VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-11-2011 , 03:22 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
TẠI SAO Băng Thích Nhất Hạnh đã bị phật tử Việtnam trong nước (Thích-Đức-Nghi là đệ-tử của TNH) đánh đập dã-man và còn bị phật tử hải-ngoại khinh bỉ !!!


Hí hửng với VC Nguyễn Minh Triết

http://www.motgoctroi.com/DienDan/Dd...tHanh_laai.htm

Sự phản bội của thiền sư Thích Nhất Hặnh
Ăn cơm quốc-gia thờ Ma Cộng-Sản

(Phạm Cố Quốc)


Lời tác giả: Bài viết này được lược trích từ bài "Sự Thật Che Giấu Sự thật" và đổi lại tựa đề cho đúng với hoàn cảnh thực tại của Sư ông Nhất Hạnh. Sư ông Nhất Hạnh đã phản bội lý tưởng của ông ta qua hai hành động về Việt Nam để:

1) Giải độc cho CSVN trong thời điểm mà thế giới lên án CSVN đang khốc liệt đàn áp Tôn giáo, và

2) Bành trướng môn phái Tu sĩ có quyền lấy vợ.

Người viết xin được đưa ra một số sự thật như sau:

Sự thật về sự khủng bố:

1) Vào ngày 11.9.2001, đã có trên dưới 7 ngàn dân Mỹ và các dân khác trên thế giới đã bị thiệt mạng dưới những khối bê tông cốt sắt khổng lồ tại Nữu Ước và Ngũ Giác Đài – Đó là sự thật!

2) Qua quá trình điều tra của cơ quan FBI, chính thực rõ ràng tên trùm khủng bố Osama Bin Laden và đồng bọn đã trực tiếp gây ra vụ thảm sát đẫm máu này – Đó là sự thật!

3) Nếu vì lý do bất đồng chính kiến với một thể chế chính trị nào đó, Laden có thể nhắm ngay đầu não của một chính quyền, là một chuyện khác; nhưng thật sự Laden đã cố tình giết hại những người dân vô tội tại Trung tâm Mậu dịch Quốc tế. Rõ ràng Laden và đồng bọn là những tên sát nhân, mất hết lương tri, cố tình diệt chủng, không thua gì Cộng sản Việt Nam– Đó là sự thật!

4) Chính quyền Taliban đã đập nát tất cả những tượng Phật, di tích Phật giáo có tầm cỡ lịch sử, hủy diệt một nền văn hóa có tự ngàn xưa, đã chứng tỏ cho thế giới thấy được sự thật về những hành động dã man của bọn chúng. Thể chế chính quyền Taliban hiện nay đang diệt chủng, diệt tông, không thể tha thứ – Điều này không thể chối cãi!

1) Thiền sư Nhất Hạnh đã cố tình quên đi hành động dã man của tập đoàn khủng bố, mặc nhiên trước những sinh linh vô tội, nỗi đau đớn của thân nhân và nhân dân Hoa Kỳ, nỗi lo sợ của toàn thế giới trước âm mưu tiêu diệt nhân loại của tập đoàn này qua biến cố vừa qua. Trước nỗi thống khổ của nhân loại, Thiền sư đã không thể hiện tinh thần Bồ tát đạo, cứu độ chúng sinh qua lời Phật dạy trong Lục Độ Thập Kinh: "Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy, xông mình vào nơi chính trị hà khắc để cứu muôn dân ra khỏi chốn lầm than". Đó là sự thật!



2) Từ ngày bọn Cộng sản áp đặt nền chuyên chính trên toàn nước Việt, chúng ra sức bóc lột nhân dân, tham nhũng cực độ, đàn áp khốc liệt, tiêu diệt tôn giáo, khủng bố chứng nhân và các nhà ái quốc yêu tự do, thủ tiêu Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Trí Thủ… giam cầm và quản chế Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ… thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một Giáo hội Dân lập được truyền thừa gần 2000 năm của Lịch Đại Tổ Sư, một Giáo hội đã dày công nuôi dưỡng Thiền sư Nhất Hạnh và nhờ sự trưởng dưỡng đó mới được đến ngày nay, thế mà khi Giáo hội trong cơn Pháp nạn, kêu cứu từ hơn một phần tư thế kỷ qua mà sư vẫn thiền, vẫn còn tự cho mình là "nhất hạnh". Đó là sự thật!



3) Sư Nhất Hạnh đã chọn thành phố New York để tổ chức một buổi thuyết trình, Thiền sư đã quảng cáo 2 lần, một lần ¼ trang và sau đó quảng cáo nguyên trang. Trong quảng cáo có đăng bài thơ với phần ghi chú rằng, Bến Tre - thị xã ba trăm ngàn dân - đã bị phá hủy chỉ vì 7 du kích bắn vu vơ. Trong quảng cáo lần thứ nhì, con số "7" bị rút đi vì gặp sự phản ứng của dư luận, nhất là qua cuộc Họp Mặt Cho Sự Thật tại miền Nam Cali vào ngày 14.10.2001 đã minh xác lời của Thiền Sư Nhất Hạnh là sai trái. Đó là sự thật!



4) Sư Nhất Hạnh đã buộc tội quân đội Việt Nam Cộng hòa và Đồng minh Hoa Kỳ một cách hàm hồ như sau:

- Chỉ có "7" hoặc "vài" du kích quân Việt Cộng vào thành phố.

- Du kích quân bắn máy bay Mỹ, không trúng.

- Du kích quân rút đi.

- Mỹ ném bom hủy diệt thành phố ba trăm ngàn dân Bến Tre.

- Viên chức Mỹ tuyên bố: hủy diệt thành phố Bến Tre để cứu nó.



... Những hành vi như đã kể ra ở trên chứng tỏ Thiền sư Nhất Hạnh đã đi ngược lại với nguyện vọng đấu tranh cho công lý của mọi người, thiết thực nhất là nguyện vọng đấu tranh đòi hỏi Cộng sản phải thực thi tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam của toàn thể Người Việt Tỵ nạn Cộng sản ở Hải ngoại. Xin nhấn mạnh một lần nữa là Người Việt Tỵ nạn Cộng sản, nghĩa là tỵ nạn chính trị, nghĩa là không chịu nỗi sự đàn áp chém giết khốc liệt của tập đoàn Cộng sản nên phải tỵ nạn, chứ không phải tỵ nạn kinh tế! Do đó, người Việt lưu vong đó đây được các chính phủ tự do nhân đạo cứu vớt đón nhận để cho ăn nhờ ở đậu, cư trú tạm thời. Nếu là tỵ nạn kinh tế, chúng tôi tin chắc rằng đã không có quốc gia nào đón nhận. Chính vì vậy, bất cứ những tuyên cáo, hoạt động nào nằm trong phương hướng bảo vệ chính nghĩa quốc gia, chống Cộng sản, đều là việc chung của mọi người Việt Tỵ nạn Cộng sản. Mặc dù họ không có nói ra, nhưng trong tâm tư của mỗi người Việt lưu vong hải ngoại sau 1975 đều mang ý nghĩ như vậy, ngoại trừ những tên đã tự đổi cốt của chính mình từ tỵ nạn Cộng sản sang tỵ nạn kinh tế để kiếm sống qua ngày, và sẵn sàng giao lưu, hiệp thông với Cộng sản. (Những tên này đã đánh mất lương tri nhân loại, đánh mất lập trường chính trị để tiếp tay với lũ côn đồ giết hại dân lành, tiêu diệt đạo pháp).

... Điều mà ai cũng biết Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ giỏi (Điều nổi bật nhất là Thiền sư Nhất Hạnh giỏi ru ngủ. Những ai đang được Thiền sư Nhất Hạnh ru ngủ rồi, thì dù bất cứ tiếng kêu la thống thiết nào, ngay cả bom nguyên tử nổ bên tai, cũng không tài nào thức tỉnh họ được), thông hiểu triết lý nhà Phật, và là tác giả của nhiều cuốn sách. Nhưng GIỎI là đặc điểm cá nhân của Thiền sư Nhất Hạnh. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh không đem cái GIỎI của mình để cứu đạo, cứu đời, thì GIỎI trở nên vô dụng và không ăn thua gì đến công cuộc đấu tranh của tập thể Người Việt Tỵ nạn Cộng sản hiện nay. Không những thế, Thiền sư Nhất Hạnh đã nhúng tay vào làm công việc phản chiến và ngụy hòa, đã kêu gọi tha thứ cho quân khủng bố trong lúc quân khủng bố cứ liên tục phát động chiến dịch đẫm máu này (cướp máy bay lao vào World Trade Center) đến chiến dịch đẫm máu khác (vi khuẩn anthrax, giựt sập cầu, đánh rớt máy bay dân sự…) để giết hại dân vô tội, đến nỗi người Mỹ đã thay đổi hẳn tình cảm đối với người Việt Nam, cho nên bắt buộc mọi người phải gióng lên những tiếng nói cho công lý và chính nghĩa. Sống trên nước Mỹ, người dân thường thấy, khi mở radio, truyền hình, sau vụ khủng bố, không có tin gì ngoài những tin thương hại do độc khuẩn của bọn khủng bố tạo ra và những lời cảnh giác của phóng viên truyền hình, báo chí. Một con sâu làm rầu bát canh! Sau khi nghe bài thuyết trình "độc nhất vô nhị" của Thiền sư Nhất Hạnh tại Nữu Ước, dân Mỹ quá sức phẫn nộ đã phải hô to lên rằng: "Vietnamese go home!" Thái độ của người Mỹ đối với người Việt Tỵ nạn Cộng sản, nay là thế đó. Từ tình cảm ưu ái, thân thiện, đã trở thành thù ghét đắng cay. Càng thù ghét người Việt quốc gia tại hải ngoại chừng nào, người Mỹ càng trở nên thân thiện gần gũi với bọn Cộng sản nhiều hơn. Và, trận chiến sẽ xoay chiều. Người Mỹ sẽ coi chúng ta là những kẻ đồng lõa, là những người bao che cho tạo tội ác nên giúp tội ác tạo tội ác. Thế rồi, công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do tôn giáo tại quốc nội sẽ dư thừa. Không có ai tin chúng ta cả. Người Mỹ sẽ nghĩ rằng chúng ta muốn phát động phong trào khủng bố để chống chính quyền Cộng sản ở Việt Nam, chứ không phải để đòi hỏi tự do, nhân quyền và dân chủ, vì đất nước Việt Nam có tự do thật sự, có nhân quyền hẳn hoi. Hơn nữa, dần dần những tin tức xấu xa do Thiền sư Nhất Hạnh khơi động này sẽ được loan chuyển khắp mọi nơi trên thế giới. Không những người Mỹ, mà dân chúng trên thế giới đều có một nhận định xấu xa về công cuộc vận động đấu tranh cho tự do tôn giáo của người Việt khắp nơi trên toàn cầu. Từ đó, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trên chiến trường chống Cộng và phục hưng đất nước. Chúng ta không hiểu được điều đó sao ? Thế thì, ai đã gây ra ảnh hưởng xấu ? Không phải là Thiền sư Nhất Hạnh thì còn ai vô đây ? Chúng ta không thể tiếp tục ra sức bao che cho tội ác, biện minh che cho sự phản bội của Thiền sư Nhất Hạnh!

Đó chỉ mới bàn về những ảnh hưởng tác hại của sự phản chiến của Thiền sư Nhất Hạnh mà thôi. Riêng, trong bài thuyết trình tại Nữu Ước và tại những trang quảng cáo ầm ĩ của Thiền sư Nhất Hạnh trên báo New York Times, chúng ta rất dễ tìm những luận điệu vu khống, bôi nhọ quân đội Cộng hòa, lẫn những lợi điểm cho Cộng sản, như đã liệt kê ở trên. Điều đáng buồn là Thiền sư Nhất Hạnh đã đại vọng ngữ để đưa ra những con số không thật, những tin tức láo khoét khi nói về con số tử thương tại Bến Tre với mục đích gán ghép chồng chất tội ác lên đầu quân nhân Mỹ-Việt Nam Cộng hòa. Thiền sư Nhất Hạnh đã bôi nhọ lên mặt Cộng hòa và tô son trên môi Cộng sản!

... Một điều cần biết là Thiền sư Nhất Hạnh giao du tứ phương để lấy lòng dân. Thiền sư Nhất Hạnh được lòng rất nhiều người. Người theo Thiền sư Nhất Hạnh cũng không phải ít. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ biết lo cho dân tộc (quốc nạn) và đạo pháp (pháp nạn), chỉ cần Thiền sư gióng lên tiếng nói cứu độ quần sinh thôi, thì đảng Cộng sản Việt Nam đã tiêu diêu miền khói lửa lâu rồi, chứ đâu mà cảnh địa ngục trần gian còn day dưa đến hôm nay trên đất Việt? (Xin được chú thích: Nói thế không phải để đề cao Thiền sư Nhất Hạnh, nhưng để buồn cho Thiền sư Nhất Hạnh có vũ khí tốt mà không biết dùng, nhất là trong tình trạng khẩn thiết của Đạo pháp hiện nay). Nhưng, tiếc thay, nhìn vào đội ngũ đông đảo "hùng hậu" của Làng Hồng, Làng Mai, người ta chỉ thấy một đám người đang ngủ gà ngủ gật…



Sở dĩ mà dân New York hô lên "Vietnamese go home" nhưng không nói "Thich Nhat Hanh go home" là vì Thiền sư Nhất Hạnh dẫn cả một đại đội tiến về New York. Nhìn vào đám đông này, người ta chỉ thấy họ là Vietnamese, không phải là Thich Nhất Hanh! "Con sâu làm rầu bát canh" ở chỗ đó! Rõ ràng Thiền sư Nhất Hạnh đã ô nhục toàn dân tỵ nạn CS ở hải ngoại, ô nhục nước Mỹ. Vụ thảm sát vào ngày 11.9.2001 đó, ít nhiều, cũng đã tạo cơ hội cho giới truyền thông báo chí của bọn Cộng sản, như ở Hồng Kông, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba thừa nước đục thả câu, tuyên truyền với dân chúng rằng Mỹ là con cọp giấy. Chưa đủ, chúng còn thâu băng, làm phim để kinh tài và hạ nhục Mỹ Quốc. Tại sao Thiền sư Nhất Hạnh không đi qua Afghanistan để "thuyết pháp" cho bọn côn đồ đừng có hủy diệt tượng Phật, đừng có tiếp tục giết người vô tội, ngưng ngay những hành động khủng bố, mà Thiền sư cố nài nỉ người Mỹ tha cho bọn chúng ? (Mặt khác, Thiền sư Nhất Hạnh cố tạo ra những con số bất thật để ghép tội người Mỹ, rồi tạo áp lực tinh thần và nhân tính để bắt buộc người Mỹ nhận thấy rằng chính người Mỹ cũng đã gây khủng bố ở Bến Tre, nên phải tha cho quân khủng bố Osama Bin Laden và đồng bọn). "Từ bi, Vị tha" kiểu ngược đời như thế này, không biết Thiền sư Nhất Hạnh đã tìm đâu ra ở trong Tam Tạng Kinh điển của Phật giáo ? Tạo cơ hội cho kẻ ác hành hung bằng cách khuyên người hiền nên cố tâm chịu đựng! Sao mà hao hao giống luận điệu của Cộng sản vậy kìa: "Bà con ơi, nên chịu đựng đi, đừng nhúc nhích mà chết, tại vì Đảng đã lỡ nắm quyền hành rồi, cho nên bắt buộc Đảng phải bóc lột, ăn cướp, hút máu dân để cho thỏa lòng tham vô cùng vô tận của Đảng, đừng có thắc mắc hoặc khiếu nại mà bị chặt đầu, vì đó là luật Đảng. Tốt nhất là phải chịu đựng, chịu đựng và tha thứ cho Đảng thì mới được sống an thân!…" Thảm khổ!!!



Điều nổi bật hơn về Thiền sư Nhất Hạnh là Thiền sư đã được trưởng thành trong căn nhà của Giáo hội (GHPGVNTN), Thiền sư cùng tu, cùng ăn, cùng ở với những đồng đạo của mình. Thế nhưng, trong mấy chục năm qua, Giáo hội của mình bị bức tử, đồng đạo của mình bị tù đày, quản chế, 80 triệu dân quốc nội của mình không ngừng kêu cứu, thậm chí giáo pháp của Đức Phật cũng bị bọn côn đồ đảng Cộng sản đảo lộn, bôi nhọ, bảo rằng còn thua xa với thuyết lý Mác-Lê-Hồ rồi mang vào trường học để nhồi sọ sinh viên, miệt thị Phật giáo; Thiền sư Nhất Hạnh vẫn ngậm miệng, giả câm, giả điếc. Là một trưởng tử của Như Lai, Thiền sư Nhất Hạnh đã làm gì để lấy lại hương vị tinh nguyên của Giáo lý nhà Phật khi bị đảng Cộng sản đang bỏ chung vào một soong để chiên xào xáo trộn với chủ nghĩa ma quái Mác-Lê ? Sau này, thế hệ trẻ tại Việt Nam sẽ bị đầu độc rằng: Giáo pháp của Phật chẳng hơn gì lý thuyết Mác-Lê-Hồ cả, thi hành theo chủ nghĩa của Mác coi bộ thực tiễn hơn.. Khi đó, Thiền sư sẽ nghĩ gì ? Đây mới chính là thời kỳ mạt pháp! Phật pháp đang trên đường băng hoại!

Chưa hết, trong thời gian Ngài Quảng Độ bị cầm tù trong ngục, Ngài đã làm 300 bài thơ tranh đấu, Ngài tin tưởng và chuyển ra hải ngoại cho Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư Nhất Hạnh đã liệng vào sọt rác. Thiền sư Nhất Hạnh tưởng rằng không ai hay biết, vì cứ đinh ninh rằng Hòa thượng Quảng Độ sẽ bị chết trong tù, hoặc ít nhất cũng sẽ không bao giờ thấy được ánh sáng mặt trời. Nhưng trời cao có mắt. Kẻ ác bất khả hại hiền nhân. Nhờ sức vận động hy hữu của tất cả các hội đoàn, Cộng đồng, nhất là của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris và của Văn phòng II Viện Hóa đạo đến với các chính giới hải ngoại đã làm áp lực lớn mạnh, bắt buộc Cộng sản phải phóng thích Ngài Quảng Độ. Sau đó, qua cuộc phỏng vấn của Giáo sư Võ Văn Ái với Ngài Quảng Độ bằng điện thoại viễn liên sau những ngày tù tội, Ngài Quảng Độ có đề cập đến 300 bài thơ trong tù đã được gởi sang cho Thiền sư Nhất Hạnh để nhờ chuyển qua cho Giáo sư Ái. Gs Võ Văn Ái quá đổi ngạc nhiên, trả lời rằng là Anh không có nhận bài thơ nào của Ngài Quảng Độ do Thiền sư Nhất Hạnh chuyển đến cả. Ngài Quảng Độ chỉ phản ứng một cách rất nhẹ nhàng: "Vậy à?". Ngài Quảng Độ còn bảo rằng Ngài còn ghi nhớ tất cả 300 bài thơ ấy ở trong trí óc của Ngài, khi rảnh rỗi, Ngài sẽ chép lại và gởi qua cho Anh Ái để in thành một tập thơ… (Xin quý vị liên lạc với Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để xin bản sao của cuộc phỏng vấn này, nếu cần).

Sau khi tin tức bị tiết lộ, Thiền sư Nhất Hạnh giả vờ làm một bài thơ "ca ngợi" sự chịu đựng và tinh thần hy sinh cho Đạo pháp của Ngài Quảng Độ, với mục đích là để che đậy sự tráo trở của mình, đề phòng lòng phẩn uất và cũng để thoa dịu sự bất bình của mọi người dân khi họ biết là Thiền sư Nhất hạnh đã dẹm kín 300 bài thơ của Ngài Quảng Độ. (Người viết đã có đọc được bài thơ này của Thiền sư Nhất Hạnh trên một web site nào đó – tạm thời không nhớ rõ là đăng trên web nào.)

Tủi hổ thay, mồ cha không khóc, Thiền sư Nhất Hạnh đi khóc đống tro tàn!

Với tư cách là một trưởng tử của Như Lai, hãy lấy Phật pháp làm sinh mạng, lấy Sự thật làm nền tảng. Vì, căn bản Giáo lý của Đạo Phật là lấy Sự thật làm nền tảng cho sự tu học, hoằng hóa. Chính vì vậy mà Đạo Phật là Đạo Như Thật. Hơn nữa, trên phương diện dẫn chứng lịch sử, thời gian và con số phải được trích dẫn chính xác không sai chạy mỗi khi đề cập đến, cho hợp với câu "Lịch sử đã chứng minh…"

Với cương vị của một công dân, hãy lấy Quốc gia làm đầu, lấy Dân tộc làm gốc.

Với thân phận của một kẻ tỵ nạn lưu vong, nên lấy Tổ quốc làm trọng, phải nổ lực đấu tranh để mong có được ngày về.

Nhưng đau buồn thay, Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo mà không làm được chuyện đó! Ngược lại, Thiền sư đã vọng ngữ, bóp méo lịch sử, đưa ra những dữ kiện sai lạc nhằm vu cáo quân lực chính nghĩa Cộng hòa, làm lợi cho Cộng sản, trong lúc mà phong trào tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo đang lên cao. Thiết nghĩ, việc làm của Thiền sư Nhất Hạnh cần phải được chỉnh đốn.

http://www.motgoctroi.com/DienDan/Dd...tHanh_laai.htm

Last edited by bahai0; 12-16-2011 at 11:30 PM..
paris101
Member
Join Date: Oct 2011
Số Điểm: 578
Old 11-11-2011 , 03:28 PM     paris101 est dconnect  search   Quote  
Sư Sãi Ấn Quang Là Những Tên Giặc Và Nói Láo!


