài. Đăng Đạo viết liền một mạch rồi trình lên, các quan xem xong bài phú thì đều phải trầm trồ khen hay, quả nhiên kẻ dám đột nhập mà lại còn dám lớn tiếng trong dinh phủ người chỉ huy quân cấm vệ kinh thành thì tất không thể tầm thường.

Lúc này vị quan họ Phạm mới nói thêm vào: “Ngàn vàng cũng chẳng tìm được đứa rể quý như thế đâu!”. Ngô Hiến Hầu bị bài phú tuyệt tác của Nguyễn Đăng Đạo làm cảm phục, khiến ông ta liên tục trầm trồ khen hay, hỏi quê quán xuất thân của Đăng Đạo rồi tha cho về.

Câu chuyện về vụ án trên đây được ghi chép cẩn thận trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục” của tri phủ quốc oai Vũ Trinh. Vụ án ly kỳ này không chỉ được ghi chép lại trong quá trình xét xử mà còn được dân gian truyền lại cho đến nay.

Năm 19 tuổi, Đăng Đạo đỗ đầu kỳ thi Hương (giải nguyên), được triều đình cho vào học ở trường Quốc Tử Giám. Dù Đăng Đạo là người đoạt giải nguyên, nhưng người vui mừng nhất lại là cha con tướng quân Ngô Hiến Hầu, ông đón Đăng Đạo về làm rể, tác thành cho con gái mình.

Năm 1683, Nguyễn Đăng Đạo dự kỳ thi Đình, nội dung khoa thi năm đó là “Có nền tảng thái bình tất phải có quang cảnh thái bình”, bài văn sách của Đăng Đạo được đánh giá là văn chương điêu luyện, kiến thức sâu rộng không ai bì kịp.

Đặng Đạo đỗ trạng nguyên kỳ thi này. Vì làng của ông còn có tên nôm là làng Bịu nên dân gian vẫn quen gọi ông là Trạng Bịu.

Cuốn “Đại Việt sử ký tục biên” có ghi chép rằng:

Mùa xuân, tháng Giêng, thi Đình. Cho Nguyễn Đăng Đạo, Phạm Quang Trạch, Quách Giai ba người đỗ tiến sĩ cập đệ, Nguyễn Đương Hồ tiến sĩ xuất thân (hoàng giáp); bọn Trần Thiện Thuật 14 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

Không sợ cường quyền, can ngăn chúa Trịnh
Bằng tài năng của mình, Nguyễn Đăng Đạo thăng tiến nhanh chóng, qua mấy năm đã được bổ nhiệm vào Lại bộ thị lang, năm 1689 thăng lên làm Đô ngự sử.

Ông là người có công tiến cử những bậc hiền tài thời đó như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, Bùi Sĩ Tiêm, v.v. Những người này ít lâu sau đều giữ chức tham tụng trong phủ chúa, đứng vào hàng quan lại bậc nhất của triều đình.

Lúc chúa Trịnh Căn mới lên ngôi liền đưa ra quy định rằng:

Vào ngày “sóc vọng” các quan sau khi vào chầu vua Lê xong phải để nguyên y phục vào phủ chúa chầu.

Các quan đều phải tuân theo, riêng Đăng Đạo bao giờ cũng chầu vua xong, về nhả thay đồ thường phục rồi mới vào chầu phủ chúa. Chúa Trịnh Căn không bằng lòng liền hạch tội ông, Đăng Đạo thưa rằng: “Mũ áo triều đình ban cho là để chầu thiên tử. Nay nhà chúa cũng đòi trăm quan làm như thế với mình, e thiên hạ dị nghị là trái đạo vua tôi.”

Chúa cho là phải, khen ông là người trung nghĩa và còn thưởng vàng cho ông, đồng thời cho bãi bỏ lệ này.

Cuốn “Bắc Ninh phong thổ tạp ký” có ghi chép sự việc này như sau:

Lúc bấy giờ trăm quan muốn dùng triều phục bệ kiến vua vào chầu ở phủ chúa Trịnh, ông cho là phi lễ. Chúa Trịnh khen thưởng vì tính cương trực, tặng cho 200 lạng vàng.

Nơi quan cao trọng vọng vẫn hết lòng vì quê hương
Sau này, Đăng Đạo được triều đình giao cho giữ nhiều chức vụ quan trọng, từ binh bộ thượng thư rồi lên tới chức quan cao nhất là tể tướng đời nhà Hậu Lê.

Dù làm quan đại thần cao sang, nhưng ông luôn nghĩ đến những người nghèo khó, nghe tin làng Bịu bị úng lụt mất mùa ông viết thư cho vợ rằng: “Ta làm quan đại thần trong triều, không nỡ ngồi nhìn dân ta đói mà không xót thương, phu nhân phải đem tiền gạo, thóc của nhà ra mà cứu đói, cấp thóc cho dân gieo cấy ”. Dân làng Bịu nhờ đó mà qua được bước khó khăn.

Có lần đi sứ trở về nhà, ông phát hiện vợ mình đã làm thêm hai gian nhà ngói, ông tỏ ý không bằng lòng. Thế nhưng với dân làng thì ông lại rất hào phóng, dành tiền tu bổ làng miếu ở quê.

Theo lệ thì ông phải nhận ruộng công do triều đình ban cho, ông liền nhận những ruộng xấu, bị bỏ hoang lau lách ở cánh đồng, rồi cho thuê người phát cỏ cải tạo thành ruộng tốt, chia lại cho các hộ nghèo.

Người dân trong làng truyền nhau rằng: “Công đức của tướng công, trải muôn đời ghi nhớ khôn cùng”.

Lưỡng quốc trạng nguyên lừng danh sử sách
Đăng Đạo hai lần được cử đi sứ nhà Thanh, lần nào cũng làm rạng danh cho đất Việt.

Bấy giờ, các quan thổ ty nhà Thanh hay đưa quân quấy nhiễu lấn chiếm đất đai nơi biên giới với Đại Việt, triều đình nhiều lần cử các quan đại thần đi sứ nhưng không đòi lại được đất.

Năm 1697, Nguyễn Đăng Đạo lãnh sứ mệnh dẫn đầu đoàn sứ bộ đến nhà Thanh nhằm giải quyết tranh chấp vùng đất ở hai động Tuyên Quang và Hưng Hóa. Đây là việc rất khó khăn, nhưng Nguyễn Đăng Đạo đã đưa ra những lập luận không thể chối cãi và yêu cầu nhà Thanh trả lại các vùng đất cho Đại Việt.

Tuy vậy, quan lại nhà Thanh lại lo rằng nếu trả đất sẽ thành thông lệ, sau này sẽ lại đòi thêm, vì thế mà chần chừ chưa quyết việc trả đất, đồng thời nhiều lần tìm cách thử tài Đăng Đạo.

Có lần, hoàng đế nhà Thanh truyền xuống vế đối:

Xuân tiêu phong nguyệt, nguyệt thiêm hoa sắc, phong tống hoa hương, hương sinh sắc, sắc sinh hương, hương hương sắc sắc mãn xuân tiêu, tương tư khách ứng tương tư khách.

Nghĩa là:

Đêm xuân trăng gió, trăng thêm sắc cho hoa, gió đưa hương hoa, hương sinh sắc, sắc sinh hương, hương hương sắc sắc suốt đêm xuân, khách tương tư nhớ nhung khách tương tư.

Đây là một vế đối đầy chất thơ, luyến láy bởi những âm điệu trầm bổng giàu nhạc điệu. Nó quả thực là một vế đối khó, khiến các sứ thần ngơ ngẩn.

Rồi sứ giả Cao Ly đối:

Tùng viện trúc mai, mai sinh long diệp, trúc hóa long chi, chi ty diệp, diệp ty chi, diệp diệp chi chi liên tùng viện, hữu tình nhân thức hữu tình nhân.

Nghĩa là:

Mai trúc lầu tùng, mai trồi lá đẹp, trúc này cành xinh, cành liền lá, lá liền cành, lá lá cành cành sát lầu tùng, người hữu tình hiểu người hữu tình.

Còn Đăng Đạo đối:

Hạ nhật cầm thi, thi ngụ ngã tình, cầm hòa ngã tính, tính viên tình, tình viên tính, tính tính tình tình ngu hạ nhật, tri âm nhân thức tri âm nhân.

Nghĩa là:

Ngày hạ có đàn thơ, thơ giải tình ta, đàn dịu tính ta, tính vẹn thêm tình, tình càng vẹn tính, tính tính tình tình vui ngày hạ, bạn tri âm biết bạn tri âm.

Vế đối của Đăng Đạo được triều đình nhà Thanh hân thưởng, cho là “chung đúc cả tạo hóa trong một con người”.

Có lần Vua nhà Thanh cũng yêu cầu sứ thần các nước làm bài phú Bái Nguyệt đình (vịnh trăng sáng). Trong khi sứ thần các nước đang loay hoay thì Đăng Đạo nhanh chóng làm xong. Các quan nhà Thanh xem bài phú ông làm thì kinh ngạc cho là tuyệt tác, vua Thanh đọc xong cũng khen ngợi, ban cho ông là “Bắc triều đệ nhất Trạng Nguyên”, ban mũ áo võng lọng và cho ông vinh quy về nước.

Nguyễn Đăng Đạo trở thành Trạng Nguyên của cả hai triều, lời tiên đoán của thiền sư Chuyết Công khi xưa đã thành hiện thực. Ông cũng hoàn thành sứ mệnh giải quyết việc tranh chấp đất đai vùng biên giới mà suốt nhiều năm liền chưa ai làm được.

Năm 1718, Nguyễn Đăng Đạo xin được lui về, đến năm 1719 thì ông mất.

Tưởng nhớ
Sau khi Nguyễn Đăng Đạo mất, vua Lê Dụ Tông thương tiếc viết bài thơ về ông:

Núi chè cao ngất, sông Đức trong,
Người tài chung đúc bởi non sông.
Một cành tươi tốt muôn cành đẹp,
Bảy lá hương thơm vạn lá hồng.
Lớp lớp quan giai nhờ lộc nước,
Đời đời nghiên bút giữ gia phong.
Nền nhân, cỗi phúc nay còn mãi,
Xe ngựa làng xưa vẫn đợi mong.

Vua tặng ông 4 chữ “Lưỡng quốc trạng nguyên” treo tại nhà thờ ông ở thôn Hoài Thượng. Dân làng cũng tôn ông làm thành hoàng làng Hoài Bão.

Năm 1999, lăng mộ Nguyễn Đăng Đạo được xây dựng tại nghĩa trang thành phố Bắc Ninh. Hai bên mộ có câu đối mà vua Lê tặng cho ông:

Tiến sĩ thượng thư thiên hạ hữu
Trạng nguyên tể tướng thế gian vô

Nghĩa là:

Tiến sĩ làm thượng thư thì cũng có, nhưng [lưỡng quốc] trạng nguyên làm tể tướng như Nguyễn Đăng Đạo thì thật là hiếm có chưa từng.

Trần Hưng
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 03:23 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Sài Gòn: Phương tiện chuyển thư thời xưa

Nhớ ngày còn đi học, trong giờ sử cô giáo đặt câu hỏi phương tiện vận chuyển thư từ thời xưa ra sao. Đám học trò giơ tay xin trả lời cô giáo lại không kêu mà hướng về bộ mặt ngơ ngác của tôi. Tôi đứng dậy lòng đầy bối rối, nói đại là chạy bộ marathon cho xong. Cả lớp ồ lên khiến tôi quê mặt. Nào ngờ cô giáo khen rằng “đúng”. Đúng thế nào tôi chẳng rõ, sau này mới biết chuyện một chiến binh Hy Lạp trong trận chiến từ thành Marathon đã chạy hết quãng đường hơn 42 km để đưa thư chiến thắng về thành Athena rồi đứt hơi ngã lăn ra chết. Từ đó, trong thể thao điền kinh có môn chạy Marathon ghi nhớ công lao của anh lính chuyển thư kiểu này.

Chuyện xưa tích cũ ngàn năm, ấy vậy mà khi tôi nhìn những tấm ảnh lịch sử bưu chính Việt Nam vào thời Pháp mới chiếm xong 3 tỉnh miền Ðông Nam Kỳ lại thấy bùi ngùi cho nghề giao chuyển thư bằng “xe lô ca chân” (đi bộ). Hồi đó, đường sá chưa có, khắp nơi rừng rậm vây quanh, thú dữ luôn đe dọa tính mạng của người khuân gánh thư giao chuyển cho các bưu trạm để kết nối liên lạc với chính quyền các vùng trong tỉnh. Nhưng xem xong mớ ảnh tư liệu, tôi bật cười vì đoàn người gánh thư chẳng cần phải có trách nhiệm nhanh chóng giao tài liệu thư từ đến nơi đến chốn mà lại bỏ thời gian đào hố bắt cọp để giết kẻ “cản đường” vận chuyển.

