VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Da Vinci
Banned
Join Date: Jun 2008
Số Điểm: 5883
Old 12-20-2009 , 11:42 AM     Da Vinci est dconnect  search   Quote  
Copy lại để tặng Gopnhat, Wonderboy, DayTrad, Bigbody, Chanhche, Catvang, Lam Than, Tâm Ma ....



"Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh" (Gems Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong cuốn "Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu" (Ingersoll, the Magnificient), biên tập bởi Joseph Lewis, trg. 59-85.

Đại Tá Robert G. Ingersoll, một chính trị gia, một diễn giả, một nhà hùng biện, và nhất là, một nhà tư tưởng tự do (Freethinker) lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Ông có tên trong lịch sử Hoa Kỳ, trong Tự Điển, trong Bách Khoa Tự Điển, trong Tự Điển điện tử (CD-ROM, Grolier Electronic Publishing, 1997) và những tác phẩm của ông có trong mọi thư viện ở Hoa Kỳ.




"Một người nào đó phải nói lên sự thực về cuốn Thánh Kinh. Những nhà giảng đạo không dám vì họ sẽ bị đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư đại học không dám, vì họ sẽ mất đi đồng lương. Các chính trị gia không dám. Họ sẽ bị đánh bại. Các chủ biên không dám. Họ sẽ mất độc giả. Các thương gia không dám, vì họ có thể mất khách hàng. Ngay cả những công chức thường cũng không dám, vì họ có thể bị đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này. [Xin nhắc lại, Ingersoll viết bài này vào cuối thế kỷ 19]

Có nhiều triệu người tin rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thiên Chúa - nhiều triệu người nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn cố vấn và an ủi; rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng trong tương lai - nhiều triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật pháp, công lý và tình thương, và nhờ có những giáo lý thông thái và lành tốt mà thế giới có được tự do, thịnh vượng, và văn minh - nhiều triệu người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc khải từ trí tuệ và lòng thương yêu của Thiên Chúa đến với tâm thức con người - nhiều triệu người coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự tối tăm của chết chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác - một thế giới không có nước mắt.

Họ quên đi cái sự ngu tối và man rợ, sự thù ghét tự do, sự tàn sát tôn giáo ở trong Thánh Kinh; họ nhớ tới Thiên đường, nhưng quên đi những ngục tù tăm tối và sự đau khổ vĩnh viễn ở dưới hỏa ngục.

Họ quên rằng cuốn sách này giam hãm đầu óc con người và làm cho lòng người đồi bại. Họ quên rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự do trí thức.

Các linh mục, mục sư phân vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ đến độ công kích cuốn Thánh kinh.

Tôi sẽ nói cho họ biết:

Cuốn sách này, cuốn Thánh Kinh, đã truy tố cho đến chết những người thông thái nhất và tốt nhất. Cuốn sách này đã chặn đứng sự tiến bộ của loài người. Cuốn sách này đã đầu độc những nguồn kiến thức và lạc dẫn năng lực của con người.

Cuốn sách này là kẻ thù của tự do, là cột chống của chế độ nô lệ. Cuốn sách này đã gieo những hạt giống thù hận trong gia đình và quốc gia, nhúm ngọn lửa chiến tranh, và làm cho thế giới nghèo khổ. Cuốn sách này là công sự của hôn quân bạo chúa - là chủ nhân của các nô lệ phụ nữ và trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi bại nghị viện và triều chính. Cuốn sách này đã biến các trường đại học [Ki Tô Giáo] thành thầy dạy của sự sai trái và kẻ thù ghét khoa học. Cuốn sách này chất đầy những nước theo KiTô giáo với những tông phái thù hận, độc ác, ngu tối, chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con người giết đồng loại vì tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Tòa Hình Án xử dị giáo, phát minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những ngục tù tối tăm trong đó người lương thiện và nhân từ mai một dần; rèn những chuỗi xích trở thành rỉ xét trong da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu đài để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp những đống củi dưới chân của người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi đầu óc của nhiều triệu người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên.

Cuốn sách này đã gây nên cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ sơ sinh. Cuốn sách này đã là trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ đứng nhìn đứa con nhỏ phải bị chia lìa khi bà được bán đi. Cuốn sách này chứa đầy thuyền kẻ buôn nô lệ và làm da thịt con người thành món hàng hóa. Cuốn sách này đã nhúm lửa thiêu sống những "mụ phù thủy" và những "thầy pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những quỷ và ma [Satan và Holy Ghost], và thân thể con người với những ác quỷ [demons]. Cuốn sách này đã làm ô nhiễm đầu óc con người với giáo điều ô nhục về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn [của Giê-su]. Cuốn sách này coi sự cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi hiểu biết như là tội ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và những vị Thánh nhơ bẩn lên trên triết gia và người nhân đức. Cuốn sách này dạy con người coi thường những niềm vui của đời sống này, để có thể sung sướng ở đời sau - bỏ phí thế giới này vì thế giới sau.

Tôi công kích cuốn sách này vì nó là kẻ thù của sự tự do của con người - là sự cản trở lớn nhất của sự tiến bộ của con người.

Tôi xin hỏi các linh mục, mục sư một câu: làm sao mà các ông có thể tồi tệ đến mức bào chữa cho cuốn sách này.

Cuốn Thánh Kinh đã là thành trì chống đỡ của hầu hết các tội ác.

Ngang qua cuốn Thánh kinh mở là thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người).

Chúng ta hãy thoát ra khỏi sự tàn bạo của một cuốn sách, ra khỏi sự nô lệ của sự ngu tối cùng cực, của cái không khí quý tộc thống trị [của các giáo sĩ].

Một trong những việc đầu tiên mà tôi (Ingersoll) muốn làm là giải phóng giới giáo sĩ. Tôi là bạn tốt của họ, và mặc dù tất cả những gì họ có thể nói về tôi, tôi sẽ giúp họ một đại sự lâu dài. Trên cổ họ là những vết hằn của cái cổ áo linh mục, và sau lưng họ là những vết roi. Họ không được phép đọc và tự mình suy nghĩ. Họ được dạy như những con vẹt, và những người giỏi nhất là những người có thể nhắc lại đúng những câu mà họ được dạy. Họ ngồi như những con cú vọ trên một cành cây khô của cái cây hiểu biết và phát ra những tiếng cú kêu giống y như những tiếng cú kêu đã kêu trong 1800 năm nay. (They sit like owls upon some dead limb of the tree of knowledge, and hoot the same old hoots that have been hooted for eighteen hundred years).

Có một ông bác sĩ giải phẫu đến thăm một người tàn tật đáng thương và đề nghị giúp anh ta trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt đầu phân tích về bản chất và nguồn gốc chứng tật của người kia, về những loại thuốc có thể giúp anh ta, về sự lợi ích của tập luyện, của không khí trong lành và ánh sáng, và nhiều điều khác có thể giúp chữa lành được chứng tật của người kia. Tất cả những hành động này đều do thiện ý của một bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng sợ và kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái tôi phải tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ giải phẫu nói: “Tôi không có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa lành cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ cái cặp nạng ấy đi.”

Lấy cái gì để thay thế cho một sự trừng phạt vĩnh viễn? Chỉ cần chứng tỏ là sự trừng phạt đó không hề có. Một người có bệnh tật muốn gì? Sức khỏe.

Bất kể sự kiện là những người ngoại đạo trong mọi thời đại đã chiến đấu cho nhân quyền, và đã là những người ủng hộ tự do và công lý, nhưng chúng tôi thường xuyên bị giáo hội Ki Tô cáo buộc là chỉ biết phá đổ mà không biết xây dựng.

Tôi không chống con người. Tôi chống những giáo lý mà tôi cho là sai lầm. Không cần thiết phải chống con người – chúng ta hãy chống sự sai lầm.. Chúng ta hãy làm hết sức để cung cấp sự hiểu biết, giáo dục, vì sự lợi ích của đồng bào chúng ta.

Những người tin vào Thánh Kinh ồn ào tố cáo những cái mà họ gọi là văn phẩm phi luân của thế giới. Nhưng thật ra thì ít có cuốn sách nào đã được xuất bản mà chứa những sự dơ dáy về luân lý đạo đức nhiều hơn là những lời mạc khải của Thiên Chúa. Những chuyện trong Thánh Kinh không loé lên một điểm thông minh dí dỏm nào. Chúng không bao giờ lên quá được mức buồn tẻ về những chi tiết của những thói xấu ngu đần. Tôi là người không muốn làm nhơ những trang giấy của tôi với những câu trích dẫn từ Thánh Kinh. (I cannot afford to soil my pages with extracts from them); và tất cả những đoạn đó trong Thánh Kinh, tôi để cho giới giáo sĩ xem xét, bình luận và giải thích. Các ông giáo sĩ đó có thể kiếm ra cách nào đó để lấy mật ong ra từ những bông hoa đó.

Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách để cho già cũng như trẻ đáng đọc. Nó chứa những trang sách mà không một ông mục sư nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng dân Chúa bất kể là phần thưởng dành cho ông ta là cái gì. Có những chương mà không một người cha nào muốn đọc cho con nghe. Có những câu chuyện không thể kể; và sẽ có ngày cả nhân loại sẽ phân vân là sao mà một cuốn sách như vậy lại có thể gọi là được Thiên Chúa mạc khải.

Chúng ta thường xuyên được bảo rằng Thánh Kinh là nền tảng của sự khiêm tốn và đạo đức; trong khi thật ra thì những trang sách trong đó chẳng có gì là khiêm tốn và đạo đức, mà nếu một mục sư đọc chúng trên bục giảng thì ngay lập tức ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn nạn dơ dáy (unclean wretch). Mọi phụ nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà thờ, và nếu nam giới có ở lại thì chỉ với mục đích là nghiêm khắc trừng phạt ông mục sư đó (chastising that minister).

