VietFun For All   Quick Language Chooser:

Go Back   VietFun For All > TÔN GIÁO > Tìm Hiểu Tôn Giáo

Reply
 
Thread Tools Display Modes
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-20-2012 , 04:29 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  






===================



http://www.SupremeMasterTV.com


Những ngôn từ của chính Đức Jesus minh bạch và xác định, được Origen dẫn chứng khi nói đến giáo lý bí ẩn được Giáo Hội gìn giữ. “Khi Ngài ở một mình thì những kẻ chung quanh cùng 12 môn đồ hỏi Ngài về thí dụ ấy. Ngài phán rằng thí dụ được đưa ra cho các ngươi để biết được sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời, còn đối với người ngoài thì mọi sự ấy đều là các thí dụ”. Và về sau: “Ngài dùng nhiều thí dụ dường ấy mà giảng đạo cho họ, tùy sức họ nghe. Ngoài thí dụ Ngài chẳng phán gì cùng họ, nhưng khi ở riêng thì Ngài giảng nghĩa hết cho môn đồ (S.Mark 4:10,11,33,34). Xin lưu ý các chữ ẩn nghĩa: “khi họ ở riêng” “những người ngoài”. Lời tường thuật của S.Mathew cũng thế: “Ngài giải tán đám đông đi khỏi và bước vào nhà, các môn đồ đến với Ngài”. Những giáo lý được giảng “trong nhà”, những ý nghĩa thâm sâu nhất của những lời giáo huấn của Ngài được người ta tin chắc là lưu động đi khỏi và bước vào nhà, các môn đồ đến với Ngài”. Những giáo lý được giảng “trong nhà”, những ý nghĩa thâm sâu nhất của những lời giáo huấn của Ngài được người ta tin chắc là lưu truyền từ vị thầy này sang vị thầy khác. Nên lưu ý rằng Kinh Thánh đưa ra những lời giải thích thần bí bóng gió bằng biểu tượng, ngụ ngôn mà chúng ta gọi là Tiểu Bí Pháp, nhưng còn ý nghĩa thâm sâu hơn chỉ được dạy cho những người đã được Điểm Đạo.

Ngay chính các tông đồ, Ngài còn nói: “Ta còn có nhiều điều nói với các ngươi nữa, nhưng bây giờ các ngươi không thể đương nổi” (S. John 16:12). Sau khi chết, Ngài còn dạy cho họ vài điều ấy nữa. Ngài hiện ra trước các môn đồ và “phán bảo những điều về nước Đức Chúa Trời”.(Công vụ 1:3). Không có điều nào trong các điều này được ghi lại công khai, nhưng ai dám bảo rằng chúng bị lãng quên và không được truyền lại như một bảo vật? Truyền thuyết cho rằng: Sau khi chết Đức Jesus vẫn gặp gỡ các vị tông đồ một thời gian rất lâu để dạy bảo họ. Có một câu mà nhiều người sẵn lòng giải thích một cách nhẹ nhàng khác đi: “Đừng bỏ vật thánh cho chó, cũng đừng quăng ngọc châu mình cho heo”(S.Matt 7:6).
Quả thật đó là một lời răn chung, nhưng Giáo Hội đầu tiên muốn nói đến những giáo lý bí truyền. Nên nhớ rằng ngày xưa những tiếng đó không gây chướng tai như ngày nay bởi vì tiếng “chó”- giống như tiếng “kẻ phàm phu”, “kẻ phạm thượng” là do những người bên trong một giới nào đó nói đến giới bên ngoài- một hội, một quốc gia chẳng hạn. Đôi khi tiếng ấy cũng được dùng để chỉ những người ngoài vòng Điểm Đạo, Giáo Hội đầu tiên cũng dùng với nghĩa ấy. Ai chưa được nhận vào Huyền Môn được xem như ở bên ngoài “nước của Đức Chúa Trời” hoặc “nước Do Thái tinh thần”. Ngoài tiếng “Huyền Môn” còn nhiều tên khác được dùng để chỉ nhóm những người được Điểm Đạo hoặc liên quan đến sự Điểm Đạo: Vương Quốc, Vương quốc của Đức Chúa Trời, Con Đường Hẹp, Cái cổng Hẹp, Người Toàn Thiện, Người được Giải Thoát, Sự Sống Vĩnh Cửu, Sự Sống, Sinh lần thứ Hai, Hài nhi.(The Kingdom, The Kingdom of God, the Kingdom of Heaven, the Narrow Path, the Straight Gate, the Perfect, the Saved, Life Eternal, Life, the Second Birth, Alittle One, Alittle Child).

Nhờ các văn tự Cơ Đốc đầu tiên, người ta hiểu rõ được nghĩa các chữ này. Trong vài trường hợp ngoài C.Đ.G cũng sử dụng các từ trên. Trong cộng đồng người Essences có ba cấp bậc: Tân Tín Đồ, người Huynh Đệ và Vị Toàn Thiện (Neophytes, Brethen perfect). Hài nhi là tên thông thường chỉ một thí sinh vừa mới được Điểm Đạo, nghĩa là vừa mới được “sinh lần thứ hai”.






================================
================================


[....The lessons taught by experience are carried over from one life to the next and help or oblige the seeker, little by little, to discover the real purpose of his life here on earth. Karma is simply the law of Cause and Effect. As St. Paul expressed it: "Be not deceived; God is not mocked; for what-soever a man soweth that shall he also reap." According to the age-old Teaching of the Saints, the sowing may be done in one life, and the reaping may be done in the same life or during subsequent lives. The Law of Karma operates with minute and precise exactness. According to it, hate and you will be hated. Steal, and you will be robbed in turn. Do good, and good will be done unto you. The consequence of every deed returns to us in a corresponding manner and in exact proportion. We receive precisely what we deserve from our past thoughts and deeds, neither more nor less. Under the Law of Karma, we are meted out even justice.The True Masters have always taught that the Lord of Karma is the ruler of The Second Great Spiritual Region. He is the Jehova God of the Christian Bible, the Brahm of the Hindu religion. By the Saints, this ruler is called the negative power, as contrasted with his overlord, the Positive Power, the Lord of the Fifth Spiritual Region. Acting under the direction of the Lord of the Fifth Region, the, True or Imperishable World, this lower ruler administers the affairs of this world with exact and absolute justice. This includes his administration of the karmas, or actions of the people in this world.] XIX




================









NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 06-20-2012 , 06:23 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
Khái niệm về Vô Minh trong Phật Giáo

Hoang Phong



Vô minh (avidya/avijja) là "nút thắt" hay cái "khoen" đầu tiên trong số mười hai "nút thắt" của chuỗi dài lôi kéo và tương tác gọi là "Thập nhị nhân duyên", trói buộc chúng sinh trong thế giới luân hồi.
Cứu cánh của Phật giáo là sự Giác Ngộ, phương tiện giúp đạt được Giác Ngộ là Trí Tuệ, và đối nghịch với Trí Tuệ là Vô Minh. Vậy muốn đạt được Giác Ngộ thì phải loại trừ Vô Minh. Vô Minh mang lại khổ đau và Giác ngộ thì mang lại sự Giải Thoát. Trí Tuệ là liều thuốc để hóa giải Vô Minh tức để loại bỏ khổ đau. Chính vì thế mà vô minh là một khái niệm vô cùng quan trọng trong giáo lý nhà Phật bởi lẽ nếu không hiểu được vô minh là gì thì quả thật là khó mà loại bỏ được nó. Vô minh được kinh sách đề cập trong ba trường hợp khác nhau:

- Vô minh là nọc độc thứ nhất trong số ba nọc độc gọi là Tam Độc: đấy là sự đần độn hay u mê (moha - si mê); sự thèm khát và bám víu (raga - tham lam) và hận thù (krodha - sân hận). U mê (moha - ignorance - si mê) sẽ đưa đến những hành động ngu đần và sai lầm, mang lại những xúc cảm bấn loạn trong tâm thức.

- Vô minh (avidya/avijja) là "nút thắt" hay cái "khoen" đầu tiên trong số mười hai "nút thắt" của chuỗi dài lôi kéo và tương tác gọi là "Thập nhị nhân duyên", trói buộc chúng sinh trong thế giới luân hồi. Cái nút thắt đầu tiên ấy còn được gọi là vô minh nguyên thủy (sahajavidya), tức sự kiện không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về quy luật nguyên nhân hậu quả (nghiệp) và không ý thức được sự hiện hữu trói buộc của chính mình.

