![]() |
Quick Language Chooser: |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
LÝ THÁI CỰC Là Gì?
Trong Hệ từ (Dịch Kinh) cũng có câu: “Đạo Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ (Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái). Tất cả các danh từ trong câu trên đây đều có ý nghĩa siêu hình biểu thị Luật Điều Hòa, Tương Đối mà ta suy diễn được trong cách thức biến hóa, sinh thành của vũ trụ. Đối chiếu với câu trên thì ĐẠO là (LÝ) THÁI CỰC, và Âm-Dương là Lưỡng Nghi... Bởi vậy, ĐẠO hay (LÝ) Thái Cực vô cùng huyền bí, tâm trí con người không thể hiểu được bản thể linh diệu vô biên đó, nhưng có thể quan sát cái động thể của ĐẠO (Lý Thái Cực) để biết các sự vật sinh thành, biến hóa làm sao. Nho gia chỉ chú trọng nghiên cứu cái động thể mà thôi! Ta thấy vạn vật luôn sinh hóa, biến đổi không ngừng: đó là ý nghĩa của chữ DỊCH (Dịch là biến đổi) và biến hóa theo Luật Tương Đối, tức Luật Âm-Dương. Âm-Dương theo lẽ Điều Hòa mà sinh ra Ngũ Hành là Thuỷ, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ. Những danh từ này cũng phải hiểu theo nghĩa siêu hình, ám chỉ “đạo”, lực lượng vô hình đối đáp nhau để phát sinh vạn vật và lôi kéo vạn vật biến chuyển một cách điều hòa, trung hòa. Nói tóm lại, theo nho gia, mọi sự mọi loài hiện hữu đều do ĐẠO mà ra và đều có cùng một nguồn gốc là ĐẠO. Đó cũng là ý nghĩa của thuyết: “Vạn Vật Nhất Thể”. ........... |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
NGŨ HÀNH: CẤU TRÚC CỦA VŨ TRỤ
Như ta đã thấy ở trên, các nho gia đã dùng triết lý Âm-Dương điều hòa theo Luật Tương Đối để chứng minh cho thuyết “Vạn Vật Nhất Thể”, vạn sự vạn vật đều bởi một nguồn gốc là “ĐẠO” mà ra. Các nho gia còn tìm phương thức để giải nghĩa cái cấu trúc của vũ trụ được xếp đặt và vận chuyển như thế nào. Đó là thuyết về “NGŨ HÀNH”' sau đó, mới cắt nghĩa sự liên đới giữa thiên đạo, nhân đạo, và địa đạo để chứng minh cho thuyết “Thần-Nhân Tương Dữ”, “Tam Tài”, “Hồng Phạm”, “Cửu Trù”, “Mục đích luận”, “Duy cơ luận”,… 1. Thuyết “Ngũ Hành” là gì? Quan niệm về “Ngũ Hành”, là thiên thứ nhất trong “Cửu Trù”. Ngũ Hành gồm có: thứ nhất là Thuỷ, nhì là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ. (Tính chất của) Thuỷ là ướt và xuống. Hỏa là cháy và lên. Mộc là cong và thẳng. Kim là nhường và đổi. Thổ là gieo giống, gặt hái. Như trên đã trình bày về thuyết Âm-Dương, các triết gia đi từ những quan sát các vật cụ thể, các hiện tượng thiên nhiên như: sáng-tối, ngày-đêm, nóng-lạnh, giống đực-giống cái, nam-nữ,… để rút ra những ý niệm trừu tượng, siêu hình, tức là nói theo kiểu ngày xưa, từ “Hình nhi hạ học” vượt lên “Hình nhi thượng học”. Quan niệm về Ngũ Hành cũng vậy. Khởi đầu, Ngũ Hành chỉ những chất như nước, lửa, gỗ, kim loại, đất… cấu kết nên thế giới, vũ trụ này. Nhưng theo lý luận siêu hình học, Ngũ Hành ám chỉ những thế lực điều khiển sự vận chuyển, biến hóa của lịch sử nhân loại, và là nền tảng của các triết thuyết như: “Vạn vật nhất thể”, “Thần-Nhân tương dữ”, v.v. Chữ “Hành” nghĩa là “làm”, hoạt động, nên ngũ hành, theo nghĩa đen là năm hoạt động hay năm tác nhân (agents). Người ta cũng gọi là “Ngũ Đức”, năm thế lực. Về phương diện nguyên liệu, chất liệu, Ngũ Hành là năm yếu tố cấu thành vũ trụ. Do đó, chữ “hành” lại có nghĩa là “yếu tố” (element), trong đó Hành Thổ ở giữa (Trung Cung) là căn cơ và cũng là cùng đích của muôn vật. Ngũ Hành là năm yếu tố cộng thêm yếu tố cốc (lúa) là sáu yếu tố cần thiết cho sự sống. Vì thế, vị quân vương và mọi người phải chăm lo khai thác, mở mang kinh tế, nông nghiệp và kỹ nghệ, thì dân mới no, mới giầu, nước mới mạnh được. Về phương diện không gian, Ngũ Hành chiếm năm vị trí chính yếu là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung. Về thời gian, Ngũ Hành biểu thị năm thời đại khác nhau, năm mùa khác nhau, bốn mùa “biến thiên” bên ngoài và một mùa “hằng cửu” bên trong vừa là mùa hoàng kim khởi thuỷ, vừa là mùa Hạnh Phúc lý tưởng lúc chung cuộc. ................ |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Về phương diện siêu hình, Ngũ Hành gồm một Trung Điểm bên trong và “tứ tượng” bên ngoài, tức là gồm cả huyền cơ về bản thể, về nguyên lý hằng cửu, tức lý Thái Cực ở bên trong, và bốn hiện tượng, tức dịch lý biến thiên ở bên ngoài. Tứ tượng là bốn hiện tượng, trạng thái biến đổi của một bản thể bất biến. Do đó, theo nghĩa siêu hình huyền bí, chữ “Hành” phải hiểu là “đạo”, là” diễn biến” (processus) của một nặng lực trung tâm phát ra tứ phía đồng thời thay hình đổi dạng khác nhau tùy chỗ.