Ðọc “Ðất Gia Ðịnh xưa” của Sơn Nam mới hình dung ra được, thời Pháp chiếm Bến Nghé, ngoài khu vực nhỏ của thành Gia Ðịnh rộng vài ba cây số vuông, Sài Gòn còn là nơi nê địa hoang vu, rộng ra các vùng xa chung quanh đất Ðồng Nai, Bình Dương chưa có đường bộ thông suốt mà chỉ là một vài con lộ nhỏ giao thông bằng phương tiện đi chân đất hoặc xe ngựa xe bò. Sau khi chiếm Gia Ðịnh, người Pháp thành lập ngay bưu cục để bảo đảm thông tin liên lạc cho bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Sài Gòn với chính phủ tại Pháp. Bên cạnh đó, bưu cục là nơi nhận chuyển thư từ của binh lính Pháp về cho thân nhân và ngược lại, chứ người dân An Nam trong nước chưa hề biết chuyển một lá thư theo cách thức trên góc phải bìa thư phải dán con cò.

Dán con cò ra sao, cho tôi mạn phép dông dài đôi chút về hình ảnh con cò thân thuộc đối với người dân Việt.

Ngay thời vua chúa phong kiến, thư từ, bưu kiện chuyển đi từ các bưu trạm bằng ngựa cũng chỉ niêm đóng dấu bằng mực đỏ, liên lạc thư tín, công văn chỉ dùng trong chính quyền quan lại không phải mất tiền chuyển vận.

Khi người Pháp cho phát hành con tem hình vuông có vẽ hình con chim phượng hoàng, biểu tượng của Hoàng đế Napoleon dán lên bìa thư như một chức năng thanh toán vận chuyển thì người Việt mình thấy con chim có cái cổ dài không khác con cò nên gọi con tem là con cò cho tiện.

Một chuyện khác, hồi lần đầu tôi đến Westwego tiểu bang Louisiana, hỏi đường một bà cụ người Việt chỉ đường rành rẽ, cứ việc chạy qua “cầu con cò” đi một đỗi là tới. Tôi chạy xe mắt dõi tìm hình ảnh cầu con cò nhưng chẳng thấy. Thì ra chiếc cầu sắt bắc ngang sông Mississippi có cái hình biểu tượng con chim Pelican (chim bồ nông). Chim bồ nông có cái cổ dài và cái mỏ dài nên không chỉ bà cụ tôi hỏi đường mà nhiều người Việt lớn tuổi khác ở New Orleans cũng gọi đó là con cò.

Theo tài liệu lịch sử bưu điện thời Pháp thuộc thì Nhà Bưu chính đầu tiên khánh thành tại Sài Gòn năm 1863 và đưa vào sử dụng một năm sau đó.

Tuy nhiên trước đó, người Pháp đã thiết lập đường dây thép đầu tiên Sài Gòn – Biên Hoà dài 28 km nối liên lạc với vùng đất Nông Nại đại phố sung túc một thời từ khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn vào Nam phân chia địa giới, lập xứ Đồng Nai và tiếp theo là những cột dây thép mọc lên ở các tỉnh miền Nam kết nối giao thông liên lạc qua đường truyền điện tín. Đến năm 1872, hệ thống thông tin điện tín đã mở rộng nhiều vùng Đông Nam bộ với tổng số đường dây lên đến 6.600 km trong đó có cả 36 đường cáp ngầm chui qua những con sông.

Trong “Gia Ðịnh phong cảnh quốc âm ca vịnh” – tác giả Hai Ðức ghi rằng:

Gia Tân nền trạm thuở xưa,
Ngày nay có dựng cột cờ gần bên. (*)
Tứ bề dây thép giăng lên,
Lưu thông các thứ báo tin truyền lời.

(*) Chỗ Cột cờ Thủ Ngữ ở bến Bạch Ðằng

Dù vậy, việc sử dụng thư từ, đánh dây thép vẫn còn là chuyện xa xỉ đối với người dân nghèo Sài Gòn – Chợ Lớn và cả vùng Nam bộ. Giá tiền thuở ban đầu đó là con tem mất 4 xu (tương đương 1.3 kg gạo), một bức điện tín đánh đi ít nhất phải tốn 20 kg gạo.

Sau đó bưu điện đã mở thêm nhiều dịch vụ vận chuyển bưu kiện, hàng hoá. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là dịch vụ phục vụ dành cho khách hàng người Pháp và người giàu có. Ðây là thời gian phát triển ngành bưu điện vận chuyển giao phát thư từ, hàng hoá không còn dùng người gánh vác đi chân trần trên đường đất mà chuyển qua dùng xe ngựa thay thế cho nhanh vì lúc đó đường bộ bắt đầu được mở rộng kết nối nhiều tỉnh lỵ lân cận và việc giao chuyển thư từ, công văn đã dùng xe kéo, xe ngựa, ở các vùng Tây Nguyên còn dùng đến voi thồ. Ca dao ghi nhận rằng:

Biên Hoà còn dạng xe tờ,
Mới bày bảy giờ xe máy Tây Ninh.

Xe tờ là xe gì mà dùng trong vận chuyển cho ngành bưu chính. Tìm hiểu thêm thì ra đó là xe hai ngựa kéo một thùng rộng bốn bánh. Thùng xe cao có hai băng ghế khách ngồi đối diện nhau. Loại xe này là kiểu xe ngựa dùng bên Pháp nhận thêm nhiệm vụ vận chuyển bưu kiện, thư từ, tờ trát, công văn của chính quyền nên người dân gọi gọn “xe tờ” cho tiện, chứ lúc đó chưa gọi “xe thơ” như sau này bưu điện nhờ xe đò vận chuyển. Ðến năm 1900, Bưu điện Sài Gòn xin độc quyền vận chuyển vật phẩm bưu chính bằng xe hơi gọi là omnibus automobile nhưng đến năm 1903 chiếc xe hơi đầu tiên mới theo tàu cập bến Sài Gòn.

Việc phân phát thư từ, điện tín, bưu phẩm ở các tỉnh như Tây Ninh, Gò Công đã dùng xe đạp mà người dân quen gọi là xe máy.

Mãi đến năm 1917, các trạm bưu điện mới trang bị xe đạp. Nguyên cả tỉnh Gò Công, bưu điện được cấp cho 4 chiếc xe đạp, lúc này chính quyền phải thuê một “chuyên gia” người Pháp từ Sài Gòn về hướng dẫn cách đạp xe. Nhà dây thép Tây Ninh có 10 chiếc xe máy để phân phát thư.

Hình ảnh chiếc xe đạp sườn ngang bằng nhôm, trên yên sau vắt ngang hai cái túi da với tiếng gọi tên chủ nhà ra nhận thư của người bưu tá thật khó quên đối với nhiều người lớn tuổi kéo dài nhiều thập niên.

Trong khi đó ở Sài Gòn trước khi dùng xe đạp giao phát thư, người bưu tá còn ngồi xe kéo giống như ông chủ bảnh tẻng, người phu kéo xe dừng từng nhà, ông bưu tá dõng dạc kêu tên gia chủ ra nhận thư. Còn người muốn gởi thư phải đích thân đi ra nhà dây thép, chứ người phát thư không nhận. Ðến sau này thời Cộng Hoà, ngành bưu chính mới cho đặt các thùng thư công cộng ở trên các con phố để người dân tiện việc gởi thư mà không mất thời gian đi ra bưu điện. Mỗi ngày hai lần có nhân viên bưu điện đến mở thùng lấy thư giao cho bưu điện trung tâm phân phối về bưu điện quận hoặc chuyển đi các tỉnh theo xe đò.

Thư từ, bưu phẩm vẫn phải nhờ xe đò tư nhân làm nhiệm vụ trung chuyển. Chủ xe không nhận tiền thù lao mà được hưởng quyền ưu tiên chạy qua các chốt cảnh sát xét hỏi an ninh, ưu tiên qua cầu phà trước không cần xếp hàng nối đuôi.

Do đó, nhiều nhà xe các tỉnh tình nguyện nhận nhiệm vụ này. Chuyến xe từ Sài Gòn đi mỗi tỉnh mỗi ngày đều có ba bốn chuyến xe thơ. Chủ xe chỉ cần treo tấm bảng “xe thơ” chữ màu đỏ phía trước.

Nhiều hành khách thích đi xe thơ vì xe ưu tiên, nhanh chóng về quê mà không phải mất thời gian chờ đợi qua phà.

Ngoài xe đò chở thơ, còn các phương tiện giao thông khác như tàu thuỷ, xe lửa, máy bay cũng tham gia vận chuyển các loại bưu phẩm của ngành bưu chính.

Đầu thập niên 20, Pháp đã thiết lập hệ thống nhà dây thép ở các tỉnh miền Nam và mãi đến cuối thập niên này, hệ thống nhà dây thép miền Trung và miền Bắc mới được hoàn chỉnh, đồng thời thành lập luôn hàng không bưu chính từ Đông Dương qua Pháp.

Người bạn cùng thời với tôi bỏ nghề dạy học mặc dầu sắp tới tuổi hưu, thành lập công ty chuyển phát nhanh cạnh tranh với nhiều công ty dịch vụ bưu chính khác. Bạn nói: “Bây giờ thông tin liên lạc viễn thông điện tử ở Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung đã thay thế nhiều chức năng giao nhận thư của ngành bưu chính. Bưu điện hầu như chỉ còn làm dịch vụ giao chuyển bưu phẩm”.

Riêng tôi lại nghĩ đến những thùng thư công cộng trên các con phố chẳng biết còn không hoặc đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và từ sau 1975, xe đò chở thơ cũng chẳng còn nhiệm vụ vì bưu điện các tỉnh đều trang bị xe chuyên biệt.

Trang Nguyên
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-16-2019 , 03:28 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
“đây là chương trình Dạ Lan, tiếng nói của những người em gái hậu phương…”
Share

Đầu thập niên 1960, ở miền Nam Việt Nam chưa có vô tuyến truyền hình, phải đến năm 1966 mới thành lập đài truyền hình ở Saigon. Thời điểm này người ta chủ yếu đón chờ thông tin từ 2 đài phát thanh, đó là Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài Phát Thanh Quân Đội. Thường là sau bữa cơm chiều, người ta mở Radio để nghe Dạ Lan – “Em gái hậu phương” giới thiệu những bài nhạc mới.

Dạ Lan là môt chương trình của Đài Phát Thanh Quân Đội thời kỳ 1964 – 1975, để an ủi và nâng cao tinh thần binh sĩ, trong đó lấy âm nhạc làm phương tiện chính.

Nghe chương trình Dạ Lan trước 75

Ðài Phát Thanh Quân Ðội ngày ấy liên tiếp quy tụ nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi như Dương Ngọc Hoán, Anh Ngọc, Nhật Bằng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Ðức, Văn Ðô, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Triệu Nam, Lưu Nghi, Nguyễn Ngọc Quan,Trần Trịnh, Ðào Duy, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Quốc Hùng, Dương Phục, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp…

Người sáng lập của chương trình là đại tá Trần Ngọc Huyến, và người quản đốc đài cuối cùng ở thời điểm 1975 là trung tá Nguyễn Quang Tuyến, tức nhà văn Văn Quang.

Chương trình Dạ Lan được phát thanh từ 7 giờ đến 9 giờ tối mỗi ngày, bắt đầu bằng lời giới thiệu:

“Đây là chương trình Dạ Lan, tiếng nói của những người em gái hậu phương, gửi những anh trai tiền tuyến”

Xướng ngôn viên là một cô gái người Bắc, giọng nói ngọt ngào. Ngoài những thông tin thời sự, phần hấp dẫn nhất của chương trình là phần nhạc và phần thư tín.

Dĩ nhiên là chương trình được soạn thảo bởi một ban bệ chuyên môn, và cô xướng ngôn viên của chương trình chỉ là người đọc lại các thông tin đã được soạn ra trước. Trong giai đoạn mới thành lập chương trình Dạ Lan, phần câu chuyện hằng ngày do Lưu Nghi phụ trách, điểm báo do Nguyễn Triệu Nam, phần nhạc do nhạc sĩ Ðan Thọ, Ngọc Bích chọn và lời dẫn nhạc (chapeau) do Huy Phương viết. Phần tin tức do ban tin tức của Ðài phụ trách và thư tín do cô Ngọc Xuân và một số người khác đặc trách việc chọn lựa thư tín để sau đó Dạ Lan trả lời trên làn sóng phát thanh.

Nhưng đối với những “anh trai tiền tuyến”, họ nghe được giọng Dạ Lan hàng đêm, nên cô xướng ngôn viên nghiễm nhiên là “linh hồn” của chương trình, là đại diện của những người em gái hậu phương hàng đêm nhỏ to tâm tình cùng các anh.

Chương trình Dạ Lan rất được các quân nhân hoan nghênh, đặc biệt là các quân nhân xa nhà, trú đóng ở các tiền đồn hẻo lánh. Vào hai năm 1964-65, Ðài Phát Thanh Quân Ðội phải tuyển thêm một số nữ nhân viên để phụ trách vấn đề trả lời thư của các “anh trai tiền tuyến” hằng đêm. Một số carte-postale chụp cô Xuân Lan đã nói trên cũng được Nha Chiến Tranh Tâm Lý ấn hành để gởi tặng đến các chiến sĩ tiền đồn. Tuy vậy nhân vật “em gái hậu phương Dạ Lan” chưa bao giờ xuất hiện trên truyền hình, báo chí hay ngoài đời mà chỉ duy nhất qua làn sóng điện, vì ngoài đời, nhan sắc cô chỉ thuộc loại trung bình. Dạ Lan cũng nhận được không ít thư từ tỏ tình với cô của các “anh tiền tuyến”. Nhiều anh trai tiền tuyến đi phép về Saigon có tìm đến đài phát thanh Quân Đội nhưng không bao giờ gặp được Dạ Lan bằng xương bằng thịt.