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Nếu con người khi mới sinh ra là, « Nhơn chi sơ tánh bổn thiện »; thì một Phật tử bình thường, hoặc một người khi mới «Thí phát Quy y » họ cũng có thể là một con người lương thiện, họ đều biết trong « Ngũ giới » của nhà Phật, trong đó có « Cấm sát sinh – Cấm vọng ngữ ». Nhưng tiếc thay, vì sau khi họ đã gia nhập vào băng đảng của Ấn Quang rồi, thì gần hết họ đã trở thành những kẻ chuyên môn đi giết người vô tội và nói láo.

Thích Đôn Hậu Thích Trí Quang Thích Đức Nhuận Thích Nhất Hạnh

Những tên nổi tiếng như: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Trí Dũng,Thích Đức Nhuận, Thích Thiện Minh v…v…. Riêng hai tên Thích Nhất Hạnh và Thích Thiện Minh, trong cái gọi là « Hội nghị Tôn Giáo và Hòa Bình » tại Nhật hồi đầu tháng 10-1970, để sau đó chúng đã đẻ ra cái gọi là « Phái đoàn theo dõi Hòa Đàm Paris », mục đích là để hậu thuẫn cho Cộng sản Hà Nội. Điều này đã chứng tỏ Ấn Quang đã liên kết chặt chẽ với Cộng sản Hà Nội, bọn chúng đã biết trước về Hòa Đàm Paris, nên đã chuẩn bị trước cho bộ tứ Thích Huyền Quang, Thích Thiện Minh, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Tâm ở trong cái « Hội Nghị Tôn giáo và Hòa Bình » này.

Vì khó có thể kể cho hết những tên đã từng làm giặc trong băng đảng Ấn Quang; bới chúng quá nhiều. Tuy nhiên, tôi cũng phải nói đến một số tên với những điều mà chính chúng cũng không làm sao chối cãi cho được như:

Thích Nhất Hạnh, với những lời láo khoét như sau:

« Tại một làng nhỏ, một chiếc xe bò đang đi trên con lộ. Trên xe, một thiếu phụ ôm con, bên cạnh là bà mẹ già. Chiếc xe chất đầy tài sản của họ . Từ trên trời cao, một chiếc trực thăng Mỹ bỗng sà xuống, tiếng máy nổ và tiếng cánh quạt đinh tai nhức óc. Những con bò kéo xe sợ hãi, chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất. Mấy người lính Mỹ từ trực thăng bước xuống. Họ nói rõ: họ muốn mang người thiếu phụ đi với họ. Hai người đàn bà khóc lóc van xin, nhưng vô ích. Cuối cùng người thiếu phụ phải trao đứa con nhỏ cho bà cụ già, rồi để cho mấy người lính Mỹ đẩy lên trực thăng bay đi mất ».

Vậy, chúng ta hãy tưởng tượng thử xem:

1*__ « Tại một làng nhỏ, một chiếc xe bò đang đi trên con lộ… », Thích Nhất Hạnh tả như thấy trước mắt, thế mà hắn không viết ra được cái tên của làng ấy ở đâu? Mà chắc Thích Nhất Hạnh muốn nói đến một « làng nhỏ » trong cái đầu óc ngu xuẩn của hắn là nó ở trong một vùng mất an ninh do Việt cộng kiểm soát, chứ những nơi do chính quyền Quốc Gia kiểm soát thì không bao giờ có cái chuyện ấy xảy ra cho được.

2*__ Chiếc trực thăng của Mỹ không bao giờ dám hạ cánh xuống trên một con lộ, ở một làng nhỏ nơi Việt cộng kiểm soát, nếu không muốn bọn du kích Việt cộng chúng xúm nhau làm thịt.

3*__ Một chiếc xe bò, thì làm gì có tới « những con bò kéo xe sợ hãi chạy tứ tán », vì ai cũng biết những chiếc xe bò ở những « làng nhỏ » chỉ có từ một, đến hai con bò kéo xe, chứ làm gì có đến « những con bò », là nhiều con bò; rồi « những con bò kéo xe sợ hãi chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất ». Như thế, ta thử hỏi, những con bò kéo xe, cổ của chúng đều bị cột dính vào những chiếc xe bò; vậy, khi những con bò này chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất, thì chắc chắn là chiếc xe bò cùng đồ đạc sẽ đè hai người đàn bà và em bé ấy, không chết thì cũng bị trọng thương; nhưng Thích Nhất Hạnh đã nói cả hai người đàn bà và đứa con nhỏ của thiếu phụ kia lại không có bị trầy sướt một tí gì cả, mà còn bình tỉnh để « khóc lóc van xin những người lính Mỹ » nữa chứ.

4*__ Thích Nhất Hạnh đã viết « mấy người lính Mỹ » là bao nhiêu??? Nên biết, Trực thăng của quân đội Mỹ có nhiều loại, nhưng không có nhiều người ở trên một chiếc trực thăng Rồi « Họ nói rõ: họ muốn mang người thiếu phụ đi với họ ». Vậy, những «mấy người lính Mỹ » đó « họ nói rõ » là họ đã nói bằng thứ tiếng gì??? Tiếng Anh, tiếng Pháp, hay tiếng Cà-Tu …??? Và hai người đàn bà đã khóc lóc van xin với mấy người lính Mỹ là họ đã nói bằng thứ tiếng gì??? Thật quái đản, hai người đàn bà nhà quê « tại một làng nhỏ » nào đó trong cái bộ óc chó của Thích Nhất Hạnh này, lại có thể nói chuyện « van xin » với người Mỹ một cách dễ dàng như vậy được?!

Trên đây, là một trong vô số những chuyện láo khoét của Thích Nhất Hạnh. Nhưng hình như có một số người đã tin vào tên Đại Láo này, như vừa qua Thích Nhất Hạnh và Cộng sản Hà Nội đã tung tin là « tăng thân Bát nhã » của Thích Nhất Hạnh bị Việt cộng trục xuất. Cái chuyện « trục xuất » chỉ là một trò để lừa bịp thiên hạ.

Vì thế, chỉ khi nào Thích Nhất Hạnh chứng minh được một cách chính xác, về những điều mà hắn đã viết về hai người đàn bà và đứa con nhỏ của thiếu phụ kia, cũng như chiếc xe bò, mà tôi đã nói ở trên là thật, thì chuyện « Việt cộng trục xuất tăng thân » của hắn mới là thật.

Còn một điều nữa là khi cái gọi là « Hội nghị tôn Giáo và Hòa Bình » gồm có bộ tứ: Thích Huyền Quang, Thích Nhất, Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Minh Tâm. Tại « Hội nghị » này, cả bộ tứ này đã đòi hỏi những điều giống như của Việt cộng đã đòi hỏi, và Thích Nhất Hạnh đã phát biểu trước báo chí của ngoại quốc bằng tiếng Anh như sau:

« I would like to repeat that this proposal is not made only by the Vietnamese Buddist delegation at this conference but is the proposal made by the whole Unified Buddist Church in Vietnam in accordance with many other Catholics, Caodaists and Taoists in VietNam.”

(Tôi muốn nhắc lại là đề nghị này chẳng phải chỉ riêng của phái đoàn Phật giáo tham dự hội nghị này, mà là đề nghị của toàn thể giáo hội Phật giáo Thống nhất ở Việt Nam với sự đồng tình của rất nhiều người Công Giáo, Cao Đài và Lão giáo khác ở Việt Nam).

Sau đó, khi bị các báo chí hỏi, có phải Phật giáo Thống nhất có quyền đại diện cho toàn thể nhân dân và Phật tử Việt Nam hay không? thì Thích Thiện Minh đã nhanh nhẩu trả lời bằng tiếng Việt như sau:

“Phật giáo đã đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam từ 11 thế kỷ rồi, và tuy ở Việt Nam cũng có một số các tổ chức Phật giáo khác, nhưng chỉ có chúng tôi là có quyền đại diện cho Phật giáo và Dân tộc Việt Nam mà thôi.”

Câu nói trên đây, đã cho mọi người đều thấy được Thích Thiện Minh đã lộng ngôn và vọng ngữ đến cái mức độ không còn biết dùng đến một từ ngữ nào để nói. Song cho đến hôm nay, thì chứng nào vẫn tật nấy, mà xem ra cái loại siêu vi nói láo nầy chúng đã nhiễm sâu vào đến tận xương, tận tủy của bọn Ấn Quang; như Thích Quảng Độ đã nói:

“Vì ở tù nên không có cả dao, kéo để cắt tóc, cạo râu - Tôi làm bốn trăm bài thơ mà chỉ để ở trong đầu, rồi còn đánh mục lục từ số một, số hai, số, ba … cho đến thứ bốn trăm”.

Riêng về cái chuyện ở tù không có dao, kéo để cạo râu và cắt tóc, mỗi lần nhớ đến là cứ làm tôi buồn cười quá đi thôi. Nên nhớ, sau ngày 30-4-1975, đã có không biết bao nhiêu vị là Quân- Cán- Chính của Việt Nam Cộng Hòa đã vào các nhà tù của Việt cộng, có vị đã ở tù hơn mười năm; nhưng sau khi ra tù có ai thấy vị nào có bộ râu dài như … tóc … của phụ nữ như Thích Quảng Độ đâu??? Ôi! ở tù, rồi về Thanh Minh Thiền Viện, vì không có tiền, nên không có được dao, kéo để cạo râu, cắt tóc; nhưng những hình ảnh đã tràn ngập trên các trang mạng điện tử với hình ảnh của Thích Quảng Độ, một tay cầm loa phóng thanh, tay kia cầm những túi tiền đem phân phát cho “dân oan” giữa ban ngày, ngay trên đường phố!!!

Và cũng vậy, nếu tất cả các vị tù nhân của các trại tù của Việt cộng, mà sau khi ra tù đều có một bộ râu dài như Thích Quảng Độ, thì cái chuyện vì ở tù nên không có dao, kéo để cạo râu, cắt tóc do Quảng Độ và Võ Văn Ái đã nói ra mới là sự thật.

Võ Văn Ái: Đường nào rồi cũng đến … Việt Weekly.

Bởi thầy trò cật ruột, thì phải truyền … nhiễm cho nhau chứ, nên vừa qua Võ Văn Ái đã ngụy biện trên trang điện báo Việt Weekly, vì bài quá dài nên tôi xin trích một đoạn như sau:

“Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng, chứ không phải đòi hỏi cướp chính quyền. Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một Quốc hội Lập hiến. Tôi có thể nói rằng, từ năm 1963 đến bây giờ chưa bao giờ Phật giáo chủ trương cướp chính quyền”.

Cặp “đào kép” Võ Văn Ái

Võ Văn Ái, lại thêm một lần nói LÁO nữa. Quả đúng như vậy, loại siêu vi nói LÁO này, cứ mỗi ngày chúng càng tăng trưởng nhanh hơn. Điều nầy đã được chứng minh bằng chính những lời của Thích Trí Dũng, người đã dựng Nam Thiên Nhất Trụ tức Chùa Một Cột ở miền Nam, chùa đã bắt đầu khởi công từ năm 1958, và chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì an ninh nên đã đưa tiền cho Thích Trí Dũng để yêu cầu ông ta đi xây chùa nơi khác; song Thích Trí Dũng không chịu, mà vẫn tiếp tục xây chùa, mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng không lấy tiền lại. Sau đó, Thích Trí Dũng còn xây thêm nhiều chùa khác như chùa Phổ Thiên, chùa Phổ Quang v…v… nhưng không phải để thờ Phật, mà để thờ …Việt cộng và súng đạn ở trong chùa. Đặc biệt Thích Trí Dũng đã công khai viết trên sách, báo với cái tựa đề “ Tài Trí Việt Nam”, chính Thích Trí Dũng đã kể lại tất cả căn nguyên, điều đáng kể là Thích Trí Dũng đã nói rõ là đã nuôi giấu tên tướng Việt cộng Trần Hải Phụng, và những tên khác thuộc Lực lượng Biệt động Thành Sài Gòn – Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng, và chính Thích Trí Dũng đã cạy nắp mộ của Ông Ngô Đình Cẩn rồi đem súng đạn, chất nổ TNT bỏ vào trong quan tài, để bắt cái xác chết của Ông Ngô Đình Cẩn phải giữ tất cả số súng đạn và chất nổ đó. Để rồi như chính Thích Trí Dũng đã nói và viết:

“ Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968: chùa Phổ Quang đã là nơi khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất”

Dù sao, tôi cũng thấy vui, vì chính Thích Trí Dũng đã viết, đã nói một cách công khai về chính sách Tự Do Tôn Giáo, dưới Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.

Xin quý độc giả hãy đọc lại bài viết: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân, 1968- 2008, mà tôi đã viết vào ngày 26-01-2008, trước Tết Mậu Tý chưa đầy hai tuần lễ, đã được đăng trên nhiều trang điện báo; đặc biệt là trên Hồn Việt có lời đọc của Ông Chính Khí Việt. Tôi muốn nói: Ấn Quang là một lũ bội nghĩa, vong ân. Ấn Quang phải biết, trước ngày 20- 7-1954, Phật giáo chỉ là Hội phật Học Thừa Thiên-Huế. Sau 20-7-1954, dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, nó đã tiến tới thành “Hội Phật Học Trung Phần”, rồi sau đó Phật giáo đã được tăng trưởng nhanh chóng, các chùa chiền và các Khuôn hội mọc lên như nấm tại miền Nam Tự Do dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Như thế, mà tên Võ Văn Ái còn dám Láo Khoét trên Việt Weekly:

“Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng…”.

Như vậy, vào năm 1958, Thích Trí Dũng đã nhận tiền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm để xây dựng Chùa Nam Thiên Nhất Trụ tức Chùa Một Cột ở Miền Nam, và nhiều chùa khác để nuôi giấu những tên Đặc công, Biệt động thành Sài Gòn - Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng; như thế là không có tự do tín ngưỡng hay sao? Vậy mà cho đến bây giờ Võ Văn Ái vẫn còn dám láo khoét công khai trên Việt Weekly, thì thử hỏi tất cả những gì Võ Văn Ái và Thích Quảng Độ đã nói và sẽ nói, thì với thời gian, những con siêu vi nói LÁO này nó sẽ tăng theo đến mức độ nào nữa chứ??? Tôi nghĩ rằng quý độc giả, trong đó có cả những người thân của tôi đã vì bênh vực Võ Văn Ái mà đã giận hờn tôi; song tôi vẫn tin rằng sẽ có một ngày rồi các vị ấy, sẽ được “khai thị”, sẽ được sáng mắt ra, sẽ thấy, sẽ biết tất cả. Như tôi đã từng viết trước đây: Xin tất cả những người thân của chúng tôi hãy hiểu cho rằng: Từ lúc chào đời, trái tim bé nhỏ của tôi vốn đã khép mình ở phía dưới của khối óc. Chính vì vậy, nên cho dù biết rằng các vị đã rất quý tôi từ bao nhiêu năm qua, nhưng tiếc rằng khối óc của tôi nó lại lớn hơn trái tim đến gấp bội, vì thế, nên tôi phải cam chịu tạm mất người thân của RIÊNG mình, hầu cho trọn vẹn được nghĩa CHUNG. Tôi nhớ trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký, tức Cô Gái Đồ Long, của Kim Dung, có một câu nói của Trương Vô Kỵ mà tôi rất thích:

“ Nếu không thể chọn được cả hai, thì phải chọn lấy cái lớn hơn”.

Và tôi đã chọn việc CHUNG, vì việc CHUNG là cái lớn hơn, mà tôi đã đặt lên trên hết.

Võ Văn Ái đã ngụy biện cho cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung, mùa hè 1966:

Ngoài việc láo khoét “ Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng…” Võ Văn Ái còn ngụy biện cho những màn chém giết trong cuộc bạo loạn mang bàn thờ Phật xuống đầy đường, trên các cống rãnh tanh hôi tại miền Trung trên tuần báo Việt Weekly như sau:

“ Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”.

Láo, Láo, Đại Láo. Võ Văn Ái là một tên gian manh, láo khoét nhất, có lẽ vì thế mà ông Trời đã đoạn đứt con người của hắn, nên tôi không bao giờ đối diện với Ái cho được. Bởi cố hữu, dù đi hay đứng, tôi cũng đều nhìn thẳng, chứ không nhìn xuống, mà cơ khổ, hễ nhìn ngang thì tôi không bao giờ thấy được mặt mũi của Võ Văn Ái, vì muốn thấy mặt Võ Văn Ái thì bắt buộc tôi phải khom lưng, sụm gối xuống, mệt lắm. Nhưng cái “ tài” nói láo thì tôi xin ngả mũ chào thua Võ Văn Ái. Và chỉ có bọn Việt - gian Cộng- sản, chúng mới gọi chung là “Thiệu-Kỳ” chứ người dân của Miền Nam Tự Do, thì không ai có thể gọi như Võ Văn Ái.

Một điều ai cũng biết là Võ Văn ái đã bỏ nước ra đi từ thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa cho đến hôm nay, Y chỉ biết những chuyện xảy ra trong nước qua những cái loa của những tên giặc Ấn Quang. Thế mà, Võ Văn Ái cũng đã lên án ông Liên Thành. Võ Văn Ái nên nhớ, ông Liên Thành đã sống, đã chiến đấu với cộng sản, để bảo vệ đồng bào tại cố đô Huế, và tôi đây, đã từng bị Việt cộng bắt vào rừng, đã bị Việt cộng đem giam ở dưới hầm đất, tôi cũng đã từng chứng kiến những cuộc thảm sát trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, mùa hè 1966, tôi đã thấy tận mắt những màn hành hạ, đánh đập trẻ em bằng gạch, đá, rồi nổ súng giết chết em Lê Quang San, 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ, của Trường Trung Học an Hải, quận 3, Đà Nẵng, là con của ông bà Lê Quang Khâm, em San đã gục chết ở phía trong cổng chùa Pháp Lâm, tại số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng, chỉ vì cái “tội” chui xuống dưới bàn Phật để tránh đạn của “ Quân đoàn Vạn Hạnh” đã từ trong chùa nầy bắn ra mà thôi. (Xin quý độc giả hãy đọc lại bài Cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966). Mà từ sau ngày 30-4-1975, đồng bào tại xóm chùa này, vì nghèo nên họ đã biến miếng đất nhỏ, trước cổng ngôi chùa này thành một cái chợ chồm hổm, vì chỉ ngồi mà bán những thứ quà vặt; và vì thương tiếc em San, nên những người dân xóm chùa đã đặt tên cho khu chợ nhỏ này là: Chợ Lê Quang San.

Và cũng chính vì cái tên Chợ Lê Quang San nầy, mà trước đây Võ Văn Ái đã giả tạo ra cái “ Thư khiếu nại” rồi nói là của “ Hòa thượng” Thích Quang Thể, đứng đầu Tăng đoàn Bảo vê Chánh pháp ra trước Liên Hiệp Quốc, để đòi phải xóa sạch cái chợ ở trước cổng chùa Pháp Lâm, nơi còn lưu dấu về một cái chết vô cùng đau đớn, với tấm thân quằn quại trên vũng máu, của em Lê Quang San . Mục đích của Ấn Quang qua Võ Văn Ái là để đuổi dân xóm chùa, không cho họ mua bán ở một khu đất nhỏ trước cổng chùa Pháp Lâm, là muốn xóa đi cái tên Chợ Lê Quang San, và để cho người dân Đà Nẵng quên đi về cái chết của em Lê Quang San.

Tôi vẫn nhớ lúc Võ Văn Ái đưa cái “Thư Khiếu Nại” giả mạo nầy của “Hòa thượng” Thích Quang Thể là “ Cố vấn Mặt Trận Tổ Quốc Trung,-Trung bộ” của Việt cộng ra trước Liên Hiệp Quốc, thì tôi đã viết một bài: Thực Chất Của Cái Gọi Là “Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp”, và đã đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong số 576, từ ngày 16 đến 31-01-2000, nơi trang 11-12-13 tiếp đến trang 75-76. Vì tôi không muốn để cho Võ Văn Ái láo khoét và không muốn để cho Võ Văn Ái, là một tên tàn ác, vô đạo, bất nhân, hắn đã cố tình để Giết em Lê Quang San một lần thứ hai nữa, hầu xóa bớt đi một trong vô số những tội ác của Phật giáo Ấn Quang.

Vây, một lần nữa tôi lại phải xin phép quý độc giả để xin được nói lên những lời này: Hỡi Võ Văn Ái vô lương, tàn ác và bất nhân! Ngươi có nghe chăng! những tiếng kêu oán hờn, những tiếng rên xiết, đớn đau, trước khi gục chết trên vũng máu, trước khi bị dập đầu, treo cổ, của những trẻ thơ, của những người đã chết thảm dưới những bàn tay của lũ côn đồ của Phật giáo Ấn Quang!!! Tất cả những oan hồn uổng tử ấy, họ sẽ đòi mạng của ngươi và của cả lũ Ấn Quang. Ngươi hãy buông đao đồ tể, hãy sám hối vì ngươi đã từng đứng trong phong trào Phản Chiến, là một cái vỏ bọc cho những hành vi Cộng sản, Vậy, ngươi chính là một tên Phản Quốc, từng tiếp tay với lũ giặc Ấn Quang để giết hại đồng bào vô tội trong suốt cả chiều dài của lịch sử cả nửa thế kỷ vừa qua.