Cách thức biến đổi đó khi thì có tính chất chảy, uyển chuyển, lúc thì cứng rắn, nóng nảy. Hành “Thổ” ở giữa, vì tính chất mầu mỡ của đất để sinh sản hoa mầu, nên tượng trưng cho năng lực sáng tạo của Thiên, của Nguyên Lý Tuyệt Đối. Do đó, vạn sự vạn vật, mọi biến thiên trong vũ trụ, chung cuộc đều bởi một “ĐẠO” mà ra, để chứng minh cho thuyết “Vạn vật nhất thể”(157). Theo lý luận siêu hình, “ĐẠO” đó đã biến ra “Ngũ Cung”, trong âm nhạc cổ truyền. Thiên (ĐẠO) xướng dấu nhạc, và Địa đáp lại bằng tiếng “cồng”' và tiếng cồng đó vang dội ra bốn phương, thành ra bốn cung, rồi tiếng cồng và bốn cung hợp nên Ngũ Cung, tất cả đều phát xuất từ một “Đạo” mà ra. (158). Chú ý: Trung Hoa lấy tứ Linh (bốn con vật thiêng) là: Long, Li, Qui, Phượng, để tượng trưng cho tứ tượng. ......... |
|
doccoden
Platinum Member Join Date: Dec 2006 Số Điểm: 4238 |
Quote :
![]() Nói là hổng tham gì mà "cả thế gian này đều thuộc về tui hết" thì phải gọi là THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT THAM mới đúng ![]() ![]() |
|
doccoden
Platinum Member Join Date: Dec 2006 Số Điểm: 4238 |
Quote :
![]() _Trong chuyện kể về người thợ săn bị mũi tên độc,chỉ là nói về nguồn gốc Vô minh,chẳng có câu nào liên quan đến Thượng đế, cũng như Linh hồn. _Trong 14 câu hỏi mà Phật im lặng không trả lời chẳng có câu nào liên quan đến Thượng đế, cũng như Linh hồn. Phật đã bác bỏ rất nhiều lần về Thượng đế, cũng như Linh hồn.Bởi vì chúng là Tự ngã,mà Phật thì tuyên bố Vô ngã. Nếu không thì làm gì còn là đạo Phật,bởi vì hầu hết những phần còn lại trong Ấn giáo đã có rồi. DCD chỉ nhớ được một đoạn này: "Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian - quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?" (Trung Bộ Kinh) Nói thêm cho rõ,NS phải hiểu là Ấn giáo có nhiều giáo phái khác nhau. _Mới đầu là Samkhya,chỉ tin có Linh hồn chứ không tin có Thượng đế. _Yoga thì tin rằng Linh hồn là một phần của Thượng đế,đắc đạo tức là hòa nhập làm một như nước sông tìm được đường chảy ra biển hòa lẫn vào nhau không phân biệt (khác với TCG là Linh hồn ở gần bên cạnh Thượng đế). _Vedanta thì tin là chỉ có Thượng đế mà không có Linh hồn ![]() Thượng đế của Ấn giáo cũng khác với TCG: _Cô độc:vì không có ai khác ngoài Thượng đế.Thế gian này là giấc mộng của Ngài chứ hổng phải tạo tác. _Vô tướng:không có hình tướng (giống như Allah của Hồi giáo) _Vô tình: không có tình cảm (không có yêu hay ghét) Phải đặt đúng Phật giáo trong bối cảnh như vậy mới thấy sự khác biệt và giống nhau giữa AG và PG. |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Chào bác Đen or Đèn
Ns không đồng ý lắm với cách so sánh của bác, ngay cả bác KKT cũng chỉ nói đúng độ 99%, MỘT PHẦN TRĂM còn lại, không ai kiểm chứng được. ............ 07-19-2006, 06:49 PM LaughingHaHa Ðại Tá Join Date: Mar 2004 Posts: 849 Re: Tiếp Xúc Với Thiên Chúa (còn tiếp) ------- Chào bạn NhieuChuyen000, 1. KKT nói rằng tư tưởng của Anthony de Mello có tính cách UNIVERSAL là bởi vì sách ông được nhiều người thuộc nhiều tôn giáo khác nhau như Ki Tô Giáo, Phật Giáo, Ấn Giáo ưa thích. Nhiều người thuộc nhiều niềm tin khác hẳn nhau như vậy mà cùng thích thì có nghĩa là tư tưởng của ông có một cái MẪU SỐ CHUNG nào đó cho cùng những niềm tin khác biệt kia. Cho nên mới gọi là UNIVERSAL. 2. Theo KKT được biết, Anthony de Mello vẫn giữ đạo Công Giáo cho đến cuối đời. Ông là một linh mục dòng Tên suốt đời. 3. KKT nghĩ rằng Anthony de Mello có lẽ thiên về quan niệm Thượng Đế của Ấn Giáo hơn là quan niệm Thượng Đế của Ki Tô Giáo. Quan niệm của Ki Tô Giáo là Thiên Chúa và Con Người là HAI thực thể riêng biệt, không thể nào đồng nhất được. Còn quan niệm của Ấn Giáo là Con Người và Thượng Đế là MỘT (hay là đồng nhất) một khi con người thể hiện được Thượng Đế nơi mình (tức là một khi đắc đạo). Như vậy thì câu "If God is love, then the distance between God and you is the exact distance between you and the awareness of yourself ?" (One Minute Nonsense, 266) có nghĩa là khi Con Người