Dạ Lan, cô là ai?

Một sự tình cờ, những người xướng ngôn viên của chương trình Dạ Lan, đóng vai em gái hậu phương Dạ Lan đều tên là Lan và có giọng nói khá giống nhau: Xuân Lan và Phương Lan.

Không ai ngờ rằng xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là một người con gái Quảng Nam có một thời gian sinh sống tại Huế, tên là Xuân Lan. Trước đó cô làm việc tại Ðài Phát Thanh “Gươm Thiêng Ái Quốc”, trụ sở tại Ðông Hà, tỉnh địa đầu Quảng Trị. Ðài này do Nhất Tuấn làm Quản Ðốc và Hà Huyền Chi làm phó. Cô Xuân Lan không đẹp nhưng cô phát âm tiếng Bắc rất đúng giọng (nhờ Hà Huyền Chi huấn luyện trong thời gian ở Ðồng Hà), và tất nhiên là rất ngọt ngào. Ðêm đêm trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Quân Ðội, giọng nói của người em gái hậu phương có mãnh lực thu hút cảm tình của các binh sĩ trú đóng khắp trên bốn vùng chiến thuật. Danh từ “em gái hậu phương” và “anh trai tiền tuyến” là một danh từ khá quen thuộc phát sinh trong thời gian này được nghe và dùng nhiều trong các bài thơ hay nhạc phẩm thịnh hành.

Dạ Lan 1 (Xuân Lan)

Người em gái hậu phương Dạ Lan đã trở thành huyền thoại, nhưng cũng có không ít cặp đôi đã nhờ có phong trào nữ sinh viết thư chúc Tết chiến sĩ của chương trình Dạ Lan mà nên vợ nên chồng sống hạnh phúc đến tận ngày nay.

Dạ Lan 2 của cô Phương Lan

Dạ Lan 1 là cô Xuân Lan làm cho đài đến năm 1966 thì chuyển về đài phát thanh Đa Lạt. Vậy thì ai tiếp tục Chương trình Dạ Lan hằng đêm?

Người tiếp tục Chương trình Dạ Lan, thật trùng hợp là cũng có tên thật là Lan: Hồng Phương Lan, tức Mỹ Linh. Lúc đó, cô Mỹ Linh đang làm việc cho Đài Phát thanh Quân Đội, ở Chương trình Nhạc Ngoại Quốc yêu cầu. Cô là người Bắc, vì có giọng nói giống hệt như giọng cô Xuân Lan nên cô được chọn để tiếp tục Chương trình Dạ Lan mà không ai hay biết, ai cũng tưởng chỉ có một Dạ Lan.

Thực ra Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) là người Huế nhưng nói giọng Bắc. Cô làm ở đài phát thanh quân đội từ những năm 1957-58, trước cả Xuân Lan. Không ai biết mặt và biết tên Dạ Lan cả, Dạ Lan có thể là bất cứ người nào. Vì vậy Dạ Lan được xem là “huyền thoại”, ai muốn tưởng tượng Dạ Lan như thế nào cũng được.

Sau 75, nhớ đến chương trình Dạ Lan, người ta lại thắc mắc về xuất thân của Dạ Lan và số phận của cô ra sao, nhờ đó các thính giả sau này mới biết được có 2 cô Lan, và người ta đã liên lạc được với cả 2 cô.

Qua sự thăm hỏi của nhiều người, cuối cùng người ta được biết, cô Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) hiện đang sống ở Saigon và cô Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) đang định cư tại S.Carolina, và cho đến giờ này, trong thư từ và cả email giao thiệp cả hai cô đều ký tên mình là Dạ Lan.

Hơn 40 năm đã trôi qua, vẫn còn đây lưu lại những ký ức đẹp đẽ về của “những ngày xưa thân ái”, với giọng nói dịu dàng, êm ái đêm đêm như ru hồn đã làm ấm lòng biết bao nhiêu chiến sĩ ngày xưa.

Lê Ngọc Phượng
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:10 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Quả không sai khi người ta nói, phụ nữ hơn nhau ở tấm chồng.

Hạnh phúc của người phụ nữ phụ thuộc rất nhiều vào người chồng tốt hay xấu, có đủ bản lĩnh để làm trụ cột gia đình hay không.

Nếu may mắn lấy được người chồng tốt, có chí tiến thủ, yêu thương và trân trọng vợ con thì còn quý giá hơn cả một gia tài. Còn ngược lại thì quả là thảm họa khi vớ phải những người ích kỉ chỉ biết làm khổ vợ con như ăn chơi, rượu chè, cờ bạc…

Vậy làm sao để biết được đức ông chồng mà mình sắp lấy, đã lấy có đúng là một người chồng lý tưởng hay không, ta hãy cùng nhau xem lại lời dạy của Thánh hiền ngày xưa về tiêu chuẩn của một người chồng tốt là như thế nào.

Một người chồng chân chính cũng chính là chủ gia đình, là một người quân tử và nam tử đại trượng phu nên Mạnh Tử trong chương Đằng Văn Công Hạ có viết:

“Giàu có không ham hưởng lạc, nghèo khó cũng không làm thay đổi được (chí hướng), uy vũ không thể khuất phục được, như vậy gọi là đại trượng phu”.

Phú quý bất năng dâm – Giàu có không ham hưởng lạc

Giàu sang thật ra không phải để chúng ta chấp vào nó để hưởng thụ hay kiêu ngạo trên đời này. Nó ngoài việc là phúc báo nhân gian của phúc đức tự thân tích từ đời trước, thì nó còn là thứ mà ông trời tạo ra để thử thách đạo đức và tâm tính của người ta. Không phải việc bạn giàu hơn người là vì bạn giỏi hơn người khác, nó chỉ là thể hiện phúc báo của bạn nhiều hơn người khác ngay thời điểm đó mà thôi.

Người nào trong lúc đang ở tột đỉnh phú quý mà vẫn giữ vững đạo đức thì sau này sẽ có phúc hậu trọn vẹn cả đời thậm chí lưu lại cho con cháu. Người nào mà không câu thúc bản thân thì sẽ tiêu hết phúc báo gây ra nghiệp quả rồi lại hứng chịu báo ứng của bản thân.

“Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo

Nghèo tiền nghèo bạc chả cho là nghèo”

Người xưa không coi trọng sự giàu có như người nay. Bởi nay vốn là 1 xã hội điên đảo vì tiền bạc nên sự thành công và hạnh phúc của hôn nhân đôi khi cũng được đo đếm bằng tiền.

Đối với chị em phụ nữ thì lấy được chồng giàu quả là một sự may mắn tuyệt vời, mà hầu như ai cũng cảm thấy là rất tốt vì đây là một tấm vé đổi đời nhanh chóng. Nhưng giàu sang phú quý quyền lực lại là con dao hai lưỡi nguy hiểm nhất của một người đàn ông, vì đó là lúc khó giữ mình nhất khi chung quanh quá nhiều cám dỗ mà bản thân lại rất có điều kiện.

Trong các loại đức tính, thì việc “giới Dâm” là quan trọng nhất trong việc tích đức và xử thế. Tất cả tôn giáo, thần Phật, thánh hiền xưa nay đều coi việc này rất nghiêm khắc. Ai không giữ giới Dâm thì hậu quả rất thê thảm.

Vì chữ “Dâm” ngoài nghĩa là đam mê chuyện nam nữ chăn gối cũng có thể hiểu rộng ra là thú vui ăn chơi hưởng lạc, xa hoa, phung phí. Nên nếu như người đàn ông của bạn khi có tiền thì rất ham thích ăn chơi, tiệc tùng, rượu chè và phụ nữ đẹp thì nhiều khả năng anh ta sẽ tự làm sụp đổ cơ nghiệp của mình một ngày không xa, thậm chí bản thân mình còn không biết có giữ được hay không. Và người này dĩ nhiên sẽ không là một người cha tốt vì không có đủ đức độ để dạy con.Trong khi tương lai con trẻ chính là hạnh phúc hậu vận của bạn.

Hãy chọn một người nào mà lúc giàu có hay lúc hàn vi đều chân chất giản dị và luôn đối xử tốt với mọi người. Dẫu rằng anh ta đôi khi sẽ không hấp dẫn lắm, không hào nhoáng như những chàng công tử con nhà giàu khác, nhưng tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Đó là dấu hiệu của một người có đức độ có thể nuôi dạy con bạn thành người tốt và có thể cùng bạn đi hết cuộc đời này dẫu qua bao phong ba bão táp.

Bần tiện bất năng di – Nghèo vẫn không thay đổi (khí tiết của mình)

Sự nghèo khổ cũng không phải là thứ để cho người ta than vãn hay oán trách cuộc đời này. Bên cạnh sự giàu sang, nó chính là cực đối lập mà ông Trời tạo ra để cho con người đề cao tâm tính và nhân cách của mình. Vì thế có giàu tức sẽ có nghèo, cũng như có ngày phải có đêm, nên không phải cứ giàu là tốt mà nghèo là xấu.

Bởi vậy người nào sống tốt thì có phúc phận có thể thay đổi hoàn cảnh thậm chí làm nên nghiệp lớn. Còn như không lo sống cho tốt chỉ ngồi đó bi quan và than vãn thì sẽ đẩy bản thân đến sự hủy diệt.

Một người có gia cảnh nghèo không phải vì người đó dở hay phúc phận kém, mà có thể là vì thời điểm đó phúc báo của người ấy chưa đến. Thiên thượng phải chờ đợi để xem người đó tâm tính và đạo đức đủ tốt hay không, qua một thời gian rồi mới cấp cho vinh quang.

Nên lúc còn hàn vi, thì chính thái độ đối với cuộc sống sẽ nói lên khí chất và tiềm năng của một người cũng như tương lai của người đó, vì lẽ vàng thật thì đâu có sợ lửa.

Nguyễn Công Trứ là một vị quan và tướng quân nổi tiếng nhất thời Nguyễn. Ông mãi đến năm 42 tuổi mới thi đỗ và trước đó phải sống 1 cuộc sống vô cùng nghèo túng. Nhưng ông chưa bao giờ nhụt chí phấn đấu và thay đổi nhân cách vì cái nghèo.

Không phải ai cũng có may mắn lấy chồng làm nên sự nghiệp hay giàu có. Nếu như bạn không may lấy phải một người đàn ông có cuộc sống nghèo khó hay từng thất bại thì xin chớ vội bi quan. Vì mỗi loại hoàn cảnh chính là được tạo ra cho con người trong quá trình sống mà hoàn trả bớt nợ nghiệp, đề cao nhân cách của mình, ngày càng sống tốt đẹp hơn và có ích hơn.

Nếu không có phúc phận cùng nhau hưởng vinh hoa phú quý, thì yêu thương hết mực cùng nắm tay nhau mà vượt qua cảnh nghèo trong suốt cuộc đời âu cũng là một điều hạnh phúc lớn lao vậy.

Hãy nhìn xem bao nhiêu người giàu còn tên trên sử sách, các Thánh Nhân và danh nhân vĩ đại danh lưu nghìn năm từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo có ai lưu lại danh tiếng như một người giàu có đâu. Cái họ lưu lại chính là lối sống nhân nghĩa đạo đức làm gương cho thiên hạ.

Uy vũ bất năng khuất – Trước cường quyền vẫn ngay thẳng không khuất phục

Để giữ vững tiết tháo và đạo đức của mình, cũng như lèo lái và làm trụ cột cho gia đình. Nho giáo ngày xưa đòi hỏi người đàn ông trượng phu còn phải có dũng khí. Nhưng cái dũng khí của Nho gia yêu cầu lại không phải là cái dũng của ba quân trên chiến trường, của những tướng quân tranh hùng nơi trận mạc. Đó chỉ là cái Dũng của kẻ thất phu.

Cái Dũng chân chính mà Nho gia nói đến là cái nhân cách hoàn thiện mà một người đàn ông chân chính phải hướng đến. Cái Dũng để bảo vệ nhân cách, khí tiết, lý tưởng của mình trong nghịch cảnh, khi đối diện cường quyền vẫn không khuất phục. Dũng để bao dung, tha thứ và chấp nhận thiệt thòi xứng đáng để bảo vệ gia đình và tổ quốc. Nó chính là cái Dũng của Thánh Nhân,

Các vua quan nhà Trần, vốn đa phần đều là tín đồ Phật môn thuần thành, là những tấm gương Đại Nhẫn tuyệt vời. Suốt khoảng thời gian đế quốc Nguyên Mông hống hách đe dọa từ biên giới cho đến ngoại giao mà toàn thể triều đình từ vua đến quan vẫn nhẫn nhịn điều đình, cương quyết từng điều khoản sao cho vừa bảo vệ thể diện quốc gia vừa không phải động binh làm khổ cho dân chúng. Chính cái triều đình nhẫn nhịn đó đã đập tan 3 cuộc xâm lăng ghê gớm nhất ngay vào lúc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thành một chiến công như thần tích của thế giới.

“Sông có khúc, người có lúc”, cuộc sống chẳng biết sẽ đem phong ba bão táp đến với bản thân và gia đình ta khi nào. Nên cái sáng suốt nhất của một người phụ nữ là hãy lựa chọn cho mình một bậc phu quân trượng phu, có khí chất nhẫn nhịn bao dung và dũng khí của Thánh nhân để làm nơi nương tựa, chứ không nên nhìn vào phú quý hiện tại và hình dáng bên ngoài.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:12 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Bức thư mẹ gửi con gái: Dẫu bạn có gia đình hay chưa đều nên đọc.

