VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Trang Phật Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 12-26-2006 , 06:49 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Hãy vào trang sau đây để đọc bài giới thiệu về kinh CHÁNH PHÁP SANGHATA:

http://www.sanghatasutra.net/transla...ietnamese.html

Gần đây, Lama Zopa Rinpoche đề nghị các Trung Tâm Bảo Tồn Phật Giáo Ðại
Thừa (FPMT centres) đọc tụng bộ kinh Ðại thừa tên Sanghata, 20 lần. Chỉ cần
nghe qua, đọc tụng kinh này là gặt hái được cả một kho tàng công đức đồ sộ,
vì vậy Lama Zopa Rinpoche khuyên Phật tử nên đọc để hồi hướng công đức
cho Công Trình Xây Tượng Phật Di Lạc (Maitreya Project). Và rồi chính Công
Trình Xây Tượng Phật Di Lạc sẽ mang lại công đức đồ sộ cho vô lượng chúng
sinh.
Kinh Sanghata do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng trên đỉnh núi Linh
Thứu, thành Vương Xá. Kinh này cũng như mọi bộ kinh Ðại thừa khác, được
các đệ tử của Phật ghi nhớ rồi chép lại bằng tiếng Phạn. Kinh Sanghata đặc
biệt là vì kinh này do đức Thích Ca Mâu Ni thọ nhận từ đức Phật quá khứ,
đồng thời tác dụng của kinh này đối với người đọc tụng cũng đặc biệt lớn lao.
Kinh Sanghata là một trong những bộ kinh thuộc hệ Dharma-paryayas, có khả
năng chuyển hóa tâm thức người đọc một cách mạnh mẽ dị thường. Một trong
những lợi ích vĩ đại của kinh này là người nào đã từng đọc tụng kinh Sanghata,
đến khi chết sẽ thấy chư Phật đến an ủi tiếp dẫn trong quá trình vào cõi tử.
Ngoài ra, còn một lợi ích lớn lao khác, kinh văn có nói rõ: nơi nào có kinh
Sanghata, Phật ở ngay nơi ấy. Vậy đọc tụng kinh này còn có tác dụng thanh
tịnh cảnh giới bên ngoài, ngay chốn kinh này được đọc tụng.
Nhìn chung mà nói, đọc tụng kinh điển Ðại thừa là một trong sáu phương pháp
sám hối. Kinh này đặc biệt có khả năng thanh tịnh nghiệp thức nhiều đời. Phật
có giải thích phong phú trong kinh văn là đọc tụng kinh này thì đoạn diệt mọi
chủng nghiệp phiền não, gieo hạt giống an lạc cho tương lai, . . .

Mến,

Last edited by phivan; 02-20-2008 at 05:34 PM..
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 12-26-2006 , 06:53 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
. . . . . .
Kinh cũng giảng giải phong phú về quá trình vào cõi tử, khi các thành phần tâm lý và vật lý lần lượt hoại diệt.
Khi xưa, trong nhiều thế kỷ, Sanghata đã từng là một trong những bộ kinh phổ biến nhất.
Vào những năm 1930, các nhà khảo cổ đào ở phía Bắc Pakistan thuộc địa của Anh quốc, tìm được cả một kho kinh điển Phật giáo của thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, xưa hơn những gì kiếm ra trong các cuộc khảo cổ trước đây rất nhiều. Trong số những bộ kinh tìm thấy, Sanghata được ghi chép
nhiều nhất, hơn cả Pháp Hoa hay Kim Cương hay những bộ kinh thuộc hệ Bát Nhã hiện nay đang phổ biến. Kinh Sanghata vào thời phôi thai của Phật giáo Ðại thừa đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: tiếng Tàu, tiếng Khotanese, tiếng Tây
Tạng, còn nguyên bản tiếng Phạn thì thất lạc. Phải đợi đến đợt khám phá cổ học vào thập niên 1930, nguyên văn Phạn tự mới được tìm thấy.
Gần đây, ở chùa của Geshe Sopa tại Madison, Lama Zopa Rinpoche sau khi đọc xong kinh Sanghata đã quyết định lấy mực vàng ròng chép lại bộ kinh này, đồng thời khuyến khích đệ tử thường xuyên đọc tụng. Vào dịp kỷ niệm trận khủng bố New York ngày 11 tháng 9, Rinpoche yêu cầu đệ tử trên toàn thế giới đọc tụng kinh này càng nhiều càng tốt để hồi hướng công đức, cầu nguyện nạn khủng bố chấm dứt.
Bộ kinh này có khả năng tác động mạnh mẽ lên tâm thức. Người đọc tụng có thể thấy được rất rõ tấm lòng từ bi vô hạn của Phật đối với chúng sinh. Phật nói kinh này để giúp chúng sinh mau chóng thành tựu viên mãn Vô Thượng Bồ Ðề. Ðồng thời, nhiều đoạn dài trong kinh là lời Phật nói, nên khi đọc cũng là mang giọng nói của mình làm sống lại tiếng lời của Phật trong thế giới hôm nay. Ðọc Sanghata, không những chúng ta gặt hái được cho mình một kho tàng công đức đồ sộ, mà còn trực tiếp và tinh tấn góp phần bảo vệ chánh pháp.
Ðây cũng là điều cần thiết, có thể làm nhẹ bớt được gánh nặng khổ đau của chúng sinh.

..............................
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 12-27-2006 , 10:11 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
LAMA ZOPA RINPOCHE VÀ KINH CHÁNH PHÁP SANGHATA

Dưới đây là lời của Ven. Lhundrup Damcho, kể lại câu chuyện Lama Zopa Rinpoche và kinh Sanghata.

Lúc ấy tôi có ý định mang bản tiếng Tạng của kinh Sanghata tặng cho Lama Zopa Rinpoche, vì vậy đã để kinh ấy trên bàn nơi hành lang trước phòng Rinpoche. Chưa kịp đàng hoàng trao tặng - nói cho thật đúng, tôi chưa chuẩn bị xong trang bìa cũng chưa kịp dùng lụa bọc kinh cho cẩn thận – Rinpoche đã bắt gặp cuốn kinh, tỏ ý muốn xem ngay. Rinpoche đọc lướt qua, nói với chúng tôi rằng, “Kinh Sanghata nói chỉ cần nghe kinh này là có được kho tàng công đức của Như lai, như vậy có nghĩa là đã thu tóm đầy đủ cả hai bồ công đức phước tuệ, cũng có nghĩa là đã thành một bậc Như Lai. Việc này thoạt nghe không hợp lý." Rinpoche ngẩng đầu lên, đề nghị nên hiểu là khi nghe được kinh này, người nghe kinh sẽ có khả năng tiếp tục gặt hái công đức cho đến khi gom đủ cả kho tàng công đức đồ sộ được diễn tả trong kinh. Cần hiểu như vậy để khỏi thấy kinh này nói chuyện vô lý khó tin.

Rinpoche đọc tiếp nhiều đoạn trong kinh, rồi nói rằng kinh này cho mình cảm nhận rõ ràng lòng từ bi của Phật. Chúng ta thường luôn cảm thấy chánh pháp khó tu, khó thực hành. Dù gặp được chánh pháp, vẫn không có thời gian để tu học; hoặc là tu học được ít hôm, rồi xao lãng; hoặc sinh ra trong truyền thống Phật giáo, nhưng lại kiếm tìm loanh quanh. Ở đây, Phật muốn giúp cho chúng ta dễ tu, nên thuyết kinh này để chúng ta nghe rồi có được kho tàng công đức đồ sộ. Nhờ vậy mà dễ tu, dễ làm việc lợi ích chúng sinh, dễ thành Phật và dễ giúp chúng sinh cùng thành Phật. Rinpoche nói, được như vậy là nhờ vào những bộ kinh như kinh này. Lòng từ bi của Phật thật khó mà tưởng tượng cho hết. Rinpoche cũng có nói ngài đã thức trọn đêm để đọc hết quyển kinh, và đó là điều rất đáng nói, vì bình thường ít khi nào Rinpoche làm xong ngay việc gì.

Rinpoche cũng có nói về kinh nghiệm của Rinpoche khi đọc Sanghata. Nói rằng lúc đọc xong phần diễn tả về công đức nghe kinh, ngài bắt đầu tìm coi đâu là nền tảng, đâu là đặc tính cố định trong kinh có thể cho ra cả một kho tàng công đức đồ sộ như vậy. Vừa nói, Rinpoche đưa tay làm dấu, như muốn nắm bắt lấy phần tinh túy đang vuột thoát. Rồi Rinpoche tự cười chính mình, đã cố tìm đặc tính cố định của kinh. Rinpoche có giải thích rằng nhiều kinh Ðại thừa mới đầu diễn tả rất phong phú về lợi ích của kinh, sau đó cho một câu thần chú làm nền tảng chuyên chở công đức. Nhưng kinh Sanghata này thì không như vậy. Hình như chính sự diễn tả về lợi ích của kinh Sanghata đã là nền tảng chứa đựng toàn thể công đức. Ðến sáng sớm ngày hôm sau, Rinpoche nói Rinpoche vừa nghĩ ra một việc: Phật có khả năng truyền năng lực hộ niệm cho đá sỏi hay những đồ vật vô tri khác, rồi từ đó con người nhận lại nguồn năng lực của chư Phật. Vậy Phật cũng có thể làm như vậy với kinh này. Nếu vậy thì chức năng của kinh không khác chức năng của Phật, cùng có khả năng hộ niệm và tạo lợi ích như nhau. Giải thích như vậy rồi, Rinoche lại nói thêm rằng sau khi đọc kinh xong, Rinpoche ngồi thiền thấy có nhiều tiến bộ khả quan, đó cũng nhờ tác dụng của kinh Sanghata.

-----------------------------------------
TIMSUTHAT*
Banned
Join Date: Dec 2006
Số Điểm: 32
Old 01-02-2007 , 08:15 PM     TIMSUTHAT* est dconnect  search   Quote  
Cám ơn chú Phi Vân nhiều ! Chúc chú tinh tấn trên đường tu học và phổ biến giáo Pháp của Đức Thế tôn !

Last edited by TIMSUTHAT*; 01-02-2007 at 08:18 PM..
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-02-2007 , 09:33 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Download Nguyên Bản Kinh tại link sau đây:

http://www.sanghatasutra.net/vietnamese_translation.pdf

Mến,

Last edited by phivan; 02-20-2008 at 05:33 PM..
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-02-2007 , 09:42 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Hướng Dẫn Cách Tụng Kinh Sanghata

Đọc tụng kinh này là cúng dường thân mình cho Kinh
Chánh Pháp Sanghata xuất hiện tròn đầy trong cõi thế gian
với đầy đủ âm thanh, lời chữ và ý nghĩa.
Đọc tụng kinh này có thể được xem là phẩm vật cúng
dường Phật và kinh Sanghata, vì đây chính là thanh tịnh
nghiệp chướng, mang lợi lạc về cho chính mình và cho tất
cả những ai nghe được giọng mình tụng kinh. Chúng ta có
thể đọc tụng kinh này ở mọi nơi, trong mọi lúc. Dưới đây
là một vài hướng dẫn cụ thể về cách tụng kinh, có thể giúp
chúng ta được nhiều lợi lạc và cảm hứng.

Phương Pháp Đọc Kinh Căn Bản:
Kinh Chánh Pháp Sanghata có thể được đọc tụng bằng bất
cứ ngôn ngữ nào (hiện nay kinh này được dịch thành 11
thứ tiếng, và trong tương lai sẽ còn được dịch ra nhiều thứ
tiếng khác).
Đọc tụng kinh này không đòi hỏi điều kiện gì đặc biệt.
Không cần nhận pháp quán đảnh, nhận pháp truyền khẩu
hay nghe giáo lý gì cả, ai cũng có thể đọc được, trong mọi
lúc.
Nên đọc lớn tiếng. [giọng đọc bình thường như khi đọc
sách]. Đọc kinh chính là để mang thân ngữ ý của mình thể
hiện Chánh Pháp Sanghata. Muốn được như vậy, khi đọc
tụng nên dùng thanh quảng, cho dù chỉ đọc nhẫm trong
miệng. Nếu có súc vật ở xung quanh thì nên đọc lớn rõ
tiếng, vì kinh này thoáng qua tai chúng sinh nào, chúng
sinh ấy sẽ được lợi lạc lớn lao cho dù nghe không hiểu
nghĩa. Lama Zopa Rinpoche giải thích như sau, “nếu quí vị
không đọc tụng kinh này lớn tiếng, thì như vậy là ăn gian
với chính mình và phí bỏ mất cơ hội tạo công đức bằng
tiếng lời (ngữ, trong thân ngữ ý).”
Khi đọc nên chắp tay trước ngực [chắp tay búp sen trước
ngực là ấn đảnh lễ], như thể đức Phật đang đứng trước mặt
nói chuyện trực tiếp với chúng ta. Nhất là khi đọc tới đoạn
kinh nói về về công đức của người chắp tay trước kinh
Sanghata.
Có nhiều người thích đọc một lần trọn cuốn kinh hơn là
chia ra thành nhiều đoạn đọc nhiều lần. Tuy nhiên, dù đọc
một câu cũng được rất nhiều lợi lạc, vì vậy nếu không thể
một lần đọc trọn cuốn kinh, thì đọc được bao nhiêu cũng
đều nên đọc, bất cứ lúc nào.
Có nhiều người cùng đọc kinh chung với nhau và thấy rằng
đọc như vậy năng lực mãnh liệt hơn là khi đọc một mình
rất nhiều. Khi họp nhóm, công đức tạo ra nhiều hơn công
đức của riêng lẽ từng người. Khi cùng chung với nhau làm
việc thiện, mỗi người sẽ nhận được khối công đức nhiều
bằng công đức của chung cả nhóm, vì vậy nếu có thể, rất
nên cùng bạn bè (hay người lạ, kẻ thù) đọc kinh chung.

Phương Pháp Quán Tưởng Căn Bản Khi Đọc Kinh:
Nói chung, trước khi đọc kinh nên ngồi tĩnh lặng, lắng tâm,
rồi để lòng yêu thương chúng sinh chan chứa trong tim
mình. Với ước nguyện muốn tặng cho chúng sinh tất cả
những gì có thể mang lại bình an hạnh phúc vĩnh cữu và
xóa hết mọi khổ đau, hãy nguyện mang công đức buổi đọc
kinh này hồi hướng cho tâm mình phát huy được mọi đức
tính tốt lành để thực hiện ước nguyện nói trên.

Tiếp theo, khi đọc lời dạy của Phật trong Đại thừa, nên
quán tưởng như sau:
1. Thấy mình đọc tụng kinh Sanghata cho tất cả chúng sinh
trú tại nơi chốn mình đang ở, cũng như tất cả mọi chúng
sinh trong sáu cõi luân hồi. Nói cho đúng, xung quanh
chúng ta luôn có rất nhiều chúng sinh hữu tình, vì vậy quí
vị có thể mở rộng tâm mình đến với tất cả mọi nơi chốn
lân cận, quốc gia, lục địa, và quán tưởng mình trực tiếp
đọc kinh này cho tất cả cùng được lợi lạc.
2. Thấy mình đang đứng trước đức Phật mà trực tiếp thọ
nhận giáo pháp. Phải vận dụng tối đa trí tưởng tượng để có
được cảm giác mạnh mẽ rằng đức Phật đang đích thân
giảng kinh này cho quí vị.
3. Thấy ý nghĩa của từng lời từng chữ đã nằm sẵn trong
tâm, vừa thoáng qua tai là hiểu ngay ý thật của Phật một
cách trọn vẹn chính xác.
Khi bắt đầu đọc kinh hãy quán tưởng như vậy, rồi trong
khi đọc, thỉnh thoảng im lặng một lúc để mang quán tưởng
về lại trong tâm cho rõ ràng.
--------------------------------------------------------
Lời hướng dẫn này trích từ www.sanghatasutra.net.
Còn một phương pháp tụng kinh Sanghata chi tiết hơn do Lama Zopa
Rinpoche soạn, xin xem Phụ Lục C.
Hồng Như chuyển Việt ngữ tháng 06,2006.
--------------------------------------------------

Mến,
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-04-2007 , 08:33 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
How the Sanghata Affects its Readers