- Vô minh mang ý nghĩa của sự lầm lẫn, thiếu sáng suốt (ditthi, wrong views - tà kiến) nghĩa là không nhìn thấy bản chất của mọi vật thể, tức phương thức hiện hữu đích thật của con người và mọi hiện tượng.

Kinh sách, bài giảng, bài viết... về khái niệm vô minh nhiều vô kể, do đó bài viết ngắn này chỉ nhằm nhắc lại một vài định nghĩa chủ yếu và chỉ khai triển thể dạng thứ ba của vô minh tức là sự lầm lẫn và u mê về bản chất của mọi vật thể, đồng thời nêu lên một vài thí dụ cụ thể để chúng ta cùng suy ngẫm. Từ "vô minh" nói chung thì tiếng Phạn gọi là Avidya và tiếng Pa-li là Avijja, nghĩa từ chương của chữ này là sự "thiếu hiểu biết", thế nhưng cũng có thể hiểu đấy là một sự "nhầm lẫn". "Thiếu hiểu biết" không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết mang lại từ sự học hỏi từ chương trong sách vở, hay sự thiếu hiểu biết mang tính cách thông thái của một nhà bác học. Nói một cách đơn giản thì ta có thể hiểu vô minh như là một cách "nhìn sai" hay "hiểu sai". Đối với Phật Giáo thì một học giả uyên bác, một triết gia thông thái, một khoa học gia lỗi lạc hay một chính trị gia khôn ngoan v.v... vẫn có thể là những người "vô minh" và "u mê", vì tuy rằng họ hiểu rành rọt về chuyện này thế nhưng cũng có thể nhìn sai và hiểu sai về một chuyện khác. Không những thế, cái chuyện khác ấy đôi khi lại có một tầm vóc quan trọng hơn nhiều so với những chuyện mà họ biết thật rành rẽ, bởi vì nó có thể liên hệ đến hạnh phúc và tương lai lâu dài của họ và của cả những người khác nữa.

Tóm lại dù đấy là một vị giáo sư hay chỉ là một người không có cái may mắn được học hành thì cả hai cũng đều có thể rơi vào sự lầm lẫn như nhau. Nếu sự lầm lẫn ấy chỉ liên hệ đến những biến cố và sự kiện thường tình trong đời sống thì hậu quả mang lại đôi khi cũng không đến đỗi quá tệ hại. Thế nhưng nếu đấy là một cái nhìn lầm lẫn, một sự quán thấy lệch lạc, không nhận biết được bản chất đích thật của chính mình và của mọi sự vật, không quán thấy được ảo giác của mọi hiện tượng đang biến động chung quanh mình và những xung năng trong tâm thức mình, thì hậu quả mang lại sẽ trầm trọng hơn nhiều.

Sự phức tạp của vô minh và sự đa dạng của việc tu tập

Như vậy nếu muốn phá bỏ hay "khắc phục vô minh" để mở rộng sự hiểu biết và tìm thấy trí tuệ thì phải làm thế nào? Việc tu tập quả thật là rắc rối. Con người có quá nhiều xu hướng khác nhau, từ bản chất cơ thể cho đến giáo dục, từ truyền thống cho đến kinh nghiệm cá nhân, từ hoàn cảnh cho đến những định hướng tư lợi, mà tất cả những thứ ấy đều là hậu quả của nghiệp tích lũy từ trước. Quả thật hết sức khó để có thể tìm ra một phương thức chung có tính cách phổ cập, thích ứng cho tất cả mọi người. Vì thế cũng không nên lấy làm lạ là chung quanh ta "mỗi người tu một cách", các tông phái, chi phái thì "nhiều vô kể", và sách giảng thì cũng đủ loại. Thật ra thì đấy là các phương cách khác nhau mà Đạo Pháp dùng để thích ứng với sự đa dạng của chúng sinh, hay nói một cách giản dị là để thích ứng với cái vô minh và cái ngã của từng người mà thôi.

Giáo lý nhà Phật cũng không phải là không ý thức được việc đó, vì thế mà Đạo Pháp xem đấy đều là những "phương tiện thiện xảo" (upaya) "chấp nhận" cho mỗi người tự tìm lấy một "con đường" thích hợp cho mình, và tất nhiên là cũng phải tôn trọng một số nguyên tắc căn bản nào đó trong Đạo Pháp. Kinh sách cho biết là có tất cả 84.000 "phương tiện thiện xảo", và theo truyền thống văn hóa Ấn độ thì con số này chỉ mang tính cách tượng trưng, có nghĩa là các phương tiện thiện xảo nhiều lắm, đếm không xuể. Vô minh cũng thế, cũng nhiều lắm và đếm không xuể. Mỗi người có một cái vô minh riêng của mình, cũng có thể xem như một thứ "gia tài" riêng, "bị" thừa hưởng từ nghiệp của mình mà ai cũng muốn bảo vệ cái "gia tài" ấy, "bám chặt" vào nó, "hãnh diện" vì nó, "ôm khư khư" lấy nó. Vì thế việc tu tập tất nhiên cũng phải phù hợp với cái vô minh của từng người là như vậy.

Còn tiếp

http://<br /> <br /> http://www.ho...Phat-Giao.html
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-20-2012 , 06:46 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



The Difference Between Quan Yin Method and Breatharianism P1


( Sự khác biệt giữa Pháp môn Quán Âm và Sống bằng không khí )








==================================



http://www.SupremeMasterTV.com

I will make your name famous through all generations; may all nations praise you forever!


-- (Psalms 45:18) --












saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-21-2012 , 04:13 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  











LỬA - TAM MUỘI


=========================




If Thine Eye Be Single

________




http://www.SupremeMasterTV.com



Matt 6:22 The light of the body is the eye: if therefore thine eye be single, thy whole body shall be full of light.


(King James Version)





==========
========================





http://community.vietfun.com/showthr...75#post9231175



1) Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.

Kinh Đại Duyên (15), Trường bộ kinh


2) --"Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.


Tương Ưng Bộ kinh.



========================




http://www.thongthienhoc.com/bai%20v...truyen.htm#loi


Khi chúng ta biết được các nghĩa nầy thì những đoạn khó hiểu, gút mắc sẽ trở nên hiểu được. Có người nói với Ngài rằng: Thưa Chúa, kẻ được cứu có ít chăng? Ngài đáp cùng chúng rằng: Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì Ta nói cùng các ngươi, nhiều kẻ sẽ tìm vào mà không thể được (S.Luke 13:23,24). Câu này gây kinh ngạc và khó tin cho cách thức cứu rỗi khỏi hỏa ngục đời đời của Phái Tin Lành thông thường. Không ai dám nói Vị Cứu Thế quả quyết nhiều người sẽ tìm cách tránh khỏi địa ngục để vào thiên đàng nhưng sẽ không thành công. Nhưng khi áp dụng nghĩa cửa hẹp của sự Điểm Đạo và sự giải thoát khỏi tái sinh, thì câu trên hoàn toàn đúng thật và tự nhiên. Lại nữa: “Hãy vào ngõ hẹp, vì ngõ rộng và đường lớn dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó thì nhiều. Song ngõ hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ tìm được thì ít (S.Matt 7:13,14).

Cái “Cổng Hẹp” này là cái cổng của sự Điểm Đạo, mà một thí sinh phải bước qua để vào “Vương Quốc”. Hẳn nhiên chỉ có một ít người qua được cái cổng ấy mặc dầu có hằng hà sa số người vào miền hạnh phúc của cõi Thượng Giới. Cách đây gần ba ngàn năm, một vị Đại Giáo Chủ khác có nói: Trong hằng ngàn người, hiếm có được một người cố gắng để hoàn thiện, trong hằng ngàn người cố gắng thành công hiếm có được một người biết được bản thể tinh túy của Ta”. (Bhagavad Gita 7:3). Trong mỗi thời kỳ, số vị Điểm Đạo thì ít, nhưng trong lời tuyên bố trên không có sự phán quyết đen tối nào về nỗi thống khổ đời đời cho đa số nhân loại. “Người được Giải Thoát”- như Proclus có dạy- là người đã thoát khỏi vòng sinh hóa ràng buộc con người.