… Mẹ biết con rất yêu người đó. Anh ta có lẽ cũng có cảm tình với con. Nhưng điều đó chẳng đủ để anh ta vứt bỏ cả lòng tự trọng, sự kiêu hãnh, vứt bỏ cả gia đình vợ con, và tìm đủ mọi cách để đến được với con.

Trong văn hóa truyền thống, hôn nhân mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng. Bởi người xưa quan niệm rằng, hôn nhân giữa nam và nữ là do Trời, Đất, âm, dương phối hợp mà thành.

Cổ nhân coi hôn nhân nam nữ là nền tảng của luân lý làm người và phù hợp với Đạo của Trời Đất. Bởi vậy, khi kết hôn, vợ chồng phải bái lạy Trời Đất, Thần linh, tổ tiên, cha mẹ, vừa là để tạ ơn vừa là để chứng giám cho lời thề của họ.

Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về hôn nhân, về quan hệ nam nữ thời hiện đại ngày càng tự do hơn, thoải mái hơn nhưng những vấn đề xuất hiện lại cũng ngày càng nhiều hơn. Tại sao tình trạng ngoại tình và ly hôn ở các gia đình hiện đại lại nhiều hơn xưa? Tất cả là bởi đạo đức xã hội của con người ngày càng trượt dốc, quan niệm về quan hệ với người khác giới phóng túng tự do một cách thái quá. Có những điều chúng ta cho rằng bình thường, chỉ là những phút “say nắng” ngoài vợ ngoài chồng, nhưng hậu quả phía sau thật khôn lường khó đoán định.

Là người phụ nữ dù có gia đình hay chưa có, cũng nên đọc qua bức tâm thư sau đây của một người mẹ có con là ‘người thứ ba’.

“Gửi con gái của mẹ! Con à, có thể những lời của mẹ lúc này sẽ là vô nghĩa khi con nghĩ, tình yêu có lý lẽ riêng của nó.

Mẹ cũng từng nghĩ như con, cũng đã sống chết để yêu và hết lòng hết dạ vì một người đàn ông. Và đến khi mẹ phát hiện người ta có vợ, mẹ thật sự quá đau lòng. Ngày đó không tiên tiến và hiện đại như bây giờ, con người ta cũng không mạnh mẽ để vượt qua những rào cản như bây giờ. Thế nên, khi mẹ biết người ta có gia đình, mẹ đã tuyệt vọng vô cùng, thậm chí là nghĩ đến cái chết. Yêu tới mức phải khổ đau, yêu tới mức phải khóc lóc để rồi lựa chọn buông tay. Buông tay một cách bất lực để gia đình người ta được đoàn tụ yên ấm.

Tình cảm trên thế gian này không có sự phân biệt ai sai ai đúng, bất kể là người con trai hay người con gái gặp được đúng đối tượng tâm đầu ý hợp với mình vào khoảng thời gian sai lầm, tất cả chỉ là có duyên mà không phận. Nếu con càng cố cưỡng cầu tìm mọi cách để đạt được điều mình muốn, có lẽ người bị thương không chỉ là bản thân con.

Mẹ biết con rất yêu người đó. Anh ta có lẽ cũng có cảm tình với con. Nhưng điều đó chẳng đủ để anh ta vứt bỏ cả lòng tự trọng, sự kiêu hãnh, vứt bỏ cả gia đình vợ con, và tìm đủ mọi cách để đến được với con.

Con có vui không khi nhận một thứ tình cảm mà con biết rằng không phải là sâu nặng, không phải là chân thành. Bởi nếu là người chân thành, một người đứng đắn thì không bao giờ dây dưa với người con gái khác khi đã có gia đình. Hoặc là họ phải dứt khoát rõ ràng với người cũ để đến với con. Con đừng đứng ở giữa họ, đừng phá hoại hạnh phúc gia đình họ. Càng đừng bao giờ vì chút ích kỷ ham muốn cá nhân mà lấy đi niềm hạnh phúc khi có cha của những đứa trẻ.

Con hãy luôn nhớ rằng đời người cũng giống như một vở diễn trên sân khấu và trình tự từng cảnh xuất hiện trên sân khấu là rất quan trọng, chỉ có đúng lúc đúng thời điểm mới là tốt nhất. Cho dù con và người ấy có yêu nhau đến đâu đi nữa, rồi thì sao, con người ai cũng có những nguyên tắc và giới hạn căn bản nhất của bản thân, cũng có những việc mà vì bất kể điều gì cũng không thể làm.

Lúc này có lẽ con sẽ nghĩ: Đời người sống được bao lâu, cần gì quan tâm tới tương lai, tới lâu dài, chỉ cần có những thứ hiện tại là đủ.

Có lẽ đó là cách sống của lớp trẻ độ tuổi như con, đó là suy nghĩ của đại đa số những người trong giới trẻ hiện nay. Nhưng con đã bao giờ thử tĩnh tâm và suy nghĩ về đoạn ký ức không vinh dự mà mình đang cố nắm giữ đó. Cho dù tình yêu đó có tốt đẹp đến đâu nhưng con vẫn luôn mang hình ảnh của kẻ thứ ba, kẻ chen chân vào tình cảm và hạnh phúc gia đình họ, là người phá vỡ hạnh phúc gia đình họ.

Có thể con cho rằng những kỷ niệm bên cạnh người mình yêu sẽ mãi tốt đẹp, nhưng kết quả thường ngược lại. Cuộc sống yên bình của con sẽ mãi mãi không thể che lấp đi đoạn ký ức không vinh quang đó trong đời. Cuộc sống của con sẽ mãi bị cái bóng ma đó bao phủ, và nó làm con trở nên mặc cảm muốn thoát ra mà không cách nào thoát được.

Có lẽ con cho rằng hồi ức là một loại hạnh phúc nhưng con hoàn toàn sai rồi. Nụ cười của con có rạng ngời tới đâu cũng không xua tan được sự ưu sầu trong nội tâm chất chứa dày vò mặc cảm tội lỗi. Tình yêu nếu mất đi sự cân bằng chẳng qua chỉ là sự bố thí cao thượng mà thôi. Một tình yêu thật sự là sự tôn trọng chứ không phải dẫm đạp lên giá trị của bản thân, nếu thiếu đi sự tôn trọng, có sống với nhau cũng không thể hạnh phúc.

Nếu đã biết làm người thứ ba, thân phận bị vùi lấp như vậy, tại sao người ta lại cứ muốn lao vào?

Có lẽ con sẽ nói, kỳ thực những điều này con đều hiểu nhưng một khi đã yêu rồi thì không cách nào tự kiềm chế, người thông minh tới cỡ nào đi nữa, trong tình yêu cũng trở nên ngu xuẩn.

Nhưng con à, con hãy luôn nhớ, một điều tình yêu ngoài hôn nhân không thể chịu nổi sự thử thách của thời gian, bất cứ lúc nào cũng sẽ bị thời gian tách ra. Khi hết thời kỳ lén lén lút lút, khi bị bắt quả tang quanh co giữa đường giữa phố… lúc đó con mới bừng tỉnh hiểu được trái đất dù có xoay chuyển thế nào cũng không thể quay lại ngày hôm qua tốt đẹp…

Tình cảm là thứ quý giá nhất của con người. Con đã chấp nhận trao đi trọn vẹn, sao đành chịu nhận về chút nửa vời từ những người đàn ông đã có vợ. Đời người không chỉ có duy nhất một lần yêu. Có thể hôm nay con tâm niệm rằng mình chỉ yêu người đàn ông ấy, muốn sống bên cạnh anh ta đến trọn đời, nhưng rồi sẽ đến lúc con nhận ra, anh ta chỉ là một người đi cùng con trên một đoạn đường. Bởi một người dễ thay đổi tình cảm, ruồng rẫy vợ con để đến với con thì cũng có thể họ sẽ bỏ rơi con để đến với một người thứ 4, thứ 5 nào đó. Đừng nghĩ rằng, kéo được người ta về bên con, người ấy sẽ ở bên con mãi mãi. Đó chỉ là điều con ảo tưởng mà thôi.

Vậy thì tại sao con phải phí hoài những năm tháng đẹp đẽ nhất, để giành giật một thứ tình cảm mà chính bản thân con cũng không chắc chắn rằng nó có bền lâu hay không.

Đó là chưa kể, con sẽ bị miệng đời phỉ báng. Con nghĩ rằng, khi con thành công kéo được người ấy ở bên mình, mọi người sẽ chúc mừng con sao? Không đâu. Chẳng có một danh từ mỹ miều, tôn vinh nào dành cho một kẻ thứ 3, giật đi tình vợ chồng, tình cha con từ tay kẻ khác đâu con. Con có chịu được không khi người ta gọi con là “vô lại”, “đứa giật chồng”, “kẻ cơ hội”, “kẻ hám tiền, hám lợi” … Dù sự thật rằng con đến với người ta bằng tình yêu, bằng rung động của trái tim.

Làm một người thứ 3, dù con có hét khan cả cổ rằng “tôi yêu anh ấy” thì chữ “yêu” thoát ra từ miệng con lọt vào tai người khác cũng trở thành thô tục, bỉ ổi và hết sức giả tạo. Chẳng có chút đẹp đẽ, lãng mạn nào như nó vốn có.

Làm người thứ 3, nhục nhã thế đấy con có chịu được không?

Chấp nhận làm người thứ 3, con cũng sẽ không còn lương thiện nữa.

Thế nên, hãy buông bỏ cái thứ tình cảm đang đỏ hỏn ấy của con ngay từ bây giờ đi. Người đàn ông ấy có thể tốt thật đấy, nhưng ngoài kia vẫn có những người tốt hơn. Họ sẽ yêu con chân thành, sâu đậm và trọn vẹn như cái cách con đã yêu.

Đời người con gái, đẹp nhất là khi yêu và được yêu. Làm người thứ 3, con sẽ phải suốt ngày lo được lo mất, toan tính những cách để níu giữ, tranh giành với một người phụ nữ khác. Con sẽ trở nên ích kỷ và hẹp hòi. Thậm chí sẽ trở thành một người mưu mô và vụ lợi. Con làm đẹp cho mình chẳng còn là để hưởng thụ mà là sự ép buộc để gây chú ý với ai đó. Con đánh mất đi bản chất thiện lương của mình chỉ để giành lấy một trái tim chẳng hoàn toàn hướng về con.

Con chấp nhận để mình biến thành kẻ xấu xa như vậy sao con gái?

Hãy quay đầu lại đi con. Đừng để mình đi lầm đường bởi những tình cảm đặt không đúng người như thế. Họ không xứng đáng với tình yêu và tuổi trẻ của con. Tương lai của con, hạnh phúc của con không nằm trong tay những người đã có vợ kia. Mà ở trong chính tay con, hãy trao nó cho người xứng đáng.

Còn người đàn ông con đang yêu kia, hãy đứng bên cạnh và chúc phúc cho gia đình họ là được rồi.

Đừng bước tới thêm nữa. Đừng cố gắng làm người thứ ba. Con sẽ chẳng có gì cả, ngoài sự tổn thương”.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:15 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Hai người phải có rất rất nhiều duyên phận mới có thể gặp nhau trên một con đường.

Trước đây có một cô gái và một chàng trai đã thề nguyện sẽ nên duyên vợ chồng. Nhưng một thời gian sau, chàng trai đột nhiên đi lấy vợ. Cô gái vô cùng đau khổ và tuyệt vọng.

Một hôm cô đến ngôi chùa cổ mà trước đây hai người thường hay đến với dáng vẻ buồn rầu, ủ rũ.

Vị ni cô thấy vậy liền hỏi cô: “Thí chủ lần này đến đây một mình lại mang vẻ mặt bi thương như vậy, chắc hẳn đã có chuyện đau buồn xảy ra?”

Cô gái được người hỏi đến chuyện thì như mở tấm lòng, kể hết lại chuyện tình duyên giữa hai người họ. Cuối cùng cô cũng hỏi vị ni cô vì sao mà hai người đã có tình cảm sâu đậm như vậy mà cuối cùng vẫn không nên duyên được với nhau.

Vị ni cô nói: “Người xuất hiện trong cuộc đời mỗi người đều không phải là ngẫu nhiên. Hai người buông tay nhau thì chỉ trong nháy mắt nhưng nắm tay thì phải mất hàng trăm, ngàn năm. Vô luận là thí chủ gặp ai thì người đó đều là người nên xuất hiện trong cuộc đời, cũng không hề ngẫu nhiên. Hết thảy đều là duyên phận.”

Kỳ thực, đời người chính là một chuyến lữ hành. Thân thể của mỗi người chẳng qua chỉ là nhà khách của linh hồn. Trong luân hồi đời đời kiếp kiếp thì kiếp này cũng chính là lữ khách mà thôi.

Hai người phải có rất rất nhiều duyên phận mới có thể gặp nhau trên một con đường, gặp nhau ở một nơi, gặp rồi lại đi và lại gặp …

Cũng có những người mà ở trên thế gian này nơi gặp nhau không phải là ở trên đường, mà là ở trong lòng. Cũng có một loại tình cảm không phải là luôn luôn ở bên nhau mà yên lặng làm bạn của nhau.