Võ Văn Ái, ngươi hãy nghe đây: Có bao giờ người dân Việt hiền hòa lại có thể “đòi tự do tín ngưỡng – đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”, bằng cách đánh, giết trẻ thơ vô tội, rồi đốt cháy cả Tòa Thị Chính Đà Nẵng, và đốt cháy sạch sẽ luôn cả hai phường Thanh Bồ - Đức Lợi tại Đà Nẵng, 24-8-1964. Ta hỏi ngươi, tại sao các tôn giáo khác như: Cao Đài, Công Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo … họ không làm như Phật giáo Ấn Quang??? Điều dễ hiểu nhất là đa số họ không theo cộng sản, nhất là họ không phải là những tên côn đồ, đạo tặc.

Võ Văn Ái nên biết, trong suốt gần bốn thàng Trời, vào mùa hè 1966, Phật giáo Ấn Quang đã chiếm hết thành phố Đà Nẵng, bắt các vị như: Giáo sư Nguyễn Hữu Chi, tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, ông Lê Nguyên Long, Trưởng ty Thông tin Quảng Nam, Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang và đồng loạt tấn công các Trụ sở Liên hiệp nghiệp đoàn bắt giam ông Trần Hòa tổng thư ký Liên hiệp nghiệp đoàn, và cũng đã tấn công Trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Đảng bộ miền Trung trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo, và đã bắt hàng trăm cán bộ của VNQDĐ, rồi đem giam chung cùng với tất cả các vị là tù nhân Phật giáo, và các vị đã bị đánh đập trong bốn mươi ngày tại chùa Phổ Đà, tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nên biết, suốt trong thời gian gần bốn tháng ấy, Ấn Quang đã chiếm giữ và nắm quyền hành trên toàn thành phố Đà Nẵng, kể cả Đài phát thanh, chỉ còn mỗi Phi trường, mặc dù có dự định tấn công, song vì sợ quân đội Mỹ nên chưa dám làm, thì chính phủ đã kịp thời ban hành: Lệnh Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh. Vì thế, nên cái gọi là “ Chính phủ miền Trung” do Thích Trí Quang đứng đầu đã tan tành như mây khói. Võ Văn Ái hãy chờ cuốn sách sắp phát hành của ta đây, thì ngươi sẽ được nhìn thấy lại hình ảnh của Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh và cả Thích Huyền Quang “Đệ tứ Tăng thống” của Ấn Quang vào thời trai trẻ, mấy tên này đều đã được Võ Văn Ái đảnh lễ đấy, riêng Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh đã từng đi trên con đường Độc Lập tại thành phố Đà Nẵng trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966, mà ngươi đã nói:

“Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”.

Nhưng tiếc rằng, người dân Đà Nẵng đã thường nói với nhau: Phật giáo Ấn Quang đã đòi được cái mạng của một thiếu niên Lê Quang San chỉ mới 16 tuổi, đã nằm gục chết ngay ở phía trong chiếc cổng của chùa Pháp Lâm, tức chùa Tỉnh hội, của Giáo hội PGVNTN (Ấn Quang) tại số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

Về điều này, tôi đoan chắc không phải một tên Võ Văn Ái, mà bất cứ một tên nào và cả băng đảng Ấn Quang cũng không bao giờ làm được một chuyện, mà xem chừng như dễ dàng, nhưng thực ra là một công việc dời non lấp biển, đó là không bao giờ xóa được cái tên Lê Quang San ở trong lòng của người dân Đà Nẵng. Và chắc chắn sẽ có một ngày nào đó, dù là bao lâu nữa, thì tại thành phố Đà Nẵng sẽ có một nơi để:

Tưởng niệm thiếu niên Lê Quang San: Nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của Phật giáo Ấn Quang, trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966.


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-11-2011 , 04:19 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
Thiền Sư Nhất Hạnh tên thật là Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926 tại làng Minh Hương, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Bên nội của Thiền Sư gốc Thanh Hoá, phiá ngoại gốc quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1942, Nguyễn Xuân Bảo đi tu ở chùa Bảo Quốc, Huế. Sau khi học xong phần Phật giáo cơ bản, được chuyễn qua chùa Từ Đàm rồi sang chùa Từ Hiếu để hoàn tất chương trình Phật học hầu trở thành Đại Đức do Hoà Thượng Thích Nhất Định chủ trì. Sau đó ông theo học bậc trung học tại Huế.

Năm 1956, Thiền Sư vào Sàigòn học tại đại học văn khoa và tốt nghiệp cử nhân năm 1959.
Năm 1961, Ông được chính phủ Ngô Đình Diệm cho xuất ngoại du học tại Princeton University của tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ.

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ vào ngày 1-11-1963 thì chuyện tranh chấp nội bộ Phật giáo xảy ra giữa khối Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự do Thượng Toạ Thích Tâm Châu lảnh đạo.

Để tạo uy thế cho chính mình, năm 1964, TT Thích Trí Quang đã mời Đại Đức Thích Nhất Hạnh về nước để giúp ông thống nhất Phật giáo và tìm hướng đi cho tương lai.

Khi về nước, ông giảng dạy tại đại học Vạn Hạnh. Tại đây, đại đức đã không dạy cho đàng hoàng nhưng lại vừa giảng bài, vừa đảo mắt liếc tình, phải lòng sinh viên Cao Ngọc Phượng, người tỉnh Bến Tre. Cô sinh viên nầy bèn tâm đầu ý hợp vào chùa tu với thầy. Vì chỉ mới xảy ra lần đầu trong đời, tim đập loạn xạ bởi qúa hồi hộp, cô đã để quên đôi dép Nhật bên ngoài, phải đi vào Chân Không.

Năm 1965, Chân Không tiếp tục thọ giới tiếp hiện với Đại Đức tạo nên một đứa con trai. Từ đó, ông tự gọi mình là Thiền Sư mà không còn là Đại Đức, Thượng Tọa nữa; nhưng mới đây khi về Việt Nam vào năm 2008, tự phong mình là Hoà Thượng, có lộng trướng đưa rước đàng hoàng !

Năm 1968, Cao Ngọc Phượng đi Chân Không sang Pháp thọ giới vĩnh viễn với TS tại làng Mai, toạ lạc ở Meyrac Loubes Bernac, 47120 Duras phiá nam nước Pháp. Ngoài ra, họ còn có ba thiền viện khác là chùa Pháp Vân, chùa Từ Nghiêm và chùa Cam lộ.

Thiền Sư được mọi người biết đến từ năm 1964 khi xuất bản cuốn Phật Giáo Ngày Nay. Tên tuổi của Thầy được giới văn học Miền Nam xếp chung trong nhóm Thiền Vi của các nhân văn trong phong trào Phật Giáo đương thời; nhưng hào quang nầy đã sớm vụt tắt khi ông đã hiện nguyên hình một sư không bình thường trong những bài viết và bài giảng thuyết sau nầy.


Vào đầu năm 1966, Đại Đức Nhất Hạnh được Thượng Tọa Trí Quang phái ra ngoại quốc kêu gọi chấm dứt chiến tranh , lập chính phủ hoà giải hoà hợp mà môi trường hoạt động đầu tiên là nước Pháp. Xin nghe ông nói :

" Tôi rời đất nước năm 1966, vào tháng 5. Lúc đó chiến tranh Việt Nam đã đi tới mức khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng mình phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi hoà bình. Tôi chỉ muốn đi vài tháng thôi rồi về. Lúc đó trường đại học Cornell ở Ithaca mời tôi qua để giảng một loạt bài về tình hình ở Đông Nam Á. Người đứng ra mời là giáo sư George Kahin, giáo sư chính trị học ở tại trường Cornell. Tôi đi ra để nói rõ là dân VN không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp hoà bình và các cường quốc trên thế giới đừng dùng VN làm một chổ để để tranh dành ảnh hưởng nữa, đừng sử dụng ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé đó...



Trong qúa trình vận động hoà bình nầy, tôi được báo tin rằng chính quyền Việt Nam không muốn cho tôi về nữa. Vì vậy tôi đã bị lưu đày từ tháng 5 năm 1966 đến bây giờ...

Tôi bị lưu đày vì đã dám cất lên tiếng kêu gọi hoà bình..."


Qua đoạn văn trên, rõ ràng Nhất Hạnh vờ giả dạng kẻ ngây thơ bởi với kiến thức như Thiền Sư, ông đã rõ cuộc chiến nầy phát xuất từ Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế mà Hồ Chí Minh là người thừa hành để xâm lăng miền Nam. Vậy muốn chấm dứt chiến tranh, kêu gọi hoà bình phải yêu cầu kẻ gây chiến Cộng Sản Hànội dừng tay lại. Đằng nầy ông làm ngược lại, kêu gọi người BỊ xâm lăng NGƯNG chống đở kẻ XÂM LĂNG!


Lúc bấy giờ, năm 1966, Pháp là thiên đường của nhóm Tướng Tá lưu vong chính trị của Miền Nam được Tướng Charles de Gaule gom lại để đánh phá VNCH và trợ giúp Hànội để trả thù Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm đã đuổi Pháp ra khỏi Miền Nam.

Cuối tháng 5 năm 1966 khi ông đang thuyết trình ở Pháp thì tổ chức Fellowship for Reconciliation và Cornell University ở New York, một tổ chức phản chiến Mỹ, mời qua Hoa Kỳ.

Ngày 1-6-1966, ông tuyên bố một bản tuyên cáo nói lên lập trường 5 điễm của Giáo hội Phật Giáo Ấn Quang gồm:

- Yêu cầu chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ chức,

- Quân đội Mỹ rút khỏi Miền Nam VN,

- Ngưng oanh tạc Bắc Việt

- và ngưng các cuộc hành quân ở Miền Nam.

- Mỹ phải giúp lập chính phủ dân chủ và tái thiết Miền Nam


Rập khuôn đòi hỏi 5 điễm của Cộng sản Bắc Việt qua cái gọi là Mặt trận giải phóng Miền Nam (MTGPMN.

Ngày 2-6-1966 ông được đưa vào trình bày trước Thượng Viện Hoa Kỳ với nội dung tố cáo Mỹ và VNCH đã gây ra thãm họa tại VN, bị nhân dân bản xứ chống đối một cách mạnh mẽ?! Đúng là Thiền Sư nầy vừa ăn cướp vừa la làng !



Đến đây mới thấy bài viết Sleeping with the enemy của đương kim Thượng nghị sĩ James Webb của tiểu bang Virginia qúa chính xác. Ông viết: cũng không hiễu được tại sao lại có những kẽ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cã Quốc Hội cũng bị nhiễm con vi khuẫn nầy.

Để trả lời câu hỏi: ....không hiễu được tại sao, thì xin thưa với TNS tiểu bang Virginia rằng vì ông tăng phản Phật, phản Đạo, phản Dân Tộc nầy .

Năm 1967 ông cho xuất bản cuốn Viet Nam, lotus in a sea of fire, a Buddhist proposal for Peace- Việt Nam, hoa sen trong biển lửa, một đề nghị hoà bình của Phật Giáo. Sách nầy đề cập đến cuộc đấu tranh của Phật giáo từ 1963 đến 1966 cũng như những chết chóc, tang thương do quân đội Hoa Kỳ và Miền Nam gây ra ?!

Ông lên án chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo và Nguyễn Cao Kỳ độc tài, quân phiệt. Ông cho MTGPMN là do những người Quốc gia lập ra để chống ông Diệm, không phải do từ Hànội, nhưng vì Mỹ đổ quân vào Miền Nam nên họ nghiêng về phía Cộng sản !. Ở phần cuối để lộ sự mâu thuẩn, lắt léo khi ông trích dẫn lời Lê Duẩn tuyên bố trong đại hội đảng kỳ 3 năm 1960: Đảng ta lảnh đạo mặt trận !



Điểm đặc biệt nhất trong cuốn sách nầy ở trang 52 dòng 20, 21 và 22 ông viết: In the minds of the Vietnamese people in general, Ho Chi Minh was a national hero who had led their struggle against the French- Trong đầu óc của người dân Việt Nam nói chung, Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc đã lảnh đạo cuộc tranh đấu chống Pháp. Qua câu nầy, nhận thấy ông không dám trực tiêp nói HCM là vị anh hùng mà chỉ mượn từ ngữ "người dân" để nói thay cho mình, nhưng ở đầu trang nầy lại chạy một tít lớn đánh máy bằng chữ hoa: HO CHI MINH, A NATIONAL HERO.



Đây là TIỂU XẢO rất thường thấy của NHẤT HẠNH trong các tác phẩm của ông !

Ông có biết đấu tranh dành độc lập theo kiễu cộng sản chỉ có xảy ra ở Việt Nam đã đưa dân tộc nầy đến ngày hôm nay đi về đâu? Tất cả những chết chóc, tang thương, đau khổ tinh thần lẫn vật chất về mọi phương diện, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.


Để hợp thức hoá tình trạng phá giới của mình, ông đã đưa ra một phương thức tu tập mới để thanh minh hành động của mình bằng cách ra cuốn Phật Giáo Hiện Đại Hoá xuất bản tại Sàigòn vào tháng 5-1965.

Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là ngày mà Hoa Kỳ và cả Thế giới sửng sốt và đau thương vì khủng bố đã dùng phương tiện của chính người Mỹ đánh sập toà tháp đôi tại New York khiến trên 3000 người bị chết thảm, Nhất Hạnh phải là người cầu kinh để chia xẻ niềm đau thương nầy, trái lại, vào ngày thứ ba, 25-9-2001 lúc 7 giờ chiều, ông đến Riverside Church ở thành phố New York kêu gọi hoà giải với những tên khủng bố, lại còn quảng cáo rùm beng trên tờ New York Times nguyên 2 trang A 5 và A 22 tốn hết 45,000 USD; trong đó có đăng câu trả lời của ông do ký giả Anne A Simpkinson hỏi, ông nói: trong vụ Mậu Thân 1968, chỉ có vài tên du kích bắn vu vơ, lập tức Mỹ đem bom tới dội, tàn phá thành phố Bến Tre làm hư hại 300,000 căn nhà. Đây là đoạn văn được đưa lên tờ New York Times số ra ngày 25-9-2001, có cả hình ông ngồi chắp tay như đang cầu nguyện !

Sự thật thì trong vụ Mậu Thân 68, VC đã tấn công Thị xã Trúc Giang của tỉnh Bến Tre vào lúc 3 giờ sáng rạng ngày mồng 3 Tết âm lịch. Chúng đã pháo vào toà Hành Chánh tỉnh và Bản Doanh trung đoàn 10 của sư đoàn 7 bộ binh rất ác liệt nhưng không chiếm được. Đến 10 giờ sáng, 2 tiểu đoàn 3 và 4 của trung đoàn 10 BB chiến đấu dũng cảm trong thị xã và đã đẩy lui được VC ở khu vực Toà Hành Chánh, Bản Doanh Trung đoàn và bệnh viện thị xã. Các khu vực thương mãi, VC vẫn chiếm giử các cao ốc, trừ đài phát thanh.



Đến chiều, 2 tiểu đoàn thuộc lử đoàn 2 bộ binh Hoa Kỳ tăng viện. Vào ngày mồng 4 tết, VC bỏ chạy để lại trận địa 300 xác và hơn 100 vũ khí đủ loại. Phía thuờng dân có 90 người chết và 50% nhà cửa bị hư hại. Chợ Thị xã Trúc Giang bị hủy hoại hoàn toàn. Tham dự trận đánh nầy, VC đã huy động 2000 lính chiến đấu gồm 2 tiểu đoàn tân lập 3 và 4, hai đại đội địa phương, nhiều trung đội du kích và dân quân. Thế nhưng Nhất Hạnh đã ăn gian, nói dối với báo chí quốc tế với dụng ý bôi nhọ quân đội Mỹ và quân lực VNCH. Trong khi đó tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế là sinh quán và nơi tu học Phật Pháp của ông, trong vụ Mậu Thân đồng bào của ông đã bị VC chôn sống, bị chém giết dã man, ông không lên án hành động bất nhân nầy cũng như chẳng có một lời phân ưu, chia buồn đến đồng hương của mình !

Trước năm 1975, Nhất Hạnh đã tuyên truyền rầm rộ khích động phản chiến, ngụy hoà Mỹ giúp Hànội thành công. Ngày nay ông kêu gọi hoà hợp để đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào giáo hội quốc doanh Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1981, sau khi thanh toán xong tổ chức Phật giáo Ấn Quang, Hànội một mặt huấn luyện khoảng 5000 công an được phân phối để kiểm soát hầu hết các chùa và các tổ chức Phật giáo trong nước, mặt khác cho phát triển phong trào Phật học và tập thiền. Đã có bốn học viện lớn được dùng để huấn luyện Sư quốc doanh và thiền.



Đó là học viện Phật giáo Việt Nam và thiền viện Vạn hạnh ở quận Phú nhuận, thiền viện Trúc Lâm ở thành phố Đàlạt, thiền viện Phật giáo Huế và thiện viện Phật giáo Việt Nam ở chùa Sứ quán tại Hànội.

Trong khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không ngừng lên án Hànội đàn áp Phật giáo và đòi trả tự do cho Đức Tăng Thống Huyền Quang và Hoà Thượng Quảng Độ, thì vào năm 2002, Hồng Quang, người lảnh đạo nhóm Giao Điễm ở hải ngoại được mời về Việt Nam tham dự đại hội Phật giáo quốc doanh toàn quốc lần thứ V được tổ chức tại Hànội vào ngày 4 và 5-12-2002. Trong bài tham luận, ông tuyên bố: Không có nhân quyền nào bằng quyền tự chủ để độc lập, tự cường để tồn tại. Không có tự do nào bằng tự do vượt ra khỏi sức ép của ngoại nhân. Với lập luận nầy, ông gián tiếp cho phong trào đấu tranh tự do tôn giáo của Phật Giáo Ấn Quang và các tổ chức khác ở hải ngoại là sai lầm, chỉ có giáo hội quốc doanh là đi đúng hướng.

Độc lập và tự cường của Hồng Quang là loại độc lập và tự cường của 2 triệu đảng viên Cộng Sản đối kháng lại ý niệm độc lập và tự cường của dân tộc Việt Nam vốn có trên bốn ngàn năm lịch sữ; trong đó, có một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, tám mươi năm giặc Pháp cai trị, vẫn chưa đến nổi qúa thê thảm như dưới chế độ Cộng sản ngày hôm nay. Các chế độ đó chưa đấu tố chết 178,000 người Việt Nam ở Miền Bắc, chưa chôn sống hàng trăm người như vụ Mậu Thân tại Huế, phẫm gíá phụ nử Việt Nam chưa qúa tồi tệ nhục nhả như bây giờ, chưa lấy quốc nạn tham nhủng làm lẽ sống cho đảng mình hưởng sự phè phởn trên thảm trạng nghèo đói của dân tộc và chưa có hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi trên những chiếc ghe thuyền mỏng manh, vượt đại dương tìm cái sống trong cái chết !

Mọi người từ lâu đã thừa hiểu nhóm Giao Điễm là cộng sản trá hình, pha lẫn với những Phật tử qúa khích, thiển cận ở hải ngoại mà công tác chính là đánh phá Vatican (vốn luôn đề cao quyền làm người của mọi dân tộc trên Thế giới và bênh vực kẻ bị áp bức trong bất cứ chế độ chính trị nào) , đánh phá Công giáo Việt Nam, gây đố kỵ, chia rẽ giửa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, lôi kéo khối Ấn Quang sáp nhập vào Phật giáo quốc doanh. Mục đích tối hậu của họ là tạo thành trì bảo vệ chế độ.

Năm 2004 Hànội mời TS Nhất Hạnh về nước để tiếp nối việc làm của Hồng Quang hầu chứng minh cho thế giới biết VN có tự do tôn giáo, vừa gây chia rẽ nội bộ Phật giáo ở trong nước và hải ngoại.



Nhận lời mời, ngày 12-01-2005, vừa bước xuống phi trường Nội Bài cùng với 100 đệ tử thiền sinh, Hànội cử một đội ngủ đông đảo tiếp đón sư ông, sư bà, có rắc hoa thơm trên lối đi, có phóng viên đến phỏng vấn và đưa lên mạng liền. Dịp nầy ông được đi giảng thuyết nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều người. Tại Thanh Minh Thiền Viện ở Sàigòn, Sư bà Chân Không được cử đến trước để thăm dò, nhưng Hoà Thượng Quảng Độ từ chối. Tại chùa Già Lam, được Trí Quang tiếp trong 40 phút, nội dung chuyện trò được giử kín.



Ông đã lưu lại VN trong 3 tháng để thuyết pháp và tổ chức trai đàn (cầu nguyện cho những vong linh đã nằm xuống trong cuộc chiến) nhưng bên trong ông đã nhận sứ mệnh vận động nhóm Phật giáo Ấn quang gia nhập vào Phật giáo quốc doanh của Hànội.

Dịp nầy, Ông cũng đã hướng dẫn 100 thiền sinh lên Lâm Đồng được Thầy Đức Nghi- Phật giáo quốc doanh- đón tiếp long trọng.