tự nhận biết rằng bản chất của mình là Tình Yêu (Love) thì lúc đó Con Người cũng cảm nhận được God rõ rệt hơn vì God cũng chính là Love. Thế nhưng Con Người chỉ << giống như >> God (tức cùng là Love) chứ Con Người không phải là God: đây là quan niệm của Ki Tô Giáo. Còn theo Ấn Giáo thì khi đó Con Người và God là ĐỒNG NHẤT, cùng là LOVE: Con Người là God! __________________ Thử thân bất hướng kim sinh độ Cánh hướng hà sinh độ thử thân? Thân này chẳng thẳng đời này độ Lại đợi đời nào độ thân này? ........... GIOAN chương 14 8 Ông Phi-líp-phê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."9 Đức Giê-su trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"?10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.11 Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy." ở trong chứ không phải ở bên cạnh nghe bác Đen ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Quote :
Phần thưởng dành cho ai bỏ mọi sự mà theo Đức Giê-su (Mc 10: 28 -31; Lc 18: 28 -30 ) 27 Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng thưa Người: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì? "28 Đức Giê-su đáp: "Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, ............................ phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp. Matthêu chương 19 |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
MATTHÊU Chương 13
BÀI GIẢNG BẰNG DỤ NGÔN 1 Hôm ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ.2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ.3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Dụ ngôn người gieo giống (Mc 4:3-9; Lc 8:5-8) 4 Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu;6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt.8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.9 Ai có tai thì nghe." Tại sao Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói? (Mc 4:10 -12; Lc 8,9-10 ) 10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng: "Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ? "11 Người đáp: "Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất.13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu.14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy;15 vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. 16 "Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. Giải nghĩa dụ ngôn người gieo giống (Mc 4:13 -20; Lc 8:11 -15 ) 18 "Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống.19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường.20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận.21 Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay.22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì.23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục." Dụ ngôn cỏ lùng 24 Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: "Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất.26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện.27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: "Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy? " Ông đáp: "Kẻ thù đã làm đó! " Đầy tớ nói: "Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không? " 29 Ông đáp: "Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi." Dụ ngôn hạt cải (Mc 4:30 -32; Lc 13: 18 -19 ) 31 Đức Giê-su còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói: "Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình.32 Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được." Dụ ngôn men trong bột (Lc 13: 20 -21 ) 33 Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác: "Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men." Giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng 36 Bấy giờ, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: "Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe."37 Người đáp: "Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người.38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần.39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần.40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.41 Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người,42 rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng.43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe. Dụ ngôn kho báu và ngọc quý 44 "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. 45 "Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Chủ đề của cái thread này là