From www.sanghatasutra.net

The Sanghata Sutra unfolds from a question posed to the Buddha, who is asked whether
there is any teaching that can remove the negative karma of the five uninterrupted actions
simply by hearing it. The basic answer that the Buddha gives is yes, as a matter of fact,
there is such a text, and this is it: the Sanghata Sutra. This is an extraordinary claim—that
a text can so transform a person who hears it that their entire future is completely
changed forever—and our first impulse might be to dismiss the Sanghata’s claim as
preposterous. After all, how can just listening to something outweigh the act of having
killed one’s parents and the four other uninterrupted actions? But when you get right
down to it, the idea that works of literature transform their readers, often in profound
ways, is hardly outrageous.
Nevertheless, in the hands of the Sanghata, this fairly innocuous claim can come to seem
outrageous, because the Sanghata takes the idea that literature or texts change people, and
pushes it much farther than we may be initially comfortable taking it. By carrying its
vision of the power of texts to an extreme, the Sanghata Sutra invites us—even forces
us—to confront its status as a text and our own status as its readers. In the end, by getting
us to reflect on our own encounter with the text, the Sanghata is seeking not merely to
assert its vision of how texts can change people, but also to demonstrate it.
One of the most startling of the text’s attention-grabbing passages is one in which the
Sanghata Sutra identifies one of the characters described within it as the Sanghata itself.
This happens about a quarter of the way into the sutra. The Buddha introduces this
passage by announcing that he is going to describe a quality of the Sanghata Sutra, this
very text in which he is speaking. He then proceeds to relate an encounter between a sage
and a man driven to the brink of suicide by his remorse for the great evils he has
committed. During this encounter, the sage asks the suicidal man whether he has ever
heard the Sanghata Sutra and when the man answers that he has not, the sage commands
him to listen and then goes on to relate to this man a story about another man, this one a
king who had been in the same situation and whose suffering was lifted when the sage
taught that king something called the Sanghata Sutra. If this seems confusing, that is not
surprising, since at this point, what we have is a story within a story, told within a larger
text, each of which is being called the Sanghata Sutra.
Later, when the Buddha is asked who this sage was, he says that the Sanghata takes the
form of the sage in order to come to light, or in order to be made visible, or in order to be
explained. In other words—and this is clearer in the original Sanskrit than in the
Tibetan—the sage was the Sanghata Sutra itself manifesting in the form of a sage in
order to be seen or explained. The Sanskrit term used here, darVietFunVietFunVietFunVietFunam, can mean either
exposed to view or explained. [This passage can be found on page 18 of the
downloadable English translation.]
2
Thus we have a text called the Sanghata Sutra, and inside it there is a story told by the
Buddha about a sage who teaches someone a text called the Sanghata. At this point, we
have a text within a text within a text, and they are all the Sanghata. Then it turns out that
even the sage who taught the Sanghata in one of those texts was himself the Sanghata.
At this point, we the readers of this text seem pushed into a position of irredeemable
perplexity as to what and where exactly the Sanghata is. Is it something inside the text?
Does it exist outside the text, and then just manifests within the text as a character? Is it
in front of us as we read or hear the text? Is it all around us in the world?
We may say tentatively that the Sanghata Sutra creates this existential perplexity in the
process of addressing an ethical perplexity that is also raised by the text. We’ll have to
look at this more closely in a moment, but briefly, the ethical perplexity has to do with
the kind of agency that is implied for persons by Buddhist theories of karma. Specifically,
the laws of karma suggest that all our actions will have consequences, and that what we
experience is a result of previous actions. Yet the past is infinitely long, and the present is
very, very short, so that persons continually find themselves arriving after much of their
karma has been created. As a result, although karma seems to place tremendous
responsibility and personal power in the hands of individual persons, it also takes that
power out of their hands, and displaces it into their past, over which they no longer have
any power.
In other words, while we are told by these theories that our actions are the source from
which our future experiences spring, we are also told that we are living already after
many of those actions have been created. Each of us is understood to have a very long
and quite likely checkered personal history, spanning multiple lives of which we have no
awareness, and in which we have committed various negative actions. Although we
neither remember or condone those actions, we still have to experience their devastating
results.
The two characters whom the sage meets are caught in the grips of precisely this ethical
dilemma. They had both committed heinous crimes in the past, and then become
paralyzed later by remorse. By the time we meet them as characters in the story, those
crimes are already over and done with, but we see how they are overwhelmed by the very
idea that those actions, irretrievably passed, will determine their future experiences. They
are suffering in the narrative present, because the teachings on karma tell them that their
past mistakes absolutely guarantee them future suffering, and time is carrying them
forward inexorably toward that suffering. The sage’s response to these two guilt-ridden
characters is to say, effectively, that the total power they had exercised in the past was not
as total or final as it seemed. The guarantee of karma is not absolute, because there is a
text that can intervene to alter a person’s karmic composition—and apparently all one has
to do it is sit back and hear it. In other words, the sage claims tremendous power for the
text, more power than persons themselves seem to have.
So far our discussion has been limited to the characters within the text. But the Sanghata
is saying that it has this effect on anyone who hears or reads it. To substantiate that claim,
3
the text must argue that it can transform not merely characters appearing within it, but the
world around it. That argument is made quite forcefully through the narrative structure,
which frustrates any effort to contain the text within its own borders or even to identify
just what sort of thing the text is. In that sense, we may say that the Sanghata Sutra’s
narrative structure creates an experience of existential dilemma—in which we are utterly
unable to determine what the text is—to relieve an ethical dilemma—the less comfortable
anxiety of suspecting that we may already have squandered the control we have over our
own lives.
To see just how this dilemma-swapping works, let’s move through a series of questions,
to see first what sort of thing this text imagines itself to be, second, what it does to its
readers, and third, what sort of agency it is thereby claiming for itself.
What is this Text?
First, what are we to understand this text to be? This is perhaps the most difficult
question, as the Sanghata Sutra repeatedly slips our grasp and turns out to be all around
us. The text itself, through its extraordinarily frequent references to itself by name—over
70—repeatedly calls attention to the puzzle as to where the referent of that name resides.
A common reaction to reading the text is to begin to wonder, where is the Sanghata
itself? In fact, our very struggle to locate this thing called the Sanghata places us in the
position I find myself adopting here in describing it, in which I begin to treat it as an
agent, or even as a person. Indeed, the apparently innocent ability to refer to oneself by
name is ontologically very complex. Only self-aware beings are capable of referring to
themselves by name. One could argue that the ability to generate self-referential
discourse is a faculty unique to human beings, or at least to speakers of language. When
we are confronted by the Sanghata’s facility in referring to itself by name as it unfolds, as
if it were already a complete entity, it strikes us as a facility we expect only of a selfaware
or sentient being. As such, the self-referentiality, or self-‘awareness’ of
the Sanghata Sutra strongly inclines us to understand the text as sentient, or as a person.
And once we do that, the claim that the text can have power and agency over other
persons seems a bit less outrageous.
Then there is the question as to when exactly the Sanghata begins. Four long pages after
the sutra has begun, Sarvashura, the bodhisattva who questions the Buddha throughout
the first half of the sutra, asks:
Blessed One, I too will listen to the great Sanghata Sutra dharma-paryaya; what mass of merit will
I then produce, Blessed One?” [page 4, English translation]
This clearly posits the Sanghata as some other teaching apart from what we have been
reading, and which lies somewhere in this character’s future. Then, just a few pages later,
Sarvashura is given a seat on a throne and told that, “Sarvashura, you have heard the
transformative teaching, the Sanghata Sutra, and therefore you are seated on this seat.”
(page 10). Was the Sanghata contained in the six pages between these two passages? we
might wonder.
4
This projection of the text ahead of and behind itself crops up again and again. The very
first time the Sanghata’s name is stated in the text, the Buddha announces that:
Sarvashura, there is a dharma-paryaya called Sanghata that is active on this planet earth. (page 2)
The Buddha’s announcement of the Sanghata as an entity already existing and active in
the world raises the more perplexing question of where the text has been up to the time of
its circulation. If the Sanghata is not this entire set of words, uttered by the Buddha and
the others who spoke at Vulture’s Peak, and then narrated as the text called Sanghata ,
then what is it?
This question is raised even more forcefully in a separate anecdote, when the Buddha
describes how he first heard of the Sanghata Sutra many lifetimes prior, when it was
being taught by a former buddha. But this entire sutra we are hearing is itself basically a
record of an extended conversation, and so this implies that the Buddha who is now one
of those speaking it had originally only heard it, although what he heard were the words
he is now speaking. Such an entity completely defies any efforts we might still hope to
make to locate the Sanghata in any kind of linear time or space.
At this point, we seem forced to admit that we cannot fully answer the first question we
have been examining—what kind of thing is this text called Sanghata? Try as we might
to contain the Sanghata within the boundaries of its own text, it repeatedly eludes our
grasp.
What Does the Sanghata Do?
We come now to our second question, what does this text do? We have seen that the
Sanghata continually frustrates our attempts to find any ground from which to exclude it,
preventing us from refuting the claims it makes about the tremendous power it has over
those who encounter it. In the process, the Sanghata is forcing us to try to come to terms
with what it is doing to its readers. The Sanghata does this by pushing us as its readers to
become what Umberto Eco calls ‘model readers of the second-level,’ that is, readers
interested in watching how the text does what it does, as opposed to first-level readers
enjoying it as it flows by. Indeed, the Sanghata’s first-level reading seems precisely
aimed at turning us into second-level readers. The Sanghata seems to be training its
readers to examine their own experiences.
We can watch this training happening in the way that the Buddha and Sarvashura appear
to point out from within the Sanghata to us readers in the world in front of the text by
discussing, again and again, what it does to the people hearing, or reading, it—that is, to
us. Its impact on its audience is in fact a dominant and recurring theme within the
Sanghata. This thematization of the condition of the reader situates us readers both in the
world in front of the text as witnesses, and in the world inside the text where we appear
as objects of discussion and concern, and there seems no way to keep these two worlds
apart. This is another instance in which the text seems to be blurring its own boundaries,
but here the effect of that blurring is to problematize the location of us readers in relation
to the text.
5
To put this slightly differently, the world that the Sanghata Sutra is perhaps most
interested in describing is the world receiving the text—copying it, reciting it or even
hearing its name mentioned. Since we as readers occupy that very world—at the very
least because we are encountering the name Sanghata right here—we are encouraged to
wonder how to situate ourselves in relation to the world that the text describes around
itself. That is, the Sanghata Sutra is openly inviting us to think about what it does to its
readers.
Within the text, most of the impact that the Sanghata presents itself as having on living
beings is invisible and latent, coming in the form of positive merit that will ripen in future
lives or as the elimination of negative karma from past actions. Obviously, this makes it
hard for us to perceive the way the text is acting on us. However, we do have a number of
episodes within the Sanghata depicting how it effects those who come before it. And
here, one advantage of having a text as its own main character is that the interactions
between the readers within the text and the text can serve as a sort of model for how the
text imagines itself as interacting with its readers outside the text, that is with us.
In one such sub-story, a group of non-believers pays a visit to the Buddha. They show
him all the common signs of courtesy, much as we ourselves might. But in response, the
Buddha tells them they are foolish and should not expect happiness—messages that the
text is sending us as well, as we’ll see in a moment. After dazzling them with displays of
his powers, the Buddha gives a brief teaching on suffering in which suffering is presented
as fear about the future:
“Friends, birth is suffering. Even birth itself is suffering. Having been born, there occur many fears
of suffering. Having been born, fears of sickness occur. From sickness, the fear of aging occurs.
From aging, the fear of death occurs….
Having been born as a human, many fears occur. Fear of the king arises. Fear of thieves occurs.
Fear of fire occurs. Fear of poison occurs. Fear of water occurs. Fear of wind occurs. Fear of
whirlpools occurs. Fear of the actions one has done occurs.” (page 8)
By listing the potential harms that threaten all those who are born, this teaching seems
designed to generate the experience of fear that it describes. Indeed, we are told that those
who heard these words of the Buddha became ‘utterly terrified.’ That is, the Buddha
points out all there is to fear and thinking of this brings on fear.
The Sanghata in this section works to transform its listeners into people looking ahead
with concern to their own futures, even as they recognize that the immediate cause of that
fear lies in birth, that is, in something that has already happened. The last fear, the fear of
the actions one has done, links directly to the teachings of karma that state that one’s own
actions are the cause of the experiences one will have. This teaching on karma takes fear,
ordinarily a forward-looking emotion, and inverts its temporal dimension, making of it a
fear of what is already done but still lingering on in latent form, as uncompleted karma.
Fear understood as an orientation towards the future may lead to action to transform that
pending future. But fear understood as an orientation towards the past leads nowhere but
self-recrimination and guilt, and so can be disabling, as we see in the examples of the
king and the man taught by the sage, both of whom are debilitated by anxiety and
6
remorse over actions they have done in the past. In short, knowledge of the theory of
karma itself seems to be causing suffering, and so appears to be a problem and not merely
a solution.
If we grant that the text is creating for itself a community of readers who have been made
painfully aware of the potential that they have stores of negative karma waiting to
explode into experience, then those readers effectively are placed in the position occupied
by the man who had come before the sage full of anxiety over that pending explosion.
The sage’s treatment of the man then demonstrates the form of relief that the Sanghata
offers. And this brings us to our third and final question, that of the sort of power that the
text posits for itself.
How Can the Sanghata Do What it Does?
If we want to see an example of how the Sanghata works on its readers, we have only to
look at how the sage works, since, as we recall, the sage is actually the Sanghata that has
taken the form of the sage in order to be visible. What we do not see the sage doing is
give the remorse-filled man a teaching that would put tools into his hands so that he can
turn his own karma around. The sage does not even allow him to confess, initially. What
the sage does instead, until the man finally sits down and takes it, is to feed him delicious
foods and drink, and then tell him a story.
In this brief interaction with the suicidal man, the sage insists that the man cease acting as
a powerful agent seeking out his salvation, and accept instead the role of passive
beneficiary that the text has been pushing all its imagined readers into from the
beginning. In the process, the man gains access to the teaching by means of which, as the
sage puts it, all his negative karma will be removed. (page 16). This teaching works not
because the man implements its instructions, but simply because he has heard it. How can
this be? According to the idea that past actions bring future suffering, the only way that
the man could stop fearing and regretting is if there were some way to undo or purify the
wrongs he did in the past, and such an undoing could only be accomplished by a force
more powerful than his own intensely evil deeds, or a force able to counter the unidirectional
flow of time. That force, according to the Sanghata Sutra, if only the man will
sit and let it do its work on him, is the Sanghata Sutra itself.
With this move, the text is arguing in favor of a far more complex understanding of
personal responsibility and agency than the theory of karma might otherwise seem to
suggest. It does so in large part by both asserting and demonstrating a textual power that
we are not in a position to understand, much less refute. The assertions speak to us on the
level of first-order readers; the demonstration takes place when we shift to a second-order
reading, as the text’s repeated self-referentiality and its fabulously complex narrative
structure strongly encourage us to do.
We may not be able to figure out just how the text as powerful agent of change is
working, or even what sort of entity it is. But nor, the Sanghata tells us, do we need to.
7
The bulk of the work that the Sanghata repeatedly says it does takes place on the
imperceptible level of karma, which we are not in a position to perceive or assess
anyway.
As if in compensation for the condition of perplexity that the Sanghata Sutra’s vision of
its own power places us in, the Sanghata addresses the ethical dilemma that is rooted in
the very unfolding of a human life, uni-directionally, through time. This ethical dilemma
is experienced by the man and the king as remorse to the point of despair—reasonable
enough responses to a bad situation for which one is responsible but that one is not in a
position to change. This dilemma is created by notions of karma that demand us to
assume total responsibility for actions that we no longer control, because they are already
in our past and so beyond changing. The way out of this dilemma, the Sanghata suggests,
leads to narrative, in the ontologically perplexing way that it acts on us and exists outside
strictly linear time. And so, after the man accepts the authority of the sage and finally
eats, the sage comforts him:
‘Being, I will be your refuge. I will be your support. I will be your helper. Therefore, listen to the
Dharma in my presence without fear. Have you heard even a little of the dharma-paryaya called
Sanghata?’ (page 15)
When the man says he has not, the sage (who, remember, is the Sanghata manifesting as
the sage) proceeds to relate the anecdote of the king who had similarly committed
harmful actions, and who had similarly had the karmic consequences of those actions
completely removed by hearing the Sanghata. Thus the text portrays its own activity not
as simply offering knowledge to empower us, but as offering stories about people much
like ourselves who are cured by submitting to the text’s command that we sit down, eat
and listen to more stories.
As to exactly what happens to us when we do so, well, that is another story.
This paper was adapted from a talk delivered at a Buddhist studies conference at the University of
Michigan-Ann Arbor in April, 2003, by Damchö Diana Finnegan (aka Ven. Lhundup Damchö).
© Damchö Diana Finnegan
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-09-2007 , 02:07 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Kinh Chánh Pháp Sanghata

(Dành cho các bạn không download được)