Thầy cao hứng tuyên bố: Rất tâm đắc với những tác phẫm của TS Nhất Hạnh. Thầy muốn khôi phục lại trường thanh niên phụng sự xã hội do TS thành lập vào năm 1964 trước đây. Pháp môn làng Mai thích hợp với đồng bào Việt Nam và Thiền sư là người yêu nước, có lòng tôn vinh đạo pháp và dân tộc ! Vì thế, thầy cúng dường tu viện Bát Nhã cho Thiền Sư ! Qúa đả !!!

Tháng 1 năm 2006 tại làng Mai ở Pháp, thầy Đức Nghi được Thiền Sư truyền đăng đắc pháp, trở thành thọ giáo làng Mai và là đệ tử ruột của Sư Ông Nhất Hạnh.

Đầu tháng 5-2007, Thiền Sư được Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết tiếp tại phủ Chủ tịch ở Hànội.

Ngày 7-7-2007, Ban Tôn Giáo chính phủ cho phép các tu sinh tu viện Bát Nhã được tu học theo pháp môn làng Mai. Tại đây có 250 tăng ni và 100 tập sinh xuất gia tu học và sinh hoạt thường xuyên gồm có các lớp tu học hàng tháng, hàng năm.

Ngày 18-6-2008, Thiền Sư lại lên tu viện Bát Nhã nói chuyện với các đệ tử với đề tài: Thầy căn dặn. Sau đó thầy Đức Nghi cắt đầu, cắt đuôi chỉ còn lại trong 5 phút và cho là Thiền Sư đã coi thường nhà cầm quyền và giáo hội Phật Giáo địa phương, vi phạm quy chế giáo hội Phật giáo Việt Nam (quốc doanh).

Ngày 29-10-2008, ông Nguyễn Thế Doanh, trưởng ban tôn giáo chính phủ đã tố cáo: Ba lần về VN, tăng thân làng Mai từ Pháp đã tấn phong giáo phẫm mà không thông qua GHPGVN, đề cập sai lệch vấn đề chính trị trong nước, đưa lên mạng một số tin tức sai sự thật tại VN, vi phạm luật pháp VN.

Ngày 13-11-2008, công an Lâm Đồng cưởng bách trục xuất 400 đệ tử xuất gia tu học theo môn pháp làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã bao gồm cả tu sĩ ngoại kiều và 40 ni cô tại Huế.

Sợ dư luận trong và ngoài nước lên án, ngày 19-11-2008, một hội nghị Phật giáo quốc doanh bất thường được tổ chức tại Sàigòn có sự hiện diện của ông Bùi Hữu Dược, vụ trưởng vụ PG từ Hànội vào, một đại diện PG trung ương và một đại diện PG Lâm Đồng, đã đưa ra quyết định như sau: Mọi người có thể tiếp tục tu học. Tăng thân làng Mai ai chưa có đầy đủ giấy tờ, cần bổ túc. Ai quậy phá sẽ xử lý. Về tài sản hai bên làng Mai và Bát Nhã tự giải quyết hay nhờ pháp luật can thiệp..

Ngày 27, 28 và 29 tháng 6 năm 2009, độ 200 thanh niên thuộc xã hội đen kéo đến thiền viện Bát Nhã đập phá nhà bếp và vất nồi, niêu, soong, chảo, gối ngồi thiền, mền chiếu, sách kinh ra bên ngoài . Điện, nước và điện thoại đều bị cúp.

Thiền Sư Nhất Hạnh, một con người dùng tâm địa và miệng lưởi của mình để tuyên truyền cho cộng sản ở hải ngoại hầu giựt sập chế độ VNCH, gây tang thương, đau khổ cho dân tộc VN đến ngày hôm nay. Sau năm 1975, ông chưa dừng tay lại, vẫn còn tìm cách triệt hạ GHPGVNTN bằng cách vận động cho giáo hội nầy sáp nhập vào giáo hội Phật Giáo quốc doanh.



Với một con người mặc áo cà sa nhưng đã phạm qúa nhiều tội lổi với dân tộc VN, với Đức Phật, với Đạo Pháp. Tội phản Phật, phản Đạo, phản Đời, phản Dân tộc rất khó rữa sạch. Một Jane Fonda phản chiến sang Hànội kết tình đồng chí và hổ trợ tuyên truyền cho cộng sản Bắc việt trong chiến tranh Việt Nam, cô không ăn chay, không tụng kinh ngày nào, nhưng nay đã tỏ ra hối hận vì hành động khờ dại trước đây của mình. Còn Thiền Sư chưa thấy có chuyển biến rỏ rệt.

Để chuộc lại lỗi lầm tày trời trước đây trong lúc gần đất xa trời, thiết tưởng Thiền Sư cần phải đi vận động các tổ chức nhân quyền, các nhà lập pháp, các tổ chức phi chính phủ trên thế giới đòi hỏi cộng sản Hànội hảy trả quyền tự quyết dân tộc lại cho nhân dân Việt Nam và phải làm ngay tức khắc bây giờ kẻo đã qúa muộn !. Đó là luật công bằng phải trả và phải thực hiện.

Nếu coi thường luật nhân qủa và thuyết luân hồi của triết lý Nhà Phật thì sợ rằng kiếp sau sẽ không còn được ở dưới mái nhà, dù chỉ là túp lều mái tranh, vách đất đơn sơ nơi thôn dã; chừng đó, coi kỳ lắm, thưa Thiền Sư !

Giống như Thiền Sư, hai ông Phan Khắc Từ và Nguyễn Ngọc Lan quậy nát Sàigòn trước năm 1975.

Ông Lan ra tờ Đối Diện đả kích chính quyền. Mỗi lần xuống đường biểu tình, ông mặc áo dòng đen có băng vải trắng, choàng qua vai, xuống ngực đề dòng chữ: Cấm bịt miệng dân. Đi bên cạnh ông là nử phóng viên trẻ, môi đầy son phấn; khi thấy Cảnh Sát đến, cô nầy dẫn ông vào đường hẽm, mất dạng.

Ông Phan Khắc Từ ở tại họ đạo Vườn Xoài. Ông tình nguyện làm phu hốt rác của Sở Vệ Sinh Đô Thành để có môi trường quậy. Ông thường tham gia chống đối chính quyền, đòi dân sinh, dân chủ !



Sau năm 1975, hai ông đều ra ứng cử dân biểu quốc hội khoá I và đắc cử. Cả hai cũng đều phá giới, nhưng ông Lan có xin phép Cha Giám Tỉnh Dòng (dòng Chúa Cứu Thế), còn ông Từ âm thầm xé rào !

Sau nầy ông Lan biết hối hận, ủng hộ phong trào đấu tranh trong nước. Vào dịp đám tang ông Nguyễn Văn Trấn (một cán bộ CS giác ngộ), ông đã chở Linh Mục Chân Tín đến nơi tang lễ, nhưng đã bị hai người đi xe đạp đạp vào xe Honda khiến ông bị té, đầu đập xuống lòng đường. Từ đó, ông sống âm thầm cho đến khi mản phần, cách đây vài năm.

Riêng ông Phan Khắc Từ, Vi Xi tặng ông một khách sạn. Hiện nay ông có nhiều quyền lực trong công giáo quốc doanh mà người ta thường gọi đùa tại Sàigòn hiện nay có hai Tòa Tổng Giám Mục, toà kia là toà tổng giám mục Vườn Xoài !

Trước mặt Thiên Chúa Toàn Năng, ông là một giáo gian bán Chúa, phản Đạo, phản Đời.

http://www.motgoctroi.com/DienDan/Dd...tHanh_laai.htm
cong_giao
Senior Member
Join Date: Oct 2010
Số Điểm: 661
Old 11-11-2011 , 05:01 PM     cong_giao est dconnect  search   Quote  


trước mặt thiên chúa toàn năng ăn cật và chia gái trinh jehoval Do Thái ông là người phản

ông có nhục hông hở Tâm Ma
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-12-2011 , 02:19 AM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
Vụ mâu thuẫn ở tu viện Phật-giáo Bát Nhã Vietnam
Phật-giáo Vietnam ngày nay....

"Ngày 20 tháng 9 năm 2009, một số thanh niên đến phá nhà cửa, ném đá, rải truyền đơn, vứt quần của các ni-cô xuống suối"


http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB...3%A1t_Nh%C3%A3


Tháng 6 năm 2008, thượng tọa Thích Đức Nghi đổi ý, không bảo lãnh các nhà sư có quốc tịch nước ngoài và không muốn tu viện Bát Nhã tu tập theo pháp môn Làng Mai nữa. Thượng tọa muốn tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai phải rời Bát Nhã.[1]

Ngày 08 tháng 08 năm 2008, công an địa phương ra công văn trục xuất 397 tu sinh khỏi tu viện vì họ không còn có sự bảo lãnh cư trú của tu viện[5]. Nhóm tăng ni sinh phái Làng Mai tiếp tục gửi thư kiến nghị đi các nơi.[6]

Ngày 19 tháng 11 năm 2008, một cuộc họp ở thành phố Hồ Chí Minh với sự tham dự của đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban tôn giáo chính phủ đưa ra quyết định ủy quyền cho ban trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng giải quyết. Giáo hội Phật giáo ở Lâm Đồng nói họ tạm thời bảo lãnh cho các vị tăng ni sinh này ở lại cho đến khi có giải pháp sau cùng.[6]

Ngày 27 tháng 6 năm 2009, viện chủ Thích Đức Nghi đã cho cắt điện và nước sinh hoạt[6][4]. Hai ngày sau, một đám người ném đá và phân súc vật vào đại diện của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng đến điều tra vụ việc.[4]

Đầu tháng 7, đám đông đã đến tấn công khu tu viện với búa, đập vỡ cửa sổ, làm hư hại tòa nhà và hăm dọa những người trong đó. Công an và dân quân địa phương có mặt tại hiện trường để quan sát nhưng không can thiệp với lý do đây là vấn đề nội bộ của tu viện[6]

Theo tin của hãng AP ngày 1 tháng 8, chính quyền nói rằng vụ việc là do sự đối đầu của hai nhóm nhà sư trong tu viện, và theo lời những người ủng hộ Thích Nhất Hạnh, vài người của Thích Đức Nghi và dân địa phương thỉnh thoảng đã quấy nhiễu họ trong suốt năm qua. Cũng theo hãng tin này, chính quyền địa phương nói rằng viện chủ Thích Đức Nghi đã yêu cầu cắt điện và rằng điện đã có lại từ giữa tháng 7, nhưng theo một nhà sư ở tu viện, đến ngày 1 tháng 8 vẫn chưa có điện lại.[4]

Ngày 20 tháng 9 năm 2009, một số thanh niên đến phá nhà cửa, ném đá, rải truyền đơn, vứt quần áo của các ni cô xuống suối.[7]

Ngày 27 tháng 9 năm 2009, một nhóm đông người đến đập phá và đuổi những người trong tu viện ra ngoài. Những người bị đuổi phải đứng dưới mưa trong vài giờ. [8]

Ngày 30 tháng 9 năm 2009, Thích Nhất Hạnh gửi một lá thư cho chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết kêu gọi che chở cho tăng thân sau vụ Bát Nhã. Vì không có hồi âm, ngày 2 tháng 10 năm 2009, ông lại gửi một lá thư cho nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước kêu gọi họ "kịp thời lên tiếng để che chở cho 400 người trẻ đang bị bao vây và đàn áp tại chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc."[3][9]

Hoang Hung, một nhà báo ở thành phố Hồ Chí Minh đã khởi xướng thỉnh nguyện thư yêu cầu những nhà lãnh đạo của Việt Nam cho điều tra độc lập và cho truyền thông đưa tin về vụ mâu thuẫn.[9] Theo ông Hung, hơn 200 người đã ký vào thỉnh nguyện thư yêu cầu chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội Việt Nam phải can thiệp vụ Bát Nhã[9]. Trong những người ký tên có nguyên phó chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh Lê Hiếu Đằng

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB...3%A1t_Nh%C3%A3
lenin1975
Senior Member
Join Date: Jul 2011
Số Điểm: 789
Old 11-12-2011 , 04:11 AM     lenin1975 est dconnect  search   Quote  
CÁI CHẾT CỦA MỘT THIỀN-SƯ
(nguyen chau)

http://dankeu.com/~/goto/nguyen-chau...n-su-1375.aspx

CÁI CHẾT CỦA MỘT THIỀN-SƯ ....
GOODBYE TNH
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-12-2011 , 01:36 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
NỮ ĐỆ TỬ TRÍ TÁNH VÀ HẬU QUẢ THIỀN CUẢ NHẤT HẠNH !


Đến đây, thiết tưởng tôi cũng cần phải mở ngoặc, để nói rộng thêm về những đệ tử cuả Nhất Hạnh. Ngoài nàng Cao Ngọc Phượng, pháp danh Chân Không, được phong làm thị giả, đã được thầy chiếu cố tận tình và thương yêu thường xuyên, ân ái ra riết nhiều nhất. Còn các nữ đệ tử khác thì chỉ được ông thưởng thức qua loa, trong những lúc ngọc thể cuả ni sư Chân Không bất an, hoặc những khi nàng ăn trầu hay thọ bịnh sốt xuất huyết mà thôi !...

Dù vậy, trong số nữ đệ tử ”xơ cua” ấy, cũng có một nàng đã được thầy yêu thương gần bằng Cao Ngọc Phượng. Đó là cô Hằng, vốn là vợ cuả nhà nhạc học (musicologue) Trần Quang Hải, con trai cuả nhạc sĩ Trần Văn Khê, cháu gọi nhạc sĩ Trần Văn Trạch bằng chú. Cô Hằng cũng là một phụ nữ trẻ tuổi, nhan sắc mặn mà, đang sống chung hạnh phúc với chồng, sau khi gặp Thích Nhất Hạnh, và chắc đã được sư phụ kín đáo truyền ”tâm ấn” vào đúng tử huyệt, cho nên bỗng nhiên sinh ra ngưỡng mộ thầy hơn ngưỡng mộ chồng. Cô ta nhất định lôi chồng ra tòa đòi ly dị với lý do ”thù ghét chồng”!
Sở dĩ cô Hằng đã làm như thế chỉ cốt tạo cớ để được ly dị, đồng thời tránh cho Trần Quang Hải khỏi phải trợ cấp hằng tháng theo luật định cuả nước Pháp. Hành động cuả cô Hằng, trong con mắt cuả người bàng quan, xem ra có vẻ bất bình thường. Nhưng, thực ra điều ấy càng minh chứng cụ thể rằng cô nàng đã say mê Nhất Hạnh quá lắm rồi. Say mê đến mức người đàn bà đáng thương kia đã phải đem người chồng cục mịch hiền lành với nhà sư tinh ranh qủi quái, đầy ma lực quyến rũ, đặt lên bàn cân tình cảm, để dứt khoát chọn lựa, không thương tiếc vấn vương gì nưã. Sự dứt áo ra đi cuả cô Hằng vẫn được che đậy kín đáo dưới danh nghĩa tu hành, và lý tưởng cao cả là: Theo thầy Nhất Hạnh học thiền để mau chóng đạt thành chánh quả. Trong thời gian đó, đồng tu với cô Hằng còn có một thiện nam tên Nguyễn Văn Hương, pháp danh Thanh Hương.

Tôi không hiểu Nhất Hạnh đã dạy Thiền cách nào, và thực hành thiền ra sao, mà chỉ trong một thời gian không lâu sau, nữ đệ tử Trí Tánh (cô Hằng) và nam đệ tử là Thanh Phương đều lâm bịnh ngặt nghèo. Anh chàng Thanh Hương đang là một thanh niên bình thường, khỏe mạnh, bỗng nhiên bị chứng ”hoạt tinh”, ngày đêm tinh khí cứ nhỏ giọt ra hoài, ướt át như đứa trẻ đái dầm, khiến anh ta trở nên gầy ốm như con mắm và nước da xanh mét như người bị bịnh sốt rét rừng kinh niên. Về sau, nhờ sớm tỉnh ngộ, rứt ra khỏi màng lưới tu thiền cuả Nhất Hạnh, Nguyễn Văn Hương đã đi bác sĩ chưã trị cho đến lành bịnh, rồi lấy vợ, sống trở lại cuộc đời bình thường như muôn vạn thanh niên khác.
Riêng cô Hằng, pháp danh Trí Tánh, theo lời thầy Nhất Hạnh dạy thiền, mỗi ngày toạ thiền suốt 12 tiếng đồng hồ, rồi khi cười lúc khóc bất thường. Khi thôi cười, thôi khóc là cô ta lại nói luôn mồm, không bao giờ ngớt miệng như cái máy hát cà lăm. Như vậy, hiển nhiên cô Hằng cũng đã mau chóng mắc bịnh thần kinh rất nặng, vô phương chưã trị. Chẳng bao lâu sau, người ta thấy cô Hằng bỗng hết cười, khóc, không còn nói năng lăng nhăng nữa, mà lại quay sang chửi ruả nặng nề vợ chồng Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng một cách rất có bài bản... Phải chăng đó là hiện tượng ghen tương, hay cô Hằng đã bị ”tầu hỏa nhập ma”, và trở nên người đàn bà mắc chứng bịnh cuồng dâm (nymphomanie, maladie de volupté)?!

Sau đó, người đàn bà bị bịnh đáng thương này đã rời bỏ Phương Vân Am (vùng Champigny, ở Pháp) lên Paris, chui vào Linh Sơn Tự Viện, ở thành phố phụ cận Joinville, hiệp cùng dâm tăng Thích Huyền Vi, làm nhiều điều tục tĩu, dâm loạn ngay giữa Phật Đường, công khai trước mắt bá tánh Phật tử. Vì thế, dư luận cộng đồng người Việt tị nạn ở Paris đã trở nên cực kỳ sôi nổi. Thiên hạ bàn tán sôn sao.
Cuối cùng, truyền đơn tố khổ cặp dâm tăng Huyền Vi và dâm ni Trí Tánh, thuộc tự viện Linh Sơn đã được rải đầy khắp nơi đông đảo quần chúng VN cư ngụ, như khu quận 5 (Maubert Mutualité) và quận 13 (Phố Tàu) ở Paris...

2007-11-20 04:51:06
(Dang van Nham)
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-12-2011 , 05:04 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
NHẤT HẠNH KHÔNG CÒN LÀ MỘT TĂNG SĨ NỮA!



Như trên đã chứng minh, một khi Nhất Hạnh đã hành động theo kiểu ”gourou”, thì đương nhiên không còn tư cách tăng sĩ, hay Phật Giáo đồ VN nữa! Tại sao?
Trước hết, từ mấy chục năm nay, ở Pháp, cộng đồng người Việt tị nạn ai cũng biết, Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng đã ăn ở với nhau như vợ chồng. Trong thời gian đầu, Nhất Hạnh còn giữ thái độ lưng chừng, không dứt khoát về vấn đề hôn nhân, e gây tổn thương cho danh nghĩa Thượng Toạ, khó kiếm ăn. Nhưng về sau, trước áp lực và sự đốc thúc mạnh mẽ cuả Cao Ngọc Phượng, kể cả thái độ đe doạ ”lấy tây”, [nên biết, lúc bấy giờ đã có dư luận xì xào về vụ Cao Ngọc Phượng ”cặp kè” với ông tây phó thị trưởng thành phố Troyes], khiến Nhất Hạnh đành phải chấp nhận tổ chức một lễ ”ra mắt nhạc mẫu” rềnh rang vào khoảng năm 1984, ở làng Hồng. Cuộc lễ này được coi như là một màn tuồng cải lương hi hữu. Đồng bào cư ngụ ở Paris và các vùng phụ cận đã kéo nhau đi xem rất đông. Trong lễ ra mắt hôm đó, đã có sự hiện diện cuả bà cụ thân mẫu ”cô dâu” Cao Ngọc Phượng, mới từ VN qua, đóng vai chủ hôn, tác thành cho... đôi trẻ: Thông Huyền Bồ Tát và Chân Không Quan Âm!
Khi làm lễ, người ta thấy tế tử Nhất Hạnh còn mặc áo Đại Hồng cuả thầy chuà, qùi lậy ra mắt nhạc mẫu. Hành động như thế, tức thị Nhất Hạnh đã bôi bẩn công khai lên ”y bát” thanh tịnh cuả nhà Phật, và ngạo mạn coi hàng tăng lữ VN ngày nay ở các nơi chẳng ra gì!
[GHI CHÚ THÊM: Mới đây, ngày 28.2.02, nhân dịp đến North Hills, Cali., tôi đã gặp GS Trần Quang Thuận, một cư sĩ nổi tiếng trong giới PG. Trong cuộc mạn đàm, tình cờ chúng tôi đã đề cập đến vụ vợ chồng Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng. Nhưng, ông Thuận khẳng định: Theo ông nghĩ, hai người này không phải vợ chồng. Tức thị họ là những người tu hành thanh tịnh, giữ giới nhiêm trang (?!). Vậy, xin ghi vào đây để bạn đọc và các giới PT suy xét].