ĐẠO LÝ GÓP NHẶT ĐÓ ĐÂY nên các bài được đưa lên không phải là của Nhusanh viết, nhưng mà Ns thích, không phải viết mà là thích đó ... bác Đen cho nên rằng thì là bác muốn hỏi thêm thì kiếm tác giả mà hỏi đi nhé Nhusanh khôn thật ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Đạo Bà La Môn
Thượng đế ba ngôi Trimurti (từ trái sang: Brahma, Vishnu, Shiva), phía trên là chữ OM hay AUM biểu tượng của đạo Bà La Môn. Đạo Bà La Môn (Brahmanism) cũng gọi Ấn giáo hay Ấn Độ giáo (Hinduism), là đạo bản địa của người Ấn (Hindus), hình thành ở Ấn Độ khoảng năm 1.500 trước Công nguyên hoặc sớm hơn nữa, tức là có trước Phật giáo ít lắm cũng khoảng 10 thế kỷ. Không xác định ai là giáo chủ hay người mở đạo. Bậc chân sư đắc đạo hướng dẫn tâm linh cho tín đồ được gọi là guru. Tôn giáo này thuộc loại phiếm thần (pantheism) có lẫn yếu tố đa thần (polytheism). Trời hay Thượng đế của Ấn giáo là một Trimurti (tam vị nhất thể) gồm ba ngôi: Brahma (đấng sáng tạo), Vishnu (đấng bảo tồn), và Shiva (đấng hủy diệt). Các bộ kinh chính viết bằng tiếng Sanskrit: Vedas (Phệ đà), Upanishads (Áo nghĩa thư), Bhagavad Gita (Chí tôn ca)… Vũ trụ quan. Thực tại tuyệt đối sinh thành và bảo tồn vũ trụ, vạn vật được gọi là Brahman, có thể xem như tương đồng với khái niệm Đạo của Trung Hoa, hay Logos của Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ 5 trước Công nguyên. Nhân sinh quan. Con người bị ràng buộc trong vòng vô minh (ngu dốt) và huyễn ảo nhưng lại có khả năng thoát khỏi chúng. Đời người có 4 mục đích: dharma (hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo); artha (mưu sinh và thành đạt trong xã hội); kama (thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ); moksa (giải thoát khỏi vòng luân hồi) bằng cách giải trừ hết các nghiệp (karma) vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế gian, tức là luân hồi (samsara). Đời người phải trải qua 4 giai đoạn: brahmacharga (học tập); grhastha (lập gia đình, tạo sự nghiệp); vanaprastha (hướng về tâm linh); sanrgasu (thoát ly xã hội để tu hành). Luân lý. Con người chịu 3 trọng ân: ơn trời, ơn thầy, ơn tổ tiên. Phải tu tập theo 3 con đường: karmamarga (phụng sự); jnanamarga (trí tuệ hay minh triết); bhaktimarga (sùng tín trời). Giữ 10 giới răn: ahimsa (không giết chóc); satya (không nói dối); asteya (không trộm cắp); brahmacharya (không buông thả theo ham muốn); aparigraha (không tham lam); saucha (phải sạch sẽ, tinh khiết); santosha (biết bằng lòng); tapas (kỷ luật với bản thân); svadhyaya (phải học tập); ishvara pranidhana (vâng phục mệnh trời). Nghi lễ. Có 5 thánh lễ chính: Mahashivarati (giữa tháng 2), Holi (trong mùa xuân), Ramnavami (cuối tháng 3), Dusserah (đầu tháng 11), và Diwali (giữa tháng 11). Tín đồ hành lễ tại nhà riêng và trong đền thờ. Đạo Bà La Môn có 900 triệu tín đồ (năm 2005). Văn hóa Bà La Môn đã sớm ghi dấu ấn ở Sri Lanka và các nước Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Mã Lai, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), hiện nay vẫn còn đền thờ và tín đồ ở các nước này. Bà La Môn cũng có ở một số nước phương Tây (Anh, Mỹ…). Thức giả Âu Mỹ đặc biệt kính trọng tư tưởng của các guru như Sri Ramakrishna Paramahamsa (1836-1886) và đệ tử của ông là Swami Vivekananda (1863-1902)… Nghê Dũ Lan (SGGP Thứ Bảy) |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
PHÂN BIỆT NGÀY VÀ ĐÊM