Có phải tốt hơn là hãy chấp nhận Thánh Kinh được viết bởi những người man rợ trong một thời đại man rợ, thô thiển không? Có phải đúng hơn là có những tên Do Thái ngu đần nào đó đã viết lên những lời tầm thường đó. Những Ki Tô hữu bảo tôi rằng chính Thiên Chúa là tác giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn (vile and stupid) này.

Sự kiện là, những điều hay trong một cuốn sách không chứng minh được là cuốn sách đó đã được Thiên Chúa mạc khải, nhưng những điều xấu xa và sai lầm trong đó đích thực đã chứng minh rằng đó không phải là một cuốn sách đã được mạc khải.

Vấn đề thực sự không phải là cuốn Thánh Kinh có được mạc khải hay không, mà là nó có đúng hay không. Nếu nó đúng, nó không cần phải được mạc khải. Nếu nó đúng thì không có gì khác biệt là nó đã được viết bởi một người hay một ông thần; và nếu nó không đúng thì không thể bảo nó là do sự mạc khải của thần mà viết lên. Một bản cửu chương (multiplication table) thì cũng có ích, cũng đúng như là một thần đã xếp đặt những con số trong đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng, không cần phải đề cao nó là do sự mạc khải của thần.

Thật ra thì, chân lý không cần phải được mạc khải. Không có gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự giả mạo hay sai lầm. Ở đâu mà sự thật chấm dứt, ở đâu mà xác suất (probability) ngưng lại, thì ở đó sự mạc khải bắt đầu. Một sự kiện không bao giờ đi cùng với một phép lạ. Chân lý không bao giờ cần đến sự trợ giúp của phép lạ.

Sự mạc khải của cuốn Thánh Kinh tùy thuộc sự cả tin của người đọc. Đã có một thời, những điều viết trong đó về địa chất, về thiên văn, lịch sử thiên nhiên, đều được cho là do sự mạc khải của thần và do đó không thể sai lầm; thời đại đó đã qua. Đã có một thời, những quan niệm về luân lý đạo đức trong đó đã làm hài lòng những con người nắm quyền thống trị tư tưởng của nhân loại; thời đại đó đã qua.

Có một người thông minh nào trên thế giới ngày nay còn có thể tin được câu chuyện vườn Eden? Nếu bạn thấy người nào còn tin như vậy, hãy gõ lên trán anh ta, bạn sẽ nghe thấy một tiếng vang. Có một người thông minh nào mà ngày nay còn có thể tin là Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất sét, và người đàn bà từ một cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái vườn, và đặt một cái cây ở giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt cái cây đó hay sao, nếu ông ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây đó? Có còn người nào ngày nay còn có thể tin vào chuyện con rắn (xúi Adam và Eve ăn trái cấm)? Tôi thật thương hại bất cứ ai, trong thế kỷ 19 này, còn tin vào những chuyện trẻ con như vậy.

Tại sao Adam và Eve bất tuân điều cấm của Thiên Chúa? Tại sao họ bị cám dỗ? Bởi ai? Bởi quỷ (hiện thân thành con rắn). Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta tạo ra quỷ để làm gì? Tại sao ông ta không nói cho Adam và Eve biết về con rắn? Tại sao ông ta không canh chừng con quỷ mà lại đi canh chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta không gây ra nạn hồng thủy trước, và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra Adam và Eve?

Vậy mà, những người tự cho là mình thông minh – giáo sư đại học và viện trưởng các học viện [Ki Tô] danh tiếng – đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là một sự kiện lịch sử tuyệt đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng chờ xung quanh cái vườn Eden – biết rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo nên Adam và Eve với mục đích duy nhất là điều xảy ra sẽ phải xảy ra, rồi sao nữa? Bắt tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm, và chúng ta không hề có mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của những người chưa được sinh ra. Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi muốn có cơ hội để bỏ phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn Eden), và biết mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp nhận”. Tuy vậy, trách nhiệm vẫn về phần tôi.

Chúng ta được Thánh Kinh và Giáo hội dạy, vì sự “sa ngã” này của Adam và Eve, “tội lỗi và cái chết đã đi vào nhân loại”. Theo như vậy thì, ngay sau khi Adam và Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày đặt ra những phương pháp để tiêu diệt sự sống của các con cái của ông ta. Ông ta đã “sáng tạo” ra mọi bệnh tật – nóng sốt, ho hắng và cảm cúm – tất cả những sự đau đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm của bệnh dịch hạch, bệnh sốt rét và những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít vào những tên sát nhân mà chúng ta không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người sống thọ, Thiên Chúa phát minh ra động đất và núi lửa, bão tố và sấm sét; và các vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá nhỏ đến nỗi mắt không nhìn thấy được.. Tất cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời ông ta.

Với lòng tốt vô tận (infinite goodness), Thiên Chúa phát minh ra bệnh nhức xương và đau khớp xương, chứng khó tiêu (dyspepsia), ung thư và chứng đau thần kinh, và vẫn còn tiếp tục phát minh ra những chứng bệnh mới. Như vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm cho các bà mẹ phải đau đớn (khi sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của ông ta, sự chết sẽ đến với mọi người. Ông ta nguyền rủa cả thế giớ. (He cursed the world). Nhưng tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu cho sự trả thù của một ông Thiên Chúa chí thiện (Good God). Quý vị có thể nói đến một cách không rõ ràng, nhưng không bao giờ có thể quan niệm nổi những sự khủng khiếp vô cùng tận của cái giáo lý gọi là “Sự sa ngã của con người”. (the infinite horrors of the doctrine called “The fall of man”).

Theo Thánh Kinh thì Thiên Chúa đã chọn lựa dân tộc Do Thái để loan báo một sự kiện vĩ đại: rằng ông ta là ông Thần duy nhất trên thế gian. Để đạt được mục đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt Môi-se (Moses) – từ trên mây xuống núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và làm hàng ngàn phép lạ để giáo dục và giữ dân Do Thái. Ông ta rẽ nước biển ngay trước mắt họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ trên trời xuống để nuôi họ. Ông ta làm cho nước phọt ra từ tảng đá để cho họ uống cho đỡ khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị tiêu diệt một cách rất lạ lùng; và trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích thân cai trị dân Do Thái. Tuy nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người trong dân của ông ta lại vẫn cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là tin vào ông ta.

Cái ông Thiên Chúa này, với tất cả quyền năng và sự sáng suốt, lại không thể thuyết phục được một số dân du mục man rợ rằng ông ta thì mạnh hơn là các hình tượng của dân Ai Cập. Ông Thiên Chúa này không muốn cho dân Do Thái của ông ta có đầu óc suy tư và óc tìm hiểu. Đối với những người có đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở đâu mà ông Thiên Chúa này trị vì, sự tự do trí thức không được biết đến. Ông ta chỉ trông cậy vào bạo lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng gươm giáo và ngọn lửa thiêu đốt; ông ta xử sự như một điệp viên (spy), một phán quan của tòa án xử dị giáo (inquisitor), một quan tòa (judge), và một đao phủ (executioner).

Khi tôi đọc lịch sử của dân tộc Do Thái, từ nô lệ đến chết chóc, với những bạo chúa v..v.., tôi phải thú nhận là tôi thật thương xót họ. Họ bị gian lận, lừa dối và đối đãi rất tệ hại. Cái ông Thiên Chúa của họ rất dễ nổi nóng, vô lý, tàn ác, hận thù và bất lương. (Their God was quick-tempered, unreasonable, cruel, revengeful and dishonest). Ông ta luôn luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời. Ông ta phí thì giờ về những chi tiết nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại những việc ông ta làm. Tôi không thể quan niệm được một cá tính nào đáng ghét hơn là cá tính của cái ông Thiên Chúa của người Do Thái. Ông ta long trọng hứa với dân Do Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến một nơi tràn đầy sữa và mật ong.

Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong tương lai gần, mọi khổ nạn của họ sẽ qua đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với vợ con, quên đi những sự cực khổ ở Ai Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn lại (again and again) với đám dân du mục Do Thái khốn khổ là ông ta sẽ dẫn họ đến vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui sướng, cái ông Thiên Chúa này, quên hết mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với đám dân khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta: “Súc vật của các ngươi sẽ cùng các ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái các ngươi sẽ lang thang cho đến khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền rủa trên là kết luận của mọi vấn đề. Trong vùng sa mạc của thần chết và tối tăm, tất cả những lời hứa hẹn của Thiên Chúa đều phai nhạt. Trong sự cực khổ và thất vọng của đám dân du mục, tất cả những hi vọng về tự do và định cư đều biến mất. Hàng triệu dân Chúa bỏ thây trong sa mạc, và mỗi xác chết là một nhân chứng của sự bất lương của Thiên Chúa (each corpse certified to the dishonesty of God). Những điều quá độc ác và vô tâm như vậy thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý của tôi.

Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái khốn nạn, sợ hãi, giết nhau, bị giết chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối, lột hết của cải...chúng ta phải cám ơn trời đất là chúng ta đã không phải là dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa. So sánh với Thiên Chúa (Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ nhân từ, và cách hành xử độc đoán của Ai Cập là sự giải thoát cho những người phải chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên Chúa.

Đọc Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn nộ, ghê sợ và đầy sự thương hại. Không có gì đáng buồn thảm hơn là lịch sử của một dân tộc du mục thiếu ăn, lang thang trong sa mạc, làm mồi cho đói khát, bệnh tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị bởi sự lừa dối, đạo đức giả, họ là trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa là kẻ thù lớn nhất của họ, và họ chỉ có một người bạn, đó là cái chết. Chúng ta không thể nào quan niệm nổi một sinh vật nào quá chừng đê tiện, đáng ghét, và kiêu căng hơn là vị Thần của người Do Thái. (It is impossible to conceive a more thoroughly despicable, hateful, and arrogant being, than the Jewish God) Trong những huyền thoại của dân gian, không có Thần nào như hắn ta. Chỉ có hắn là chưa từng bị đau khổ cùng cực về thể xác cũng như tinh thần, chưa từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú với máu đổ và sự đau đớn của con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối với hắn. Hắn ta không biết gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một người bạn giả dối, một quan tòa bất công, một kẻ khoác lác (a braggart), đạo đức giả, độc đoán, hận thù, ghen tuông, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần, đồng bóng, đồi bại và ghê tởm (infamous and hideous) – đó là Thiên Chúa trong Ngũ Kinh.

Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki Tô) người ta đã cho rằng 10 điều răn trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý tưởng về công lý và luật pháp. Nhiều nhà luật học nổi danh đã phải cúi đầu trước thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề nghiệp đến độ cho rằng luật của Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công chính. Không có gì sai lầm một cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se sinh ra đời, dân Ai Cập đã có một bộ luật. Họ đã có những luật chống phỉ báng, giết người, ngoại tình, ăn trộm, ăn cướp, luật đòi nợ, tôn trọng hợp đồng, bồi thường, chuộc đồ, và hầu như về mọi khía cạnh của đời sống xã hội.

Họ thường bảo với tôi rằng, nếu không có cuốn Thánh Kinh thì không làm gì có nền văn minh nào. Người Do Thái có một Thánh Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân nào có một chính quyền tốt hơn? Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh Kinh, Thiên Chúa không quan tâm đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì giờ. Tất cả thì giờ ông ta để cho người Do Thái. Nhưng La Mã đã chinh phục thế giới, kể cả dân Thần lựa chọn. Dân tộc có Thánh Kinh bị dân tộc không có Thánh Kinh đánh bại. [Điều này cũng đúng trong thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều có Thánh Kinh, Việt Nam không có Thánh Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai]. Và chúng ta có thể nói gì về Hi Lạp? Không Thánh Kinh. Hãy so sánh Athens với Jerusalem. Athens là trung tâm nghệ thuật và trí thức của thế giới. Hãy so sánh những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền thoại của Do Thái. Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại Do Thái thì đầy những hận thù và bất công.

Do Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh Kinh? Đền thờ Thần của họ bị phá hủy, thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao giờ trở nên thịnh vượng cho đến khi họ bị Thần bỏ rơi.

Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu từ nhiều thế kỷ trước khi Ki Tô Giáo xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho nền văn minh: sự tiến bộ trí thức, lòng can đảm, tổ chức chính phủ, kỹ nghệ v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự đóng góp của mọi quốc gia trên thế giới từ xưa.

Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng ta là một chính phủ Ki Tô, đặt nền tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi Thánh Kinh như là sai lầm và điên rồ (false and foolish) là phá hủy nền tảng của đất nước. Sự thực là, chính phủ của chúng ta không đặt nền tảng trên quyền của Thiên Chúa mà là trên quyền của con người. Hiến pháp của chúng ta được đóng khung trên sự thiêng liêng của nhân loại chứ không tuyên bố và không ủng hộ tư cách thần thánh của Giê-su. Chính phủ của chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân và vì dân. Đây là quốc gia duy nhất mà Thiên Chúa không có quyền gì trong đó. Tuy vậy mà cũng còn có một số người bất lương và hèn nhát đến độ (dishonest and cowardly enough) long trọng quyết định đây là một quốc gia Ki Tô, và định chế tự do của chúng ta được đặt căn bản trên những luật ô nhục của Thần Gia-vê (infamous laws of Jehovah).

Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi nói đến Thiên Chúa có nghĩa là tôi muốn nói đến Thần mà Moses mô tả trong Thánh kinh, Thần Gia-vê của người Do Thái. Tôi muốn nói đến Thiên Chúa đã ngăn chận sự tiến bộ của con người; đã tăng gấp bội sự cực kỳ đau đớn về tinh thần cũng như thể xác của phái nữ; và trong cơn giận đã nhận chìm cả thế giới – Thiên Chúa mà trên bàn thờ hắn có đầy máu, Thiên Chúa đã phanh thây những trẻ sơ sinh, cưỡng hiếp gái trinh, nô lệ hóa con người và chất đầy thế giới với những tội ác và sự ác độc; Thiên Chúa đã lập lên thiên đường cho một số nhỏ và hỏa ngục cho tuyệt đại đa số nhân loại..

Sự thật là, Môi-se (Moses) coi bầu trời như là một vòm cứng, nơi Thiên Chúa trú ngụ, và nước được giữ ở trên đó. Đó là tại sao họ thường ngẩng mặt cầu nguyện cho trời mưa. Họ cho rằng có vài thiên thần nào ở trên đó mở ra những cánh cửa để cho lượng nước mà họ mong muốn rơi xuống.

Họ không có cách nào để biết thế nào là mưa. Nước từ đâu mà rơi xuống? Họ không biết gì về sự bốc hơi của nước. Họ không hề tưởng tượng ra được rằng, ánh sáng mặt trời đã âu yếm hôn (amorous kisses) những làn sóng biển, từ đó hơi nước bốc lên để gặp người yêu ở trên không, nhưng rồi thất vọng nên đã biến thành nước mắt rơi xuống thành mưa.

Tôi có thể bị đọa đầy xuống hỏa ngục, nhưng tôi không bao giờ tin là cây cỏ hoa lá trên trái đất lại có trước mặt trời [như đã được mạc khải trong Thánh Kinh] với những tia nắng lung linh, xua đi bóng tối của đêm trường.

Ngày nay, người ta thường cho rằng, trong khi Cựu Ước có nội dung man rợ của thời đại đó, Tân Ước thì hoàn toàn đạo đức, không có một tì vết nào trên những trang Tân Ước. Thật ra, Tân Ước còn ủng hộ chế độ nô lệ hơn là Cựu Ước. Về phần tôi, tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể (I never will, I never can) thờ phụng một Thiên Chúa chấp thuận chế độ nô lệ. Một Thiên Chúa như vậy, tôi thật là ghét và không thèm đếm xỉa gì đến ông ta. Tôi chẳng muốn cái thiên đường của ông ta, cũng như chẳng sợ cái hỏa ngục của ông ta.

Chúng ta được bảo rằng, trong Ngũ Kinh, Thiên Chúa, vị Cha chung của chúng ta, đã trao hàng ngàn thiếu nữ còn trinh, sau khi đã giết cha mẹ anh em họ, để cho những con người man rợ thỏa mãn lòng dục của họ.

Đó là sự “tự do tôn giáo” (religious freedom) của Thiên Chúa; lòng khoan nhượng của Thần Gia-vê (Jehovah). Nếu tôi sống ở Palestine vào thời đại đó, và vợ tôi, mẹ của những con tôi, nói với tôi rằng: “Tôi chán cái ông thần Gia-vê này quá đi; ông ta luôn luôn đòi nợ máu; không bao giờ chán ghét sự giết chóc; luôn luôn nói về quyền năng của ông ta; luôn luôn khoe những việc ông ta làm cho người Do Thái; luôn luôn đòi hỏi sự hi sinh tế thần – chim cu và chiên non – máu, không có gì ngoài máu. Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Thần Gia-vê đầy lòng hận thù, xảo quyệt và quá đòi hỏi. Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Mặt trời soi sáng những vẻ đẹp của trái đất, giúp cho hoa tươi nở; nhờ có ánh sáng mặt trời mà em được thấy anh, thấy các con của chúng ta..”

Nếu tôi theo đúng lệnh của Thiên Chúa, tôi sẽ phải giết vợ tôi. Bàn tay của tôi là người đầu tiên, và rồi bàn tay của bao nhiêu người khác, sẽ phải ném đá vợ tôi cho đến chết. Về phần tôi, tôi không bao giờ giết vợ, ngay cả khi một ông Thiên Chúa thực sự của vũ trụ này ra lệnh.

Nếu Thần Gia-vê sống như những thần dân mà ông ta cai trị, và nếu ông ta theo đúng những luật mà ông ta đặt ra, thì ông ta sẽ là người nuôi nô lệ, là kẻ buôn bán trẻ con, đánh đập phụ nữ. Ông ta sẽ phát động những cuộc chiến tranh diệt chủng. Ông ta sẽ là người đa thê, và sẽ phanh thây (butchered) vợ ông ta nếu bà ta theo một tôn giáo khác với ông ta.

Nếu Gia-vê thực sự là Thiên Chúa toàn trí, ông ta phải biết những gì sẽ xảy ra về sau. Ông ta phải biết Thánh Kinh của ông ta là một công sự mà sự đạo đức giả và độc đoán sẽ nằm trong đó, nó sẽ được dẫn chứng bởi những bạo chúa; được dùng để biện hộ cho những tên ăn cướp gọi là Vua, những kẻ đạo đức giả gọi là linh mục hay mục sư v..v..

Ông ta phải biết là ông ta không bao giờ thực hiện lời hứa của ông ta đối với dân Do Thái.. Ông ta hứa hẹn cho họ cả thế giới nhưng chỉ cho họ có sa mạc. Ông ta hứa hẹn cho họ sự tự do nhưng lại cho họ sự nô lệ.. Khi chúng ta đọc xong Cựu Ước, chúng ta bắt buộc phải nói rằng: “Không có một dân tộc nào khốn khổ như là dân tộc mà vua của họ là Thần Gia-vê.”

Nếu chúng ta muốn xét đến những gì đã là ảnh hưởng của Thánh Kinh, chúng ta phải xét đến tình trạng ở Âu Châu khi mà Thánh Kinh được coi là tuyệt đối đúng và có ảnh hưởng nhiều nhất. Ki Tô Giáo là tôn giáo đã chiếm ngự Âu Châu trong thời Trung Cổ. Trong thời đó, nó có quyền lực tuyệt đối.