Kính lạy chư Phật, chư bồ tát khắp cả mười phương cùng tận không gian.
Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế tôn ở thành Vương Xá, đỉnh Linh Thứu, cùng với ba mươi hai ngàn vị đại tỉ kheo, toàn là bậc đại A la hán, trong đó có,
tôn giả A Nhã Kiều Trần Như [AjĐanakaundinya],
tôn giả Đại Mục Kiền Liên [MahaMaudgalyayana],
tôn giả Xá Lợi Phất [Shariputra],
tôn giả Đại Ca Diếp [Mahakashyapa],
tôn giả La Hầu La [Rahula],
tôn giả Bạt Câu La [Bakkula],
tôn giả Hiền Hộ [Bhadrapàla],
tôn giả Hiền Kiết Tường [Bhadrashri],
tôn giả Chiên Đàn Kiết Tường [Chandranashri],
tôn giả Dăng-gu-la [Jangula ],
tôn giả Tu Bồ Đề [Subhuti],
tôn giả Li Bà Da [Revata],
tôn giả Nan Đà Quân [Nandasena],
tôn giả A Nan [Ananda];
cùng với sáu mươi hai ngàn vị đại bồ tát, trong đó có,
đại bồ tát Từ Thị [Maitreya],
đại bồ tát Phổ Dũng [Sarvashura],
đại bồ tát Đồng Tử Kiết Tường [Kumarashri],
đại bồ tát Đồng Tử Trụ [Kumaravasin],
đại bồ tát Đồng Tử Hiển [Kumarabhadra],
đại bồ tát Anuna [A-nu-ná],
đại bồ tát Văn Thù [Manjushri],
đại bồ tát Phổ Hiền [Samantabhadra],
đại bồ tát Thiện Kiến [Sudarshana],
đại bồ tát Dược Quân [Bhaishajyasena],
đại bồ tát Kim Cang Quân [Vajrasena];
cùng với mười hai ngàn thiên tử, trong đó có,
thiên tử Arjuna [ Ạt-du-ná],
thiên tử Hiền [Bhadra],
thiên tử Thiện hiền [Subhadra],
thiên tử Pháp ấn [Dharmaruci],
thiên tử Chiên đàn tạng [Chandanagarbha],
thiên tử Hương trụ [Chandanavasin],
thiên tử Chiên đàn hương [Chandana];
cùng với tám ngàn thiên nữ, trong đó có,
thiên nữ Mrdamgini [Mờ-đăm ghi-ní],
thiên nữ Prasadavati [Pra-da đa-va-tí],
thiên nữ Mahatmasamprayukta [Mà-ha-ma săm-pra yuk-tá],
thiên nữ Kiết tường mục [Glorious Eye],
thiên nữ Prajapati vasini [Prà-da va-ti-va si-ní]
thiên nữ Balini [Bà-li-ní],
thiên nữ Đại Thế Chủ,
thiên nữ Subahuyukta [Xù-ba hu-yuk tá];
cùng với tám ngàn long vương, trong đó có,
long vương Apalala [à-pa-la-lá],
long vương Ưu bát la [Elapatra] [Ề-la-pa-trá],
long vương Timingila [Tì-min-ghi-lá]
long vương Kumbha-sara [Kùm-ba da-rá],
long vương Kumbha-shirsha [Kùm-ba si-r-sá],
long vương Dũng đức,
long vương Diệu Hỷ [Sunanda],
long vương Sushakha [Xù-sa-khá],
long vương Gava-shirsha [Ga-va si-r-sá].
tất cả đều đến đỉnh Linh Thứu, thành Vương Xá, hội tụ quanh đức Thế tôn. Đến nơi, họ đem đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế tôn, đi quanh đức Thế tôn ba vòng theo chiều bên phải rồi lui về chỗ ngồi. Đức Thế tôn bấy giờ vẫn im lặng.
Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm đất, hai tay chắp lại, hướng về đức Phật cung kính thưa, "Thưa Thế tôn, vô số chư thiên, thiên tử và thiên nữ, vô số bồ tát, thanh văn, cùng các long vương, đều đã về tụ hội, mong được nghe Pháp. Vậy kính xin Như lai, úng cúng, Chánh biến tri hãy chỉ đường cho chúng con vào với chánh pháp, để lời giảng vừa thoáng qua tai, chúng sinh nhiều tuổi liền thoát nghiOEp chướng, chúng sinh ít tuổi liền tinh tấn tu thiOEn pháp, đạt tâm vô thượng, thiện nghiệp không thoái chuyển và sẽ không bao giờ còn thoái chuyển."
Nghe xong, đức Thế tôn đáp, "Lành thay, Phổ Dũng, lời ông hỏi thật tốt lắm. Ông hãy nghe kỹ, nhớ kỹ, Như lai sẽ nói cho."
Đại bồ tát Phổ Dũng đáp, "Con xin theo lời Như lai" rồi lui về chỗ ngồi trước mặt đức Thế tôn.
Bấy giờ đức Thế tôn dạy, "Phổ Dũng, có chánh pháp tên Sanghata, lưu hành trên cõi địa cầu. Ai được
nghe chánh pháp này, đến năm nghiệp vô gián cũng đều tiêu diệt, không còn thoái chuyển trước vô thượng bồ đề. Này Phổ Dũng, ý ông nghĩ thế nào ? Nếu ông nghĩ rằng công đức của người nghe kinh Sanghata cũng nhiều như công đức của một đấng Như lai, thì ông nên biết, nghĩ như vậy là không đúng với sự thật."
Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, phải nghĩ thế nào mới đúng với sự thật?"
Đức Thế tôn dạy, "Phổ Dũng, sông Hằng có bao nhiêu cát, ngần ấy đại bồ tát và Như lai, úng cúng, Chánh biến tri có được bao nhiêu công đức, so với công đức của người nghe Chánh Pháp Sanghata thật không sai khác. Phổ Dũng, những ai đã nghe Chánh Pháp Sanghata, sẽ không thoái chuyển, sẽ thấy Như lai, sẽ không bao giờ lìa xa Như lai cho đến khi đạt vô thượng bồ đề, thiện nghiệp không bị ma vương phá hoại. Phổ Dũng, tất cả những ai nghe được Chánh Pháp Sanghata này, đối với lý sinh diệt sẽ đều biết rõ.
Bấy giờ tất cả bồ tát có mặt trong Pháp hội cùng đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống sát đất, thưa rằng, "Thưa Thế tôn, công đức của một đấng Như lai nhiều bao nhiêu?"
Đức Thế tôn trả lời, "Này các thiện nam tử, các ông hãy lắng nghe, Như lai sẽ nói cho các ông biết lượng công đức của một đấng Phật đà. Lấy ví dụ đại dương có bao nhiêu giọt nước, cõi thế gian có bao nhiêu hạt bụi, sông Hằng có bao nhiêu hạt cát, công đức của ngần ấy bồ tát thập địa vẫn không thể sánh với công đức của một đấng Như lai. Và công đức của người nghe Chánh Pháp Sanghata lại còn nhiều hơn gấp bội, không thể dùng toán số đếm biết được. Phổ Dũng, vào thời mạt pháp, người nào nghe pháp này mà sinh lòng hoan hỉ khát khao Phật Pháp thì công đức vô lượng vô biên."
Khi ấy, đại bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, ai là người khát khao Phật Pháp?"
Đức Thế tôn dạy, "Đại bồ tát Phổ Dũng, người khát khao Phật Pháp có hai loại. Một là người khởi tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng sinh; hai là người đúng như pháp nghe được, bình đẳng nói lại cho tất cả chúng sinh cùng nghe."
Đại bồ tát Phổ Dũng thưa, "Thưa Thế tôn, thế nào là người đúng như pháp nghe được, bình đẳng nói lại cho tất cả chúng sinh cùng nghe?"
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, cũng có hai loại, một là người nghe Pháp rồi mang tâm mình hồi hướng giác ngộ bồ đề, vì tâm hồi hướng giác ngộ bồ đề nên sẽ vì lợi ích của chúng sinh mà khát khao Phật Pháp. Phổ Dũng, hai là người bước vào Đại thừa, bao giờ cũng khát khao Phật Pháp."
Lúc ấy, hàng triệu thiên tử, rồng, người và thiên nữ cùng đứng dậy, chắp tay hướng về đức Thế tôn cung kính thưa, "Thưa Thế tôn, chúng con cũng hết lòng khát khao Phật Pháp. Xin Thế tôn cho chúng con và chúng sinh cùng được như nguyện."
Bấy giờ, đức Thế tôn mỉm miệng cười.
Đại Bồ tát Phổ Dũng đứng dậy, chắp tay cúi đầu hướng về đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì, mà đức Thế tôn mỉm cười?"
Đức Thế tôn nói với đại bồ tát Phổ Dũng, "Phổ
Dũng, ông nên biết chúng sinh đến dự đại hội này, tất cả rồi sẽ đạt vô thượng Tam Miệu Tam Bồ Đề, sẽ thành tựu viên mãn diệu dụng Như lai."
Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì, mà tất cả chúng sinh đến đây rồi sẽ đạt vô thượng Tam Miệu Tam Bồ Đề?"
Đức Phật bảo, "Lành thay, Phổ Dũng, ông hỏi Như lai như vậy là tốt lắm. Ông hãy lắng nghe, Như lai sẽ nói về ý nghĩa hồi hướng bồ đề.
"Phổ Dũng, vào một thời quá khứ cách bây giờ vô số thời kỳ, có một đức Phật xuất thế với đầy đủ các hiệu: Bảo Kiết Tường [Ratnashri], Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật: Thế tôn.
"Phổ Dũng, lúc bấy giờ Như lai đang là người trẻ tuổi thuộc giai cấp bà la môn, còn chúng sinh ngày nay được Như lai dẫn dắt vào Phật trí, khi ấy hãy còn là những con thú hoang. Lúc bấy giờ Như lai phát nguyện như sau, "nguyện mọi thú hoang đang bị dày vò khổ não được siêu thoát về cõi Phật; nguyện tôi sẽ là người dẫn dắt họ đến với trí Phật." Những con thú hoang kia nghe xong, nảy một niOEm hoan hỉ, mong mình được như vậy. Phổ Dũng, nhờ gốc rễ điều lành [thiện căn] ấy mà ngày nay chúng sinh tụ họp ở đây rồi sẽ đạt giác ngộ vô thượng Tam Miệu Tam Bồ Đề."
Nghe đức Thế tôn nói về điều lành ấy xong, đại bồ tát Phổ Dũng cung kính hỏi, "Thưa Thế tôn, chúng sinh ấy thọ đươc bao lâu?"
Đức Phật dạy, "Chúng sinh ấy có thể thọ đến tám
mươi ngàn kiếp."
Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi, "Thưa đức Thế tôn, một kiếp dài bao lâu?"
Đức Phật dạy, "Thiện nam tử, ông hãy nghe Như lai nói đây. Ví dụ có người xây một thành lớn, chu vi rộng mười hai do tuần, cao ba do tuần, bên trong chứa toàn hạt mè. Cứ mỗi một ngàn năm lấy một hạt mè vất đi. Cứ như vậy, đến khi nào hạt mè cạn hết, nền móng trong thành cũng hư hoại cả, bấy giờ vẫn chưa xong một kiếp.
"Lại nữa, Phổ Dũng, ví dụ có một ngọn núi sâu năm mươi do tuần và cao mười hai do tuần. Có người xây nhà bên sườn núi, cứ một trăm năm cầm vải lụa mỏng lau núi đá một lần, đến khi núi đá mòn hết, một kiếp vẫn chưa xong. Phổ Dũng, một kiếp dài đến như vậy đó."
Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng đứng lên nói, "Thưa Thế tôn, chỉ một niệm hồi hướng bồ đề mà thọ đến tám mươi kiếp an vui, huống chi hết lòng tôn kính phụng sự diệu pháp của Như lai."
Đức Phật dạy, "Thiện nam tử, ông hãy nghe cho rõ, chỉ cần nghe được Chánh Pháp Sanghata, có thể thọ tám mươi bốn ngàn kiếp, huống chi nghe rồi ghi chép, đọc tụng. Phổ Dũng, làm được như vậy, công đức gặt hái đồ sộ vô cùng.
"Phổ Dũng, nếu có ai đối với chánh pháp này có được tín tâm trong sáng, hết lòng đảnh lễ, sẽ nhớ được chín mươi chín kiếp về trước của mình. Người ấy sẽ làm vua Chuyển pháp luân trong sáu mươi kiếp. Ngay trong đời sống hiện tại luôn được mọi người thương mến kính trọng. Phổ Dũng, người ấy sẽ không chết vì đao gươm, không chết vì thuốc độc, không bị tà phép ám hại. Đến lúc mạng chung sẽ được chín mươi chín triệu Phật đà đích thân tiếp dẫn và, Phổ Dũng, các đấng Thế tôn Phật đà sẽ nói với người ấy rằng ‘nhờ ông nghe được Chánh Pháp Sanghata mà có được công đức này.’ Và chín mươi chín triệu đức Phật Thế tôn sẽ thọ ký nơi chốn người ấy thành Phật.
"Phổ Dũng, huống chi là nghe Chánh Pháp Sanghata từ đầu chí cuối, kỹ lưỡng trọn vẹn. Chư Phật sẽ an ủi cho người ấy, rằng ‘con đừng sợ hãi.’
Nghe vậy Bồ tát Phổ Dũng hỏi đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, con cũng sẽ nghe Chánh Pháp Sanghata, vậy sẽ được bao nhiêu công đức?"
Đức Phật trả lời, "Phổ Dũng, bằng công đức của hằng sa Phật đà, Như lai."
Bồ tát Phổ Dũng thưa, "Thưa Thế tôn, con nghe chánh pháp này, tâm không thấy đủ."
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, tốt lắm. Đối với chánh pháp tâm không thấy đủ là rất tốt. Chính Như lai đây đối với chánh pháp cũng không thấy đủ, huống chi người thường.
"Phổ Dũng, thiện nam thiện nữ nào đối với pháp Đại thừa mà có lòng tin tưởng trong sáng, một ngàn kiếp sẽ không sinh lầm đường; năm ngàn kiếp không sinh về cõi súc sinh; mười hai ngàn kiếp không nảy niệm ác; mười tám ngàn kiếp không sinh về miền biên giã; hai mươi ngàn kiếp làm vị đại thí chủ; hai mươi lăm ngàn kiếp sinh về cõi trời; ba mươi lăm ngàn kiếp nghiêm giữ phạm hạnh; bốn mươi ngàn kiếp ly gia xuất thế; năm mươi ngàn kiếp thọ trì chánh pháp; sáu mươi lăm ngàn kiếp an trụ chánh định về cái chết. Phổ Dũng, những người như vậy ác nghiệp nhỏ không dấy lên, ma chướng không còn cơ hội tác hại, sẽ không sinh từ thai mẹ. Phổ Dũng, nếu có người nào nghe Chánh Pháp Sanghata này, bất kể là sinh ra ở đâu, trong chín mươi lăm lần vô lượng kiếp không sinh vào ác đạo; tám mươi ngàn kiếp những gì đã học đều không quên; một ngàn kiếp từ bỏ nghiệp sát; chín mươi chín ngàn kiếp từ bỏ nghiệp nói lời không thật; mười ba ngàn kiếp từ bỏ nghiệpp nói lời chia rẽ.
"Phổ Dũng, chúng sinh nghe được chánh pháp này, thật khó mà gặp được."
Lúc ấy Bồ tát Phổ Dũng đứng dậy, vắt vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống sát đất, chắp tay hướng về đức Phật cung kính hỏi, "Kính đức Thế tôn, nếu có ai khinh rẻ từ bỏ chánh pháp này, sẽ tạo bao nhiêu nghiệp dữ?"
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, rất nhiều."
Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi, "Thưa đức Thế tôn, rất nhiều, là bao nhiêu?"
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, thôi ông đừng hỏi. Đừng hỏi Như lai người khinh rẻ từ bỏ chánh pháp này tạo bao nhiêu nghiệp dữ. Phổ Dũng, so với nghiệp dữ tạo ra bởi hành động phỉ báng các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát của mười hai sông Hằng, phỉ báng Chánh Pháp Sanghata này nghiệp chướng sâu nặng hơn rất nhiều. Phổ Dũng, nếu có ai đối với chánh pháp này mà sinh tâm phỉ báng, đó chính là phỉ báng Đại Thừa, nên tội chướng nhiều hơn gấp bội. Phổ Dũng, những người như vậy tự tay thiêu cháy chính mình. Họ tự mình thiêu cháy chính mình."
Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, phải chăng không thể giúp họ giải thoát?"
Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng, đúng như ông nói, không thể giúp họ giải thoát.
"Phổ Dũng, ví dụ có người đầu bị chặt đứt, nếu lấy các loại mật, đường, bơ, mạch nha hay dược phẩm làm thuốc xoa dán, ông nghĩ thế nào? Người ấy có khả năng đứng dậy được nữa hay không?"
Bồ tát Phổ Dũng thưa, "Không, thưa Thế tôn. Không thể nào đứng dậy được nữa."
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, lại ví có người cầm vũ khí sắc bén chém vào người khác. Tuy chém một nhát không giết được nhau nhưng cũng đã bị thương. Lúc ấy nếu được thuốc chữa, vết thương còn có thể lành. Chừng đó, khi sống lại, nhớ nỗi đau đớn của vết thương lúc trước, có thể nghĩ rằng ‘nay tôi đã hiểu, tôi sẽ không bao giờ còn làm việc ác, tạo ác nghiệp.’ Nhờ suy nghĩ như vậy, Phổ Dũng, người ấy có thể vì nhớ khổ đau mà từ bỏ việc ác. Bấy giờ có thể thấy chánh pháp. Rồi nhờ thấy chánh pháp mà thành tựu được tất cả thiện pháp.
"Phổ Dũng, sự thể là như vậy. Ví như bậc cha mẹ thấy con mình chết trong đớn đau khổ não nhưng vẫn không có khả năng che chở, tương tự như vậy, Phổ Dũng, người phàm phu không có khả năng cứu mình, cứu người. Như bậc cha mẹ hy vọng mất hết, chúng sinh phàm phu cũng vậy, hy vọng mất hết, đến khi chết chẳng còn nơi nương tựa.
"Phổ Dũng, có hai loại người đến khi chết hy vọng mất hết. Một là người tự mình làm viOEc ác hay khiến người khác làm; hai là người từ bỏ khinh rẻ chánh pháp. Hai loại người này đến lúc mạng chung, không còn chút hy vọng."
Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, từ bỏ khinh rẻ chánh pháp thì phải đọa cõi nào? Phải sinh về đâu?"
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, khinh rẻ chánh pháp thì phải tái sinh triền miên không giới hạn, vô lượng kiếp về sau trầm luân trong luân hồi. Phổ Dũng, từ bỏ chánh pháp thì chịu đớn đau một kiếp trong địa ngục Hào khiếu; một kiếp trong địa ngục Đại hào khiếu; một kiếp trong địa ngục Chúng hợp; một kiếp trong địa ngục Viêm nhiệt; một kiếp trong địa ngục Đại nhiệt; một kiếp trong địa ngục Hắc thằng; một kiếp trong địa ngục A tỳ, một kiếp trong địa ngục Đẳng hoạt; và Phổ Dũng, họ phải chịu khổ đau trong tám đại địa ngục như vậy cho đến tám kiếp."
Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng nói rằng, "Thưa Thế tôn, thật quá đau khổ. Thưa Thiện thệ, thật quá đau khổ. Con không đành lòng nghe."
Bấy giờ, đức Thế tôn nói bài kệ:
"Như lai kể cảnh tượng
Chúng sinh trong địa ngục
Khổ đau như thế nào,
Ông không đành lòng nghe.
"Nếu làm những điều lành
Sẽ được quả an lạc,
Còn làm những điều dữ
Sẽ gặp quả khổ đau.
"Không biết tạo nhân vui
Thì sinh trong cõi đời
Bị dày vò nỗi chết,
Ràng buộc trong đớn đau.
"Ai nhớ Phật tối thắng,
Cấy trồng được nhân vui;
Tin tưởng nơi Đại thừa,
Sẽ không sa ác đạo.
"Phổ Dũng, ông nên biết,
Nghiệpp cũ không mất đi.
Việc lành dù bé nhỏ,
Quả tốt vẫn vô lường.
"Nơi ruộng phước của Phật,
Là ruộng phước tối thượng.
Dù chỉ gieo một hạt,
Thu hoạch cũng lớn lao.
Hái được bao hoa trái,
Do trồng vài hạt mầm.
Ai hoan hỉ chánh pháp,
Sẽ luôn được yên vui,
Sẽ lìa bỏ việc ác,
Làm hết những điều lành.
Dù cúng dường Phật pháp
Vỏn vẹn một mảy lông,
Đến tám mươi ngàn kiếp
Tài sản luôn dồi dào,
Dù sinh ra ở đâu
Cũng siêng năng bố thí.
Do cúng dường Phật Bảo,
Thiện nghiệp nhiều vô tận."
Đại bồ tát Phổ Dũng nghe xong bài kệ, cung kính hỏi đức Phật Thế tôn, "Thưa Thế tôn, nên nghe chánh pháp Phật dạy như thế nào? Nghe chánh pháp này rồi, làm sao nắm giữ gốc rễ điều lành?"
Đức Phật bảo, "Phổ Dũng, công đức của người nghe Chánh Pháp Sanghata này phải biết là nhiều bằng công đức của người đã từng cúng dường phụng sự chư Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều như số cát của mười hai sông Hằng."
Bồ tát Phổ Dũng thưa, "Thưa Thế tôn, làm cách nào cho thiện căn viên mãn?"
-------------------------------
(còn tiếp)

Last edited by phivan; 01-09-2007 at 02:38 PM..
TIMSUTHAT***
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 132
Old 01-09-2007 , 02:13 PM     TIMSUTHAT*** est dconnect  search   Quote  
Xin tán thán công đức của chú Phi Vân !
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-09-2007 , 02:44 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Trong giờ phút này, nếu click vào link sau đây sẽ thấy địa điểm những nơi các Thiện Nam, Tín Nữ đang đọc tụng:



Kinh này hiện đang được đọc tụng 24 giờ trong ngày do các Thiện tri thức thay phiên đọc tụng trên khắp địa cầu .

Mến,
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-09-2007 , 02:51 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Nếu Computer của bạn tốt, bạn có thể nghe giọng của các Thiện Nam, Tín Nữ đang tụng kinh .

Hãy vào trang sau đây:



Mến,
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-10-2007 , 04:18 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
KINH CHÁNH PHÁP
(tiếp theo)
---------------
Bồ tát Phổ Dũng thưa, "Thưa Thế tôn, làm cách nào cho thiện căn viên mãn?"
Đức Phật dạy, "Phổ Dũng, ông nên biết thiện căn vốn bình đẳng với Như lai."
Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, thế nào là thiện căn bình đẳng với Như lai?"
Đức Phật dạy, "Đạo Sư thuyết chánh pháp, bình đẳng với Như lai."
Bồ tát Phổ Dũng lại thưa, "Thưa đức Thế tôn, như thế nào là Đạo sư thuyết chánh pháp?"
Đức Phật dạy, "Bất cứ một ai đọc tụng Chánh Pháp Sanghata này, gọi là Đạo sư thuyết chánh pháp."
Bồ tát Phổ Dũng nói, "Dù chỉ nghe Chánh Pháp Sanghata công đức cũng đã nhiều vô kể, huống chi ghi chép đọc tụng. Công đức như vậy, nhiều bao nhiêu?"
Đức Thế tôn nói, "Phổ Dũng, ông hãy nghe đây. Ví như mỗi phương đều có các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát của mười hai sông Hằng, ngồi thuyết giảng chánh pháp trong thời gian dài mười hai kiếp, dù giải thích không ngưng nghỉ về công đức của người ghi chép kinh Sanghata, cũng vẫn không thể dùng lời mà nói cho cùng tận. Cho dù các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát có trong bốn mươi tám sông Hằng, cũng không thể diễn tả hết được công đức của người ghi chép chánh pháp này, huống chi công đức của người ghi chép rồi suy nghĩ nghĩa lý, đọc tụng, học thuộc lòng. Người ấy sẽ là kho tàng chánh pháp."
Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, vậy lượng công đức của người đọc kinh này ra sao?"
Bấy giờ đức Thế tôn nói bài kệ:

"Nếu có người đọc tụng
Chánh Pháp Sanghata
Dù chỉ được bốn câu,
Thì dù chư Như lai
Nhiều như số cát của
Tám bốn ngàn sông Hằng,
Diễn tả không ngừng nghỉ,
Cũng không thể nói hết
Công đức của người ấy.
Chánh pháp chư Phật dạy
Thật khó mà gặp được,
Rộng vô lượng vô biên."

Bấy giờ có tám mươi bốn trăm ngàn triệu loài trời chắp tay đảnh lễ, hướng về nơi kinh Chánh Pháp Sanghata đang được tuyên thuyết, đồng thanh tán dương, "Thưa Thế tôn, cho dù vì lý do gì, đức Thế tôn truyền lại cho thế gian này kho tàng chánh pháp siêu việt như vậy, thật là một điều lành."

Khi ấy có mười tám trăm ngàn triệu người tu theo đạo khổ hạnh lõa thể kéo đến chỗ đức Thế tôn đang đứng, nói rằng, "Này Cù Đàm Khổ Hạnh, ông hãy là người chiến thắng!"
Đức Thế tôn đáp, "Như lai luôn là người chiến thắng. Các ông ngoại đạo lõa thể, làm sao chiến thắng được ai?"
Họ đều nói, "Chúc cho ông chiến thắng, này Cù Đàm Khổ Hạnh, chúc cho ông chiến thắng."

Đức Thế tôn đáp:
"Như lai không thấy
Trong số các ông
Có ai là bậc
Chiến thắng chân thật.
Với cái thấy điên đảo
Lấy gì mà chiến thắng?
Này những người lõa thể,
Hãy lắng nghe cho kỹ,
Như lai sẽ nói lời
Lợi ích cho các ông.
Trí của một đứa trẻ
Không có gì an lạc,
Lấy gì mà chiến thắng?
Các ông nên biết rằng
Như lai dùng Phật nhãn
Thuyết giảng pháp thậm thâm,
Bình đẳng với tất cả.
Ai cần được nghe pháp,
Như lai sẽ nói cho."

Đoàn người tu đạo lõa thể nghe xong nổi giận, sinh lòng bất tín đối với đức Thế tôn. Vừa lúc ấy, Thiên Vương Đế thích [Indra] giáng sấm sét xuống, mười tám triệu người khổ hạnh lõa thể đồng loạt kinh hãi, tuyệt vọng đớn đau. Họ khóc than, nước mắt chảy thành dòng. Đức Thế tôn tàng ẩn thân hình. Đoàn người tu đạo lõa thể nước mắt đầm đìa.

Tìm quanh không thấy đức Thế tôn, họ thốt lên lời kệ:
"Bây giờ không còn ai
Che chở cho chúng con.
Không cả cha lẫn mẹ,
Như lạc cõi hoang vu.
Không một căn nhà trống,
Biết về đâu trú thân?
Dòng nước nay đã cạn,
Cá biết lội nơi đâu?
Cây xanh giờ không có,
Chim biết đậu chốn nào?
Không có ai che chở
Đau khổ thật vô biên
Không còn thấy Như lai
Khổ đau dài vô tận."

Lúc ấy, mười tám triệu người khổ hạnh lõa thể đứng lên, cả hai chân quì chấm mặt đất, cất tiếng hát rằng:
"Như lai, bậc từ bi,
Là đấng cao quí nhất
Trong toàn cõi con người.
Xin Như lai độ giúp,
Làm nơi chốn chở che
Cho những người tuyệt vọng "

Khi ấy đức Thế tôn mỉm miệng cười, nói với đại bồ tát Phổ Dũng, "Phổ Dũng, ông hãy thay Như lai mà nói chánh pháp cho các vị khổ hạnh lõa thể này."
Bồ tát Phổ Dũng đáp, "Thưa Thế tôn, như ngọn Hắc Sơn nghiền đá của mình để xoay đỉnh về đảnh lễ núi Tu Di, vua của các núi. Con cũng vậy thôi, làm sao có thể nói pháp, khi Như lai đang đứng ở đây, ngay trong Pháp hội này?"
Đức Thế tôn dạy, "Thôi, ông đừng nói, thiện nam tử. Phương tiện thiện xảo của Như lai có rất nhiều, vậy Phổ Dũng, ông hãy du hành mười phương thế giới, thử tìm xem nơi nào đang hiện các đấng Như lai, nơi nào đang dựng pháp đàn. Còn Như lai sẽ ở đây nói chánh pháp cho các vị khổ hạnh lõa thể ngoại đạo này."
Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, con phải đi bằng thần lực nào? bằng thần lực của mình hay của Như lai?"
Đức Phật bảo, "Khi đi, ông hãy dùng thần lực của chính mình. Khi về, hãy nương nhờ thần lực của Như lai."
Bồ tát Phổ Dũng nghe xong đứng dậy, đi quanh đức Thế tôn ba vòng theo chiều bên phải, rồi thân hình biến mất ngay nơi ấy.
----------------------------------
(còn tiếp)
phillip_lieu
Junior Member
Join Date: Jan 2007
Số Điểm: 66
Old 01-12-2007 , 07:17 AM     phillip_lieu est dconnect  search   Quote  
Tụng kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thẳng phước giai hồi hướng,
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng Vô lượng quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ Tát đạo.

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng giữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.

Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát tác đại chúng minh
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-12-2007 , 06:54 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
phillip_lieu,

Hiện nay chưa có MP3 .
Nếu Computer của bạn tốt, bạn có thể nghe giọng của các Thiện Nam, Tín Nữ đang tụng kinh tại trang sau đây và record vào computer của bạn dưới dạng MP3:



Mến,

------------------------------------------------------------

KINH CHÁNH PHÁP SANGHATA (Tiếp theo):

Đức Thế tôn lúc bấy giờ nói với đoàn người khổ
hạnh lõa thể như sau, "Các ông nên biết sinh là khổ.
Chính sự sinh ra đã là khổ não. Vì có sinh nên có sợ.
Vì sinh mà sợ bệnh. Vì bệnh mà sợ già. Vì già mà sợ
chết."
"Thưa Thế tôn, Thế tôn nói ‘vì sinh mà phát sinh
lòng sợ sinh’, là nghĩa gì?"

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 25)

"Vì sinh làm người nên có lắm nỗi sợ. Vua sợ nỗi
vua. Cướp lo nỗi cướp. Sợ lửa, sợ thuốc độc, sợ nước,
sợ gió, sợ lốc xoáy, sợ nghiệp đã làm."
Đức Thế tôn cứ như vậy thuyết giảng phong phú về
pháp sinh. Vào lúc bấy giờ, đoàn người khổ hạnh lõa
thể ngoại đạo trong tâm cực kỳ kinh hoảng, nói rằng,
"Từ nay về sau, chúng con sẽ thôi không khao khát
được sinh ra nữa."
Khi đức Thế tôn giải thích về Chánh Pháp
Sanghata, cả đoàn mười tám triệu người khổ hạnh lõa
thể đều phát tâm vô thượng bồ đề. Trong thành phần
Tăng chúng của Phật, có mười tám ngàn bồ tát thập
địa dùng thần thông hóa hiện thân ngựa, voi, báo, kim
sí điểu, núi Tu Di, chữ vạn, cũng có vị hóa hiện thân
cây. Các vị đều ngồi kiết già trên tòa sen.
Chín ngàn triệu bồ tát ngồi lại phía bên phải của
đức Thế tôn, Chín ngàn triệu vị ngồi lại phía bên trái.
Trong suốt khoảng thời gian đó, Phật nhập chánh
định, thuyết pháp bằng phương tiện thiện xảo. Đến
ngày thứ bảy, đức Thế tôn duỗi cánh tay, biết đại bồ
tát Phổ Dũng đang trở về từ cõi Phật Liên Hoa
Thượng. Khi đi, đại bồ tát Phổ Dũng dùng thần lực
của chính mình, hết bảy ngày mới đến được cõi Phật
Liên Hoa Thượng. Khi đức Thế tôn duỗi cánh tay, Bồ
tát Phổ Dũng đã về bên cạnh đức Thế tôn. Sau khi đi
quanh đức Thế tôn ba vòng theo chiều bên phải, Bồ tát
Phổ Dũng nghe tâm tràn đầy tin tưởng, chắp tay hướng
về đức Thế tôn mà thưa, "Thưa Thế tôn, con đã viếng
tất cả thế giới hệ của mười phương. Bằng một thành
thần lực của mình, con đã gặp chín mươi chín ngàn triệu cõi Phật.