Trong kho tàng khôn ngoan Ấn giáo, có một câu chuyện minh triết kể về vị đạo sĩ và người học trò. Vị đạo sĩ hỏi người học trò: - Đâu là lằn mức giữa đêm và ngày? Lúc nào ngày bắt đầu? Lúc nào đêm chấm dứt? Người học trò suy nghĩ. Vị đạo sĩ bảo người học trò vẽ lằn mức mặt trời mọc đến đâu là ngày, chia ranh giới nào là hết đêm. Im lặng, nhíu thêm đôi mày. Thời gian trôi qua. Không ngờ câu trả lời khó vậy. Người thanh niên thầm nhủ: Ta nhìn bình minh biết bao lần, thức dậy biết bao buổi sáng, mấy mươi năm trong đời chưa một lần phân biệt: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?. Sau thời gian suy nghĩ, người học trò không sao vẽ được lằn mức giữa ngày và đêm. Anh đánh bạo trả lời tôn sư :- Thưa Thầy, lúc mặt trời cho con đủ ánh sáng phân biệt được con chó khác con mèo, đó là ngày. Vị đạo sĩ lắc đầu, hỏi người học trò: - Phân biệt con chó khác con mèo nhưng đủ ánh sáng để phân biệt cành trúc khác cành tre không? Người học trò im lặng chưa biết nói gì. Tôn sư anh ta lắc đầu nói tiếp: - Đấy không phải tiêu chuẩn phân biệt ngày và đêm con ạ. Đủ ánh sáng phân biệt con chó với con mèo, nhưng bao nhiêu ánh sáng mới đủ phân biệt cây trúc với cây tre? Vả lại gần bao nhiêu thì rõ để gọi là chó, xa bao nhiêu là tối để có thể lẫn là mèo? Sau cùng, người học trò tự thú: - Thưa Thầy, từ lúc Thầy đặt câu hỏi con mới để ý khi mặt trời mọc. Con không vẽ ranh giới được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm kết thúc. Con thức giấc mỗi sáng mà không biết lúc nào gọi là ngày, lúc nào hết đêm. Vị đạo sĩ trầm tư: - Con ạ, cuộc đời nhân gian đêm nhiều hơn ánh sáng. Người ta không tỉnh thức nên sống trong đêm tối mà cứ ngỡ ban ngày. Người ta thức dậy mỗi ngày mà không biết ngày bắt đầu lúc nào, làm sao gọi là thức dậy? Người học trò im lặng trong ý nghĩ riêng tư, hỏi nhà đạo sĩ: - Thưa Thầy, người ta không quả quyết được lúc nào đêm chấm dứt. Có phải ý Thầy muốn nói, như thế, thức dậy cũng chưa chắc là hết bóng đêm không? - Đúng thế, con ạ. Thầy muốn dạy con hai điều. Điều thứ nhất, con đã phí phạm biết bao bình minh, mấy mươi năm trong đời nhìn mặt trời mà không biết đâu là ngày, đâu là đêm. Điều thứ hai, ngày tháng còn lại của con, con phải trả lời câu hỏi của Thầy: "Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt? Bao nhiêu năm thiền niệm trên ngọn núi này, ngày ngày Thầy nhìn mặt trời mọc trên biển tìm câu trả lời. Thầy thức giấc nửa đêm trăn trở vì câu hỏi ấy. Thầy ra ghềnh đá chờ ánh mặt trời, Thầy lấy hết tâm trí nhìn bóng tối lụi dần mà không vẽ nổi lằn ranh biên giới lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Cho đến một ngày kia." Nói đến đó nhà đạo sĩ im lặng. Mắt ông ngời sáng, nhìn xa xôi về phía chân trời. Người học trò lắng nghe. Đợi người học trò thật yên tĩnh, nhà đạo sĩ nói với môn sinh: - Con ạ, thật sự không thể vẽ lằn mức được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt! Người học trò như ngạc nhiên, chăm chú lắng nghe. Tôn sư ôn tồn xác định lần nữa câu nói của ông bằng cách cắt nghĩa cho người học trò:- Không thể phân biệt được biên giới giữa đêm và ngày cũng như không phân biệt được bao nhiêu của cải là hạnh phúc, thiếu bao nhiêu là chưa đủ! Ngập ngừng đôi giây, vị đạo sĩ nói như lời tâm sự thân tình với học trò:- Thách đố bởi câu hỏi khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Thầy mải mê đi tìm trong văn chương triết học, trong thần bí niệm tu, cho đến một ngày biết mình không còn sống bao lâu mà vẫn không tìm được câu trả lời. Lúc đó Thầy buồn khôn tả, biết mình nhỏ bé trước biển cả và mặt trời. Thầy cúi đầu xin Thượng Đế cho Thầy được chết bình an. Thầy xin Thượng Đế cất đi câu hỏi đã dằn vặt Thầy. Thầy không còn cách nào trả lời câu hỏi ấy. Trong văn chương triết học, Thầy đã thất vọng, trong thần bí niệm tu, Thầy đã ráng sức cả đời. Càng suy nghĩ càng thấy mình nhỏ bé, sau cùng, Thầy chỉ còn biết xin Thượng Đế thương xót, đừng hỏi nữa cho tâm hồn Thầy thảnh thơi. Khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt? Không trả lời được con ạ. Đâu ngờ, chính lúc Thầy xin Thượng Đế cất câu hỏi ấy đi, Ngài lại trả lời cho Thầy. Một ánh sáng êm dịu vô ngần nhẹ nhàng đậu xuống linh hồn