Sự thật là, trong thời đó, con người vì đã nghiên cứu kỹ Thánh Kinh nên đã giết vợ, giết con. Họ đọc Thánh Kinh rồi dùng những kìm cặp nung đỏ để hành hạ xác thịt con người. Họ đặt Thánh Kinh xuống để có thì giờ đổ chì nóng vào tai đồng loại. Họ ngưng đọc cuốn Thánh Kinh thiêng liêng đó để có thì giờ xâu xé đồng loại, trói chặt họ trong xiềng xíxh, và rồi lại trở lại để đọc Thánh Kinh, để mặc cho nạn nhân của họ chết rục trong ngục tù tối tăm với sự thất vọng. Họ ngưng đọc Cựu Ước để có thì giờ đóng cọc xuống đất, đi kiếm những bó củi và thiêu sống người lành và người lương thiện. Ngay cả những linh mục cũng đã ngưng đọc Thánh Kinh đủ lâu để nói lên những lời giả dối xuyên tạc về đồng bào của họ. Không có một tội ác nào mà những người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, thờ phụng Thánh Kinh không làm. Không có một điều ác ôn nào mà một số người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, và bảo vệ Thánh Kinh không làm. Những người tin Thánh Kinh và bảo vệ Thánh Kinh đã chất đầy thế giới này với những sự vu khống (calumnies and slanders).

Tôi không nói rằng đọc Thánh Kinh nhất định phải làm cho người đọc trở thành bất lương, nhưng tôi phải nói rằng, đọc Thánh Kinh không có ngăn ngừa họ khỏi phạm tội [những giáo hoàng, linh mục, mục sư cuồng sát, loạn dâm, và phạm đủ thứ tội là những người đọc và giảng Thánh Kinh nhiều nhất. TCN]. Tôi không nói rằng tin ở Thánh Kinh sẽ khiến cho con người trở thành trộm cướp, nhưng tôi phải nói rằng, vì tin ở Thánh Kinh nên con người đã bạo hành, cầm tù và thiêu sống đồng loại.

Hàng ngàn, hàng ngàn các bà mẹ đã đưa Thánh Kinh cho con cái mà không hề biết trong đó có những gì. Họ chỉ theo truyền thống, và như là một quy luật, con cái họ tiếp tục tôn kính cuốn Thánh Kinh, không phải là họ biết gì về cuốn đó nhưng vì đó là món quà của người mẹ.

Sự kiện là các bà mẹ giới thiệu cuốn Thánh Kinh với con cái không chứng minh được rằng đó là cuốn sách được viết ra do sự mạc khải của Thiên Chúa. Sự kiện này chỉ có thể chứng minh một điều, đó là các bà mẹ đã tin rằng cuốn sách đó là do sự mạc khải của Thiên Chúa Ki Tô. Điều này cũng không chứng minh được những phép lạ trong đó là những sự thực. Dù tất cả các bà mẹ trên thế gian đều trao cho con cái cuốn Thánh Kinh cũng không chứng minh được là những chuyện giết mẹ, giết con, nô lệ hóa các bà mẹ, bán đi con cái, như được viết trong Thánh Kinh, là đúng.

Edmund About đã kể một câu chuyện minh họa niềm tin Chúa của một người Ý hiện đại. Một thanh niên ham mê đánh bạc và luôn luôn thua. Trong phòng hắn ta có một bức hình của bà đồng trinh bồng đứa con nhỏ. Quỳ trước tấm hình, anh ta đưa tay làm dấu cộng mà người ta thường gọi là làm dấu thánh giá, và cầu sự trợ giúp của đứa bé. Nhưng anh ta lại vẫn cứ thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta nói với đứa bé là anh ta đã thua hết, chỉ còn lại đồng tiền cuối cùng, và cầu xin đứa bé hãy dùng quyền năng thần thánh giúp anh ta thắng trong canh bạc cuối cùng này. Nhưng rồi anh ta lại thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta đưa nắm tay lên mặt đứa bé và hét: “Thằng bé khốn nạn, tao rất vui là mày đã bị người ta đóng đinh trên thập giá” (Miserable bambino, I am glad they crucified you).

Sự tin cậy vào một hình ảnh, một thánh tích, một cuốn sách, tất cả đều từ một nguồn gốc – thờ vật (fetishism) - Tin rằng một da con rắn, một hình ảnh, một cuốn sách có những thuộc tính siêu nhiên, về phương diện trí thức đều như nhau.

Đối với tôi, muốn thuyết phục những người có đầu óc là cuốn Thánh Kinh chỉ là sản phẩm của con người – những con người man rợ – là bảo họ hãy đọc nó. Hãy đọc nó như mọi cuốn sách khác, nghĩ tới nó như mọi cuốn sách khác, bỏ đi cái băng kính ngưỡng Thánh Kinh đang che mắt, dẹp bỏ mọi sự sợ hãi trong lòng, loại ra khỏi đầu óc sự mê tín, rồi hãy đọc cuốn Thánh Kinh, và các bạn sẽ cảm thấy ngỡ ngàng là tại sao có một thời mình đã cho rằng một đấng siêu nhiên với trí tuệ siêu việt, lòng thiện vô tận, lại là tác giả của những điều ngu xuẩn và bạo tàn như vậy (the author of such ignorance and of such atrocity)?

Trong hầu hết các nền thần học, các huyền thoại và tôn giáo độc thần, các con quỷ còn nhân đạo và nhân từ hơn các Thiên Chúa nhiều. Không có môt con quỷ nào đã ra lệnh cho thuộc hạ của mình giết trẻ con và phanh thây người đàn bà co mang. Tất cả những điều man rợ này đều luôn luôn là lệnh của Thiên Chúa chí thiện. Bệnh dịch cũng do Thiên Chúa nhân từ tạo ra. Nạn đói đáng sợ, với những trẻ sơ sinh bờ môi nhợt nhạt bú người mẹ hấp hối không còn sữa, cũng là tác phẩm của Thiên Chúa đầy lòng thương yêu. Không có một con quỷ nào đã bị lên án là tác giả của những sự tàn bạo ác ôn như trên (such fiendish brutality).

Thiên Chúa, theo Thánh Kinh, đã nhận chìm cả thế giới trừ tám người. Già, trẻ, lớn, bé đều bị sóng nước vô bờ nuốt chửng. Cái thảm họa đáng sợ này, trong sự tưởng tượng của đám linh mục ngu đần (ignorant priests), là tác phẩm không phải của quỷ, mà là của cái mà người ta gọi là Thiên Chúa, và tiếp tục thờ phụng một cách ngu đần cho đến ngày nay. (ignorantly worship unto this day).

Không có một người thông minh nào, không có một người nào mà đầu óc chưa bị nhiễm độc bởi mê tín, tê liệt bởi sợ hãi, có thể đọc Cựu Ước mà không bắt buộc phải đi đến kết luận: Thiên Chúa của chúng ta là một con thú hoang dại (that our God was a wild beast).

Cho tới bao giờ, than ôi! Cho tới bao giờ con người còn thờ phụng một cuốn sách? Cho tới bao giờ con người còn quỳ phục xuống đất trước những truyền thuyết ngu đần của cái quá khứ man rợ? (Hoaw long will they grovel in the dust before the ignorant legends of the barbaric past). Cho tới bao giờ họ còn theo đuổi những hồn ma trong sự tăm tối sâu thẳm hơn là cái chết.

Cho tới bao giờ, than ôi! cho tới bao giờ con người còn nghe lời đe dọa của Thiên Chúa, nhắm mắt lại trước thiên nhiên huy hoàng ngoạn mục? Cho tới bao giờ con người còn là nô lệ, bám víu vào một giáo thuyết sai lầm và độc ác? (a false and cruel creed).

Ngày nay, cả thế giới nên biết rằng cuốn Thánh Kinh chân thật (the real Bible) chưa đã được viết ra mà còn đang viết, tiếp tục viết, và không bao giờ hoàn thành cho đến khi nhân loại không còn tồn tại nữa./.



Đại Tá Robert G. Ingersoll,
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 12:52 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Đã từ lâu, tôi (BS Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ) để tâm suy cứu về những đoạn Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, có thể nói là TINH HOA. Cách đây khoảng 20 năm, nhân đọc bộ La Doctrine ésotérique à travers les âges của Ersnest Bosc, tôi thấy nên đúc kết lại, hệ thống hoá lại, xiển minh lại bằng các lời trích dẫn trong các sách Phúc Âm, và Thánh Thư, để thân tặng những ai có lòng thành khẩn và tha thiết tìm cầu Chân, Thiện, Mỹ.

Nói rằng Công Giáo có phần Mật Truyền, ắt nhiều người sẽ bỡ ngỡ. Nhưng thực tế, có như vậy. Vả lại, không phải cứ theo Đaọ là nắm được tinh hoa của Đạo, là biết được điều thâm sâu của Đạo.

Chính thánh Paul đã viết: “Hỡi Anh Em, phần tôi, tôi đã không thể nói với Anh Em, như nói được với những người có linh cơ siêu thoát, mà là nói như thể với những người phàm tục, với những trẻ thơ trong đấng Kitô. Tôi đã cho Anh Em ăn sữa, chứ không cho những của ăn rắn đặc vì Anh Em không chịu nổi...(I Cor. 3,1)

Vậy phần Mật Giáo nội truyền đó có thể được trình bày như sau:

1. Con người có Thiên Tính hay Thiên Chúa hằng ngự trị trong tâm hồn mọi người.

2. Nước Trời đã ở ngay trong tâm khảm con người.

3. Mọi người đều có đấng Kitô trong tâm khảm.

4. Hai phương diện một con người: TÂM và THẦN.



5. Ý nghĩa cuộc tiến hoá quần sinh:

-Từ phàm phu con người sẽ trở thành Thần Linh.
-Từ phàm phu, con người sẽ tiến hoá, sẽ triển dương tới tuyệt đỉnh, để trở nên những con Thiên Chúa, để đạt đúng tầm kích như Chúa Kitô.



6. Đại Đạo chân truyền:

-Đi vào Tâm mà tìm Đạo, tìm Trời.
-Tỉnh giảm mọi lễ nghi, hình thức.
-Tìm cho ra luật lệ Trời ghi tạc trong tâm can.
-Sống kết hợp với Thiên Chúa.


http://nhantu.net/
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 12:54 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Bác sĩ Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ


Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ sinh ngày 15 tháng 12 năm 1921 tại Chi Long, Hà Nam, Bắc Việt. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1952. Phục vụ ngành Quân Y từ năm 1952 đến năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá và giữ chức vụ Chỉ huy Tổng Y Viện Duy Tân (Đà Nẵng) từ năm 1956 đến 1963. Từ năm 1967 cho đến 1975, Bác sĩ là Giáo sư Đại Học Văn Khoa và Minh Đức (Saigon), khoa Triết Học Đông Phương. Năm 1960 tác giả được trao giải thưởng văn chương Tinh Việt Văn Đoàn qua tác phẩm Trung Dung Tân Khảo.