( Kinh Chánh Pháp sanghata trang 26)

Bằng hai thành thần lực của mình, con
đã thấy được một ngàn triệu đấng Thế tôn. Cứ như vậy
cho đến ngày thứ bảy, tới được cõi Phật Liên Hoa
Thượng, trên đường đi con cũng thấy hàng trăm ngàn
triệu cõi Như lai bất động.
"Thưa Thế tôn, vào lúc ấy chư Phật Thế tôn dùng
thần lực hoá hiện, vì chúng sinh mà nói chánh pháp
trong chín mươi hai ngàn triệu cõi Phật. Con thấy
được tám mươi ngàn triệu cõi Phật, tám mươi ngàn
triệu Như lai, −ng cúng, Chánh biến tri xuất hiện
trong cõi thế. Sau khi đảnh lễ từng vị xong, con lại đi
tiếp.
"Thưa Thế tôn, ngay ngày hôm ấy, con đi qua ba
mươi chín ngàn triệu cõi Phật, và trong ba mươi chín
ngàn triệu cõi Phật này, có ba mươi chín ngàn triệu bồ
tát sinh ra, và trong cùng một ngày, thành tựu vô
thượng bồ đề. Con đi quanh các đấng Như lai, −ng
cúng, Chánh biến tri ấy ba vòng theo chiều bên phải,
rồi dùng thần thông làm thân mình biến mất.
"Thưa Thế tôn, con cũng thấy chư Phật Thế tôn,
trong sáu mươi triệu cõi Phật. Con quì đảnh lễ từng
cõi Phật, từng vị Phật Thế tôn, rồi đi tiếp.
"Thưa Thế tôn, con lại thấy tám triệu cõi Phật, Như
lai nhập diệt niết bàn để giáo hóa chúng sinh. Con
đảnh lễ chư vị rồi đi tiếp.
"Lại nữa, thưa Thế tôn, có chín mươi lăm triệu cõi
Phật, chánh pháp đều mất cả. Con cực kỳ xao xuyến,
bậc khóc xót thương. Ở đó, con lại thấy các loài trời,
rồng [nagas], dạ xoa [yakshas], la sát [rakshasas],
cùng nhiều loại chúng sinh khác trong cõi Dục giới khóc than khắt khoải.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 27)

Thưa Thế tôn, con lại thấy trong
các cõi Phật ấy sông ngòi đại dương, núi Tu Di cùng
cỏ cây đất đai đều cháy rụi không sót lại chút gì. Con
quì đảnh lễ, nghe lòng tuyệt vọng, rồi đi tiếp.
"Thưa Thế tôn, con lên đến tận cõi Phật Liên Hoa
Thượng, thấy có năm trăm ngàn triệu tòa sen được
dựng lên. Ở phía Nam, có một trăm ngàn triệu tòa sen.
Ở phía Bắc, có một trăm ngàn triệu tòa sen. Ở phía
Đông có một trăm ngàn triệu tòa sen. Ở phía Tây có
một trăm ngàn triệu tòa sen. Ở không gian phía trên có
một trăm ngàn triệu tòa sen. Thưa Thế tôn, tất cả toà
sen được dựng bằng bảy loại châu báu, trên mỗi toà
sen là một đấng Như lai đang thuyết pháp. Con kinh
ngạc, hướng về tất cả các đấng Như lai ấy, hỏi:
‘Không biết đây là cõi Phật nào?’
"Các đấng Như lai dạy rằng ‘Thiện nam tử, đây là
cõi Phật Liên Hoa Thượng.’
"Thưa Thế tôn, con đi quanh theo chiều bên phải
của tất cả các vị Như lai ấy, và hỏi hồng danh của
đấng Như lai hóa chủ cõi Phật này. Chư Như lai đáp,
‘hóa chủ cõi Phật này là đức Liên Hoa Tạng
[Padmagarbha] Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri."
"Lúc ấy con lại hỏi, ‘Con thấy có hàng trăm ngàn
triệu đấng Như lai, nhưng lại không biết đấng hóa chủ
Liên Hoa Tạng Như lai ứng cúng Chánh biến tri là vị
nào. Xin chỉ giúp cho con, đấng hóa chủ nơi đây là vị
nào?’ Như lai đáp, ‘Thiện nam tử, Như lai sẽ chỉ cho
ông thấy đâu là Liên Hoa Tạng Như lai ứng cúng
Chánh biến tri.’
"Nói vừa xong, tất cả chư Như lai đều biến đi, hiện tướng bồ tát.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 28)

Chỉ còn lại một đấng Như lai. Con đến
đảnh lễ, đặt đỉnh đầu ngang chân Như lai. Khi con vừa
đến, một tòa sen hiện lên, con bước lên toà sen ấy.
Thưa Thế tôn, lúc ấy bỗng dưng có rất nhiều tòa sen
hiện lên, nhưng không ai ngồi trên đó cả. Con mới hỏi
Liên Hoa Tạng Như lai, ‘Kính thưa Như lai, vì sao tòa
sen lại trống không, không ai ngồi?’ Liên Hoa Tạng
Như lai đáp, ‘Chưa trồng gốc rễ điều lành thì không
đủ thần lực lên ngồi các tòa sen ấy.’
"Con lại hỏi, ‘Kính thưa Thế tôn, muốn ngồi tòa
sen ấy phải trồng gốc rễ điều lành nào?’
"Đức Liên Hoa Tạng Như lai đáp, ‘Ông hãy nghe
đây, Thiện nam tử. Chúng sinh nào được nghe Chánh
Pháp Sanghata sẽ nhờ gốc rễ điều lành này mà lên
ngồi tòa sen kia, huống chi người ghi chép, đọc tụng.
Phổ Dũng, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp
Sanghata nên bây giờ có thể lên ngồi tòa sen ấy. Bằng
không, chẳng làm sao đến được cõi Phật này.’
"Đức Thế tôn nói xong, con lại hỏi, ‘Thưa Thế tôn,
công đức của người nghe Chánh Pháp Sanghata này
được bao nhiêu?’
"Liên Hoa Tạng Như lai mỉm miệng cười. Con lại
hỏi, ‘Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì, mà Như
lai mỉm miệng cười?’ "Đức Thế tôn nói, ‘Này Thiện
nam tử, này đại bồ tát Phổ Dũng, bậc thần thông trí tuệ
vượt bực, ông hãy nghe cho kỹ. Ví dụ có người là vua
Chuyển pháp luân, thống lãnh bốn lục địa. Phổ Dũng,
nếu vua Chuyển pháp luân ấy lấy hạt mè trồng đầy
bốn lục địa, ông nghĩ thế nào, sẽ thu hoạch được bao
nhiêu?’

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 29)

"Con thưa rằng, ‘Nhiều, thưa Thế tôn, nhiều lắm,
thưa Thiện thệ.’
"Đức Thế tôn bảo, ‘Phổ Dũng, ví dụ được bao
nhiêu hạt mè, gom thành một đống, lại có người ngồi
lượm từng hạt mà đếm, xếp sang một bên. Ông nghĩ
thế nào, có đếm hết được không?’
"Con thưa, ‘Thưa Thế tôn, không thể được. Thưa
Thiện thệ, không cách gì có thể đếm hết được.’
‘Phổ Dũng, tương tự như vậy, trừ phi là Như lai,
không ai có thể đếm biết công đức của Chánh Pháp
Sanghata này. Phổ Dũng, cho dù các bậc Như lai
nhiều bằng số lượng mè thu hoạch được, tất cả cùng
nói về công đức của người nghe Chánh Pháp Sanghata,
công đức ấy vẫn không thể nói cùng, cũng không thể
dùng ví dụ diễn tả, huống chi là công đức của người
biên chép, đọc tụng, hay nhờ người biên chép.’
"Con lại hỏi, ‘biên chép Chánh Pháp Sanghata sẽ
được phước gì?’
"Đức Thế tôn nói, ‘Thiện nam tử, ông hãy nghe
đây. Nếu có ai mang hết cây cỏ có trong một triệu thế
giới, cắt thành từng khúc dài bằng bề rộng một ngón
tay, và, Phổ Dũng, hãy nghe thêm hai ví dụ này, nếu
tất cả đất, đá, núi, tất cả vi trần có trong một triệu thế
giới hệ, cứ mỗi một vi trần biến thành một vị vua
Chuyển pháp luân, thống lãnh bốn lục địa. Công đức
của ngần ấy vua Chuyển pháp luân, có thể dùng toán
số đếm biết được không?’
"Con thưa, ‘Ngoài Như lai, không ai có thể đếm
biết được.’
‘Phổ Dũng, công đức của người ghi chép Kinh Chánh Pháp Sanghata cũng vậy.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 30)

Ngần ấy vua Chuyển pháp luân được bao nhiêu công đức, vẫn không thể sánh nổi với công đức của người ghi chép chánh pháp này, dù chỉ một chữ. Tuy công đức của vua
Chuyển pháp luân rất đồ sộ, vẫn không thể sánh bằng. Phổ
Dũng, bậc đại bồ tát cũng vậy, trụ thế hộ trì và hành
trì chánh pháp Đại Thừa, công đức không thể nghĩ
bàn, dù là vua Chuyển pháp luân cũng không thể sánh
bằng. Tương tự như vậy, không gì có thể ví bằng công
đức của người ghi chép kinh Chánh Pháp Sanghata.
Phổ Dũng, kinh Sanghata này vén mở cả kho tàng
công đức, hàng phục phiền não, tỏa rạng ngọn đèn
chánh pháp, chiến thắng ma vương, làm sáng ngời cõi
thanh tịnh bồ tát, mang lại thành tựu viên mãn các
Pháp.’
"Nghe đức Như lai nói xong, con hỏi, ‘Thưa Thế
tôn, ở cõi thế gian này, phạm hạnh là điều khó giữ.
Nếu có ai tự hỏi vì sao lại như vậy, thưa Thế tôn, là vì
đường tu của Như lai khó gặp, nên phạm hạnh cũng
khó gặp. Siêng tu phạm hạnh thì thấy Như lai; ngày
cũng như đêm, Như lai luôn ở trước mặt. Bao giờ trực
tiếp thấy được Như lai, ngày đêm chiêm bái, thì thấy
được cõi Phật. Thấy cõi Phật thì thấy được kho tàng
chánh pháp. Đến lúc chết, sợ hãi cũng không sinh. Do
đó không lo, không buồn, không bị tham dục ràng
buộc.’
"Con nói xong, đức Thế tôn dạy rằng, ‘Phổ Dũng,
Như lai xuất hiện cõi thế là việc hiếm hoi khó gặp.’
"Con nói, ‘Thưa Thế tôn, rất hiếm hoi. Thưa Thiện
thệ, rất khó gặp.’

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang31)

"Đức Thế tôn nói, ‘Phổ Dũng, Chánh Pháp
Sanghata cũng vậy, cũng rất khó gặp. Chánh Pháp
Sanghata này đi vào lỗ tai ai, người ấy sẽ nhớ chuyện
tám mươi kiếp về trước. Sáu mươi ngàn kiếp sẽ làm
vua Chuyển pháp luân, tám ngàn kiếp thành bậc Đế
thích, hai mươi ngàn kiếp giàu có như chư thiên cõi
trời thanh tịnh, ba mươi tám ngàn kiếp sinh làm đại bà
la môn, chín mươi chín ngàn kiếp không tái sinh cõi
dữ, một trăm kiếp không sinh làm quỉ đói, hai mươi
tám ngàn kiếp không sinh cõi súc sinh, mười ba ngàn
kiếp không sinh cõi a tu la, không chết vì vũ khí, hai
mươi lăm ngàn kiếp trí tuệ không bị khuất lấp, bảy
ngàn kiếp sáng dạ thông minh, chín ngàn kiếp dung
mạo uy nghi dễ mến, giống như tướng tốt của sắc thân
Như lai, hai mươi lăm ngàn kiếp không mang thân nữ,
mười sáu ngàn kiếp không mang thân tật bệnh, ba
mươi lăm ngàn kiếp được nhãn thông, mười chín ngàn
kiếp không sinh vào loài rồng, sáu mươi ngàn kiếp
không bị sân hận tác động, bảy ngàn kiếp không sinh
vào gia đình nghèo khó, tám mươi ngàn kiếp sinh trên
hai lục địa. Đến khi phước báu cạn, cũng được những
điều như sau: mười hai ngàn kiếp không sinh làm
người mù, mười ba ngàn kiếp không sinh vào ba cõi ác
đạo, mười một ngàn kiếp làm vị hiền giả dạy pháp
nhẫn.
‘Đến lúc lâm chung, khi thần thức cuối cùng ngưng
lìa, vẫn không vướng vọng tâm điên đảo, không bị sân
hận tác động. Phương Đông sẽ thấy chư Phật Thế tôn
nhiều như số cát của mười hai sông Hằng; phương
Nam sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của hai mươi triệu sông Hằng;

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 32)

Phương Tây sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của hai mươi lăm sông Hằng;
Phương Bắc sẽ trực tiếp thấy chư Phật Thế tôn
nhiều như số cát của tám mươi sông Hằng; không gian
phía trên sẽ trực tiếp thấy được chư Phật Thế tôn nhiều
như số cát của chín mươi triệu sông Hằng; không gian
phía dưới sẽ trực tiếp thấy chư Phật Thế tôn nhiều như
số cát của tám triệu sông Hằng, tất cả đều trực tiếp
hiện ra trước mắt người ấy, nói với người ấy như sau,
‘Thiện nam tử, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp
Sanghata nên đời sau sẽ được nhiều an lạc hạnh phúc,
vì vậy ông đừng sợ hãi.’ Nói như vậy rồi, chư Như lai
lại an ủi người ấy, ‘Thiện nam tử, ông có thấy các bậc
Như lai nhiều như cát của hàng trăm tỷ triệu con sông
Hằng không?’
‘Người ấy đáp, ‘Thưa Thế tôn con có thấy. Thưa
Thiện thệ, con có thấy.’
‘Như lai nói, ‘Thiện nam tử, các bậc Như lai này
đến để gặp ông.’
‘Người ấy hỏi, ‘Con nhờ công đức gì mà được Như
lai đến gặp ở đây?’
‘Như lai đáp, ‘Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Nhờ ông có được thân người, tai lại tình cờ nghe được
Chánh Pháp Sanghata, vì vậy tạo được công đức lớn
như vậy.’
‘Người ấy nói, ‘Thưa Thế tôn, chỉ tình cờ nghe qua
mà được công đức nhiều như vậy, nói gì người nghe
được hết từ đầu chí cuối.’
‘Như lai nói, ‘Ông đừng nói, ông đừng nói. Thiện
nam tử, Như lai sẽ nói cho ông nghe về công đức cửa một bài kệ bốn câu.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 33)

Thiện nam tử, so với công đức của
các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều như
số cát của mười ba sông Hằng, công đức của một bài
kệ bốn câu nhiều hơn rất nhiều. So với công đức của
người cúng dường các bậc Như lai, −ng cúng, Chánh
biến tri nhiều bằng số cát có trong mười ba sông Hằng
thì công đức của người nghe chỉ một bài kệ bốn câu
của Chánh Pháp Sanghata này nhiều hơn rất nhiều,
huống chi nghe được trọn vẹn từ đầu chí cuối. Thiện
nam tử, ông hãy nghe về công đức của người nghe
Chánh Pháp Sanghata từ đầu chí cuối. Ví dụ một thiên
hà bao gồm hàng tỷ thế giới hệ phủ toàn hạt mè, và số
lượng của vua Chuyển pháp luân nhiều bằng số mè ấy,
rồi có người nhiều tiền lắm của, cúng dường rộng rãi
tất cả những vị vua Chuyển pháp luân kia, công đức ấy
vẫn không sánh bằng công đức cúng dường một vị Tu
đà hoàn.
Nếu tất cả chúng sinh trong toàn cõi thiên hà bao
gồm hàng tỷ thế giới hệ đều trở thành bậc Tu đà hoàn,
công đức cúng dường ngần ấy Tu đà hoàn vẫn không
sánh bằng công đức cúng dường một vị Tư đà hàm.
Nếu tất cả chúng sinh trong toàn cõi thiên hà bao gồm
hàng tỷ thế giới hệ đều trở thành bậc Tư đà hàm, công
đức cúng dường ngần ấy Tư đà hàm vẫn không sánh
bằng công đức cúng dường một vị A na hàm. Nếu tất
cả chúng sinh trong toàn cõi thiên hà bao gồm hàng tỷ
thế giới hệ đều trở thành bậc A na hàm, công đức cúng
dường ngần ấy A na hàm vẫn không sánh bằng công
đức cúng dường một vị A la hán. Nếu tất cả chúng
sinh trong toàn cõi thiên hà bao gồm hàng tỷ thế giói hệ đều trở thành bậc A la hán, công đức cúng dường
ngần ấy A la hán vẫn không sánh bằng công đức cúng
dường một vị Bích Chi Phật.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 34)

Nếu tất cả chúng sinh
trong toàn cõi thiên hà bao gồm hàng tỷ thế giới hệ
đều trở thành bậc Bích Chi Phật, công đức cúng dường
ngần ấy Bích Chi Phật vẫn không sánh bằng công đức
cúng dường một vị bồ tát. Nếu tất cả chúng sinh trong
toàn cõi thiên hà bao gồm hàng tỷ thế giới hệ đều trở
thành bậc bồ tát, công đức cúng dường ngần ấy bồ tát
vẫn không sánh bằng công đức của người phát khởi tín
tâm trong sáng nơi một Như lai, không thể sánh bằng
công đức của người phát khởi tín tâm trong sáng nơi
hàng tỷ thế hệ đầy cả Như lai, và không thể sánh bằng
người nghe Chánh Pháp Sanghata này. Chừng đó, Phổ
Dũng, có cần phải giải thích về công đức của người
biên chép, đọc tụng thuộc lòng, suy xét nghĩa lý của
chánh pháp này hay không? Có cần phải giải thích về
công đức củ a người đối trước kinh này mà lễ bái với
lòng tin tưởng trong sáng hay không?"
‘Phổ Dũng, ông nghĩ thế nào? Có người tự hỏi kẻ
phàm phu ấu trĩ có thể nghe chánh pháp này được
chăng, dù có được nghe, cũng không thể tin nhận.
‘Phổ Dũng, ông hãy nghe đây, kẻ phàm phu ấu trĩ
muốn chạm đáy đại dương, liệu có khả năng làm được
việc này hay không?’
"Con đáp, ‘Thưa Thế tôn, không thể.’
"Đức Thế tôn lại hỏi, ‘Có kẻ muốn đưa tay múc
cạn đại dương, liệu có khả năng làm được việc này hay
không? ‘
"Con đáp, ‘Thưa Thế tôn, không thể được. Thưa Thiện thệ, không thể được. ‘

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 35)

"Như lai nói, ‘Phổ Dũng, chúng sinh không có khả
năng vớt cạn đại dương, người mang tâm nguyện nhỏ
bé cũng vậy, không có khả năng tiếp nhận chánh pháp
này. Phổ Dũng, chưa gặp đủ chư Như lai nhiều như số
cát có trong tám mươi sông Hằng thì chưa thể ghi chép
Chánh Pháp Sanghata. Chưa gặp đủ chư Như lai nhiều
như số cát có trong chín mươi sông Hằng thì chưa thể
nghe Chánh Pháp Sanghata. Chưa gặp đủ trăm ngàn
triệu triệu Như lai thì dù gặp được chánh pháp này
cũng không thể tín nhận. Phổ Dũng, người nào gặp đủ
hằng hà sa số Như lai, khi nghe chánh pháp này sẽ có
được lòng tin trong sáng. Người ấy sẽ vô cùng hoan
hỉ, sẽ có được cái nhìn đúng với sự thật [như thật tri
kiến], sẽ tin nhận Chánh Pháp Sanghata này mà không
sinh lòng khinh rẻ.
‘Phổ Dũng, ông hãy nghe đây, người nào ghi chép
chỉ một bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Sanghata, sau
khi đi qua chín mươi lăm ngàn triệu thế giới hệ thì cõi
Phật của người ấy sẽ giống như cõi Tịnh Độ A Di Đà.
Phổ Dũng, thọ mạng của chúng sinh ấy sẽ dài tám
mươi bốn ngàn kiếp.
‘Phổ Dũng, ông hãy nghe đây, nếu có ai vướng
nghiệp ngũ nghịch, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người
làm, hoặc thấy người làm mà lòng mừng theo, khi
nghe được bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Sanghata
này, tội chướng tiêu tan cả.
‘Phổ Dũng, ông hãy nghe, Như lai sẽ nói thêm về
diệu dụng của chánh pháp này. Ví dụ có người phá
hủy tháp Phật, phá Tăng hòa hợp, quấy nhiễu chắnh định của bồ tát, hoại chánh trí Như lai, giết cha giết
mẹ.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 36)