Thầy, cho Thầy một trí hiểu đơn sơ, một niềm vui kín đáo, một năng lực sống trọn vẹn vì một khám phá: Đời quá đẹp con ạ ! Nói tới đó, nhà đạo sĩ như phiêu du vào một vùng trời rất đỗi bình an. Người học trò chăm chú kỹ hơn, lắng nghe. - Con ạ, Thượng Đế nói cho linh hồn Thầy rằng, lúc nào Thầy nhìn con, thấy bóng dáng Thượng Đế trong con, lúc nào Thầy nhìn ai cũng chỉ thấy là bạn hữu, đó là ngày! Lúc nào Thầy nhìn người khác mà tức giận, ghen ghét , tham lam, thù hận, thì đấy là đêm! Ánh sáng để phân biệt đêm và ngày là lòng từ ái nhân hậu. Đi giữa ban ngày mà trong trái tim trĩu nặng, u hoài thì vẫn vẫn là bóng đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lý, chỉ có lòng từ ái bao dung. Vị đạo sĩ nhìn người học trò rất đỗi nhân ái mến yêu. Từ từ nhắm mắt. Im lặng, linh thiêng và bình an, ông lặng lẽ xuôi hồn về thế giới bên kia. Ông đã chết. Ông về với ánh sáng, nơi chỉ có ngày, không còn đêm nữa. Ông ra đi, để lại cho người học trò câu trả lời lúc nào là đêm, lúc nào ngày bắt đầu. Người học trò vĩnh viễn xa tôn sư. Vị đạo sĩ đã chết bình an sau khi để lại cho người học trò ánh sáng mà ông đã kiếm tìm. ![]() |
|
doccoden
Platinum Member Join Date: Dec 2006 Số Điểm: 4238 |
Quote :
![]() Có thấy chỗ nào nói rằng: _Chúa Cha ở trong anh em,anh em ở trong Chúa Cha hay không ?? NS rất rành về TCG mà cố tình quên: _Chúa Trời tạo tác ra thế gian và muôn loài.Người tạo tác và vật được tạo tác là hai thể riêng biệt.Chẳng hạn NS nặn đất sét tạo ra một con cừu bằng đất,không thể nói rằng con cừu đất đó là NS được ![]() _Một người tu học cao nhất cũng chỉ làm Thánh,được ở kề cận bên Chúa Trời,chứ đâu phải là trở thành Chúa Trời. _Chưa thấy chỗ nào trong Kinh thánh nói Chúa Trời là Đấng vô tình cả.Ngược lại,luôn nhấn mạnh rằng THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU. AG thì ngược lại: _Thế gian là huyễn ảo (maya),là giấc mộng của Brahman (Thượng đế).Con người ngoài thân xác ra còn có Atman.Cũng giống như khi NS nằm mơ,NS thật (đang ngáy khò khò) khác với NS giả (đang làm trò khỉ trong mơ )._ Ngài là Đấng lặng lẽ,vô tình.Cũng như NS thật chỉ là chứng nhân thụ động ngắm nhìn giấc mơ đang diễn biến.Tình cảm yêu,ghét,giận hờn...chỉ liên quan đến những con người ảo trong mơ,không dính dáng gì đến Brahman. _Vì vô minh nên con người tưởng rằng mình là thân xác và tâm hồn này.Nhưng thật ra chỉ là những ảo ảnh trong mơ.Nhờ tu luyện mà giác ngộ.Khi đó thì NS giả biết rõ rằng mình là NS thật.Atman hòa làm một với Brahman,tức là Thiền giả đã trở thành Thượng đế bất tử,quyền năng vô hạn,an lạc đời đời. Những người sắp đắc đạo có đạt được thần thông mà ham thi triển,sẽ quyến luyến cõi trần,không thể giải thoát --> sẽ đến lúc luân hồi tái sanh.Cũng như NS giả,thức tỉnh phần nào nên có thể làm những chuyện như ý muốn trong mơ.Từ đó ham thích giấc mơ,bị lôi cuốn mãi trong mơ không thoát ra nổi,tức là không trở thành NS thật ![]() |
|
doccoden
Platinum Member Join Date: Dec 2006 Số Điểm: 4238 |
Quote :
Tác giả hiểu sai nên viết sai.Mà người đọc nào chưa hiểu vấn đề nên hiểu sai lạc theo,khác gì người mù dẫn theo một đám mù ![]() Chắc là NS đã chạy theo ĐẠO GIAN DỐI của cu tí,nên nhắm mắt giả lơ trước sự thật ? Có lẽ nên sửa lại là ĐẠO TÍ GÓP RÁC ĐÓ ĐÂY ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Quote :
mù tất ai sáng À người tự thiêu À mà này bác Đen, SỰ THẬT của vấn đề là: 1. Sự Thật Tuyệt Đối thì không thể bàn 2. Sự thật tương đối thì trao đổi với một thiện chí cả hai cùng có lợi lạc trong việc tu học. Thí dụ chúng ta đang trao đổi ở cấp độ nào, Nhân thừa, Thiên thừa, Bồ tát thừa, Phật thừa hay Tối thượng thừa (không thể bàn). Không thể hổ lốn lần nào bác cũng xào chung, khó tiêu lắm đó bác Đen. Phật là gì? Phật có phải là Thượng Đế không? NO !!! Ý nghĩa của chữ Phật là: ......... để đi kiếm trên net ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Ý Nghĩa Thâm Diệu Của Từ "Phật"