Kể từ năm 1956 Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ đã nghiên cứu về Triết học Đông phương, bắt đầu từ Khổng Giáo trong suốt 9 năm liền, sau đó là Lão Giáo, rồi đến Bà La Môn, Phật Giáo và tiếp theo là Thiên Chúa Giáo và các đạo giáo ở Âu Châu.

Năm 1982 Bác sĩ cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ và lấy bằng Bác Sĩ Y Khoa tương đương tại Hoa Kỳ vào năm 1983. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ từng là cộng tác viên của nhiều nguyệt san tại Việt Nam, Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc và đã hoàn tất 18 tác phẩm với khoảng 7000 trang về hai đề tài chính là Triết Học Đông Phương và Tôn Giáo Đối Chiếu. Bác sĩ Thọ chuyên khảo cứu về Chữ Nôm của thế kỷ 17 và đã phiên dịch được hơn 1000 trang Chữ Nôm của Linh Mục Majorica cũng như đã viết và dịch xong 7 cuốn sách về Đạo Lão gồm Phép Tu Tiên hay Tiên Thiên Khí Công như cuốn Lão Trang Giản Lược, Đạo Đức Kinh, Huỳnh Đình Kinh, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Trực Chỉ, Tượng Ngôn Phá Nghi.


........................
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 12:57 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Tác giả có được cái vinh dự là Hội Thần Học quốc tế trụ sở tại La Haye gồm toàn những nhà Thần học trứ danh nhứt ở trrên thế giới mời làm hội viên từ năm 1966.

Và gần đây hội các triết gia Việt Nam đã có ý định mời tác giả làm chủ tịch danh dự.

Năm 1972 tác giả đã được trao tặng Văn Hóa Giáo Dục bội tinh.

Và trong niên giám các nghệ sĩ do Phủ văn Hóa phát hành cũng đã có đề cập đến thân thế và sự nghiệp của tác giả.

Chúng tôi cũng đã tin tưởng mãnh liệt rằng, một khi các tác phẩm của tác giả được ấn loát trong và ngoài nước, tác giả sẽ có một địa vị vững vàng trong lãnh vực triết học đạo học chẳng những là quốc gia mà còn là quốc tế nữa.

Những quan điểm của tác giả về Trung Dung và Dịch Kinh có thể nói được la chẳng thua sút một triết gia Trung Hoa nào từ trước tới nay.

Tác giả cũng còn có công đem thi phú vào lãnh vực triết học đạo học Việt Nam.

Thay vì làm thơ ca mây vịnh gió tác giả đã dùng những lời văn trong sáng, những lời thơ mỹ miều để đem đạo đức, đem tinh hoa đến cùng mọi người.

Với hằng vạn câu thơ và hàng ngót ngàn bài thơ bát cú, hay tứ tuyệt, tác giả còn có thể được mện danh là một thi sĩ.

Để kết luận, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác giả như:

- Một triết gia lỗi lạc.

- Một đạo gia phi thường.

- Một văn gia cự phách.

- Một học giả uyên bác.

- Một thi sĩ tài hoa.

Nếu một ngày nào đó trong tương lai giải thưởng văn học nghệ thuật tuyên dương sự nghiệp được tổ chức lại và tổ chức công bằng chúng tôi thiết nghĩ, hơn ai hết bác sĩ Nguyễn Văn Thọ chắc chắn sẽ là một trong những người xứng đáng hơn để lãnh giải thưởng đó, và người lãnh sẽ làm vinh dự cho giải thưởng cùng những người chấm giải.



VÀO ĐẠO HỌC - TRIẾT HỌC VỚI
NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ [1]

HOÀNG VŨ (Bác sĩ Hoàng Văn Đức)
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 01:01 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Vương Dương Minh 王 陽 明 (1472-1528)


Vương Dương Minh (1472-1528) là một vị thánh nhân của Đạo Nho, ông sống vào thời nhà Minh, đời vua Võ Tông, đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi.

Từ bé ông đã muốn trở thành thánh hiền. ông văn võ toàn tài. Văn thì làm đến Tổng Đốc Lưỡng Quảng. Võ thì bất kỳ cuộc phản loạn nào, hay giặc giã nào thời bấy giờ là do một tay ông bình định. Ông tài giỏi như thế, nhưng không gặp được minh quân lại còn bị nhiều người ghen tài, xui vua hại ông. Chính vì vậy mà năm ông 35 tuổi đã bị đày đi Long Trường mấy năm trời.

Nhân khi ở Long Trường, ông mới được giác ngộ, và tìm ra con đường nên thánh hiền là phải đi vào tâm mà tìm đạo, tìm Trời, và phải lấy Lương Tâm làm ngọn đuốc soi đường.

Ông cho rằng cái đạo thánh nhân đã đủ cả trong Tính con người. Ông đi tìm cái Nhất, cái Tinh trong tâm hồn. Nhất là cội gốc con người. Tinh là đạt đích con người. Ông nói: Tâm tức là Đạo, Đạo tức là Trời, biết Tâm thì biết Đạo, biết Trời. Vậy nên, cái công phu sự học, cốt là làm sáng cái tâm.

Có người hỏi Vương Dương Minh: đạo Nho với đạo Phật khác nhau thế nào? Ông đáp: không nên tìm cái đồng, cái dị của đạo Nho, đạo, Phật, tìm cái Phải mà học là được vậy.

Vương Dương Minh gọi Thiên Lý là Lương Tri, và dạy người khử nhân dục, tồn thiên lý.

Lương Tri thì kẻ hiền, người ngu ai cũng có như nhau, chỉ khác là người hiền thì lương tri sáng suốt, mà kẻ ngu thì để nó mờ tối đi mà thôi.

Vương Dương Minh thủy chung theo cái thuyết «Thiên địa vạn vật nhất thể», và lấy cái nghĩa «Nhất dĩ quán chi» của Khổng Tử làm căn bản cho sự học của mình. Như vậy, ông cũng như Lục Tượng Sơn chủ ở cái lý nhất quán trong tâm. Cái lý nhất quán đó là Thái cực, là Bản Thể con người, là Chánh Pháp Nhãn Tàng của Phật. Nhất dĩ quán chi là lấy cái Một mà suốt hết cả, đó chính là Trí Lương Tri của Vương Dương Minh.
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 01:03 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
...................


Như vậy, Lương Tri là Phật tánh, là Chân Tâm. Nhân dục là Vọng tâm. Ta nói trong ta có Phật Tính, mà không biết làm cách nào để nhìn thấy Phật tính. Vậy nếu Lương tâm ta là Phật tính, mà ta lại thấy được Phật tính, tức là Kiến Tính thành Phật. Đó cũng là cách giúp ta Kiến tính thành Phật. Lương tri cũng chính là cái gốc của vạn vật, và là Thiên Lý.

Tôi từ nhiều năm nay vẫn chủ trương Lương tri là Thái Cực, Lương tri là Phật tính, là Chân Tâm, và là quyển Thánh Kinh mà Trời đã cất giấu trong lòng con người từ muôn thủa. Cho nên nếu ta sống theo Lương Tâm, tức là sống theo Phật, theo Khổng, theo Lão, theo Bà La Môn, theo vạn giáo. Chắc chắn là như vậy.

Theo tôi, Lương tâm là Tâm Lành, thì không thể sai. Lương Tâm là Thiên Tâm, do Trời sinh, không phải là nhân tạo.

Khảo từ ngữ các nước, ta thấy nước nào cũng phân biệt Nhân Tâm với Lương tâm.

Ta có thể viết:

Thần = Lương tâm.

Hồn = Nhân tâm.

Như vậy, Thần Thiên, phần Thần nơi chúng ta là Lương tâm phổ quát, vĩnh cửu. Còn phần Nhân nơi ta là Nhân Tâm, biến thiên, hữu hạn.

Lương tâm thời phi nhân, phi ngã. Nhân tâm thời mang sắc thái riêng tư của mỗi người. Nó là những bộ mặt hóa trang mà mỗi người chúng ta đeo lên trên Lương Tâm – trên Bản Lai diện mục – của chúng ta.

Khi ta làm gì xấu, thì Lương tâm ta oán trách ta.

Còn tâm hồn ta thì xấu hổ, phàn nàn, hối hận.

Chứng tỏ, Lương tâm ta cao hơn ta.

Lương tâm hay Chân Ngã hay Thượng đế nội tại, và Phàm tâm là tâm hồn con người, liên lạc với nhau hết sức là gắn bó, đến nỗi không thể nào gỡ ra được, rứt ra được.

Ngày nay, nhiều môn phái Tin Lành như Transcendentalists, Anabaptists, Quakers và Liberal Theology đều đồng thanh chủ trương Thượng đế ngự trong lòng chúng sinh và muôn vật. Emerson cho rằng: Mặc khải cao siêu nhất cho thấy rằng Thượng đế đã ngự sẵn trong lòng mọi người. (Emerson thought that the highest revelation was that God was in every person...)

Nếu Lương Tâm là Bất Biến nơi con người, thì Lương tâm chính là Thượng đế nơi con người, là Phật tính nơi con người.
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-20-2009 , 01:07 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Cho nên, trên đây tôi đã viết nghe thấy được Tiếng Lương Tâm là Thấy được Thượng Đế trong mình, thấy được Phật tính trong mình.