Hiện nay, cặp Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng đã có 2 người con, mệnh danh là ”Tiên Đồng, Ngọc Nữ”: Một trai, tên Trí Nhật, và một gái, tên Trí Nguyệt, đều đã đến tuổi thành niên, và nghe đâu người con gái đã rời tổ ấm, đi theo một người Mỹ da đen. Khi chợt nghe tin trời đánh này,”Chân Không Quan Âm” Cao Ngọc Phượng, liền lăn đùng té ngửa ra, ngất xỉu. Lập tức, mấy bà vãi non và mấy ông sư mầm trong làng Hồng lật đật chạy đến lay gọi: "Bớ sư mẫu mau mau lai tỉnh!...Bớ sư mẫu...!”. Rồi có người còn mượn Phật ngôn khuyên:”Ới sư mẫu ơi, Phật đã dạy, đối với kẻ đã xuất gia, vạn vật đồng nhất thể, thì màu da khác nhau cuả giống người còn có nghĩa lý gì đâu mà sư phụ phải đau lòng đến vậy! Hu!...Hu!...”
Sau khi sanh, vợ chồng Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng đã giao con cho một cặp vợ chồng đệ tử ruột thịt là anh Minh chị Sao nuôi dùm. Về sau, khi những đứa trẻ đã khôn lớn, không còn phải cho bú mớm, ẵm bồng nưã, để che mắt thế gian, Nhất Hạnh- Cao Ngọc Phượng giả bộ loan truyền, bày tỏ lòng thương yêu trẻ thơ, giàu tình bác ái, đem một số trẻ nít, con cuả mấy đệ tử cật ruột, về nuôi ở Làng Hồng. Trong số đó dĩ nhiên lẫn lộn cả 2 đứa con cuả Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng và đứa bé gái, tên Minh Tâm, con cuả cặp vợ chồng nhà nhạc học Trần Quang Hải và cô Hằng, pháp danh Trí Tánh... (Nên biết, khoảng năm 1977, cô Hằng còn làm chiêu đãi viên cho một tiệm ăn khá sang, tên ”La Route Mandarine” (Thiên Lý Lộ), ở quận 6 (Paris 6è).

Theo lời dạy cuả đức Thế Tôn, người Phật Giáo đồ phải lấy lòng từ bi, bác ái làm gốc. Nhưng xét trong cuộc sống đối nhân xử thế hằng ngày cuả cặp Nhất Hạnh- Cao Ngọc Phượng, đã quen lặn hụp trong vũng bùn nhục dục hôi tanh, ghê tởm, nên Nhất Hạnh đã chứng tỏ chẳng cần biết đến nhân nghĩa là gì. Thậm chí, khi cần bảo vệ quyền lợi, Nhất Hạnh cũng dám hành động cạn tào ráo máng đáo để chẳng khác gì những phường bạc ác vô luân. Xin đơn cử một vài thí dụ điển hình:
- Trước hết là chuyện một em bé gái tên Hương, chẳng may đã bị cụt chân vì chiến tranh ở VN. Khi ra hải ngoại, lập Ủy Ban Tăng Ni Chống Chiến Tranh VN, Nhất Hạnh đã dùng cái chân cụt cuả em Hương như một thứ võ khí đánh phá miền Nam. Đồng thời còn xử dụng em bé gái đáng thương ấy như một thứ ”cò mồi” để xin tiền gây qũy cho phong trào phản chiến. Nhờ đó mà tiền cuả các hội đoàn từ thiện và của tư nhân giàu lòng bác ái khắp nơi trên thế giới, đã đổ vào túi Nhất Hạnh đầy nhóc. Nhưng, tội nghiệp em bé kia đâu có được hưởng đồng xu cắc bạc nào!
Sau năm 1975, Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng xây tổ uyên ương ở làng Pháp Fontvannes, cách tỉnh Troyes khoảng 14 CS, lại nhân danh em Hương xin tiền trợ cấp cuả chánh phủ Pháp. Chỉ ít lâu sau, Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng than nghèo, rồi lấy cớ đó bỏ rơi luôn người con gái tàn tật đáng thương kia cách tàn nhẫn như vất miếng chanh đã vắt hết nước!
- Kế đến là một chuyện mới xảy ra tại làng Hồng. Những ai đã từng đặt chân đến làng Hồng ở Loubes-Bernac, khoảng những năm 1982 –83, chắc còn nhớ, nơi đây vốn có một người đàn ông, không ai biết tên thật là gì, chỉ nghe gọi là”Anh Cả”, nghe đâu đã từng là nhân tình của phu nhân thiền sư (?) và là trưởng đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Sài Gòn năm xưa.
Vì làng Hồng cuả Nhất Hạnh nằm cách thành phố cuả tỉnh Bordeaux đến 85 cây số, nên mỗi khi có khách đến viếng làng, Anh Cả là người phải lái xe ra Bordeaux đón. Chẳng dè một hôm, không may tai nạn xe cộ xảy ra. Anh Cả bị què chân. Trước tình cảnh đó, nếu là con chó, đối với người Tây phương, họ cũng chăm lo săn sóc con chó cuả họ cách ân cần, và đưa đi bác sĩ thú y chữa trị. Nhưng tội nghiệp thay cho Anh Cả! Mặc dù anh là người, không phải là chó, mà anh lại có công phục dịch cho vợ
chồng Nhất Hạnh- Cao Ngọc Phương, dĩ nhiên công lao ấy quan trọng hơn, và gía trị hơn con chó rất nhiều, nhưng vợ chồng Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng đã đối xử với anh ta vô cùng tàn nhẫn. Chẳng những Anh Cả đã không được bồi thường đồng xu cắc bạc nào, lại còn bị đuổi ra khỏi làng Hồng, kèm theo cái tội danh trên đầu là ”ăn cắp xe”, để cặp vợ chồng Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng khỏi phải chịu trách nhiệm dân sự. Vì chiếc xe vốn không đóng bảo hiểm!...



Ngoài những hành động dâm bôn, cư xử tàn ác, cạn tào ráo máng như đã kể trên, cặp Nhất Hạnh- Cao Ngọc Phượng còn phạm đủ mọi giới cấm nặng nề, như chủ trương kinh tài công khai, và thủ đắc khá nhiều bất động sản, kể cả ruộng đất. Năm 1982, sau khi bỏ Troyes, cặp nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng tậu một sở đất rộng lớn ở Loubès-Bernac, cách Bordeaux khoảng 85 cây số, lập ra Làng Hồng, sau đó, lập thêm ra một khu làng mới nữa, ở Dieulivol, cách làng Hồng khoảng vài CS, rồi tới khu làng thứ ba ở Thénac, gồm tất cả 7 xóm, với nhiều nhà cưả, cho cả nam lẫn nữ, đông đúc đến khoảng 130 người, cư ngụ chung đụng, để thâu hoạch lợi tức, hoàn toàn trái hẳn với các điều luật ghi trong ”Thanh Qui Bách Trượng” cuả nhà Phật!
Đến đây, thiết tưởng chẳng cần phải là người học Phật uyên bác, bất cứ một Phật tử nào đã từng đi chuà, với trình độ giáo lý phổ thông, cũng đều biết, trong kinh Mahãparinibbãnasutta (Đại Niết Bàn), đức Thế Tôn đã dạy Đại Đức Ananda rằng:”Khi Như Lai nhập diệt còn có kinh luật làm thầy”.
Trong 5 bộ kinh luật đó, gồm tới 21 ngàn pháp môn, bắt buộc những kẻ đã cạo đầu đi tu, sống đời tăng sĩ, phải tuyệt đối giữ gìn nghiêm cẩn. Trong số 21 ngàn pháp môn ấy, xét cho kỹ, ta thấy, chẳng có pháp môn nào cho phép một tăng sĩ, như nhất Hạnh, hay một tỳ kheo ni như Chân Không (Cao Ngọc Phượng) được phép ăn nằm với nhau dưới một mái chuà, và ôm ấp nhau trong bộ aó cà sa nâu sòng thanh tịnh cuả nhà Phật.



Nên biết, người tăng sĩ tu hành tinh tấn, trước là tự giải thoát cho bản thân mình, sau đó dùng đức hạnh ấy mà hoá độ chúng sinh. Nếu tăng chúng không chịu hành trì giới luật, tha hồ ngả mặn, mặc sức thi đua thoả mãn đủ mọi thứ dục vọng thấp hèn như thế nhân thường tình, thì PG sẽ không tránh khỏi bị sa đoạ, và họa diệt vong. Như vậy, ta có thể hiểu, Phật pháp tồn vong đều do nơi giới tỳ kheo, tăng sĩ, chứ không bởi một động lực ngoại lai nào khác!
Vẫn trong bộ tạng kinh Đại Niết Bàn, bộ Khtddakaikãya Itivuttaka, bài kinh Parihãnasutta, đức Thế Tôn còn khuyến cáo giới tỳ kheo không nên tạo tác chuà chiền, hay tư thất nguy nga đồ sộ. Tất cả những thứ đó chỉ gây trở ngại cho sự tu hành mà thôi. Đồng thời ngài còn ví người tu hành theo đạo Phật chẳng khác nào như con chim chỉ có cặp cánh không mà thôi. Vì vậy, dù cho loài chim bay trong không trung bao năm vẫn không hề để lại một dấu vết gì trên không trung cả!
Ngoài ra, kinh Gita còn nói rõ: ”...Một tăng sĩ chân chính phải lo tu hành, làm chủ chính thân tâm cuả mình, để cầu giải thoát, chớ đâu cần gì phải lôi kéo đệ tử cho đông, xây cất lâu đài, nhà cưả cho nguy nga, đồ sộ, và coi đó như một thành quả, để hãnh diện phô trương và tự hào với thiên hạ.Phô trương như thế chứng tỏ thực chất cuả kẻ tu hành kia rất kiêu căng, ngã mạn. Vậy làm sao giải thoát cho được?!”.




2007-11-20 04:47:44
(ĐVN)
lenin1975
Senior Member
Join Date: Jul 2011
Số Điểm: 789
Old 11-12-2011 , 11:40 PM     lenin1975 est dconnect  search   Quote  
http://dankeu.com/~/goto/nguyen-chau...hanh-1374.aspx

NOI VOI THICH-NHAT-HANH

(nguyen-chau)
stalin2nd
Member
Join Date: Jul 2011
Số Điểm: 450
Old 11-14-2011 , 08:14 AM     stalin2nd est dconnect  search   Quote  
Nhìn hình các sư quốc doanh
Viếng xác Hồ tặc lòng nầy xót xa
Thương cho Phật Giáo quê nhà
Gặp thời mạt Pháp quỷ ma hiện hình
Núp vào cửa Phật lộng hành
Tăng,Ni phá giới tôn thờ Hồ tinh
Cúi đầu ngậm miệng lặng thinh
Độc Tài Đảng Trị mặc tình hung hăng
Ngày xưa quy Phật quy Tăng
Ngày nay quy Đảng quy thằng Cộng nô
Tam Hợp Lễ Hội tháng Tư
Phật Giáo Quốc Tế để lừa thế gian
Tăng Ni được Đảng cưu mang
Nói năng thuyết giảng xóa tan hận thù
Đạo Phật là đạo Từ Bi
Mặc cho thế sự chuyện gì xảy ra
Nhân dân đã có Đảng lo
Tu không theo Đảng đảng cho vào tù
Chư Tăng hải ngoại ngày xưa
Bảy lăm tị nạn nay về Việt Nam
Lọt vào Ma chướng Già Lam
Làm cho Phật Pháp vào đường Vô Minh
Đứng sau có Đảng ẩn mình
Thời cơ móc nối Cao Tăng vào vòng
Mới hay “Sắc Sắc Không Không’
Bao năm tu niệm lọt vòng Kim Cô
Nguyện cầu sám hối các Ôn
Ôn Chủ Tịch Nước (NMT) ,mở lòng từ tâm
Sám hối các bậc Cao Tăng
Trở về Dân Tộc băn khoăn đợi chờ
Đứng chung cùng Phật Giáo Đồ. . . .

Trần Bửu Hạnh
Ngày 8 tháng 4 năm 2008
paris101
Member
Join Date: Oct 2011
Số Điểm: 578
Old 11-14-2011 , 03:37 PM     paris101 est dconnect  search   Quote  
Nhà Sư
(Hồ Xuân Hương)

Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Giọng hì, giọng hí, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà!


Kiếp Tu Hành
(Hồ Xuân Hương )

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo




King James * Matthew 24:11
And many false prophets shall rise, and shall deceive many.
(có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người )
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-15-2011 , 02:50 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
VĂN TÀI CỦA NHẤT HẠNH

Về văn chương, vào năm 1966, trong tuyển tập truyện ngắn của Hồ Hữu Tường, Tam Ích, Phạm Công Thiện..., người ta thấy có đăng truyện ngắn “Ảo Tượng” của Nhất Hạnh, dưới bút hiệu Thiều Chi. Truyện này viết về cái ảo tượng hiện trong gương và ngay giữa cuộc sống của một cô thiếu nữ tên Hương. Ảo tượng (vision), - chớ không phải ảo tưởng (illusion) đâu nhé!- thường là điềm báo trước chuyện sẽ xảy ra trong một tương lai gần hay xa. Thực ra, ý tưởng đó chẳng mới lạ gì. Vật sự ảo tượng còn gọi là khải tượng đã được nhà văn Guy Breton, tác giả bộ truyện ”Histoires d’Amour de l’Histoire de France” (Tình Sử của Lịch Sử nước Pháp), đã được nói đến nhiều trong trong cuốn “Histoires Extraordinaires” (Truyện Dị Thường). Hơn thế, đọc truyện Ảo Tượng, người ta còn thấy Nhất Hạnh đã “ăn cắp” nhiều vật sự trong truyện ngắn “Le Miroir” (Tấm Gương) của nữ sĩ Agatha Christie, rất nổi danh về tài viết truyện trinh thám, mà giới học giả Anh nói riêng, thế giới nói chung, đã tặng cho danh hiệu “La Reine du Crime” (Nữ Hoàng Án Mạng).
Riêng truyện “Le Miroir” đã được dịch ra Pháp ngữ và đã đăng trong tuyển tập truyện ngắn do nhà “Le Masque” xuất bản. Nên biết, các sách của nhàø xuất bản “Le Masque” đều in cái phù hiệu (Icône/logo) cái mặt nạ đen có cọng lông ngỗng (tượng trưng cho ngòi bút) in xuyên qua, trên bìa màu vàng. Lại nữa, truyện ngắn “Le Miroir” còn được quay thành phim dành chiếu trên TV (loại téléfilm) đã do nữ tài tử quốc tế Jane Seymour thủ vai chính.

Mặt khác, thiết tưởng cần phải kể thêm về chuyện tủ sách của Nhất Hạnh, hồi còn ở làng Fontvannes, có chưng quyển “CẬU CHÓ” của Trần Đức Lai, chung với những tác phẩm táo bạo về tình dục của Túy Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương, Nguyễn Đình Toàn v.v... Lúc bấy giờ cô nàng CN Phượng chưa xuống tóc qui y gắn bó theo thầy, nên nhiều người có thể cho rằng mấy quyển sách thuộc loại “dâm thư” đó dành riêng cho nàng Phượng. Nhưng trong số vẫn có nhiều người đã nghĩ rằng, biết đâu trong lúc con lợn lòng nổi loạn, đòi ăn cám, thì NH còn cần gì phải giữ gìn, kiêng khem, cứ đọc truyện dâm tình để tăng thêm hứng khởi. Nếu không, thì tại sao ít lâu sau nàng Phượng đã phải ”nhập cốc “ đến 2 lần, để cho cặp Tiên Đồng, Ngọc Nữ được ra đời?!
Riêng ni sư Chân Không (tức CN Phượng), mỗi khi đăng đàn thuyết pháp, nàng cũng hay đề cập đến vấn đề dưỡng nhi, gia chánh, dạy dỗ mấy chị em ta về cách sanh đẻ, và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh như thế nào. Điều này khiến cho nhiều người không khỏi thắc mắc, thầm tự hỏi:
- ” Ủa cái bà ni sư này, nếu không chửa đẻ bao giờ, sao mà rành cái vụ kín đáo của đàn bà đến như vậy?!”


2007-11-20 05:00:01
(ĐVN)
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-15-2011 , 05:02 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
NHẤT HẠNH VÀ NGƯỜI YÊU CAO NGỌC PHƯỢNG


Trong thời gian này, người tình cuả Nhất Hạnh là nàng Cao Ngọc Phượng, nữ sinh viên khoa học, em cuả ca sĩ Cao Thái, hãy còn ở VN, để tiếp tục hoạt động nằm vùng, phản chiến, cùng với nhà sư Thích Thanh Văn, và một số đồng chí khác nưã. Trong cuộc tấn công bất ngờ cuả CS vào Đô Thành, trong dịp Tết Mậu Thân (1968), Cao Ngọc Phượng cùng với Thích Thanh Văn, đả hội họp với một số cán bộ CS tại một điạ điểm bí mật ở Thủ Đức, để chuẩn bị kế hoạch phối hợp công tác phát động quần chúng đồng khởi trong Đô Thành. Nhưng chẳng may, cuộc tấn công Tết Mậu Thân, ngay từ giây phút mới triển khai, đã quờ quạng, nên không đủ mạnh, để mở đường cho kế hoạch xua quần chúng xuống đường, ủng hộ quân giải phóng, cho CS cướp chính quyền theo đúng kế hoạch cuả cục R, do Mười Cúc Nguyễn Văn Linh và Trần Bạch Đằng đảm trách.

Vì thế, cuộc hội họp cuả Cao Ngọc Phượng và Thích Thanh Văn với cán bộ CS ở Thủ Đức đã bị bại lộ. Tin này đã được cấp báo cho tiểu khu Gia Định. Tiểu khu trưởng không dám đối phó. Tin truyền tới Biệt Khu Thủ Đô. Các vị quan to súng ngắn ở BKTĐ nghe nói đến thầy chuà, tự nhiên cũng lên cơn sốt rét. Trong khi đó dinh Độc Lập đã như rắn mất đầu. Thiệu đang kẹt ở quê vợ. Nguyễn Cao Kỳ loay hoay muá máy một mình. Cuối cùng phải nhờ đến tay trung úy Vũ Ngọc Chi, một thủ hạ thân tín cuả tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, thuộc An Ninh Quân Đội, dám không coi bọn giặc thầy chuà đáng kí lô nào, đã đem lính đến tấn công, tung lựu đạn giải tán. Kết quả một số cán bộ CS chết, riêng nàng Cao Ngọc Phượng, người tình yêu dấu cuả Nhất Hạnh bị thương, cùng với Thích Thanh Văn.
Tuy sự thể đã bị phát hiện, với đầy đủ bằng chứng tỏ rõ Cao Ngọc Phượng và Thích Thanh Văn đã nằm vùng cho CS, nhưng bạn đọc còn lạ gì lúc bấy giờ thế lực chính trị ở miền Nam đã được qui định theo trật tự ưu tiên: ”Nhất đĩ, nhì sư, tam cha, tứ tướng”. Thế lực cuả đàn bà, nhất là hạng đàn bà biết đem cái gia tài cuả mẹ và tiết trinh để làm nấc thang danh vọng, càng đắc thời đắc thế vô cùng. Trong trời đất, chẳng cứ gì những tên dân ngu cu đen, thậm chí đến bậc cao tăng, tu hành tịnh khẩu cho đến kẻ anh hùng cái thế danh trấn giang hồ như Từ Hải cũng còn”dại gái”, đến nỗi phải chết đứng giưã trận tiền...Vì thế cho nên Cao Ngọc Phượng và Thích Thanh Văn vẫn không hề bị bắt giam và không bị truy tố gì hết!



Trong khi đó, ở bên Pháp, nóng lòng cho tính mệnh cuả người yêu, Nhất Hạnh đã sai Uỷ Ban Tăng Ni Hải Ngoại và Phong Trào Phản Chiến phải cấp tốc tiến hành mọi kế hoạch đấu tranh để đem cho kỳ được Cao Ngọc Phượng sang Paris, đoàn tụ với chàng. Nên biết, lúc này, chiếc ghế tổng thống 3 chân cuả Thiệu đang lắc lư, lung lay dữ lắm. Phần vì giặc ngoài, thù trong, Nguyễn Cao Kỳ ngồi sát nách luôn luôn kiếm chuyện tạo áp lực, nên Thiệu chẳng những đã sợ Mỹ, lại còn sợ cả đám giặc thầy chuà hung hãn, qủi quyệt. Đám giặc trọc đầu nằm vùng ấy đã từng tạo phong trào phản chiến rầm rộ ở ngay trên đất Mỹ, và khắp nơi hải ngoại, lại còn có khả năng thưà sức vận động đám quần chúng ngu dại, mù quáng trong nước, nổi lên chống phá chế độ Diệm không Diệm cuả Thiệu, nên Thiệu sẵn sàng nhượng bộ cho phép Cao Ngọc Phượng được thơ thới hân hoan, bay sang Paris với sư phụ mà cũng là người tình cưng quí cuả nàng!
Sang tới Paris, Cao Ngọc Phượng, đã được Nhất Hạnh chính thức nhận làm đệ tử ruột, ban cho pháp danh Chân Không, đóng vai ”thị giả”, ngày đêm được hầu hạ, đầu ấp tay gối bên thầy, dưới một mái nhà, vưà la Phật Đường, là trụ sở đấu tranh cuả Uỷ Ban Tăng Ni và Phong Trào Phản Chiến.