Chúng ta nhớ lại câu chuyện một chàng trai đến với Đức Jesus, tôn kính Ngài làm Thầy, và hỏi làm sao để được sự sống đời đời- sự giải thoát khỏi tái sinh nhờ hiểu biết về Thượng Đế. (Nên nhớ rằng người Do Thái tin tưởng mọi linh hồn chưa hoàn thiện phải trở lại sống trên trái đất). Câu trả lời đầu tiên của Ngài là lời khuyên công truyền thông thường: “Hãy giữ các điều răn”. Nhưng khi chàng trai đáp: “Mọi điều đó tôi đã giữ từ khi còn nhỏ”. Đối với một tâm hồn không còn tội lỗi như y, Vị Huấn Sư chân chính trả lời: “Nếu ngươi muốn được trọn lành hãy đi, bán hết của cải ngươi mà cho kẻ nghèo, thì ngươi sẽ có của báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta”. “Nếu ngươi muốn được trọn lành” tức là trở nên một nhân viên của Vương Quốc, thì phải có tính thanh bần và vâng lời. Sau đó Ngài giải thích cho các môn đồ rằng một người giàu khó có thể bước vào nước Trời, còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Đối với con người, điều ấy vẫn bất năng, nhưng đối với Trời, mọi sự đều được cả. (S.Matt 19:16-26), chỉ có Trời trong con người mới có thể qua ngưỡng cửa ấy mà thôi.

Đoạn văn này đã được biện hộ theo nhiều cách khác nhau. Hiển nhiên người ta không thể chấp nhận ý nghĩa bên ngoài cho rằng một người giàu không thể bước vào trạng thái hạnh phúc sau khi chết. Người giàu cũng như người nghèo đều có thể bước vào trạng thái ấy và tập tục phổ thông của người Cơ Đốc chứng tỏ rằng họ không khi nào tin rằng của cải giàu sang gây nguy hiểm cho niềm hạnh phúc của họ sau khi chết. Nhưng nếu ta hiểu được nghĩa chân thật của Vương Quốc của Trời thì ta thấy đoạn ấy diễn tả một sự kiện đơn giản và minh bạch. Bởi sự nhận biết về Trời là Sự Sống Đời Đời không thể đạt được cho đến khi mọi sự trần thế đều được quy phục, không thể nào học biết được cho đến khi mọi điều đã được hy sinh. Chẳng những con người phải từ bỏ các của cải vật chất, xem nó qua tay y như người quản lý, mà y còn phải từ bỏ của cải bên trong nữa; chừng nào y chưa cởi bỏ trơ trọi thì y chưa thể bước qua cái cổng hẹp. Đó là điều kiện để được Điểm Đạo, và hạnh “thanh bần, vâng lời, tinh khiết” là lời thệ của thí sinh.

“Sinh lần thứ hai” là một từ ngữ khác được nhận thức rõ trong lễ Điểm Đạo. Ngay hiện nay, các giai cấp cao ở Ấn Độ được gọi là “người được sinh hai lần” và nghi lễ khiến họ sinh lần hai là nghi lễ Điểm Đạo- nhưng ngày nay chỉ còn là hình thức bên ngoài. Khi Đức Jesus nói với Nicodemus, Ngài cho biết rằng: “Nếu người nào chẳng được tái sinh thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”. Lần sinh này do bởi “nước và Thánh Linh”. (S. John 3:5) đây là lần Điểm Đạo thứ nhất. Và một lần sinh khác về sau do bởi “Thánh Linh và lửa” (S. Matt 13:11) giống như lễ báp têm lúc mới được sinh ra, lễ báp têm thứ hai của Vị Điểm Đạo đón mừng y như một “Hài nhi” vào nước Trời (S.Matt 18:3). Biểu tượng này rất là quen thuộc giữa các nhà thần bí Do Thái. Đức Jesus ngạc nhiên trước câu hỏi của Nicodemus và trả lời bằng một câu thần bí: “Ngươi là Thầy của Israel mà không biết những điều đó sao?” (S.Matt 3:10).

Một lời dạy khác của Ngài vẫn còn rất khó hiểu đối với tín đồ là: “Vậy hãy trở nên trọn lành như Cha các ngươi ở trên Trời trọn lành vậy.” (S.Matt 5:48). Người Cơ Đốc thông thường biết mình không thể nào tuân thủ điều răn ấy được, mình đầy tội lỗi và yếu hèn thì làm sao có thể trở nên toàn thiện như Trời được? Thấy việc thực hiện hoàn toàn vô vọng, y bèn để sang bên và không nghĩ đến nữa. Nhưng nếu biết được sức cố gắng tăng lên sau nhiều kiếp trì chí hoàn thiện và hiểu rằng chính “Trời trong chúng ta” sẽ chiến thắng bản tính thấp hèn, thì việc thực hiện ấy không xa vời. Chúng ta nhớ lại lời cuả Porphyry rằng người thực hiện những đức tính gương mẫu ấy chính là Cha của các Thánh Thần và chính trong Huyền Môn mà những đức tính ấy được thực hiện.




















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-22-2012 , 01:14 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  


Thánh Paul noi theo vết chân của Thầy, cũng nói cùng một ý nghĩa ấy nhưng rõ ràng hơn, Quý học giả nên chú ý các chương 2 và 3, và tiết 1 của chương 4 trong Thư Thứ Nhất gửi cho người Côrintô (I cor.) và nên nhớ rằng những lời ấy nói với những hội viên đã chịu báp têm và chịu mình Thánh thể. Họ là các hội viên thiệt thụ theo quan điểm hiện đại, mặc dầu vị Tông Đồ chỉ xem họ như những trẻ con, trần tục. Họ không phải là các Tân Tín đồ mà là những người có đầy đủ đặc ân và trách nhiệm của nhân viên Hội Thánh, được Vị Tông đồ xem như cách biệt với thế gian và không hành động như những người trần tục. Xin tóm lược lời vị Tông Đồ:

“Tôi đến với anh em mang theo chứng cớ thiêng liêng không để quyến dụ anh em bằng sự hiểu biết của con người mà bằng quyền năng của Thánh Linh. Chúng tôi cũng giảng sự khôn ngoan giữa những người trọn lành nhưng không phải sự khôn ngoan của con người. Chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Trời trong lẽ mầu nhiệm, cả đến sự khôn ngoan ẩn dấu mà Trời đã phán cho thế gian và không ai cả đến những vua chúa của thế gian hiểu được. Những điều của Minh Triết này vượt qua tư tưởng con người, nhưng Trời đã nhờ Thánh Linh bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Thánh Linh đã dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Trời? Đây là những điều tinh thần, chỉ người nào có trí của Đấng Christ mới nhận thức được.”Anh em ơi, về phần tôi, tôi chẳng thể nói với anh em như với người tinh thần, nhưng như với người thuộc xác thịt, cả đến như những con trẻ trong Christ vậy. Tôi từng cho anh em uống sữa chớ chẳng cho ăn thịt vì anh em không thể chịu nổi, đến bây giờ cũng chưa thể được, vì anh em vẫn còn thuộc xác thịt”. “Tôi đã lập nền như một tay kiến trúc khôn khéo, và anh em là đền thờ của Trời và Thánh Linh của Trời ở trong anh em. Vậy ai nấy hãy coi chúng tôi như thừa sai của Christ và quản gia các Lẽ Mầu Nhiệm của Trời”.

[Để ý rằng đoạn này rất phù hợp với lời hứa của Đức Jesus nơi S.John (16:12-14):”Ta còn có nhiều điều nói với các ngươi nữa nhưng bây giờ các ngươi chưa thể đương nổi. Song khi nào Thánh Linh của lẽ thật đến, Ngài sẽ dẫn dắt các ngươi vào mọi lẽ thật… Ngài sẽ báo các ngươi những điều tương lai… Ngài sẽ nhận của Ta mà báo cáo cho các ngươi.]



















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-22-2012 , 04:16 PM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



Không ai đọc đoạn này mà không công nhận rằng vị Tông Đồ S. Paul có được một nền hiểu biết thiêng liêng của Huyền Môn và các giáo hữu Côrintô chưa thể tiếp thu được. Lưu ý đến những từ kỹ thuật: sự hiểu biết, sự hiểu biết của Trời trong lẽ mầu nhiệm, sự hiểu biết ẩn dấu, chỉ có người ‘tinh thần’ biết được, chỉ nói giữa những người ‘toàn thiện’ còn các người không ‘tinh thần’, các con trẻ trong Christ, người ‘xác thịt’ bị loại ra, chỉ có người kiến trúc khôn khéo, người quản gia các Lẽ Mầu Nhiệm của Trời mới hiểu được.