Suy cho cùng, kiếp này gặp nhau, hết thảy đều là duyên phận!

Phật gia cũng có câu rằng: Kiếp trước phải có năm trăm lần ngoái đầu nhìn lại mới đổi được một chút gặp thoáng qua trong kiếp này.

Kiếp này gặp nhau đã là duyên phận thì hà cớ gì phải đi oán hận, làm kẻ thù của nhau?

Duyên khởi, duyên diệt, duyên tụ, duyên tán, hết thảy đều là thiên ý, chúng ta nên quý trọng!st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:18 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Nhất Linh: Linh hồn của Tự lực văn đoàn.
Phong Linh.

Có thể một Nguyễn Tường Tam - nhà chính trị đã thất bại nhưng một Nhất Linh - nhà văn thì sống mãi trên văn đàn Việt Nam.
Nhất Linh là con thứ 3 trong một gia đình có 7 người con là Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm. Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn Tường Bách.

Nhất Linh thành lập Tự lực văn đoàn gồm 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu. Nghiệp văn của ông cũng gắn liền với 7 truyện dài tiêu biểu: Nắng thu, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng, Lạnh lùng, Xóm cầu mới và Dòng sông thanh thủy.

Trong 7 tác phẩm của Nhất Linh, đến nay, đã có 5 tác phẩm được ra mắt công chúng trong nước, còn 2 tác phẩm là Xóm cầu mới và Dòng sông thanh thủy – những sáng tác sau năm 1945, thì mới chỉ được biết đến ở hải ngoại.

Tự Lực Văn Đoàn thành lập vào trung tuần tháng 7/1933, gồm toàn bộ nhân viên toà soạn báo Phong Hoá: Nhất Linh, Khái Hưng, Tứ Ly (Hoàng Đạo), Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ.

Mặc dù là người quyết đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế một ông bầu và một ông chủ báo, hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hết các ông chủ báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức. Ông hòa hợp mật thiết với anh em, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác tất cả mọi việc không khác gì anh em.

Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại.

Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận thuyết trên các báo Văn học tạp chí, Duy tân (dưới bút danh Bán Than) sang viết tiểu thuyết. Tú Mỡ được ông gợi ý chuyên làm thơ trào phúng. Trọng Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”…

Có ai ngờ được rằng bấy nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp án chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn nghiễm nhiên là một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận. Và mỗi thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cái hình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch.

Không ai còn có thể tranh ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến giọng thơ trào phúng kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn. Cũng không thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà về sau ít người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ.

Nhất Linh - Nghệ sĩ đa tài

Nhất Linh trước hết là một nhà văn. Ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng, không mỏi.

Thời Tự lực văn đoàn, vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên mê thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy việc phân tích các biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn), rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết khơi sâu vào những miền khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhất trong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi” phân thân, tự hủy, ít nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng)...

Trong rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của Nhất Linh, Đôi bạn đem lại cho độc giả nhiều ấn tượng.

Câu chuyện, xúc cảm, nhân vật, khung cảnh, tất cả đều bao trùm một màu sắc đẹp đẽ vô cùng thanh thản, dễ chịu và nó sẽ khiến một tấm lòng dịu dàng lại. Dĩ nhiên, cái buồn bã bao trùm ở cuốn tiểu thuyết này cũng là một đẹp đẽ ướt đẫm được biện giải bằng một thứ văn phong óng ánh, tươi tốt như nắng ban mai, vừa có nét đưa đẩy gợi cảm, lại điềm đạm như lời thầm thì tự sự.

Chất nội tâm chảy trôi, êm đềm lại khắc khoải của các nhân vật, đặc biệt là Dũng, được Nhất Linh tỏ bày bằng thứ văn chương khoan thai nhàn nhã. Đôi bạn chú trọng vào những “dòng ý thức” của nhân vật, diễn tả tâm lý sâu xa, chứ không còn lưu tâm nhiều đến kịch tính cốt truyện như trong những tác phẩm trước đây của Nhất Linh là Đoạn tuyệt hay Đời mưa gió...

Không chỉ là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng, Nhất Linh còn là một nhà thơ, một họa sĩ tài năng.

Ít ai biết được trước khi đến với văn chương, Nhất Linh từng là sinh viên khóa đầu tiên của trường Mỹ Thuật Hà Nội. Bạn cùng lớp với ông có Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ,Mai Trung Thu, Lê Ang Phan… những người mà sau nầy được xem là lớp họa sĩ tiền phong cho nền hội họa Việt Nam hiện đại.

Mặc dù sau năm 1929 Nhất Linh không sống về nghề vẽ như một họa sĩ chuyên nghiệp nhưng lòng mê say hội họa của ông vẫn theo ông cho đến cuối đời. Ông dùng tài vẽ của mình, theo từng giai đoạn, hoặc để làm báo, hoặc vẽ theo cảm hứng.

Với báo Phong Hóa và Ngày Nay trước kia ông ký tên Ðông Sơn và sau này với Văn Hóa Ngày Nay ông ký tên Nhất Linh trên những bức vẽ. Có một số bức họa rất nổi tiếng của ông như Cảnh phố chợ Đông Phương, hay Cúc xưa...

Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam mất ngày 7/7/1963 vì tự vẫn bằng một loại thuốc ngủ rất nặng. Cái chết của ông nhằm phản đối quyết định mà chính quyền đương thời bắt ông ra trình tòa vì tội tham gia đảo chính. Ngày ông phải đứng trước tòa là ngày 8/7/1963.

Sinh thời, nhiều người vẫn nói, kỹ thuật viết văn của Nhất Linh bị chi phối và chịu ảnh hưởng nhiều bởi lối viết của Lev Tolstoi, nhưng với Nhất Linh cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại là cuốn Đồi gió hú của Emily Brontë. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết duy nhất ông dịch trong đời. Ngay cả lúc quyên sinh, ông cũng nằm cạnh cuốn sách này.

Đúng như di chúc Nhất Linh để lại, đời ông lịch sử sẽ phán xét. Thế nhưng ông đã tự nhận ra rằng: trong cuộc đời của mình, Nguyễn Tường Tam đã thất bại khi làm chính trị, chỉ còn một nhà văn Nhất Linh sống mãi trên văn đàn Việt Nam.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:25 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Sài Gòn xưa: Đô la đỏ & hàng PX
Trang Nguyên •

Trên trang mua bán eBay, tôi thấy có nhiều loại tiền đô la đỏ thường gọi là MPC (Military Payment Certificate) mà quân nhân và các cơ quan dân sự Mỹ dùng để thanh toán trong thời chiến tranh Việt Nam. Đồng đô la đỏ được chính phủ Mỹ in ra để người Mỹ đóng quân ở hải ngoại tiêu xài, khi về nước hoặc đi nghỉ phép tại một quốc gia khác được đổi sang đồng đô la xanh (tức tiền lưu hành trong nước) tuỳ theo mức lạm phát tiền tệ của mỗi nước. Chẳng hạn ở miền Nam Việt Nam, thời gian 1968, 180 đồng đô la đỏ đổi được 100 đồng đô la xanh.

Ai thích sưu tập tiền MPC thì cứ vào eBay, tùy theo năm in và số series có giá chênh lệch rất lớn. Tờ 10 đồng đô la đỏ, số series (641) chỉ có giá $29 trong khi số series (692) giá đến $240, thậm chí có loại lên đến cả ngàn lần. Và còn nhiều loại tiền MPC mệnh giá thấp như tiền cent giấy có giá trị khá cao. Thế mới biết, những tờ tiền giấy lộn sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, vẫn có một giá trị nhất định nào đó.

Từ sau Thế chiến II, chính phủ Hoa Kỳ đã cho in tiền MPC dùng giao dịch tạm thời cho quân nhân Mỹ và các cơ quan đóng tại nhiều nước ở châu Âu và châu Á. Sau chiến tranh, nền kinh tế các nước lâm chiến kiệt quệ, đồng tiền bản xứ mất giá nên dân chúng có khuynh hướng giữ đồng đô la (xanh). Tiền MPC tiếp tục được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1965 cho đến thời điểm Mỹ rút quân về nước năm 1973. Trong khoảng thời gian này, chính phủ Mỹ đã tiến hành đổi tiền 4 lần, số series mỗi lần đổi tiền thường khác nhau: Series 641 (1965-1968), 661 (1968-1969), 681 (1969-1970), 692 (1970-1973) và một series 691 đã thiết kế bản kẽm nhưng không bao giờ in vì cuộc chiến kết thúc.

Chính phủ Mỹ phải tiến hành đổi tiền đô la đỏ liên tiếp trong thời gian từ năm 1960 đến 1973 do mức lạm phát phi mã của đồng tiền Việt Nam Cộng Hoà. Sự chênh lệch giá trị của đồng đô la đỏ và đô la xanh trở thành dịch vụ mua bán tiền tệ rất hấp dẫn đối với giới áp phe, môi giới mua bán tiền từ một số nhân viên người Việt làm cho các công ty dân sự cũng như nhà thầu các dịch vụ quân sự của Mỹ. Bên cạnh đó, đội quân gái quán bar, vũ nữ cũng là những người môi giới rất hiệu quả cho nhiều quân nhân Mỹ tham gia mua bán đồng đô la để hưởng chênh lệch.

Những cuộc đổi tiền thường không báo trước được gọi là “C Day” (Conversion Day), các cơ sở quân đội Mỹ cấm trại trăm phần trăm, ai có bao nhiêu tiền trong túi cứ mang ra quy đổi giá trị ngang bằng của loại tiền MPC mang số series mới. Tiền mang số series cũ trở thành những tờ giấy lộn không còn giá trị sử dụng. Chính vì không sử dụng lại đồng tiền có số series cũ nên nhiều người đầu cơ buôn bán đô la đỏ sau một đêm trắng tay. Tuy nhiên, sau ngày đổi tiền chuyện mua bán lại cứ tiếp diễn vì món lời béo bở không chỉ ở giá trị chênh lệch của đồng đô la đỏ mà còn dùng tiền MPC để mua hàng PX bán ra chợ trời.

Nói đến hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng hậu cần của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ mua sinh hoạt ở các nước Mỹ đóng quân. Ðặc biệt ở miền Nam Việt Nam, hàng PX có mặt từ thời ông Diệm. Nghe nhiều người lớn tuổi nói vào thời gian này, hàng PX ngoài việc cung cấp cho người Mỹ, còn là hàng viện trợ phát không trong dân chúng, nhất là khoảng thời gian người miền Bắc di cư vào Nam. Từ năm 1966, hàng loạt các cửa hàng PX mọc lên khắp các tỉnh thành có quân đội Mỹ đồn trú. Thành phố Sài Gòn có hai cửa hàng lớn, một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majectic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu.

Trong một cuốn sách ghi nhận những cảm xúc và kỷ niệm của các cựu quân nhân Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, có nhiều đoạn nói lên sự thích thú khi mua sắm hàng PX. Ông Ramon L. Alamo Hermandez, cựu chiến binh người Mỹ gốc Puerto Rico viết: “Tôi đến miền Nam Việt Nam năm 1969 phục vụ ở Sư đoàn Kỵ binh số 1 với công việc vận chuyển hàng hoá PX đến các đồn trú quân Mỹ mỗi tuần hoặc hai tuần bằng máy bay vận tải trực thăng. Cứ đến kỳ lãnh lương trong tháng là chúng tôi bay hết căn cứ này đến căn cứ nọ. Bọn lính tráng thích mua bia và các vật dụng cá nhân. Bia rẻ lắm chỉ có $2.40 một thùng 24 lon, và còn gì thích thú bằng sống ở một nơi nóng bức, được tha hồ uống bia ướp lạnh, ăn phô mát con bò cười (phô mai đầu bò). Tôi làm nhiệm vụ chở hàng PX nhiều lần đến các căn cứ nhưng lần đầu tiên tôi mua hàng PX ở Việt Nam là một chiếc máy chụp ảnh lấy liền Polaroid, những lần sau đó tôi mua cả dàn loa Sansui và đầu băng từ hiệu Akai gởi về quê nhà. Hàng PX bán ở Việt Nam có giá rẻ hơn ở Mỹ để phục vụ đời sống lính chiến đấu nên chúng tôi mua sắm thả ga. Thậm chí hàng PX có bán xe hơi, có người môi giới cho tôi mua vận chuyển về quê nhà ở Puerto Rico”.

Hư thực chuyện hàng PX có bán xe hơi không biết có chính xác, có thể là xe gắn máy Honda Dame đỏ do Mỹ viện trợ cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa sử dụng công vụ. Trong khi ở Mỹ không có loại xe rẻ tiền và bền này nên việc mua một chiếc xe gắn máy từ Việt Nam gởi về quê nhà là điều dễ dàng. Hàng PX có đủ các loại từ những mặt hàng phục vụ cá nhân, ăn uống, trái cây, thực phẩm, giải trí, hàng điện tử tivi, máy hát, tủ lạnh cho đến các loại trang sức vàng, bạc và kim cương để quân nhân Mỹ mua tặng cho thân nhân ở quê nhà.