Thoạt tiên Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng lập ra một trung tâm đón tiếp người tị nạn ở Troyes, nhưng hằng ngày vẫn ở Paris, và cùng trú ngụ chung trong một mái nhà với vợ chồng Võ Văn Aí, nhà văn Chinh Ba và đại đức Thể Tịnh Huỳnh Bá Yết Dương. Đến lúc này, Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng đã không còn nể nang, kiêng dè gì dư luận cuả cộng đồng người VN tị nạn nưã. Họ đã ra mặt công khai, chính thức ăn ngủ với nhau như vợ chồng thiệt sự dưới một mái nhà có bày ra một chánh điện để thờ Phật. Trong thời gian ái ân mùi mẫn, Nhất Hạnh thường giả bịnh, kêu rên đau ốm, mệt mỏi nọ kia, để có cớ rút vào trong chánh điện thờ Phật, nằm chờ... Trong khi đó, Cao Ngọc Phượng mượn cớ phải hầu hạ, săn sóc thầy trong lúc đau yếu, bịnh hoạn dây dưa, không dứt, nên cũng rút luôn vào ở trong chánh điện cả ngày lẫn đêm. Theo nhận thức cuả cặp Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng, tức ni sư Chân Không, trong tranh cũng như trên mặt các bưcù tượng, dù tạc bằng gỗ, bằng xi măng, đẽo bằng đá, hay đúc bằng đồng, thì ông Phật nào cũng nhắm mắt hết thảy. Nếu có ông nào còn mở mắt, thì khi trông thấy các hành động dâm loạn cuả hai kẻ đệ tử đốn mạt này chắc cũng phải nhắm mắt lại mà thôi!
Đầu năm 69, Cao Ngọc Phượng sang Paris sống du dương mùi mẫn với người yêu, dưới dạng ni cô và thầy chuà, nhưng chỉ vài tháng sau thì cô ả mang bầu. Cái bụng cuả ni cô lúc đầu còn lú nhú trông dễ thương, nhưng lâu dần càng ngày càng thêm chương phình lên cách lộ liễu quá đáng. Muốn giấu cái bụng chửa thè lè cuả một bà vãi đầu trọc tếu, trông rất khó coi, nàng bèn rêu rao, hô hoán lên là đến muà An Cư Kết Hạ, nàng phải Nhập Hạ.

Cũng may cho nàng, trong giới pháp cuả Phật Giáo, hằng năm cứ đến ngày rằm tháng Tư Âm Lịch là khởi đầu muà An Cư Kết Hạ. Lúc đó đúng là thời kỳ cái bụng cuả nàng đã phưỡn ra trông rất kỳ cục rồi!
Theo giáo pháp, bắt đầu muà nhập Hạ, chư tăng phải tập họp để thực hành ”yết ma kiết giới”, qui định ranh giới cuả sự cư trú, trong 3 tháng, đánh dấu các góc Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc. Khi yết Ma Kiết Giới đã được thực hiện, không một tăng, ni nào được phép đi ra khỏi ranh giới ấy. Trường hợp cần thiết, bất khả kháng, tăng ni có thể ra khỏi ranh giới ấy trong vòng 24, hay 48 tiếng đồng hồ, với điều kiện có ”Yết Ma Giới”. Hết muà Hạ, chư tăng thực hiện Yết Ma Giới, làm lễ ”Tự Tứ ”(pravarana), tức thỉnh cầu một vị tăng khác chỉ điểm cho những sai quấy, khuyết điểm trong việc hành trì giới luật, để tự thân rút tiả lỗi lầm mà sám hối... Nhưng Cao Ngọc Phượng và Nhất Hạnh đã bất cần những thứ ràng buộc lỉnh kỉnh ấy, gây trở ngại không ít cho những khoái lạc ái ân, nên họ chỉ mượn cớ ”Nhập Hạ”, tức mượn màu đạo đức tu hành, núp bóng Phật, để cả hai cùng ở riết trong phòng riêng, 24 trên 24, tha hồ thỏa mãn mây mưa ướt át!...
Đánh đổi với cái giá ái ân, mùi mẫn gia diết trong cái không khí tương phản, nghịch đảo đến mức kỳ quặc đó, tội nghiệp, nàng Cao Ngọc Phượng đã phải trả một cái giá khá đắt là sống suốt ngày trong một căn phòng chật hẹp, tù túng, chẳng khác nào như một con chuột trong hang. Mỗi ngày, nàng chỉ chờ khi đêm tối xuống mới thò mặt ra ngoài để làm những việc vệ sinh cá nhân cần thiết!
Thế là đến cuối năm 69, Cao Ngọc Phượng đã cho ra đời đứa con trai đầu lòng!



Lúc này chính là thời điểm ngon lành nhất cho Ái cùng đồng bọn ra tay phát động chiến dịch hạ bệ ”sư phụ và sư mẫu”, đồng thời tạo cớ để giựt hết tiền bạc, sang đoạt nhà in cuả cặp nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng! Ái tung tin cặp Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng, chỉ đội lốt nhà sư, giả dạng tu hành, để kinh tài, bắt áp phe, và thoả mãn dâm dục ngay trước mắt Phật v.v...


Về phiá Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng, thực ra họ cũng chẳng khờ khạo gì cho đến nỗi bị Ái âm mưu tạo phản mà không biết. Ngay từ khi mới đặt chân đến Paris, Cao Ngọc Phượng đã nhận ra khoản tài lợi lớn lao đang nằm trong tay vợ chồng V.V.Ái, nên muốn tiếp tay với Nhất Hạnh để lấy lại. Bây giờ, nhân dịp Ái giở mặt, Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng liền dùng quyền trục xuất V.V.Ái ra khỏi các chức vụ. Nhưng họ không ngờ anh chàng lùn thước mốt mà lại có thể tính toán xa đến cả cây số. Trước khi bàn giao, với tư cách tổng thơ ký cuả Ủy Ban, Aí đã ngấm ngầm làm giấy tờ bán gía rẻ mạt hết cả dàn máy in và mấy bộ chữ cho vợ là Trần Thị Phương Anh, vì lý do quá cũ, đã đến thời kỳ phế thải,...Thế là, Nhất Hạnh và Cao Ngọc Phượng đành ứ hự, ngậm mà nghe...



2007-11-20 04:54:00
(ĐVN)
wonderboy
Platinum Member
Join Date: Mar 2004
Số Điểm: 5740
Old 11-15-2011 , 05:48 PM     wonderboy est dconnect  search   Quote  
Chuyện tình họ Thích này hay thật, cũng ly kỳ y như Đường Tam Tạng đi thọ kinh với con khỉ Ngộ Không vậy !

Xin tiếp hồi sau ..
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-19-2011 , 05:37 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
VÕ VĂN ÁI VÀ CÁC ĐỆ TỬ CỦA NHẤT HẠNH



Sau khi đã cuỗm được một số tiền khá lớn, Võ Văn Ái lập ra nhà in Imprimerie VOV, ở đường Jaffeux, thuộc thành phố Gennevilliers (Bắc Paris), rồi lôi kéo Chinh Ba và Thể Tịnh theo, cùng ra mặt chống cặp Nhất Hạnh - Cao Ngọc Phượng, đồng thời công khai liên lạc với Trí Quang. Thấy thế, ở Âu Châu, các đệ tử của Trí Quang cũng ùa theo phe Võ Văn Ái. Nhờ vậy, thanh thế cùa Ái càng lớn mạnh thêm lên, và được một số hội đoàn ở Âu Châu và Hoa Kỳ mời du thuyết phản chiến. Thấy đã bắt đầu có ăn, Ái liền cho phóng đại tấm hình chân dung của Trí Quang lên như cái mẹt, chưng chình ình ngay giữa nhà để thờ sống, tế sống như một đấng thần linh độ mạng. Chơi trò này, một là Ái muốn chọc tức Nhất Hạnh, hai là chiêu dụ thêm đám đệ tử của Trí quang ở hải ngoại.

Sau khi đã gây dựng được nhà in, có cơ sở làm ăn rồi, Ái trở mặt đối xử với Chinh Ba chẳng khác nào như tôi tớ, tiền phát, gạo đong, và hằng ngày ra vào "đo lọ nước mắm, ngắm củ dưa hành", chẳng khác nào như những tay trọc phú nhà quê thời Lý Toét, Xã Xệ! Chinh Ba làm việc cho nhà in, mà Ái không chịu khai báo gì cho sở thuế và cơ quan lao động, nên sinh ra bất mãn, phá cho hư máy rồi bỏ đi luôn. Về sau, Chinh Ba đã kết hôn với một quả phụ xinh đẹp, hai vợ chồng mở tiệm ăn, và từ đó không bao giờ còn màng đến chính trị, văn nghệ gì nữa!

Trong khi đó, Thể Tịnh còn ở lại giúp cho Võ Văn Ái viết quyển "Tuệ Giác Siêu Việt", tức là thần chú kinh "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", mà quan trọng nhất là phần phiên âm tiếng Bắc Phạn (sanscrit). Thực ra, Thể Tịnh có trình độ Phật học khá hơn Ái. Nhưng xét cho cùng vốn liếng của cả hai đều không sâu cho lắm. Bởi cốt tủy của kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa dựa trên tinh thần bất nhị (le non-deux; le non-dualisme) và đặc biệt bài trừ óc phân biệt kiểu nhị nguyên (dualisme). Vậy mà cả Thể Tịnh lẫn Ái đều không thèm nhấn mạnh đến hai điểm then chốt cơ bản ấy!
Riêng Ái còn tỏ ra gian hùng và láu cá đối với Thể Tịnh trong việc dịch kinh sách này. Ái đã nhét cái tên của Thể Tịnh vào một chỗ rất khiêm nhường, đến độ người đọc không chú ý sẽ không nhìn thấy được. Ái làm như thế, khiến người đọc dễ lầm tưởng anh ta là người rành tiếng Bắc Phạn!

Ngoài ra, khi viết lách, Ái thích chế ra những danh từ rất nổ, nhưng chữ to nghĩa nhỏ, chữ lớn nghĩa hẹp. Câu văn của Ái đọc lên nghe rổn rảng chẳng khác nào đứa trẻ nghịch ngợm khua cái thùng thiếc rỗng, mà ý tưởng nghèo nàn, chẳng giúp ích gì cho người đọc. Chinh Ba và Thể Tịnh đều là dân trốn quân dịch. Dù có bị Nhất Hạnh và Võ Văn Ái lợi dụng, bóc lột, chơi gác, nhưng đổi lại, họ đã thoát nạn đi lính, lại còn được qua Pháp trước Tết Mậu Thân (68), nên cũng chẳng ai phàn nàn gì.

Riêng Thể Tịnh (Huỳnh Bá Yết Dương), hình như có cái bịnh tâm lý khá kỳ lạ. Hễ có người đàn bà con gái nào vô tình dòm ngó anh ta hơi lâu một chút là không khỏi bị anh ta rêu rao với chúng bạn là cô ấy thèm muốn anh ta. Nhất là mấy cô đầm non ở Paris, mỗi khi ra đường, thấy anh ta mặc áo cà sa hay hoặc áo nhựt bình, khác hẳn mọi người, càng không khỏi ngạc nhiên, tò mò, ngó anh ta trơ trất. Thế là sau đó, gặp bất cứ người Việt nào anh ta cũng hãnh diện khoe đã được mấy cô đầm để ý và thèm khát.

Trong thời gian chưa hoàn tục, ở Paris, Thể Tịnh đã không thoát khỏi bị "con heo lòng" nổi loạn, dằn vật khổ sở. Một hôm, chịu không nổi sự thúc bách nghiệt ngã của dục tình, Thể Tịnh đã chờ cho đến lúc trời nhá nhem tối, khoác áo pardessus, đội mũ bê rê, mò xuống Place Pigalle, chui vào rạp chiếu bóng Porno, coi phim Sex. Nên biết, trong khoảng thời gian đầu thập niên 70, các loại phim Sex đã được phép chiếu công khai trong các rạp chiếu bóng Porno trên toàn lãnh thổ Pháp.

Đối với một anh thầy chùa trẻ tuổi, sinh lực dồi dào, còn gì khoái lạc thần tiên cho bằng cái thú ngồi trong rạp hát ấm cúng, giữa bóng tối lờ mờ, huyền ảo, tha hồ thả hồn theo những động tác dâm dục cuồng loạn, với những hơi thở dồn dập, nấc nghẹn từng hồi, và những tiếng rên siết, quằn quại cực kỳ sướng khoái… vang vang từng chặp trong âm thanh khuếch đại Hifi Stéréo. Trong khi vừa xem phim, Thể Tịnh vừa luồn tay dưới bụng "làm tình" với Chị Năm. Tức là dùng 5 ngón tay thủ dâm, mà người Pháp gọi là: Madame Cinq! Còn người VN gọi là trò: "5 thằng lính uýnh ông cò!”…

Hôm đó, chẳng dè lại ngày đại kiết, những tâm hồn lớn, các bậc cao tăng đắc đạo VN đã không hẹn, mà cùng giáng lâm hoằng dương đạo pháp, gặp nhau ở Place Pigalle. Khi hết phim, đèn bật sáng, Thể Tịnh đã bất ngờ đụng đầu cái cụp Thích Huyền Vi, Thích Minh Tâm, cùng với mấy vị cao tăng khác từ Nhựt Bổn mới tới Paris!...

Sau đó ít lâu, Thể Tịnh chịu đời không thấu, đành để cho tóc mọc dài thêm ra, rồi đi kiếm việc làm ở một nhà in của người Pháp, hầu có tiền sinh sống, rồi hoàn tục, và lấy vợ. Một thiếu phụ tên Thu Cúc…
Đến khoảng đầu thập niên 80, các loại phim Sex đã được thực hiện bằng Video Tape (băng hình) rất tiện và gọn. Nên từ đó tới nay các ông thầy chùa, nợ trần chưa dứt, con heo lòng còn hung hăng thèm khát, đòi thưởng thức cái cuả nợ của nữ giới, chỉ cần bỏ chút tiền cúng dường của Phật tử bá tánh ra mua một cái máy Tivi có gắn magnétoscope (video) cùng mấy cuộn băng hình về nhà, đem vào phòng riêng tha hồ coi mãn nhãn, và mặc sức làm tình với "chị Năm" (madame Cinq) mệt nghỉ!

Tuy nhiên, chơi trò này hoài cũng hóa ra nhàm chán. Vả lại, theo lời các bác sĩ, trò chơi ấy dễ khiến con người sanh bịnh... liệt dương. Nên quí thầy cảm thấy cần phải ôm đào ấp mận thực sự với mấy cô nàng nữ Phật Tử ngày đêm sáng tối cứ lảng vảng, quanh quẩn trong chùa, sẵn lòng đóng vai hộ lý cho thầy, mới đã!!! Trong đám đệ tử cuả Nhất Hạnh, ở Paris, ta còn phải kể đến cặp vợ chồng thi sĩ Hoài Việt (Nguyễn Văn Hướng) và Huệ Châu. Cả hai vợ chồng đều là dược sĩ. Không biết trình độ nghề nghiệp cuả Ng. V. Hướng ra sao. Nhưng về mặt ”thi sĩ” Hoài Việt đã tỏ ra cố làm nổi, đua đòi làm thơ tiếng Tây, mà người Tây đọc phải nhăn mặt, bịt mũi, kêu: ” Nheeeooo!... Nheeeooo!...”, rồi ôm bụng cười khềnh khệch!



Đã thế, Hoài Việt còn có cái tật bất trị, gặp ai cũng bắng nhắng khoe thơ tiếng Tây. Một hôm, vào muà Hè, năm 1989, tại nhà hàng Tố Lan, quận 13, Paris, trong bữa tiệc do các văn nghệ sĩ ở Paris thết đãi nhà văn Mai Thảo. Trong lúc mọi người đang vui vẻ chuyện trò, hàn huyên với Mai Thảo, quen mửng cũ, lại thêm không biết cố tật ”nát rượu” khi say cuả Mai Thảo, ”thi sĩ”(!) Hoài Việt liền đem thơ ra khoe với Mai Thảo, lập tức bị Mai Thảo lớn tiếng nẹt cho một trận nên thân: ”Thơ thối như cứt mà cứ đem khoe!!!”

Thực sự, nếu ai đã bị tai nạn đọc, hay nghe thơ cuả ”thi sĩ” Hoài Việt tất sẽ nhận ra ngay thơ cuả anh ta hình như có mùi thuốc vàng, ngày xưa các nhà thương Tây ở VN thường để xức loại ghẻ hờm, còn gọi là ghẻ Tàu! Về vần điệu thì chập chững, ngúc ngắc chẳng khác nào một đứa trẻ thọt mới chập chững tập đi! Cái ngộ nghĩnh nhất là, suốt 30 năm ở hải ngoại, ”thi sĩ” Hoài Việt đã làm thơ đều đều chẳng khác mấy chị gà mái dầu, dù không có trống, tới cữ, vẫn cứ phải leo lên chuồng rặn đại ra một cái trứng, rồi phóng ra khỏi ổ, la hoảng, cục tác om sòm vỡ lở... Dù vậy, suốt mấy chục năm trời cục tác om sòm rồi, mà thơ cuả ”thi sĩ” Hoài Việt cũng chỉ có một mình anh chàng Nguyễn Văn Hướng chịu khó thưởng thức!...


2007-11-20 04:57:14
(ĐVN)
wonderboy
Platinum Member
Join Date: Mar 2004
Số Điểm: 5740
Old 11-19-2011 , 05:59 PM     wonderboy est dconnect  search   Quote  
ha ha ha .. ...................
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-20-2011 , 01:29 AM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
VÕ VĂN ÁI VÀ TỜ QUÊ MẸ

Bây giờ trở lại Võ Văn Ái. Từ năm 1979, thanh thế cuả Ái đã trở nên lẫy lừng. Nghe đâu Ái còn được một cơ quan văn hoá cuả Pháp trợ cấp mỗi năm một số tiền khoảng 60.000 Quan để làm tờ Quê Mẹ. Có nhà in, và báo trong tay, Aí nhớ ngay đến cặp sư phụ và sư mẫu Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng, liền tung chưởng tố giác hành động tham nhũng lừa gạt đồng bào tị nạn cuả cặp Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng trong vụ vớt người vượt biển. (muốn biết đầy đủ chi tiết, xin xem lại đoạn trên!).

Lúc đó Ái đi tới đâu cũng tự khoe mình thuộc thành phần sáng lập cuả Ủy Ban Một Con Tàu Cho Người VN (Comité un Bâteau pour le Vietnam) và có chân trong tổ chức con tàu ”Ile de Lumière”, cuả nhóm Y Sĩ Không Biên Giới (Médecins sans Frontières, viết tắt: MSF. Điạ chỉ: 6-8 rue St. Sabin, khu Bastille) nhằm cứu người VN vượt biển đưa đến đảo Paulo Bidong. Sự thực, tổ chức này đã do nhóm Y Sĩ Không Biên Giới Pháp khởi xướng cùng với sự hợp tác chặt chẽ cuả nhiều văn gia, ký giả nổi danh cuả Pháp, như: Đôi uyên ương ký giả Jacques Broyelle và Claudie Broyelle thuộc tờ tạp san Le Nouvel Observateur, ký giả kiêm nhà văn Olivier Todd, các nhàvăn Roland Berthes, Simone de Beauvoir, Virgil Georghiu, triết gia Jean Paul Sartre, André Glucksmann, nhà xã hội học Raymond Aron, và các tài tử, minh tinh điện ảnh: Yves Montand, Simone Signoret, Brigitte Bardot v.v... Còn vợ chồng Võ Văn Aí- Phương Anh, và cô nàng Pénelope Faulkner (tức Ỷ Lan thứ phi cuả VV Ái) chỉ là những người chầu rià, ký tên ủng hộ ké vô mà thôi!

Cuả đáng tội, lúc bấy giờ Ái cũng tỏ ra có chút ”hảo tâm” đã dành cho Uỷ Ban Một Con tàu Cho VN mượn tạm toà soạn báo Quê Mẹ làm trụ sở!
Trong quyển ”L’Ile de Lumière”, do nhà xuất bản Éditions Ramsay ấn hành năm 1980, chính tác giả là BS Bernard Kouchner, vốn cũng là người lãnh đạo MSF và chủ xướng chương trình cứu trợ ”boat people” VN, đã khẳng định bộ tam sên gồm Táo ông và 2 táo bà: Võ Văn Aí, Phương Anh, Ỷ Lan chỉ là... ”nos hôtes” (những người khách của chúng tôi) mà thôi!

Với bản tánh thích nổ lớn, bấy giờ lại bắt cẳng được ”Comité un Bâteau pour le VN”, nên Ái tha hồ phóng phét khoe khoang tưng bừng, khiến cho đám đệ tử cuả Nhất Hạnh sinh ra ngứa tai, liền hiệp cùng Thể Tịnh Huỳnh Bá Yết Dương, và lôi cuốn thêm cả Trần Văn Ngô, một tên bất tài háo danh hạng nặng, ở Paris, vốn trước kia từng chầu hầu dưới trướng cuả vợ chồng V.V.Ái, sau quay sang làm phản, để thực hiện chương trình rỉ tai tuyên truyền, phao tin V.V.Ái đã tham nhũng, chôm chĩa tiền cuả Comité un Bâteau pour le VN... Một số đồng bào cư ngụ ở Paris, lúc bấy giờ tuy chẳng biết ất giáp gì, nhưng vốn không ưa tật ”nổ” cuả Ái, khi nghe tin đồn như thế, cũng hùa theo chửi bới rùm trời. Chuyện này thấu tới tai báo ”Minute” cuả Tây. Báo này không chịu kiểm chứng, đã tung tin tham nhũng cuả Ái vào trong mục Ao Thả Vịt. Ái liền đâm đơn kiện báo Minute và không dè thắng kiện ngon lành. Thấy thế, đám đệ tử cuả Nhất Hạnh, Thể Tịnh và tên chầu rià Trần Văn Ngô hoảng vía cũng nín khe luôn. Chiến thắng vẻ vang, Ái càng nổ dữ hơn, ầm ĩ hơn xưa.