Thỉnh thoảng ông lại đề cập đến các Lẽ Mầu Nhiệm ấy. Trong thư gửi cho người Ephêsô, ông nói rằng: bởi khải thị đã khiến cho tôi biết Lẽ Mầu Nhiệm… sự hiểu biết của tôi về Lẽ Mầu Nhiệm của Đấng Christ… và khiến cho mọi người đều rõ về sự kết bạn (fellowship) với Lẽ Mầu Nhiệm (Eph.3:3,4,9). Về Lẽ Mầu Nhiệm này, ông đã lập lại với người Côlôse là ông được gọi làm “người thừa hành, chấp sự” Lẽ Mầu Nhiệm đã được dấu kín từ các thời đại và các thế hệ mà nay được tỏ ra cho các thánh đồ của Ngài”, không phải cho người ngoài, cũng không phải cho người Cơ Đốc, mà chỉ cho những Vị Thánh Thiện: “sự vinh hiển của Lẽ Mầu Nhiệm ấy chỉ được tiết lộ cho họ mà thôi”. “Christ ở trong anh em” một câu đầy ý nghĩa thuộc về đời sống của Vị Điểm Đạo. Như thế, chung cuộc mỗi người đều phải học sự hiểu biết ấy để trở nên ‘trọn lành trong Christ Jesus’. Ông bảo người Côlôse cầu nguyện “xin Trời mở cho chúng tôi một cửa truyền đạo để giảng Lẽ Mầu Nhiệm của Đấng Christ”.Ông cũng viết cho Timothy yêu dấu của ông, khuyên y chọn những người trợ tế trong số những người giữ “Lẽ Mầu Nhiệm của đức tin trong lương tâm trong sạch”.(I.Timothy 3:9).


















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-25-2012 , 01:09 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  














LỬA - TAM MUỘI


=========================




If Thine Eye Be Single

________




http://www.SupremeMasterTV.com



Matt 6:22 The light of the body is the eye: if therefore thine eye be single, thy whole body shall be full of light.


(King James Version)




http://community.vietfun.com/showthr...75#post9231175



1) Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.

Kinh Đại Duyên (15), Trường bộ kinh

2) --"Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.


Tương Ưng Bộ kinh.



========================




Tứ diệu đế bao gồm



1.Khổ đế (zh. 苦諦, sa. duḥkhāryasatya, bo. sdug bsngal bden pa སྡུག་བསྔལ་བདེན་པ ), chân lý về sự Khổ: Chân lý thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (zh. 五蘊, sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ. Xem tiếp "Bát khổ".

2.Tập đế (zh. 集苦 諦, sa. samudayāryasatya, bo. kun `byung bden pa ཀུན་འབྱུང་བདེན་པ ), chân lý về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn và ghét bỏ, Ái (愛, sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā), tìm sự thỏa mãn dục vọng, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (zh. 輪迴; sa., pi. saṃsāra). Xem tiếp "Dục lạc".

3.Diệt đế (zh. 滅苦諦, sa. duḥkhanirodhāryasatya, bo. `gog pa`i bden pa འགོག་པའི་བདེན་པ་), chân lý về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.

4.Đạo đế (zh. 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya, bo. lam gyi bden pa ལམ་གྱི་བདེན་པ་), chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā).


=================


Theo truyền thuyết, thông qua sự khám phá Tứ diệu đế, Phật đạt Giác ngộ (覺悟, sa., pi. bodhi). Phật bắt đầu giáo hóa chúng sinh bằng giáo pháp này, tại vườn Lộc uyển. Phật thuyết như sau về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân (bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu):


http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB...C4%91%E1%BA%BF



Đây chỉ là 4 KHẨU HIỆU chung chung để nhắc nhở các ( Đồ đệ ) của Ngài vào thời đó là luôn luôn nương theo các Phương Tiện TỊNH TÂM bằng cách THỞ cho đầu óc khỏi bị chi phối, động loạn, phân tâm theo nghiệp cũ mà GHI NHỚ những ĐIỀU LỆ (GIỚI & LUẬT) THOÁT KHỔ kia. Những điều lệ ni là TRÁNH TẠO KHỔ, Phục TÂM THIỆN rồi từ từ mới được Truyền PHÁP "PHẬT" mà Tu lên.

Chỉ là một bài học thuộc lòng căn bản vào các Giới - Luật thời xưa cho người mới được thâu nhận vào ngõ Tu. Có người bị dính ( Phần nhiều các Thợ trí thức của nhón[b Dịch vụ Tôn giáo quốc doanh VIETCONG ) vào các ngữ -Pháp trong ni, mang vìa làm cách Tu rồi bám theo giòng ẢO GIÁC của mình Thần thánh hoá vào BỐN ĐIỀU RĂN này, gạt thêm KHỔ cho chúng sanh bám víu vào thuyết ngữ pháp trong các Kinh Tạng !


Tuệ Giác Vô ngã đã bị lạc đề, lạc hướng hết ráo trọi !!






===========================




Bấy giờ Timothy giữ một vị thế quan trọng, đại diện cho thế hệ thầy Cơ Đốc kế tiếp. Ông là môn đệ của Thánh Paul, được chỉ định điều hành một phần Giáo Hội.Chúng ta biết Timothy đã được thánh Paul thâu nhận vào Huyền Môn nhờ những câu kỹ thuật làm đầu mối. “Hỡi Timothy, con ta, ta theo lời tiên tri chỉ về con trước kia, đem mạng lịnh này ủy thác cho con,” một câu kinh long trọng của Vị Điểm Đạo khi thâu nhận một thí sinh. Nhưng Vị Điểm Đạo không hiện diện một mình; “Đừng bỏ lơ ân tứ trong con, là điều nhờ lời tiên tri và sự đặt tay của các Trưởng Lão mà ban cho con” (I.Tim 4:14). Thánh Paul nhắc ông giữ lấy sự sống đời đời là sự con được gọi đến, và cũng vì đó mà con đã thừa nhận sự thừa nhận tốt đẹp trước mặt nhiều người chứng kiến (I.Tim 6:12) lời tuyên thệ của người mới được Điểm Đạo trước các Huynh Trưởng và hội đồng các Vị Điểm Đạo. Sự hiểu biết được truyền thụ rất là thiêng liêng đến nỗi Thánh Paul phải thốt to lên: “Timothy ơi, hãy giữ lấy điều đã ủy thác cho con” (I.Tim 6:20)- không phải sự hiểu biết thông thường của người Cơ Đốc, vì nếu thế thì đã không có sự bắt buộc đặc biệt đặt để cho S.Timohty, mà là một sự hiểu biết thiêng liêng giao phó cho ông với tư cách là một người được Điểm Đạo, và cần thiết cho sự an toàn của Giáo Hội. Sau này S.Paul lại nhắc lại điều ấy, nhấn mạnh vào tính cách vô cùng quan trọng của sự hiểu biết ấy, nó là gia tài chung của người Cơ Đốc:[color=redorange] “ Hãy giữ lấy mẫu mực của những lời thuần chính mà con đã nghe nơi Ta, trong đức tin và sự thương yêu trong Christ-Jesus. Hãy nhờ Thánh Linh trong chúng ta mà giữ lấy điều lành đã phó thác cho con rồi [/color(II.Tim 1:13,14) một lời yêu cầu nghiêm trang mà đôi môi có thể phát ra. Ngoài ra đó là trách nhiệm của ông phải truyền sự hiểu biết ấy lại cho tương lai. “Những điều con đã nghe nơi Ta giữa nhiều người chứng kiến”- những giáo lý khẩu truyền thánh thiện được truyền giữa những người được Điểm Đạo, họ là chứng nhân cho sự chính xác của lời truyền đạt- “hãy phó thác cho những người trung tín cũng có tài dạy dỗ kẻ khác”. (II.Tim 2:2).

Nhờ hiểu được Giáo Hội có những giáo lý ẩn mật này, chúng ta thấy được những điều tự nhận xét của Thánh Paul rải rác đây đó. Khi kết hợp chúng lại với nhau, chúng ta biết đại cương về sự tiến hóa của Thánh Paul. Ông xác nhận rằng mặc dầu ông đã ở trong nhóm người trọn vẹn, người được Điểm Đạo- ( vì ông có nói rằng: vậy hễ bao nhiêu người trọn vẹn trong chúng ta đều phải có tâm trí đó)- ông chưa “đạt đến”, chưa thật “trọn vẹn” vì ông chưa được Christ, chưa vươn tới sự “kêu gọi từ trên của Đức Chúa Trời qua Christ”, “quyền năng của sự sống lại của Ngài và được dự phần trong sự khổ sở của Ngài, và đồng hóa theo sự chết của Ngài”; ông đang cố gắng, ông nói: “mong bất cứ thể nào tôi được đạt đến sự sống lại từ kẻ chết” (Phil 3:8-15).


