Hàng hoá PX ở các tỉnh không đa dạng bằng hàng hóa PX ở Sài Gòn, nên nhiều quân nhân Mỹ nghỉ phép đi Sài Gòn ghé cửa hàng PX tha hồ mua sắm. Tiền lương mỗi tháng 600 đô (trong khi lính Việt Nam Cộng Hòa chỉ có 20 đô) thì sức tiêu xài của lính Mỹ quả là một thị trường mua bán hấp dẫn và làm giàu cho nhiều giới đầu cơ mua bán tiền đô. Ngoài lương, nhiều quân nhân Mỹ còn có thân nhân ở Mỹ gởi tiền đô la xanh qua hộp thư để tiêu xài thêm khi cần. Hệ thống PX ở Việt Nam có trị giá thương mại hằng năm đến 300 triệu đô la nhưng đằng sau đó hệ thống PX phục vụ cho quân đội Mỹ này cũng xảy ra nhiều vấn đề khiến cả chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lẫn Hoa Kỳ đau đầu để giải quyết, khi hàng hóa trên kệ hàng liên tục bị mất cắp và tuồn ra thị trường chợ trời.

Một bài báo của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ. Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho hậu cần của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Tất cả mọi loại hàng hoá đều có mặt tại các chợ trời. Hàng điện, điện tử xuất hiện ở chợ Huỳnh Thúc Kháng; hàng thực phẩm bán đầy hai bên phố đoạn ngã ba Kỳ Ðồng với Nguyễn Thông kéo dài tới vách tường ga xe lửa hoặc dọc theo thương xá Tax; quần áo lính chiến hoặc các loại quân nhu cứ ra chợ Dân Sinh đều có tất cả; muốn mua rượu ngoại, thuốc lá Salem hay Pall Mall thì ra Chợ Cũ có hết. Chỉ hai cửa hàng PX ở Sài Gòn và Chợ Lớn phục vụ cho quân nhân và nhân viên dân sự Mỹ đã tạo ra thêm mấy cái chợ trời phục vụ cho mọi tầng lớp dân chúng Sài Gòn có cơ hội được xài hàng Mỹ và một bộ phận giới đầu cơ mua bán tiền tệ sống khoẻ re.

Có lần tôi đến thăm người bạn vừa mới có thân nhân sang định cư theo diện làm sở Mỹ. Bà chị của người bạn này trước đây từng làm nhân viên bán hàng PX ở Chợ Lớn. Hỏi về chuyện hàng hóa tiêu dùng ở chợ trời và việc nhân viên bán hàng PX thời ấy “làm ăn” ra sao, chị đáp: “Có con chuột nào sống trong kho gạo mà không ăn gạo bao giờ”.

Trang Nguyên
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 03:31 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Nhớ Sài Gòn, chốn cũ đường xưa: Xe Velo Solex với áo dài
Share

Những cô nữ sinh thanh mảnh trong áo dài trắng, điệu đàng hai chân khép nép đi Solex đã từng làm thằng con trai mới lớn mê mẩn cái thần hồn.

Solex trên đường phố Sài Gòn

Năm 69, vừa vào năm học lớp đệ tứ (lớp 9), má tôi mua cho tôi một chiếc xe Velo Solex (còn gọi là xe Velo) cũ – màu đen nguyên thủy không còn như xưa nữa – cái màu đen đặc trưng của xe Solex.

Lúc ấy, lũ bạn con trong lớp chúng tôi có đứa đã có xe hon da C50, xe PC thì xe Solex thuộc loại “cà ràng ông táo”, có từ thời Bảo Đại. Dù xe cũ nhưng tôi vẫn đắm đuối với nó và nghĩ rằng khi mình ngồi trên chiếc Solex thì sẽ rất là… mục diện thư sinh.

Hình dáng chiếc Solex đã ám ảnh tôi từ thời tiểu học khi tôi thấy cô giáo của mình rất đáng nể trên chiếc xe đen trùi trũi chạy lẹ hơn xe đạp.

Rồi khi vào trung học, hình ảnh những cô nữ sinh thanh mảnh trong chiếc áo dài trắng, điệu đàng hai chân khép nép đặt trên chỗ để chân nằm chính giữa thân xe, hoặc hờ hững đặt trên bàn đạp để gió vờn vòng eo thân áo làm cho những thằng con trai mới lớn mê mẩn cái thần hồn.

Xe Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946.

Thời ấy, nước Pháp tự hào với “chiếc xe đạp tự động – la bicyclette qui roule toute seule”.

Xem lại báo Pháp cũ thấy hình nhiều ông tây to thù lù thượng nguyên người trên chiếc Solex thấy mà thương.

Có hai cách khởi động xe Solex.

Một là – như các tiểu thư từ tốn gắn đuôi áo dài vào phía sau “bọt ba ga”(yên sau), leo lên chiếc xe, đạp nhẹ “pe đan” vài cái lấy trớn rồi từ từ thả nguyên cái ề động cơ phía trước xuống để cục đá cạ vào bánh xe cho máy nổ.

Còn cách thứ hai thường dành cho bọn con trai “cu bồi”, muốn lấy le với mấy em gái tỉnh lẻ là đẩy cho xe chạy rồi nhảy lên yên (có cảm giác như phi ngựa) rồi đẩy động cơ ra.

Nếu gặp may thì chiếc Solex nổ ngay, còn nếu không thì xe Solex sẽ trở thành xe vừa “xô” (đẩy) còn chủ của nó thì “lết” theo.

Bây giờ xe Solex đã trở thành xe vừa xô vừa lết.

Xe Solex trông rất nữ tính nên loại xe này các cô thiếu nữ đi rất đẹp.

Bởi vậy, từ những năm 50 đến gần cuối 70, nữ giới Sài Gòn rất thích đi xe Solex vì phơi bày được cái đẹp nữ tính của mình.

Tôi rất đồng tình với một nhận xét “Có điều lạ, cũng là xe gắn máy, nhưng nhìn một cô gái ngồi trên chiếc Solex thấy rõ sự khác biệt với cô gái ngồi trên chiếc Mobylette. Hình như có đôi nét thanh tao, duyên dáng ở Solex mà ở Mobylette thì dứt khoát không có. Cũng vì lý do đó mà Sài Gòn thời ấy phụ nữ ít đi xe Mobylette.”

Và cũng Không nhà văn, nhà thơ nào ca ngợi những chàng trai đi Solex dù cho chàng trai đó đầy… nữ tính. Họ chỉ ca ngợi những nàng thiếu nữ mặc áo dài trắng, đầu đội nón lá và sau bọt ba ga có ràng một chiếc cặp da.

Tại sao thiếu nữ đi Solex lại là hình ảnh đẹp?

Hãy nghe nhà văn Nguyễn Trọng Văn bình luận “Con gái đi Solex trông đẹp hơn Mobylette.Thế ngồi gợi cảm và kín đáo nhất là thế ngồi chân co chân duỗi trên Solex tà áo sau tung bay….

Mông đùi người con gái dừng Solex chờ đèn xanh trở thành gros plan qua khung cửa xe taxi. Biết có người nhìn, cô lấy tay che vạt áo trước, sửa lại khuy và vuốt nhẹ tà áo sau nhưng không che được gì cả” (Văn học Sài Gòn số 76).

Không biết giữa chiếc xe sản xuất từ Pháp và cái áo dài Việt Nam có “mối quan hệ biện chứng” nào không?

Cũng có thằng bạn không còn trẻ ngồi nhớ lại quá khứ nhận định: Xe Solex đẹp nhờ phụ nữ mặc áo dài. Anh ta cũng cho biết thêm bà vợ của anh khi còn trẻ thích đi Solex vì đang mặc chiếc áo dài. Còn tôi đã từng mơ được ngồi yên sau xe Solex mà nhìn ngắm bờ eo thon – dù ngồi phía sau rất là “ông cái mê” – nhưng vẫn không có cơ hội đạt được dục vọng thấp hèn đó.

Những cặp tình nhân chở nhau bằng xe Solex thì chắc chắn rất thanh tao, không có màn áp má, ôm eo được vì yên sau xe Solex thấp hơn yên người cầm lái rất nhiều. Người ngồi sau chỉ thấy được lưng chẳng thấy gì…

Tụi con trai mới lớn thì không thích xe Solex vì “xe nầy dành cho con gái”, có điểm yếu là đi chậm và do động cơ lại nằm ở phía trước tay lái nên đầu xe hơi nặng.

Nam giới thì khoái những loai xe bốc hơn như Puch, Gobel, Sachs , Lambretta, Vespa rồi sau nầy đến triều đại của các loại xe Nhật như Honda, Kawasaki, Suzuki… nên chẳng thèm ngó ngàng gì đến chiếc Solex chậm rì, trời mưa thì coi như thất thủ vì bánh xe trơn không cọ vào cục đá được.

Đến khi xe Honda C50 – loại xe dành cho nữ giới xuất hiện thì xe Solex dần dần lui vào mấy tiệm sửa xe để họ lấy cái đầu biến xe Solex thành xe đạp.

Nhưng vì hình dạng chiếc Solex đẹp, nữ tính và được giới nữ ưa chuộng nên sau nầy hãng Honda nhạy bén cho ra đời chiếc PC và mobylet thì có chiếc Candy có hình dáng từ tựa chiếc Solex.

Nhưng thời gian ơi, xe Solex chỉ còn nằm trong tay những nhà sưu tập để nhìn ngắm, vuốt ve, lau chùi và ca ngợi vẻ đẹp của loại xe này.

Solex chỉ còn được trưng bày trong một vài quán cà phê mang danh hoài cổ, cho những người già nhớ lại thời đã qua, còn người trẻ nhìn để biết chiếc xe chậm chạp nầy có thời đã tung hoành đường phố Sài Gòn.
Dù đẹp và dễ yêu cỡ nào đi nữa thì Solex vẫn không còn phù hợp với thời đại này vì tốc độ chậm chạp, không tiện lợi bằng xe đời mới.

Xe Solex đã thuộc về thời đại áo dài khép nép còn bây giờ quần Jean Short khoe đùi trắng nõn mà ngồi trên chiếc xe đen như dế than chạy chậm rì thì các cô gái Sài gòn thời nay đâu chịu.

Đâu còn em Sài gòn Solex áo dài, cho tôi nhớ một thời tuổi ngọc. Thời hiện đại, Sài gòn Solex không còn nhanh, nhà thơ Nguyên Sa ơi!

Theo Lê Văn Nghĩa

Các xe gắn máy như Mobylette, Honda, Goebel… đều có bộ máy nổ nằm chính giữa thân xe và để xe chạy được thì cần phải có bộ sên kéo bánh xe sau khi máy nổ.

Nhưng xe Solex thì ngược đời – chính cái bánh xe trước chạy để kéo bánh sau, ngay phía trước tay lái là một động cơ, có bình xăng con chứa chừng 1 lít rưỡi xăng treo trên tay lái. Động cơ này khi nổ sẽ làm cục đá gắn trong động cơ quay tròn.

Muốn cho xe chạy thì người lái thả động cơ ra để cục đá cạ vào bánh xe trước . Cục đá lăn thì bánh xe trước lăn. Bánh xe trước lăn thì kéo theo bánh sau chạy.

Nếu xe không nổ máy vì lý do nào đó thì chỉ cần kéo động cơ gắn vào một cái chốt cố đinh phía ghi đông thì bây giờ chiếc Solex đã trở thành chiếc xe đạp.

Giống như chiếc xe đạp nhưng Solex nặng hơn vì khung sườn làm bằng sắt để cân bằng cái đầu và đít xe. Nếu không cân bằng thì khi lái xe sẽ chỏng gọng.

Vì vậy Solex được người Pháp xem là một loại xe gắn máy “đờ mi” xe đạp.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-17-2019 , 06:49 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
NIỀM KIÊU HÃNH CỦA NGƯỜI VIỆT⁩ (DÂN TỘC VIỆT NAM)

Có một câu chuyện đã được Giáo sư Trần Văn Khê (1921 - 2015) kể lại nhiều lần cho các học trò của mình và cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964.

Tham dự buổi sinh hoạt này hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy nhất chỉ có Giáo sư Khê là người Việt. Diễn giả hôm ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp. Ông khởi đầu buổi nói chuyện như thế này:
“Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được.”
Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Chính vì thế, khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu với khán giả tham dự, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu:
“Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam 20 năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam?

Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng ‘chọn mặt gửi vàng’, với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu”.
Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ như:
“Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời, không thấy người yêu”
Hay:
“Đêm qua mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa”
Để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.
Còn về số lượng âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên, gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”

Dịch nghĩa là:

“Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!”
Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam.”
Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”. Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”.

Câu chuyện nhiều cảm hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể gìn giữ tôn nghiêm của dân tộc.
-------------
Nguồn: Thư viện Việt Nam
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-18-2019 , 06:03 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Hãy nhìn xuống để biết cảm ơn những gì đang có, để yêu thương hơn cuộc sống này.

Đức Phật từng nói rằng: “Đời là bể khổ”. Vì thế không chỉ những người đang chìm trong nghèo khó mà ngay cả những ai đang trên đỉnh cao danh vọng, giàu sang cũng sẽ có những phiền muộn riêng. Vậy điều gì có thể khiến cho tâm chúng ta bình lặng và yêu thương nhiều hơn?
Tỉnh dậy sau một đêm dài trằn trọc mất ngủ với con thơ, Phương uể oải rời khỏi giường và chuẩn bị đi làm.