Đến năm 1981, khi danh tiếng đã lẫy lừng, Ái mới bắt đầu ló cưạ, tính trổ mòi gạt gẫm đồng bào, bằng cách hô hào tổ chức Tết Nguyên Đán thuần túy phong tục cổ truyền. Ái cho vẽ bích chương, và in truyền đơn quảng cáo rầm rộ một Hội Chợ Tết đầy những gian hàng bánh mứt, và những trò chơi cổ truyền như: Đá gà, đánh đu, chơi bài chòi, chơi cờ người, muá lân v.v... Vé vào cửa giá 100 Quan. Nên biết lúc đó, số tiền này to lắm. Hãy thử so sánh để biết: Lúc đó, gửi một lá thơ 20 gr. chỉ tốn có 1 Quan rưỡi. Bây giờ giá một con tem đã gấp đôi và hơn nữa!...
Bị lừa mà không biết, đồng bào ở Paris và các vùng phụ cận nô nức ùn ùn đua nhau mua vé. Ngày khai mạc, thiên hạ kéo nhau đến Hội Chợ Tết cuả Ái mới bật ngửa. Quang cảnh lèo tèo thảm hại. Chẳng có bánh chưng, dưa giá, hay bánh tét gì cả. Cũng chẳng có một trò chơi nào diễn ra... Trong hội chợ cuả Ái chỉ có vài gian lều dựng vội, bán mấy cái chả giò, và mấy miếng chả lụa, là những thức ăn ngày nào cũng bán ê hề trong các tiệm ăn gần đó, hoặc ngay tại tiệm buôn thực phảm Á Châu, Thanh Bình, ở khu Maubert Mutualité (Paris 5).

Bị thiên hạ la ó, phản đối dữ quá, Ái túng thế làm liều, sai người chạy đi kiếm mấy con gà thịt, nuôi trong mấy cái trại cung cấp thực phẩm, cho nó đá nhau. Như mọi người đều biết, chọi gà là cả một trò chơi công phu, tốn kém. Gà chọi có giòng có giống hẳn hoi, và những con gà chọi ấy đã được chủ gà nuôi dưỡng, huấn luyện một cách có nghệ thuật. Bởi thế, khi mấy con gà thịt cuả Ái thả ra, chẳng những chúng nó đã không chọi nhau, mà con nọ lại còn lầm tưởng con kia là gà mái, xoè cánh ve vãn rồi toan nhảy lên lưng để...chọi! Thấy thế, tuy thiên hạ đều đang bực mình vì bị lưà gạt trắng trợn, nhưng cũng không khỏi bật phì cười!...

Sau khi trò bịp rẻ tiền bị thất bại, Aí quay sang chiêu dụ kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống. Đống về đầu quân Quê Mẹ, nhưng trong lòng đã mang sẵn âm mưu. Trước hết, Đống lo chiêu dụ ngay Trần Kiện với mấy thân hữu còn sót lại trong nhóm Quê Mẹ, xúi đoạt dàn âm thanh và dàn trống cuả cái gọi là ”Đoàn Văn Nghệ Quê Mẹ” cuả Ái, rồi tuyên bố ly khai. Nhưng Ái đâu phải tay mơ để cho Đống và Trần Kiện dễ dàng trổ ngón nghề như thế. Ái lập mưu, xuống giọng, xin Đống và Trần Kiện cho Ái được gặp mặt để thảo luận lần cuối cùng. Đống nhận lời. Nhưng hôm họp mặt, Đống giật mình kinh hoảng, không ngờ lại có cả sự hiện diện cuả một tay côn đồ du đãng nổi tiếng chuyên nghề đánh thuê chém mướn ở Paris. Aí đã bố trí tên này để đập cho Đống một trận mềm xương để bỏ thói lưu manh vặt. Nhưng may sao, hôm đó trời còn thương Nguyễn Hữu Đống, nên trong nhóm Trần Kiện lại có một người vốn là bạn chí thân cuả tên du côn kia. Anh này liền can thiệp, khuyên can tên du côn bỏ cuộc.
Trước diễn biến bất ngờ, làm hỏng cả âm mưu dày công xếp đặt, Ái nổi khùng lên đuổi hết mọi người ra khỏi nhà ngay lập tức. Nhưng tên du côn kia cũng không chịu để cho Ái phủi tay cách dễ dàng như thế. Hắn vẫn tiếp tục đòi Ái phải trả khoản tiền như đã giao kết. Nếu Aí không trả, chắc tấm thân cao thước mốt, cân cả cơm lẫn cứt chỉ nặng hơn 40 kí lô của Ái sẽ không tránh khỏi bị mập mình. Bởi vậy, nên Ái đành phải nuốt hận ký chi phiếu cho êm chuyện!

Như thế vẫn chưa phải đã hết! Trong thời gian ”tuần trăng mật” với Ái, chẳng biết làm cách nào mà nhóm Trần Kiện và Nguyễn Hữu Đống đã vớ được một số bằng cớ chứng tỏ Ái đã không trả thuế phụ trội (TVA, taxe sur valeur ajoutée), nên đã rơi thơ tố cáo với sở Thuế Vụ. Lập tức sở thuế cho người đến điều tra xưởng in cuả Ái, tên là: Imprimerie VOV. Ái bị bắt trúng tẩy, bị phạt nặng, và nhà in bị niêm phong. Vì thế đã có hồi Ái tung thơ kêu cứu các nơi, xin chữ ký yểm trợ cho Võ Văn Ái...

Bây giờ, riêng tờ Quê Mẹ cuả Võ Văn Ái, người ta thấy không còn phát hành thường xuyên nưã. Chỉ thỉnh thoảng, năm thì mười hoạ, khi nào Võ Văn Ái và Ỷ Lan thứ phi cần phô trương công tác gì, hay cần kiếm món tiền nào, tờ Quê Mẹ mới được chường mặt ra trong vài nhà sách nhỏ đó đây mà thôi!

2007-11-20 04:58:00
(ĐVN)
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-22-2011 , 02:26 AM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
MẶT THẬT “THIỀN SƯ” THÍCH NHẤT HẠNH - TRÌNH ĐỘ THIỀN CỦA NHẤT HẠNH!


Nhiều người không biết gì về giáo lý đã lầm tưởng Nhất Hạnh rất giỏi về Phật pháp và văn chương. Thậm chí có kẻ còn tôn xưng thiền sư Nhất Hạnh danh hiệu ”ngôi sao Bắc Đẩu” trong giới thầy chùa. Nhưng, đối với những người đã có trình độ giáo lý và am tường Thiền học chút đỉnh lại thấy trình độ Thiền học của Nhất Hạnh (NH) còn quá ấu trĩ, với một cái vốn cóp nhặt rất manh mún, vụn vặt. Trước đây, NH tung ra quyển sách viết về Thiền, nhan đề ”ĐƯỜNG VÀO THIỀN HỌC”. Chẳng cần đọc, chỉ lướt qua cái tựa quyển sách này, người hiểu biết Thiền đã nhận ra ngay cái vốn Thiền của NH còn rất giới hạn. Ông ta vẫn chưa nắm bắt được cốt tủy của Thiền là phải thoát ra khỏi mọi hình thức đối đãi nhị nguyên, để đạt tới tinh thần Bát Nhã, hay tinh thần bất nhị (le non-deux, le non-dualisme). Hễ trong tư tưởng Thiền giả còn vướng mắc bởi một khái niệm nhị nguyên, dù vi tế đến đâu, tất hãy còn xa Thiền lắm lắm, làm sao đạt ngộ được để làm... Thiền sư?



Bởi thế khi Nhất Hạnh viết 4 chữ “ĐƯỜNG VÀO THIỀN HỌC” đã bị giới thức giả Thiền học chê cười hết sức. Thiền làm gì có đường lối nào mà vào với ra? Khi đặt vấn đề có 2 lối tức là đã có 2 niệm đối đãi nhau, tức đã phản lại Thiền rồi.



Bởi thế trong sách dạy Thiền của NH, người đọc chỉ tìm thấy toàn những cóp nhặt linh tinh, không ra một đường lối mạch lạc nào. Người học Thiền nên biết, từ ngàn xưa mỗi Thiền phái đều có một nét đặc thù. Thí dụ: Thiền Lâm Tế khác với Thiền Trúc Lâm, khác với thiền Vô Ngôn Thông... Cũng như mỗi thiền sư đều đạt ngộ bằng cách HÀNH THIỀN tùy theo cái “NGHIỆP”của mình. Để cho dễ hiểu, ví chẳng khác nào mỗi họa sĩ đã thành đạt đều phải có một “style” riêng, không giống ai mà cũng chẳng ai giống được mình.

Chẳng hạn như lối vẽ của các danh họa: Picasso, Van Gogh, Gaugin, hay Dali v.v... Mấy đời ai bắt chước được! Bị thiên hạ chê cười bốn chữ “ĐƯỜNG VÀO THIỀN HỌC”, nên khi cho dịch quyển này ra tiếng Pháp, NH lấy tựa khác là: “Les clefs du Zen” (những chìa khóa Thiền). Khi chọn cái tên mới này, có lẽ NH đã cho là tuyệt hảo, và mình đã hết dốt, vì cái tựa đã mất hẵn dấu vết nhị nguyên, đối đãi rồi! Nhưng tội nghiệp, ông ta đã không ngờ và không biết rằng “cái dốt” ấy nó bám trụ trong tư tưởng của ông, chớ không phải nằm trong văn tự, dù cho văn tự ấy đã được dùng theo lối “ẩn dụ”. Bởi Thiền mà có “chìa khóa” tức là có “mở ra” có “đóng vào”. Khi đã có mở và đóng, tức thị vẫn còn có đối đãi nhị nguyên như thường. Tất vẫn không phải là Thiền!Vậy, muốn biết Nhất Hạnh đã tâm đắc Thiền đến được mức độ nào, ta hãy cứ xem những gì Nhất Hạnh đã viết về Thiền. Nếu sách Thiền của Nhất Hạnh còn phảng phất ít nhiều tính chất nhị nguyên, còn mang dấu vết đối đãi trong tư tưởng tức thị NH chưa thấm nhuần tinh thần Bát Nhã, tức chưa đạt ngộ Thiền.

Mặc dù vậy, tôi thấy Nhất Hạnh vẫn còn kiếm ăn rất khá trong việc dạy Thiền. Bởi đa số người Tây Phương, đâu có ai hiểu được chỗ uyên bác ấy của Thiền. Còn một số người VN, có chút học thức, nhưng chỉ là trình độ chuyên môn, theo NH học Thiền kiểu a dua, và phô trương bề ngoài, hơn là để thẩm thấu cốt tủy của Thiền. Điều này cũng dễ hiểu, vì chính NH là “sư phụ” của họ mà hiện nay vẫn còn đang phải khổ sở chập chững, mò mẫm tìm “đường vào Thiền học“. Chẳng những thế, rồi lại còn đang sờ soạng như anh thầy bói mù đi tìm “chìa khóa Thiền” trong rừng sâu, giữa đêm ba mươi!

Thiết tưởng những người học Thiền nên biết một điều sơ đẳng, nhưng rất cơ bản là: tu THIỀN phải NGỘ. Không NGỘ tức không phải THIỀN. NGỘ tức là đã đạt được tinh thần Bát Nhã, đã tuyệt diệt mọi nguồn gốc đối đãi nhị nguyên trong tư tưởng. Mà Bát Nhã là gì?

Theo tôi, Bát Nhã là siêu suy tư, đạt đến mức không thể nghĩ bàn gì được. Khi đó, tư tưởng đã trở nên trống rỗng, đã hoàn toàn VÔ NIỆM, VÔ TÂM... Toàn bộ giáo lý Phật đều xây dựng trên vô niệm, vô tâm (là tinh hoa của Thiền Đại Thừa), tức không còn tư tưởng gì nữa. Bởi hễ còn tư tưởng là còn phân biệt cái nọ với cái kia, người nọ với người kia... Cuối cùng, khi con người đã tuyệt diệt được mọi mầm mống phân biệt, cái tâm trở thành vô phân biệt và vô sai biệt rồi, tự nhiên mọi sự vật trong đời đều không còn gì đối đãi với nhau nữa. Nhờ đó mà TÂM VÔ ÚY nở bùng ra, mở toang cánh cửa đạt ngộ Thiền! Trạng thái đạt ngộ trong Thiền chẳng khác nào như giấc mộng của một người. Độc nhất chỉ có người đã nằm mơ mới biết được giấc mộng của mình như thế nào. Dù người nằm bên cạnh lúc bấy giờ là vợ con cũng không sao biết được! Bởi pháp môn Thiền xảo diệu như thế nên ngày nay chẳng mấy ai đạt ngộ, xứng danh Thiền Sư như Daisetz Teitaro Suzuki (Linh Mộc Đế Thái Lan) của Nhật Bản. Ngược lại, bọn “Thiền Sư” dổm, mở những lớp dạy Thiền đông cả trăm người trông chẳng khác nào những trại nuôi gà công nghệ, chỉ cốt bịp đời, để hốt bạc, như vợ chồng “Thiền Sư” Nhất Hạnh, ở làng Hồng, thì nhan nhản chẳng khác nào mấy tên thầy bói mù trước cổng lăng Ông, bà Chiểu vào những ngày giỗ Tết!

Kết luận: Một Thiền Sư chưa đạt ngộ, chẳng khác nào một anh bạch đinh, đầu đường xó chợ, hay một kẻ “homeless”, thì nào có gì đâu để mà trao truyền cho đệ tử ! Do đó những ai tập Thiền với NH chẳng qua chỉ là tập “yoga” chơi, để giết thì giờ thôi. Tôi có thể nói trước: đừng hòng đạt NGỘ!
Nhiều PT mê muội, kém hiểu biết, lại thêm bị bọn giặc thầy trọc lưu manh nhồi sọ, cho đến nay, chẳng khác nào mấy con ếch ngồi dưới đáy giếng sâu, vẫn hãy còn đinh ninh rằng pháp tu THIỀN là một đặc sản của Phật Giáo. Thực ra THIỀN P.G. nói chung (gồm cả Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Tây Tạng) chỉ là một pháp tu sanh sau đẻ muộn. Riêng THIỀN VN, nhất là loại THIỀN Ba Rọi của đám giặc trọc VN lại càng trễ muộn hơn nữa!

Nên biết, theo những khai quật mới nhất của các nhà nhân chủng học, khảo cổ học và thần học nổi danh khắp thế giới, pháp tu THIỀN dường như đã xuất hiện trong đời sống tâm linh của loài người từ thời tiền sử. Mặc dù không một ai xác định được khoảng thời gian đích xác, nhưng tất cả đều cho rằng có lẽ pháp tu THIỀN đã manh nha đồng thời với tín ngưỡng Vật Tổ (Totéisme) và Vật Linh (Animisme), tức là từ khi con người biết khấn vái cầu nguyện. Về sau, khoảng 5.000 năm trước TC, hình thức thiền quán thô sơ nhất đã khởi sự xuất hiện trong các bộ lạc theo tín ngưỡng Shaman. Những người này tin tưởng rằng họ có khả năng liên hệ trực tiếp với thế giới huyền bí vô hình bằng thần cảm.

Đến khoảng thời gian từ năm 3.000 đến 2.000 trước Công Nguyên, pháp tu THIỀN nguyên thủy đã thấy có ghi trong kinh Vệ Đà của đạo Bà La Môn (Brahmanisme) và Ấn Giáo (Hindouisme). Mãi đến năm 588 Trước Thiên Chúa (viết tắt:TTC), đức Phật Cồ Đàm Sĩ Đạt Đa (Siddhartha Guatama) mới là người đã thực hiện pháp tu THIỀN có hiệu quả, đạt được cảnh giới Niết Bàn trong tâm, ngay hiện kiếp. Đến khoảng thế kỷ 2 sau TC, một nhóm tu sĩ Thiên Chúa Giáo trong vùng Trung Đông, theo pháp tu khổ hạnh, thực hiện cuộc sống đơn giản trong các vùng sa mạc vắng vẻ, cũng đã dùng pháp tu Thiền (Méditation) để giao tiếp với Thượng Đế. Từ đó mới khai sinh ra pháp môn Thiền Cơ Đốc “Christian Meditation”, hiện còn duy trì đến tận ngày nay. Đến khoảng năm 1.000 sau TC, đạo Du Già (Judaisme) của người Do Thái, nảy sinh ra nhóm Thần Bí Siêu Linh (Cabalisme), cũng dùng hình thức quán tưởng và cầu nguyện, để giao cảm với thần linh và thượng đế Eùlôhim. Cùng trong khoảng thời gian này, đạo Hồi cũng có phái “Sufism” (do chữ: ”Suf”, trỏ những người mặc quần áo đan bằng lông cừu) đã áp dụng pháp môn Thiền Quán vào trong nghi lễ thờ phụng thượng đế. Đến thời cải cách tôn giáo ở Âu Châu, giáo phái Cơ Đốc theo khuynh hướng Martin Luther cũng bắt đầu áp dụng nghi thức Thiền Quán trong tôn giáo. Mặc dù lúc này ảnh hưởng giáo phái Tin Lành của Martin Luther trên khắp lục địa Âu Châu rất mạnh, nhưng vẫn có một nữ tu sĩ dòng Cạt Men (Carmelite) người Tây Ban Nha đã khai sáng một thiền phái mới, gọi là phái “ST. Teresa”.

Trong thời gian gần đây, đọc sách báo trên thế giới, ta thấy ở các nước Tây phương đã phát sinh ra rất nhiều giáo phái (secte). Tất cả các vị “Guru” cầm đầu các giáo phái bịp bợm ấy đều dùng THIỀN pháp làm căn bản, để dụ khị các hạng người ngu muội ham mê tín dị đoan. Trong năm 1967, một Guru Ân Độ bỗng nhiên nổi tiếng lẫy lừng, được báo chí khắp thế giới đề cập đến, nhờ đã khéo khuyến dụ được nhóm ca nhạc trẻ “the Beatles” cải đạo theo giáo phái “Maharishi Mahesh Yogi”. [GHI CHÚ: muốn biết rõ chi tiết xin xem tác phẩm “ÔNG TRỜI LÀ AI”? TÔN GIÁO LÀ GÌ?... của ĐVN đã phát hành khắp nơi].

Gần đây phong trào Thiền Ôm của Ấn Độ bỗng trở nên thịnh hành ở một số nước Âu-Mỹ, chẳng khác nào như phong trào “chim cút” ở Sài Gòn năm xưa. Theo tôi “Thiền Ôm” tức là: TANTRA YOGA, hay còn gọi là: TANTRA SEX (!), trai gái ngồi xếp bằng kiểu Phật Bà ngồi tòa sen, ôm nhau, có khi bú lưỡi nhau, mắt nhắm nghiền và đôi tay của 2 người luôn luôn mân mê nhau túi bụi để... Thiền!

Các trại tu THIỀN TANTRA YOGA, theo sự chứng kiến của tôi, thực chất chỉ là những trại “ái ân” gần như công khai, và tự do lõa thể, nhưng chưa tới mức tập thể. Thấy thế, Nhất Hạnh- Cao Ngọc Phượng đã không bỏ qua cơ hội hốt bạc bằng vàng, cũng bắt chước Tantra Yoga của Ấn Độ, đua đòi dạy “thiền ôm”. Trong số những người khoái món tu bá đạo Thiền Ôm này, chẳng dè lại có cả anh chàng cựu giáo sư toán, lý hóa, đệ nhị cấp, Nguyễn Văn Kỷ Cương. Hồi ở Sài Gòn anh chàng này đã từng dạy chung với tôi trong một vài tư thục, có vợ là Công Tằng Tôn Nữ Phương Đài, cử nhân văn chương Pháp, dạy Pháp văn đệ nhị cấp ở Gia Long. Ít lâu sau, tôi ra làm báo, còn Ng. Văn Kỷ Cương thì trở thành con “hạc gỗ” trong ngôi nhà Thượng Viện.
Sau năm 75, ra ngoại quốc Kỷ Cương lấy tên tây “Henri” cho có vẻ Âu Mỹ, rồi bị thấm nhiễm trò “Thiền Ôm” của NH. Ngoài ra, Kỷ Cương còn bắt chước NH đi các nơi như Montréal, Toronto, Vancouver... ở Canada, để biểu diễn và truyền bá món “Thiền Ôm”, và đã được khá đông thanh niên, thiếu nữ đang tuổi phát dục, khóai được cọ xát những chỗ nhạy cảm nhất của thân thể, hâm mộ.