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-26-2012 , 05:09 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  


16. Khi hồn con đã trở nên dõng mãnh và thoát ra ngoài chốn ẩn thân yên ổn từ trước và khi đã cởi bỏ được cái lớp bảo vệ nó, hồn con tháo phăng sợi chỉ bạc và bay nhảy tự do; khi hồn con nhìn thấy hình ảnh của nó trên những lượn sóng của Không Gian, nó nói thầm: “Ðây là Ta” thì con hãy thú nhận, hỡi Ðệ tử là hồn con bị mắc trong bức màn lầm lạc (7).

17. Trần gian nầy, hỡi Ðệ tử, là phòng Ðau Khổ, nơi đây dài theo Con Ðàng thử thách gian lao biết bao cạm bẩy rải rác để nhốt Chơn Nhơn của con vào vòng lầm lạc gọi là “Ðại Mê Tín”. (8)













saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-29-2012 , 02:39 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  





Phúc Âm Buồn


http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=SRNO2ruPnk

-------


Người còn đứng như tượng đá trong rừng cây già
Người còn đứng như trăm năm vết thương chưa mờ ...


Người còn đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài
Nhuộm đất này nhuộm cho hồng hạt mầm trót vay.


TCS

=======================



http://www.SupremeMasterTV.com
"Fear not them which kill the body, but are not able to kill the soul;
but rather fear him which is able to destroy both soul and body in hell.
"--MATT. x. 28.
















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-30-2012 , 12:22 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



Trust in the Lord P1/3






==========================


http://www.SupremeMasterTV.com/Veg

As long as I talked unceasingly about the Lord,
The Lord stayed away, kept at a distance.
But when I silenced my mouth, sat very still
And fixed my mind at the doorway of the Lord,
I was linked to the music of the Word,
And all my talking came to an end.


--Kabir

















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 06-30-2012 , 02:15 PM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



Bởi đây là sự Điểm Đạo, nó giải thoát con người nó làm người được Điểm Đạo trở thành Chân Sư Trọn Vẹn, đấng Christ sống lại, cuối cùng giải thoát Ngài khỏi sự “chết”, khỏi vòng sinh hóa của nhân loại, khỏi những mối ràng buộc linh hồn vào vật chất nặng kệch. Nơi đây chúng ta lại gặp một số từ kỹ thuật, và cả độc giả nào chỉ đọc theo bề ngoài cũng hiểu rằng “sự sống lại từ kẻ chết” nói nơi đây không có nghĩa của người Cơ Đốc tân thời về sự sống lại thông thường mà mọi người đều không tránh khỏi và vì thế không cần phải cố gắng đặc biệt để đạt được sự sống lại ấy. Thật ra, chữ “đạt được” dùng không đúng khi nói đến một kinh nghiệm phổ thông và không thể tránh khỏi của con người. Thánh Paul không thể tránh khỏi sự sống lại ấy theo quan điểm của người Cơ Đốc tân thời. Vậy thì ông đã cố gắng nghiêm nhặt để đạt được sự sống lại nào? Một lần nữa, câu giải đáp duy nhất lại phát xuất từ Huyền Môn. Trong Huyền Môn, người được Điểm Đạo tiến gần đến cấp bậc Điểm Đạo giải thoát khỏi vòng sinh tử được gọi là “Christ thọ khổ” (the suffering Christ), y chia xẻ nỗi đau của Vị Cứu Thế, chịu đóng đinh trên thập tự giá theo nghĩa thần bí, “ đồng hóa theo sự chết của Ngài”, và như thế đạt đến sự sống lại, dự vào Đấng Christ vinh hiển; sau sự chết ấy, không có quyền lực nào vượt qua y được. (Khải thị 1:18 “Ta là Đấng Sống, Ta đã chết; này, Ta sống cho đến đời đời vô cùng.) Đó là cái “phần thưởng” mà vị Đại Tông Đồ Paul đang mau bước đến, ông cũng thúc hối “nhiều người trọn vẹn”- chớ không phải tín đồ thông thường- hãy cố gắng như thế, đừng an lòng với những điều đã đạt được mà hãy cố gắng mau tiến bước mãi.

Sự giống nhau giữa người được Điểm Đạo và Christ chính là căn bản của Đại Bí Pháp, như chúng ta sẽ thấy chi tiết hơn khi nghiên cứu “Đấng Christ trong Thần Bí Học”. Người được Điểm Đạo không còn nhìn Christ như bên ngoài y nữa: “Dầu chúng tôi từng nhận biết Christ theo xác thịt, song từ nay không còn nhận biết Ngài theo cách ấy nữa”. (II.Cor 5:16).


















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-01-2012 , 10:53 PM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



The Difference Between Quan Yin Method and Breatharianism - December 20-21, 2010 Cancún, M (2/2)


Ở gần cuối phần trên, Sư Phụ đã nhấn mạnh với các đồng tu là không sao nếu ăn nhiều bữa, ăn các loại rau quả nhẹ, đơn giản và Thuần Chay !! Có được Pháp Thiền định Quán Âm theo đó tinh tấn tu hành thì sẻ đạt được quả vị .






==============================


-- BE VEGAN ..<>..MAKE PEACE--



http://www.SupremeMasterTV.com


33. Nguồn bất sinh, bất diệt vốn ở nơi con, hỡi đệ tử, cũng như ở trong phòng này. Nếu con muốn đạt đến trạng thái đó, và hỗn hợp hai cái [3] làm một thì con phải cởi bỏ lớp y phục đen tối của ảo mộng. Hãy bóp nghẹt tiếng nói của xác thịt, chớ để một hình ảnh nào của giác quan tạo ra chắn ngang giữa ánh sáng của nó và ánh sáng của con, hầu cho hai ánh sáng có thể hỗn hợp làm một. Khi con biết được sự Vô Minh (Ajnana) (21) của con thì hãy lập tức xa lánh phòng Học Tập đó. Phòng này rất nguy hiểm với vẻ đẹp giả trá của nó và chỉ cần thiết cho thời kỳ tập sự của con thôi. Con hãy đề phòng, hỡi đệ tử, đừng để cho một sự sáng chói hão huyền làm cho Hồn con chậm bước và mắc vào ánh sáng phỉnh phờ đó.


Tiếng Nói Vô Thinh

















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-02-2012 , 12:28 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  




Nhà sư khất thực, phật tử nam mô, biểu tình đả đảo








=============================



http://www.SupremeMasterTV.com

"Điều kiện tiên quyết để nhân dân có hạnh phúc là phải xoá bỏ tôn giáo- Karl Marx






















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-04-2012 , 08:04 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  





==============


http://www.SupremeMasterTV.com

Tín đồ thông thường đã “mặc lấy Christ”; vì hễ bao nhiêu người trong anh em đã chịu báp têm trong Christ, thảy đều đã mặc lấy Christ” (Gal 3:27). Bấy giờ họ là “con trẻ trong Christ”. Họ mong chờ sự giúp đỡ nơi Đấng Cứu Thế Christ, họ chỉ nhận biết Ngài “theo xác thịt” mà thôi. Nhưng khi họ đã chiến thắng được bản ngã thấp hèn và không còn là “xác thịt” nữa, thì họ đã bước vào đường đạo và tự mình trở nên Christ. Đây là điều mà Thánh Paul đã đạt đến và mong mỏi nơi các tín đồ của ông: “Các con bé mọn của Ta ơi, Ta lại vì cớ các con mà chịu cơn quặn thắt cho đến chừng nào Christ thành hình trong các con”. (Gal 4:19). Ông đã là cha tinh thần của họ, đã “dùng Tin lành mà sinh anh em ra” (I.Cor 4:15).Nhưng bây giờ “một lần nữa”, ông giống như cha mẹ, như một người mẹ sinh họ lần thứ hai. Christ bé thơ, Christ Thánh Thiện, được sinh ra trong linh hồn, “người ẩn mật trong lòng” (I.S Pet 3:4). Người được Điểm Đạo trở thành ‘Hài Nhi Bé Nhỏ’ (little Child); từ nay về sau y phải sống một đời sống cùa Christ, cho đến khi y trở nên “con người trọn vẹn”, lớn lên “được tầm thước vóc dáng theo sự đầy đủ của Christ” (Eph 4:13). Bấy giờ, giống như Thánh Paul đang làm, y chứa đầy sự đau khổ của Christ trong xác thịt của chính y (Col 1:24) và luôn luôn “thân thể hằng mang sự chết của Jesus” (II Cor. 4:10). Do đó y có thể nói một cách đúng thật rằng: “Tôi đã bị đóng đinh với Đấng Christ trên thập tự giá, dầu vậy tôi sống: nhưng không phải là tôi sống nữa mà là Christ sống ở trong tôi. Đó là nỗi đau khổ của Vị Tông Đồ, ông miêu tả mình như thế. Và khi trận đấu đã qua, một âm điệu chiến thắng an tĩnh thật là khác biệt với các cố gắng gay go của những năm trước: “Bây giờ ta đã sẵn sàng để được dâng hiến, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt đẹp, ta đã chạy xong cuộc đua, ta đã giữ được đức tin. Từ rày về sau, mão miện công nghĩa đã để dành cho ta. (II Tim 4:8-6). Đây là mão miện được ban cho “người đã chiến thắng”, Đấng Christ thăng thiên có nói: “Kẻ chiến thắng, ta sẽ khiến làm rường cột trong đền thờ của Trời ta, và người không còn ra khỏi đó nữa (Khải thị 3:12). Vì sau sự “Sống Lại”, người được Điểm đạo trở nên một người Trọn Vẹn, Vị Chân Sư, và Ngài không còn ra khỏi Đền Thờ nữa, ở đấy Ngài phụng sự và hướng dẫn các cõi.

