Đang trên đường đi đến sở làm thì xe máy của Phương bỗng nhiên bị xì lốp sau. Đôi giày cao gót đứt quai khi cô vừa dắt xe tới chỗ sửa. Biết sẽ đi trễ nên Phương rút điện thoại ra định gọi báo cho sếp thì điện thoại hết pin. Khi vừa kịp lái xe đến cơ quan thì than ôi, cô đã bỏ lỡ một cuộc họp quan trọng và bị sếp mắng té tát bất chấp lời thanh minh. Tuy rất đói nhưng Phương không thể nào ra ngoài ăn sáng vì trót đi làm trễ, công việc lại quá nhiều, cô phải ráng đợi tới trưa. Vậy mà buổi trưa người ta cũng rất lâu mới đem đồ ăn tới cho cô, hơn nữa trong canh còn sót một con sâu khiến cô phát hoảng bỏ dở bữa ăn.

Sau một ngày làm việc không thuận lợi, Phương lái xe lững thững đi về nhà. Trong tâm cô thầm than vãn trách móc sao mà cuộc sống quá nhiều việc không hay đến với mình như thế. Chồng thì không lo làm ăn như người ta nên mình Phương phải gánh vác kinh tế cho cả nhà, đã vậy mà anh ta còn không hiểu, không chăm con giúp Phương, để tối qua mình cô phải rã rời với nó, bị sếp la hoài vì tội đi làm trễ thì lương thưởng cũng trì trệ theo, biết đâu xui xẻo bị đuổi việc thì lấy tiền đâu nuôi con. Than ôi… sao mà cuộc sống cô bế tắc như vậy, cô chỉ muốn đi đâu đó thật xa thoát khỏi sự khó chịu này.

Đang miên man với những dòng suy nghĩ bực dọc trong đầu, bất giác Phương giật mình vì tiếng rao của cậu bé ven đường: “Đời người sướng khổ mấy khi, mua ngay vé số biết đâu đổi đời, mua thì cảm tạ đôi lời, không mua cũng chúc một ngày an yên”.

Nhìn sang, Phương như tan chảy hết phiền muộn bởi nụ cười hồn nhiên yêu đời của cậu bé. Nụ cười cuốn hút ấy đã khiến Phương phải ghé lại mua một tờ vé số, cô mua không phải vì để trúng thưởng mà chỉ đơn giản vì sự hồn nhiên của cậu làm cô quên hết nỗi mệt nhọc.

Nụ cười không rời khỏi miệng, cậu bé hỏi: “Cô mua vé số ạ?”. Bất giác phía sau có người phụ nữ khắc khổ bồng đứa con tật nguyền thân hình co quắp đi ra, đặt cạnh ghế cậu bé. Người phụ nữ kia không quên quay lại nhắc nhở: “Con chăm sóc anh Hai, mẹ đi nhặt ve chai tý về!”

Phương hỏi han sự tình thì cậu bé kể rằng:

“Mấy hôm nhà cháu trọ chỗ kia nhưng bị bà chủ đuổi vì không đủ tiền nên đến đây. Ba cháu mất sớm rồi cô ạ, vì thế nên mẹ con cháu phải lên thành phố sống được 5 năm rồi”.

“Cháu nhiêu tuổi rồi, không đi học sao ngồi đây bán vé số, ngày cháu bán được nhiều không?”

“Làm gì có tiền mà đi học cô, cháu nghỉ học lâu rồi. Ngày nào tốt cháu bán được 50 tờ đủ bữa ăn thôi vì mẹ phải làm đủ thứ, cháu phải ở nhà trông anh, chứ đủ thứ tiền cô ơi, nào tiền tã này, tiền ăn này, tiền nhà này… sao mà đi học được hả cô, cháu 12 tuổi rồi, còn anh cháu 13 tuổi rồi đấy”.

Phương chợt thấy khóe mắt mình cay cay. Lâu nay cô luôn nghĩ mình sao khổ thế này thế kia, tâm trạng lúc nào cũng không vui sinh ra cáu gắt với mọi thứ xung quanh, gương mặt cô lúc nào cũng u uất buồn bực khiến cho ai nấy không muốn tiếp xúc nhiều. So với cậu bé kia, cô thật cảm thấy xấu hổ quá. Giữa bao nhiêu nhọc nhằn của cuộc sống mà cậu bé vẫn yêu đời như thế. Tuy đã hiểu chuyện và không còn là trẻ thơ nữa, nhưng nhìn vào ánh mắt long lanh ấy Phương chỉ thấy một tình yêu thương vô bờ với gia đình cậu, và sự lạc quan vốn có không một chút buồn phiền.

“Cô ơi, lấy giúp cháu ly nước đằng kia với!”.

Thêm một sự thật khiến Phương ngỡ ngàng, hai bàn chân cậu bé bị úp vào nhau nên cử động bất tiện, cậu phải dùng ghế tập đi hỗ trợ.

Đưa cốc nước cho cậu bé, Phương hỏi: “Cháu bị thế này lâu chưa?”.

“Lúc mới sinh cô ạ, nên cháu chỉ ước có thể đi lại bình thường như bao người để giúp mẹ được nhiều hơn. Mẹ cháu vất vả lắm, chưa bao giờ mẹ sắm một cái gì cho mình cả, làm được bao nhiêu đều để dành hết cho hai anh em cháu. Có nhà giàu kia nhận nuôi cháu, nhưng cháu không chịu, cháu chỉ muốn ở với mẹ thôi, ăn mắm ăn muối cũng được. Cháu hy vọng có thể đi học để giúp mẹ được nhiều hơn chứ bán vé số ít tiền lắm”.

Ôi, một đóa sen tinh khiết, cô thầm nhủ với lòng mình như thế. Bất hạnh chồng lấy bất hạnh nhưng gương mặt ấy vẫn tỏa sáng như ánh bình minh buổi sớm xua tan bóng đêm u ám.

Phương xoa đầu cậu bé mỉm cười: “Bán cô một tờ vé số còn cho lại cháu 50 ngàn nhé”.

“Không cô ạ, mẹ dặn rồi ‘nghèo cho sạch, rách cho thơm’, cô cũng đi làm vất vả nên mua giúp là cháu vui rồi, cháu không nên nhận tiền của ai”.

Dù nói thế nào cậu bé cũng không lấy tiền nên Phương đành giúp mua cậu bé luôn năm tờ vé số rồi về nhà.

Bao nhiêu mệt nhọc buồn bực từ trước đến nay bỗng nhiên tan biến mà thay vào đó là một cảm giác biết ơn. Phương thầm biết ơn Thượng đế đã cho mình một thân thể lành lặn khỏe mạnh để có thể được sống, được làm việc. Phương thầm cảm ơn nụ cười thiên thần ấy đã làm cô thức tỉnh, giữa muôn vàn bất hạnh và nỗi đau nhưng cậu bé vẫn giữ được nụ cười bình yên, lạc quan khiến mọi người xung quanh ai cũng muốn đến gần.

Và nếu không có người anh trai tật nguyền ngồi bên, hay không tinh ý nhìn đôi chân của cậu bé mà chỉ nhìn gương mặt cậu, có lẽ ai cũng cho rằng cậu bé có cuộc sống rất yên ấm, no đủ, hạnh phúc. Nụ cười ấy luôn hiện hữu sự ấm áp yêu thương ngay trong nghịch cảnh khiến ai nấy cũng phải cảm phục. Phương chợt nhận ra, vẻ đẹp nội tâm hay khí chất bên trong của một người thật có sức mạnh to lớn, nó không phụ thuộc vào vật chất hay địa vị, có thể vượt lên tất cả phù phiếm xa hoa bên ngoài và khiến người khác kính trọng.

Sau lần gặp đó, khi gặp chuyện không vừa ý Phương đều nhớ đến nụ cười thiên thần của cậu bé bán vé số và tập mỉm cười nhiều hơn với nghịch cảnh, thay cho sự cau có, oán trách số phận. Cô cũng thấy cuộc sống mình nhẹ nhàng bình yên theo như chính tâm cô vậy.

Trong cuộc sống, có lẽ ai ai trong chúng ta cũng không ít lần gặp những chuyện không vừa ý như Phương, hoặc thậm chí mệt mỏi hơn. Nhưng khi biết nhìn xuống, bạn sẽ biết cảm ơn những gì đang có và sẽ biết yêu thương nhiều hơn.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-18-2019 , 06:07 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Người mẹ xử lý thông minh khi hai con lấy trộm tiền trong ví.

Bạn đối xử thô bạo với con trẻ, con sẽ trả lại bạn sự hung dữ. Bạn đối xử với con bằng sự tinh tế, trẻ sẽ đáp lại bạn bằng lòng biết ơn. Cách giáo dục của bạn quyết định tính cách và thói quen của con. Đối với những trẻ lấy trộm tiền cũng vậy.

Có một câu chuyện như thế này:

Một người mẹ có con trai 12 tuổi và con gái 8 tuổi, để mua một chiếc đồng hồ mới mà cậu anh đã lấy trộm hai tờ 100 ngàn từ ví của mẹ rồi đưa một tờ cho em gái, còn một tờ mình giữ để mua đồng hồ. Người mẹ phát hiện thiếu tiền, cô đoán là con đã lấy, thế nhưng cô không biết là đứa nào.

Một lần trong bữa tối, người mẹ nói với các con rằng: “Mẹ nghĩ ví tiền của mẹ hình như thiếu mất 200 ngàn, có phải là kẻ trộm vào nhà không nhỉ? Mẹ thấy lo quá”.

Cậu anh cúi đầu, cô em gái thì tỏ ra hơi căng thẳng, người mẹ đã xác minh được tiền là do hai con lấy đi. Em gái nhát gan nên lén trả lại tờ 100 ngàn vào ví của mẹ.

Nhìn thấy tờ tiền được trả về, người mẹ mỉm cười, sau đó cô nói với các con: “Hình như mẹ đã nghĩ sai rồi hay sao ấy, mấy ngày trước có nói là thiếu mất 200 ngàn, thật ra là mẹ nhầm, chỉ thiếu 100 ngàn thôi”.

Em gái tỏ ra thản nhiên, nhưng cậu anh vẫn cứ yên lặng. Người mẹ nói thêm một câu: “Mẹ không tin là người nhà mình lấy trộm, có thể là có kẻ trộm vào, chúng ta đi báo cảnh sát đi, các con nghĩ sao?”

Cô em gái liếc nhìn anh trai, cậu anh cũng đã trở nên căng thẳng rồi, nhân lúc mẹ đang nấu cơm, cậu mang 100 ngàn trả lại vào ví của mẹ.

Nhìn thấy số tiền mà các con trả lại, người mẹ cảm thấy rất vui mừng, trong một lần nói chuyện với các con, cô nói: “Mẹ não cá vàng quá, 100 ngàn cũng đâu có mất đi đâu, là do mẹ đếm thiếu, lớn tuổi rồi nên đầu óc hỏng cả rồi…”

Cậu anh và em gái cùng nhìn nhau cười, kể từ đó trong nhà không còn xảy ra việc mất tiền nữa.

Câu chuyện thứ hai
Có một người mẹ đang đi làm thì nhận được điện thoại của giáo viên ở trường khiến cô không thể tin vào tai mình: “Con trai của cô trộm 1 triệu của cô giáo, cháu đã thừa nhận rồi, cảnh sát cũng đã đến đây rồi…”

Cô vội trả lời: “Dù cháu có làm gì sai, xin đừng đánh mắng con tôi, hãy đợi tôi đến rồi hẵng xử lý!”.

Sau đó cô yêu cầu cô giáo chuyển điện thoại cho con. Con cô vừa khóc vừa gọi “Mẹ ơi”. Người mẹ nói: “Con trai, đừng sợ, dù có việc gì, mẹ sẽ luôn là người ủng hộ con, mẹ sẽ đến ngay”.

Cô vội vàng đạp xe đến trường, trước cổng có xe cảnh sát, bên trong phòng có hai viên cảnh sát có vẻ căng thẳng, hai giáo viên một nam một nữ và một chủ nhiệm đã lớn tuổi.

Cô giáo đanh thép nói với mẹ của đứa trẻ rằng: “Sáng nay con trai cô đã lấy 1 triệu từ ngăn kéo của tôi, em ấy đã thừa nhận rồi, cô xem mà xử lý đi”.

Người mẹ không để tâm đến cô giáo, cô đi tìm con mình, cậu bé đang đứng run rẩy, quần áo lấm lem, nước mắt giàn giụa, cô bước đến ôm lấy con.

“Mẹ ơi, nếu không phải vì những điều mẹ nói thì có thể con đã leo lên sân thượng rồi! Họ bắt con ngồi tù, con sợ lắm…”

“Con trai, con nói sự thật với mẹ đi, mẹ tin con!”. Con trai lắc đầu nói: “Con không có lấy ạ.”

Sau khi an ủi con, người mẹ đứng dậy và nói: “Tôi tin con trai mình, cháu nói không lấy nghĩa là không lấy!”. Cậu bé cảm kích nhìn mẹ mình.

Cô giáo trừng mắt nhìn như thể châm biếm “Con hư tại mẹ” rồi cười lạnh nói: “Vừa rồi thằng bé đã thừa nhận rồi”.

“Vậy cô nói xem cháu đã thừa nhận như thế nào? Còn nữa, tiền trộm ở đâu rồi? Mang chứng cứ cháu trộm tiên ra đây. Không tìm thấy chứng cứ mà bắt trẻ em, cảnh sát cũng không nên làm như thế này đâu.”