Qua Cách Dịch Của Ngài Huyền Trang Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của chữ "Phật". (Thư hỏi của đạo hữu Giác Tâm Nguyễn Văn Hoa) Ðáp: Từ Phật là một từ mới trong số 24.000 từ mà ngài Huyền Trang đã tạo ra cho ngôn ngữ Phật Giáo Trung Hoa từ cuối thế kỷ thứ 6 từ Phạn ngữ Buddhã ra là "Phật Ðà', viết tắt là "Phật", hai nhà ngôn ngữ học Trung Hoa ở Thượng Hải dựa theo phương pháp Tây dịch phiên âm Buddhã ra "Bột Ðà" mà theo âm ngữ Tây phương thì Bột Ðà nghe na ná như Buddhã vì cùng có âm B và Bột Ðà có vè tân tiến hơn là Phật Ðà. Ðối với người Việt chúng ta ngày nay, ngoại trừ lớp cao niên còn quen thuộc với chữ Hán, nhiều người nhất là lớp trẻ đã đọc và viết theo vần La Tinh không biết chữ Phật viết theo lối chữ Hán như thế nào. Từ Phật, theo cách viết chữ Hán, gồm có hai vế: bên trái là bộ "Nhân", bên phải là chữ "Phất". Dùng pháp chiết tự để dẫn giải, bộ Nhân ở bên trái có nghĩa là "Người". Chữ Phất ở vế thứ hai, có nghĩa là "Không", là chẳng được; theo thuật ngữ Phật giáo đó là Tánh Không. Ghép cả hai vế lại với nhau, Phật nghĩa là Người Ngộ Tánh Không. Diễn giải một cách toàn diện hơn bao gồm cả hai vế, khi nhìn thấy danh từ "Phật", nó nhắc nhở người Phật tử, hay những ai biết chữ Hán, những điều nhận thức rất căn cốt và thâm diệu sau đây: - Phật là một con người như tất cả mọi người. - Vì cũng là con người cho nên Phật với chúng ta đều bình đẳng. - Phật không phải là Tiên, Thánh hay Thần và nhất thiết không phải là một Thượng Ðế "Toàn Năng" như của bất kỳ tôn giáo độc thần nào có quyền ban ơn giáng họa mà người ta gán cho Thượng Ðế này. - Mỗi người và mọi người đều có khả năng thành Phật, chứ Phật chẳng dành riêng cho ai. - Muốn thành Phật thì phải tu hành và ngộ được Tánh Không, chưa ngộ Tánh Không thì chưa thành Phật. - Tánh Không phải tu hành mới đạt được chứ không thể cầu xin hay do ai ban cho. - Tánh Không là Phật Tánh. Ðến đây quý độc giả có thể đã hết sức khâm phục ngài Huyền Trang vì sự uyên thâm Phật pháp, tính sáng tạo và sự liễu đạo của ngài, vì chỉ trong một từ với hai vế đơn giản ngài đã dạy cho chúng ta không biết bao nhiêu điều bổ ích, hiểu một cách sâu sắc về đạo Phật và không thể hiểu lầm đạo Phật với các tôn giáo khác. *******hoasen |
|
Xurodenstran
Junior Member Join Date: Apr 2008 Số Điểm: 100 |
Quote :
:p :p : :p :p |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Cây nho thật GIOAN chương 15
1 "Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho.2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.3 Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em.4 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. 5 Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.6 Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi.7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em ........... Thật vậy, con người chỉ là một nhánh của CÀNH NHO, và đương nhiên không phải là NGƯỜI TRỒNG NHO rùi Trái nho là Phật chăng !!!!! ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Quote :
Diễn giải một cách toàn diện hơn bao gồm cả hai vế, khi nhìn thấy danh từ "Phật", nó nhắc nhở người Phật tử, hay những ai biết chữ Hán, những điều nhận thức rất căn cốt và thâm diệu sau đây: - Phật là một con người như tất cả mọi người. - Vì cũng là con người cho nên Phật với chúng ta đều bình đẳng. - Phật không phải là Tiên, Thánh hay Thần và nhất thiết không phải là một Thượng Ðế "Toàn Năng" như của bất kỳ tôn giáo độc thần nào có quyền ban ơn giáng họa mà người ta gán cho Thượng Ðế này. - Mỗi người và mọi người đều có khả năng thành Phật, chứ Phật chẳng dành riêng cho ai. - Muốn thành Phật thì phải tu hành và ngộ được Tánh Không, chưa ngộ Tánh Không thì chưa thành Phật. - Tánh Không phải tu hành mới đạt được chứ không thể cầu xin hay do ai ban cho. - Tánh Không là Phật Tánh. http://www.*******hoasen.org/ddpp-ynghiachuphat.htm |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Không có con người thì không có tôn giáo. Để thay đổi không khí, mời các bạn đọc đoạn văn dưới đây trích từ WIKI tiếng Việt về nguồn gốc con người.