[
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-05-2012 , 10:04 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  



Jesus Prophecised in the Holy Vedas




=====================



http://www.SupremeMasterTV.com

I am the Alpha and the Omega, the First and the Last, the Beginning and the End.

<< Revelation 22:13 >>

================================

"Ye have been bought with a price; be not ye the servants of men." --I COR. vii. 23.


















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-07-2012 , 01:46 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  


Trước khi kết thúc chương này, cũng nên nêu rõ rằng chính Thánh Paul cũng thừa nhận việc sử dụng giáo lý thần bí lý thuyết để giải thích những biến cố lịch sử ghi trong các Kinh Thánh. Ông không coi lịch sử viết trong đó như là một sự ghi chép đơn giản những sự kiện đã xảy ra trong cõi trần. Là một nhà thần bí học thật sự, ông thấy trong các biến cố hồng trần những hình bóng của những chân lý đại đồng mãi ẩn mật trong những cõi giới cao siêu và ông thấy rằng những biến cố chọn lọc để lưu trữ trong các văn tự huyền bí là những biến cố tiêu biểu, sự giải thích những biến cố này sẽ giúp cho sự giáo huấn con người. Vì thế ông dùng những câu chuyện của Abraham, Sarai, Hagar, Ishmael và Isaac, nói rằng “những chuyện đó là lời bóng gió”, rồi ông giải thích ý nghĩa thần bí (Gal 4:22-31). Về chuyện dân Do Thái trốn khỏi Ai Cập, ông nói đến Hồng Hải như một lễ báp têm, cây tần bì và nước như thức ăn và thức uống tinh thần, và vầng đá có nước tuôn ra như là Christ (I Cor 10:1-4). Ông thấy Lẽ Mầu Nhiệm của sự hợp nhất giữa Christ và Giáo Hội của Ngài trong mối tương quan chồng vợ của con người, ông nói về các người Cơ Đốc như thịt và xương của thân thể Đấng Christ. Tác giả thư gửi người Hê Bơ Rơ đã biểu tượng hóa toàn thể hệ thống thờ phượng của người Do Thái. Trong Đền Thờ, ông thấy một kiểu mẫu Đền Thờ thiên giới, nơi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm ông thấy Đấng Christ, trong các sinh tế ông thấy lễ vật của Người Con tinh khiết; các thầy tế lễ của Đền Thờ chỉ là “thí dụ và hình bóng của các sự thiên giới”. Các chương 3-10 là một chuyện ngụ ngôn soạn thảo công phu nhất, và người viết quả quyết rằng Thánh Linh có một ý nghĩa sâu xa hơn.

Đối với các Kinh Thánh, người ta không xác định các biến cố ghi trong đó quả thật đã xảy ra và các điều xảy ra ở cõi hồng trần chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Giải thích các câu chuyện ấy tức là vén màn Tiểu Bí Pháp, giáo lý thần bí được phép đưa ra cho thế gian. Nó không phải do trí tưởng tượng đặt ra như nhiều người nghĩ, nhưng nó là kết quả của trực giác thật sự thấy được các kiểu mẫu trên các cõi Trời, chớ không phải là những hình bóng của các kiểu mẫu xuất hiện trên màn ảnh của thời gian trần thế.














saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-07-2012 , 11:13 PM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  


“Dầu chúng tôi từng nhận biết Christ theo xác thịt, song từ nay không còn nhận biết Ngài theo cách ấy nữa”.

(II.Cor 5:16).






NonregisterC
Moderator
Join Date: May 2004
Số Điểm: 24512
Old 07-13-2012 , 03:52 AM     NonregisterC est dconnect  search   Quote  
TÂM BÌNH THẾ GIỚI BÌNH
NĂNG LỰC CỦA Ý CHÍ VÀ KỶ LUẬT TỰ GIÁC


Tác giả: Remez Sasson
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển



Đôi khi chúng ta muốn đi bách bộ, biết rằng làm như thế là tốt như thế nào cho sức khỏe chúng ta và kỳ diệu như thế nào khi chúng ta cảm nhận sau đấy. Tuy thế, chúng ta cảm thấy lười biếng, và thay vì thế chúng ta tìm đến việc xem truyền hình. Chúng ta có thể cảnh giác sự kiện rằng chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống của mình hay bỏ hút thuốc, tuy nhiên, chúng ta không năng lực nội tại và kiên nhẫn để thay đổi những thói quen này.

Điều này nghe có quen thuộc không? Đã bao nhiêu lần chúng ta đã nói, “tôi ao ước tôi sẽ có năng lực ý chí và kỷ luật tự giác?” Đã bao nhiêu lần chúng ta đã bắt đầu làm việc gì đấy, chỉ để bỏ dở sau một lúc ngắn ngủi? Tất cả chúng ta đã từng có kinh nghiệm như thế này.

Mọi người chúng ta sở hữu một số đam mê hay thói quen nào đấy, mà chúng ta ao ước có thể chiến thắng, chẳng hạn như hút thuốc, ăn uống quá nhiều, lười biếng, chần chừ hay thiếu sự quả quyết. Để vượt thắng những thói quen hay đam mê xấu, chúng ta cần có năng lực ý chí và kỷ luật tự giác. Chúng làm nên một sự thay đổi lớn lao trong đời sống mỗi người, và đem đến sức mạnh nội tại, tính tự chủ và quyết đoán.

Định Nghĩa Năng Lực Ý Chí và Kỷ Luật Tự Giác

Năng lực ý chí là khả năng để chiến thắng lười biếng và chần chừ. Nó là khả năng để kiểm soát hay từ chối sự thúc giục bốc đồng không cần thiết hay tại hại. Đấy là khả năng để đi đến một quyết định và để theo đuổi với sự kiên nhẫn cho đến sự hoàn tất thành công của nó. Đấy là năng lực nội tại để vượt thắng tham muốn nuông chiều trong những thói quen không cần thiết và vô ích, và sức mạnh nội tại để chiến thắng sự đối kháng của xúc cảm và tinh thần nội tại thành hành động. Đấy là một trong những khía cạnh của thành công cả tinh thần lẫn vật chất.

Kỷ luật tự giác là bạn đồng hành của năng lực ý chí. Nó ban cho khả năng chịu đựng để kiên nhẫn trong bất cứ điều gì chúng ta làm. Nó cung cấp khả năng để bền chí với thử thách gian khổ và khó khăn, cho dù là thân thể, cảm xúc hay tinh thần. Nó hổ trợ khả năng để từ bỏ sự thỏa mãn tức thời, nhằm để đạt đến điều gì đấy tốt đẹp hơn, nhưng điều ấy đòi hỏi nổ lực và thời gian.

Mọi người có những sự thúc đẩy nội tại có ý hay vô ý thức, làm cho người ta nói hay làm gì đấy, và rồi hối hận sau này về những việc đã nói hay đã làm. Trong nhiều trường hợp, người ta không suy nghĩ trước khi nói hay hành động. Bằng việc phát triển hai năng lực này, người ta trở nên ý thức về những thúc giục tiềm thức nội tại, và đạt được khả năng để từ chối chúng khi chúng bất lợi cho chủ nhân của nó.