Nghiệp gây ra rồi lại hối hận, buồn bã nghĩ rằng,
"Thân này đã hỏng, đời sau cũng hỏng theo. Thật vô
tích sự." Nghĩ rồi tâm sinh sầu thảm, đau đớn vô bờ.
Phổ Dũng, người ấy bị người khác hất hủi khinh rẻ.
Đối với chuyện thế gian cũng như xuất thế đều trở nên
vô dụng. Như thanh củi đã cháy thành tro, người ấy
kiếp kiếp cũng đều như vậy. Như rường cột của căn
nhà huy hoàng tráng lệ, lửa cháy rồi trông thật thê
lương. Người ấy cũng vậy, trông thật thảm thương, ở
đâu, chỗ nào cũng bị đánh đập chê trách; khổ sở đói
khát bức bách, một miếng cũng không có mà ăn. Càng
chịu khổ lớn, càng bị hành hạ đói khát, lại càng nhớ
nghiệp phá hủy tháp Phật và năm nghiệp ngũ nghịch
đã làm. Khi nhớ lại việc làm xưa, người ấy nghĩ rằng,
‘rồi ta sẽ về đâu? Ai sẽ là người che chở cho ta?’ Càng
nghĩ càng tuyệt vọng, ‘Đã không còn nơi nương dựa,
thôi lên núi cao nhảy xuống vực cho xong.’ Người ấy
nói,
‘Nghiệp dữ đã tạo,
Nay như tro tàn,
Muôn đời lửa cháy.
Kiếp này không vẹn,
Kiếp sau không tròn,
Trong thân không an,
Ngoài thân không ổn.
Vì tâm mê lầm,
Nên tạo nghiệp ác.
Nghiệp ác phạm rồi,
Sẽ đọa ác đạo,

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 37)

Sinh đâu cũng vậy,
Cũng khổ như nhau’
Người ấy nghĩ rồi
Khóc than vật vã,
Tiếng khóc kinh động
Đến cả chư thiên:
‘Bóng tối trước mặt,
Hy vọng không còn,
Thôi ta đành phải
Đọa vào ác đạo.’
Chư thiên lên tiếng bảo:
‘Tâm trạng khổ đau
Ngươi giữ làm gì?
Hãy vất hết xuống,
Thong thả mà đi’
Người ấy trả lời:
‘Tôi giết cha giết mẹ
Nghiệp ngũ nghịch vướng rồi
Không còn nơi nương dựa
Khổ đau làm sao tránh?
Thôi tìm đỉnh núi cao
Ném thân mình xuống vực.’
Chư Thiên liền khuyên,
‘Ngươi thật quá điên rồ,
Chớ làm điều dại dột!
Đã tạo nhiều ác nghiệp,
Đừng tự buộc thêm vào.
Ai tự hại chính mình

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 38)

Sẽ lạc sâu địa ngục,
Ở đó phải khóc gào,
Phải rơi nhào xuống đất.
Cố gắng kiểu như vậy,
Chẳng thể thành Phật đà,
Chẳng thể thành Bồ tát,
Chẳng thể thành Thanh văn.
Phải tìm hướng đi khác,
Mà gắng sức vượt lên.
Ở trên ngọn núi kia,
Có một vị thánh nhân,
Ngươi ráng lên tìm gặp.’
Người kia lên đỉnh núi,
Gặp được đại thánh nhân,
Bỗng sinh lòng kính ngưỡng,
Liền quì xuống đê đầu:
‘Con nay khổ đã nhiều,
Lắm sợ hãi đau thương,
Xin thánh nhân che chở,
Cho con về nương dựa,
Cho con được nghe Pháp,
Dù chỉ chốc lát thôi.
Cho con được sám hối,
Những tội lỗi đã làm.
Xin thánh nhân hãy nói,
Với con một lời thôi.’
Vị thánh nhân an ủi,
‘Ông nay khóc đã nhiều,
Chịu bao nhiêu khổ não,

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 39)

Đói khát và tuyệt vọng,
Trong ba cõi luân hồi.
Vậy ông hãy vào đây,
Ăn uống rồi ngơi nghỉ.
Bao giờ thân bình an,
Bấy giờ hẳn nghe Pháp.’
Bao nhiêu món ăn ngon
Người ấy ăn hết cả.
Ăn xong rửa sạch tay,
Đi nhiễu quanh thánh hiền.
Rồi xếp chân tĩnh tọa.
‘Con giết mẹ giết cha,
Hủy chùa tháp của Phật,
Phá hoại hòa hợp Tăng,
Ngăn bồ tát thành đạo.’
Nghe xong những lời ấy,
Vị thánh nhân nói rằng:
‘Ông tạo nên nghiệp dữ,
Làm lắm việc tày trời.
Bây giờ phải sám hối,
Những việc ác đã làm
Hay đã bảo người làm.’
Nghe thánh nhân nói vậy,
Tim người ấy rụng rời,
Tâm kinh hoàng tuyệt vọng:
‘Ai che chở cho con?
Việc ác kia đã làm,
Khổ đau ắt phải chịu!’
Người ấy cả hai chân

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 40)

Quì xuống chấm mặt đất.
‘Những tội ác sâu nặng,
Đã làm hay bảo làm,
Con xin sám hối cả.
Nguyện đừng thành quả dữ,
Nguyện đừng chịu khổ đau.
Bây giờ con ở đây,
Xin thánh nhân che chở,
Xin cho con nương dựa,
Xin giúp con sám hối,
Cho tội chướng tiêu tan.’

----------------------------------------

(còn tiếp)

Ghi chú: Khi Đọc hoặc Tụng, đừng đọc số trang . Số trang ghi để theo dõi, nếu ai thấy lỗi chính tả, khi sửa lại biết chỗ sai ở trang nào .
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-14-2007 , 07:12 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
KINH CHÁNH PHÁP (Tiếp theo)
------------------------------------------

‘Lúc bấy giờ vị thánh nhân cất lời trấn an, ‘Ta sẽ
làm nơi nương dựa. Ta sẽ nâng đỡ ông. Ta sẽ là người
bạn che chở cho ông. Ông chớ nên lo sợ, hãy lắng
nghe cho kỹ. Phật có một chánh pháp tên gọi
Sanghata, ông đã từng nghe qua bao giờ chưa?’
‘Người ấy thưa, ‘Con chưa từng được nghe qua.’
‘Thánh nhân nói, ‘Thật là tội nghiệp. Nếu không
trú ở lòng từ bi, có ai mang chánh pháp ra nói cho
người bị lửa đốt bao giờ. Thiện nam tử, ông hãy nghe
câu chuyện này. Ở một thời xa xưa, vô lượng kiếp về
trước, có một vị Pháp Vương tên gọi Vô Cấu Nguyệt
[Vimala-chandra]. Lúc bấy giờ vua Vô Cấu Nguyệt
sinh được người con trai, liền mời các vị bà la môn
rành xem tướng đến hỏi rằng, ‘Các ông xem tướng đứa
bé này ra sao.’ Tất cả đều nói, ‘Thật chẳng lành. Đứa
bé mới ra đời này, thật chẳng lành.’ Vua hỏi, ‘Đứa bé
lớn lên sẽ ra sao?’ Tất cả đều nói, ‘Đứa bé này khi bảy
tuổi sẽ làm hại tánh mạng của cha mẹ mình.’

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 41)

Bấy giờ vua nói, ‘Dù đứa bé có sẽ hại mạng ta, nhưng nó vẫn
là con ta, ta sẽ không hại nó. Huống chi thân người
trong cõi thế gian này thật vô cùng quí hiếm, ta nhất
định sẽ không giết hại bất cứ một ai.’
‘Đứa bé lớn thật nhanh, qua một tháng đã lớn bằng
trẻ hai tuổi. Thấy đứa bé lớn nhanh, vua biết đều là do
nghiệp báo của mình, nên sớm trao ngôi báu lại cho
đứa trẻ, dặn dò kỹ lưỡng, ‘Giang sơn này ta giao lại
cho con. Con hãy là một vị vua tốt, hãy dùng chánh
pháp mà trị dân, chuyện gì trái với chánh pháp, đừng
bao giờ làm.’ Truyền ngôi xong, vua rũ bỏ mọi quyền
hành của người trị nước.
‘Hàng triệu quan đại thần kéo về cạnh vua Vô Cấu
Nguyệt, thưa rằng ‘Đại vương, vì lý do gì mà ngài dứt
bỏ giang sơn, thôi không trị nước?’
‘Vua đáp, ‘Cho dù từ nhiều lần vô lượng kiếp ta
luôn được làm vua với đầy đủ giang sơn, tài sản,
quyền hành, nhưng vẫn không thấy mãn nguyện.’
‘Chẳng bao lâu sau, đứa con trai cướp đi mạng
sống của cha mẹ, vướng nghiệp vô gián.
‘Ông có biết, ta còn nhớ khi vị vua trẻ giết cha mẹ
mình rồi, cũng cảm thấy hối hận, cũng khóc than vật
vã. Ta thấy vậy phát tâm đại bi, đến nói chánh pháp
cho người ấy nghe. Người ấy nghe xong, nghiệp vô
gián tiêu diệt nhanh chóng, không còn dấu vết.
‘Vị thánh nhân nói tiếp, ‘Chánh Pháp Sanghata là
chúa tể của mọi kinh, chư đại khổ hạnh nghe được rồi
sẽ nắm được cội nguồn chánh pháp vô thượng, xóa
mọi nghiệp chướng, tiêu diệt mọi phiền não thác loạn.
‘Đường dẫn đến giải thoát
Ta sẽ nói ở đây,

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 42)

Ông hãy nghe cho kỹ.
Một bài kệ bốn câu
Nếu được giảng liên tục,
Sẽ diệt mọi nghiệp chướng,
Đạt quả Tu đà hoàn,
Giải thoát mọi ác nghiệp.’
Khi lời này nói ra,
Chúng sinh bị ràng buộc
Trong địa ngục kinh hoàng
Đều được giải thoát cả.
Người ấy nghe xong rồi
Từ chỗ ngồi đứng dậy,
Hai bàn tay chắp lại,
Đảnh lễ dưới chân thầy:
‘Lành thay, ôi lành thay!
Lành thay, thiện tri thức,
Lành thay, đấng đạo sư,
Vạch lối đi vi diệu,
Chánh Pháp Sanghata,
Chiến thắng mọi nghiệp dữ.
Lành thay, cho những ai
Được nghe chánh pháp này!’
‘Vào lúc bấy giờ, ở khoảng không phía trên, mười
hai ngàn thiên tử cùng chắp tay, tiến đến trước mặt
thánh nhân, quì xuống đảnh lễ, nói rằng, ‘Thượng
nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?’
Đồng thời, có bốn triệu long vương và mười tám ngàn
la sát vương cũng đến.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 43)


Tất cả chắp tay hướng về thánh nhân, cung kính cúi đầu đảnh lễ, nói như sau, ‘Thượng nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?’
Vị thánh nhân đáp, ‘Hàng trăm ngàn triệu thời kỳ vô
số.’
‘Tất cả cùng hỏi, ‘Nhờ thiện nghiệp nào mà ác
nghiệp có thể tức thì tẩy sạch?’
‘Thánh nhân đáp, ‘Nhờ nghe Chánh Pháp
Sanghata. Trong số chúng sinh đến đây ngày hôm nay,
tất cả những ai có lòng tin tưởng khi nghe chánh pháp
này, sẽ được thọ ký vô thượng bồ đề. Người nào vướng
năm nghiệp vô gián, chỉ cần nghe nói đến chánh pháp
tên Sanghata, nghiệp chướng tức thì tiêu diệt. Hàng
trăm triệu thời kỳ vô số vô lượng kiếp, cửa vào ác
nghiệp sẽ khép kín, ba mươi hai cánh cửa dẫn vào các
tầng trời sẽ mở ra. Gốc rễ điều lành của người chỉ
nghe một bài kệ bốn câu đã đồ sộ như vậy, huống chi
mang lòng tin tưởng tôn kính, cúng dường chánh pháp
ấy bằng hoa, vòng hoa, hương đốt, hương xoa, hương
bột, y phục, màn trướng, tràng phan, hay người dùng
nhạc cụ tấu nhạc cúng dường, phát sinh một niệm
hoan hỉ, tán dương ‘lành thay, lành thay’.’"
Đại bồ tát Phổ Dũng kể lại với đức Thế tôn, "Thưa
Thế tôn, còn những người khi nghe tuyên thuyết
Chánh Pháp Sanghata mà đảnh lễ bằng cách chắp tay
cung kính, họ được công đức gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Thiện nam tử, ông hãy nghe
đây. Bất cứ một ai vướng nghiệp vô gián, tự mình làm,
bảo người làm, hay thấy người làm mà lòng mừng
theo, khi nghe bài kệ bốn câu của Chánh Pháp
Sanghata mà biết đảnh lễ bằng cách chắp tay cung kính, Phổ Dũng, ông nên biết tội chướng vô gián của
người ấy đều tiêu diệt cả, huống gì nghe được trọn vẹn
Chánh Pháp Sanghata, công đức lại nhiều hơn gấp bội.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 44)


Thiện nam tử, Như lai sẽ giải thích ý nghĩa này cho
ông. Ví dụ cung điện long vương trong hồ Vô Nhiệt
Não [Anavatapta], nơi đó mặt trời không soi sáng, lại
có năm con sông lớn, nước chảy xiết vô cùng vô tận.
Có người muốn đếm từng giọt nước trong năm con
sông lớn kia, Phổ Dũng, ông nghĩ thế nào, có đếm hết
được không?"
Phổ Dũng thưa, "Không thể, thưa Thế tôn."
Đức Thế tôn nói, "Phổ Dũng, gốc rễ điều lành của
Chánh Pháp Sanghata này cũng vậy, dù có đếm hàng
trăm hàng ngàn kiếp cũng không thể nào đếm hết. Phổ
Dũng, nếu ông thắc mắc vì sao lại như vậy, Như lai
hỏi ông, người tuyên thuyết Chánh Pháp Sanghata
trong một phút giây, có nhọc công hay không?"
Phổ Dũng đáp, "Dạ có, thưa Như lai."
Đức Thế tôn nói, "Phổ Dũng, người nào có khả
năng tuyên thuyết Chánh Pháp Sanghata phải nhọc
công còn hơn vậy nữa. Ví như đếm nước trong năm
con sông lớn chảy từ hồ Vô Nhiệt Não, không thể nào
cùng."
Bồ tát Phổ Dũng thưa, "Thưa Thế tôn, năm con
sông lớn ấy tên gọi là gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Đó là sông Ganges, sông Sita,
sông Vakshu, sông Yamuna và sông Chandrabhaga.
Năm con sông lớn này đổ ra đại dương. Mỗi con sông
đều có năm trăm nhánh sông đổ vào. Phổ Dũng, năm
trăm nhánh sông này từ trời chảy về, mỗi nhánh sông lại có hàng ngàn nhánh sông nhỏ, nhờ vào đó mọi loài
chúng sinh đều được lợi ích."

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 45)


Phổ Dũng thưa, "Hàng ngàn nhánh sông nhỏ đó là
gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Sundari có hàng ngàn nhánh
sông, Shamkha có hàng ngàn nhánh sông, Vahanti có
hàng ngàn nhánh sông, Chitra-sena có hàng ngàn
nhánh sông, Dharma-vritta có hàng ngàn nhánh sông.
Những con sông lớn này đều có hàng ngàn nhánh
sông, làm thành suối mưa lên cõi địa cầu. Phổ Dũng,
suối mưa rơi xuống tạo hoa màu, cây trái, vụ mùa. Khi
rớt trên cõi địa cầu thì thành nước. Nhờ nước mà đồng
ruộng vườn tược đều được thỏa thuê xanh tốt. Phổ
Dũng, ví như toàn thể thế giới có một vị luân vương
nắm giữ thiên hạ, làm cho ai cũng được hạnh phúc.
Chánh Pháp Sanghata cũng vậy, được tuyên thuyết
trong thế giới hệ này là để chúng sinh cùng được lợi
ích hạnh phúc. Chư thiên cõi trời Trayastrimsha [cõi
trời Tam Thập Tam] sống rất thọ, nhưng loài người thì
không được như vậy. Nếu ông hỏi cõi trời
Trayastrimsha là cõi trời nào, ông phải biết đó là cõi
của thiên vương Đế thích [Indra].
Phổ Dũng, có những người khẩu nghiệp thanh tịnh,
công đức nhiều không thể ví dụ được. Lại có những
người khẩu nghiệp nặng nề, sinh vào địa ngục và súc
sinh. Chúng sinh đau khổ trong ba cõi địa ngục, ngạ
quỉ và súc sinh không có nơi nương dựa, hy vọng đứt
đoạn, ấy là vì ảnh hưởng của thầy bạn không tốt. Còn
kẻ khẩu nghiệp thanh tịnh, công đức không thể ví dụ,
ấy là nhờ ảnh hưởng của thầy bạn tốt.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 46)

Thầy bạn tốt là thiện tri thức, gặp thiện tri thức là gặp Như lai.
Gặp Như lai thì ác nghiệp tiêu diệt cả. Vua mà làm lợi ích
cho chúng sinh, chúng sinh mừng vui không thể ví dụ.
"Phổ Dũng, Chánh Pháp Sanghata cũng vậy, mang
đầy đủ chức năng của đấng Như lai trong thế giới này.
Ai không được nghe Chánh Pháp Sanghata thì không
thể thành tựu vô thượng bồ đề, không thể chuyển pháp
luân, không thể đánh trống đại pháp, không thể ngồi
tòa Sư tử chánh pháp, không thể nhập cõi niết bàn,
không thể phóng vô lượng ánh sáng. Phổ Dũng, không
nghe Chánh Pháp Sanghata này thì không có khả năng
ngồi trong trái tim của giác ngộ."
Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, con có điều thắc
mắc, thưa Thiện thệ, con có thể hỏi được chăng?"
Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng, ông có thắc mắc gì,
Như lai sẽ vì ông mà giải đáp."
Phổ Dũng nói, "Thưa Thế tôn, đức Liên Hoa Tạng
Như lai có nói về vị thánh nhân giúp nhiều chúng sinh
diệt nghiệp vô gián, rồi đặt từng người vào thánh vị Tu
đà hoàn. Vậy vị thánh nhân đó là ai?"
Đức Thế tôn đáp,
"Phổ Dũng đại bồ tát,
Lời nói của Như lai
Rất thâm sâu vi diệu,
Ông hãy nghe cho kỹ.
Chính kinh Sanghata
Là Pháp sư giảng pháp,
Hóa hiện làm thánh nhân,
Hóa hiện thân Phật đà,
Nhiều như cát sông Hằng,
Sắc tướng thật phong phú.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 47)


Thân Phật nói pháp Phật,
Vén mở cả kho tàng
Tinh túy của chánh pháp.
Nếu có chúng sinh nào
Khao khát gặp đức Phật,
Thấy được Sanghata
Là thấy được Như lai.
Sanghata ở đâu,
Như lai ngay nơi ấy."
Đức Phật lại nói, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Trong quá khứ, chín mươi chín thời kỳ vô số về trước,
có mười hai triệu Phật đà cùng tên là Ratnottama. Như
lai lúc ấy đang là vị đại thí chủ, chí tâm cúng dường
mười hai triệu Phật đà tên Chandra, mang đồ ăn thức
uống, hương thơm, hương xoa, vòng hoa, tất cả những
gì có thể làm vui lòng Phật, Như lai đều cúng dường
đủ cả. Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu vô
thượng bồ đề.
"Phổ Dũng, Như lai còn nhớ trong kiếp quá khứ có
mười tám triệu Phật đà tên gọi Ratnavabhasa, Như lai
lúc bấy giờ cũng đang là vị đại thí chủ, đã cúng dường
mười tám triệu Như lai tên gọi Garbha-sena với đầy đủ
vòng hoa, hương xoa, vật trang trí và trang sức, cứ
điều gì thích hợp với vị Phật nào, Như lai đều cúng
dường đủ cả. Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu
vô thượng bồ đề.
"Phổ Dũng, Như lai còn nhớ hai mươi triệu đức
Phật cùng mang tên Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri
Shikhi-sambhava.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 48)

Phổ Dũng, Như lai cũng nhớ hai mươi triệu đức Phật cùng mang tên Kashyapa, lúc bấy
giờ Như lai cũng đang là một vị đại thí chủ, cúng
dường chư Phật với hương liệu, vòng hoa, hương xoa,
hết lòng tôn kính phụng sự. Bấy giờ Như lai được thọ
ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
"Phổ Dũng, lại có mười sáu triệu đức Phật cùng tên
là Vô Cấu Quang [Vimala-prabhasa], lúc ấy Như lai
đang là một đại trưởng giả, tiền của rất nhiều. Như lai
mang hết tài sản cúng dường chư Phật, và được thọ ký
tương lai sẽ thành bậc chánh giác. Tuy nhiên thời gian
vẫn chưa chín mùi.
"Phổ Dũng, ông hãy nghe đây. Lại có chín mươi
lăm triệu đức Phật sinh ra trong thế giới, cùng tên là
Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Shakyamuni. Lúc
ấy Như lai đang là vị quốc vương, mang hương thơm,
vòng hoa, hương xoa, y phục, trang sức, hương đốt,
tràng phan, và được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ
đề. Như lai hãy còn nhớ rất rõ.
"Phổ Dũng, lại có chín mươi triệu đức Như lai, ứngng
cúng, Chánh biến tri cùng tên là Krakutsanda. Lúc ấy
Như lai đang là một thanh niên thuộc giai cấp bà la
môn, nhiều tiền lắm của, mang hết của cải ra cúng
dường chư Như lai, với hương thơm, vòng hoa, hương
xoa, y phục, trang sức và đích thân phụng sự cho từng
vị Như lai, bấy giờ được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng
bồ đề. Như lai còn nhớ. Nhưng thời gian vẫn chưa chín
mùi.
"Phổ Dũng, lại có mười tám triệu Phật đà, cùng tên
là Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Kanakamuni.
Lúc ấy Như lai đang là vị đại thí chủ, cúng dường tất cả các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri ấy, và
được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 49)