Câu truyện ADAM và EVA trong Cựu Ước của TCG là một ẩn dụ thần học, không thể coi như một bằng chứng khoa học. ............ Bằng chứng khoa học dựa trên di truyền học và nghiên cứu hóa thạch, đặt nguồn gốc người hiện đại Homo sapiens ở Châu Phi [1]. Điều này đã xảy ra khoảng 200,000 năm trước ở thời Đồ đá cũ, sau một giai đoạn lâu dài của tiến trình phát triển. Những tổ tiên của loài người, như Homo erectus, đã sử dụng những công cụ đơn giản trong hàng nghìn năm, nhưng cùng với thời gian, các công cụ đó trở nên tinh xảo và phức tạp hơn. Con người cũng phát triển ngôn ngữ khoảng thời gian nào đó thời kỳ Đồ đá cũ, cũng như một thứ nhận thức gồm cả phương pháp chôn cất người chết, nó chỉ ra rõ rằng đức tin vào một thế giới bên kia có nguồn gốc rất xa trước tôn giáo có tổ chức. Con người ở thời này cũng biết tự trang điểm cho mình bằng các đồ vật để cải thiện hình ảnh bên ngoài. Ở thời này, tất cả loài người sống theo kiểu săn bắt - hái lượm, nói chung là kiểu du mục. Từ Châu Phi, con người hiện đại nhanh chóng phát triển ra khắp quả đất và những vùng không băng giá ở Châu Âu và Châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của loài người về hướng Bắc Mỹ và Châu Đại Dương diễn ra ở thời cực thịnh của Kỷ băng hà gần đây, khi những vùng thời tiết hiện nay đặc biệt khắc nghiệt và chưa cư trú được. Vì vậy, đến cuối Kỷ băng hà khoảng 12,000 năm trước, con người hầu như đã sinh sống ở toàn bộ những vùng không băng giá của quả đất. Các xã hội săn bắt - hái lượm có khuynh hướng rất nhỏ, mặc dầu trong một số trường hợp họ đã phát triển sự phân tầng xã hội và những tiếp xúc ở khoảng cách xa đã có thể diễn ra ở trường hợp những "xa lộ" bản xứ Australia. Cuối cùng đa số các xã hội săn bắt - hái lượm đã phát triển, hay buộc phải bị hấp thu vào những tổ chức xã hội nông nghiệp lớn hơn. Những xã hội không hội nhập bị tiêu diệt, hay vẫn trong tình trạng cách ly, những xã hội săn bắt hái lượm nhỏ đó hiện vẫn tồn tại ở những vùng xa xôi. ![]() |
|
Nhusanh
Platinum Member Join Date: Dec 2007 Số Điểm: 4942 |
Tôn giáo và khoa học
Quan điểm về tôn giáo và khoa học có thể đi từ thái cực cái nọ phủ nhận cái kia cho đến dung hòa hơn. Ở thái cực này, một số người cho rằng những hiểu biết tôn giáo có thể trả lời mọi câu hỏi liên quan đến vũ trụ và đời sống con người. Ở thái cực khác một số người lại cho rằng những hiểu biết tôn giáo là mê tín, phi lý, hoang đường, chỉ có khoa học mới đưa ra được câu trả lời đúng đắn. Ở giữa hai thái cực, có quan điểm coi tôn giáo và khoa học dùng các phương pháp, hay nói đúng hơn, trả lời cho các câu hỏi khác nhau để tìm đến Chân lý và kiến thức đồng thời bổ sung cho nhau. Tôn giáo dùng những phương pháp dựa theo sự hiểu biết chủ quan của trực giác cá nhân và kinh nghiệm và/hoặc căn cứ vào chức trách của các kinh sách hay người được xem là tiên tri. Khoa học, trái lại, dùng phương pháp khoa học, một quá trình khách quan để điều tra nghiên cứu dựa theo chứng cớ vật chất, dùng các hiện tượng có thể quan sát và xác minh được. Tương tự, có hai loại câu hỏi mà tôn giáo và khoa học cố gắng trả lời: những câu hỏi về các hiện tượng có thể quan sát và xác minh được (như các luật vật lý, hay cách hành xử của con người) và những câu hỏi về các hiện tượng không thể quan sát được và việc đánh giá về giá trị, ý nghĩa, mục đích (như làm sao có các luật vật lý, thế nào là "thiện" và "ác"). Quan điểm này có thể được minh họa bằng những lời Hồng y Barberini[15] đã từng nói với Galileo: "Anh dạy cho mọi người biết bầu trời di chuyển như thế nào; còn chúng tôi dạy cho mọi người biết cách lên trời"[16]. Nói cách khác, thế giới này hoạt động ra sao là vấn đề khoa học, nhưng tại sao chúng ta và phần vũ trụ còn lại nói chung lại tồn tại là vấn đề khoa học không sao giải thích được.[17] Trong khi nhiều nhà khoa học mang niềm tin tôn giáo, theo quan điểm hòa hợp giữa tôn giáo và khoa học thì có lúc cả hai đã xung đột với nhau. Galileo đã bị giáo hội bắt từ bỏ Thuyết Nhật tâm hay cuộc tranh luận về sự tạo thành sau khi Charles Darwin đưa ra Thuyết Tiến hóa là những ví dụ. Trên thực tế, cho đến ngày nay, khoa học và tôn giáo vẫn cùng tồn tại, một số niềm tin tôn giáo có thể mờ nhạt đi và được thay thế bởi khoa học nhưng nhiều tôn giáo mới cũng đã và đang xuất hiện, đặc biệt là trong những xã hội hiện đại nơi mà nhiều người cho rằng chủ nghĩa tiêu thụ đang chiếm ưu thế và đạo đức suy đồi. ![]() |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
|
|
|