Trên đây, tôi đề cập đến một số cao nhân, danh sĩ trong nhiều đạo giáo khác nhau như Pythagoras, Plato, Plotin, Plotinus, môn phái Neo-Platonism, Eckhart, Ruysbroeck, Bruno, Sankara, Vivekananda, Đạo Sinh, Vương Dương Minh v.v... mục đích là cho thấy Chân Đạo không phải ở đầu thời gian, ở cuối thời gian, ở giữa thời gian. Chân Đạo không ở trong sách vở. Chân Đạo không ở bên Đông, cũng không ở bên Tây, Chân Đạo không có quốc gia, cũng như không có giang sơn bờ cõi. Chân Đạo không có ở trong các đoàn thể, các tổ chức xã hội. Chân Đạo không ở trong đền đài, miếu mạo, hay ở trong tay những kẻ uy quyền, mà Chân Đạo đã ở ngay trong tâm thần mỗi một người.

Thượng đế vì vô biên vô tận, nên chẳng những ở trên trời, mà còn ở khắp nơi trong vũ trụ bao la này, cũng như đồng thời là Bản Ngã ẩn sâu sẵn trong lòng con người.

Như vậy con đường dẫn tới Thượng đế gần nhất là con đường nội tâm. Những tâm hồn tinh khiết, thanh cao, những khối óc thông minh, sáng láng, chẳng chóng, thì chày sẽ nhận ra được chân lý tối sơ ấy.

Ram Linsson viết: «Giây liên lạc nối kết ta với Đại Thể thực đã ở ngay trong tầng sâu các cơ cấu tâm tình ta, ở bên dưới các lớp lang ý thức sâu xa và thầm kín nhất.»

Cho nên các đạo giáo xưa nay đã bày biện ra muôn vàn hình thức bên ngoài, các thánh thư từ trước tới nay đã dùng mọi phương cách, đã dài giòng dạy dỗ con người. Tất cả những cái đó cũng không ngoài mục đích giúp con người gạn đục, khơi trong tâm hồn, để có thể cảm thông với Thượng đế bằng tâm thần mình, và cuối cùng là thể nhập vào Ngài.

Chân lý, Chân đạo bao giờ cũng giản dị, cũng trong sáng, cũng vĩnh cửu và phổ quát. Chân lý, Chân đạo bao giờ cũng đem lại cho con người tự do, hạnh phúc, y thức như cơm áo bao giờ cũng đem lại no ấm cho con người. Cho nên, tất cả những gì rắc rối, tần phiền, tất cả những gì thằng thúc, trói buộc, đè nén con người, tất cả những gì làm con người trở nên ngu si, đần độn, khổ sở, khốn nạn về tinh thần cũng như về vật chất, tất cả những gì làm tiêu ma nghị lực con người, làm suy giảm nhân cách con người, tất cả những cái đó đều không phải là chân lý, chân đạo.


THIÊN NHÃN VÀ THƯỢNG ĐẾ
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ


http://nhantu.net/
DaiTieuHy
Super Member
Join Date: Sep 2005
Số Điểm: 15063
Old 12-21-2009 , 12:15 AM     DaiTieuHy est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by Tieu Dong
Cứu Độ

Cứu Độ là Nguyện Vọng, là Niềm Hy Vọng lớn lao sâu xa nhất của nhân loại.


ĐOẠN I. TẠI SAO CẦN CỨU ĐỘ?

Mọi người chúng ta cần được cứu độ, vì sống thiếu hạnh phước về tinh thần và thể xác. Các vị được mệnh danh là “Cứu nhân Độ thế”, các vị Tiên tri, các nhà đạo đức mô tả tình trạng hẩm hiu, bất hạnh của kiếp người như sau: Con người ngụp lặn trong Đau khổ. Có bệnh mới cần chữa trị. Do đó, Đau Khổ và Cứu Độ đi đôi với nhau. Căn bịnh tinh thần sinh ra đau khổ, chính là: Tội lỗi! Cho nên muốn được giải thoát khỏi đau khổ thì phải Tỉnh ngộ. Với một niềm Tin mãnh liệt, ta hy vọng sẽ có thể biến đổi cuộc đời và kiếp người thành tốt đẹp hơn.


THIÊN CHÚA GIÁO & TAM GIÁO
Đường Thi Trương Kỷ


Tại sao chỉ có NGÔI LỜI mới là TRUNG GIAN CỨU ĐỘ duy nhất ?? (câu hỏi mười ngàn điểm)

ehehehehe .. híc híc .. ehehehhe
BonHat
Platinum Member
Join Date: Oct 2006
Số Điểm: 5437
Old 12-21-2009 , 07:34 PM     BonHat est dconnect  search   Quote  
Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời


Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống». Điều ấy chắc chắn là sự thật, nhưng phải hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn là nghĩa đen. Vấn đề còn lại là «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu để «được sống muôn đời» là gì? Muốn «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu thì phải làm gì?


Khi tôi ăn hay uống một thức gì, thì thức ấy được tiêu hóa để trở thành thịt và máu tôi, thành các tế bào của tôi. Thức ấy mà có tính bổ dưỡng hoặc chữa bệnh thì tôi trở nên mạnh khỏe, và bệnh tôi được chữa lành. Nếu tôi ăn hay uống những thức độc hại, thì chất độc ấy cũng trở nên những tế bào độc hại trong thân thể tôi và làm cơ thể tôi suy yếu. Chắc chắn rằng tất cả các tế bào hiện nay của tôi sau mấy chục năm sống ở đời đều hoàn toàn được cấu tạo từ những thức tôi ăn hay uống vào từ bên ngoài. Chính nhờ thức ăn và thức uống mà tôi sống được. Nhưng tôi sống mạnh khỏe hay bệnh tật tùy thuộc vào thức ăn thức uống tôi đưa vào cớ thể, và cũng tùy thuộc cách thức tôi ăn uống nữa. Thức ăn hay thức uống tôi ăn vào từ từ thay thế những tế bào cũ bằng những tế bào mới trong thân thể tôi. Vì thế, nhiều thầy thuốc hay nhà sinh vật học chủ trương người ta có thể cải tạo lại sức khỏe bằng cách thay đổi đồ ăn thức uống và cả cách ăn uống nữa.


Từ thực tế trên, ta có thể hiểu được cách thức «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu. Đức Giêsu là Ngôi Lời, nên bản chất của Ngài là «Lời». Lời của Ngài cũng chính là của ăn thức uống. Đời sống và bản thân của Ngài cũng là của ăn thức uống như đã nói ở phần trên. Ăn uống Ngài chính là dùng lời của Ngài, dùng gương mẫu đời sống Ngài, để suy niệm, thực hành, bắt chước hầu thay thế dần dần «chất của ta» bằng «chất của Ngài», nghĩa là ta càng ngày càng trở nên «có chất Giêsu» hơn trong quan niệm, tư tưởng, lời nói, và hành động của ta. Nếu mỗi ngày ta thay thế 1% hay 1‰ «chất tôi» thành «chất Ngài» – ít hay nhiều tùy sự cố gắng hay quyết định của ta – thì chỉ một thời gian sau «chất tôi» đầy ích kỷ, tham lam, ghen ghét sẽ giảm đi, và «chất Ngài» đầy vị tha, đầy tình yêu sẽ tăng lên. Và tới một lúc nào đó, «chất Ngài» ở trong tôi trở thành viên mãn, nghĩa là đạt tới mức 100% (Đương nhiên thực tế không đơn sơ như vậy). Lúc ấy tôi có thể nói như Phaolô: «Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 10,20). Lúc ấy, một cách nào đấy, tôi không còn là tôi mà là Đức Kitô. Điều đó không có nghĩa là tôi bị vong thân, mà tôi trở nên một cái tôi hoàn hảo nhất, đúng với ước muốn sâu xa nhất của tôi là nên một con người hoàn hảo. Chính lúc ấy tôi mới tìm lại được bản thân tôi một cách trọn vẹn nhất.


Đấy là cách «ăn thịt uống máu» Ngài – mà tôi nghĩ theo thiển ý mình – là hợp lý và ý nghĩa nhất. Và đó cũng là cách bảo đảm nhất để có sự sống đời đời. Vậy thiết tưởng, mỗi khi dâng thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể, tức là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách bí tích, ta cần có một thái độ hay hành vi nội tâm tương xứng là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách huyền nhiệm hay tâm linh như đã nói trên. Có sự phối hợp bên trong lẫn bên ngoài như thế, việc lãnh nhận Thánh Thể sẽ đem lại cho ta sự sống và sức mạnh tâm linh bội phần.


NCK
BonHat
Platinum Member
Join Date: Oct 2006
Số Điểm: 5437
Old 12-21-2009 , 07:36 PM     BonHat est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by DaiTieuHy
Tại sao chỉ có NGÔI LỜI mới là TRUNG GIAN CỨU ĐỘ duy nhất ?? (câu hỏi mười ngàn điểm)

ehehehehe .. híc híc .. ehehehhe


ca^u no'i do' da`nh cho nguu*o*`i trong TCG (ra^'t ca^`n)


ngu*o*`i ngoa`i TCG thi` kho^ng ca^`n
Mr. Boss
Diamond Member
Join Date: Jul 2007
Số Điểm: 11709
Old 12-21-2009 , 07:47 PM     Mr. Boss est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by BonHat
Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời

Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống». Điều ấy chắc chắn là sự thật, nhưng phải hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn là nghĩa đen. Vấn đề còn lại là «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu để «được sống muôn đời» là gì? Muốn «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu thì phải làm gì?
Tiết canh!!!

Nghĩa đen nghĩa bóng gì với chuyện này cho được suông sẻ đây?

Nếu là nghĩa đen thì là QUÁ BẬY BẠ!

Nếu là nghĩa bóng thì là QUÁ DỞ! Dở đến tệ hại.

Thiếu gì cách ví von dạy dỗ cho tế nhị thanh tao, mà vẫn dễ dàng chuyển tải được lời mình muốn nói.

Đàng này, dạy cho đám dân đánh cá ăn thịt uống máu, rồi mong rằng họ có thể lưu truyền đúng ý lời giảng qua bao nhiêu thế hệ con cháu lạc hậu của họ?

Để rồi bây giờ đàn con chì chiết vắt óc moi não ra ráng châm chước biến một SANH HOẠT QUÁI ĐẢN MAN KHAI cho trở thành có ý nghĩa huyền hoặc!