Hai năng lực này hổ trợ chúng ta chọn lựa thái độ và phản ứng, thay vì bị chúng khống chế. Sự sở hữu về chúng sẽ không làm cuộc sống mờ nhạt hay chán nãn. Trái lại, chúng ta sẽ cảm thấy mạnh mẽ hơn, trong việc lĩnh trách nhiệm với chính mình và chung quanh mình , hạnh phúc và toại nguyện.

Đã bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy yếu đuối, lười biếng hay ngại ngùng để làm việc gì đấy mà chúng ta muốn làm? Chúng ta có thể đạt đến sức mạnh nội tại, sáng kiến và khả năng để đưa ra những quyết định và theo đuổi chúng. Hãy tin tưởng tôi, phát triển hai năng lực này không khó. Nếu chúng ta chân thành và quyết tâm để trở nên mạnh mẽ hơn, chúng ta chắc chắn sẽ thành công.

Trong chủ đề này, chúng ta sẽ thấy một số bài tập và kỷ năng cho việc phát triển năng lực ý chí và kỷ luật tự giác. Những bài tập này đơn giản nhưng rất tác động, có thể được thực hiện khắp mọi nơi và bất cứ lúc nào. Hãy tiến hành một cách chậm rãi và từ từ, và chúng ta sẽ thấy mạnh mẽ hơn lên và đời sống chúng ta bắt đầu cải thiện.

Có một nhận thức sai lầm trong tâm thức công cộng quan tâm đến năng lực ý chí. Đấy là tư tưởng nhầm lẫn đến điều gì đấy căng thẳng và khó khăn, và người ta phải áp dụng và làm cho căng thẳng thân thể cùng tâm tư khi biểu lộ nó. Một nhận thức hoàn toàn sai lầm. Đây là một trong những lý do tại sao người ta tránh sử dụng nó, mặc dù người ta ý thức về những lợi ích của nó. Người ta nhận thức sự kiện rằng áp dụng năng lực ý chí trong đời sống và những mối quan hệ của họ sẽ hổ trợ họ vô cùng, và họ cần làm mạnh nó, tuy thế họ không làm gì về nó.
Năng lực ý chí sẽ mạnh mẽ hơn lên bằng việc kềm nén lại và không cho phép sự biểu lộ những tư tưởng, cảm xúc, hành động và phản ứng không quan trọng, không cần thiết, và không lành mạnh. Nếu điều tiết kiệm năng lượng này là không cho phép biểu lộ, nó được lưu trử trong thân tâm chúng ta như một bình điện, và nó trở nên sẳn sàng khi chúng ta cần đến. Bằng việc thực hành những bài tập thích hợp, chúng ta phát triển những năng lực của chúng ta bằng cách tương tựa như thế, như một người rèn luyện cơ bắp nhằm để tăng cường sức khỏe của họ.

Phát Triển Năng Lực Ý Chí Và Kỷ Luật Tự Giác

Một phương pháp hữu hiệu cho việc phát triển và cải thiện những khả năng này là tiến hành những tác động hay hành vi nào đấy, mà chúng ta tốt hơn là tránh qua việc lười biếng, chần chừ, yếu đuối, ngại ngùng, v.v… Bằng việc thực hiện những gì mà chúng ta không thích làm là quá lười để làm, chúng ta chiến thắng sự đối kháng tiềm thức của chúng ta, rèn luyện tâm thức chúng ta vâng lời chúng ta, làm mạnh năng lực nội tại và đạt đến sức mạnh nội tại. Cơ bắp mạnh mẽ hơn do việc nâng những quả tạ. Sức mạnh nội tại đạt được qua việc chiến thắng những đề kháng nội tại.

Hãy nhớ rằng, làm mạnh một trong những năng lực này, tự động sẽ làm mạnh những năng lực khác.

Đây là một số bài tập:

1.- Bạn đang ngồi trên xe buýt hay xe lửa, và một ông già hay bà lão, hay một người mang thai bước lên. Hãy đứng lên và nhường chỗ ngồi của bạn ngay cả bạn thích ngồi. Hãy làm điều này không chỉ vì lịch sự, những bởi vì bạn chúng ta đang làm điều gì đấy mà chúng ta không muốn làm. Trong cách này chúng ta đang chiến thắng sự đối kháng của thân thể, tâm thức và cảm giác của chúng ta.

2.- Có những chén dĩa trong bồn cần rửa, và chúng ta dự định sẽ rửa sau này. Hãy ngồi dậy và rửa chúng ngay bây giờ. Đừng để sự lười biếng của chúng ta chiến thắng chúng ta. Khi chúng ta biết rằng trong cách này chúng ta đang phát triển năng lực ý chí của mình, và nếu chúng ta tin chắc tầm quan trọng của năng lực ý chí trong đời sống của chúng ta, sẽ dễ dàng hơn cho chúng ta làm bất cứ việc gì chúng ta phải làm.

3.- Chúng ta về nhà mệt mỏi từ sở làm và ngồi trước truyền hình, bởi vì chúng ta cảm thấy lười biếng và mệt mỏi để đi và rửa. Đừng vâng lời sự thèm khát để chỉ ngồi, mà hãy bước đi và tắm.

4.- Chúng ta có thể biết thân thể chúng ta cần một loại luyện tập vật lý nào đấy, nhưng thay vì ngồi đấy và không làm gì hay xem truyền hình. Hãy đứng lên và bước đi, chạy hay làm một thực tập thân thể gì đấy.

5.- Quý vị có thích cà phê với đường chứ? Thế thì cả một tuần hãy quyết định uống nó mà không có đường? Nếu quý vị muốn uống bốn ly cà phê một ngày? Trong một tuần hãy uống ba ly thôi.

6.- Thỉnh thoảng, khi chúng ta muốn nói điều gì đấy không quan trọng, hãy quyết định đừng nói.

7.- Đừng đọc những gì không quan trọng tán gẫu trong báo chí, ngay cả nếu chúng ta muốn.

8.- Chúng ta có một thèm khát ăn món gì đấy không quá bổ dưỡng. Vì sự thực tập hãy từ chối sự thèm muốn ấy.

9.- Nếu chúng ta thấy mình suy nghĩ những điều không quan trọng, không cần thiết, những tư tưởng tiêu cực, hãy cố gắng để phát triển sự trống rỗng hấp dẫn trong chúng, bằng việc suy nghĩ về sự vô ích của chúng.

10.- Hãy chiến thắng sự lười biếng của chúng ta. Hãy thuyết phục mình về tầm quan trọng của những gì phải làm. Hãy động viên tâm thức mình rằng chúng ta đạt đến sức mạnh nội tại khi chúng ta hành động và làm việc thay gì lười nhát, miễn cưỡng hay sự đối kháng nội tại không có cảm giác.

Đừng bao giờ nói rằng chúng ta không thể thực hành những thực tập nêu trên, bởi vì chúng ta chắc chắn có thể làm được. Hãy quyết tâm cho dù nó là như thế nào. Hãy động viên chính mình bằng việc suy nghĩ về tầm quan trọng của việc thực hiện những bài tập, và năng lực cùng sức mạnh nội tại chúng ta sẽ đạt được.

Cố gắng làm áp dụng quá nhiều bài thực tập khi chúng ta còn trong giai đoạn khởi đầu, tâm thức sẽ trì trệ, hay ngừng lại trong sự thất vọng. Tốt hơn là bắt đầu với một ít bài tập trước tiên, và rồi dần dần gia tăng số lượng của chúng và tiến dần tới những bài tập khó hơn.

Hầu hết những bài tập này có thể được thực tập bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào, và chúng ta không cần hy sinh những thời gian đặc biệt cho chúng. Chúng sẽ được rèn luyện và phát triển sức mạnh nội tại, cho phép chúng ta sử dụng nó bất cứ khi nào chúng ta cần đến.

Nếu chúng ta tập tạ, chạy bộ hay nhảy aerobic, chúng ta làm mạnh cơ bắp, vì thế khi chúng ta cần di chuyển hay mang vác điều gì nặng, thí dụ thế, chúng ta có sức mạnh để làm điều này. Bằng việc học tiếng Pháp hằng ngày, chúng ta sẽ có thể nói tiếng Pháp khi chúng ta du lịch sang Pháp. Cũng giống như với năng lực ý chí và kỷ luật tự giác; bằng việc làm mạnh chúng, chúng sẽ trở nên sẳn sàng cho chúng ta sử dụng bất cứ khi nào chúng ta cần chúng.