Nhưng thời gian vẫn chưa chín mùi.
"Phổ Dũng, lại có mười ba triệu Phật đà, cùng tên
là Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Avabhasashri.
Lúc ấy Như lai cúng dường chư Phật ấy với y phục,
trang sức, hương thơm, vòng hoa, hương xoa, chăn
mền và trang trí. Cần phụng sự cúng dường ra sao,
Như lai đều chu toàn đầy đủ. Các đức Như lai ấy giải
thích rộng rãi về ý nghĩa của chánh pháp cho các đệ
tử, và Như lai lúc ấy được thọ ký trong tương lai sẽ
thành tựu vô thượng bồ đề. Nhưng thời gian vẫn chưa
chín mùi.
"Phổ Dũng, lại có hai mươi lăm triệu Như lai, ứng
cúng, Chánh biến tri cùng tên là Diệu Hoa [Pushya].
Lúc ấy Như lai đang là người xuất gia, cung kính cúng
dường tất cả các đấng Như lai ấy, làm những việc tôn
giả A Nan ngày nay làm cho Như lai, không sai khác.
Lúc ấy Như lai cũng được thọ ký sẽ thành tựu vô
thượng bồ đề. Nhưng Như lai còn nhớ, thời gian lúc ấy
vẫn chưa chín mùi.
"Phổ Dũng, lại có mười hai triệu Như lai, ứng
cúng, Chánh biến tri cùng tên là Vipashyin. Như lai
lúc bấy giờ cúng dường các bậc Như lai, ứng cúng,
Chánh biến tri ấy với y phục, trang sức, hương thơm,
vòng hoa, hương xoa. Các đấng Như lai ấy cần gì,
Như lai đều chu toàn đầy đủ. Vào lúc ấy, Như lai đang
là người xuất gia, và ngay lúc ấy Như lai còn nhớ đã
được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Khi đức
Phật Vipashyin cuối cùng nói về Chánh Pháp Sanghata này, Như lai nghe qua đã hiểu.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 50)

Ngay lúc ấy,
trên trời mưa xuống bảy loại châu báu quí giá, cõi thế
gian không còn kẻ bần cùng, và cũng ngay lúc ấy,
Như lai lại được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
Từ đấy về sau, trải qua một thời gian dài Như lai
không còn nhận sự thọ ký."
Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Như lai, thời gian ấy là
gì? Duyên ấy là gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng, ông hãy nghe đây.
Một thời kỳ vô số sau ngày hôm ấy, có đấng Như lai,
ứng cúng, Chánh biến tri Nhiên Đăng [Dipamkara]
xuất hiện trên cõi thế gian, lúc ấy, Như lai đang là một
thanh niên thuộc giai cấp bà la môn tên là Megha. Khi
Như lai Nhiên Đăng nhập thế, Như lai đang tu phạm
hạnh dưới dạng bà la môn. Khi gặp Như lai Nhiên
Đăng, thanh niên ấy rải bảy nhánh hoa ưu đàm cúng
dường, hồi hướng vô thượng bồ đề. Bấy giờ Như lai
Nhiên Đăng thọ ký cho thanh niên ấy sẽ thành đấng
Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri tên Thích ca mâu
ni.
"Phổ Dũng, khi ấy, Như lai ngồi trong không gian,
cao bằng mười hai cây đa la, đạt vô sinh pháp nhẫn.
Như lai nhớ rõ như mới hôm qua, Như lai thấy rất rõ
tất cả những gốc rễ điều lành mà Như lai đã cấy trồng
từ khi xuất gia tu phạm hạnh trải qua vô số kiếp, và
đạt được những đức tính toàn hảo. Phổ Dũng, ngay từ
thời gian ấy Như lai đối với vô số lần trăm ngàn triệu
tỉ chúng sinh, đã phát nguyện dẫn dắt từng người vào
với chánh pháp, huống chi bây giờ Như lai đã thành
tựu vô thượng bồ đề, sẽ vì chúng sinh mà tạo lợi ích lớn lao.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 51)

Phổ Dũng, Như lai sẽ dạy cho chúng sinh Phật
Pháp vi diệu thậm thâm. Chúng sinh có nhu cầu gì,
Như lai sẽ dạy Phật Pháp phù hợp với nhu cầu ấy. Ở
cõi trời, Như lai dùng thân trời để dạy Phật Pháp. Ở
cõi rồng, Như lai dùng thân rồng để dạy Phật Pháp. Ở
cõi dạ xoa, Như lai dùng thân dạ xoa để dạy Phật
Pháp. Ở cõi quỉ đói, Như lai dùng thân quỉ đói để dạy
Phật Pháp. Ở cõi người, Như lai dùng thân người để
dạy Phật Pháp. Chúng sinh nào cần Phật dạy dỗ, Như
lai liền hiện thân Phật để dạy dỗ. Chúng sinh nào cần
bồ tát dạy dỗ, Như lai liền hiện thân bồ tát để dạy dỗ.
Bất cứ chúng sinh cần gì, Phật hóa hiện thân ấy để dạy
Phật Pháp. Phổ Dũng, Như lai dùng đủ loại sắc tướng
để dẫn dắt chúng sinh.
"Phổ Dũng, vì sao Như lai lại dùng nhiều sắc tướng
như vậy? Là vì để chúng sinh tích lũy nhiều loại thiện
căn. Chúng sinh sẽ tu hạnh thí, tạo công đức, quên cả
nghỉ ngơi để tự cứu mình, sẽ hành thiền, sẽ không
quên sinh tử, thiện nghiệp nào có thể làm được, họ đều
làm đủ. Nhờ nghe chánh pháp, họ sẽ nhớ lại gốc rễ
điều lành đã làm trong quá khứ. Làm như vậy là để
nhắm vào lợi lạc lâu dài trong cõi trời và người.
"Phổ Dũng, chúng sinh ấy khi được nghe Chánh
Pháp Sanghata, mọi đức tính, mọi lợi lạc, mọi thiện
căn sẽ tức thì trở nên không giới hạn.
"Lúc bấy giờ, chúng sinh ấy sẽ nói với nhau như
sau, ‘với những việc đã làm, đã thu thập, nhất định
phải có một pháp hiển lộ thành tựu chánh đẳng giác,
và quả lành là tâm nguyện lợi lạc chúng sinh sẽ thành
thục viên mãn.’

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 52)

"Chúng sinh tin tưởng trong sáng nơi Phật Pháp, sẽ
nói, ‘Có một Pháp hoàn toàn phù hợp với thực tướng
của sự vật’, từ đó mà phát sinh quả lành là đại lạc vô
thượng của chánh pháp. Còn chúng sinh nào mê muội,
điên rồ, nói rằng các pháp không có, và cũng không có
gì siêu việt các pháp, từ đó mà phát sinh quả dữ là đọa
vào ác đạo, đời đời kiếp kiếp đâm đầu vào cõi dữ.
Tám kiếp chịu khổ đau địa ngục. Mười hai kiếp chịu
khổ đau quỉ đói. Mười sáu kiếp sinh cõi a tu la. Chín
ngàn kiếp sinh làm ác quỉ yêu tinh. Quả dữ cạn rồi lại
sinh vào loài người, nhưng mười bốn ngàn kiếp sinh ra
không lưỡi. Mười sáu ngàn kiếp chết trong thai mẹ.
Mười hai ngàn kiếp sinh làm hòn thịt. Mười một ngàn
kiếp sinh làm người mù, chịu mọi khổ đau, khiến cha
mẹ nghĩ rằng: ‘Thật phí công sinh dưỡng, sinh ra đứa
con này chẳng để làm gì, mang nặng chín tháng chỉ
hoài công’. Phải chịu nóng lạnh, đói khát, khổ đau bức
bách. Dù có được một đứa con mà bậc cha mẹ vẫn
cảm thấy tuyệt vọng, không chút niềm vui.
"Phổ Dũng, chúng sinh nào từ bỏ chánh pháp, phải
chịu luân hồi trong cõi địa ngục và súc sinh. Đến lúc
mạng chung phải chịu đớn đau cơn hấp hối. Phổ
Dũng, người nào nói rằng, "các pháp có thật, và có
người siêu việt các pháp’, Nhờ thiện căn đó mà sinh
vào phương Bắc cõi Uttara-kurus. Hai mươi lăm ngàn
kiếp sinh vào cõi trời Trayastrimsha [cõi trời Tam
Thập Tam], khi quả báo ấy cạn thì lại sinh vào phương
Bắc cõi Uttara-kurus, sẽ không sinh từ thai mẹ, sẽ thấy
một trăm ngàn thế giới, đều là cõi Sukhavati [Tịnh
độ], sẽ thấy tất cả các cõi Phật, an trú nơi ấy, tại nơi ấy thành tựu vô thượng bồ đề.


(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 53)


"Phổ Dũng, diệu dụng của kinh Chánh Pháp
Sanghata là vậy. Chúng sinh nào tin tưởng sâu xa kinh
này sẽ không bao giờ chết trong sự sợ hãi, sẽ đầy đủ
đức hạnh.
Phổ Dũng, có người tự hỏi, ‘Như lai ngày đêm giải
thoát vô lượng chúng sinh, vậy mà số lượng chúng
sinh trong cõi luân hồi vẫn không giảm. Có nhiều
người giác ngộ, hoặc sinh vào cõi trời, hoặc được
nguồn an lạc, vậy tại sao chúng sinh luân hồi vẫn
không giảm bớt?’
Lại có những người tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
thang, khổ hạnh lõa thể, có ý nghĩ như sau, ‘chúng ta
phải đến chất vấn Cồ Đàm về điều này.’ Tám mươi
bốn ngàn bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang thang
cùng hàng trăm người khổ hạnh lõa thể cùng kéo đến
thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, đức Thế tôn mỉm
miệng cười.
Thấy vậy, đại bồ tát Di Lạc từ chỗ ngồi đứng dậy,
vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa
rằng, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà Thế tôn mỉm
miệng cười? Không phải vô cớ mà đấng Như lai, −ng
cúng, Chánh biến tri lại mỉm cười như vậy."
Đức Thế tôn nói, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Ngày hôm nay, có một đoàn người rất đông sẽ tiến
đến thành Vương Xá này."
Bồ tát Di Lạc hỏi, "Thưa Thế tôn, ai sẽ đến đây?
trời, rồng, dạ xoa, loài người hay loài không phải
người [phi nhân]?"

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 54 )

Đức Thế tôn đáp, "Di Lạc, tất cả trời, rồng, dạ xoa,
loài người và loài không phải người đều sẽ đến đây
ngày hôm nay. Cả tám mươi bốn ngàn bà la môn cũng
sẽ đến; chín mươi ngàn triệu tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ
lang thang, khổ hạnh lõa thể cũng sẽ đến đây chất vấn
Như lai. Như lai sẽ nói Pháp cho họ nghe, khiến tan
biến mọi hý luận, nghi hoặc. Các vị bà la môn sẽ phát
tâm vô thượng bồ đề, chín ngàn triệu tu sĩ ngoại đạo,
khất sĩ lang thang, khổ hạnh lõa thể sẽ đạt quả Tu đà
hoàn. Mười tám ngàn triệu long vương sẽ đến, nghe
Như lai thuyết pháp. Nghe xong họ sẽ phát tâm vô
thượng bồ đề. Sáu mươi ngàn triệu thiên tử cõi trời
thanh tịnh sẽ đến. Ba mươi ngàn triệu Thiên ma cùng
tùy tùng sẽ đến. Mười hai ngàn triệu a tu la vương sẽ
đến. Các vị đại vương, tất cả có năm trăm, cùng tùy
tùng cũng sẽ đến nghe pháp. Tất cả sau khi nghe Như
lai thuyết Pháp, đều sẽ phát tâm vô thượng bồ đề."
Nghe vậy, đại bồ tát Di Lạc mang đỉnh đầu lạy
ngang chân đức Thế tôn, theo hướng bên phải của đức
Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình biến mất ngay
nơi ấy.
------------------------------------
(còn tiếp)
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-14-2007 , 08:34 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
KINH CHÁNH PHÁP SANGHATA (Tiếp theo):
------------------------------------------------
Đại bồ tát Phổ Dũng lúc ấy từ chỗ ngồi đứng dậy,
vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa
rằng, "Thưa Thế tôn, năm trăm vị đại vương sẽ đến
đây, đại danh của họ là gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng ông hãy nghe đây.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 55)

Trong số các vị đại vương ấy có,
đại vương Hoan Hỷ [Nanda],
đại vương Diệu Hỷ [Sunanda],
đại vương Tối Thượng hỷ [Upananda],
đại vương Nhân Tiên [Jinarsabha],
đại vương Tịnh Quân [Brahma-sena],
đại vương Phạm Ân [Brahma-ghosha],
đại vương Thiện Kiến [Sudarshana],
đại vương Thắng Quân [Jayasena],
đại vương Hỷ Quân [Nanda-sena],
đại vương Tần-bà-sa-la [Bimbi-sara],
đại vương Ba-tư-nặc [Prasena-jit],
đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka],
các vị đại vương nói trên cùng nhiều vị khác, tất cả
năm trăm vị, mỗi vị dẫn theo một trăm ngàn triệu tùy
tùng. Tất cả đều hướng tới vô thượng bồ đề, ngoại trừ
đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka]."
Ba mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
Đông. Năm mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
Nam. Sáu mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
Tây. Tám mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
Bắc. Chín mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ không
gian phía dưới. Một trăm ngàn triệu bồ tát đang đến từ
không gian phía trên, các vị bồ tát này đều an trú thập
địa, từ mười phương tiến về thành Vương Xá, đỉnh
Linh Thứu, để hội diện cùng đức Thế tôn. Tất cả các
vị bồ tát này đều mang tâm hướng về vô thượng bồ đề.
Lúc ấy, Phật bảo đại bồ tát Phổ Dũng, "Phổ Dũng,
ông hãy đến mười phương thế giới, báo với tất cả các
vị bồ tát rằng, ‘Hôm nay, tại thành Vương Xá, Như lai
sẽ tuyên thuyết chánh pháp, mời tất cả những ai trú
trong mười phương thế giới hãy hoan hỉ tùy thuận,
chắp tay đảnh lễ.’ Ông hãy khéo đi nhanh, rồi về đây nghe Pháp."

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 56)


Nghe xong, đại bồ tát Phổ Dũng từ chỗ ngồi đứng
dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế tôn, đi quanh
đức Thế tôn ba vòng theo chiều bên phải rồi vận dụng
thần thông làm cho thân hình biến mất ngay nơi ấy.
Đại bồ tát Phổ Dũng theo lời đức Thế tôn, đi đến
mười phương thế giới báo tin cho các vị bồ tát, "Hôm
nay Như lai sẽ nói chánh pháp nơi thành Vương Xá.
Xin quí bồ tát hãy tùy thuận hoan hỉ, cất lời tán thán
"lành thay", nhờ vào đó ngày hôm nay chư vị sẽ được
lợi ích, thành tựu đại lạc."
Bồ tát Phổ Dũng đi như vậy khắp cả mười phương
thế giới, cung thỉnh vấn an mọi đấng Phật đà, báo tin
cho chư bồ tát, chỉ trong thời gian một búng tay đã trở
về lại thành Vương Xá, cạnh đức Thế tôn.
Tất cả bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
thang, khổ hạnh lõa thể đều về tụ họp. Các loài trời,
rồng, loài người và loài không phải người, cùng năm
trăm vị đại vương và tùy tùng. Ba mươi ba ngàn triệu
ma vương ác hiểm cũng tụ họp cùng tùy tùng.
Lúc bấy giờ thành Vương Xá chấn động, trên trời
mưa xuống bụi trầm hương thơm ngát, lại mưa xuống
những đóa hoa trời, kết thành cung điện nguy nga trên
chóp đỉnh đức Thế tôn. Cũng vào lúc ấy, thiên vương
Đế thích thả sấm sét xuống trước mặt Như lai. Bốn
ngọn gió lớn nổi lên từ bốn hướng, quét sạch bụi uế
trong thành. Mười phương thế giới mưa xuống những
hạt nước thơm trong, rồi lại mưa xuống hoa ưu đàm,
hoa sen [padmas], hoa sen vàng [kumudas], hoa sen
trắng [pundarikas], kết thành chiếc lọng hoa rực rỡ trên đầu chư vị trong Pháp hội, lại kết thành tám mươi
bốn ngàn lầu thành bất động ngay trên đỉnh đầu đức
Như lai.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 57)

Nơi tám mươi bốn ngàn lầu thành kết bằng
hoa quí ấy có tám mươi bốn ngàn pháp đàn kết bằng
bảy loại ngọc báu. Trên mỗi pháp đàn có một đấng
Như lai đang tuyên giảng chánh pháp. Khi ấy tam
thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách.
Đại bồ tát Phổ Dũng thấy vậy chắp tay cung kính
hướng về đức Thế tôn hỏi, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì
mà thành Vương Xá hôm nay lại có điềm lành hy hữu
như vậy?"
Đức Thế tôn nói, "Ví dụ có lần vua xoa đầu một
người tâm trí bất định, kiêu mạn, ích kỷ, xem vật gì
cũng là của mình, lại rất nghèo. Người ấy đến trước
cung vua, nhất định đòi vào cung. Quan quân bắt lại,
đánh đập thê thảm. Ngay lúc ấy, vua nghe có người
khăng khăng đòi xông vào cấm điện, nghĩ rằng ‘người
này muốn giết ta.’ Nghĩ vậy vua nổi giận, nói với quần
thần, ‘hãy mang hắn lên vách núi giết quách đi. Giết
luôn tất cả những gì thuộc về hắn, cha mẹ, con cái, tôi
tớ giúp việc.’ Theo lịnh vua, cả gia tộc người kia bị
giết cả. Thân nhân rơi vào cảnh ngộ cực kỳ bi thảm.
Phổ Dũng, tương tự như vậy, Như lai, ứng cúng,
Chánh biến tri vừa tuyên thuyết chánh pháp cho chúng
sinh. Kẻ phàm phu ấu trĩ cũng như kẻ kiêu ngạo điên
rồ kia, thấy được sắc tướng bên ngoài, hình dạng, màu
sắc, giới phái, dung mạo lại cho rằng đây chính là thân
Phật. Người như vậy nghe càng nhiều Phật Pháp thì lại
càng kiêu mạn, ham nói lời vô nghĩa. Dần dà chỉ còn
biết có mình, ích kỷ thiển cận, tự mình không nghe chánh pháp, lại càng không thể thuyết chánh pháp.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 58)


Nếu có ai nói kinh, dù chỉ một bài kệ bốn câu, họ cũng
chẳng chuyên chú nghe, chẳng cố gắng hiểu, cho rằng
‘ta thừa biết rồi.’ Vì sao? Vì kiêu mạn, thấy mình học
rộng nên quay lại chiêm ngưỡng trí tuệ của chính
mình. Những người giao du với kẻ phàm phu ấu trĩ
như vậy sẽ không sống thuận theo chánh pháp, sẽ
không nghe được lời thuận với chánh pháp, vì biết
nhiều nên trở nên ngạo mạn. Lại hay viết thi kệ, kinh
điển, tự viết lời giới thiệu. Họ mang bất hạnh lớn đến
cho người khác và cho chính mình. Họ cũng ăn đồ
cúng dường của khách thập phương, ăn rồi không tiêu
hóa nổi. Đến lúc gần chết, chịu nỗi sợ hãi lớn lao.
Người xung quanh mới hỏi, ‘ông đã dùng trí tuệ tinh
xảo, dẫn dắt rất nhiều người, nay sao lại không thể an
định cho chính mình?’ Người ấy nói, ‘Này các đạo
hữu, nay tôi không thể an định cho chính mình." Khi
ấy mọi người mới kinh hoàng khóc than đủ cách. Vì
hành động của một người mà thân nhân quyến thuộc
vô tội bị họa lây. Tương tự như vậy, những người kia
khi gần chết cất tiếng khóc than, thấy mình bị trói
buộc vào cõi địa ngục, vào thai súc sinh, tất cả chỉ vì
lầm lẫn noi theo bạn đạo không tốt.
"Vì vậy, Như lai nói với các ông, hỡi các vị bà la
môn, tu sĩ ngoại đạo, các ông đừng khinh mạn. Chim
non chưa mọc cánh, chưa thể vượt trời rộng bay đến
cõi Trời. Các ông cũng vậy, không thể đạt niết bàn.
Thần lực ấy, các ông chưa có. Vì sao? Vì xét về
nghiệp quả, nghiệp của các ông so với nghiệp sinh vào
kiếp chim chẳng khác, thân xác chẳng bao lâu sẽ rã tan trong cái chết.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 59)