Và các linh mục cùng một bầy tín đồ vẫn lục tục moi thịt và máu ra ăn uống theo nghĩa đen, nuốt cho vội vã qua giờ xem lễ để đi ra về, chứ đâu cần chiêm niệm nghĩa bóng nghĩa trơn gì đâu.
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-21-2009 , 08:13 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by Mr. Boss
Tiết canh!!!



Luca trong Tông đồ Công vụ đã ghi lại những sự kiện quí giá về Giáo Hội thời nguyên thủy. Cộng đồng nguyên thủy ở Gierusalem có một tổ chức vừa theo khuôn khổ Do Thái vừa có những đặc tính mới mẻ và riêng biệt của Kitô giáo. Cộng đồng mới này chưa tách biệt khỏi hội đường Do Thái, họ vẫn nhiệt thành tham dự các lễ bái ở Đền thờ và các buổi họp ở hội đường; nhưng họ cũng những buổi họp riêng “bẻ bánh” và cầu nguyện, nghĩa là cử hành Tiệc Thánh. Tình yêu liên kết họ thành một trái tim và một tâm hồn, họ cố thực hiện lời Chúa: “Người ta sẽ nhận ra các con là “môn đệ” của Thày vì thấy các con yêu thương nhau” (Ga XIII, 35). “Họ bán tài sản đem nộp cho các tông đồ để phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo sự cần thiết. Họ đồng tâm nhất trí ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh ở nhà, họ cùng nhau dùng bữa trong tình huynh đệ” (Cv II, 45-46).


Giáo đoàn nguyên thủy Gierusalem



http://www.daminhvn.com/*******/tail...sgh1-01.htm#1b
Mr. Boss
Diamond Member
Join Date: Jul 2007
Số Điểm: 11709
Old 12-21-2009 , 09:19 PM     Mr. Boss est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by Tieu Dong
Luca trong Tông đồ Công vụ đã ghi lại những sự kiện quí giá về Giáo Hội thời nguyên thủy. Cộng đồng nguyên thủy ở Gierusalem có một tổ chức vừa theo khuôn khổ Do Thái vừa có những đặc tính mới mẻ và riêng biệt của Kitô giáo. Cộng đồng mới này chưa tách biệt khỏi hội đường Do Thái, họ vẫn nhiệt thành tham dự các lễ bái ở Đền thờ và các buổi họp ở hội đường; nhưng họ cũng những buổi họp riêng “bẻ bánh” và cầu nguyện, nghĩa là cử hành Tiệc Thánh. Tình yêu liên kết họ thành một trái tim và một tâm hồn, họ cố thực hiện lời Chúa: “Người ta sẽ nhận ra các con là “môn đệ” của Thày vì thấy các con yêu thương nhau” (Ga XIII, 35). “Họ bán tài sản đem nộp cho các tông đồ để phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo sự cần thiết. Họ đồng tâm nhất trí ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh ở nhà, họ cùng nhau dùng bữa trong tình huynh đệ” (Cv II, 45-46).


Giáo đoàn nguyên thủy Gierusalem



http://www.daminhvn.com/*******/tail...sgh1-01.htm#1b
Trong sự kiện này chỉ có bẻ bánh chứ không có dùng đó để thế cho xẻ thịt.

Và nếu bánh này là thịt của Chúa, thì không hiểu sao Chúa này lại không có máu.

Cũng không nghe nhắc đến chuyện SỐNG ĐỜI ở đây.

Cho thấy những mẩu chuyện như thế này thật là lộn xộn trái nghịch nhau. Nhưng cũng tạm xí xóa vì đã quá lâu rồi.

Vấn đề ở chỗ là đã rối loạn như thế, mà họ lại cố vẽ vời nghĩa bóng cho được, mạnh ai nấy phịa ra ý này nghĩa nọ để mà dạy cho nhau!
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-22-2009 , 12:59 AM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Thánh Lễ, trung tâm điểm đời sống Kitô hữu.

Vua Plinius Junior toàn quyền xứ Bithynia, trong một tờ tường trình gởi về Roma năm 110, đã diễn tả một cách vô tư về việc tế lễ của giáo dân thời đó như sau: “Người tín hữu có thói quen hội nhau vào ngay đã định, trước khi mặt trời mọc, và ca đối xướng bài hát dâng lên ông Kitô tựa như dâng lên một vị Thần. Họ còn khuyên nhau không được trộm cướp, ngoại tình hay bội ước, phải có tinh thần trách nhiệm về những công việc được ủy thác. Sau đó họ giải tán, nhưng rồi lại gặp nhau dùng bữa, một bữa ăn thanh đạm, tốt lành”. [23]

Đó chỉ là những gì bên ngoài do con mắt thịt của một người ngoại đạo nhìn vào và thuật lại, họ không hiểu được ý nghĩa thâm sâu và cao quí bên trong. Đây không phải là bữa ăn phàm tục, nhưng là bàn ăn huynh đệ, tức Tiệc thánh: “Chén rượu chúc tụng Ta cầm lên mà đội ơn kia lại không phải là sự hiệp nhất với Máu Đức Kitô đó sao? Bánh ta bẻ kia, lại không phải là hiệp nhất với Mình Đức Kitô sao ?” (I Cr X, 16).

Có lẽ vì chương trình quá dài, nên từ đầu thế kỷ II bữa ăn huynh đệ đã được tách khỏi Tiệc thánh tức Thánh Lễ: chiều hôm trước (thứ bảy) là bữa Agapê, sáng hôm sau (chúa nhật) là Thánh Lễ. Từ đó, cuộc họp ban tối chỉ có một phần chương trình. Đây là gốc tích của ngày gọi là Vigilia (áp lễ, canh thức) dành cho việc đọc Thánh vịnh, nghe Thánh Kinh và giảng dạy.[24] Phần nầy bắt đầu từ ca “Dâng lễ”, mọi người cùng dâng lời nguyện chung. Lời nguyện có thay đổi tùy theo hoàn cảnh, địa điểm và thời gian. Thày phó tế mang lễ vật, bánh, rượu pha nước; tiếp đến là hôn chúc bình an, cầu nguyện cho Giáo hội, toàn thể thế giới, và cho chính quyền. Phần trọng nhất là “kinh nguyện Thánh Thể”, lời “Truyền phép”, kinh “Tạ ơn”, bẻ Bánh và phân phát, thày phó tế đem đến cho những anh em vắng mặt. Khi trao, đọc: “Mình Thánh Chúa Kitô, Máu Chúa Kitô Chén Cứu độ”; đáp: “Amen”. Trong khi rước lễ, hát Thánh vịnh. [25]

Có điều đáng chú ý là giáo dân hồi bấy giờ có một đức tin rất sống động. Lời nguyện trong Thánh Lễ phần nhiều có tính cách ứng khẩu, thành thật trào ra từ đáy lòng của vị chủ tế và giáo dân, nên thường rất sốt sắng và tự nhiên. Mọi người đều một lòng một ý theo dõi lời nguyện, để đồng thanh thưa: “Amen”. Nhờ thế mà tất cả mọi người tham dự một cách tích cực vào việc tế lễ. Họ ý thức mình thực sự là những chi thể của một Thân thể duy nhất, liên lạc chặt chẽ với nhau trong Chúa Kitô: “Vì Bánh chỉ có một nên ta tuy có nhiều cũng chỉ là một thân mình, vì hết thảy ta thông phần vào Bánh độc nhất” (1 Cr X, 17).
DaiTieuHy
Super Member
Join Date: Sep 2005
Số Điểm: 15063
Old 12-22-2009 , 01:02 AM     DaiTieuHy est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by BonHat
ca^u no'i do' da`nh cho nguu*o*`i trong TCG (ra^'t ca^`n)


ngu*o*`i ngoa`i TCG thi` kho^ng ca^`n

Tại sao chỉ có NGÔI LỜI mới là TRUNG GIAN CỨU ĐỘ duy nhất ?? (câu hỏi mười ngàn điểm)

thiệt là ngoài KI TÔ GIÁO không cần không ??


ehehehehe .. híc híc .. ehehehhe
BonHat
Platinum Member
Join Date: Oct 2006
Số Điểm: 5437
Old 12-22-2009 , 10:27 AM     BonHat est dconnect  search   Quote  
Quote :
Originally Posted by DaiTieuHy


ehehehehe .. híc híc .. ehehehhe



Tính phổ quát của ơn cứu độ
VietCatholic News (01 Jan 2009 17:37)


Kế hoạch của Thiên Chúa là muốn tất cả mọi người nhận biết chân lý để được cứu độ ( x. 1Tm 2,3-4 ). Thánh Tông đồ dân ngoại đã khẳng định về tính phổ quát của ơn cứu độ rằng: “Trong đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” ( Eph 3,5-6 ). Như thế, ơn cứu độ không dành riêng cho một ai, cho một dân tộc nào. Họp mừng Lễ hiển linh hay là Lễ Chúa tỏ mình cho muôn dân, Hội Thánh không gì hơn là muốn khẳng định với chúng ta rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, mọi thời, mọi hoàn cảnh, đồng thời cảnh báo chúng ta một mặt tránh xa thái độ cao ngạo độc quyền chân lý, nhưng mặt khác dạy ta cần tích cực sẻ chia cho tha nhân kho tàng ân sủng mình đã lãnh nhận theo khả năng và hoàn cảnh của mình.


Thiên Chúa luôn tỏ mình ra với mọi người theo cách thức Người chọn phù hợp với từng người theo từng hoàn cảnh, số phận khác nhau của họ. Như thế, ta có thể nói là bất cứ ai cũng đều có thể tìm gặp chân lý, tìm đến cội nguồn hạnh phúc vĩnh cửu theo khả năng, hoàn cảnh của mình.