Vì lợi ích của sự thực tập, chúng ta dừng lại việc làm điều gì đó mà chúng ta thường làm, và chiến thắng sự đối kháng nội tại liên quan đến nó, chúng ta có thể tiếp tục, nếu nó không tai hại. Thí dụ, nếu chúng ta thích uống nước cam, và vì tác động của việc thực tập chúng ta chuyển sang uống nước táo, sau khi thực hiện vài lần nào đấy và nó không làm nên bất cứ sự khác biệt nào đến chúng ta, chúng ta có thể lại uống nước cam, nếu chúng ta vẫn còn thích nó. Điểm ở đây là để phát triển sức mạnh nội tại, thì không làm cho đời sống khó khăn đối với chúng ta hay tiếp tục làm những việc mà chúng ta không thích làm.

Lợi Ích Của Việc Sở Hữu Năng Lực Ý Chí Và Kỷ Luật Tự Giác

Chúng ta cần những kỷ năng này để kiểm soát tư tưởng của chúng ta, cải thiện sự tập trung của chúng ta, và để trở thành chủ nhân ông của tâm thức chính mình. Kỷ năng này càng mạnh, sức mạnh nội tại mà chúng ta sở hữu cũng càng mạnh.

Là chủ nhân ông của tâm thức chính mình, chúng ta thụ hưởng hòa bình và hạnh phúc nội tại. Những sự kiện ngoại tại không thể làm xao lãng chúng ta, và những hoàn cảnh không có năng lực để lấn áp sự hòa bình của tâm thức chúng ta. Điều này nghe có vẻ không quá thật đối với chúng ta, nhưng kinh nghiệm sẽ chứng tỏ với chúng ta rằng tất cả những điều trên là sự thật.
Những kỷ năng này rất quan trọng cho việc đạt đến thành công, chúng cho chúng ta kiểm soát hơn đối với đời sống chúng ta, giúp chúng ta thay đổi và cải thiện những thói quen, và là căn bản cho việc tự trau dồi, lớn mạnh tâm linh và thiền quán.

Thực hành những bài tập được trình bày ở đây một cách chân thành và kiên nhẫn, đời sống chúng ta sẽ bắt đầu thay đổi.

Will Power and Self-Discipline
Tác giả: Remez Sasson
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 16/12/2010
http://www.successconsciousness.com/index_000006.htm

http://www.*******hoasen.org/D_1-2_2-125_4-16506_5-50_6-4_17-240_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark
__________________
_____________________

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done...
saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-13-2012 , 07:06 PM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  


Light and Sound Meditation in Religion





==========================



http://www.SupremeMasterTV.com/BMD



Inner Sound






http://www.SupremeMasterTV.com

This primal vibration or Sound is in its nature transcendental and therefore perceived in silence. Jesus' disciples called it the "Holy Spirit" or the "Word" (which is from the Greek word "Logos," meaning sound). "In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God." === After Shakyamuni Buddha attained enlightenment, He spoke of this Sound too, calling it the "drum of immortality"=== Krishna equated Himself with the "sound in ether"=== Mohammed perceived this Sound in the cave at Gare-Hira when He had a vision of the archangel Gabriel,=== and Lao Tzu described the Tao as the "Great Tone".


-- Thanh Hải Vô Thượng Sư --



















saigon4luv
Royal Member
Join Date: Feb 2008
Số Điểm: 20563
Old 07-15-2012 , 11:27 AM     saigon4luv est dconnect  search   Quote  





CHƯƠNG 3


PHÍA ẨN MẬT CỦA CƠ ĐỐC GIÁO


(B)CHỨNG CỚ CỦA GIÁO HỘI.


Trong khi một số người sẵn sàng chấp nhận rằng các Vị Tông Đồ và những người kế vị trực tiếp có một nền hiểu biết sâu xa hơn về những điều tinh thần thì một số ít người lại muốn tiến một bước xa hơn cho rằng Huyền Môn của Giáo Hội Đầu Tiên là nơi chứa đựng những giáo lý thiêng liêng của họ. Chúng ta có Thánh Paul đã truyền đạt lại phấn giáo lý không được viết ra, chính Ông đã dạy đạo cho Thánh Timothy, huấn luyện cho Thánh Timothy dạy đạo lại những người khác, và những người này lại dạy đạo lại cho những người khác nữa. Như thế có bốn thế hệ đạo sư nối tiếp nhau được nói đến trong chính những Kinh Thánh. Bốn thế hệ này chắc chắn bao gồm những tác giả trong Giáo Hội đầu tiên là những người đã chứng kiến sự hiện hữu của Huyền Môn. Khi chúng ta khởi sự khảo sát những văn tự của Giáo Hội Đầu Tiên, chúng ta thấy rằng chúng chỉ là những lời bóng dáng mà chỉ có Huyền Môn mới hiểu được, và sau đó chúng xác nhận sự hiện hữu của Huyền Môn.

Những chứng nhân đầu tiên là những vị Cha, các đệ tử của các Vị Tông Đồ, nhưng các văn tự của họ còn lại rất ít. Những lời văn ấy không được minh bạch như các người viết sau. Polycarp, Giám mục ở Smyrna và là bạn đồng học với Ignatius của T.Paul, hy vọng các người viết thư với Ông được “thành thạo với Thánh Kinh, và không có điều gì ẩn mật với anh em, nhưng còn tôi thì không được đặc ân đó”, hiển nhiên Ông viết trước khi Điểm Đạo. Barbanas nói về “vài đoạn mà chính ông đã nhận được”, và sau khi giải thích Luật một cách thần bí, ông tuyên bố rằng “sau khi hiểu đúng đắn các điều răn của Ngài, chúng tôi giải thích các điều răn ấy theo như ý Ngài muốn”. Ignatius, Giám mục Antioch, một môn đồ của T. Paul, nói về ông “chưa được toàn vẹn trong Jesus- Christ. Vì bây giờ tôi mới bắt đầu là một đệ tử, và tôi nói với anh em như các đồng môn của tôi”, và ông nói về họ như “đã được Điểm Đạo vào Huyền Môn với Paul, người Thánh Thiện; người khổ nạn”. Ông còn nói: “Tôi không thể viết cho anh em nhiều điều mầu nhiệm hơn sao? Nhưng tôi ngại làm thế, e tôi sẽ gây tổn thương cho anh em vì anh em chỉ là con trẻ (babes). Xin tha lỗi cho tôi, tôi e ngại anh em không nhận được ý nghĩa quan trọng của chúng, chúng sẽ làm nghẹn các anh em. Ngay cả tôi, mặc dầu tôi đang hướng về Christ và tôi có thể hiểu được các sự ở cõi Trời, các đẳng cấp thiên thần, sự phân biệt giữa quyền năng và quyền lực, sự hùng vĩ của những thời kỳ vô tận, sự siêu việt của các đại thiên thần, sự cao cả của Tinh thần, vương quốc của Đấng Christ và trên hết là sự uy nghi không thể so sánh của Đức Thượng Đế Toàn Năng- mặc dầu tôi đã quen thuộc các điều ấy, tuy nhiên tôi vẫn chưa được toàn thiện chút nào, cũng như tôi chưa được là một môn đồ như Paul và Peter”. Đoạn này rất là lý thú vì nó chỉ rằng sự tổ chức đẳng cấp cõi Trời là một trong những vấn đề được giảng dạy trong Huyền Môn.

Kế đó là T.Clement of Alexandria và môn sinh Origen của Ông, hai tác giả của thế kỷ thứ hai và thứ ba viết hầu hết về Huyền Môn của Giáo Hội Đầu Tiên. Mặc dầu lời văn đầy bóng dáng thần bí, nhưng cả hai xác định minh bạch rằng Huyền môn là một tổ chức được thừa nhận.

Bấy giờ S.Clement là một đệ tử của Pantaenus ông nói về ông và hai người khác, có lẽ là Titian và Theodotus, như là người “bảo tồn những giáo lý phát xuất trực tiếp từ những Vị Tông Đồ Thánh thiện Peter, James, John và Paul” như thế sự liên lạc giữa ông và chính các Vị Tông Đồ chỉ qua một người trung gian. Ông là Thủ trưởng trường Vấn Đáp ở Alexadria vào năm 189, và chết vào năm 220. Origen, sinh năm 185, là học trò của S.Clement. Có lẽ ông là một Cha uyên thâm nhất và là một người có một vẻ đẹp đạo đức hiếm có nhất. Đó là những chứng nhân nhờ đó chúng ta nhận được các bằng cớ về sự hiện hữu của một Huyền Môn xác định trong Giáo Hội Đầu Tiên.


















Reply


Thread Tools
Display Modes

 
Forum Jump



All times are GMT -7. The time now is 12:19 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.