Một cảnh sát bên cạnh nhún vai nói: “Quả thật là không tìm thấy chứng cứ, nhưng cháu nó đã thừa nhận rồi”.

Cô giáo mất kiên nhẫn nói ra những lời mà cậu bé đã nói khi bị thẩm vấn, người mẹ xoay lại hỏi con: “Cô giáo nói có đúng không con?”

Cậu bé lắc đầu: “Từ buổi sáng cô đã không lên lớp, họ còn gọi cảnh sát đến, con sợ lắm, cô nói con thừa nhận thì có thể về nhà…”

Cô giáo tái mặt, không nói gì.

“Thẩm vấn bằng cách uy hiếp mà là thẩm vấn sao? Tôi muốn kiện cô tội vu khống!”

Người phụ nữ nghèo gầy gò đi xe đạp này không biết lấy dũng khí từ đâu, cô mặc kệ tất cả mọi người và đưa con về. Có lẽ trước mặt con, mọi hành động của người mẹ đều có lý lẽ riêng.

Trên đường về nhà, cậu bé cảm kích ôm lấy mẹ: “Mẹ ơi, cảm ơn mẹ đã cho con sức mạnh ạ.”

Sau khi về nhà chưa bao lâu, chủ nhiệm gọi đến báo rằng 1 triệu bị mất đã tìm thấy rồi, là do cô giáo tự mình vô ý để tiền vào ngăn kéo khác rồi quên mất.

Tuy việc này vẫn khiến cậu bé bị ám ảnh, nhưng cách làm của người mẹ đã khiến con trai được hãnh diện, khi đi trong sân trường cũng có thể ngẩng cao đầu, bởi vì mẹ đã cho cậu bé cảm giác an toàn và lòng dũng cảm. Cho đến khi trưởng thành, cậu bé vẫn nhớ giây phút ấm áp này.

Các bậc phụ huynh nên làm gì đối với hành vi trộm tiền của con?
Tuyệt đối không được dùng cách “thẩm vấn phạm nhân” để đặt vấn đề với con hoặc cưỡng chế trẻ nhận sai.

Chúng tôi khuyên các bậc phụ huynh nên dùng cách hòa nhã để nói chuyện với các con, để các con biết rằng cha mẹ biết rõ việc con phạm lỗi. Nếu thô bạo bắt con nhận lỗi thì sẽ làm tổn thương đến lòng tự trọng của con cũng như dẫn đến việc con không thừa nhận và chống đối.

Nhất định phải làm rõ nguyên nhân con trộm tiền thì mới có thể tìm được cách chấm dứt hành vi này. Nếu vì mua thứ gì đó mà con trộm tiền và nếu thứ đó khá hợp lý thì cha mẹ có thể mua cho con và khuyên bảo con “từ nay đừng làm như thế nữa, con cần gì có thể nói với cha mẹ, đừng ăn trộm tiền, đây là hành vi rất sai trái”.

Nếu như không phải là yêu cầu hợp lý, ví dụ như con đã có đồng hồ rồi mà còn muốn mua nữa thì mẹ có thể cho con mượn tiền để con trả sau. Một là có thể tránh được việc trẻ trộm tiền, hai là có thể xây dựng thói quen mua đồ cẩn thận cho con. Và sau đó dặn dò con không được tái phạm.

Cách giáo dục của cha mẹ quyết định tính cách và thói quen của con trẻ. Bạn đối xử thô lỗ của con trẻ, con sẽ trả lại bạn sự hung dữ. Bạn đối xử với con bằng sự tinh tế, trẻ sẽ đáp lại bạn bằng lòng biết ơn.

Cha mẹ là tấm gương và là điểm tựa của con cái, hãy dùng tình yêu thương để bảo vệ các con, vừa xây dựng tính cách và thói quen tốt cho trẻ, lại vừa không khiến con bị tổn thương về mặt tâm hồn.st.
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-18-2019 , 06:11 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Saigon và những tên đường xưa.
Share

Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chính trị, hành chánh, văn hóa, xã hội… luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước.

Những bạn sinh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để cống hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.

Tôi sinh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp.

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.

Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.

Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại.

Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi.”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò. Lớp 12e niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su.

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…

Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẽ).

Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.

Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn.

Chùa này do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940.

Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris. Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.

Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xương (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).

Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.

Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên: đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard.

Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẵng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẵng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.

Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thường vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trước nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.

Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần. Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH?

Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004: đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.

Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Áo Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký. Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 10

người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẫn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 “Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giữ biên cương …

Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước 11 nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.

(Trần Ngọc Quang)
thanh_ nhan
Gold Member
Join Date: Aug 2007
Số Điểm: 3148
Old 05-18-2019 , 06:14 PM     thanh_ nhan est dconnect  search   Quote  
Những thằng già nhớ mẹ
Vũ Thế Thành •

…Mà có thằng con nào, dù có làm tới cái ông gì vĩ đại đến đâu lại trưởng thành dưới con mắt của mẹ mình đâu nhỉ? Có thằng 6 bó rồi, xách xe ra khỏi nhà, vẫn bị gọi lại “Quên mang nón (bảo hiểm)”. Mùa mưa, trời chưa mưa, ngồi một chỗ, nhưng vẫn gọi vói thằng con “Mang theo áo mưa”.

Hai mươi năm trước, ông tổng giám đốc công ty tôi mất mẹ. Lúc đương quyền, ông đem mẹ vào Sài Gòn ở với ông. Khi ông về hưu, bà đòi về quê ở vùng ngoại ô Hà Nội và mất ở đó. Tôi đến thăm khi ông trở lại Sài Gòn được vài tháng.

– Tuổi già được về quê sống những năm tháng cuối đời, rồi mất nhẹ nhàng như thế thì còn gì bằng, tôi an ủi.

– Mất mẹ tớ cảm thấy như thiêu thiếu thế nào ấy…

– Thiếu cái gì?

– Tớ muốn trồng dàn bầu hay dàn mướp ở sau nhà cho mát, trồng cây nào khác hay hơn vì tớ sợ kiến… Tớ vẫn hay hỏi bà những chuyện lặt vặt như thế. Tớ sinh ra ở quê, nhưng có sống ở quê đâu. Bây giờ bà mất, tớ chẳng biết hỏi ai…

Hồi đó tôi chưa quá 40, còn mẹ, thấy cái thiêu thiếu của ông đúng là lẩm cẩm. Mấy chuyện vặt đó hỏi đâu chẳng được. Bây giờ thì tôi mới cảm nhận được cái thiêu thiếu của ông là thế nào.

Tôi có thằng bạn hồi trung học. Tay này quậy phá thầy cô dàn trời. Trường đuổi học, mời phụ huynh đến thông báo. Mẹ nó đến, đứng khoanh tay như người phạm tội, nhẫn nhục nghe thầy tổng giám thị trút cơn thịnh nộ, hài tội thằng con gần nửa tiếng đồng hồ.

Mẹ nó chảy nước mắt: Nhà cháu nghèo, chạy cơm từng bữa cho anh em nhà nó có cái ăn. Nhà cháu lại không biết chữ, biết thế nào mà dạy nó. Nhờ thầy cô thương đến mà dạy dỗ. Đuổi học, thì nó học ở đâu? Ra trường tư làm gì có tiền. Trăm sự nhờ thầy thương cháu, roi vọt cho cháu nên người. Để rồi tối về, nhà cháu răn đe nó…

Cơn thịnh nộ trôi qua, dường như thương cảm với người đàn bà quê mùa trước mặt, thầy tổng giám thị rồi cũng bỏ qua. Tôi và thằng ông mãnh đó lấp ló ngoài văn phòng theo dõi. Nó cười hi hí khi biết mình tai qua nạn khỏi. Chưa hết, hôm sau nó hớn hở, may quá, bà già tao giấu biệt chuyện này với ông già, nếu không thì… hì…hì…

Nó tiếp tục quậy phá, nhưng kín đáo hơn, quậy phá cho đến khi vào lính vẫn còn, nên lãnh “củ” đều đều. Lần này thì chẳng ai nhẫn nhục thay cho nó. Hôm rồi, thằng ông mãnh về nhà sau ca làm đêm ở Mỹ, ngồi uống rượu một mình, lướt “net”, đọc được bài “Cá bống kho tiêu” nào đó trên mạng, gọi phone cho tôi từ Mỹ, nói rằng tự nhiên nhớ mẹ, rồi khóc hu…hu… qua điện thoại: Cả đời tao làm khổ bà già. Bà già bệnh, tao bận việc, cứ hẹn lần, không về chăm sóc được. Bà già mất, tao về, không kịp nhìn mặt… Tiền bạc bây giờ có ích gì… Mẹ nó mất cũng gần 10 năm rồi… Càng quậy phá, càng mềm nhũn. Nguôi ngoai gì nổi!

Mẹ tôi mất hồi đầu năm. Thấy tôi buồn, thằng bạn học rủ về quê nó ở Châu Đốc chơi cho khuây khỏa. Chén thù chén tạc, say túy lúy, cả bọn chuệnh choạng kéo nhau đi hát… karaoke. Thằng bạn cầm micro: Xin giới thiệu với các anh em Châu Đốc, thằng bạn tôi đây ở Sài Gòn vừa mất mẹ. Tôi xin hát tặng nó bài… “Bông hồng cài áo”… Rồi nó say sưa hát, động tác biểu diễn như một ca sĩ chuyên nghiệp. Bỗng nhiên giọng hát run run… Nó khóc nấc lên… Cách đây hai năm, tôi về Châu Đốc dự đám tang mẹ nó. Nó hát cho tôi hay hát cho nó?

Chuyện khác, lần này không phải thằng già, mà là… bà già. Tôi có cô bạn người Ý trạc tuổi, mỗi lần về Milan, ra nghĩa trang thăm mẹ, mang theo thỏi chocolate, ngày xưa bà thích ăn (mà cô ta cũng thích nữa), bẻ chocolate, cùng ăn với cái… bóng mẹ. Chocolate Tây thay cho nhang đèn Ta, cũng chỉ là tấm lòng. Mẹ cô ta mất cũng 10 năm rồi.

Lại có thằng, có thức ăn hay trái cây nào hay hay, lại mang để trên bàn thờ mẹ, và đặc biệt chỉ thích món ăn lấy từ bàn thờ mẹ. Khách đến chơi, thân thiết lắm, mới mang đồ cúng mẹ xuống đãi. Hỏi vì sao? Ừ, thì cũng như hồi xưa bà cho mình ăn vậy, có đồ gì ngon cũng để dành cho mình…

Mà có thằng con nào, dù có làm tới cái ông gì vĩ đại đến đâu lại trưởng thành dưới con mắt của mẹ mình đâu nhỉ? Có thằng 6 bó rồi, xách xe ra khỏi nhà, vẫn bị gọi lại, lại quên mang nón (bảo hiểm). Mùa mưa, trời chưa mưa, ngồi một chỗ, nhưng vẫn gọi vói thằng con, nhớ mang theo áo mưa.

Tôi có thằng bạn trẻ người Đức chừng… 50, ra ngoài đường cũng bị bà già “vịn” theo kiểu đó: Alex, quên mang dù! Thằng này lúc nào cũng tự hào vì còn mẹ. Nó khoe: Từ hồi tôi qua Việt Nam, mẹ tôi lấy làm lạ vì tôi quan tâm tới bả khác xưa nhiều lắm. Bả vui! Alex làm ăn ở Việt Nam hơn 12 năm rồi.

Bông hồng đỏ hay bông hồng trắng cho Ngày-của-Mẹ, đối với tôi chỉ là biểu tượng, chẳng ép phê gì. Ký ức về mẹ, dù gần hay xa, mới là điều nhức nhối. Tuổi càng cao, càng dễ quên chuyện trước mắt, nhưng càng nhớ chuyện xa xôi. Tuổi đời, tình đời trải miết rồi, nay nhớ về mẹ, thấy mình còn biết bao điều thiếu sót và ray rứt, cứ giá mà… giá mà…

Hồi nhỏ học “Nhị thập tứ hiếu”, có chuyện lão Lai, già khú đế ra rồi mà còn làm trò hề, giả vờ té ngã như con nít để mẹ cười. Tôi thấy ông này giễu dở. Bây giờ tôi muốn giễu dở như ông cũng không được. Nụ cười của người già, dù là móm mém, dù là mù lòa, nghễnh ngãng… nhớ lại, sao thấy hiền quá. Nhớ tận đáy lòng. Ray rứt và ân hận là thế! Làm sao thời gian có thể lùi lại để ngồi giã trầu, đấm lưng và chiêm ngưỡng nụ cười móm mém?

Nụ cười của mẹ già không phải là nụ cười vì tiền vì bạc, vì chén cơm manh áo, vì quyền bính thế gian. Đó là là nụ cười mãn nguyện khi con cháu ở bên mình, vẫn chưa quên mình…

Các bạn trẻ hẳn có nhiều cơ may còn mẹ. Hãy biết trân trọng và tận dụng thời gian bên mẹ. Tôi biết (cũng như tôi ngày xưa), cách biện minh dễ nhất là bận việc và hẹn lần.

Thời gian chẳng quay lại, và cũng chẳng làm nguôi ngoai nỗi nhớ đâu! Những giọt lệ già mà nhớ mẹ, như nuốt ngược vào tim, mặn biết chừng nào!

Vũ Thế Thành
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -4. The time now is 04:56 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.