Đến khi gần chết, vị giác mất cả,
chỉ còn nỗi sợ hãi lớn lao, nghĩ rằng "Vì sao ta lại bám
giữ xác thân này, đã không vui được nỗi vui của trời
và của người, lại không thể trú ở niết bàn, bám giữ
thân này vô ích như vậy, rồi tương lai sẽ tái sinh cõi
nào? Đâu sẽ là nơi cho ta nương tựa? Rồi ta sẽ sinh
vào đâu, sẽ diệt về đâu?"
Đức Thế tôn lại nói với những người tu sĩ ngoại
đạo, khất sĩ lang thang, khổ hạnh lõa thể và bà la môn,
"Các ông đối với cõi Diêm phù đủ bảy loại ngọc báu
này đừng bao giờ tuyệt vọng. Đừng tự loại mình ra
khỏi kho tàng chánh pháp. Có gì nghi hoặc, các ông
hãy hỏi Như lai, Như lai sẽ toàn thành mọi ước nguyện
cho các ông."
Lúc bấy giờ, các vị bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất
sĩ lang thang và khổ hạnh lõa thể đứng lên từ chỗ ngồi,
lấy tay áo che vai, chắp tay hỏi đức Thế tôn, "Đức Thế
tôn ngày đêm lúc nào cũng giải thoát chúng sinh ra
khỏi luân hồi không lơi nghỉ, vậy tại sao số lượng của
chúng sinh trong luân hồi vẫn không tăng không
giảm? Thưa Thế tôn, vì nhân duyên gì mà chúng sinh
vẫn triền miên sinh diệt không hề giảm?"
---------------------------------
(còn tiếp)
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-15-2007 , 08:21 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Lúc ấy, đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Quân,
"Dược Quân, người ngoại đạo mặc áo giáp tinh tấn,
nêu lên vấn đề hệ trọng, có khả năng xua tan phiền
não, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp. Đúng thật như
vậy, Dược Quân, sau này chúng sinh nhiều tuổi hay ít
tuổi sẽ hiểu cảnh sinh diệt luân hồi. Dược Quân, cũng
có chúng sinh nhiều tuổi, giống như người ít tuổi, mê
muội chẳng biết gì.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 60)

"Dược Quân, ví như có người gội đầu, mặc áo mới,
bước ra đường. Ai thấy cũng khen đẹp. Lại có người
cũng gội đầu, giặt áo cũ. Đầu tuy gội, nhưng áo đã cũ
không đẹp. Dược Quân, người nhiều tuổi cũng như áo
cũ, không thể làm đẹp cõi Diêm phù. Còn người ít tuổi
thì lại hiện tướng sinh diệt."
Lúc ấy các bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
thang và khổ hạnh lõa thể đứng dậy hỏi đức Thế tôn,
"Thưa Thế tôn, trong chúng tôi, ai người nhiều tuổi, ai
người ít tuổi?"
Đức Thế tôn đáp, "Nhiều tuổi là chúng sinh triền
miên trong cảnh khổ đau luân hồi ác đạo mà không
thấy đủ, vậy các ông đều là người nhiều tuổi."
Khi ấy tất cả bà la môn cùng các long vương thưa
với đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, chúng tôi không còn
ham thích phiền não khổ đau trong luân hồi."
Những người tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang thang và
khổ hạnh lõa thể lại nói, "Trong số những người ít
tuổi, không có ai lại có khả năng trực nhận chân tướng
của thực tại."
Đại bồ tát Dược Quân lúc bấy giờ thưa cùng đức
Thế tôn, "Thưa Thế tôn, hãy xem họ kìa. Sao tinh tấn
lại khó đến như vậy."
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông hãy lắng nghe.
Bây giờ Như lai sẽ thu nhiếp toàn bộ thế giới."
Lúc ấy, chín mươi bốn ngàn triệu người mới sinh
đứng trước mặt Như lai, không thưa, không chào, cũng
không hỏi đáp gì với Như lai, chỉ đứng yên lặng như
vậy. Đại bồ tát Dược Quân hỏi đức Như lai, ‘Kính
thưa Như lai, vì lý do gì họ đến trước Như lai lại không thưa không nói, không chào, không hỏi?"

(Kinh Chánh Pháp sanghata 61)

Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, những ai nói rằng
‘người ít tuổi không thể trực nhận chân tướng của thực
tại" thì nên gặp những người ít tuổi này.
Những người ấy nói, "Thưa Thế tôn, chúng con là
người ít tuổi. Thưa Thiện thệ, chúng con là người ít
tuổi."
Đức Thế tôn nói, "Các ông hãy trực nhận thế giới
này rồi dùng thân của các ông để thị hiện phạm vi của
thế giới."
Lúc ấy, chín mươi bốn ngàn triệu người ít tuổi
không rời thân mình, trụ giữa không gian, an trú thập
địa. Đại bồ tát Dược Quân cất lời tán thán, "Thưa Thế
tôn, những người này tinh tấn vượt bực, khéo đạt pháp
diệt, khéo vượt sinh tử luân hồi. Thưa Thế tôn, họ mới
sinh ra hôm nay, cũng ngay trong ngày hôm nay họ
được giải thoát, bước vào thập địa."
Khi ấy, các bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
thang, khổ hạnh lõa thể, các vị long vương, ma vương
cùng tùy thuộc, lúc đầu toan đến phá rối, bây giờ đều
cất tiếng nói với đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, chúng
con đến trước mặt Như lai, nghe được chánh pháp này,
sinh lòng tin tưởng trong sáng nơi Phật, Pháp. Nguyện
an lạc như Như lai an lạc, nguyện thành bậc Như lai,
−ng cúng, Chánh biến tri, trong thế giới này."
Đức Thế tôn nói, "Tốt lắm, tốt lắm! bất luận các
ông đến gặp Như lai như thế nào, nghe được Chánh
Pháp Sanghata này rồi phát tâm vô thượng bồ đề, nhờ
gốc rễ điều lành ấy, các ông sẽ mau chóng thành tựu
chánh đẳng chánh giác."

(Kinh Chánh Pháp sanghata 62)

Đức Thế tôn nói xong, tất cả người ngoại đạo tức
khắc đạt vô sinh pháp nhẫn, chứng quả thập địa bồ tát.
Rồi cùng thăng lên không gian cao bằng bảy cây đa la,
dùng thần lực hóa hiện lầu thành bằng bảy loại ngọc
quí, cúng dường Như lai, thị hiện phong phú, thi triển
thần thông. Họ lại trú trên đỉnh của đức Thế tôn, rãi
hoa quí lên mình Như lai, chiêm bái Như lai, quán
thân mình là thân Phật.
Bấy giờ, hàng trăm ngàn triệu tỷ thiên tử đang
đứng trên tầng không đồng loạt mang hoa báu rãi trên
mình Như lai, đọc bài kệ này,
"Sa môn Cồ Đàm
Là bậc tối thắng,
Là đại phước điền,
Là đại cứu độ,
Thành tựu Tam Muội,
Trí biết cùng khắp,
Tròn đầy viên mãn.
Đối với chúng sinh
Trầm luân luân hồi,
Ngài luôn vận dụng
Phương tiện thiện xảo,
Lần lượt cứu độ
Tất cả mọi loài,
Không sót một ai.
Dù chỉ một lời
Cũng đủ giải thoát
Biết bao hữu tình"

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 63)

Bấy giờ đại bồ tát Dược Quân từ chỗ ngồi đứng
dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống
chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn
thưa rằng, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà những vị
thiên tử này lại hát bài kệ, thị hiện thần thông, dùng lời
phong phú thiết tha tán dương công hạnh của Như lai
như vậy?"
Đức Phật bảo, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Không phải họ tán dương Như lai mà tán dương chính
bản thân họ. Rồi họ sẽ đặt thân mình làm tòa Pháp, sẽ
đặt thân mình làm tòa Pháp vô thượng, sẽ từ thân mình
phóng ra ánh sáng chánh pháp, sẽ được tất cả Như lai
giữ gìn cho họ thành tựu vô thượng bồ đề, rồi chuyển
pháp luân, giảng giải sâu rộng về chánh pháp thâm
diệu."
Lúc ấy đại bồ tát Dược Quân thưa với đức Thế tôn,
"Thưa Thế tôn, mỗi ngày đêm, có biết bao nhiêu
chúng sinh được giải thoát, sao đến nay luân hồi vẫn
chưa cạn?"
Đức Thế tôn đáp, "Tốt lắm, Dược Quân, ông hỏi
Như lai như vậy là tốt lắm. Ông hãy nghe đây. Ví như
có một phú ông, tiền rừng bạc biển. Người ấy có nhiều
tiền, nhiều hạt, nhiều kho bồ, nhiều gia nô, tá điền. Lại
có rất nhiều tài sản, ruộng vườn, lúa mạch, lúa mì, lúa
gạo, hạt mè, hạt đậu cả trăm giống loại đều dồi dào
đầy đủ. Mùa Xuân gieo hạt, sang Thu hạt chín gặt về
chất vào kho. Hạt về tới kho, giống nào cất riêng
giống nấy, ăn dần cho đến mùa xuân năm sau lại mang
hạt ra cấy. Dược Quân, chúng sinh cũng vậy, trong
quá khứ tạo được thiện nghiệp, luôn tìm phước điền để
tạo thiện căn. Nhờ được thiện căn mà tinh tấn hành trì
chánh pháp, khiến thiện pháp tăng thêm.

(Kinh Chánh Pháp sanghata 64 )

Nhờ thiện pháp tăng mà thân tâm được hỉ lạc, tri túc, và nhờ đó
mà trải qua hàng ngàn triệu kiếp thiện căn vẫn không
bị phí uổng.
"Dược Quân, bồ tát mới phát tâm cũng vậy, nhờ
phát tâm bồ đề dũng mãnh mà thiện căn không hư
hoại, nắm giữ các pháp trong dạng tinh túy nhất."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát
tâm, trong mơ thường thấy gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, bồ tát mới phát tâm
trong mơ thường thấy cảnh dữ. Vì sao? Vì bồ tát mới
phát tâm đang giải nghiệp cũ. Dược Quân, gieo ác
nghiệp rồi không thể tránh khổ đau. Nhưng bồ tát thấy
cảnh dữ trong mơ thì tâm không khiếp sợ.
Dược Quân lại hỏi, "Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát
tâm, trong mơ thường thấy cảnh dữ gì?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, bồ tát mới phát
tâm, một là mơ thấy lửa cháy, khi ấy phải nghĩ rằng,
"lửa này đốt tan tham dục." Dược Quân, hai là mơ thấy
nước xoáy, bồ tát mới phát tâm cũng không sợ hãi. Vì
sao? Dược Quân, vì như vậy là có thể ném bỏ mọi
ràng buộc đến từ vô minh, thanh tịnh ác nghiệp. Dược
Quân, ba là mơ thấy cảnh tượng cực kỳ dữ dằn."
Dược Quân hỏi, "Là cảnh gì, thưa Thế tôn?"
Đức Thế tôn đáp, "Thấy đầu mình bị chém. Dược
Quân, lúc ấy bồ tát mới phát tâm cũng không sợ hãi.
Vì sao? Vì lúc ấy nghĩ rằng, "Tham, sân, si ta chặt lìa.
Luân hồi sáu cõi, ta chiến thắng cả." Bồ tát mới phát
tâm sẽ không bao giờ vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc
sinh, a tu la, rồng, trời, mà chỉ sinh vào cõi Phật thanh
tịnh. Dược Quân, trong tương lai, ở một thời về sau, nếu có ai có được niệm bồ đề, phải nên thấy người ấy
mang đại nguyện.

(Kinh Chánh Pháp sanghata 65)

Dược Quân, mặc dù người ấy sẽ bị
trách móc, khinh rẻ. Dược Quân, khi ấy bồ tát đã phát
tâm bồ đề không được sinh tâm buồn nản, chán
chường.
"Dược Quân, Pháp Như lai dạy nhiều vô kể. Cả
trăm ngàn lần vô số kiếp Như lai siêng tu phạm hạnh.
Dược Quân, việc khó làm Như lai đều làm cả, không
vì tiền tài thế lực, không vì mưu cầu hạnh phúc thế
gian, cũng không vì thần thông. Dược Quân, việc khó
làm Như lai gánh hết, chỉ để hiểu được chân tướng của
thực tại. Trước khi được nghe Chánh Pháp Sanghata,
Như lai không được quả vô thượng bồ đề. Ngay lúc
được nghe Chánh Pháp Sanghata, Như lai đạt vô
thượng bồ đề.
Vậy ông phải biết Chánh Pháp Sanghata là pháp
cực kỳ sâu xa vi diệu. Dược Quân, cho dù cả trăm
ngàn lần vô số kiếp cũng hiếm mà được nghe Chánh
Pháp Sanghata. Dược Quân, Như lai xuất thế là điều
cực kỳ hiếm hoi. Người thọ trì Chánh Pháp Sanghata
cũng cực kỳ hiếm hoi. Tất cả những ai được nghe
chánh pháp này sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Dược
Quân, người ấy trong một trăm ngàn kiếp sẽ vượt thoát
luân hồi, sẽ sinh vào cõi Phật thanh tịnh, sẽ đủ khả
năng biết rõ các pháp Diệt và Đạo, biết rõ cội nguồn
của chánh pháp, biết rõ thiện xứ, biết rõ và trực chứng
thiện xứ, biết rõ thiện xứ và pháp diệt của thiện xứ.
Dược Quân, ông có biết nói "diệt" là nghĩa gì?
Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, ‘diệt’ chính là
pháp xứ."

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 66)

Đức Thế tôn lại hỏi, "‘Pháp xứ’ là gì?"
Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, pháp xứ là ‘tinh
tấn’, ‘trì giới’, và ‘giới hạnh đầy đủ.’ Như vậy gọi là
Pháp tạng, các pháp từ kho tàng chánh pháp này mà
khởi sinh."
Đức Thế tôn nói, "Hay lắm, Dược Quân. Ông trước
Như lai đáp được nghĩa này, thật là hay lắm."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì các
đấng Như lai xuất hiện cõi thế?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người nào biết về
kho tàng trí tuệ thì sẽ biết tướng hiện của Như lai. Biết
được tướng hiện của Như lai thì biết tướng hiện của
Như lai là nơi an lạc thắng diệu. Rồi khi Như lai xuất
hiện cõi thế, người ấy sẽ thông đạt các pháp, nhờ khéo
léo phương tiện mà biết rõ mọi việc thế gian và xuất
thế gian, lại biết rõ về trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất
thế gian."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, được trí tuệ rồi,
làm sao chứng niết bàn?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, biết chân tướng của
Pháp thì biết được niết bàn. Dược Quân, tương tự như
vậy, biết được chánh pháp trong dạng tinh túy nhất thì
chứng ngộ đầu tiên khởi sinh. Giữ gìn chánh pháp
trong tâm đúng như được nghe thì thu nhiếp được
chánh pháp. Dược Quân, giống như một thương gia, đi
xa làm giàu, thu góp vàng bạc của người và của mình
được ngàn nén vàng. Trước khi lên đường, cha mẹ dặn
dò, ‘Con yêu quí, mang vàng bạc của mình và của
người, nhiều những ngàn nén, phải thận trọng đừng để
thất thoát uổng phí đi. Kiếm được nhiều lợi, phải giữ vàng cho cẩn thận.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 67)

Đó là sẽ món lợi lớn cho chúng ta,
cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.’ Người con đáp,
‘con sẽ cẩn thận.’ Rồi mang vàng lên đường.
"Thương gia mang vàng lên đường, chưa đầy
tháng, số vàng đã phần mất phần phung phí, một nén
cũng không còn. Người ấy buồn rầu lo nghĩ, trái tim
đau nhức bởi mũi tên sầu muộn. Quá lo lắng xấu hổ,
người ấy không tìm về lại nhà. Cha mẹ ở nhà nghe tin,
trái tim đau nhức tuyệt vọng. Họ khóc vật vã, xé áo xé
quần, nói rằng, ‘Thằng con bất hiếu! Vì nó mà cả nhà
bị vạ lây! Đã không làm được gì cho cha mẹ, lại còn
biến tất cả thành kẻ tôi đòi.’ Cha mẹ người ấy vì quá
sầu khổ tuyệt vọng nên qua đời. Người con cũng vì
quá sầu khổ tuyệt vọng mà qua đời. Dược Quân,
tương tự như vậy, mặc dù Như lai đã có lời giải thích,
nhưng đám người kia không tin lời Như lai, đến nỗi tự
mình tách lìa chính mình ra khỏi ngọc báu chánh
pháp, tuyệt vọng mà tìm cái chết, khi lìa đời trái tim
đau nhức bởi mũi tên sầu muộn. Cũng như cha mẹ
người kia, vì ham vàng mà khóc than vật vã, tâm thần
xáo trộn tột bực, chỉ vì vàng bạc của mình và của
người. Tương tự như vậy, Dược Quân, ai không tin lời
Như lai, tâm bất an, chịu đủ loại phiền não khi gần kề
cái chết. Quá khứ làm được điều lành, đạt được cõi tái
sinh tốt đẹp nhưng không biết tiếp tục tích lũy thiện
nghiệp, để nghiệp báo cạn hết, tâm chìm trong phiền
não. Bấy giờ thấy cảnh kinh hoàng cõi địa ngục, thai
súc sinh và thế giới Diêm Vương, lại nghĩ, ‘ai che chở
cho tôi? để tôi khỏi thấy cảnh địa ngục, súc sinh, quỉ
đói, cõi Diêm Vương, để tôi khỏi đớn đau nơi đó.’

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 68)

Người con lâm bịnh, thần trí mê sảng, trôi dần vào cõi
chết. Cha mẹ nói:
"Con yêu của cha mẹ,
Dù đau đớn tật bịnh
Là điều kinh hãi nhất
Nhưng con ơi đừng sợ
Con không thể nào chết.
Kẻ chết mới sợ bịnh
Con yêu hãy vững tin
Cho dù là tật bịnh
Hay sợ hãi tật bịnh
Rồi con sẽ thoát cả.
"Người con đáp, ‘thần thức mê mờ, thân thể nhức
nhối, tứ chi đớn đau. Con thấy con đang chết. Mắt
không thấy, tai không nghe, thân không cảm, tứ chi
thúc đau như khúc gỗ vô tri. Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ nói cho
con nghe, cái chết vẫn chưa đến đi mẹ!’
"Người mẹ đáp, ‘Đừng nói vậy, con yêu. Con đừng
làm mẹ sợ. Con chỉ sốt nóng mê sảng đó thôi.’
"Người con nói, ‘Con không cảm thấy thân con
đang sốt, bịnh, hay đau. Chỉ thấy cái chết bủa vây bức
bách. Ai cứu con đây? Ai sẽ là người che chở cho
con?’
"Cha mẹ bảo rằng, ‘Con trai yêu ơi, con khổ như
vậy chắc là vì thần linh đang giận dữ. Hay là đến cúng
tế để xin họ che chở cho con?’
"Người con nói, ‘Xin cha mẹ giúp cho con được
yên ổn. Cha mẹ hãy đi nhanh, đến đền thờ cầu khẩn
nhanh nhanh.’
"Cha mẹ người ấy đến đền thờ, cúng hương bái thần linh.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 69)

Cúng hương rồi, người giữ đền nói, ‘Thần
linh đang nổi giận với các người. Các người phải cúng
tế đúng phép thì mới được yên. Cần phải giết một
người để tế máu, con của các người sẽ khỏi bịnh.’ Khi
ấy, cha mẹ người kia bàn với nhau, ‘Phải làm sao bây
giờ? Chúng ta quá nghèo. Nếu thần linh không vui,
con mình sẽ chết uổng, còn nếu khiến được thần linh
vui, con mình sẽ được chở che. Thôi thì dù nghèo
cũng nên kiếm cho ra một nạn nhân tế thần.’ Bàn xong
họ chạy vội về nhà, có được chút gì họ bán đi cả, vét
hết tiền bạc, lại đi vay thêm của người, hẹn mười ngày
không trả được sẽ đến đợ thân trả nợ. Gom đủ vàng,
họ liền mua một nạn nhân. Mua xong, nạn nhân ấy
vẫn không biết mình sẽ thành vật tế thần. Cha mẹ
người kia như cuồng như dại, không về nhà mà đi
thẳng đến đền thờ, nói với người giữ đền, ‘Xin hãy
chuẩn bị việc tế thần cho nhanh.’ Rồi tự tay giết nạn
nhân kia, cướp đi mạng sống của người ấy. Người giữ
đền đốt mỡ lên làm đồ cúng, bắt đầu lễ tế thần. Lúc ấy
thần linh giáng xuống, nói rằng, ‘Ta sẽ thâu nhận con
trai các người.’ Cha mẹ người ấy vui mừng nhảy nhót,
nói với nhau, ‘Vậy là con mình tai qua nạn khỏi, dù
chúng ta có phải sống kiếp tôi đòi cũng cam tâm.’ Nói
xong bái tạ thần linh, quay trở về nhà. Tới nhà thấy ra
con mình đã chết. Cha mẹ đau lòng quá độ, chết ngay
tại chỗ. Dược Quân, cần phải thấy giao du với người
bất thiện tai hại đến như vậy."
-------------------------------------
(còn tiếp)
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-15-2007 , 08:47 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, xin cho con hỏi
một điều."
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông cứ hỏi."

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 70)

Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, những người kia
chết rồi sinh về đâu?"
Đức Phật nói, "Thôi, Dược Quân, ông đừng hỏi
việc ấy."
Dược Quân đáp, "Xin đức Thế tôn mở lòng từ bi
nói cho chúng con được biết."
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người mẹ sinh vào
địa ngục Khóc than [Hào khiếu]. Người cha sinh vào
địa ngục Núi đè [Chúng hợp]. Người con sinh vào địa
ngục Nóng [Viêm nhiệt]. Người giữ ngôi đền sinh vào
địa ngục A tỳ."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, còn nạn nhân vô
tội kia, sinh vào cõi nào?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông nên biết rằng
người vô tội kia được sinh vào cõi trời Trayastrimsha
[cõi trời Tam Thập Tam]."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, nhờ nhân gì mà
được sinh vào cõi trời Trayastrimsha?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân ông hãy nghe đây.
Lúc chết, lúc bị cướp đi mạng sống, người ấy nảy một
niệm tin tưởng trong sáng nơi Như lai, nói mấy chữ
sau đây, "Nam mô Như lai, −ng cúng, Chánh biến tri."
Chỉ một lần thôi. Nhờ thiện căn này mà được sinh vào
cõi trời ấy, sống an lạc sáu mươi kiếp. Biết được việc
trong tám mươi kiếp về trước. Sinh ra ở đâu cũng
không gặp phiền não. Sinh ra là phiền não tan đi.
Chúng sinh ấy không thể làm cho phiền não tận diệt."
Nghe xong, đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế
tôn, phải thế nào mới có thể làm cho phiền não tận
diệt?"