1. Không được phép độc quyền chân lý: chân lý không thuộc riêng một ai, một tập thể nào. Khi ta độc quyền chân lý cách này cách khác là khi ta tự biến mình thành ngẫu tượng. Cần phải bỏ dần thái độ cao ngạo tự tôn của một thời quá khứ khi ta đồng hoá mọi niềm tin, tôn giáo khác ta đều là lầm lạc, là ma quỷ, bụt thần…


2. Một tâm hồn biết lắng nghe: đây là thái độ khiêm nhu chân thành, luôn khao khát tìm về chân, thiện, mỹ. Người có tâm hồn biết lắng nghe là người có tấm lòng thành trước những những gì là chính đáng, là phải đạo.


3. Một động thái lên đường, ra đi: Khi đã nhận ra tiếng nói của chân lý toàn thiện, tình yêu vĩnh cửu, thì cần phải lên đường, ra đi. Chân lý toàn thiện, tình yêu vĩnh cửu đòi hỏi chúng phải ra đi khỏi cái vị thế hiện tại. Không một ai ở trần gian này có thể nắm được tình yêu vĩnh cửu hay chân lý toàn thiện. Tất thảy đều ở phía trước, chính vì thế cần phải lên đường, ra đi.


Mừng mầu nhiệm Chúa Hiển Linh, ước gì chúng ta mãi luôn nuôi dưỡng cái tấm lòng thành nơi chúng ta bằng thái độ khiêm nhu biết lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần. Lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần không chỉ trong Thánh Kinh, trong các cử hành Phụng vụ, trong lời dạy của Hội Thánh…mà còn trong các biến cố lịch sử, trong các nét đẹp thánh thiêng nơi các niềm tin, tôn giáo ngoài Công giáo, nơi các nghĩa cử cao đẹp của những người chưa tin hay chưa nhận biết Thiên Chúa. Lắng nghe không phải để đứng nhìn mà can đảm lên đường tìm kiếm và đón nhận. Sự thật toàn vẹn luôn ở phía trước, vì có đó nhiều điều ngay các Tông đồ vẫn chưa thấu hiểu. Chính Thánh Thần là Đấng sẽ dẫn đưa chúng ta đến sự thật toàn vẹn ( x. Ga 16,12-13 ).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa


.................


BH đã cắt xén bài viết của vị LM này để bà con ngoài TCG dễ đọc, dễ hiểu và đỡ ngán
Tieu Dieu
Senior Member
Join Date: Aug 2008
Số Điểm: 660
Old 12-22-2009 , 12:10 PM     Tieu Dieu est dconnect  search   Quote  
Thiển nghĩ, trước khi bàn cãi uống máu, ăn thịt Jesus, cứu độ phổ quát hay không ...thì nên đặt câu hỏi quan trọng: tại sao tôi nên tin Jesus là Chúa Cứu Thế ? Jesus có gì phi thường hơn người phàm để tôi tin ? Phép lạ ? Sống lại ?

Trong kinh Cựu Ước, có 1 tiên tri tên là Êlia, được dân Do Thái rất kính trọng, ông cũng làm rất nhiều phép lạ không thua gì Jesus, ví dụ như:

1) Làm cho không có mưa trong 3 năm rưỡi (1Ki 17:1)
2) Được đàn quạ cho ăn (1Ki 17:4)
3) Hũ bột không vơi, lọ dầu không cạn (1Ki 17:14)
4) Làm cho con trai của bà góa sống lại(1Ki 17:22)
5) Gọi lửa từ trời xuống bàn thờ (1Ki 18:38)
6) Làm cho mưa (1Ki 18:45)
7) Tiên tri các con trai của Ahab sẽ bị giết (1Ki 21:22)
8) Tiên tri các con của Jezebel sẽ bị chó ăn (1Ki 21:23)
9) Rẽ nước sông Jordan (2Ki 2:8)
10) Được đưa lên trời bởi 1 luồng gió xoáy (2Ki 2:11)
Và còn nhiều điều khác nữa, kể ra mất công.

Jesus không làm gì hơn Elia, tuy nhiên có cái khác là Jesus chết (rồi sống lại theo KTG) nhưng Elia thì không chết mà lên trời trong cơn gió lốc xoáy khi còn sống. Có thể nói Elia còn cao cường hơn Jesus. Thành ra khôngc ó gì đáng thắc mắc khi thấy đại đa số dân Do Thái chẳng tin Jesus là Thiên Chúa như tín đồ KTG, điều này là do họ tô vẽ thêm mà thôi (trong tôn giáo điều này rất thường, như Đạo giáo tôn phong Lão Tử thành Thái Thượng Lão Quân)

Jesus cũng không nhận mình là hoàn thiện mà chỉ nói:
"Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện." (Mt 5:48).

Các đệ tử cũng như Giáo Hội CG sau này thần thánh hóa Jesus, phong cho Jesus ngang với Chúa nhưng chính Jesus chỉ nói Cha trên trời (ám chỉ Thiên Chúa) mới hoàn thiện. Nếu Jesus không hoàn thiện thì làm sao là Chúa Cứu Thế để cứu rỗi nhân loại được.
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-22-2009 , 12:22 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Đức JESUS thể hiện tình yêu của Thiên Chúa ra cho tha nhân


Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.


Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho tình yêu của Ngài đối với nhân loại: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); thì Ngài rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng trên như sau:

«Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11);

«Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19);

«Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16).



Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè… sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức Kitô» (Gl 6,2).



Thanh Bình



..........................

MỘT NGƯỜI CHẾT THAY CHO DÂN DO THÁI

vì nếu Đức Giêsu không chấp nhận thí mạng mình (đi ẩn tu trong sa mạc) thì dân Do Thái vẫn sôi sùng sục trong cuộc cách mạng đòi độc lập với La mã trong tư thế lấy trứng chọi đá, và thế là xương sẽ chất thành núi và máu sẽ chảy thành sông.
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-22-2009 , 12:31 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
**********


Đức tin Kitô giáo ngay từ đầu đã có những kẻ thù: chia rẽ, hoài nghi, xuyên tạc, phỉ báng; đó là những lạc giáo thường bắt nguồn từ “con cái trong nhà”. Khi Chúa Giêsu còn tại thế, đã có “những kẻ mạo danh Người để trừ quỷ” (Mc IX, 39). Đến thời các tông đổ bắt đầu xuất hiện những ngôn sứ giả, những bè phái mà thánh Gioan kêu là “những kẻ ở giữa chúng ta mà ra, song kỳ thực họ không thuộc về chúng ta” (1 Ga II, 19). Họ là những kẻ nhìn nhận Đấng Kitô và tin xưng Danh Người có sức nhiệm mầu, song không nhận Người là Thiên Chúa, mà chỉ là một ngôn sứ, lớn hơn Gioan Tẩy giả, hơn cả Maisen, nhưng vẫn chỉ là người, con của bà Maria và ông Giuse.


Hoặc là những kẻ kính tin Người là một Thiên thần của Đấng Tối cao, là Thủ lãnh của Thiên thần, là Thần linh của Thiên Chúa, song phủ nhận Người có nhân tính. Kẻ khác dạy rằng: từ khi chịu phép Rửa cho tới ngày chịu nạn, Đức Giêsu Nazarét có ngôi vị một Thiên thần, nhưng vào giờ chết Thiên thần ấy đi khỏi, bỏ mặc Người vật lộn với đau thương trên thập ác để rồi trở về trong vinh quang phục sinh. Các Thư chung của thánh Gioan đã ra kịp thời để cảnh cáo những kẻ không tin “Chúa Kitô Nhập thể” họ không tin mầu nhiệm Giáng sinh và ơn Cứu chuộc. Đại diện cho lạc giáo này có Cerinthus.


LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
LM Bùi Đức sinh OP
Tieu Dong
Platinum Member
Join Date: Apr 2008
Số Điểm: 4214
Old 12-22-2009 , 12:35 PM     Tieu Dong est dconnect  search   Quote  
Nếu Giáo hội Công giáo định nghĩa là một khối tín hữu vây quanh Chúa Cứu Thế và vâng lời Người, thì Giáo hội đã có từ khi bốn dân chài: Pherô và Anrê, Giacobê và Gioan, đáp lời mời của Chúa Giêsu bỏ thuyền lưới tại hồ Galilea, để trở thành những “ngư ông câu người” (Mt IV, 18-22).

Theo các nhà thần học, Giáo hội được thành lập vào buổi sáng ngày Chúa Thánh Thần Hiện xuống, khi thánh Phêrô và các Tông đồ được tràn đầy ơn Thánh Thần, mạnh dạn làm chứng nhân về sự Chúa sống lại, lên Trời, trước công chúng từ bốn phương kéo về Gierusalem nhân ngày lễ “Ngũ Tuần” (Cv II, 1-4) [1]. Theo các nhà hộ giáo, Phục sinh và Hiện xuống là hai sự kiện quan trọng trong việc khai sinh Giáo hội. Nếu Chúa không sống lại như lời tiên báo, thì các Tông đồ, những chứng nhân của Chúa, sao có thể biến đổi từ người ngu dốt hèn nhát thành những nhà truyền giáo can đảm, nhiệt thành, những nhà hộ giáo khôn ngoan thông minh được.

Nhưng các sử gia, vì chỉ nhìn vào những sự kiện bên ngoài, coi Giáo hội là một thực thể xã hội và tôn giáo, chăm lo việc phượng thờ Thiên Chúa và nghe theo lời giáo huấn của Chúa Kitô, nên chỉ chấp nhận Giáo hội Công giáo có vào khoảng sáu hoặc bảy năm sau cuộc tử nạn của Chúa, và sự thành lập đã được ghi chép trong sách Tông đồ Công vụ. Giáo hội thành lập để nối tiếp công cuộc của Chúa ở trần gian, ban đầu cũng đã sống và lớn lên trong dân Chúa kén chọn với những con người có truyền thống từ bao thế hệ, để từ đây bành trướng khắp thế giới theo như ý muốn của Chúa: “Các con hãy đi rao giảng khắp muôn dân, làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy cho họ giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các con” (Mt XXVIII, 19-20).

.................


Muôn dân = chúng sanh

Hoằng dương Chánh pháp tới tất cả chúng sanh
Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 07:41 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.