Nhưng, chẳng hiểu “Thiền Sư” Henri Kỷ Cương đã tu tập thiền ôm như thế nào, khiến “thiền sư” đã bị “tầu hỏa nhập ma”, miệng thầy bị phong xù giựt méo xẹo, trông như miệng con cá lưỡi trâu đang ngáp ngáp, và da mặt thầy bị nám đen, trông dường như thầy vừa đổi sắc, đạt đạo quả Niết Bàn hóa thân thành người Ấn Độ. Thân xác của thầy đã mập, lùn, béo tròn như cái hột vịt lộn, bây giờ lại thêm da đen, miệng méo xẹo, trông thầy thiệt chẳng giống một con giáp nào.
Về mặt tâm thần, từ đó “thiền sư ôm“ Henri Kỷ Cương nói năng chẳng khác nào kẻ khật khùng. Mỗi lần lên diễn đàn biểu diễn Thiền Ôm, thầy lại ba hoa khoe mảnh bằng cử nhân toán học, rồi nói tràng giang đại hải không ngừng, khiến có người phải kéo xuống, mà thầy vẫn không chịu tuột xuống. Đây lại thêm một kết quả nhãn tiền nữa về phương pháp tu Thiền theo kiểu “tìm đường vào“ và “xài chìa khóa mở cửa” của Nhất Hạnh!
Vậy, những ai muốn đạt ngộ món Thiền Ôm, và mau chóng thay hình đổi dạng như thiền sư Henri Kỷ Cương, hãy nhanh chân đến ghi tên với thiền sư Nhất Hạnh, tại... làng Hồng!!


2007-11-20 04:59:21
(ĐVN)
bahai0
Senior Member
Join Date: Aug 2011
Số Điểm: 703
Old 11-23-2011 , 12:08 PM     bahai0 est dconnect  search   Quote  
CAO. N. PHƯỢNG, NGƯỜI ĐÀN BÀ NHIỀU THỦ ĐOẠN VẶT
(Cao Ngoc Phuong is the sex partner of Thich-Nhat-Hanh)



Thiên ha thuộc thành phần phản chiến trước năm 75, sống rải rác trên đất Pháp, các PT sáng suốt sống ở Paris thường nghĩ rằng, CN Phượng tác yêu tác quái được chẳng qua nhờ đằng sau có gian tăng Nhất Hạnh giựt dây dụi. Nhưng thực ra y thị cũng có bản lĩnh riêng, có năng khiếu kinh tài khá bén nhạy. Về thủ đoạn làm tiền, dường như “thiền sư” gian ác muốn giấu mặt tránh tiếng, nên đã để cho thị Phượng toàn quyền định đoạt. Xin lược kể vài mánh lới làm tiền lặt vặt, ti tiện nhất, để các PT độc giả tùy nghi phán xét. Trước hết là chuyện trấn lột tiền bán bún riêu của ni sư Liễu Nhiên, chị ruột của nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh hiện đang sống ở Na Uy với kép nhí Nguyễn Hữu Nhật. Có một thời gian ni sư Liễu Nhân đã mò đến Làng Hồng vừa để theo “thầy” tu Thiền, vừa trổ tài nấu nướng, bày món bún riêu đặc sản Bắc Kỳ ra bán trong chùa. Dĩ nhiên việc buôn bán này phải được Thị Phượng đồng ý trước, nhưng tiền bán bún riêu được bao nhiêu Thị Phượng khoắng hết, cả vốn lẫn lời, bảo rằng sẽ gửi món tiền đó về VN để giúp trẻ mồ côi và người tàn tật. Nhưng sự thực, lúc bấy giờ ở VN có trẻ em nào hay một người tàn tật nào đã được hưởng món tiền bán bún riêu ấy của ni sư Liễu Nhân không, chẳng ai biết?!...



Một chuyện trấn lột lặt vặt khác, xin kể thêm, để bạn đọc tùy nghi phán xét. Một anh ký giả kiêm nhà văn nọ tị nạn ở Paris muốn viết một bài phóng sự sinh hoạt ở làng Hồng trong mùa hè. Anh ta muốn thuê khách sạn ở ngoài, gần khu làng Hồng, để khi nào thuận tiện, hay đến đêm, khi Nhất Hạnh đăng đàn “giảng pháp”, anh mới vào nghe. Thị Phượng nghe nói chẳng lẽ từ khước thẳng thừng, liền đặt điều kiện làm khó ngay, muốn tham quan Làng Hồng, buộc phải đóng tiền thuê “dortoir” ở trong Xóm Hạ 1 tuần lễ, với giá mỗi ngày 150 Franc (Quan Pháp, trước khi có tiền EURO)!



Chuyện lợi dụng xảy ra gần đây nhất là Thị Phượng đã dụ một anh nhà thơ ở HK cho cô con gái vừa có bằng tiến sĩ văn chương vừa mới tốt nghiệp dương cầm ở nhạc viện Montréal (Canada) qua “trú ngụ” ở làng Hồng một thời gian để tu... Thiền! Cặp uyên ương “Thiền Sư” Nhất Hạnh- CN Phượng đã lợi dụng sự hiện diện của cô gái trẻ tuổi, có tài ấy để làm “cò mồi” cho chiến dịch tuyên truyền, quyến rũ lớp thanh niên, thiếu nữ ưu tú ở các nơi hải ngoại kéo nhau đến Làng Hồng để nạp tiền, làm giàu thêm cho vợ chồng sư phụ. Những nam, nữ trẻ tuổi ấy - chưa có chút kinh nghiệm gì về những thủ đoạn gian manh lắt léo của bọn cáo già đội lốt tu hành - đến làng Hồng, với danh nghĩa... ”tu Thiền”; nhưng trong đầu họ chưa hề dính chút khái niệm nào về “Thiền”, chỉ nghe Nhất Hạnh lè nhè toàn những những chuyện thuộc về tâm linh âm u, trong những buổi tập Thiền, kiểu tập “Yoga” Ấn Độ, đông đảo như trong mấy trại nuôi gà thủ công nghệ, nên họ sanh ra chán nản, chỉ chờ đến đêm tối, khi màn đêm đã buông xuống, rủ nhau tụ họp năm chòm, bảy nhóm ngoài vườn, để đàn địch, hát hỏng nghêu ngao, và trửng giỡn rậm rật, gây ồn ào, khiến mấy ông già, bà lão ở các “dortoir” ngủ không được, dù đã lỡ đóng tiền cả tuần lễ, cũng đành phải lặng lẽ rút lui, bỏ cuộc!



Như tôi đã từng nói tản mạn trong một số sách của tôi, ngoài những kẻ tật bịnh bẩm sinh, phàm ở đời ai cũng được tạo hóa trang bị cho một trí óc thông mình tương đối như nhau. Nhưng khi vào đời tranh sống, chỉ những kẻ nào biết đóng kịch, và đóng kịch khéo mới thành công vượt bực. Đóng kịch càng khéo càng mau chóng thành công, và dễ dàng thanh công lớn, thành công vẻ vang! Bây giờ, nếu đem chiếu cái nguyên lý này vào bọn giặc thầy chùa ngày nay ở khắp nơi hải ngoại, ta không khỏi ngạc nhiên thấy sao mà nguyên lý ấy trúng phóc đến như thế. Bởi suốt 28 năm nay, bọn lưu manh đóng kịch Thiền Sư, Đại Đức, Thượng Tọa, Hoà Thượng... tên nào cũng no bóc ké, tiền bạc rủng rỉnh, nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia đùm đề, quân hầu, đầy tớ rậm rật, gọi dạ bảo vâng, cung kính răm rắp. Nhưng, giữa thời đại văn minh cơ khí hiện tại, nhất là ở các quốc gia Âu-Mỹ, bọn thầy chùa bịp bợm cũng cần phải biết quảng cáo cho vở kịch “thiền sư” của mình ăn khách thêm trong giới ngoại chủng Tây phương. Chỉ cần bịp được một vài kẻ dị chủng ngờ nghệt trước vấn đề tâm linh huyền bí, tất nhiên sẽ thu hút thêm được một số dân Giao Chỉ tị nạn có thói a dua, đua đòi truyền kiếp, chẳng khác gì loài thiêu thân, sẵn sàng mù quáng lao đầu vào lửa đỏ. Nắm được cái then chốt tâm lý ấy, cặp Nhất Hạnh-CN Phượng đã chuyển hướng, vận dụng cái vốn sinh ngữ tầm thường của mình vào lãnh vực kinh tài, rao bán “Thiền - Phật” cho người Tây phương, đồng thời tha hồ nói phét với người Âu- Mỹ, và khoác lác kể lể thành tích đầu Ngô mình Sở chuyện “cái tôi đáng ghét” của Thị Phượng từ lúc còn con nít, chùi đít chưa sạch. Thí dụ như:
- ”...she was simply a very devour Buddhist teenager, and she knew that she wanted to help children who were going hungry and becoming delinquents... I went to the slums alone... Our principle is to come to poor people with our love, our care, our understanding, and make the revolution from what we have in our hand, in our ability...
Then the bombs arrived. A few guerillas shot at the sky, and American bombers thought that there were many guerrillas, so they destroyed the area where we had been helping the villagers. We rebuilt. Bombing, and we rebuild. Rebuild houses, rebuild the school. We went on for six months, and then the war came again, guerrillas came, more bombing, and we rebuilt the second time, and then the war came again, then more bombing.Four time...
After the bombing of Saigon, the city was littred with fourty thousand bodies, decomposing in the tropical heat. She helped the Red Cross carry away and bury many of the bodies. She could not eat for many days because of the odor.
I looked deeply into these forty thousand and I saw only suffering dead bodies. I did not see that they were Communist or mercenary. I saw that they were my brothers and sisters. And it made me cry every day!”... (trích “ The bond between women, I do not behearse my anger của Nhất Hạnh-Thị Phượng) (trg 272, 274, 275, 277).
[Lược dịch: Cô ta (trỏ Thị Phượng) chỉ là một người con gái nhỏ lứa tuổi lên mười sùng bái đạo Phật, và cô muốn giúp những đứa trẻ đói khát và phạm tội... tôi đến các khu ổ chuột một mình... Nguyên tắc của chúng tôi là đến với dân nghèo bằng tình thương, bằng sự săn sóc, bằng sự hiểu biết của chúng tôi, và làm cách mạng với khả năng và những gì chúng tôi có sẵn trong tay...
Rồi những trận đánh bom diễn ra. Vài du kích quân bắn chỉ thiên, khiến phi công oanh tạc Mỹ cho rằng nơi đó tập trung nhiều du kích lắm, thế là chúng triệt hạ toàn vùng, nơi mà chúng tôi đã giúp đỡ dân làng. Chúng tôi tái thiết lại. Đánh bom, chúng tôi tái thiết. Xây dựng lại nhà cửa, xây dựng lại trường học. Chúng tôi tiếp tục trong 6 tháng, rồi chiến tranh trở lại nữa, du kích quân đến, bom đạn trút xuống nhiều hơn, chúng tôi lại tái xây dựng lần thứ nhì, cứ thế chiến tranh lại diễn ra thêm nữa, và bom càng trút xuống nhiều hơn. Đến bốn lần!...
Sau những trận đánh bom Sài Gòn, thành phố tràn ngập xác chết của bốn chục ngàn người đã bị thối rữa dưới cái nóng của khí hậu nhiệt đới. Cô (trỏ Thị Phượng) đã giúp Hồng Thập Tự dọn dẹp xác chết, và khiêng một số xác đem đi hỏa thiêu. Cô ấy đã không thể ăn uống gì được trong nhiều ngày vì mùi hôi thối.
Tôi nhìn sâu vào bốn chục ngàn xác chết ấy và tôi nhận thấy chỉ toàn là những cái xác đau khổ. Tôi không nhận thấy họ là Cộng Sản hay bọn đánh giặc mướn. Tôi nhận thấy họ đều là những anh, chị, em của tôi. Và điều đó đã khiến tôi khóc ròng mỗi ngày...].

Tại sao cặp Nhất Hạnh-CN Phượng phải bịa đặt những chuyện đánh bom phi lý, khoác lác kể lể thành tích giúp người nghèo, lo tái thiết nhà cửa, trường học, và giúp cơ quan HTT khiêng 40.000 xác chết sình thúi giữa Sài Gòn, đem đi chôn hay hỏa thiêu... như thế trong một quyển sách tự thuật bằng ngoại ngữ để làm gì ?
Dễ hiểu lắm: Chỉ cốt đánh động mối thương tâm của người Tây phương, và nhân danh “kẻ tu hành” làm việc thiện, để moi tiền rút bạc của những người có lòng bác ái, chân thật. Chỉ nội trong đoạn văn tả oán ngắn ngủi này, ta đã nhận ra nhiều điểm bịp bợm quan trọng mà người Tây phương xa lạ không sao hiểu nổi gồm:
- Đánh bom tiêu diệt toàn vung chỉ vì vài tên du kích ngứa tay bắn chỉ thiên chơi. Chuyện này Nhất Hạnh và CN Phượng ra mặt “chống Mỹ cứu nước” rõ rệt.
- Cuộc đánh bom nào của quân đội HK ở Sài Gòn đã giết chết một lúc tới 40.000 nhân mạng, đến nỗi Hồng Thập Tự lo không xuể, phải bỏ cho sình thúi, dưới cái nóng nhiệt đới, khiến bọn Nhất Hạnh và Thị Phượng phải nhào vô đi khiêng xác?!... Sự bịa đặt láo lếu này, có lẽ chỉ người VN biết được, chớ người Âu-Mỹ xa lạ làm sao tìm hiểu và kiểm chứng nổi?
- Xây dựng nhà cửa, và trường học cho cả làng.
Nghe danh từ có vẻ vĩ đại lắm. Nhưng là người VN, chúng ta còn lạ gì những nhóm thanh niên, nam, nữ tới tuổi phát dục, trong số cũng lộn sòng nhiễu tên trốn quân dịch, đào ngũ, rủ nhau đến đó dựng lên vài cây tầm vông, cong vòng, khẳng khiu như cổ tay mấy đứa bé ốm đói, rồi lợp vài miếng tôn, hay lá dừa, lá gồi lên nóc, để tạm che nắng. Như thế gọi là làm nhà và xây trường học đấy!
Là một nhà báo chuyên nghiệp, tôi đã từng để mắt đến những trò “bọ chó múa bấc“ kiểu này. Xét về công chẳng kể gì, xét về của chẳng đáng bao nhiêu. Nhưng khi người Âu-Mỹ nghe nói đến việc dựng lại nhà, xây cất lại trường học cho cả làng, trên một vùng dân cư đông đúc cư ngụ, trong trí họ hình dung ra cả một chương trình qui mô vĩ đại, đòi hỏi rất nhiều công sức và cần đến một ngân khoản khổng lồ, nên họ đã không ngần ngại trao cho cặp Hạnh-Phượng những số tiền rất lớn. Những số tiền ấy, may mắn được nhập vào chương trình nhiều lắm chừng 10%. Số tiền khổng lồ còn lại bị liệt vào các khoản dịch vụ, giao tế, di chuyển, và chi tiêu hành chánh... là hết nhẵn!
Về mặt sinh ngữ, dĩ nhiên Nhất Hạnh có trình độ khá hơn CN Phượng, mặc dù vẫn không tinh luyện đến mức trúng bong như người Tây thường nói: ”...comme il faut!”.
Có một điều không mấy ai biết được là những bài thuyết giảng bằng 2 sinh ngữ Anh, Pháp của cặp Hạnh-Phượng đều do một vài đệ tử tinh thông 2 ngôn ngữ này bổ chính giùm. Chẳng hạn về Anh Ngữ, nàng Phượng đã nhờ cô Mobi Wareen dịch cho. Cô này đã được Nhất Hạnh đặt cho cái tên Việt Nam là: Mobi Quỳnh Hoa. Còn thị Phượng thì đóng vai “ông tơ, bà nguyệt” làm mai cho Mobi một tấm chồng da vàng mũi xẹp, người Việt gốc Chợ Lớn. Đây là một loại “thâm cung bí sử” bị tiết lộ, chẳng khác nào anh chàng Michael Moore, tác giả quyển sách hiện đang bán chạy nhất thế giới ”Stupid White Men”, đã lật tẩy tổng thống George W. Bush của HK, nơi cuối trang 38 bằng câu nguyên văn: ”Your aides have said that you don’t (can’t?) read the briefing papers they give you, and that you ask them to read them for you or to you…” (Các nhân viên phụ tá cuả ông đã kể rằng ông không (hay không thể?) đọc được những trang giấy thuyết trình mà họ đã đưa cho ông, và rồi ông phải nhờ họ đọc giùm hay đọc cho ông mấy trang đó) [trích: “An open letter to “president” George W. Bush 1.- George, are you able to read and write on an adult level?).
Hơn thế, muốn cho chồng mình được nổi danh trong giới quần chúng Pháp ưa chuộng các vấn đề tâm linh, Thị Phượng đã khổ công tìm mọi cách để lân la làm quen với với cặp vợ chồng ký giả người Pháp, rất nổi danh, là Jean Pierre Cartier và Rachel Cartier. Đôi uyên ương ký giả danh tiếng này đã từng thực hiện cuốn phim “Les Prophètes d’Aujourd’hui” (Các Đạo Sư Ngày Nay).
Từ đó Thị Phượng trổ hết tài nịnh bợ, o bế nàng Rachel Cartier, để nhờ hai vợ chồng họ viết giùm cho một bài quảng cáo về các lớp dạy Thiền như trại nuôi gà công nghệ của Nhất Hạnh. Nhưng bất hạnh thay cho Thị Phượng, đã tốn công và tốn nhiều thì giờ, mà vẫn gõ không đúng cửa!
Bởi vợ chồng ký giả Cartier chỉ thích viết về các giáo phái (sectes), như giáo phái Soufisme của đạo Hồi, hay các giáo phái khác của đạo Thiên Chúa, đạo Chính Thống, đạo Tin Lành, hay đạo Du Già (Do Thái) trên đất Pháp đông đến 172 giáo phái như: Jéhovah, Mandaron, Mormon, L’Ordre du Temple Solaire, Scientologie, Moon, Soka Gakkai v.v... Trong số, vợ chồng ký giả Cartier cũng đã tỏ ra đặc biệt quan tâm đến tổ chức đạo tràng của “Gourou” Arnaud Desjardins, một hình thức hỗn hợp các tôn giáo ở Ấn Độ, Trung Đông và Tây Phương. Nhưng ngược lại, họ không bao giờ viết gì về các đạo tràng của các Thiền sư chính cống của Nhật Bản.
Như thế, nếu là người nhạy cảm, thiết tưởng Thị Phượng phải biết ngay, chí như “Thiền chính cống“ của Nhật Bản mà vợ chồng Cartier còn không đếm xỉa gì đến, thì làm sao họ lại có thể chịu phí thì giờ để quảng cáo cho cái trò Thiền bá láp của Thông Huyền Bồ Tát bịp, và Quan Âm Chân Không dổm cho được!
Cuối cùng, đụng đầu vào thực tế phũ phàng, Thị Phượng vừa tủi nhục, vừa căm hận, nhưng vẫn không làm sao trả thù được vợ chồng Cartier, Thị Phượng đành tung tin phao phản ngược lại, để gỡ thể diện bằng câu: ”Ối, hai vợ chồng Cartier đã tới làng Hồng năn nỉ “Thầy” tới sùi bọt mép, muốn rớt cả răng, để “thầy“ cho phép họ được viết quảng cáo về “thầy”, nhưng “ thầy”vẫn... từ chối như thường!”




2007-11-20 05:01:40
(ĐVN)
stalin2nd
Member
Join Date: Jul 2011
Số Điểm: 450
Old 12-09-2011 , 12:50 PM     stalin2nd est dconnect  search   Quote  
http://phapnanbatnha.net/index.php?o...m-nh&Itemid=65

Dưới đây là những đoạn phim ghi lại toàn bộ sự kiện đã sảy ra tại tu viện Bát Nhã.



Ngày 27.09.2009 Dưới sự chỉ đạo của công an, côn đồ đã kéo vào tu viện Bát Nhã phá phách và đánh đập các thầy.

Dưới đây chúng tôi chỉ ghi đươc những đọan đầu của cuộc đập phá xin quý phật tử thông cảm
Cập nhật ngày 23.09.2009
Sư chú Đồng Thanh dẫn dân phu hái trà vào thiền đường quậy phá ngày 20.09.2009
Thanh niên tụ tập, chửi mắng quý thầy tại Xóm Rừng Phương Bối Ngày 21.09.2009
Cập nhật ngày 22.08.2009 Tóm tắt các sự kiện sảy ra tại tu viện Bát Nhã
Các thầy Đồng đập phá cốc tranh tại xóm Bếp Lửa Hồng 23.06.2009

Ban trị sự phật giáo tỉnh Lâm Đồng bị tấn công 29.06.2009

Quý thầy Đồng hướng dẫn phật tử biểu tình qua ba xóm Bếp Lửa Hồng, Rừng Phương Bối, Mây Đầu Núi 05.07.2009

Quý thầy, quý sư cô thực tập thiền hành trong những ngày khó khăn
Giờ ăn cơm quá đương tại Bát Nhã Sau những ngày trai đường xóm Rừng Phương Bối bị đập phá
Quý thầy, quý sư cô tiếp nhận thực phẩm trong các ngày bị cô lập
Xin nước từ nhà hàng xóm và sinh hoạt tai xóm Rừng Phương Bối
Kéo nước ban đêm cho xóm Bếp Lửa Hồng
Công an và thầy Đồng Định sinh hoạt với nhóm côn đồ
Cư xá Tâm Ban Đầu, nhà bếp xóm Rừng Phương Bối, Quảng trường Bông Hồng Cài Áo bị côn đồ đập phá
Nhà bếp và Cư Xá Tâm Ban đầu bị đập phá
Công an sinh hoạt với côn đồ tại trai đường xóm Rừng Phương Bối


Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 12:28 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.