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 71)

Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, cần phải tinh tấn
vượt bực."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, phải tinh tấn vượt
bực như thế nào?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây:
tinh tấn là tướng hiện của quả. Cái gọi là ‘quả Tu đà
hoàn’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Tư đà
hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A na
hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A la
hán’, và sự tịch diệt của bậc A La Hán, là chỗ của
hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Độc Giác" và trí tuệ của
bậc Độc Giác, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả
bồ tát" và đại giác ngộ, là chỗ của hạnh tinh tấn. Dược
Quân, tất cả những điều nói trên đều được gọi là ‘chỗ
của hạnh tinh tấn.’
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, Tu đà hoàn và quả
Tu đà hoàn có tướng hiện như thế nào?"
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ví như có người
trồng cây, vừa trồng xuống, cây đã đâm chồi chỉa
nhánh sum suê. Nội một ngày rễ sâu một do tuần. Lại
cũng có người trồng cây, khi trồng gặp gió lớn, cây
chẳng lên được chồi xanh nào. Người ấy bứng cây đi.
Người kia thấy vậy lên tiếng, ‘Vì sao ông đào đất của
tôi?’ Trong lúc cả hai đang dằn co với nhau, nhà vua
đi ngang, thấy có trận cãi vã liền bảo quần thần, ‘gọi
hai người ấy đến đây cho ta.’
"Quần thần vâng lời, chạy nhanh đến nói, ‘Đại
Vương truyền gọi hai ông.’
"Nghe vậy, một người hoảng hốt sợ sệt, còn một
người vẫn điềm tĩnh an nhiên.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 72)

Cả hai đến trước mặt vua. Vua hỏi, ‘Vì cớ gì hai ngươi dằn co cãi vã với
nhau?’
"Một trong hai người đứng lên thưa, ‘Thưa Đại
Vương, tôi không có ruộng vườn, chỉ mượn được mảnh
đất này trồng cây. Trồng một ngày, cây đơm hoa kết
trái, nửa sống nửa chín. Ngay ngày đó, người kia cũng
đến trồng cây, nhưng trong khi trồng gặp gió lớn, cây
không thể đâm chồi. Thưa Đại Vương, rễ cây của
người ấy không sâu đủ một do tuần, vì vậy người ấy
không vui đến kiếm chuyện sinh sự với tôi, nói rằng
tất cả đều là lỗi của tôi. Xin Đại Vương xét cho, tôi
hoàn toàn không có lỗi.’
"Khi ấy nhà vua triệu tập ba mươi triệu quần thần,
phán rằng, ‘Các ông nói đi.’
"Quần thần thưa, ‘Tâu Đại Vương, nói điều gì?’
"Vua đáp, ‘Các ông có bao giờ từng nghe có ai
trồng cây mà trong một ngày mọc lên đủ cành đủ lá,
hoa trái sum suê, nửa sống nửa chín? Các ông nói thử
xem có thể có chuyện như vậy được hay không?’
"Quần thần đứng dậy, tâu rằng, ‘Tâu Đại Vương,
chuyện này là phép lạ, chúng tôi không thể biết chắc
được. Phải hỏi người kia kỹ hơn.’
"Nhà vua quay lại hỏi người kia, ‘Lời ngươi nói lúc
nãy có thật không?’
"Người ấy đáp, ‘Tâu Đại Vương, toàn là sự thật.’
"Vua nói, ‘Ta chưa từng nghe qua chuyện lạ như
vậy. Ngươi nói rằng ‘cây trồng một ngày, đơm hoa kết
trái’, thật là chuyện khó tin.’
Người ấy chắp tay đáp, ‘Nếu Đại Vương không tin,
xin cứ hãy đến đó đích thân trồng thử.’

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 73)

"Vua bèn ra lệnh nhốt hai người kia vào ngục, tự
mình dẫn ba mươi triệu quần thần ra mảnh đất nọ, lấy
cây trồng thử. Cây không nảy mầm, không ra lá,
chẳng đơm hoa, không kết trái. Vua nổi giận truyền
lịnh, ‘Mang rìu lại đây.’ Quần thần đưa rìu lại, vua hạ
lịnh đốn ngã gốc cây sum suê hoa trái người kia trồng.
Thân cây ngã xuống, mười hai cây khác mọc lên. Vua
lại bảo chặt. Mười hai cây ngã xuống, hai mươi bốn
cây khác lại mọc, với đầy đủ gốc rễ hoa trái, chồi xanh
mơn mởn, lấp lánh bảy thứ châu ngọc quí giá. Trên
cây xuất hiện hai mươi bốn con chim mào vàng cánh
ngọc, âm thanh trong suốt. Vua thấy vậy lại càng tức
tối, tự tay đưa rìu bổ xuống gốc cây. Rìu phập vào
thân cây, nước cam lồ tuôn ra. Bấy giờ nhà vua cảm
thấy bất an, truyền lịnh, ‘Thả hai người kia ra khỏi
ngục’, quần thần dạ rang, tức tốc chạy về ngục dẫn hai
người đến gặp vua.
"Vua bấy giờ lên tiếng hỏi, ‘Ngươi trồng thứ cây
gì, mà cứ đốn xuống thì lại mọc lên nhiều gấp bội,
thành những hai mươi bốn cây, trong khi cây của ta
chẳng ra mầm trổ lá, chẳng kết trái đơm hoa?’
"Người kia thưa rằng, ‘Vì công đức người trồng
không giống nhau.’
"Quần thần nghe xong, quì cả hai chân, nói với
người kia, ‘Ông mới xứng là vua trị nước. Vua trước
không xứng đáng.’ Người kia bấy giờ nói,
‘Phước báu đế vương
Tôi chẳng mong cầu
Cũng không mong cầu
Tiền tài, của cải.

(Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 74)

Chỉ tin nơi Phật.
Nguyện trở thành bậc
Tôn quí nhất trong
Các loài hai chân.
Nguyện đến được nơi
Như lai trú ở
Thanh tịnh niết bàn.
Nguyện đem chánh pháp
Thuyết cho các ông
Cùng đến niết bàn. ‘
"Người ấy xếp chân
Theo thế hoa sen,
Và thú nhận rằng:
‘Trong thời quá khứ,
Tôi phạm ác nghiệp,
Nên nay bị nhốt
Vào ngục của vua.
Bây giờ tại đây,
Phát tâm bồ đề
Nguyện tan nghiệp cũ’
"Lúc ấy hai mươi bốn triệu con chim mỏ ngọc kim
cương xướng lên âm thanh trong vắt. Lại có ba mươi
hai ngàn tòa lầu hiện ra, mỗi tòa rộng hai mươi lăm do
tuần, với hai mươi lăm triệu con chim mỏ vàng mào
vàng, mặt vàng, cất tiếng người nói rằng,
‘Đại Vương chặt cây, gây quả ác. Hai mươi bốn
cây trong số một trăm triệu cây, mọc sừng sững trước
mặt Đại Vương. Vì việc làm bất thiện này mà Đại
Vương sẽ gặp quả bất thiện. Đại Vương có biết người
trồng cây ấy là ai chăng?’
------------------------------
(còn tiếp)
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-16-2007 , 08:50 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
KINH CHÁNH PHÁP SANGHATA (Tiếp theo)
-----------------------------------------
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, xin cho con hỏi
một điều."
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông cứ hỏi."

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 70)

Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, những người kia
chết rồi sinh về đâu?"
Đức Phật nói, "Thôi, Dược Quân, ông đừng hỏi
việc ấy."
Dược Quân đáp, "Xin đức Thế tôn mở lòng từ bi
nói cho chúng con được biết."
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người mẹ sinh vào
địa ngục Khóc than [Hào khiếu]. Người cha sinh vào
địa ngục Núi đè [Chúng hợp]. Người con sinh vào địa
ngục Nóng [Viêm nhiệt]. Người giữ ngôi đền sinh vào
địa ngục A tỳ."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, còn nạn nhân vô
tội kia, sinh vào cõi nào?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông nên biết rằng
người vô tội kia được sinh vào cõi trời Trayastrimsha
[cõi trời Tam Thập Tam]."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, nhờ nhân gì mà
được sinh vào cõi trời Trayastrimsha?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân ông hãy nghe đây.
Lúc chết, lúc bị cướp đi mạng sống, người ấy nảy một
niệm tin tưởng trong sáng nơi Như lai, nói mấy chữ
sau đây, "Nam mô Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri."
Chỉ một lần thôi. Nhờ thiện căn này mà được sinh vào
cõi trời ấy, sống an lạc sáu mươi kiếp. Biết được việc
trong tám mươi kiếp về trước. Sinh ra ở đâu cũng
không gặp phiền não. Sinh ra là phiền não tan đi.
Chúng sinh ấy không thể làm cho phiền não tận diệt."
Nghe xong, đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế
tôn, phải thế nào mới có thể làm cho phiền não tận
diệt?"

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 71)

Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, cần phải tinh tấn
vượt bực."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, phải tinh tấn vượt
bực như thế nào?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây:
tinh tấn là tướng hiện của quả. Cái gọi là ‘quả Tu đà
hoàn’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Tư đà
hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A na
hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A la
hán’, và sự tịch diệt của bậc A La Hán, là chỗ của
hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Độc Giác" và trí tuệ của
bậc Độc Giác, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả
bồ tát" và đại giác ngộ, là chỗ của hạnh tinh tấn. Dược
Quân, tất cả những điều nói trên đều được gọi là ‘chỗ
của hạnh tinh tấn.’
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, Tu đà hoàn và quả
Tu đà hoàn có tướng hiện như thế nào?"
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ví như có người
trồng cây, vừa trồng xuống, cây đã đâm chồi chỉa
nhánh sum suê. Nội một ngày rễ sâu một do tuần. Lại
cũng có người trồng cây, khi trồng gặp gió lớn, cây
chẳng lên được chồi xanh nào. Người ấy bứng cây đi.
Người kia thấy vậy lên tiếng, ‘Vì sao ông đào đất của
tôi?’ Trong lúc cả hai đang dằn co với nhau, nhà vua
đi ngang, thấy có trận cãi vã liền bảo quần thần, ‘gọi
hai người ấy đến đây cho ta.’
"Quần thần vâng lời, chạy nhanh đến nói, ‘Đại
Vương truyền gọi hai ông.’
"Nghe vậy, một người hoảng hốt sợ sệt, còn một
người vẫn điềm tĩnh an nhiên. Cả hai đến trước mặt vua. Vua hỏi, ‘Vì cớ gì hai ngươi dằn co cãi vã với
nhau?’

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 72)

"Một trong hai người đứng lên thưa, ‘Thưa Đại
Vương, tôi không có ruộng vườn, chỉ mượn được mảnh
đất này trồng cây. Trồng một ngày, cây đơm hoa kết
trái, nửa sống nửa chín. Ngay ngày đó, người kia cũng
đến trồng cây, nhưng trong khi trồng gặp gió lớn, cây
không thể đâm chồi. Thưa Đại Vương, rễ cây của
người ấy không sâu đủ một do tuần, vì vậy người ấy
không vui đến kiếm chuyện sinh sự với tôi, nói rằng
tất cả đều là lỗi của tôi. Xin Đại Vương xét cho, tôi
hoàn toàn không có lỗi.’
"Khi ấy nhà vua triệu tập ba mươi triệu quần thần,
phán rằng, ‘Các ông nói đi.’
"Quần thần thưa, ‘Tâu Đại Vương, nói điều gì?’
"Vua đáp, ‘Các ông có bao giờ từng nghe có ai
trồng cây mà trong một ngày mọc lên đủ cành đủ lá,
hoa trái sum suê, nửa sống nửa chín? Các ông nói thử
xem có thể có chuyện như vậy được hay không?’
"Quần thần đứng dậy, tâu rằng, ‘Tâu Đại Vương,
chuyện này là phép lạ, chúng tôi không thể biết chắc
được. Phải hỏi người kia kỹ hơn.’
"Nhà vua quay lại hỏi người kia, ‘Lời ngươi nói lúc
nãy có thật không?’
"Người ấy đáp, ‘Tâu Đại Vương, toàn là sự thật.’
"Vua nói, ‘Ta chưa từng nghe qua chuyện lạ như
vậy. Ngươi nói rằng ‘cây trồng một ngày, đơm hoa kết
trái’, thật là chuyện khó tin.’
Người ấy chắp tay đáp, ‘Nếu Đại Vương không tin,
xin cứ hãy đến đó đích thân trồng thử.’

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 73)

"Vua bèn ra lệnh nhốt hai người kia vào ngục, tự
mình dẫn ba mươi triệu quần thần ra mảnh đất nọ, lấy
cây trồng thử. Cây không nảy mầm, không ra lá,
chẳng đơm hoa, không kết trái. Vua nổi giận truyền
lịnh, ‘Mang rìu lại đây.’ Quần thần đưa rìu lại, vua hạ
lịnh đốn ngã gốc cây sum suê hoa trái người kia trồng.
Thân cây ngã xuống, mười hai cây khác mọc lên. Vua
lại bảo chặt. Mười hai cây ngã xuống, hai mươi bốn
cây khác lại mọc, với đầy đủ gốc rễ hoa trái, chồi xanh
mơn mởn, lấp lánh bảy thứ châu ngọc quí giá. Trên
cây xuất hiện hai mươi bốn con chim mào vàng cánh
ngọc, âm thanh trong suốt. Vua thấy vậy lại càng tức
tối, tự tay đưa rìu bổ xuống gốc cây. Rìu phập vào
thân cây, nước cam lồ tuôn ra. Bấy giờ nhà vua cảm
thấy bất an, truyền lịnh, ‘Thả hai người kia ra khỏi
ngục’, quần thần dạ rang, tức tốc chạy về ngục dẫn hai
người đến gặp vua.
"Vua bấy giờ lên tiếng hỏi, ‘Ngươi trồng thứ cây
gì, mà cứ đốn xuống thì lại mọc lên nhiều gấp bội,
thành những hai mươi bốn cây, trong khi cây của ta
chẳng ra mầm trổ lá, chẳng kết trái đơm hoa?’
"Người kia thưa rằng, ‘Vì công đức người trồng
không giống nhau.’
"Quần thần nghe xong, quì cả hai chân, nói với
người kia, ‘Ông mới xứng là vua trị nước. Vua trước
không xứng đáng.’ Người kia bấy giờ nói,
‘Phước báu đế vương
Tôi chẳng mong cầu
Cũng không mong cầu
Tiền tài, của cải.
Chỉ tin nơi Phật.

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 74)


Nguyện trở thành bậc
Tôn quí nhất trong
Các loài hai chân.
Nguyện đến được nơi
Như lai trú ở
Thanh tịnh niết bàn.
Nguyện đem chánh pháp
Thuyết cho các ông
Cùng đến niết bàn. ‘
"Người ấy xếp chân
Theo thế hoa sen,
Và thú nhận rằng:
‘Trong thời quá khứ,
Tôi phạm ác nghiệp,
Nên nay bị nhốt
Vào ngục của vua.
Bây giờ tại đây,
Phát tâm bồ đề
Nguyện tan nghiệp cũ’
"Lúc ấy hai mươi bốn triệu con chim mỏ ngọc kim
cương xướng lên âm thanh trong vắt. Lại có ba mươi
hai ngàn tòa lầu hiện ra, mỗi tòa rộng hai mươi lăm do
tuần, với hai mươi lăm triệu con chim mỏ vàng mào
vàng, mặt vàng, cất tiếng người nói rằng,
‘Đại Vương chặt cây, gây quả ác. Hai mươi bốn
cây trong số một trăm triệu cây, mọc sừng sững trước
mặt Đại Vương. Vì việc làm bất thiện này mà Đại
Vương sẽ gặp quả bất thiện. Đại Vương có biết người
trồng cây ấy là ai chăng?’

(Kinh Chánh Pháp sanghata trang 75)

"Vua rằng,
‘Tôi thật không biết.
Xin nói cho tôi nghe
Người trồng cây ấy
Đích thật là ai?’
"Chim đáp,
‘Người ấy sẽ là
Ngọn đèn thế giới,
Xuất hiện cõi trần,
Làm người dẫn dắt
Toàn thể chúng sinh
Ra khỏi ràng buộc
Sinh tử luân hồi.’
"Vua hỏi,
‘Vậy còn người kia
Trồng cây không mọc,
Đã làm những gì
Trong thời quá khứ?
Xin chim giải thích
Tôi nghe được chăng?
"Chim đáp,
‘Đề Bà Đạt Ma
Là tên người ấy.
Không chút căn lành,
Lấy gì cây mọc?’
------------------------------
(còn tiếp)
phivan
Gold Member
Join Date: May 2004
Số Điểm: 2037
Old 01-22-2007 , 09:51 PM     phivan est dconnect  search   Quote  
"Vua rằng:

‘Tôi thật không biết.
Xin nói cho tôi nghe
Người trồng cây ấy
Đích thật là ai?’

"Chim đáp:

‘Người ấy sẽ là
Ngọn đèn thế giới,
Xuất hiện cõi trần,
Làm người dẫn dắt
Toàn thể chúng sinh
Ra khỏi ràng buộc
Sinh tử luân hồi.’

"Vua hỏi:

‘Vậy còn người kia
Trồng cây không mọc,
Đã làm những gì
Trong thời quá khứ?
Xin chim giải thích
Tôi nghe được chăng?

"Chim đáp:

‘Đề Bà Đạt Ma
Là tên người ấy.
Không chút căn lành,
Lấy gì cây mọc?’

"Ngay lúc ấy, ba mươi triệu quần thần nghe chánh
pháp này đồng loạt chứng quả thập địa, được trí huệ
trong suốt, còn nhà vua an trụ thập địa rồi thành tựu
thiện pháp."

Kinh Chánh Pháp sanghata Trang 76

Bồ tát Dược Quân nghe đức Thế tôn kể xong, hỏi
rằng, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà ba
mươi triệu quần thần đạt được trí tuệ trong suốt, an trụ
thập địa?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe Như
lai giải thích đây.
Bấy giờ đức Thế tôn mỉm miệng cười, từ miệng
phóng ra tám mươi bốn ngàn tia sáng lớn, đủ cả trăm
vạn sắc màu xen lẫn, xanh, vàng, đỏ, trắng, tía, pha lê,
bạc, chiếu sáng rực rỡ thế giới vô lượng vô biên, rồi về
lại cạnh đức Thế tôn, vòng quanh ba vòng theo chiều
bên phải rồi tan biến vào đỉnh đầu của Phật.
Lúc ấy đại bồ tát Dược Quân từ chỗ ngồi đứng dậy,
vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn mà nói,
"Thưa Thế tôn, vì lý do gì Thế tôn mỉm cười? Không
phải vô cớ mà bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri
lại mỉm cười."
Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông có thấy vô số
người từ bốn phương đang về đây tụ họp không?"
Dược Quân đáp, "Thưa không, con không thấy."
Đức Thế tôn nói, "Vậy ông nhìn lại cho kỹ, nhiều
vô cùng tận."
Bấy giờ đại bồ tát Dược Quân quan sát kỹ lưỡng,
thấy phương Đông có một gốc đại thụ tỏa rộng đến
bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu
thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi,
không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ
ngồi chờ im lặng. Phương Nam có một gốc đại thụ tỏa
rộng đến bảy ngàn do tuần.

Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 77

Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Phương Tây có một
gốc đại thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần. Trên đó có
hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói
năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn,
không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng. Phương
Bắc có một gốc đại thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần.
Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập,
không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện,
không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Không gian phía dưới có một gốc đại thụ tỏa rộng đến
bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu
thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi,
không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ
ngồi chờ im lặng.Không gian phía trên có một gốc đại
thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai
mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói
năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn,
không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Đại bồ tát Dược Quân mới thưa đức Thế tôn, "Thưa
Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri, xin cho con hỏi
một điều."
Đức Thế tôn đáp, "Ông có điều gì thắc mắc cứ hỏi,
Như lai sẽ vì ông mà trả lời tất cả."
Đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, vì sao
vô số thân người như vậy từ bốn phương kéo đến và
ngồi lại đây? Vì sao ở giữa không gian phía trên và
phía dưới lại có năm mươi ngàn triệu người kéo đến,
và ngồi lại? Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà
có việc như vậy?"

Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 78

Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy tự mình
đến thăm các đấng Như lai trong mười phương thế
giới, hỏi xem những thân người này đến từ cõi nào."
Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, con dùng thần lực
nào để đi? Thần lực của Như lai, hay thần lực của
chính mình?"
Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy đi bằng
thần lực của chính mình."
Đại bồ tát Dược Quân nghe xong, theo hướng bên
phải của đức Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình
biến mất ngay nơi ấy. Sau khi đi qua hơn chín mươi
sáu triệu thế giới, đại bồ tát Dược Quân đến thế giới
tên gọi Nguyệt Đăng [Chandrapradipa]. Vị Như lai,
ứng cúng, Chánh biến tri của cõi ấy tên là Nguyệt
Thượng Cảnh Giới [Chandravati-kshetra]. Như lai
Nguyệt Thượng Cảnh Giới đang thuyết Pháp cho tám
mươi ngàn triệu đại bồ tát.

------------------

(còn tiếp)
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 04:06 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.